Là sinh viên Khoa Văn hóa dân tộc thiểu số, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội tương lai trở thành cán bộ quản lý văn hóa với mong muốn là góp một phần trong việc bảo tồn và phát huy các giá
Trang 1luận tốt
n ngành:
Mã
Hướng Sinh viê
nghiệp c Văn hóa
2A
ë
Trang 2Vũ Thị Thủy 2 VHDT12A
LỜI CẢM ƠN !
Trước tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong Khoa Văn hóa dân tộc thiểu số, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã tận tình chỉ bảo trong quá trình học tập và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận này Đặc biệt, em xin được cảm ơn tới Ts Hoàng Hữu Bình, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và động viên em hoàn thành khóa luận Đồng thời, em cũng xin cảm ơn Huyện ủy, UBND và Phòng VHTT huyện Văn Lãng, cùng với nhân dân, các bác, các cô, các chị, các bạn người Tày… ở huyện Văn Lãng đã giúp đỡ cung cấp tư liệu và có những nhận xét bổ ích trong quá trình thu thập tư liệu và hoàn thành bản thảo
Do thời gian và kinh nghiệm của bản thân còn có nhiều hạn chế nên đề tài nghiên cứu của em không tránh khỏi những thiếu sót, em kính mong nhận được sự nhận xét và đóng góp ý kiến của các thầy cô để bài khóa luận của em được đầy đủ và chi tiết hơn
Em xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 25 tháng 5 năm 2010
Sinh viên thực hiện
Vũ Thị Thủy
Trang 3Vũ Thị Thủy 3 VHDT12A
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của đề tài 6
7 Bố cục khóa luận 7
Chương 1: VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN 8
1.1.Quá trình hình thành 8
1.2 Đặc điểm tự nhiên 9
1.2.1 Vị trí địa lý 9
1.2.2 Địa hình 9
1.2.3 Khí hậu 10
1.2.4 Các tài nguyên thiên nhiên 11
1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội 13
1.3.1 Cơ sở hạ tầng 13
1.3.2 Văn hóa - xã hội 14
1.4 Người Tày ở huyện Văn Lãng 14
1.4.1 Dân cư 14
1.4.2 Một số đặc điểm về kinh tế 17
1.4.3 Một số đặc điểm về văn hoá 19
Tiểu kết chương 1: 24
Chương 2: VĂN HÓA ẨM THỰC CỦA NGƯỜI TÀY Ở HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN 25
2.1 Văn hóa ẩm thực truyền thống 25
Trang 4Vũ Thị Thủy 4 VHDT12A
2.1.1 Quan niệm về ăn uống 25
2.1.2 Nguồn lương thực, thực phẩm 26
2.1.3 Các món ăn, đồ hút, đồ uống, ăn trầu truyền thống 32
2.1.4 Cách ứng xử trong ăn uống 50
2.2 Những biến đổi trong văn hóa ẩm thực hiện nay 54
2.2.1 Những biến đổi trong thức ăn và thức uống 54
2.2.2 Biến đổi trong cách thức tổ chức ăn uống 59
2.2.3 Biến đổi về ứng xử xã hội trong ăn uống 60
Tiểu kết chương 2: 61
Chương 3: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY VĂN HÓA ẨM THỰC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI TÀY Ở HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 62
3.1 Thực trạng và những nguyên nhân của sự biến đổi 62
3.1.1 Thực trạng 62
3.1.2 Nguyên nhân 63
3.2 Giá trị của văn hóa ẩm thực trong đời sống 67
3.2.1 Đối với đời sống con người 67
3.2.2 Phản ánh đời sống kinh tế - xã hội 68
3.2.3 Phản ánh mối quan hệ giữa người với người 70
3.2.4 Phản ánh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên 71
3.2.5 Phản ánh quá trình tiếp biến và giao lưu văn hóa 72
3.3 Một số biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa ẩm thực truyền thống 74
3.3.1 Sự cần thiết 74
3.3.2 Một số kiến nghị, giải pháp 77
Tiểu kết chương 3: 81
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC
Trang 5có thể đánh giá con người và biết đến văn hóa ứng xử của tộc người đó được thể hiện giữa con người với con người, con người với môi trường tự nhiên và biết thêm được phần nào phong tục tập quán, đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần của một dân tộc
Hiện nay, với xu hướng toàn cầu hóa, nước ta đang trong giai đoạn hội nhập, giao lưu kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ ở các vùng trong cả nước và cả nước ta với nước ngoài Nhưng không dừng lại ở đó, sự giao lưu văn hóa cũng đang diễn ra hết sức phức tạp với những luồng văn hóa ở khắp mọi nơi đang ồ ạt tràn vào nước ta; không chỉ có ở các đô thị, thành phố lớn mà hiện nay nó còn len lỏi xuống tận các bản làng miền núi, biên giới xa xôi; không
Trang 6Vũ Thị Thủy 6 VHDT12A
chỉ có những luồng văn hóa tốt đẹp mà còn có những luồng văn hóa xấu, lai căng gây ảnh hưởng không nhỏ đến các phong tục, tập quán, lối sống cũng như các truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc ở nước ta và làm cho chúng đang có nguy cơ bị mất và mai một
Huyện Văn Lãng là một trong 5 huyện miền núi, biên giới của tỉnh Lạng Sơn, với đường biên giới dài 36 km và có hai của khẩu Tân Thanh và Tân Mỹ; nơi đây hoạt động buôn bán diễn ra tấp nập, đó là điều kiện thuận lợi cho các nguồn văn hóa bên ngoài càng dễ dàng xâm nhập Cùng với đó, quá trình cộng cư với các dân tộc khác từ nhiều mặt làm cho các giá trị văn hóa vật chất cũng như văn hóa tinh thần nói chung và văn hóa ẩm thực nói riêng ở nơi đây có rất nhiều biến đổi Là sinh viên Khoa Văn hóa dân tộc thiểu số, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội tương lai trở thành cán bộ quản lý văn hóa với mong muốn là góp một phần trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống, bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số nói chung và của văn hóa ẩm thực của người Tày ở huyệnVăn Lãng nói riêng nên tôi quyết định
chọn đề tài: “Vài nét về văn hóa ẩm thực của người Tày ở huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn hiện nay” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
Ẩm thực là một thuật ngữ Hán Việt có nghĩa là “ăn” và “uống” Nói đến văn hóa ẩm thực hay chính là nói đến tập quán ăn uống
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
lâu nay đã là đề tài thu hút sự quan tâm nghiên cứu của khá nhiều học giả trên thế giới cũng như ở Việt Nam và được nghiên cứu dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau như về dinh dưỡng, cách ăn uống lạ, kĩ thuật chế biến món ăn hay phương thức chế biến món ăn…
Ở nước ta hiện nay, có khá nhiều công trình nghiên cứu về ẩm thực
Trước hết phải kể đến tác giả Phan Văn Hoàn với tác phẩm: “Bước đầu tìm
hiểu về văn hóa ẩm thực Việt Nam” (2006) Trong tác phẩm này, tác giả đã
Trang 7Vũ Thị Thủy 7 VHDT12A
khái quát được khá đầy đủ về khái niệm ăn uống, tập quán ăn uống, sự giao lưu trong ăn uống của người Việt Nam với các nước khác như Trung Quốc, Pháp một cách toàn diện có hệ thống và phác thảo một bức tranh toàn cảnh về
ăn uống của người Việt Nam nói chung Tác giả Vương Xuân Tình với tác
phẩm: “Tập quán ăn uống của người Việt vùng Kinh Bắc” (2004) Trong tác
phẩm này, tác giả đề cập khá toàn diện về các món ăn, đồ uống, thức hút mà đặc biệt là về sự ứng xử và những biến đổi trong tập quán ăn uống của người Việt vùng Kinh Bắc Công trình đã có nhiều đóng góp lớn trong việc nghiên cứu và là nguồn tài liệu tham khảo rất bổ ích cho những đề tài nghiên cứu về
ẩm thực Nhưng phần lớn các tác phẩm chỉ đề cập đến cách ăn uống của người Kinh (Việt)
Ngoài ra, còn phải kể đến các tác phẩm nói về văn hóa ẩm thực khá
chuyên sâu của đồng bào các dân tộc thiểu số và ở các vùng như: “Văn hóa
ẩm thực của người Thái đen ở thị xã Sơn La” của Nguyễn Thị Hồng Mai
(2006), (luận văn thạc sĩ văn hóa học); “Văn hóa ẩm thực các dân tộc thiểu số
vùng Đông Bắc” của Dương Sách (2005); “Văn hóa ẩm thực Mường” của
Hoàng Anh Nhân (2002)…
Đã có nhiều tài liệu viết về người Tày, phong tục ăn uống của người
Tày trong cả nước cũng như ở Lạng Sơn như: “Truyền thống ăn uống của các
dân tộc Tày – Thái” của tác giả Ngô Đức Thịnh (1998); “Các món ăn xứ Lạng” của Lã Văn Lô (tạp chí Văn hóa dân gian số 3, 1985); “Một số kinh nghiệm làm bánh trong dịp tết và một số món ăn của đồng bào Tày – Nùng, ở Lạng Sơn” của Lã Văn Lô (tạp chí văn hóa dân gian số 4, 1988) Ngoài ra,
đáng chú ý hơn cả là cuốn “Văn hóa ẩm thực của người Tày” của Ma Ngọc
Dung (2007) Trong tác phẩm này, đã trình bày một cách có hệ thống khá đầy
đủ về các món ăn truyền thống, cách thức tổ chức, ứng xử trong ăn uống… của người Tày ở trong cả nước nói chung Nhưng cùng là mỗi tộc người, sống
ở các vùng có các điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội khác nhau nên mỗi nơi
Trang 8Vũ Thị Thủy 8 VHDT12A
lại có một phong tục tập quán về sinh hoạt ăn uống khác nhau mà trong tác phẩm này đi vào mô tả một cách chung nhất, khái quát về những đặc điểm chung về ăn uống, văn hóa ứng xử, những biến đổi… của người Tày ở khắp mọi nơi trong cả nước Cũng như các tác phẩm khác cũng chỉ mô tả, giới thiệu về các món ăn, món bánh, các đặc sản nổi tiếng ở Lạng Sơn nói riêng
phẩm nào đi sâu nghiên cứu về người Tày ở huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn nói riêng, cũng như những khía cạnh về văn hóa của họ nói chung và chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu những giá trị tốt đẹp về văn hóa trong ăn uống, cũng như những biến đổi của tập quán ăn uống trước sự phát triển kinh
tế - văn hóa - xã hội như hiện nay của họ Những nghiên cứu đó chỉ đi bao quát chung về văn hóa ẩm thực của người Tày, của các dân tộc khác và của các vùng trong cả nước nói chung
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Mục đích
món ăn, đồ uống trong bữa ăn hàng ngày, ngày tết, ngày lễ và những nét ứng
xử của người Tày ở huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn nhằm đánh giá thực trạng và những biến đổi của nó trong giai đoạn hiện nay
Đồng thời, tìm hiểu những nét chung và riêng về phong tục tập quán trong ăn uống của họ so với người Tày ở các vùng khác nhằm đề xuất một số phương pháp như bảo tồn và phát huy các giá trị trong văn hóa ẩm thực truyền thống của người Tày ở Văn Lãng, Lạng Sơn trong thời kì công nghiệp
hóa - hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay
3.2 Nhiệm vụ
Mô tả, phân tích về văn hóa ẩm thực trong truyền thống nhằm sưu tầm các món ăn, đồ uống, thức hút và một số cách ứng xử trong ăn uống của người Tày vùng Văn Lãng, Lạng Sơn; để bổ xung vào tư liệu về ăn uống của
Trang 9Vũ Thị Thủy 9 VHDT12A
người Tày góp phần bảo lưu và phát triển các giá trị văn hóa dân tộc của người Tày ở Văn Lãng nói riêng và dân tộc Tày nói chung Đồng thời, đánh giá thực trạng biến đổi văn hóa ẩm thực của họ trong giai đoạn hiện nay và đề xuất một số phương pháp bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp ở trong đó
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận này là ẩm thực và văn hóa ẩm thực người Tày ở Văn Lãng - Lạng Sơn, đó là những tri thức về các món ăn truyền thống, cách chế biến và đặc biệt chú trọng đến những nét khác biệt của chúng so với các dân tộc và người Tày sống ở các vùng khác
4.2 Phạm vi
Do thời gian và trình độ có hạn nên phạm vi nghiên cứu của khóa luận tập chung nghiên cứu những yếu tố về văn hóa ẩm thực trong truyền thống và những biến đổi của nó trong giai đoạn hiện nay Phạm vi thời gian là các món
ăn trong truyền thống từ năm 1945 cho đến nay Địa bàn khảo sát là người Tày tất cả 20/20 xã - thị trấn thuộc địa bàn huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài được thực hiện bằng những phương pháp nghiên cứu khác nhau áp dụng vào mỗi giai đoạn khác nhau như: thu thập tài liệu trong các thư viện, nghiên cứu, điền dã tại thực địa, tiến hành điều tra, phỏng vấn…
Phương pháp thu thập tài liệu, tư liệu tại các thư viện, viện nghiên cứu chuyên ngành: Ở các thư viện dân tộc học, thư viện của trường, thư viện tỉnh Lạng Sơn …Tại đây tôi đã được tiếp xúc với rất nhiều tài liệu nghiên cứu về người Tày nói chung và về văn hóa ẩm thực nói riêng của những người đi trước, học hỏi được ở đó một số phương pháp nghiên cứu khoa học rất bổ ích
để tiến hành các bước tiếp theo đi thu thập tài liệu ở thực địa
Trang 10Vũ Thị Thủy 10 VHDT12A
Phương pháp điền dã dân tộc học: Trong quá trình học tập, sinh sống nhiều năm cùng với thời gian thực tập ở tại địa bàn Bản thân tôi đã được đi khảo sát thực tế, trực tiếp tìm hiểu được nhiều vấn đề trong ăn uống như được tiếp xúc với nguồn lương thực, thực phẩm của vùng và được tham gia trực tiếp vào các lễ tết, lễ hội Lồng tồng, vào trong các đám cưới, đám tang của địa phương Để thu thập tư liệu cho khóa luận, nhất là trong thời gian thực tập tôi
có điều kiện đi xuống các xã và đi thăm bạn bè qua đó mà tiến hành điều tra nghiên cứu Do đặc điểm người Tày sống rải rác, xen kẽ với người Nùng rất khó điều tra nên ở mỗi xã tiến hành điều tra ở 2 đến 3 bản có số lượng người Tày tập trung đông làm điểm nghiên cứu chính
Cùng với đó, được trực tiếp điều tra phỏng vấn, nói chuyện cùng với những người cao tuổi, các cô, các bác, các chị em, các bạn người Tày… về tổ chức bữa ăn, chế biến và học hỏi một số kinh nghiệm quý báu, cách làm một
số đồ ăn, thức uống của đồng bào Bản thân cũng được tham gia quan sát, làm trực tiếp trong quá trình chế biến thức ăn, tham gia ăn uống cùng với các gia đình và được “kiểm định” lại những gì thu thập được bằng thính giác, thị giác, vị giác… Rất tiếc do thời gian thực hiện khóa luận thời gian nghiên cứu tại thực địa không đủ một chu kỳ nông nghiệp nên có nhiều hạn chế
Cuối cùng là, các phương pháp phân tích, tổng hợp được áp dụng để xử
lý tài liệu và viết luận văn Để có sự nhất quán nên các tiếng Tày trong luận văn được phiên âm theo từ điển Tày - Nùng - Việt, bên cạnh đó vẫn chú thích
có phiên âm riêng của người dân trong vùng
6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
tác giả cố gắng đi sâu vào một số nét chính nổi bật nhằm mục đích đóng góp thêm cho vấn đề này như:
Cung cấp thêm tư liệu về văn hóa ẩm thực của người Tày ở Văn Lãng, Lạng Sơn, giúp người đọc hiểu thêm một số đặc điểm khái quát về đặc điểm
Trang 11từ đó giúp cho các nhà kinh doanh dịch vụ nhà hàng hay các nhà đầu tư phát triển du lịch có thêm thế mạnh để thu hút khách du lịch
7 BỐ CỤC KHÓA LUẬN
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Vài nét khái quát về huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn
Chương 2: Văn hóa ẩm thực của người Tày ở huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn hiện nay
Chương 3: Bảo tồn và phát huy văn hóa ẩm thực truyền thống người Tày ở huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay
Trang 12Vũ Thị Thủy 12 VHDT12A
Chương 1 VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
1.1.QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH
Địa danh “Văn Lãng” ngày nay là tên gọi hợp nhất của hai huyện “Văn Uyên” và “Thoát Lãng” Địa danh này còn giữ lại hai âm cổ là “Văn” và
“Lãng” Trong “Ức Trai dư địa chí”, Nguyễn Trãi viết: “Văn Uyên có đồng
bạc, Thoát Lãng có voi trắng” khi nào có lệnh thì dân tiến
“Ngược thời gian lần tìm tên gọi thì xa xưa vào đời Hùng Vương thì vùng đất này được gọi là Lục Hải Đến thời Đinh thuộc Lạng Châu – Lạng Sơn Thời Lý – Trần được gọi là Thoát Lạc, Thoát Lĩnh, Thoát Huyện Từ thời Lê cho đến trước cách mạng tháng Tám năm 1945 được gọi là châu Thoát Lãng, còn từ năm 1965 đến nay được gọi là huyện Văn Lãng Đất đai của huyện Văn Lãng ngày nay phần lớn là của huyện Thoát Lãng trước đây Cuối thời Nguyễn tổng Hội Hoan của huyện Văn Quan được cắt về huyện Thoát Lãng và trở thành xã Hội Hoan như ngày nay Xã Hoàng Văn Thụ và một phần đất đai thuộc xã Tân Mỹ ngày nay, trước đây là thuộc huyện Văn Uyên, từ năm 1965 đến nay thuộc vào huyện Văn Lãng” [22 : 758]
Nói đến lịch sử huyệnVăn Lãng cũng chính là nói đến lịch sử của các dân tộc sinh sống trên mảnh đất này Từ xa xưa hai dân tộc Tày và Nùng là cư dân bản địa, cư trú và khai phá đất đai ở vùng Háng Slẹc, Khau Tinh (Khau Slin), Khau Khú Họ chiếm vùng đồng bằng ven sông Kỳ Cùng và các thung lũng Hội Hoan, Văn Thụ Trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử, nhiều lần giặc ngoại xâm sang xâm lược thì nhân dân Văn Lãng cùng với nhân dân
cả nước đã anh hùng đứng lên bảo vệ tổ quốc, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, non sông đất nước Việt Nam
Trang 13Vũ Thị Thủy 13 VHDT12A
“ Năm 1981, Quyết định số 246/CP ngày 10 tháng 6 của Chính phủ, đã tách thị trấn Đồng Đăng và 6 xã: Song Giáp, Thụy Hùng A, Hồng Phong, Bảo Lâm, Phú Xã, Bình Trung sáp nhập vào huyện Cao Lộc Đồng thời sáp nhập hai xã Hành Thanh và Phượng Long thành xã Thanh Long, sáp nhập hai xã Tân Yên và Mỹ Cao thành xã Tân Mỹ Đến nay, huyện Văn Lãng có 20 đơn
vị hành chính gồm một thị trấn và 19 xã Đó là thị trấn Na Sầm, Tân Lang, Tân Việt, An Hùng, Trùng Quán, Trùng Khánh, Nam La, Bắc La, Hội Hoan, Gia Miễn, Thanh Long, Tân Mỹ, Tân Thanh, Hoàng Văn Thụ, Hồng Thái, Tân Tác, Hoàng Việt, Thụy Hùng, Thành Hòa, Nhạc Kỳ” [22 : 759]
1.2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN
1.2.1 Vị trí địa lý
Huyện Văn Lãng là một huyện miền núi, biên giới nằm ở phía Đông Bắc
trung tâm huyện lỵ cách thành phố Lạng Sơn 30 km và có đường quốc lộ 4A chạy qua dài 32 km
Phía Bắc giáp huyện Tràng Định
Phía Nam giáp huyện Cao Lộc và huyện Văn Quan
Phía Tây giáp huyện Bình Gia
Phía Đông giáp huyện Bằng Tường, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc)
Huyện Văn Lãng là một huyện miền núi, có đường biên giới tương đối dài khoảng 36 km, giáp gianh với 5 xã đó là: Trùng Khánh, Thụy Hùng, Thanh Long, Tân Thanh, Tân Mỹ và có hai của khẩu là Tân Thanh, Tân Mỹ (Cốc Nam)
1.2.2 Địa hình
Huyện Văn Lãng là huyện miền núi nằm gọn trong vùng mãng trũng Cao – Lạng thuộc khu đông bắc Bắc Bộ Do đó, về cơ bản huyện Văn Lãng là vùng đồi núi thấp thung lũng, bồn địa và địa hình núi đá vôi cacxtơ Trong đó, đồi núi chiếm ưu thế có độ cao trung bình là từ 300 – 600m Núi cao nhất
Trang 14xẻ mạnh, xen kẽ là các cánh đồng thung lũng, hẹp ven sông suối Dạng địa
tích đất tự nhiên rất thích hợp cho trồng rừng và có thể khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên, một số vị trí thấp của huyện có thể phát triển trồng cây ăn quả, trồng hồi…
Địa hình dạng núi đá chủ yếu tập trung vào các xã như Tân Mỹ, Tân Thanh, An Hùng, Trùng Quán, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Việt với diện tích khoảng 2.800 ha chiếm 4,99% diện tích đất tự nhiên Ngoài ra, còn có các bồn địa thung lũng, sông suối có đất phù sa màu mỡ rất thích hợp trồng cây lúa và các loại cây hoa màu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp với diện tích là 3.505
ha chiếm 6,25% diện tích đất tự nhiên
1.2.3 Khí hậu
Huyện Văn Lãng nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, được thể hiện ở bốn mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông) Hàng năm nhiệt độ trung bình
nóng và ẩm Mùa đông vùng này chịu ảnh hưởng rất mạnh của gió mùa Đông Bắc, cùng với cả tỉnh Lạng Sơn thì nơi đây là nơi đón gió mùa Đông Bắc sớm
chịu ảnh hưởng cả gió mùa Tây Nam và ít chịu ảnh hưởng của bão vì có cánh cung Bắc Sơn cản trở nhưng hay phải chịu sương muối, mưa đá và lốc xoáy
trung bình đạt khoảng 1.540mm, trong đó lượng mưa tập trung nhiều nhất vào
Trang 151.2.4 Các nguồn tài nguyên thiên nhiên
● Tài nguyên đất
Theo số liệu thống kê năm 2009, huyện Văn Lãng có tổng diện tích đất
tự nhiên là 56.330,46 ha Trong đó, diện tích đất nông nghiệp là 28.720,04 ha chiếm 51%; diện tích đất phi nông nghiệp là 1.507,73 ha chiếm 3%; diện tích đất chưa sử dụng vẫn chiếm một số lượng lớn là 26.102,69 ha chiếm 46% diện tích đất tự nhiên Trong diện tích đất nông nghiệp lại được chia ra thành các loại đất như sau: đất sản xuất nông nghiệp là 4.646,16 ha chiếm 16%, đất lâm nghiệp là 24.039,46 ha chiếm 83%, đất nuôi trồng thủy sản là 47,34 ha chiếm 1% Về thổ nhưỡng, đất đai của huyện cũng được chia ra thành 8 loại chính: (xem bảng 1: Số liệu thống kê thổ nhưỡng đất đai của huyện Văn Lãng)
Trang 16Vũ Thị Thủy 16 VHDT12A
Bảng 1: Số liệu thống kê thổ nhưỡng, đất đai của huyện Văn Lãng
(Theo số liệu thống kê năm 2003)
● Tài nguyên nước
Huyện Văn Lãng có nguồn nước tương đối dồi dào với hai hệ thống sông chính là sông Kỳ Cùng và sông Văn Mịch (Bắc Giang) Sông Kỳ Cùng chảy qua địa phân huyện dài khoảng 33 km chủ yếu qua phần đất phía Nam
và Tây Nam, chảy qua trung tâm huyện rồi đổ về phía Bắc Còn sông Văn Mịch chảy qua địa bàn xã Bắc La dài khoảng 5km Hai bên bờ sông là những cánh đồng nhỏ có độ cao khoảng từ 3 - 10m so với mặt nước, có thể đặt các trạm bơm hoặc các con nước để phục vụ cho tưới tiêu, phát triển sản xuất nông nghiệp Bên cạnh đó, còn có hệ thống các suối khá dày đặc với bốn suối
chính đó là Tân Mỹ, Khau Slin, Khuổi Rào, Thanh Long
● Tài nguyên rừng
Theo tài liệu thống kê năm 2009, lượng đất rừng của huyện còn khá lớn khoảng 24.039,32 ha chiếm 43% diện tích đất tự nhiên Trong đó, diện tích
Trang 17Vũ Thị Thủy 17 VHDT12A
rừng tự nhiên là 19.176,13 ha chiếm 79%; diện tích rừng trồng là 4.863,19 ha chiếm 21% diện tích đất có rừng Do khí hậu tương đối đa dạng nên động thực vật ở trong rừng rất phong phú về số lượng cũng như chủng loại Trong huyện có hai kiểu rừng đó là rừng cây rụng lá vào mùa đông và rừng cây xanh tốt quanh năm Một số loài động vật quý hiếm như hổ, hươu, nai, gấu, nhím…
và một số loài cây lấy gỗ có giá trị rất cao như lim, nghiến, dẻ, trai…trên núi
đá Nhưng hiện nay, do nạn phá rừng và săn bắt thú rừng nhiều thì một số loài
đã không còn nữa, một số loài đang có nguy cơ bị tuyệt chủng
● Tài nguyên khoáng sản
loại có trữ lượng nhỏ như: Quặng sắt có ở xã An Hùng, Tân Thanh Ngoài ra, còn có núi đá vôi, cát, sỏi có thể khai thác làm vật liệu xây dựng
1.3 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI
1.3.1 Cơ sở hạ tầng
● Về giao thông: Đến nay, mạng lưới giao thông trong huyện được các
cấp các ngành và Nhà nước luôn quan tâm xây dựng, đầu tư và nâng cấp Từ những nguồn vốn của địa phương, của tỉnh, của chính phủ và các chương trình 120, 135 nhằm hỗ trợ các huyện, xã miền núi khó khăn, đến nay mạng lưới đường giao thông trong huyện từ trung tâm đến các xã tương đối thuận lợi và đã có đường đi tận các xã vùng sâu vùng xa nhất như Thanh Long, Hồng Thái, Nhạc Kỳ…Ngoài ra, hiện nay Nhà nước đang tu bổ, nâng cấp đường quốc lộ 4A liên tỉnh góp phần thúc đẩy giao lưu trao đổi buôn bán với các vùng khác, tạo điều kiện cho kinh tế - xã hội phát triển, đảm bảo tốt an ninh quốc phòng
● Về thủy lợi: Hiện nay, huyện đang tập trung xây dựng và nâng cấp một
số công trình thủy lợi hiện có, các đập, kênh mương nội đồng đang được kiên
cố hóa Toàn huyện có 12 công trình thủy lợi kiên cố, 92 công trình thủy lợi nhỏ… đã đáp ứng được phần lớn diện tích trong việc tưới tiêu phục vụ sản
Trang 18Vũ Thị Thủy 18 VHDT12A
xuất nông nghiệp Trong đó, các hồ đập lớn nhỏ được xây dựng kiên có hóa như: Nà Pàn (Hoàng Văn thụ), Kéo Páng (Nhạc Kỳ), Nà Piya (Tân Việt) có
khả năng tưới tiêu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
1.3.2 Văn hóa – xã hội
● Về giáo dục – đào tạo: Trên địa bàn toàn huyện hiện nay, có 50 đơn vị
trường học; trong đó, trường trung học phổ thông có 01 trường, giáo dục thường xuyên có 01, có 16 trường trung học cơ sở, 20 trường tiểu học và 15 trường mầm non Toàn huyện hiện nay đã phổ cập xong giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, với 4 trường đạt chuẩn quốc gia Chất lượng dạy và học đang được đầu tư nâng cấp, các cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy và học cũng đang ngày càng hoàn thiện, đáp ứng cho nhu cầu dạy và học
● Về y tế: Mạng lưới y tế trong huyện cũng đang được đầu tư nâng cấp đáp
ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho người dân Với 01 bệnh viện huyện và 20/20 xã, thị trấn có trạm xã riêng cùng với đội ngũ bác sỹ, y tá ngày càng được bổ xung, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ xuống tận các xã, chăm sóc sức khỏe cho bà con
Cùng với sự phát triển kinh tế thì văn hóa - xã hội trong huyện hiện nay cũng đang được đầu tư phát triển Các phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao đang được đẩy mạnh Các tệ nạn xã hội cũng đang được đấu tranh ngăn chặn và thu được nhiều kết quả đáng kể Toàn huyện hiện nay đã có 5 trạm phát thanh truyền hình dần dần đáp ứng nhu cầu nghe nhìn của nhân dân Ngoài ra, còn có các trạm viễn thông giúp thông tin liên lạc thuận lợi hơn 1.4 NGƯỜI TÀY Ở HUYỆN VĂN LÃNG
1.4.1 Dân cư
Việt, Tày là tên tự gọi (trong tiếng Tày: Tày có nghĩa là người), là tên đã có từ lâu đời, có thể vào cuối thiên kỉ thứ nhất SCN” [1 : 20] Hiện nay, dân tộc Tày
là tộc người thiểu số đông nhất trong số 53 dân tộc thiểu số ở nước ta, cả nước
Trang 19Vũ Thị Thủy 19 VHDT12A
có khoảng hơn 1 triệu người, sống rải rác ở hầu hết các tỉnh phía Bắc, nhưng nhiều nhất là các tỉnh phía Đông Bắc như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Ninh Người Tày sống ở vùng núi phía Đông Bắc cho đến nay, là cư dân bản địa sống lâu đời nhất, khai phá đất đai, phát triển sản xuất
từ rất sớm Ở huyện Văn Lãng, người Tày cùng với người Nùng là cư dân bản địa sinh sống ở vùng đất này Với chính sách di dân lên vùng kinh tế mới thì
có nhiều người Kinh lên sinh sống và định cư ở đây Hiện nay, cả huyện Văn Lãng có 50.214 người, với bốn dân tộc: Tày, Nùng, Kinh, Hoa sinh sống là
chủ yếu (Xem bảng 2: thống kê sự phân bố của dân tộc Tày và một số dân
tộc sống trên địa bàn huyện Văn Lãng)
Trang 20Vũ Thị Thủy 20 VHDT12A
Bảng 2: thống kê sự phân bố của dân tộc Tày và một số dân tộc sống trên
địa bàn huyện Văn Lãng
(Theo số liệu thống kê 01/04/2009 của UBND huyện Văn Lãng)
Kinh (%)
Hoa (%)
Trang 21Vũ Thị Thủy 21 VHDT12A
1.4.2 Một số đặc điểm về kinh tế
Từ rất lâu đời, người Tày ở huyện Văn Lãng đã hình thành tập quán sản xuất nông nghiệp với hai hình thức là canh tác lúa nước và canh tác trên nương rẫy Dọc theo lưu vực sông Kỳ Cùng và sông Văn Mịch, các suối và thung lũng họ khai phá đất đai, làm ruộng cấy lúa Bên cạnh đó, cùng với sự
ưu đãi của tự nhiên trên các sườn đồi núi thấp họ khai phá thêm để trồng thêm lúa nương, ngô, khoai, sắn…và một số loại cây ăn quả, cây công nghiệp Ngoài ra, đồng bào còn chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm và phát triển thêm một số ngành nghề thủ công
và cung cấp thức ăn chủ yếu trong đời sống hàng ngày Cây trồng gồm có nhiều loại khác nhau như: cây lương thực, cây thực phẩm, cây ăn quả, cây công nghiệp…
Cây lương thực gồm có các loại cây như: cây lúa nước, cây ngô, cây lúa nương Kĩ thuật canh tác lúa nước của đồng bào tương đối cao Trước đây,
do khí hậu lạnh và giống lúa dài ngày cho nên hầu hết các chân ruộng ở đây chỉ cấy được một vụ một năm, và có số ít chân ruộng trồng thêm được một vụ lúa chiêm Hiện nay, với khoa học kĩ thuật phát triển thì hầu hết các chân ruộng đều trồng được hai vụ một năm Nguồn nước tưới tiêu cho các cánh đồng chủ yếu là nước chảy tự nhiên từ sông, các khe suối Ngoài ra, họ còn biết đắp đập để ngăn nước tưới tiêu và làm các cọn nước để múc nước tự động từ các suối lên máng, từ đó nước chảy vào các chân ruộng cao
Ngoài các cây lương thực, họ còn trồng thêm một số loại cây thực phẩm với nhiều loại khác nhau dựa trên mùa vụ Vào mùa xuân hè, có các cây bầu, bí, mướp, các loại đậu, rau muống…Mùa thu đông họ trồng các cây như
xu hào, cải bắp, cải làn, cải ngồng… Các cây thực phẩm này, thường được trồng trong vườn của từng gia đình và là nguồn cung cấp thực phẩm chính cho các bữa ăn hàng ngày
Trang 22mô lớn để đem bán trao đổi hàng hóa, để xuất khẩu tăng thêm thu nhập
Chăn nuôi: Nghề chăn nuôi của người Tày ở đây, tuy không phát triển nhưng trên thực tế lại là ngành đem lại nguồn thu nhập có giá trị cao Chăn nuôi không chỉ là tận dụng thức ăn thừa từ các sản phẩm nông nghiệp mà đồng thời đó là phương tiện để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp như cày, kéo và là nguồn thực phẩm cung cấp chính để cải thiện bữa ăn hàng ngày và
để cúng trong các ngày lễ tết
Chăn nuôi gia súc chủ yếu là trâu, bò, lợn, ngựa, chó, mèo…Đối với các con gia súc lớn như trâu, ngựa, bò chủ yếu là để lấy sức kéo phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Lợn được nuôi phổ biến trong các gia đình để lấy thịt cung cấp trong các ngày lễ tết, lễ hội, không thể thiếu món thịt lợn quay trong các ngày đó Chó, mèo được nuôi chủ yếu để bảo vệ nhà của, bảo vệ mùa màng, lương thực thực phẩm sau khi thu hoạch
Chăn nuôi gia cầm: chủ yếu là gà, vịt, ngan, ngỗng… chúng được nuôi phổ biến trong các gia đình của người Tày để phục vụ cho các ngày lễ tết, có khách hoặc để cải thiện bữa ăn gia đình Cùng với đó, việc nuôi trồng thủy sản cũng là để cung cấp thêm thực phẩm cho bữa ăn gia đình
Các ngành nghề thủ công như đan lát, dệt vải, làm mộc… cũng chủ yếu
là để phục vụ cho đời sống sinh hoạt hàng ngày
Bên cạnh, các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi thì hoạt động săn bắt hái lượm cũng có ý nghĩa thiết thực góp phần cải thiện bữa ăn hàng ngày Nhất là vào những lúc mất mùa, đói kém thì các sản phẩm săn bắt hái lượm
Trang 23tự cung tự cấp là chính
1.4.3 Một số đặc điểm về văn hoá
● Văn hóa vật chất
Làng bản: Từ rất lâu đời, người Tày đã sống gắn bó xen kẽ cùng với
người Nùng, họ tập chung sống thành các làng bản dưới các thung lũng, cánh đồng có dòng suối chạy qua hay ở những nơi có vị trí thông thoáng thuận lợi cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp như dọc sông Kỳ Cùng, sông Văn Mịch, các suối Khuổi Rào, Khuổi Shin…Do vậy, các có nhiều bản lấy tên các
đặc điểm sinh thái của nơi mình ở như suối (khuổi), ruộng (nà), nước (nặm)…làm tên bản của mình như bản Nà Cạn, Nặm Hép, Khuổi Thâm,…các
bản thường có từ 20 đến 50 nóc nhà Nhà cửa trong bản thường làm dựa lưng vào núi và trước mặt trông ra cánh đồng Tổ chức trong bản rất chặt chẽ họ có quan hệ với nhau trong việc sở hữu đất đai và cùng thờ chung một vị thổ công, trong các công việc như lao động sản xuất, cưới xin, tang ma họ thường kết thành từng phường, hội để giúp đỡ nhau khi các gia đình có việc
Nhà cửa: Do các bản thường nằm cạnh các sông, suối, ruộng nước nên
hay ẩm ướt và để tránh thú dữ, từ xa xưa ngôi nhà truyền thống của đồng bào
là ngôi nhà sàn Họ tận dụng các nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên như tre,
gỗ, nứa, lá…Việc chọn gỗ làm nhà chủ yếu dựa vào hoàn cảnh kinh tế của từng gia đình, nhưng thường là các loại gỗ tốt như lim, nghiến, táu…được sử dụng làm khung nhà như cột, kèo, rầm, xà…Nhà của họ là nhà 4 mái (tứ thiết) Kỹ thuật làm nhà chủ yếu là kỹ thuật thủ công, công việc này do một
Trang 24Vũ Thị Thủy 24 VHDT12A
đội thợ trong bản làm hoặc anh em, làng xóm giúp đỡ dựng nhà Việc xây dựng ngôi nhà đòi hỏi rất nhiều thời gian và công sức Trước khi làm nhà, việc đầu tiên là họ xem tuổi của chủ nhà, sau đó tìm hướng và ngày làm nhà
vì theo họ đất và hướng nhà có ảnh hưởng rất lớn đến công việc làm ăn, sinh sống của cả đời người Ngôi nhà sàn của người Tày, là một ngôi nhà tổng hợp được bố trí một cách chặt chẽ, hợp lý và tận dụng một cách tối đa để phục vụ cho đời sống sinh hoạt của con người Nhà sàn thường cao từ 7 đến 8m, ngôi nhà thường được chia ra thành các tầng sử dụng khác nhau; gầm sàn là nơi dung để chứa dụng cụ sản xuất như cày, bừa, cuốc, xẻng…và là nơi nhốt gia súc, gia cầm; trên mặt sàn là nơi dành cho người ở, nơi đặt bàn thờ, bếp, các
đồ dùng sinh hoạt khác, nơi bảo quản lương thực, thực phẩm… Nhìn vào ngôi nhà sàn có thể thấy rõ được phong tục tập quán, nề nếp, trật tự của từng gia đình người Tày nơi đây Trong nhà được chia ra thành nhiều ngăn, phòng khác nhau, trình tự sắp xếp các gian, các phòng cũng được quy định chặt chẽ, nơi đặt bàn thờ, phòng ngủ của con trai, con gái…
Ngày nay, do đời sống kinh tế - xã hội có nhiều thay đổi, các nguyên liệu tự nhiên như gỗ, tre, nứa…ngày càng cạn kiện, cùng với sự xuất hiện của nhiều vật liệu xây dựng mới như gạch, xi măng, cát…Cùng với xu thế phát triển chung, hiện nay người Tày ở Văn Lãng đã chuyển sang nhà xây; bởi vậy, cách bố trí trong nhà người Tày có nhiều thay đổi nhưng bàn thờ vẫn được đặt ở nơi trang trong nhất và có phòng nam, nữ riêng biệt
Trang phục: Trang phục của người Tày ở huyện Văn Lãng cũng không
có gì khác biệt so với người Tày ở các vùng khác với màu sắc truyền thống màu chàm là màu chủ đạo Nguyên liệu làm trang phục là sợi lấy từ cây bông, thuốc nhuộm lấy từ cây chàm Khi vào các gia đình người Tày đếm xem có bao nhiêu khung cửi thì có bấy nhiêu cô gái Các cô gái Tày trước khi đi lấy
chồng thì phải tự dệt cho mình chăn với quần áo, mang về nhà chồng
Trang 25Vũ Thị Thủy 25 VHDT12A
Trang phục gồm có: áo, quần, mũ, khăn, dây lưng và các đồ trang sức Tùy từng vào đối tượng và chức năng sử dụng mà có nhiều kiểu khác nhau như quần áo phụ nữ, nam giới, trẻ em, quần áo cưới, quần áo tang… Đối với phụ nữ, họ thường để tóc dài, đội khăn, chủ yếu là khăn vuông thắt đằng sau gáy tương tự giống khăn mỏ quạ của người Việt Áo của phụ nữ là kiểu áo dài, thắt đai ở bụng, cùng với chiếc vòng bạc và dây xà tích đeo ở cạnh sườn làm tôn thêm vẻ nữ tính, duyên dáng, thanh lịch của các cô gái Tày; quần của
họ là kiểu chân què, ống rộng, cạp lá tọa Quần áo của nam giới thì đơn giản hơn, họ cắt tóc ngắn, quần giống như quần của nữ giới, áo ngắn may 5 thân,
cổ đứng, gấu áo lượn tròn, nẹp to Trong các ngày lễ, nam giới thường mặc áo dài, đầu quấn khăn xếp giống như nam giới người Việt Trang phục trong các ngày đám cưới, lễ hội là những bộ mới may chưa mặc lần nào, còn đám ma là những bộ quần áo màu trắng xô gai…Đồ trang sức là vòng cổ, vòng tay, nhẫn, khuyên tai, bộ xà tích…bằng bạc phụ nữ và trẻ em hay đeo Trang phục của người Tày chủ yếu đều đồng màu xanh chàm đặc trưng của núi rừng Việt Bắc, ít có họa tiết hoa văn, thêu thùa Riêng có trang phục của trẻ em như địu,
mũ, túi hay được thêu bằng những họa tiết hoa văn có gam màu đặc trưng cho từng loại
bằng nghề sản xuất nông nghiệp Do vậy, lương thực thực phẩm chính của họ đều là các sản phẩm từ hoạt động sản xuất, chăn nuôi, săn bắt hái lượm được Các món ăn thức uống được chế biến phong phú đa dạng, nổi tiếng có món
thịt lợn quay, thịt vịt quay…
● Văn hóa tinh thần
Quan hệ gia đình – dòng họ: Các gia đình của người Tày ở đây chủ yếu
là các gia đình nhỏ, phụ hệ gồm có bố mẹ, con cái Ngoài ra, còn có nhiều gia đình ông bà vẫn ở với con cháu Trong gia đình, người đàn ông nhất là con cả
có vai trò quan trọng, là trụ cột trong gia đình, có vai trò quyết định các vấn
Trang 26Vũ Thị Thủy 26 VHDT12A
đề của gia đình như sản xuất, cưới xin, tang ma…và có quyền thừa kế tài sản Còn con gái đi lấy chồng được cha mẹ cho của hồi môn nhưng không được thừa kế tài sản Trong nhà, các thành viên trong gia đình có sự phân biệt chặt chẽ với nhau như trong quan hệ giữa bố chồng, anh chồng với con dâu, em dâu…Người Tày rất coi trọng những người trong cùng dòng họ, thân tộc Họ yêu thương, giúp đỡ đùm bọc lẫn nhau trong mọi vấn đề nhu lao động sản xuất, cưới xin, tang ma Họ nội luôn được coi trọng hơn họ ngoại Ngoài ra, một số dòng họ theo dòng họ ngoại đi lấy rể Anh em sau 5 đời mới được
phép kết hôn nên người Tày ở đây chủ yếu là kết hôn ngoài dòng họ
không theo một tôn giáo nào Họ có quan niệm “vạn vật hữu linh” cho nên họ
có tín ngưỡng đa thần, thờ ông bà tổ tiên và các thần linh như thần sông, núi, rừng…Trong quan niệm về ma thì có nhiều loại ma như ma hiền là ma ông
bà, tổ tiên, ma ác hay đi làm hại người có ma gà,…Mỗi khi có bệnh tật hay trong cưới xin, ma chay họ thường mời thầy mo về làm then, cúng tế Bên cạnh đó, các đạo cũng có nhiều ảnh hưởng đến đời sống của họ như các quan
hệ trong gia đình được quy định rất chặt chẽ như vấn đề trọng nam khinh nữ, phụ quyền…của Nho giáo; xem bói, xem tướng số của Đạo giáo; lòng yêu
thương, từ bi, bác ái của Phật giáo…
Lễ hội: Trong một năm, họ có rất nhiều lễ tết, lễ hội như lễ hội Lồng
tồng vào mùa xuân, lễ tết Nguyên Đán, tết Thanh Minh, tết tháng 7…Vào những ngày lễ tết họ thường làm các loại bánh, các loại thịt khác nhau đặc trưng cho từng lễ tết Đặc biệt, trong dịp lễ hội Lồng tồng diễn ra vào sau tết
âm lịch, gồm có hai phần: phần lễ và phần hội và thường được tổ chức ở ngoài cánh đồng, để cúng tế thần nông cầu cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng tốt tươi vào dịp này trong các bản trai gái hẹn hò, tìm hiểu nhau thông qua các bài hát trao duyên, lượn …và diễn ra nhiều trò chơi dân gian như ném còn, đánh đáo, đánh sảng, múa sư tử…
Trang 27Vũ Thị Thủy 27 VHDT12A
Đám cưới: Chế độ hôn nhân của người Tày ở Văn Lãng về cơ bản là
một vợ, một chồng và cô dâu cư trú ở bên nhà chồng Tuy nhiên cũng có trường hợp đa thê do vợ vô sinh hoặc không có con trai Trước kia, trai gái vẫn được tự do tìm hiểu, yêu đương nhưng việc hôn nhân cơ bản vẫn là do cha mẹ quyết định và mang tính chất mua bán, thể hiện qua các khoản tiền thách cưới rất cao và các lễ vật mà nhà trai phải nộp cho nhà gái trước và trong lễ cưới Do vậy, các chàng trai nhà nghèo rất khó lấy vợ Nếu hôn nhân
bị phá bỏ mà do bên nhà gái chủ động hoặc mắc lỗi thì nhà gái phải hoàn trả lại tiền cưới Các nghi thức trong cưới xin của họ cũng rất đa dạng và phức tạp gồm một số nghi lễ chính như sau: Lễ dạm hỏi, lễ so lá số, lễ mừng hợp
số, lễ ăn hỏi, nghi lễ sêu tết, lễ cưới, lễ lại mặt…Thủ tục trong nghi lễ cưới rể
thì cũng gồm đầy đủ các bước như cưới dâu
Tang ma: “Xuất phát từ quan niệm lâu đời là vạn vật đều có linh hồn và
con người sau khi chết linh hồn vẫn tồn tại ở thế giới bên kia, nên khi có người chết người ta phải thực hiện hàng loạt các nghi lễ tang ma, thể hiện quan hệ tình cảm, lòng hiếu thảo của người sống với người đã chết; mặt khác
lễ tang ma còn là để linh hồn người chết khỏi oán giận, quay trở lại quấy quả, làm hại những người đang sống ở trần gian Do vậy, thương tiếc và sợ hãi là hai mạt được thể hiện qua các nghi lễ tang ma” [ 23 : 573] Người Tày ở Văn Lãng cũng vậy, tang ma được tổ chức rất chu đáo gồm có nhiều nghi lễ chính như tắm rửa cho người chết, khâm liệm, nhập quan, nghi lễ phạt háo (lễ thụ tang), lễ triệu linh, lễ phá ngục, đưa ma, hạ huyệt, lễ mở cửa mả…Đặc biệt, trong tang ma thầy cúng có vai trò rất quan trọng, xuyên suốt trong các nghi
lễ, làm mo then…để đưa linh hồn người chết về trời Sau khoảng 3 năm, họ
làm lễ thôi tang và không làm giỗ như người Kinh
Văn học, nghệ thuật dân gian: Trong kho tàng văn nghệ dân gian của
người Tày ở huyện Văn Lãng có rất nhiều thể loại phong phú và đa dạng Các truyền thuyết như Vàng Tắm – Bó Lúm, Tát moóc và một số truyện truyền
Trang 28Vũ Thị Thủy 28 VHDT12A
thuyết lịch sử nói về các địa danh trong vùng như Háng Slẹc (Nàng tiên cá), Lừa Toong, Đền Nà Cưởm và một số truyện cổ tích Cẩu Khây, Nàng Sáy…Ngoài ra, còn có một số truyện như Ta – Khươi, Pà Bả, chặt cây, con rể
ăn phải quả ớt…Bên cạnh đó, còn có kho tàng tục ngữ, ca dao dân ca, và các loại hình hát lượn, phong slư, hát quan làng trong các đám cưới…phản ánh đời sống văn hóa vật chất cũng như văn hóa tinh thần và cách ứng xử của người Tày
Tiểu kết chương 1:
Nhìn chung, người Tày ở huyện Văn Lãng sống trong vùng có vị trí địa lý và các điều kiện tự nhiên thuận lợi giúp cho họ phát triển một nền nông nghiệp tương đối đa dạng và phong phú với nhiều giống cây trồng và vật nuôi giúp phát triển một nền nông nghiệp đa dạng Cùng với một số truyền thống văn hóa được đúc kết từ lâu đời với nhiều giá trị về văn hóa vật chất và tinh thần, đó cũng là đặc trưng riêng của người Tày nói chung và người Tày ở Văn Lãng nói riêng Bên cạnh đó, thì họ cũng gặp một số khó khăn do điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, cơ sở vật chất, kĩ thuật còn thiếu, một số tập tục đem lại gây khó khăn cho việc phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội…
Trang 29Vũ Thị Thủy 29 VHDT12A
Chương 2 VĂN HÓA ẨM THỰC CỦA NGƯỜI TÀY Ở HUYỆN
VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
2.1 VĂN HÓA ẨM THỰC TRUYỀN THỐNG
2.1.1 Quan niệm về ăn uống
Trên thế giới cũng như ở nước ta đến nay, có rất nhiều quan niệm về ăn uống Ăn uống không chỉ là hoạt động để cho con người duy trì sự sống và phát triển mà nó còn thể hiện bao gồm cả những nét về văn hóa vật chất cũng như văn hóa tinh thần của mỗi dân tộc ở trong đó Ăn uống phản ánh quá trình lao động sản xuất, cách ứng xử của con người với tự nhiên, con người với con người Thông qua ăn uống, chúng ta có thể hiểu được phần nào đặc trưng của văn hóa tộc người đó
Người Kinh có quan niệm về ăn uống được thể hiện trong câu thành
ngữ, tục ngữ như sau: “Có thực mới vực được đạo”, nghĩa là có ăn thì mới
làm được hay người Thái có nền văn hóa rất gần gũi với người Tày cũng có
câu: “Đak khảu dak chù xi, mĩ khảu chù dương” có nghĩa là thiếu thóc thiếu
gạo thiếu mọi thứ, có thóc có gạo có mọi điều Như vậy, từ xa xưa họ đã nhận thấy tầm quan trọng của ăn uống, có ăn thì con người mới có sức khỏe, có sức khỏe con người mới làm việc được Tuy có sự khác nhau về cách nói nhưng người Tày cũng có quan niệm về ăn uống khá giống so với các dân tộc khác,
quan niệm này được thể hiện qua câu tục ngữ như: “Mảy hất tậu khẩu hất
rèng” nghĩa là cây làm gậy chống, cơm làm sức khỏe Chúng ta có thể thấy
vai trò đặc biệt quan trọng trong ăn uống được thể hiện gián tiếp qua “khẩu” (cơm gạo), “rèng” (sức khỏe) đối với đời sống của con người Không những vậy thông qua ăn uống chúng ta có thể thấy hoạt động kinh tế, đời sống vật
chất của người Tày nói chung và người Tày ở Văn Lãng nói riêng: “Pát khẩu
Trang 30Vũ Thị Thủy 30 VHDT12A
cẩu tèo vài” (Một bát gạo mất chín lần bừa) Người dân làm ra bát cơm phải
mất bao nhiêu mồ hôi, công sức cho nên họ rất quý trọng nó Nhưng quan trọng nhất là thông qua ăn uống, nó thể hiện tình cảm cũng như cách đối nhân
xử thế của họ cụ thể được đúc kết qua các câu tục ngữ: “Ám khéc pét ám chủa
rườn” (Một miếng khách, tám miếng chủ nhà) Hay câu “Hẩư câu căm phjắc cát, câu dảt pỏ phjắc hôm (Mày đưa tao mớ cải, tao dúi lại bó dền)
Như vậy, thông qua ăn uống tưởng rằng rất đơn thuần nhưng chứa đựng cả một nền văn hóa của một dân tộc, chúng ta có thể hiểu thêm phần nào đời sống tình cảm của họ rất phong phú, luôn yêu thương, giúp đỡ, đùm bọc lẫn nhau, kính trọng nhau cùng với cách đối nhân xử thế Ông bà cha mẹ, lúc tuổi già cần chăm sóc, sức khỏe không dược như trước nữa nên cần được ưu
tiên người Tày có câu:“ Cần ké kin khẩu khao, lục slao kin khẩu xao, lục báo
kin khẩu bay” (Người già ăn gạo trắng, con gái ăn gạo giã cối,con trai ăn gạo
xay) Không những vậy họ còn nêu lên những kinh nghiệm, quan niệm, tiêu
chuẩn của mình về các món ăn cũng như cách ăn uống như: “Cáy xáng áp
xục” (Gà luộc còn sống, vịt luộc chín) Mặc dù, mỗi người có một khẩu vị ăn
uống khác nhau nhưng nhìn chung về gia vị, chuẩn mực các đồ ăn, thức uống
có nhiều nét tương đồng ví như món thịt vịt quay, thịt lợn quay không thể thiếu lá và quả mác mật, rau cải xào không thể thiếu gừng, rượu, đường Bên cạnh đó, cũng có một số kiêng kỵ như không được ăn dở bát và một số kiêng
kỵ đối với những phụ nữ có thai, sản phụ, khi gia đình có tang…
Lúa (khẩu): Với các giống lúa như khẩu pay, bao thai…thường được
trồng ở các chân ruộng lúa nước và một số giống lúa nương Cây lúa là loại
Trang 31Vũ Thị Thủy 31 VHDT12A
lương thực chính, quan trọng nhất cung cấp trong các bữa ăn hàng ngày cho
họ Ngoài ra, còn có các giống lúa nếp nương thường được sử dụng làm các
loại bánh, xôi trong các dịp lễ tết
Ngô (mằn sli): Đây là loại cây lương thực được trồng trên nương, có vị
trí quan trọng thứ hai sau cây lúa Thông thường ngô được sử dụng trong chăn nuôi, cho gia súc, gia cầm Ngoài ra, trong những lúc giáp hạt, mất mùa thì ngô là lương thực bổ xung trong các bữa ăn hàng ngày Có hai loại ngô là ngô
tẻ và ngô nếp Ngô nếp ăn thơm, ngon hơn ngô tẻ
Sắn (Mằn mạy): Cây sắn chủ yếu được trồng trên nương hay trồng ở bờ
rào xung quanh nhà, dễ trồng cho năng suất cao Sắn chủ yếu cũng được dùng làm thức ăn chăn nuôi Vào những lúc giáp hạt, đói kém thì đó cũng là lương thực nấu ăn độn với cơm và làm bánh, nấu rượu
Khoai lang (Mằn bủng): Cũng được họ trồng nhiều trên các sườn đồi
hay ở ven suối, có thể ăn được cả ngọn lẫn củ Cây này chủ yếu dùng để chăn
nuôi gia súc Ngoài ra, còn phải kể đến khoai sọ (phước): có nhiều loại như: khoai thơm (phước hom), khoai trắng (phước khao), khoai mon…nhưng được
gọi chung là khoai sọ Khoai này thường được trồng vào giáp tết đến tháng 3, tháng 4 năm sau thì được thu hoạch và được dùng để nấu ăn hoặc là luộc ăn vào các bữa ăn phụ
* Cây thực phẩm: Thường được trồng ở trong vườn xung quanh nhà tùy
vào từng mùa có các loại rau khác nhau được dùng làm thực phẩm trong các bữa ăn hàng ngày
Rau cải (phjắc cát): gồm có các loại như: cải xanh, cải ngồng, cải làn,
cải bắp…Các rau này, thường được trồng vào lúc thời tiết mát mẻ, lạnh chủ yếu là vào mùa đông, có thể chế biến bằng nhiều cách như nấu, luộc, xào, muối…
Rau muống (phjắc bủng): khác với rau muống nước của người Kinh ở
đồng bằng, đồng bào thường trồng rau muống cạn Loại rau này, được trồng bằng hạt vào mùa xuân - hè, thường được chế biến luộc hoặc xào
Trang 32Vũ Thị Thủy 32 VHDT12A
Rau lang (phjắc mằn): Khi trong nhà hết rau xanh thì họ thường lấy rau
lang để ăn đổi bữa, vào những hôm trời mưa rau lang thường rất non và ngọt, còn bình thường ăn hơi chát Rau này có quanh năm thường để luộc, xào, nấu canh Ngoài ra, củ thường để luộc, nướng ăn phụ trong ngày; nó còn chữa được bệnh táo bón
Củ cải (nà pậc): Thường được trồng vào mùa đông, trong vườn nhà
Dùng để xào, nấu hoặc muối rồi phơi khô làm thức ăn để ăn dần
Su hào (cá lá): Được trồng vào những lúc thời tiết lạnh vào mùa đông,
làm thức ăn trong các bữa ăn hàng ngày có thể làm nộm, luộc, xào
Mướp (nghé ve): Có nhiều loại mướp khác nhau như, mướp hương (ve
hom), mướp trắng, mướp ri…thường được trồng vào tháng giêng, tháng hai, ở
cạnh bờ rào hoặc trồng thành giàn ở cạnh ao Mướp thường để xào, nấu canh
hoặc luộc ăn rất mát Ngoài ra còn có loại mướp đắng (mác khâm) thường
được trồng vào mùa xuân, khi xào ăn có vị đắng
Bầu (pầu tèo), bí xanh (phjắc kheo) là loại cây giống như mướp thường
được trồng vào tháng giêng, tháng hai bắc thành giàn, ăn quả có thể làm thức
ăn dự trữ, dùng để xào, luộc, nấu canh ăn rất mát
Bí đỏ (phjắc đeng) thường được trồng vào tháng 12 hay tháng giêng
Đây là loại cây bò dưới đất có thể ăn được cả ngọn và quả Quả bí có thể để được lâu dùng làm thức ăn dự trữ và chế biến thành nhiều món khác nhau như ninh xương, xào, luộc…
Dưa chuột (mác pheng): Loại dưa này thường được trồng vào cuối mùa
đông và thu hoạch vào mùa hè, thường được trồng ở trong vườn nhà hoặc ở ngoài ruộng, ăn sống rất mát
Su su: Thường được trồng thành giàn ở vườn, hay ở cạnh ao Ưa khí hậu mát mẻ, có thể ăn được cả ngọn và quả, có thể chế biến bang nhiều cách khác nhau như xào, luộc…
Trang 33Vũ Thị Thủy 33 VHDT12A
Cà chua (mác chẻ thau): Là loại cây mọc bò dài trên mặt đất, quả nhỏ, khi chín màu đỏ Bên cạnh đó, các giống cà (mác chẻ): có nhiều loại như cà
pháo, cà tím, cà dái dê, dùng để muối hay xào
Chuối (co cuổi): Được trồng nhiều ở quanh vườn nhà và hay mọc ở
trong rừng chuối để ăn quả Ngoài ra, phần cây chuối non được dùng như món rau, là món ăn không thể thiếu được trong các đám tang
Đu đủ: Cũng được trồng nhiều ở vườn xung quanh nhà ở hay mọc ở trong rừng Quả đu đủ xanh còn dùng làm đồ ăn cho sản phụ khi mất sữa
Các loại đỗ (thúa): Có nhiều loại đỗ khác nhau như đỗ tương (thúa
nẳng), đỗ xanh (thúa kheo), đỗ đen (thúa đăm), đỗ ván (thúa pản)… Các loại
đỗ này ứng với từng mùa vụ cố định, đỗ được trồng quanh năm, dùng làm nhân các loại bánh, hoặc để xào, luộc…
Lạc (thúa đin): Thường được trồng ở những nơi đất xốp, đất pha cát
chủ yếu ở ven các sông suối Lạc thường được trồng vào tháng giêng, thu hoạch vào tháng 6, tháng 7 (âm lịch), được dùng để làm thức ăn dự trữ trong các bữa ăn hàng ngày khi ăn thì rang và còn được dùng làm nhân bánh…
Vừng (ngà): Gồm có các loai vừng như vừng đen (ngà đăm), vừng ngọc (ngà ngoóc), vừng trắng (ngà khao) Vừng được trồng chủ yếu làm nhân
bánh như bánh khảo, bánh ngải, bánh rợm…
Các loại cây gia vị: Các loại rau: Cây rau thơm: rau húng (phắc hom), rau mùi (phắc chì), tía tô, hành, kiệu, rau răm (phắc liều), lá lốt (phắc pát)…; các loại củ như: gừng (khinh), giềng (khá), nghệ (co ming), chanh, ớt (mác
phất)…
* Gia súc: Trâu (vài), chó (ma), ngựa (mạ), dê (bẻ) Mỗi gia đình người
Tày thường nuôi từ 3 đến 5 con trâu, chủ yếu dùng để cày bừa Ngựa và dê thì rất ít, chó, mèo chủ yếu nuôi để trông nhà nhưng họ không ăn thịt trâu, chó, mèo
Lợn (mu): Lợn là con vật được nuôi phổ biến ở hầu hết trong các gia
đình, là nguồn thực phẩm quan trọng để cung cấp thịt trong các bữa ăn hàng
Trang 34Vũ Thị Thủy 34 VHDT12A
ngày, trong các ngày lễ tết, đám cưới, tang ma…Đặc biệt, trong các ngày hội Lồng tồng, tết Thanh Minh, đám cưới, nhà mới… phải có thịt lợn quay để cúng tế Mỗi gia đình thường nuôi từ 4 đến 6 con chủ yếu là thả rông
* Gia cầm:
Gà (cáy): Họ thường nuôi giống gà ri, gà tre Mỗi nhà thường nuôi tầm
10 đến mấy chục con Trong mỗi gia đình người Tày, gà là con vật nuôi quan trọng, nó là nguồn thực phẩm dự trữ hàng ngày, khi gia đình có khách, hay trong các dịp lễ tết, lễ hội thì gà là con vật không thể thiếu được Đặc biệt, để chuẩn bị cho những ngày lễ tết họ thường thiến gà rồi nhốt nuôi vỗ béo khoảng một thời gian để gà béo ăn thịt mềm, ngọt
Vịt (pất): Vịt cũng là con vật nuôi thường xuyên trong các gia đình
người Tày, để lấy trứng và lấy thịt cung cấp thêm thực phẩm hàng ngày Vịt
có hai loại vịt bầu và vịt đàn Nhắc đến vịt không ai không biết đến món vịt quay Lạng Sơn và món vịt bầu ở Na Sầm – Thất Khê ngon nổi tiếng Vịt cũng
là món không thể thiếu được trong ngày tết tháng 7, và ngày 30 tết Ngoài ra,
họ còn nuôi rất nhiều ngan và ngỗng
Thủy sản: Những gia đình có ao thì thường hay thả cá, dùng làm thức ăn
bổ xung hàng ngày Các loại cá được nuôi trong ao là cá trôi (pja lình), chép (pja lầy), trắm (pja mần)…đã được thuần chủng Bên cạnh đó, còn có tôm (củng), cua (pu), ốc (hoi)…
● Nguồn lương thực, thực phẩm khai thác từ tự nhiên
Đây là nguồn lương thực, thực phẩm rất quan trọng bổ xung trong các bữa ăn hàng ngày nhất là vào những lúc giáp hạt, mất mùa…
* Các cây lương thực
Lõi cây báng (co pảng): Vào những lúa giáp hạt hay mất mùa họ hay
lấy lõi của cây báng đem về mài nhỏ, ngâm với nước rồi nặn thành bánh hoặc trộn với cơm để ăn
Trang 35Ngót rừng (phjắc van): Thường mọc trên đá, vào mùa xuân cây ra chồi
non, người dân thường đi hái về để ăn, rau này thường để xào với mỡ rồi cho nước vào thành món canh, ăn rất mát
Rau bồ khai (phjắc khâu hương): Cũng là loại cây thường mọc trên các
vách núi đá, vào mùa xuân cây đâm chồi non, người dân thường đi hái về ăn, dùng để xào với mỡ, thịt…khi ăn có vị khai
Rau dền dại (phjắc hôm) Cây này thường mọc ở trong vườn hay ở các
bãi đất hoang, thường được dùng để nấu canh, ăn rất mát
Rau tàu bay (phjắc mân): Mọc trên các bãi đất hoang ven sông suối
hoặc trên các nương rẫy, khi ăn có mùi hắc và có vị đắng mát Vào những lúc thiếu ăn thì đây là loại rau được ăn rất nhiều, để thay cơm, hoặc có thể chữa tiêu chảy
Rau má (phjắc xèn): Thường mọc ở ruộng vào mùa xuân, thuộc dạng
thân bò, ăn có vị hơi đắng mát, dùng để ăn sống hoặc luộc Ngoài ra, rau má còn có tác dụng lợi tiểu, thanh nhiệt rất tốt
Sau sau: Là loại cây thân gỗ, vào mùa xuân ra chồi non, rau này thường
được dùng để ăn sống chấm với mẻ
Ngoài ra, còn có một số loại rau như: phjắc hẻo, rau xương cá (phjắc
ân), rau muối (phjắc cưa), rau dớn…Hoa chuối (pi cuổi) có thể dùng làm
nộm, quả núc nác (phjắc ca), quả trám đen (mác bây), quả trám trắng (mác
cưởm) được dùng để kho thịt, cá và được dùng để làm xôi…
Các loại nấm (bjoóc): Thường mọc trong rừng, ăn rất ngon và được dùng
để nấu canh Các loại nấm như nấm hương (bjoóc hom), mộc nhĩ (bjoóc đăm), nấm đất (bjoóc đin), nấm trứng (bjoóc sáy)…
Trang 36Vũ Thị Thủy 36 VHDT12A
Các loại măng (mảy): Có nhiều loại măng như măng nứa (mảy pjao), măng vầu ngọt (mảy puần), măng đắng (mảy khâm), măng giang (mảy
ràng)…Thường mọc vào mùa xuân, đây là món ăn phổ biến trong các bữa ăn
hàng ngày, có thể chế biến thành các món như xào, nấu xương, kho cá hoặc phơi khô dùng làm thức ăn dự trữ
Các loại động vật: Một số loại động vật như hổ, gấu, hươu, nai, lợn rừng (mu đông), cầy hương (hân moong), nhím, sóc, gà rừng (cáy đông),
rắn,…Vào những lúc nông nhàn, họ thường tổ chức đi săn hoặc đặt bẫy vừa
để bảo vệ mùa màng và để cải thiện trong các bữa ăn hàng ngày Hiện nay, số lượng giảm xuống còn rất ít, một số loài như hổ, gấu, hươu đã bị tuyệt chủng
Một số loại côn trùng như: ong (then) để lấy mật,, trứng kiến (sáy mật), châu chấu (mèng tèn), muồm muỗm (tu luồm)…và một số loài thủy sản sống ở các sông, suối, ruộng nước như: cá tân sơn, cá cám, chạch chấu (pja sát), cá chuột (pja nu), lươn (pja lay), ếch (cốp), nhái (khuýt), tôm, cua, ốc…
Một số loại lá cây dùng là nước uống, để ăn và hút như: chè, lá thành
ngạnh “mạnh nghẹng”, trầu, thuốc lá…
2.1.3 Các món ăn, đồ hút, đồ uống, ăn trầu truyền thống
● Trong bữa ăn ngày thường
Trong quan niệm của nhân dân ta: “Bữa ăn có nghĩa là lần ăn hàng ngày vào những giờ quy định: Ăn bữa sáng, lo bữa tối”,[34 : 124] còn “ngày
làm cả”, [34 : 699] Qua đó, chúng ta hiểu thêm được bữa ăn ngày thường như thế nào và để so sánh với bữa ăn ngày lễ tết, theo đó mà có các đồ ăn, thức uống khác nhau Bữa ăn hàng ngày thường được chia ra làm ba bữa: Bữa sáng
“kin lèng”, bữa trưa “kin ngài”, bữa tối “kin pjầu” Thời gian ăn uống tùy
thuộc vào từng gia đình, từng mùa cụ thể như mùa đông tối nhanh hơn nên thường ăn sớm còn mùa hè thường ăn muộn hơn Trong các bữa lại được chia
ra thành các bữa ăn chính và bữa ăn phụ
Trang 37Vũ Thị Thủy 37 VHDT12A
“Bữa chính là cả nhà cùng ăn chung và ăn no Cơm và thức ăn nhiều, phong phú hơn Bữa phụ đơn giản hơn nhiều so với bữa chính, ăn ít hơn, ăn cho qua bữa và cả nhà người ăn trước, người ăn sau…” [8 : 231] Đối với người Tày ở Văn Lãng cũng vậy, ăn được chia ra thành 3 bữa như trên và chia
ra thành các bữa chính, bữa phụ được thể hiện trong các câu tục ngữ: “Tón
pjầu tón ngài, bố kin lẻ tha lài tha lước” (Bữa tối, bữa trưa không ăn thì hoa
mắt chóng mặt) Vì vậy, chúng ta thấy được tầm quan trọng của các bữa chính
là bữa trưa và bữa tối, còn bữa sáng là bữa phụ hầu như là ăn cho qua loa rồi
đi làm
* Cơ cấu bữa ăn: “Trong bữa ăn ngày thường của nhân dân ta nói chung
được tổng kết như sau: Bữa ăn = cơm + thức ăn
Cụ thể hơn ta có: Bữa ăn = cơm + (rau +cá +thịt)
Trên thực tế cơm và thức ăn là hai yếu tố tạo nên bữa ăn thường ngày
của nhân dân ta, không thể chỉ có một Trong trạng thái bình thường, tự nhiên vốn có của nó, người Việt khi vào bữa ăn cơm không thể thiếu thức ăn, tuy nhiên thức ăn còn tùy thuộc vào từng gia đình và từng người Như vậy, bữa
ăn ngày thường của nhân dân ta bao giờ cũng có hai thành tố cơm và thức ăn” [ 8 : 240] Đối với người Tày ở Văn Lãng cũng vậy, trong bữa ăn không thể thiếu cơm và thức ăn, đó là hai yếu tố rất quan trọng không thể thiếu được trong các bữa ăn hàng ngày
* Hệ thống, đặc điểm của các món ăn truyền thống trong ngày thường
Những ngày bình thường là những ngày làm việc nên các món ăn thường chế biến đơn giản, nhưng phải được ăn no, đầy đủ chất, theo đó mà các món ăn cũng rất đa dạng và phong phú; tùy từng mùa có các loại lương thực, thực phẩm và cách chế biến khác nhau Sau đây là một số món chính:
Các món có nguồn gốc thực vật
Cơm (khẩu): là lương thực chủ yếu cung cấp năng lượng trong các bữa
ăn ngày thường, nó cung cấp nguồn năng lượng chủ yếu cho cơ thể duy trì các
Trang 38Món luộc (Slổm): Vào mùa hè thì có các loại rau quả như: Mướp, bầu,
bí xanh, bí đỏ, rau muống, rau má, rau dền…Vào mùa thu đông, thì có các loại rau như rau cải bắp, rau, su hào, các loại đỗ Đặc điểm của các món luộc khác với các dân tộc khác là các loại rau khi luộc họ thường cho thêm vài lát gừng để cho thơm và một chút muối để cho rau được xanh
Món xào (xẻo): Đây là món ăn ưa thích của họ; vào mùa hè thì có các
loại rau như rau muống, rau lang xào với tỏi, bí xanh, bí đỏ, bầu, mướp, rau
và quả xu xu, các loại đậu, rau bồ khai… Vào mùa đông, thì có các loại rau như rau cải làn, rau cải ngồng, các loại đậu, các loại măng…Cách thức xào đơn giản thường với dụng cụ là chảo gang đun già mỡ rồi cho rau vào xào sau
đó cho thêm gia vị, tùy từng loại rau, quả mà có các loại gia vị khác nhau tương ứng; khi có khách hoặc gia đình khá giả thì xào thêm với các loại thịt, gia vị thường có thêm gừng, đường, rượu…; đối với các loại rau cải, rau muống, rau lang xào với tỏi và các món măng thường đi kèm với lá mác mật…
Món canh (hang): Người Tày ở Văn Lãng, rất thích ăn các món canh
chủ yếu cũng là các loại rau như trên và các loại rau như rau ngót rừng, rau dền, các loại nấm lấy từ trong rừng… Cách làm cũng hết sức đơn giản, họ thường xào rau, củ với mỡ rồi cho thêm nước, gia vị; cho đến nay thì các món này vẫn được chế biến chủ yếu trong các bữa ăn hàng ngày Ngoài ra, các loại
củ quả bí xanh, bí đỏ, các loại măng hay nấu với xương
Rang (bủa): Đây là cách chế biến thông thường dùng để chế biến các
loại hạt như đỗ, lạc, vừng…
Trang 39Vũ Thị Thủy 39 VHDT12A
Ngoài ra, từ đỗ tương người ta chế biến thành đậu, đây cũng là món ăn được họ rất ưu thích; cũng giống như kỹ thuật làm đậu của người Kinh, món đậu được làm như sau cho đỗ tương vào ngâm trong một khoảng thời gian nhất định rồi vớt ra sau đó đem nghiền nhỏ; nhưng khác là họ cho lá chua để
làm chất kết tủa (lá chua “slẩm lầm” là loại lá lấy từ rừng, rất đặc trưng của
vùng miền núi phía Bắc), lá này được luộc sau đó gạn lấy nước rồi cho vào nức đỗ đã nghiền Ngày nay, do tiếp thu của nước ngoài họ đã lấy chất kết tủa
là thạch cao, ăn đậu rất mềm và ngon Hiện nay, thì món đậu Na Sầm ngon nổi tiếng trong vùng và đây cũng là món không thể thiếu được trong các bữa cơm đãi khách Đậu được dùng để ăn sống, rán, kho thịt…
Một số món ăn có nguồn gốc động vật
Món luộc (slổm): Đây là cách chế biến đơn giản không mất nhiều công
sức nên họ cũng rất hay làm như thịt lợn luộc, trong các bữa ăn có khách thì thường có thêm món thịt gà luộc
Món xào (xẻo): Các loại thịt lợn, thịt gà trong các bữa ăn của đồng bào
thường là xào để ăn với cơm Các loại thịt thường xào với nhiều mỡ, cho thêm gia vị là gừng, nghệ, kiệu và cho thêm chút rượu, đó là đặc điểm chung của các món xào và là đặc trưng về ăn uống của người Tày
Món quay (sliêu): Đây cũng là món ăn đặc trưng nổi tiếng của họ; gồm
có thịt lợn quay, thịt vịt quay là món không thể thiếu được trong các dịp lễ hội Lồng tồng, lễ tết, lễ cưới, mừng nhà mới Nhưng trong ngày thường rất ít khi đồng bào làm những món này
Món rán (chen): Chủ yếu là các món thịt lợn rán, cá rán với mỡ nhưng
khác với các dân tộc khác, các món rán của họ trong khi rán họ thường cho thêm một chút muối để tăng thêm độ đặm cho thức ăn
Còn các loại thủy sản như các loại cá, tôm, cua, ốc… họ chủ yếu chế biến rất đơn giản; với các loại cá thì họ thường chế biến như các món nấu là
Trang 40Vũ Thị Thủy 40 VHDT12A
đun nước sôi rồi đổ cá vào cho thêm gia vị là muối và gừng; với các loại tôm, cua thì họ chủ yếu là rang, nấu canh…
● Trong những bữa đám, ngày lễ
“Bữa ăn ngày lễ: là bữa ăn phải gắn liền với ngày lễ, thuộc vào những ngày lễ và phải gắn liền với lễ Trước khi bữa ăn được thực hiện phải có nghi
lễ, tức phải tiến hành cúng bái …” [8 : 305] Đối với người Tày ở Văn Lãng – Lạng Sơn cũng vậy, họ rất quan tâm đến các bữa ăn ngày lễ, đó là những ngày quan trọng là dịp để họ tỏ lòng biết ơn đối với ông bà, tổ tiên mình, cùng với các thần linh; để cầu xin ông bà, tổ tiên và các vị thần linh phù hộ trong việc làm ăn Vì vậy, trong bữa cơm ngày lễ họ rất coi trọng và làm chu đáo Cho
dù những ngày thường không có gì ăn, chỉ ăn cơm độn với rau chấm muối nhưng trong các ngày lễ, tết thì nhất thiết phải có thịt, các loại bánh Tùy từng dịp lễ, tết mà lại có những loại bánh khác nhau đặc trưng cho từng ngày và cho từng mùa Vào những ngày lễ tết, họ thường tổ chức làm các đồ cúng, các món ăn để dâng cúng tổ tiên cho nên từ khâu chọn lựa thực phẩm đều rất quan trọng, gà phải là những con gà ngon nhất, béo nhất…Cách chế biến cũng cầu
kì hơn so với những ngày bình thường; thịt gà mổ khác với ngày thường đó là khi cắt tiết, tiết phải để riêng, mổ moi không mổ như thường ngày, khi luộc cũng rất cẩn thận không làm cho gà chín quá mà bị rách da…
* Cơ cấu bữa ăn ngày lễ: Người Tày cũng gần giống với người Kinh,
đã được tổng kết như sau:
Bữa ăn ngày lễ
So với bữa ăn ngày thường mô hình là:
Bữa ăn = Cơm + (rau + cá + thịt) Như vậy, thì cơm là thứ nhất còn mức độ của các món ăn được tính theo chiều giảm dần, rau là chủ yếu còn thịt và cá là thứ yếu Còn đối với các