1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vài nét hoạt động của đội thông tin lưu động huyện chi lăng tỉnh lạng sơn và những vấn đề đặt ra trong giai đoạn hiện nay

125 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trường đại học văn hóa hμ nội khoa văn hóa dân tộc thiểu số Vi Thị Thập Vμi nét hoạt động của đội thông tin lưu động huyện chi lăng, tỉnh lạng sơn vμ những vấn đề đặt ra trong giai đoạ

Trang 1

Trường đại học văn hóa hμ nội khoa văn hóa dân tộc thiểu số

Vi Thị Thập

Vμi nét hoạt động của đội thông tin lưu động huyện chi lăng, tỉnh lạng sơn vμ những vấn đề đặt ra trong

giai đoạn hiện nay

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân văn hóa

Chuyên nghành: Văn hóa Dân tộc thiểu số Hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Văn Páo

Hμ nội, 6 - 2010

Trang 2

Lời cảm ơn

Trong quá trình thực hiện bμi luận văn nμy do trình độ hiểu biết của

bản thân còn hạn chế, đề tμi không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong thầy cô vμ bạn đọc đóng góp ý kiến để bμi luận văn được tốt hơn Nhân đây em xin gửi lời chân thμnh cảm ơn sự chỉ bảo tận tình của giảng viên hướng dẫn trực tiếp TS Hoμng Văn Páo - Giám đốc sở Văn hoá Thể thao vμ Du lịch tỉnh Lạng Sơn, các thầy cô khoa văn hoá dân tộc thiểu số cùng với sự giúp đỡ của các cán bộ sở văn hóa tỉnh Lạng Sơn, UBND huyện, Phòng văn hoá thông tin huyện Chi Lăng vμ người dân địa phương

đã cung cấp tin vμ tμi liệu để em hoμn thμnh bμi luận văn nμy

Xin trân thμnh cảm ơn!

Lạng Sơn, tháng 05năm 2010

Vi Thị Thập

Trang 3

Danh mục các ký hiệu chữ viết tắt

NXB : Nhà xuất bản

TR : Trang UBND : Uỷ ban nhân dân VHTT : Văn hoá thông tin KHXH : Khoa học xã hôi

GS : Giáo sư

PGS : Phó giáo sư

TS : Tiến sĩ TTLĐ : Thông tin lưu động GĐ : Giám đốc

PGĐ : Phó giám đốc VHTT&DL : Văn hoá Thể thao và Du lịch

Trang 4

Mục lục Danh mục các ký hiệu chữ viết tắt

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài………1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu……… … 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… …3

4 Phương pháp nghiên cứu………4

5 Đóng góp của đề tài………4

6 Bố cục của khóa luận……… 4

Chương 1: khái quát chung về huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn……… 5

1.1 Đặc điểm chung huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn………5

1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên……….5

1.1.2 Vài nét lịch sử……….8

1.1.3 Con người và lịch sử cư trú……….11

1.1.4 Sinh hoạt kinh tế và văn hóa vật chất…….………14

1.1.5 Quan hệ gia đình, dòng họ và hôn nhân……….14

1.1.6 Tôn giáo tín ngưỡng và văn nghệ dân gian……….16

Chương 2: Vμi nét hoạt động của đội thông tin lưu động huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn………21

2.1 Khái niệm thông tin, thông tin lưu và mỗi quan hệ của nó…….… 21

2.1.1 Khái niệm……… ………21

2.1.2 Mỗi quan hệ giữa thông tin lưu động với các thông tin khác…….23

2.2 Vai trò của đội thông tin lưu động trong công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở……… ……….29

Trang 5

2.3 Chức năng, nhiệm vụ của đội thông tin lưu động huyện Chi Lăng,

tỉnh Lạng Sơn……… 35

2.4 Một vài nét về cơ cấu tổ chức và nhân sự……… 39

2.5 Trang thiết bị và kinh phí họat động……….44

2.6 Tiền lương và chế độ chính sách……… ……49

2.7 Phương thức hoạt động……… 51

2.8 Nội dung hoạt động……… 58

2.9 Hiệu quả hoạt động……… 63

2.9.1 Đối với đời sống văn hóa tinh thần……….……63

2.9.2 Đối với đời sống kinh tế……….65

2.9.3 Đối với an ninh quốc phòng……… 67

2.9.4.Đối với đời sống chính trị - xã hội……….….68

Chương 3: Một số giải pháp vμ kiến nghị……….71

3.1 Giải pháp……… …71

3.1.1 Giải pháp về nhận thức……….…… 71

3.1.2 Giải pháp về nhân sự……….…….73

3.1.3 Giải pháp về chuyên môn, nghiệp vụ……….………75

3.1.4 Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực……….83

3.1.5 Giải pháp về tăng cường cơ sở vật chất và kinh phí hoạt động… 85

3.2 Kiến nghị……… ………88

3.2.1 Nhà nước……… ….88

3.2.2 Các tổ chức chính quyền ……… 88

3.2.3 Các cơ quan thuộc ngành văn hóa thông tin……… 89

3.2.4 Các tổ chức đoàn thể địa phương………93

Kết luận

Danh mục tμi liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 6

mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, tập trung 54 dân tộc anh em cùng chung sống nhưng cộng đồng dân tộc thiểu số chỉ chiếm 14% tổng dân số cả nước Hầu hết đồng bào dân cư đều cư trú ở những vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn Do vậy việc phát triển kinh tế và ổn định chính trị, giữ vững an ninh quốc phòng, đòi hỏi cấp thiết phải phát triển tốt hệ thống thông tin truyền miệng, trong đó đội thông tin lưu động

là một hình thức sắc bén, chính sác, kịp thời và dễ hiểu Tiếng nói của đội thông tin lưu động là tiếng nói sát hợp với đời sống nhân dân ở cơ sở; đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân; là tiếng nói giao lưu mang tính cộng đồng, thật sự dân chủ, có tính thuyết phục đầy tính chiến đấu động viên nhân dân làm tròn nghĩa

vụ bảo vệ Tổ quốc; phê phán các thói hư tật xấu trong xã hội, thu hút người xem Ta có thể nói tiếng nói đó là tiếng nói trí tuệ, tiếng nói của đạo lý Việt Nam, của niềm vui nhân dân

Nước ta cùng nhân loài bước vào những năm đầu của thế kỷ mới, đang tiếp tục công cuộc đổi mới đất nước, đẩy mạng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện

đại hóa nhằm xây dựng và bảo vệ tổ quốc Xã hội chủ nghĩa văn minh, giàu đẹp Phương hướng được nêu trong nghị quyết 5 khóa VIII của Ban chấp hành trương

ương Đảng là " Làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội của từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạ, quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, tiễn vững chắc lên chủ nghĩa xã hội"[9]

Trang 7

Hiện nay tình hình của miền núi của cả nước nói chung và bản thân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn nói riêng mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng còn gặp rất nhiều khó khăn Cuộc sống của của đồng bào không chỉ khó khăn nghèo đói về kinh tế mà còn thiếu thông tin cấp thiết Hơn nữa do địa hình vùng miền núi khó khăn, trình độ dân trí thấp, đời sống kinh tế khó khăn, tâm lý cả tin của đồng bào đã gieo rắc mê tín dị đoan, dụ dỗ buôn bán phụ nữ và trẻ em ra nước ngoài Chính vì điều này mà cuộc sống của đồng bào miền núi còn nghèo nàn, lạc hậu Họ gặp vô vàn khó khăn về đời sống kinh tế vật chất cũng

như văn hóa thông tin

Bởi vậy, việc vận động đồng bào thực hiện theo đường lối, chính sách của

Đảng và pháp luật Nhà nước cũng như hướng dẫn họ tổ chức cuộc sống gia

đình, thôn bản như thế nào, trồng cây gì, nuôi con gì cho hiệu quả kinh tế cao để xóa đói giảm nghèo, thực hiện theo chủ trương đường lối chính sách của Đảng, chấp hành pháp luật của Nhà nước để có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc là

điều vô cùng cần thiết Đòi hỏi có lực lượng làm công tác văn hoá thông tin tuyên truyền lưu động ở vùng miền núi nơi tập trung nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống

Tuy nhiên qua quá trình tìm hiểu thực trạng về cơ sở vật chất và thực tế hoạt động của đội thông tin lưu động huyện Chi Lăng, tôi thấy cần phải có một

sự quan tâm chú ý cũng như đầu tư cho đội thông tin lưu động từ phía các cơ quan ngành văn hóa thông tin và các tổ chức chính quyền địa phương Chỉ có như vậy đội mới có khả năng để thực hiện hết mình với vai trò là người chiến sĩ xung kích trên mặt trận tư tưởng

Với ý nghĩa quan trọng trên, người viết đã quyết định chọn đề tài "Vài nét hoạt động của đội thông tin lưu động huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn và những vấn đề đặt ra trong giai đoạn hiện nay " làm luận văn tốt nghiệp chuyên ngành

quản lý văn hóa dân tộc thiểu số của trường Đai học văn hóa Hà Nội Từ đó đề

Trang 8

xuất những giải pháp và kiến nghị giúp cho đội thông tin lưu động huyện hoạt

động ngày càng hiệu quả hơn

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích : Thông qua khảo sát phỏng vấn thực trạng hoạt động của đội thông tin lưu động huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn, đề tài muốn khẳng định vai trò của đội trong công tác xây dựng đời sống văn hóa ở địa phương vùng miền núi, từ đó đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm giúp cho đội hoạt động ngày càng tốt hơn, hiệu quả hơn

Nhiệm vụ: Để thực hiện mục đích trên, đề tài phải làm những nhiệm vụ sau:

Làm rõ khái niệm thông tin, thông tin lưu động, mỗi quan hệ giữa thông tin lưu động với các thông tin khác; vai trò, chức năng và nhiệm vụ của đội thông tin lưu động huyện trong bối cảnh các điều kiện tự nhiên xã hội của huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn

Khảo sát vài nét hoạt động của đội thông tin lưu động huyện từ các phương diện như: cơ cấu tổ chức nhân sự, trang thiết bị và kinh phí hoạt động, tiền lương và chế độ chính sách, phương thức hoạt động, nội dung hoạt động

Đồng thời cũng đánh giá hiệu quả hoạt động của Đội trên các lĩnh vực: đời sống văn hóa tinh thần, đời sống kinh tế, an ninh quốc phòng và đời sống chính trị - xã hội ở địa phương,

Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đội thông tin lưu động huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn

Phạm vi nghiên cứu: huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn

Trang 9

4 Phương pháp Nghiên cứu

Luận văn vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa văn nghệ, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về vai trò của công tác thông tin

Sử dụng phương pháp điền dã, phỏng vẫn, ghi chép, thu thập tài liệu, quan sát, xử lý thông tin

Sử dụng tài liệu các thông tư, văn bản, quyết định của Bộ văn hoá thể thao

và du lịch, Cục Văn hoá Thông tin cơ sở, sách, báo, tạp chí liên quan đến công tác thông tin lưu động

5 Đóng góp của luận văn

Khi thực hiện đề tài này, mong muốn lớn nhất của người viết là đóng góp phần nhỏ bé vào việc cung cấp nguồn tư liệu để nâng cao hiệu quả hoạt động trong công tác thông tin tuyên truyền của đội thông tin lưu động huyện Chi Lăng để các nhà quản lý quan tâm đến vấn đề này tham khảo

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương sau:

Chương 1: Khái quát chung về huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn

Chương 2: Vài nét hoạt động của đội thông tin lưu động huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn

Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị

Trang 10

Chương 1 khái quát chung về huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn

1.1 Đặc điểm chung về huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn

1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Địa giới hành chính huyện Chi Lăng được chia thành 21 xã, thị trấn, trong

đó có hai thị trấn: Thị trấn Đồng Mỏ, thị trấn Chi Lăng và 19 xã bao gồm các xã: Y Tịch, Vạn Linh, Hòa Bình, Bằng Hữu, Bằng Mạc, Gia Lộc, Thượng Cường, Chi Lăng, Quang Lang, Mai Sao, Nhân Lý, Bắc Thủy, Vân Thủy, Hữu Kiên, Lâm Sơn, Liên Sơn, Vân An, Chiến Thắng, Quan Sơn

Chi Lăng có diện tích 703,10 km2 Trong đó núi đá và rừng chiếm 83,3

% diện tích Địa hình Chi Lăng có thể chia thành ba vùng khác nhau:

Vùng thứ nhất là vùng địa mạo cacxtơ với những dãy núi đá vôi, thuộc phía tây (từ xã Mai Sao tới Vạn Linh, Y Tịch) Đây là vùng núi đá thuộc vòng cung đá vôi Bắc Sơn với mật độ các dãy núi đá tương đối dày đặc, độ cao trung bình của vùng núi đá vôi khoảng 200 - 300 m, có những đỉnh núi cao 500 - 600

m Xen kẽ với các dãy núi đá vôi là các thung lũng tương đối rộng như Thượng Cường, Vạn Linh (khoảng 300 ha)

Vùng thứ hai là vùng địa mạo thung lũng thềm thấp, bao gồm các xã, thị trấn chạy dọc theo quốc lộ 1A nằm giữa hai dãy núi Cai Kinh ở phía tây và dãy núi Bảo Đài, Thái Hoà ở phía đông nam Vùng này phần lớn là đồi gò thấp pha

Trang 11

phiến thạch, có độ cao trung bình khoảng 100 - 200 m với các thung lũng kéo dài từ xã Bắc Thuỷ tới thị trấn Chi Lăng

Vùng thứ ba là vùng địa mạo sa phiến thạch núi cao trung bình thành dải, thuộc các xã phía đông bắc như các xã Quan Sơn, Lâm Sơn, Liên Sơn, Vân An, Chiến Thắng, Hữu Kiên Vùng này đồi núi đất có độ cao trung bình khoảng 150

- 200 m

Có thể nhận thấy địa hình Chi Lăng như một mặt cắt được chia thành hai phần được ngăn cách bởi địa mạo thung lũng thềm thấp chạy dọc theo quốc lộ 1A: nửa phần phía đông là vùng núi đất, vùng địa mạo sa phiến thạch núi cao trung bình thành dải; nửa phần phía tây là các dãy núi đá vôi hiểm trở Núi cao

Tiểu vùng thứ hai bao gồm các xã phía đông Nhiệt đô trung bình/năm ở

đây là 20 - 21˚C Tổng lượng nhiệt/năm trên 7600˚C Lượng mưa trung bình/năm khoảng 2m/s[1.tr.856] Tiểu vùng này chịu ảnh hưởng trược tiếp của gió mùa đông bắc, vì vậy sản xuất vụ đông xuân gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, vùng này có nhiều điều kiện phát triển kinh tế đồi rừng và chăn nuôi đại gia súc

Tiểu vùng thứ ba gồm các xã vùng núi đá vôi phía tây nam Nhiệt độ trung bình năm ở đây khoảng 20 - 21˚C Tổng lượng nhiệt trung bình/năm dưới

Trang 12

7600˚C Lượng mưa sấp xỉ 1300 mm Tốc độ gió trung bình/năm là 2m/s ở vùng này ảnh hưởng gây hại của gió mùa đông bắc ít hơn các vùng khác, nhưng lại hay có mưa đá, lốc và hạn hán

Nói chung, huyện Chi Lăng nằm trọn trong vùng nhiệt đới gió mùa, có nhiệt độ trung bình/năm khoảng 21,5˚C, lượng mưa trung bình trên 1400 mm Tổng lượng nhiệt/năm khoảng 7700˚C Hàng năm theo chu trình thời gian, gió mùa đông bắc ảnh hưởng từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau Từ tháng

4 đến tháng 6 hàng năm thường có những đợt gió tây khô nóng, dễ gây hại kéo dài cho mùa màng sản xuất của nhân dân Thời gian mưa nhiều từ tháng 7 đến tháng 9 hàng năm Do cấu tạo địa hình tự nhiên của vùng núi khá khép kín, có nhiều dãy núi đá cao thẳng đứng nên Chi Lăng ít chịu ảnh hưởng của bão

Về rừng

Chi Lăng có nhiều kiểu rừng khác nhau nên nổi tiếng với nhiều loại gỗ quý như : Lát, Đinh, Sến, Táu, Dẻ, Kháo, và đặc biệt là gỗ nghiễn chiếm số lượng lớn hơn cả Đặc sản rừng có thể dùng làm thuốc có Sa nhân, cam thảo, hà thủ ô, Dưới lòng đất Chi Lăng tiềm ẩn nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng như khoáng sản, có các mỏ quạng lớn, nhỏ đã và đang chờ bàn tay, khối óc con người phát hiện, khai thác để phục vụ và phát triển kinh tế - xã hội đời sống lâu dài

Về sông ngòi

Nguồn nước tự nhiên ở Chi Lăng khá dồi dào đặc biệt có dòng sông Thương bắt nguồn từ phía đông Bắc chảy xuống phía Nam của huyện, là nguồn nước lớn phục vụ cho canh tác sản xuất và sinh hoạt của nhân dân các dân tộc thuộc xã, thị trấn chạy dọc theo quốc lô 1A như: xã Bắc Thủy, Nhân Lý, Mai Sao, Quang Lang, xã Chi Lăng, Thị trấn Đồng Mỏ và thị trấn Chi Lăng Sông Hoá (là một nhánh của sông thương) ở Chi Lăng bắt nguồn từ chân núi Khuổi

Ma cao 670 m, chạy theo hướng đông bắc - tây nam qua xã Quan Sơn sang

Trang 13

huyện Lục Ngạn (Bắc Giang) Ngoài ra, ở khắp các xã trong huyện đều có hệ thống các con suối lớn, nhỏ chảy quanh qua các triền khe, chân núi, ven các bản làng, chân ruộng là nguồn nước thường xuyên rất thuận lợi cho canh tác và đời sống nhân dân ở từng vùng khác nhau Tuy nhiên có một số xã vùng núi đá thì khan hiếm nước hơn vì ít khe, suối

Ngoài ra còn có hệ thống các đập thủy lợi lớn, nhỏ là nguồn nước dự trữ cho huyện trong mùa khô hạn

Về giao thông

Trải qua nhiều giai đoạn mở mang và phát triển đến nay, Chi Lăng là huyện có hệ thống đường giao thông khá thuận tiện trong tỉnh Trục đường quốc

lộ 1A đi qua Chi Lăng dài 47km và tuyến đường sắt Hà Nôi - Lạng Sơn qua

Đồng Mỏ dài 42 km - một trong những ga trung chuyển lớn, mở ra khả năng cho phép giao lưu đi lại, trao đổi, vận chuyển hàng hóa nhanh chóng thuận lợi từ Chi Lăng đi Thành phố Lạng Sơn Tuyến đường Đồng Mỏ vượt Đèo Bén, Đèo Lăn, qua chợ Bãi đến Tu Đồn là trục đường giao thông liên nhiều xã trong huyện Tuyến đường Đồng Mỏ - Hữu Kiên thông sang huyện Lộc Bình (28) Tổng chiều dài đường liên xã, liên thôn là 350 km vì vậy hầu hết các xã trong huyện đều có đường dân sinh liên xã, tỏa ra các nhánh đường nối liền các thôn, bản, phục vụ thiết thực cho vận chuyển hàng hóa, vật tư cho sản xuất và đi lại sinh hoạt cho nhân dân các dân tộc

Đường quốc lộ 279 bắt đầu từ Than Muội thuộc xã Quang Lang (Chi Lăng) qua Đèo Kao sang huyện Lục Ngạn (Bắc Giang) và tuyến đường cao tốc Chi Lăng - Hà Nội với chiều dài 120 km đi lại rất thuận tiện

1.1.2 Vài nét lịch sử

Địa danh Chi Lăng - tên gọi về vùng lịch sử, gắn liền với chiến công hiển hách chống giặc ngoại xâm, gìn giữ nền độc lập, tự chủ của quốc gia, dân tộc Tiêu biểu là cuộc kháng chiến 10 năm chống quân Minh xâm lược, với chiến

Trang 14

thắng Chi Lăng - Xương Giang vang dội năm 1427 giàng lại nền độc lập tự chủ cho nước nhà

Chi Lăng là một địa bàn có truyền thống lịch sử lâu đời Trải qua 1000 năm Bắc thuộc, vào thế kỷ X, nhà nước phong kiến Việt Nam độc lập Từ đó, tên gọi Chi Lăng được nói tới như tấm cửa lim vững chắc ở cửa ngõ phía bắc của

Tổ quốc Nơi đây là mồ chôn của mọi kẻ thù phương bắc tràn tới xâm lược nước

ta Sử sách ghi tên Chi Lăng lần đầu tiên vào năm 981 Năm đó " mùa xuân đầu tháng 3, Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng đến Lạng Sơn vua (Lê Hoàn) tự làm

tướng đi đánh giặc Quân giặc lui lại đến sông Chi Lăng" (Đại việt sử ký toàn thư) [tr.860] Tiếp đó, ở thời nhà Lý, vua Lý Thái Tổ ( Lý Công Uẩn) đã gả con

gái cho tù trưởng Động Giáp ở Quang Lang Lạng Châu là Giáp Thừa Quý sau

đổi sang họ Thân gọi là (Thân Thừa Quý) và được làm châu mục (người cầm

đầu) Lạng Châu (Lạng Sơn ngày nay) Con Thừa Quý là Thiệu Thái nối cha làm châu mục Lạng Sơn, đến năm 1029 lấy Công chúa Bình Dương, con Lý Thái Tông Con trai của Thiệu Thái - Bình Dương (cháu nội Thừa Quý) là Thân Cảnh Phúc (Thân Đạo Nguyễn) lại lấy Công chúa Thiên Thành ( con của Lý Thánh Tông) năm 1066 Một dòng (họ Giáp sau đổi thành họ Thân) ở Quang Lang (Chi Lăng) cả ba ông cháu họ Thân ở lại Quang Lang (Chi Lăng) đều là phò mã,

đều là châu mục Lạng Châu suốt gần một thế kỷ (thế kỷ XI) Họ Thân cùng quan quân nhà Lý giữ vững cửa ngõ phía bắc của quốc gia Đại Việt [10.tr 860]

Năm 1076 những dân binh người Tày, Nùng vùng Quang Lang do Thân Cảnh Phúc chỉ huy đã tự đánh nhiều trận phục kích quân Tống ở ải Quyết Lý (Nhân Lý ) và ải Giáp Khẩu ( Chi Lăng ) góp phần cùng Lý Thường Kiệt đánh bại quân Tống trên sông Như Nguyệt ( sông Cầu ) thuộc tỉnh Bắc Ninh ngày nay

Đến thời nhà Trần, trong hai lần quân Nguyên kéo vào xâm lược nước ta qua đường Chi Lăng, cả hai lần đất Chi Lăng đều là trốn tử địa của chúng Tiêu

Trang 15

những người dân binh người Tày, Nùng do nguyễn Thế Lộc, Nguyễn Lĩnh chỉ huy cùng hợp sức với tướng quân nhà Trần đã phục kích toán quân Nguyên hộ tống tên Việt gian Trần Kiện theo Thoát Hoan về nước âm mưu làm An Nam Quốc Vương Trần Kiệt bị giết chết ngay trên mình ngựa, toàn bộ đoàn hộ tống

bị tiêu diệt

Tháng 10 - 1427 những dân binh Chi Lăng do tướng anh hùng Đại Huề

đứng đầu cùng với nghĩa quân Lam Sơn đã chém đầu tướng giặc Liễu Thăng và

tiêu diệt trên một vạn quân Minh: "Ngày mười tám: Trận Chi Lăng Liễu Thăng thất thế, Ngày hai mười: Trận Mã Yên Liễu Thăng cụt đầu"[10.tr.861]

Trong cuộc hành quân thần tốc của người anh hùng Nguyễn Huệ đánh bại

20 vạn quân xâm lược Mãn Thanh (1788 - 1789), Chi Lăng cũng là nơi tham dự

và chứng kiến sự thất bại nhục nhã của tướng Tôn Sĩ Nghị [10.tr 861]

Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta năm 1858 đến trước khi Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời, Chi Lăng vẫn là địa bàn kiên cường chống giặc ngoại xâm Nổi bật nhất trong thời kỳ này là cuộc khởi nghĩa nổi tiếng của nhân dân Chi Lăng và các vùng lân cận do Hoàng Đình Kinh lãnh đạo Trong những năm 1880, cùng với cuộc khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa Thám, cuộc khởi nghĩa của Hoàng Đình Kinh (Cai Kinh) đã giáng một đòn sấm sét vào đầu quân xâm lược

Sau khi đàn áp xong cuộc khởi nghĩa của Hoàng Đình Kinh, thực dân pháp thiết lập cai trị hà khắc ở Chi Lăng Sự áp bức bóc lột tàn bạo đó đã làm nảy sinh ý thức phản kháng mãnh liệt trong nhân dân các dân tộc Chi Lăng đối với chính quyền thực dân phong kiến và phát xít, đã hướng nhân dân tới lý tưởng cách mạng của Đảng Cộng Sản Đồng bào Chi Lăng đã trực tiếp đưa

đường, nuôi giấu và bảo vệ an toàn các cán bộ của Đảng từ trong nước ra nước ngoài trên đường hoạt động cách mạng trước sự truy lùng, khủng bố khốc liệt của thực dân Pháp và tay sai

Trang 16

Trong cao trào tổng khởi nghĩa tháng tám năm 1945, nhân dân các dân tộc Chi Lăng dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đứng lên giành chính quyền thắng lợi ở Bằng Mạc đêm 11/ 5/ 1945 lực lượng khởi nghĩa vũ trang của chúng ta tiến đánh đồn Vạn Linh, sào huyệt cuối cùng của tri châu Bằng Mạc giành chính quyền về tay nhân dân ta ở Ôn Châu cuộc khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi diễn ra ở Đồng Mỏ vào ngày 23 -8 - 1945, sau khi giành thắng lợi đến tháng 2 - 1946, chi bộ cộng sản đầu tiên ở Ôn Châu đã được thành lập Nước nhà độc lập nhưng không lâu sau từ năm 1954 - 1975 đế quốc Mĩ lại kéo sang xâm lược nước ta, từ đó nước ta bi chia cắt thành hai miền với hai nhiệm vụ chiến lược khác nhau: Miền Bắc tiến lên xây dựng cách mạng xã hội chủ nghĩa

và Miền Nam làm cách mạng giải phóng dân tộc thống nhất đất nước Một lần nữa Chi Lăng lại cùng với nhân dân toàn Miền Bắc bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vừa sản xuất để hoàn thành nhiệm vụ hậu phương vững chắc vừa bảo vệ tổ quốc Chi Lăng một đầu mối giao thông quan trọng - đã trở thành trọng điểm bắn phá của giặc Mỹ trong nhiều năm liền Chi Lăng là huyện duy nhất trong tỉnh bị máy bay B-52 bắn phá, nhưng nhân dân các dân tộc Chi Lăng vẫn kiên cường chiến đấu và phục vụ chiến đấu tại chỗ Sản xuất được giữ vững, giao thông liên lạc được đảm bảo thông suốt

Trong chiến tranh bảo vệ biên giới năm 1979, Chi Lăng trở thành một trong những hậu cứ quan trọng của tỉnh Cơ quan của tỉnh chuyển về làm việc tại Chi Lăng

1.1.3 Con người và lịch sử cư trú

Ngày 28/8/1964, thực hiện Quyết định của Hội Đồng Chính phủ về điều chỉnh địa giới hành chính các xã của huyện Bằng Mạc với huyện Ôn Châu thành huyện Chi Lăng

Chi Lăng là địa bàn cư trú lâu đời của các dân tộc anh em: Tày, Nùng, Kinh, Hoa theo số liệu của phòng thống kê huyện Chi Lăng năm 2009 Chi

Trang 17

Lăng có tổng dân số là 74.032 người Trong đó: Nam giới có 37.007 người, nữ

có 37.025 người [17] ở Chi Lăng có nhiều dân tộc cùng chung sống nhưng dân tộc Tày, Nùng, Kinh là chiếm đa số và định cư sớm hơn các dân tộc khác

Các thành phần dân tộc theo số liệu điều tra năm 2009

1.1.4 Sinh hoạt Kinh tế và văn hóa vật chất

Về sinh họat kinh tế

Chi Lăng ngành sản xuất chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, trồng cây lương thực, đồng bào các dân tộc khai phá đất đai, tạo dựng nên những cách

đồng ruộng bậc thang để trồng cây lúa nước và khai phá thêm đồi để trồng ngô, khoai, sắn các loại thực phẩm theo mùa vụ như bầu, bí, mướp, rau su hào, cải bắp, cây ăn quả như cây dưa hấu, na, mận, đào, lê, bưởi, vải thiều, nhãn, hồng, những loại cây ăn quả này thường được trồng với số lượng ít, không phải nhà nào cũng trồng đủ các loại kể trên, cây ăn quả chủ yếu trồng để phục

vụ gia đình Tuy nhiên đặc biệt ở Chi Lăng có cây ăn quả mang lại kinh tế cao

Trang 18

phải kể đến là cây na, mận, hồng được nhân dân các dân tộc nơi đây trồng với diện tích lớn

Có thể nói huyện Chi Lăng có khả năng phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Mấy năm gần đây huyện tiếp tục chỉ đạo ngành lâm nghiệp tiến hành khoán đất, giao rừng cho nhân dân,

đồng thời khai thác trồng rừng theo dự án 327 và dự án tài trợ của Đức ở các xã Quan Sơn, Mai Sao, Nhân Lý, Bắc Thủy huyện có 350 ha Na và gần 200 ha mơ, mận, nhãn, vải thiều, gừng, ớt, cho thu hoạch tốt

Về kinh tế công nghiệp, Chi Lăng thuộc vào một trong những huyện có tài nguyên tương đối giàu có, đến nay Chi Lăng đã cho khai thác đá ở Mai Sao với công suất vài tấn/ năm và khai thác một số mỏ quặng lớn nhỏ trên địa bàn huyện thị trấn Chi Lăng đã xây dựng nhà máy xi măng có công suất 1,2 triệu tấn/ năm đang chuẩn bị đi vào hoạt động Đây là điều kiện thuận lợi để Chi Lăng phát triển sản xuất công nghiệp vật liệu xây dựng - ngành công nghiệp mũi nhọn của huyện

Thương mại và dịch vụ cũng được phát triển mạnh mẽ Hiện nay có hai chợ lớn: chợ Đồng Mỏ và chợ Vạn Linh 5 ngày 1 phiên Ngoài ra còn có các chợ phiên ở một số xã xa xôi hẻo lánh trong huyện có nhiều hình thức trao đổi hàng hóa

Về văn hóa vật chất

Nói đến văn hóa vật chất chính là nói đến bản làng, nhà cửa, trang phục,

ẩm thực và phương tiện vận chuyển của đồng bào các dân tộc Chi Lăng ngày nay do kinh tế phát triển nên một số về văn hóa vật chất cũng biến đổi theo

Nổi bật là làng bản của đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Kinh vì đây là những dân tộc chiếm đa số nơi đây Bản làng của cư dân huyện Chi Lăng thường

được xây dựng ở chân núi, trước nhà có ruộng lúa nước, sau nhà là nương ngô, sắn, cây ăn quả và đồi núi cao hơn là trồng rừng Bản làng có địa giới rõ ràng

Trang 19

thường có thể là 1 con đường, một con suối, một con nương, một bờ ruộng, một gốc cây to Đất trong bản có hai loại là đất sử dụng riêng của từng gia đình (nhà, sân, ruộng, nương, ao, vườn) và đất sử dụng chung cho cả cộng đồng (chủ yếu là đất rừng Ngoài ra còn có đất chung để xây dựng các công trình công cộng như: trường học, đường đi, giếng nước, làm miếu, dựng đình

Bản của cư dân huyện Chi Lăng thường có vài ba trục nóc nhà, trong đó

1.1.5 Quan hệ gia đình, dòng họ và hôn nhân

ở Chi Lăng gia đình người Tày, Nùng đồng nghĩ với nóc nhà (Rườn) chủ

yếu là gia đình nhỏ phụ hệ, tức là hình thức gia đình hạt nhân đó là những gia

đình hai thế hệ gồm bố mẹ và các con, cũng có một số gia đình có ba đến bốn thế hệ: ông, bà, bố, mẹ, con cái Gia đình theo chế độ phụ hệ, tức là theo họ cha,

họ hàng bên nội là họ hàng của cha Trong gia đình con trai, con gái chưa xây dựng gia đình đều tham gia lao động sản xuất theo sự phân công của cha mẹ và

được bình đẳng trong việc đi học và hưởng lợi do lao động mang lại Sau khi

Trang 20

xây dựng gia đình con trai mới được quyền thừa kế tài sản cố định nhà ở, ruộng, vườn, nương, ao Còn con gái đi lấy chồng được cha mẹ cho của hồi môn

Trong quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, ở một số xã như dân tộc Nùng xã Quan Sơn, dân tộc Tày xã Bằng Mạc, Y Tịch có gia đình có sự phân biệt trong quan hệ giữa con dâu và em dâu với bố chồng và anh chồng Cụ thể là con dâu và em dâu không được đến giường ngủ của bố chồng, anh chồng

và ngược lại Trong bữa ăn, phải dọn hai mâm (dù có thể ít người): bố chồng, anh chồng ngồi mâm trên, con dâu và em dâu ngồi mâm dưới ở người Nùng,

có tục không cho người khác dòng họ vào sinh đẻ hoặc chết ở trong nhà mình

Quan hệ gia đình của người Tày, Nùng ở Chi Lăng có sự ảnh hưởng của chế độ nho giáo Trung Quốc Thể hiện ở những quy định chặt chẽ về quyền của người cha, người chồng về tôn ti,trật tự lấy phụ hệ, phụ quyền làm nền tảng

ảnh hưởng của Nho Giáo còn thể hiện ở khía cạnh nghi lễ trong gia đình, nhất

là nghi lễ thờ cúng tổ tiên của người Tày, Nùng

Trong quan hệ dòng họ đồng bào các dân tộc huyện Chi Lăng xác định có

ba dòng họ rõ ràng, đó là họ nội (họ bên bố), họ ngoại (họ bên mẹ) và họ gia

đình chồng của các chị em gái Trong quan hệ họ nội và họ ngoại có sự phân biệt họ gần và họ xa, họ gần thì mọi việc trong đời sống như cưới xin, ma chay, làm nhà mới đều có sự thông báo và giúp đỡ nhau Theo tục người Nùng, anh,

em trong họ, ai nhìn thấy mặt trời trước là anh, là chị, chữ không phân biệt con chú, con bác như người Tày, người Kinh Nhìn chung sự cố kết dòng họ, nhất là

họ nội khá chặt chẽ

Chi Lăng tập trung nhiều dân tộc Tày, Nùng, Kinh cùng sinh sống, và có nhiều họ, nhưng những họ thường chung cho cả ba dân tộc: Nông, Bế, Giáp, Thân, Đoàn, Ma, Hà, Hoàng, Lương, Đinh, Lê, Trần, Lý, Dương, Lục, Triệu, Nguyễn, Vi, Lâm, Hữa, hiện nay, hầu hết các bản của người Tày, Nùng thuộc các xã của huyện Chi Lăng đều có nhiều họ cư trú, ít nhất cũng có 2 - 3 họ,

Trang 21

Trong quan hệ dòng họ, một nguyên tắc là phải thực hiện ngoại hôn, tức

là không kết hôn giữa người cùng dòng họ, đó là những người được gọi là "lượt lài", "đúc lượt" (máu mủ) Thực ra trên thực tế nguyên tắc ngoại hôn này thực

hiện nghiêm ngặt với những người nam, nữ cùng chi họ hay khác chi nhưng quan hệ dòng máu vẫn còn gần gũi Những trường hợp kết hôn cùng tên họ, tuy khác chi và xa dòng máu, dù không bị cấm đoán hoàn toàn nhưng cũng không

đươc dư luận xã hội khuyến khích Do vậy, trai gái trước khi kết hôn phải ghi rõ tên, tuổi để nhờ người so tuổi, một mặt xem có hợp tuổi hay không, mặt khác xác định rõ quan hệ huyết thống hai bên có gì sai phạm không, sau đó mới quyết định ăn hỏi Con cái sinh ra dù trai hay gái đều tính theo họ bố, tức là phụ

hệ con gái đi lấy chồng phải trình diện trước bàn thờ tổ tiên Khi tính mỗi quan

hệ xã hội thân tộc thì theo trực hệ họ cha, tuy nhiên trong quan hệ xã hội ở làng bản, ngoài thân tộc họ cha, mọi cá nhân còn có những ràng buộc nhất định về tình cảm với những người đồng tộc bên họ mẹ, họ vợ Đó cũng là mỗi quan hệ

đa chiều trong mỗi làng bản các dân tộc nơi đây

1.1.6 Tín ngưỡng tôn giáo và văn nghệ dân gian

Huyện Chi Lăng có nhiều dân tộc cùng cư trú nhưng chiếm đa số vấn là dân tộc Tày, Nùng, Kinh do vậy tín ngưỡng tôn giáo của ba dân tộc nay ở nơi

đây nổi bật rõ nhất

Về tín ngưỡng đồng bào quan niệm về "linh hồn", "vật linh" Đối với người Tày, Nùng đó là quan niệm về "phi" “Phi” dịch ra tiếng Việt có nghĩa rất rộng, chỉ tất cả các "thánh", "thần", "ma", "quỷ" như ma trời (phỉ phạ), ma đất (phi đin), ma rừng (phi pạ), ma núi (Ph slán), ma thuồng luồng (phi ngược), ma thiên lôi (phi lòi), ma tổ tiên (phi pẩu pò) ở đây phi đồng nghĩa với "linh hồn" hay quan niệm "vạn vật hữu linh"

Quan niệm dân gian của đồng bào Tày, Nùng, phi có hai loại: phi lành và phi dữ Ma lành được thờ cúng ở đình, miếu, đền phù trợ và bảo vệ cho gia

Trang 22

đình, làng xóm Tuy nhiên nếu trái ý thì cũng có thể bị trừng phạt, chủ nhân phải làm lễ cúng tạ lỗi Còn ma dữ, hung thần, thì nói chung không được thờ

cúng, khi thầy cúng "bói" có loại ma dữ nào làm hại thì mới cúng trừ loại ma

đó Ngoài ra đồng bào nơi đây còn có quan niệm là ở một số người nào đó có

ma hay quỷ thần trong người "phi cay"(ma gà) có thể sai khiến âm binh (âm hồn) để gây bệnh tật, làm hại người khác

Cũng theo quan niệm dân gian Tày, Nùng thì ma (phi), thần (Slấn) đều có

ở ba thế giới: trên trời, trên mặt đất và dưới âm phủ

Phi trên trời là các Then, Bụt, Tiên, Thần, Tổ tiên Các loại "phi" này đều

được con người lập đền, miếu để thờ cúng, nơi mà mà các phi thần này được mời từ trời về hưởng lễ, chứng giám sự thỉnh cầu của người trần Ví dụ, tổ tiên sau khi chết đều ở hẳn trên mường trời, chỉ khi cúng lễ mời về để chứng giám và phù hộ cho con cháu

Các loại "phi" trên mặt đất, như phi núi, sông, đất, thuồng luồng, rừng,

ruộng, rẫy thường trú ngụ ở các đỉnh núi, vùng nước lớn, cây to các loại phi này thường không hại ai, nhưng nếu chặt cây to, vào rừng, ngồi trên hòn đá, vào hang động, xuống vũng nước có thể vô tình xúc phạm đến các phi này, lúc đó phải làm nghi lễ để tạ lỗi lầm

Các loại phi (ma) dưới mặt đất (âm phủ), các loại ma này chuyên gây ra

đau ốm cho người, phải nhờ tới các thầy Tào, Mo làm phép trừ ma giải bệnh

Đồng bào các dân tộc nơi đây cũng có quan niệm thiên đường và địa ngục (âm phủ) Sau khi chết, hồn bị đẩy xuống địa ngục để xét tội lỗi nặng, nhẹ Sau một thời gian xem xét và chịu cực hình thì linh hồn được siêu thoát lên thiên

đường, nơi mọi cái đều tươi đẹp, sống sung sướng Từ đây, linh hồn có thể đầu thai vào kiếp sau

Đối với cộng đồng của người Tày, Nùng nơi đây trong một số trường hợp thông thường, mọi người dân có thể thông qua cúng lễ (hương hoa, lễ vật) cầu

Trang 23

Nhưng trong khá nhiều trường hợp, làm tang ma, chữa bệnh, trừ tà ma, cấp sắc thầy cúng thì không phải ai cũng làm được mà phải nhờ đến một lớp người

hành nghề cúng bái Đó là các thầy Tào, Mo, Then, Pụt

Thầy Tào là thầy cúng mang đậm tính chất Đạo giáo, thầy tào thường hành lễ trong các đám tang ma, trừ tà để chữa bệnh, cúng cầu bình an, cầu phúc cho gia đình, làng bản Ngoài ra thầy Tào còn có thể bói toán, xem đất, chọn ngày, xem số tử vi, làm lễ cấp sắc cho các thầy Mo, Then, Pụt

Các Then, Mo, Pụt mang tích chất thầy cúng dân gian hơn, ít sử dụng sách cúng, các bài cúng bằng tiếng dân tộc và thường được các Then, Mo, Pụt học thuộc lòng, trong cúng lễ Mo dùng chiếc chiêng nhỏ, còn Then, Pụt dùng

đàn tính ba dây và sóc nhạc

Đồng bào các dân tộc huyện Chi Lăng có tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, đây

là hình thức thờ cúng quan trọng nhất Theo quan niệm dân gian, ông bà, cha

mẹ, sau khi chết thì linh hồn vẫn tồn tại ở trên trời "mường phạ", do vậy con

cháu phải lập bàn thờ để thờ trong những ngày lễ tết, hàng năm phải cúng giỗ, mời tổ tiên về chứng giám và phù hộ cho gia đình bình yên, làm ăn phát đạt

Các vị thần khác thờ trong nhà của người Tày, Nùng đó là: thờ Bà Quan

Âm (Quan Âm Bồ Tát) và Hắc Hổ Huyền Đàn, là hai vị thần linh thiêng có thể giúp gia đình trừ được ma tà, yêu ma (vị trí bàn thờ này đặt bên trên bàn thờ tổ tiên, đó là nơi thờ phật)

Thờ Bà Mụ Mẹ Hoa ( Mẹ Biooc) là vị thần cai quản việc sinh nở, nuôi

dạy và bảo vệ trẻ em

Thờ Táo Quân (thần bếp), thần Ba hòn đá (Phi cửa phầy) là vị thần bảo

hộ người và gia súc, coi việc "quản lý hộ khẩu" các công việc lớn nhỏ trong nhà

Vị thần này được thờ ở cạnh bếp, bàn thờ đơn giản, chỉ là một ống bương để cúng thắp nén hương khấn vái Hàng ngày trong gia đình gia chủ có việc gì thì

Trang 24

khấn báo cho thần bếp biết như: sinh nở, bệnh tật, ốm đau, trâu bò lợn sinh sản, mất trộm và cầu xin thần bếp chứng giám, phù hộ

Thờ tổ sư thầy Tào, Then Trong nhà các thầy Tào, và ông bà Then đều lập bàn thờ để cúng tổ sư của nghề Tào và Then Đối với thầy Tào thì bát hương thờ tổ sư cũng đặt cùng gian thờ với tổ tiên, nhưng ở vị trí cao hơn và chính giữa, còn bát hương thờ tổ tiên thì đặt ở bên cạnh phía bên trái Đối với các bà Then thì bàn thờ tổ nghề Then riêng, thường ở vị trí gian bên trái gian chính nơi

đặt bàn thờ tổ tiên

Đồng bào Tày, Nùng ở Chi Lăng còn thờ các vị thần của bản, nghĩa là trong mỗi bản làng hay một số bản gần nhau đều có dựng miếu và đình để thờ cúng Miếu là nơi thờ thổ thần - một vị thần đất bảo hộ và che chở cho cộng

đồng bản Miếu thường đặt ở vị trí đầu làng, nơi có nhiều người qua lại Thường mỗi bản (trên dưới 30 nóc nhà) có một ngôi miếu Vào dịp tết Nguyên Đán hay dịp làm lễ cầu mùa, các gia đình trong bản mạng lễ vật, hương hoa tập chung ở miếu để cúng thổ thần

ở một số bản làng của đồng bào dân tộc huyện Chi Lăng có chung một ngôi đình thờ Thành Hoàng Thành Hoàng là vị thần cùng với thổ công trông coi việc canh tác mùa màng, chăn nuôi gia súc và sự an khang của bản làng

Về tôn giáo, đồng bào huyện Chi Lăng chủ yếu ảnh hưởng của ba tôn giáo lớn đó là: Phật Giáo, Đạo Giáo, Nho Giáo, có một số ít người theo đạo Thiên Chúa Giáo

Tuy nhiên ảnh hưởng của Tam giáo (Phật, Nho, Đạo) vào đời sống của các dân tộc nơi đây không phải là sự du nhập, hình thành các nơi thờ phụng, hệ thống tín đồ của ba thứ tôn giáo này từ Trung Quốc, mà cơ bản vẫn là trên nền tảng các tín ngưỡng dân gian Trong Tam giáo đó thì có lẽ ảnh hưởng của Đạo Giáo là rõ rệt hơn cả điều này được thể hiện có nhiều thầy Tào, Mo, Then, Pụt

Cụ thể thầy Tào mang sắc thái Đạo giáo dân gian rõ rệt hơn cả còn Mo, Then,

Trang 25

Pụt cúng tiếp thu ảnh hưởng của Đạo giáo nhưng tính chất tín ngưỡng dân gian thể hiện rõ nét hơn

Về văn nghệ dân gian, các dân tộc huyện Chi Lăng nói riêng cũng như Lạng Sơn nói chung có nhiều làn điệu dân ca như: hát SLi (của dân tộc Nùng), Then, Lượn (của dân tộc Tày) Những làn điệu dân ca này nó không chỉ là những bài dân ca tỏ tình giữa thanh niên trong những ngày chợ hội gặp gỡ nhau,

mà còn được dùng để bày tỏ tình cảm trong đám cưới giữa các bậc trung niên với nhau, trong các dịp vào nhà mới, hoặc bày tỏ tình cảm đau thương của con cháu với ông bà, cha mẹ trong đám tang ma (do thầy cúng thay mặt hát)

Nhạc cụ nổi tiếng của các dân tộc nơi đây là chiếc đàn tính Cây đàn được

sử dụng cùng với làn điệu dân ca then Làn điệu then có nhiều hình thức thể hiện như hát then, múa trầu thường được biểu diễn trong các dịp giao lưu văn nghệ giữa các xã do Phòng Văn hóa Thông tin huyện tổ chức hoặc là vào dịp

đầu xuân nhiều gia đình làm lễ then giải hạn

Trang 26

Chương 2 vμi nét hoạt động của đội thông tin lưu động

Thông tin đã lưu trữ trên nhiều dạng vật liệu khác nhau như được khắc trên đá, được ghi lại trên giấy, băng từ, đĩa từ Ngày nay, thuật ngữ “thông tin”

được sử dụng khá phổ biến Thông tin chính là tất cả những gì mang lại hiểu biết cho con người Con người luôn có nhu cầu thu thập thông tin bằng nhiều cách khác nhau: đọc báo, nghe đài, xem truyền hình, giao tiếp với người khác thông tin làm tăng hiểu biết của con người, là nguồn gốc của nhận thức và là cơ

sở của quyết định

Môi trường vận động thông tin là môi trường truyền tin, nó bao gồm các kênh liên lạc tự nhiên hoặc nhân tạo như sóng âm, tia sáng, dây dẫn, sóng âm thanh, sóng hình, kênh liên lạc thông tin nối các thiết bị máy móc với nhau hay nối với con người Con người có hình thức liên lạc tự nhiên và cao cấp là tiếng nói, từ đó nghĩ ra chữ viết Ngày nay nhiều công cụ phổ biến thông tin đã xuất hiện: bút viết, máy in, điện tín, điện thoại, phát thanh, truyền hình, phim ảnh v.v

Thuật ngữ thông tin có một hàm nghĩa rộng, khái quát từ giữa thế kỷ XX,

do sự tiến bộ xã hội và phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, thông tin phát

Trang 27

triển không ngừng, dẫn đến "bùng nổ thông tin" sự giải thích khái niệm "thông tin" do đó dẫn đến hai thay đổi cơ bản

Một, khái niệm thông tin được mở rộng vào mọi lĩnh vực, mọi nguồn trao

đổi tin tức - không chỉ là trao đổi thông tin giữa người với người, mà cả giữa người với máy, giữa máy với máy, cũng như những trao đổi tín hiệu trong giới

động vật và thực vật (thông tin di truyền học, sinh học, điều khiển học, v.v ) Hai, khái niệm thông tin còn được giải thích như là thức đo, ghi về lượng thông tin khiến dẫn đến ra đời môn lý luận khoa học thông tin - tin học

Để tồn tại và phát triển, loài người phải thoả mãn những nhu cầu cơ bản:

ăn, ở, duy trì nòi giống, đi lại học hành, chữa bệnh, giao lưu tình cảm Muốn vậy phải liên kết với nhau trong lao động nhằm sản xuất ra nhiều của cải vật chất, đáp ứng các nhu cầu trong suốt quá trình cuộc sống Đồng thời, con người phải gắn bó chặt chẽ với nhau để cùng chế ngự thiên nhiên, khai thác thiên nhiên phục vụ lợi ích của mình, giữ gìn môi trường sống cho sự tồn tại lâu dài của đời người và các thế hệ tương lai

Gắn bó và liên kết với nhau là tiền đề, làm nền móng cho sự xuất hiện xã hội loài người Gắn bó và liên kết với nhau trong lao động sản xuất, chế ngự thiên nhiên, con người phải kết hợp với nhau thành cộng đồng, thành xã hội mà phương thức chính là sự giao tiếp giúp thống nhất hành động, gắn bó giữa cá nhân và cộng đồng nhằm truyền thụ kinh nghiệm, kỹ năng lao động, giao lưu tình cảm, thể hiện thái độ, tư tưởng, lưu truyền tri thức để lao động ngày càng

có hiệu quả hơn, con người ngày càng gắn bó với nhau hơn, để con người vươn lên làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội và cuộc sống của họ ngày càng được nâng lên mức cao hơn

Tóm lại thông tin chính là sự truyền đạt nhận thức của con người về thiên nhiên, xã hội từ đối tượng này sang đối tượng khác thông qua các phương tiện

kỹ thuật nói chung Chính thông tin nói chung nâng cuộc sống của loài người ngày càng phát triển vươn tới văn minh, vươn tới hoàn thiện

Trang 28

Khái niệm thông tin lưu động

Trong xã hội có giai cấp, thông tin luôn được sử dụng để phục vụ lợi ích

và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị Những thông tin nhằm định hướng suy nghĩ và hành động của quần chúng theo mục đích chính trị được gọi là thông tin chính trị Các thông tin chính trị được coi là vũ khí sắc bén của giai cấp thống trị nhất là trong lĩnh vực thôngt in đại chúng, để định hướng cho mọi hoạt động xã hội phù hợp với quan điểm mục đích của giai cấp lãnh đạo xã hội

Khái niệm thông tin lưu động có thể hiểu con người trực tiếp đưa thông tin tới tuyên truyền cho mọi người dân bằng các phương thức phù hợp, nhằm phản ánh các hoạt động của xã hội, của nhân dân đang thực hiện các nhiệm vụ cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; sử dụng những thông tin nhằm định hướng nhận thức, tư tưởng của quần chúng theo sự chỉ đạo của cấp

uỷ, chính quyền, đoàn thể chính trị để tập hợp và tổ chức quần chúng hành

động hoàn thành từng công việc, nhiệm vụ, trong từng hoàn cảnh cụ thể, ở từng thời điểm nhất định

2.1.2 Mỗi quan hệ giữa thông tin lưu động và các thông tin khác

Giữa thông tin lưu động và các thông tin khác có mỗi quan hệ chặt chẽ với nhau, giống nhau là đều chuyển tải thông tin các chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước tới nhân dân để giúp nhân dân nhận thức và hành động đúng Tuy nhiên giữa thông tin lưu động và các thông tin khác có những mặt ưu và nhược điểm khác nhau

Đội với thông tin nói chung

Thứ nhất thông tin bằng các hình thức như qua truyền hình, đài, báo, internet cũng nhằm mục đích chuyển tải thông tin từ một chủ thể đến người nghe hiệu quả lại phải qua một phương tiên kỹ thuật trung gian như cần có ti vi,

Trang 29

đài, báo, máy vi tính, báo nhưng không phải người dân nào cũng có được những thứ đó

Các thông tin khác như sách báo, tạp chí mới đến được một số nơi và một

số người, chủ yếu là cán bộ, chưa đến dân được bao nhiêu Người dân miền núi không có điều kiện mua báo thường xuyên, không được biết đến những thông tin cần thiết đăng trong các báo, tạp chí và các sách xuất bản Các huyện miền núi hầu hết đã không còn có nơi để bán sách, văn hoá phẩm Việc phủ sóng truyền hình thực tế mới được dưới 50% Một só nơi chỉ thu được kênh VTV1, trong khi đó nhiều nội dung đối tượng phù hợp phát ở kênh VTV2, VTV3 không thu được

Có nhiều huyện ở miền núi không thu được đài truyền hình tỉnh mình Các chuyên mục, chương trình về dân tộc và miền núi trên các báo, tạp chí, phát thanh, truyền hình còn ít, trong khi đó quảng cáo lại chiếm nhiều thời lượng và lặp đi lặp lại nhiều khi phản tác dụng

Bên cạnh những thông tin bổ ích thiết thực, còn nhiều thông tin chưa sâu chưa sát thực tế còn chung chung hời hợt, chưa phù hợp với trình độ, tâm lí và thị hiếu của đồng bào Các tin, bài còn dài, ngôn ngữ khó hiểu chữ in nhỏ ít hình

ảnh, trình bày rối rắm, chưa nêu được nhiều kinh nghiệm điển hình mới trên các lĩnh vực, chưa nêu được nhiều cái hay, cái tốt, cái đẹp của miền núi và đồng bào các dân tộc để khẳng định đề cao và phát huy, nâng cao lòng tự trọng và tự tin tự hào của dân tộc; Một số tin bài còn chưa thận trọng, khai thác những mặt không tốt quá mức tác động đến tâm lí các dân tộc

Về thời gian, nói chung thông tin đến với đồng bào các dân tộc, miền núi còn chậm (trừ phát thanh và truyền hình) Báo viết khoảng 2 đến 3 ngày thậm chí hàng tuần mới đến xã, thường đến nhiều tờ trong một lúc, không có đủ thời gian để đọc, nhất là đối với cán bộ cấp xã thôn ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số lại càng không thể đọc được dù chỉ là những tên bài Thông tin trực tiếp của các

Trang 30

đội thông tin lưu động thì một năm đến được 1 đến 2 lần, chủ yếu là khi có sự kiện lớn, nhiều khi thông tin đến với đồng bào đã quá lạc hậu so với tình hình

do thiếu phương tiện chủ động

Thứ hai thông tin còn bao gồm tạo ra các hình thức truyền đạt với những yếu tố có thể phản ánh về thế giới xung quanh đang tồn tại, dưới một cách thức nhất định nhằm làm tăng sự hiểu biết, sự nhận thức để dẫn tới hành đông của con người Trong thời đại bùng nổ thông tin chung hiện nay, con người có thể

được tiếp cận với rất nhiều phương tiện thông tin đại chúng khác nhau như qua truyền hình, đài, báo, mạng internet, những thông tin này có ưu điểm nó phổ biến và tiện lợi nhưng bên cạch đó cũng có những nhược điểm nhất định đó chỉ

là thông tin một chiều và không phải ai cũng có thể có điều kiện tiếp cận Đặc biệt với đặc điểm nước ta đồng bào các dân tộc thiểu số phần đông lại cư trú ở các vùng sâu, vùng xã, vùng đặc biệt khó khăn, địa hình phức tạp thông tin không thể đáp ứng được đầy đủ

Đối với thông tin lưu động

Hiện nay loài người đang sống trong thời đại bùng nổ thông tin Tuy nhiên với tình hình điều kiện địa hình tự nhiên, kinh tế, xã hội như nước ta thì thông tin lưu động vẫn không thể có thông tin nào thay thế được bởi nó có những ưu điểm vượt trội và phù hợp như sau:

Thứ nhất ưu điểm của lớn nhất của thông tin lưu động là đáp ứng được thông tin hai chiều, kịp thời tuyên truyền các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước tới nhân dân, len lỏi đến được với người dân ở vùng sâu, xã, ngõ ngách mà các phương tiện thông tin đại chúng khác chưa có điều kiện tới được người dân, đồng bào các dân tộc thiểu số Đồng thời thông tin lưu động

đáp ứng được sự phản ánh của người dân lên các cấp uỷ, chính quyền địa phương thông qua đội thông tin lưu động huyện, tỉnh

Trang 31

Thứ hai ưu thế của thông tin lưu động là trực tiếp bằng con người là không những chỉ thông tin một chiều mà thông tin hai chiều, giải đáp được những vấn đề mà bà con cần biết, nắm được tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của

bà con, thông tin qua các loại hình văn nghệ dân gian dân tộc nên có sức cuốn hút quần chúng rất tốt, đáp ứng được thông tin cấp thiết phù hợp với từng đối tượng quần chúng và cụ thể của từng địa phương cơ sở

Thứ ba thông tin lưu động nó còn có ưu điểm lớn trong quá trình đưa thông tin tới quần chúng nhân dân là sử dụng ba phương thức tuyên truyền đó là: tuyên truyền miệng, trực quan và văn nghệ cổ động

- Tuyên truyền cổ động bằng lời nói trực tiếp Đây chính là hình thực hoạt

động thường xuyên, sử dụng ngôn ngữ nói để truyền đạt đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, biện pháp chỉ đạo, tổ chức thực hiện của chính quyền các lý lẽ, minh chứng nhằm thuyết phục đối tượng suy nghĩ và hành động theo định hướng

+ Nói thẳng tới người nghe không qua một công cụ trung gian nào, nguời nghe và truyên truyền viên đối mặt, nghe - nhìn rõ thái độ, có mỗi giao lưu tình cảm với nhau Trong những trường hợp nhất định có thể mở rộng thành đối thoại, trao đổi để đi tới chân lý, hoạc thu hẹp lại thành tư vấn cho một vấn đề riêng biệt

+ Đối tượng là những người mà tuyên truyền viên quen biết, cùng sống trên địa bàn, trong một môi trường hoạt động, hiểu được trình độ, cuộc sống, hoàn cảnh sinh hoạt, những băn khoăn thắc mắc của họ

+ Đề cập được tất cả mọi vấn đề, mọi mặt về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học - kỹ thuật Từ những vẫn đề chung như thời sự quốc tế, trong nước, địa phương, cơ sở Một chủ trương, chế độ, chính sách, luật lệ mới ban hành, một cuộc vận động, một phong trào cách mạng cho đến những vấn đề

Trang 32

riêng tư của một nhóm người, một cá nhân, kể cả những vẫn đề không thể đưa công khai trên các kệnh truyền thông đại chúng

+ Có thể tiến hành tuyên truyền miệng bất kỳ lúc nào, bất kỳ ở đâu, bất

kỳ với ai, linh hoạt, dễ dàng, có hẹn trước hoặc không, miễn là phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện, tâm lý, đối tượng được tuyên truyền, nhất là cuốn hút hoặc thuyết phụ được người nghe

- Tuyên cổ truyền bằng bằng hình thức trực quan Đây là những phương pháp, hình thức tác động trực tiếp chủ yếu vào mắt con người, tạo nên ở họ ấn tượng về một vấn đề nhất định theo mục đích mà người tuyên truyền, người cổ

động muốn truyền đạt tới người xem, nghe làm cho họ hiểu và làm theo Tác

động đến đối tượng thông qua hình ảnh, màu sắc, kiểu chữ, cách trình bày, trang trí nhằm nhanh chóng thu hút người xem, dẫn dắt suy nghĩ và hành động của

họ theo định hướng, trong một thời điểm nhất định

- Tuyên truyền cổ động bằng các hình thức văn nghệ Sử dụng các loại hình văn hóa, nghệ thuật để chuyển tải nội dụng đường lỗi chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, các nhiệm vụ chính trị, các biện pháp chỉ đạo của chính quyền cần truyền đạt tới dân; hình thức này có sức hấp dẫn cao, thu hút tập trung theo dõi của đối tượng tuyên truyền Công tác tác thông tin tuyển truyền

cổ động sử dụng hình thức này nhằm truyền đạt nội dụng thật sinh động, hấp dẫn, đem lại sự tiếp thu nhẹ nhàng, thoải mái cho nhân dân

Thứ ba, thông tin lưu động sử dụng trực tiếp bằng con người nghĩa là truyền tin trực tiếp từ chủ thể chuyển tải nội dung thông tin tới người tiếp nhận tin một cách nhanh nhạy, kịp thời đáp ứng được nhu cầu thông tin thiết thực phù hợp với tườn đối tượng và địa phương

Thứ tư, thông tin lưu động của đội thông tin lưu động là chiếc cầu nối giữa Đảng và Nhà nước với nhân dân, là tiếng nói giao lưu tình cảm, trí tuệ xuất phát từ trái tim đi đến trái tim

Trang 33

Thông tin lưu động dùng các hình thức nhẹ nhàng thu hút quần chúng rộng rãi để phổ biến kịp thời các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, các Nghị quyết biện pháp thực hiện chủ yếu của cấp uỷ, chính quyền, địa phương tới đông đảo nhân dân ở cơ sở, truyền tin tức cần thiết trong nước và thế giới đến nhân dân, kịp thời chống lại những luận điệu chiến tranh tâm lí, phản tuyên truyền của kẻ địch

Thông tin lưu động cổ vũ, lôi cuốn quần chúng tham gia tích cực vào phong trào thi đua lao động sản xuất và tiết kiệm, phát triển kinh tế và văn hoá, xây dựng nếp sống mới xã hội chủ nghĩa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, giữ gìn trật tự an ninh xã hội, thực hiện thắng lợi cao chương trình kế hoạch kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước ta

Đội thông tin lưu động thâm nhập sâu vào vùng sâu, vùng xa, để vừa tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước để phục

vụ cho nhu cầu hưởng thụ văn hoá của quần chúng Đội thông tin lưu động thành chiếc cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, nhằm đáp ứng nguyện vọng của quần chúng, đảm bảo công bằng xã hội trong lĩnh vực thông tin, làm

động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới của đất nước Đội thông tin lưu động đã thực sự trở thành mũi nhọn xung kích, là cầu nối giữa Đảng với dân trong công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng nền Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hôm nay

Chúng ta đang sống trong thời buổi bùng nổ thông tin, xu hướng toàn cầu hoá về kinh tế, khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là công nghệ thông tin phát triển rất mạnh Các dân tộc thiểu số chấp nhận thời kỳ này nhưng hết sức thận trọng trong nội dung thế nào cho phát triển đó phù hợp với dân tộc, khu vực, địa phương

Công tác thông tin lưu động chuyên làm công cụ, phương tiện làm công tác tuyên truyền của Đảng, Nhà nước trực tiếp với quần chúng nhân dân ở cơ sở

Trang 34

Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng vai trò của đội thông tin; Bộ chính trị cũng ra chỉ thị tăng cường và đổi mới công tác tuyên truyền miệng Bởi vì dù khoa họ kỹ thuật phát triển tới đâu, dù truyền hình, đài phát thanh, báo chí mở rộng diện tác động rất lớn tới đâu đi chăng nữa, nhưng trong cuộc sống còn rất nhiều vấn đề cụ thể của Đảng, Nhà nước, của từng cơ sở phải tác động tới dân từng lúc, từng nơi, kịp thời mà chỉ có bằng tuyên truyền miệng mới thực hiện

được Do vậy, Chúng ta sử dụng đội thông tin lưu động và phương pháp tuyên truyền miệng là thích hợp nhất

2.2 Vai trò của đội thông tin lưu động trong công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở

Tuy hiện nay những tiến bộ khoa học kỹ thuật đang dần thay thế cho hoạt

động chân tay nhưng trong lĩnh vực thông tin cho dù tiến bộ khoa học kỹ thuật phát triển đến đâu, cũng không thể thay thế tuyên truyền miệng cho thông tin lưu động Bởi vì thông tin mãi là tiếng nói của con người đối thoại với con người ở thông tin miệng, thông tin lưu động, việc truyền tin còn có cả tiếng nói, ánh mắt, nụ cười, có đối thoại, giao lưu, có bầu không khí thông cảm cộng

đồng chia sẻ trách nhiệm giữa người nói với người nghe mà không phương tiện nào có được

Hội nghị TW5 khóa VIII đã ra nghị quyết về "xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" [9] Nghi quyết xác định quan điểm chỉ đạo cơ bản " văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội " [9] và xác định rõ

phương hướng: làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học kỹ thật phát triển, phục vụ

Trang 35

đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh tiến chắc lên chủ nghĩa xã hội [9]

Văn hóa là tài sản của nhân dân, bắt nguồn từ nhân dân và phải đưa trở về phục vụ quần chúng nhân dân Đảng ta từ lâu đã đặt đúng vị trí của việc xây dựng đời sống văn hóa, coi đó là nền tảng của văn hóa mới của xã hội chủ nghĩa Việt Nam Cơ sở là nơi người dân làm ăn sinh sống, sáng tạo và hưởng thụ văn hóa, nơi đó cũng chính là cái nôi của nền văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, gắn văn hóa với cơ sở là mục tiêu của ngành văn hóa thông tin, là tạo điều kiện cho nhân dân được hưởng thụ và sáng tạo văn hóa

Đời sống văn hóa là sự hiện diện, tồn tại và phát triển của đời sống tinh thần trong toàn bộ hoạt động thực tiễn xã hội Vốn văn hóa là một hiện tượng xã hội gắn liền với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người Văn hóa mang bản chất là những giá trị Chân, Thiện, Mỹ gắn với mọi sản phẩm văn hóa vật chất, sản phẩm tinh thần, với mọi hoạt động của con người thuộc lĩnh vực xã hội Đời sống văn hóa bao gồm một tổng thể những hoạt động văn hóa tác động qua lại trong đời sống của cá nhân và cộng đồng để đáp ứng nhu cầu con người

và để thúc đẩy sự phát triển của đời sống xã hội Đời sống văn hóa cũng có khi

được hiểu như môi trường văn hóa, là cầu nối văn hóa xã hội và văn hóa cá nhân Nó là tổng thể những yếu tố văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể Nó biểu hiện nhân cách văn hóa, cảnh quan văn hóa bao quanh con người gây ra sự tác động lẫn nhau giữa các cá nhân trên phạm vi không gian, thời gian nào đó trực tiếp hình thành nếp sống và lối sống của con người

Đời sống văn hóa bao gồm 4 yếu tố cơ bản: Thứ nhất là yếu tố văn hóa tự nhiên hoặc do con người tao ra hiện diện ở mỗi cộng đồng như: di tích lịch sử, hang động, phong cảnh đẹp Thứ hai là những yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể tồn tại ở một cộng đồng như: các tác phẩm văn hóa, các thiết chế văn hóa, các phương tiện thông tin đại chúng truyền bã về văn hóa, các lễ hội, tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa và văn nghệ dân gian Thứ ba là những yếu tố văn

Trang 36

hóa của các tế bào trong mỗi cộng đồng: gia đình, tổ, nhóm lao động, học tập, giải trí Thứ tư là những yếu tố văn hóa cá nhân ở mỗi cộng đồng như: trình độ học vấn, nhu cầu, sở thích, thị hiếu văn hóa, định hướng giá trị, xử lý thời gian nhàn rỗi, văn hóa ứng xử, giao tiếp, lỗi sống, nếp sống văn hóa

Công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở rất rộng nhưng cơ bản nó được thể hiện ở những điểm: Thứ nhất là xây dựng con người văn hóa theo tinh thần Nghi quyết 5 BCH TW Đảng khóa VIII đã nêu những đức tính cơ bản của con người Việt Nam trong giao đoạn cách mạng mới Thứ hai là xây dựng gia đình văn hóa Đó là việc xây dựng gia đình có cuộc sống ấm no, bình đẳng, hòa thuân, tiến bộ, hạnh phúc có các thành viên thực hiện tốt nghĩa vụ công dân

Đồng thời, gia đình đó là gia đình thực hiện tốt kế hoạch hóa gia đình Thứ ba, xây dựng nếp sống văn hóa công cộng góp phần tạo ra lỗi sống lành mạnh, tốt

đẹp cho mỗi cá nhân, mỗi gia đình tập thể và cộng đồng Đó chính là việc xây dựng nếp sống văn minh Thứ tư, xây dựng mới các thiết chế văn hóa và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa

Có thể nói, công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là một chủ trương lớn của Đảng nhưng không giống các chủ trương bình thường khác nó mang ý nghĩa chiến lược lâu dài và đồng thời có tính chất thời sự nóng hổi và cấp bách Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở nhằm giáo dục xã hội chủ nghĩa đối với người lao động, từng bước nâng cao trình độ dân trí cho người lao động là bước

đầu không thể thiếu được và nó cũng là việc đầu tiên phải làm để xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở

Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở chính là trực tiếp truyền bá đến từng người dân lao động ở mọi nơi những kiến thức tạo cho họ được tiếp cận với những thành tựu văn hóa, tham gia tích cực vào các lĩnh vực khác nhau của hoạt

động xã hội Nó còn góp phần sáng tạo ra lực lượng sản xuất mới, vừa củng cố quan hệ sản xuất mới, vừa xóa bỏ cái cũ, vừa xây dựng cái mới trong mọi mặt

Trang 37

dựng đời sống văn hóa cơ sở là bước đầu xây dựng ở khắp mọi nơi một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, trong đó con người quan hệ với nhau theo một đạo lý

cao quý "mọi người vì mỗi người, mỗi người vì mọi người" Nghĩa là ở mọi mặt

của cuộc sống, trong lao động, giao tiếp, học tập, sinh hoạt cá nhân, sinh hoạt cộng đồng đều có những biểu hiện của giá trị cao cả tiến bộ của xã hội, tức là bắt đầu xây dựng một nền văn hóa xã hội chủ nghĩa với nhiều bản chất ưu việt

Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở có tác động trực tiếp ngay lập tức tới mọi tầng lớp nhân dân lao động, đời sống của mọi người dân, mang lại ngay cho nhân dân những yếu tố hạnh phúc của đời sống Nó tạo tính tích cực chủ động trong nhân dân để thúc đẩy hình thành và phát triển ý thức làm chủ tập thể về văn hóa của nhân dân

Với những ý nghĩa quan trọng của công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ

sở, Đội thông tin lưu động huyện cố gắng thực hiện vai trò của mình là lực lượng xung kích trên lĩnh vực văn hóa đến các địa phương để đáp ứng yêu cầu các Ban chỉ đạo tỉnh và cơ sở Đội mang ánh sáng văn hóa, văn nghệ, các đường lỗi, chủ trương chính sách của Đảng và pháp nhà nước truyền đạt đến dân Đồng thời, đội cũng đóng vai trò là lực lượng nòng cốt trong việc vận động và cổ vũ nhân dân trong huyện xây dựng phong trào: gia đình văn hóa, làng văn hóa, và Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa cơ sở

Với công tác xây dựng đời sống văn hóa, đội thông tin lưu động tuyên truyền nâng cao nhận thức trong nhân dân để tổ chức, chỉ đạo thực hiện sau đó xây dựng mô hình và nhân ra diện rộng của huyện đạt hiệu quả

Xây dựng gia đình văn hóa rất quan trọng, chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng

nói: "Quan tâm đến gia đình là đúng vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt" (Trích trong "Đời sống mới" tháng 3/1947) Gia đình là tế bào của xã hội, là nơi duy trì nòi giống

tái tạo ra con người, là nơi chuẩn bị mọi mặt cho cá nhân hòa nhập vào cộng

đồng xã hội, là nơi thỏa mãn nhu cầu tâm lý, sinh lý, tình cảm, tâm tình cho các

Trang 38

thành viên và đồng thời gia đình cũng là một đơn vị kinh tế Do vậy, vai trò và

vị trí của gia đình rất quan trọng trong đời sống xã hội của mọi thời đại Việc xây dựng gia đình văn hóa góp phần vào sự duy trì bền vững nền tảng đạo đức xã hội tốt đẹp của dân tộc, của một quốc gia

Với vấn đề xây dựng gia đình văn hóa hiện nay đội thông tin lưu động ngoài việc tuyên truyền, vận động nhân dân hiểu được công tác xây dựng gia

đình văn hóa bằng các hình thức biểu diễn văn nghệ, tuyên truyền miệng, cổ

động trực quan đưa ra các tiêu chí, tiêu chuẩn và cách thực hiện xây dựng gia

đình văn hóa

Đội thông tin lưu động đóng vai trò là cầu nối trung gian giữa Đảng với quần chúng nhân dân, bởi vừa thực hiện nhiệm vụ đưa đường lỗi chính sách, pháp luật cảu Đảng và Nhà nước tới nhân dân vừa phản hồi những tâm tư, nguyện vọng, việc làm của nhân dân với chính quyền địa phương Do đặc trưng

là địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa có nhiều dân tộc cùng sinh sống, đời sống văn hoá vật chất và tinh thần còn nhiều khó khăn đòi hỏi công tác văn hóa thông tin nhất là thông tin lưu động cần linh hoạt, khéo lẽo, hấp dẫn, dễ hiểu

Để cho bà con tin tưởng, nghe, hiểu và làm theo, các đôi viên thông tin vừa

đóng vai trò là người chiến sĩ văn hóa trên mặt trận tư tưởng vừa đóng vai trò là người cán bộ dân vận Bằng việc đi sâu, bám sát thực tế, để từ đó đúc rút ra nhiều kinh nghiệm để căn cứ vào những đặc điểm tâm lý của mỗi dân tộc, mỗi

địa phương vào vịêc tuyên truyền, vận động và cổ vũ nhân dân thực hiện xây dựng gia đình văn hóa

Đội đứng ra tổ chức các lớp tập huấn, hướng dẫn cho cán bộ cơ sở như: Hội phụ nữ, Hội nông dân, Bí thư chi bộ, Đoàn thanh niên, trưởng thôn về các tiêu chẩn, tiêu chí, phương pháp tổ chức, xây dựng, phấn đấu, cách thức đăng

ký, làm hồ sơ đề nghị xét tặng danh hiệu gia đình văn hóa Để từ đó các cán bộ

ở địa phương tuyên truyền quán triệt trong nhân dân thông qua các buổi sinh

Trang 39

Đội còn đóng vai trò là người tuyên truyền và biểu dương kịp thời gương người tốt, việc tốt, các mô hình gia đình làm kinh tế giỏi, gia đình văn hóa tiêu biểu, đồng thời phê phán những thói hư, tật xấu trong xã hội, giúp nhau xóa đói giảm nghèo, làm giàu chính đáng Đội là người cùng với các cán bộ chính quyền địa phương đứng ra tổ chức hội nghị suy tôn các gia đình văn hóa tiêu biểu, thôi thúc các gia đình khác trong cộng đồng dân cư cùng phấn đấu và các gia đình đã đạt được danh hiệu cũng phải phấn đấu tiếp tục giữa vững và duy trì danh hiệu Để từ đó làm cho chất lượng gia đình văn hóa ngày càng được nâng cao hơn

Đối với công tác xây dựng làng văn hóa ở cơ sở, đội cũng thể hiện được vai trò của mình là người tuyên truyền, giới thiệu: mục đích, ý nghĩa, yêu cầu, nội dung của việc xây dựng làng văn hóa trong toàn dân, toàn ngành và các

đoàn thể Đội làm góp phần với vai trò tổ chức các hoạt động sinh họat văn hóa của làng: văn nghệ, ca, múa, thể thao

Xây dựng làng văn hóa nhằm xây dựng một cộng đồng làng hoàn thiện và phát triển nhiều mặt nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo của cá nhân, của mỗi gia đình trong sản xuất và sáng tạo văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu thiết thực của nhân dân và xã hội Chính việc xây dựng làng văn hóa thể hiện các Nghị quyết, chính sách của Đảng và nhà nước về xây dựng nông thôn mới nhằm xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong gia đình và trong cộng đồng

Đội thông tin lưu động tuyên truyền cho nhân dân hiểu được việc xây dựng làng, xóm, đơn vị văn hóa là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, nếu thực hiện được thì rất lợi nhà, ích nước Vai trò của đội thông tin lưu động vô cùng quan trọng bởi họ tuyên truyền giúp người dân hiểu: để được suy tôn công nhận làng, xóm, đơn vị văn hóa là một việc làm rất khó, đòi hỏi phải có sự phấn đấu của cả cộng đồng Nhưng giũ được danh hiệu và ngày càng nâng cao chất lượng các danh hiệu này thì lại càng khó hơn Bởi khi đã đạt được các danh

Trang 40

hiệu thì rất dễ nảy sinh tư tưởng chủ quan, tự mãn, say sưa với thành tích, do vậy mặt trái của xã hội, cái xấu rất dễ xâm nhập, dẫn đến để mất danh hiệu

Có thể nói, đội thông tin lưu động đã góp phần đẩy mạnh và mở rộng quy mô tuyên truyền, vận động, cổ vũ nhân dân trên toàn địa bàn huyện tham gia xây dựng làng văn hóa Đội cũng phối hợp với các lực lượng các bộ cơ sở và nhân dân địa phương đẩy mạng phong trào văn hóa văn nghệ quần chúng, góp phần nâng cao đời sống tinh thần Đồng thời, đội lồng ghép, bổ sung nội dung văn hóa vào các phong trào hiện có của cơ quan, ban, nghành, đoàn thể địa phương Trong những phong trào này, đội vừa có vai trò gìn giữ những phong tục tập quán của dân tộc, giúp nhân dân loại bỏ dần những lỗi thời, lạc hâu, hình thành những tập quán mới văn minh sống và làm việc theo pháp luật Đội huy

động nguồn lực của toàn xã hội, tham gia các hoạt động sáng tạo và xây dựng

đời sống văn hóa, nâng cao dần mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển

2.3 Chức năng, nhiệm vụ của đội thông tin lưu động huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn

Đội thông tin lưu động huyện Chi Lăng có chức năng và nhiệm vụ tuyên chuyền rộng rãi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, Nghị quyết và biện pháp chủ yếu của cấp uỷ, chính quyền địa phương, kịp thời vạch trần những luận điệu chiến tranh tâm lí và phản động tuyên truyền của kẻ địch và những phần tử xấu, động viên quần chúng ra sức thi đua các phong trào do Đảng và Nhà nước phát động trong cả nước và trên toàn địa bàn huyện

Đội muốn thuyết phục quần chúng một cách có hiệu lực, muốn quần chúng tin và hăng hái làm theo, nhất là việc ứng dụng những tiến bộ khoa học -

kỹ thuật, những tiến bộ về quản lý sản xuất, quản lý kinh tế cách tốt nhất là giới thiệu điển hình tiên tiến, các gương người tốt việc tốt Những địa bàn trọng yếu, những nơi phong trào đang có nhiều khó khăn, chính là những nơi rất cần phổ biến thấu suất đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước, cần được biết

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w