Sự thay đổi lối sống diễn ra trong mọi tầng lớp xã hội, trong đó nhóm đối tượng nhân viên công sở là thành phần dân cư tiêu biểu nhất là nhóm xã hội tiên phong chịu ảnh hưởng trực tiếp c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
KHOA VĂN HÓA HỌC
======&======
NGUYỄN THỊ NGA
“BỮA TRƯA CÔNG SỞ” – NÉT MỚI
TRONG VĂN HÓA ẨM THỰC HÀ NỘI
THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TH.S LÊ KHÁNH LY
HÀ NỘI – 2013
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành được đề tài này ngoài sự cố gắng của bản thân em đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiệt tình của các Thầy, các Cô trong khoa Văn Hóa học
Trước tiên em xin gửi lời cảm ơn các Thầy các Cô đã giúp em hoàn thành đề tài nghiên cứu này Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến cô Lê Khánh Ly – giảng viên Khoa Văn Hóa Học người đã tận tình chỉ bảo giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Do điều kiện thời gian cũng như hiểu biết đề tài của em còn có những thiếu sót Vì vậy em rất mong nhận được sự góp ý của các Thầy các Cô để đề tài của em được hoàn thiện hơn
Sinh viên
Nguyễn Thị Nga
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 6
2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 8
3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 9
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 10
5 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 11
6 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI 11
Chương 1 CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA VÀ SỰ HÌNH THÀNH LỐI SỐNG VĂN MINH CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM 12
1.1 QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM VÀ HÌNH THÀNH THÀNH LỐI SỐNG VĂN MINH CÔNG NGHIỆP Ở NƯỚC TA 12
1.1.1 Quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam 12
1.1.2 Tác động của quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa vào xã hội Việt Nam 12
1.1.2.1 Những thay đổi về mặt xã hội Việt Nam trong quá trình CNH – HĐH 13
1.1.2.2 Những biến đổi trong lĩnh vưc văn hóa tinh thần ở Việt Nam trong thời kì CNH – HĐH 16
1.2 THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA VÀ NHỮNG BIẾN ĐỔI XÃ HỘI CỦA MÌNH 18
1.2.1 Quá trình Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa tại thành phố Hà Nội 18
1.2.2 Biến đổi của Hà Nội trong quá trình Công nghiệp hóa - hiện đại hóa 18 1.2.2.1 Sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của thành phố Hà Nội trong thời kì CNH - HĐH 20
Trang 41.2.2.2 Quá trình đô thị hóa 20
1.2.2.3 Cơ cấu dân số 22
1.2.2.4 Về biến đổi cơ cấu xã hội - nghề nghiệp: 23
12.2.5 Biến đổi trong lĩnh vực văn hóa – xã hội của người Hà Nội trong thời kì CNH - HĐH 24
1.2.2.6 Biến đổi trong gia đình tại Hà Nội trong thời kỳ CNH- HĐH 26
1.2.2.7 Biến đổi trong văn hóa ẩm thực của Hà nội 27
Chương 2 “BỮA TRƯA CÔNG SỞ” TẠI HÀ NỘI TRONG THỜI KỲ CNH – HĐH 30
2.1 NHẬN DIỆN ĐỐI TƯỢNG SỬ DỤNG “BỮA TRƯA CÔNG SỞ” TẠI HÀ NỘI 30
2.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA “BỮA TRƯA CÔNG SỞ” TẠI HÀ NỘI 33
2.2.1 Thời gian của “Bữa trưa công sở” tại Hà Nội 33
2.2.2 Địa điểm của “Bữa trưa công sở” tại Hà Nội 37
2.2.3 Mức giá “Bữa trưa công sở” tại Hà Nội 41
2.2.4 Các loại món ăn được lựa chọn trong “Bữa trưa công sở” tại Hà Nội 43
2.2.5 “Bữa trưa công sở” kết hợp với mục đích khác của nhân viên công sở 45 2.2.5.1 “Bữa trưa công sở” kết hợp với mục đích giải trí 45
2.2.5.2 Bữa trưa công sở với mục đích tranh thủ thời gian 47
2.2.5.3 Bữa trưa công sở kết hợp với mục đích giao lưu tình cảm 47
2.2.5.4 Bữa trưa công sở kết hợp với mục đích chăm sóc sức khỏe và làm đẹp 49
2.3 NÉT NỔI BẬT TRONG VĂN HÓA ẨM THỰC HÀ NỘI THÔNG QUA “BỮA TRƯA CÔNG SỞ” 51
Trang 5Chương 3 ẢNH HƯỞNG CỦA “ BỮA TRƯA CÔNG SỞ” TỚI VĂN
HÓA GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI HÀ NỘI 54
3.1 ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC CỦA “BỮA TRƯA CÔNG SỞ” TỚI VĂN HÓA GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI HÀ NÔI 54
3.1.1 “Bữa trưa công sở” góp phần phát triển cá nhân trong gia đình một cách toàn diện 54
3.1.2 Bữa trưa công sở một hình thức chăm sóc bản thân và học hỏi kinh nghiệm chăm sóc gia đình 56
3.2 ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA “BỮA TRƯA CÔNG SỞ” TỚI GIA CỦA NGƯỜI HÀ NỘI 58
3.2.1 Sự gắn kết tình cảm giữa các thế hệ phần nào bị giảm sút giảm sút 58
3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG “BỮA TRƯA CÔNG SỞ” 60
3.3.1 Giải pháp nâng cao chất lượng “Bữa trưa công sở” từ nhân viên công sở 60
3.3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng “Bữa trưa công sở” từ phía cơ quan quan quản lí 62
KẾT LUẬN 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHẦN PHỤ LỤC 71
Trang 6Ngoài những thay đổi về mặt vật chất đồng thời trong quá trình đổi mới cũng tạo nên sự thay đổi lớn trong lối sống của người dân để thích nghi với xã hội công nghiệp Từ phương thức tư duy trọng tính cộng đồng, làm việc theo cảm tính chuyển sang một lối sống tư duy lý tính, đề cao tính cá nhân
Thay đổi trong nhận thức và lối sống của người dân là xu thế tất yếu của sự phát triển xã hội trong thời kì xây dựng CNH – HĐH ở Việt Nam Ở nước ta hiện nay, lối sống công nghiệp mới được hình thành và chưa thật sự
ổn định tạo nên không ít những khó khăn thách thức cho các nhà quản lý đưa
ra phương pháp quản lý nhà nước và định hướng phát triển đất nước Các đề tài nghiên cứu về văn hóa, xã hội trong thời kỳ CNH – HĐH đất nước cung cấp những cơ sở căn cứ, hiểu biết cụ thể, xác thực cho các nhà quản lý đất nước đưa ra những định hướng hợp lý
“Bữa trưa công sở - Nét mới trong văn hóa ẩm thực của Hà Nội trong thời kỳ CNH -HĐH” là bước đi nhỏ trong công tác nghiên cứu sự thay đổi lối sống của người dân trong thời kỳ CNH – HĐH đất nước Đề tài hi vọng cung
Trang 7cấp những nghiên cứu bước đầu, số liệu khảo sát thực tế về một khía cạnh biến đổi lối sống người Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
Khóa luận lựa chọn nghiên cứu về “Bữa trưa công sở” tại địa bàn Hà Nội vì đây là trung tâm kinh tế, chính trị, xã hội phát triển vào bậc nhất trong
cả nước, là nơi có thể nói là tiếp nhận sớm nhất và nhanh nhất những yếu tố tác động từ bên ngoài vào xã hội nước ta Bên cạnh đó, Hà Nội cũng là vùng đất phát triển lâu đời trên nền văn hóa nông nghiệp lúa nước, tư duy lối sống của người dân cũng được coi là tiêu biểu cho lối sống nông nghiệp khác hẳn với lối sống phóng khoáng tự do, mở rộng giao lưu và tiếp xúc với thế giới bên ngoài như Sài Gòn, Nam Bộ trước đây
“Không thơm cũng thể hoa nhài Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”
Hà Nội là mảnh đất có truyền thống của sự thanh lịch với cách ăn, cách mặc đạt chuẩn mực của cái đẹp cùng với chiều dài lịch sử dân tộc Ngày nay, cùng trong dòng biến đổi lối sống của cả nước, Hà Nội cho ta thấy sự thay đổi mạnh mẽ nhất, sâu sắc nhất và toàn diện nhất Trên cơ tầng văn hóa “chuẩn mực” đó, văn hóa người Hà Nội có những điểm riêng so với những địa phương khác
Vì vậy, Hà Nội là mẫu thử tốt nhất cho ta thấy rõ nét nhất sự thay đổi lối sống của người dân trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước thời kỳ hiện nay
Việc lựa chọn nghiên cứu đề tài "Bữa trưa công sở - nét mới trong văn hóa ẩm thực Hà Nội trong thời kỳ CNH - HĐH" cho thấy hướng nhìn mới về
sự biến đổi trong bữa ăn trưa của những người làm công sở về mặt hình thức cũng như chất lượng Từ đó có thể đưa ra những nhận xét khái quát về xu hướng biến đổi trong văn hóa ẩm thực chung của Hà Nội hiện nay Bên cạnh
đó đề tài có đề cập tới vấn đề vệ sinh, an toàn thực phẩm, cũng như đề xuất
Trang 8những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bữa ăn cho bộ phận người làm công sở nói riêng và cho toàn bộ người dân nói chung
Sự thay đổi lối sống diễn ra trong mọi tầng lớp xã hội, trong đó nhóm đối tượng nhân viên công sở là thành phần dân cư tiêu biểu nhất là nhóm xã hội tiên phong chịu ảnh hưởng trực tiếp của thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa thời kỳ hiện đại.Thông qua góc nhìn nhỏ từ “Bữa trưa công sở” đề tài
hi vọng làm rõ phần nào sự thay đổi trong lối sống cá nhân và một phần nào
đó sự biến đổi trong văn hóa gia đình ở đô thị Việt Nam hiện nay dưới tác động của thời kì CNH – HĐH đất nước
2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Đối tượng lựa chọn cụ thể của đề tài là bữa ăn của của nhân viên công
sở tại Hà Nội
Khái niệm “nhân viên công sở” ở đây được dùng không phải chỉ nghĩa hẹp là đối với những người làn trong cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam mà là toàn bộ nhóm đối tượng người làm việc trong các văn phòng, cơ quan doanh nghiệp, tổ chức nói chung có quy định làm việc theo lịch làm việc
cố định về thời gian nghỉ trưa
“Bữa trưa công sở”: trong đề tài sử dụng như một thuật ngữ là một danh từ với ý nghĩa chỉ cách thức sử dụng thời gian nghỉ trưa của nhân viên làm tại các công sở bao hàm cả hoạt động ăn trưa và các hoạt động khác như: giải trí, nghỉ ngơi, mua sắm…
Theo nghĩa rộng, “văn hóa ẩm thực” là một phần văn hóa nằm trong tổng thể, phức thể các đặc trưng diện mạo về vật chất, tinh thần, tri thức, tình cảm… khắc họa một số nét cơ bản, đặc sắc của một cộng đồng, gia đình, làng xóm, vùng miền, quốc gia…Nó chi phối một phần không nhỏ trong cách ứng xử và giao tiếp của một cộng đồng, tạo nên đặc thù của cộng đồng ấy Trên bình diện văn hóa tinh thần, văn hóa
Trang 9ẩm thực là cách ứng xử, giao tiếp trong ăn uống và nghệ thuật chế biến các món ăn, ý nghĩa biểu tượng tinh thần trong món ăn đó, “qua ăn uống mới thấy con người đối đãi, ứng xử với môi trường tự nhiên, và đối đãi với nhau như thế nào? Theo nghĩa hẹp “văn hóa ẩm thực” là những tập quán và khẩu vị của con người, những ứng xử của con người trong ăn uống, những tập tục kiêng kỵ trong ăn uống, những phương thức chế biến, bày biện trong ăn uống và cách thưởng thức các món ăn”[Dẫn theo 26; 14/5/2013]
Đề tài mong muốn làm rõ nét mới trong trong khía cạnh giao tiếp, ứng
xử thông qua bữa ăn trưa, văn hóa ẩm thực thông qua bữa trưa của nhân viên công sở chứ không đi sâu vào nghiên cứu ẩm thực Hà Nội như là: cách thức chế biến món ăn, thành phần, các loại món ăn của người Hà Nội Đề tài mong muốn đứng trên góc nhìn về văn hóa ẩm thực và sự biển đổi của nó để qua đó nêu lên sự biến đổi trong xã hội dưới tác động của quá trình CNH – HĐH hiện nay
Và khái niệm “người Hà Nội” hiểu theo nghĩa rộng là tất cả những người đang sống và làm việc tại Hà Nội chứ không chỉ hiểu theo khía cạnh những người sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, hay có nguồn gốc gia đình sống lâu đời tại mảnh đất này
3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Trên thực tế trong lĩnh vực nghiên cứu chưa có một công trình nghiên cứu hay cuốn sách nào trực tiếp khảo sát về vấn đề bữa trưa của nhân viên công sở hiện nay Đa số các công trình nghiên cứu có liên quan đều đề cập đến các vấn đề có quy môn lớn, hướng tới mục đích làm rõ sự biến đổi của văn hóa và lối sống nói chung của người Việt Nam trong thời kỳ CNH – HĐH đất nước
Trang 10Một trong những công trình tiêu biểu là cuốn “Đặc điểm tư duy và lối sống
của con người Việt Nam hiện nay – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” do
PGS.TS Nguyễn Ngọc Hà (chủ biên) Công trình nêu lên sự biến đổi nhanh chóng của cơ chế thị trường kéo theo sự thay đổi của con người về nhu cầu vật chất và tinh thần cũng như lối sống của người dân Việt Nam hiện đại
Hay trong tác phẩm “Con người và văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
và hội nhập” của PGS.TS Nguyễn Văn Dân có những nghiên cứa cơ bản về
sự thay đổi lối sống của người dân dưới tác động của thời kì đổi mới
Những tác phẩm những công trình nghiên cứu này là cơ sở lý thuyết quan trọng cũng như gợi ý bổ ích cho hướng đi và sự phát triển đề tài
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Để đi tìm câu trả lời cho mục đích nghiên cứu, đề tài đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng nhằm khám phá đặc tính của đối tượng nghiên cứu
+ Tổng hợp, nghiên cứu và phân tích các nguồn tài liệu liên quan cho ta thấy được cách nhìn tổng quát về vấn đề, cung cấp cho đề tài tài liệu, khái niệm, cơ sở lý luận để nghiên cứu vấn đề
+ Phương pháp quan sát rất có ích cho việc khám phá thêm về hành vi
và thái độ của đối tượng nghiên cứu Tác giả lựa chọn một số trung tâm ăn uống của nhân viên công sở thường hay đến và quan sát liên tiếp trong hai tuần kết quả chỉ ra được hành vi của họ cũng như hoạt động ưa thích của họ tại đây cũng như cách thức sử dụng thời gian của họ
+ Phương pháp điều tra bảng hỏi: các bảng hỏi được sử dụng để tìm ra những số liệu có tính chất thống kê một cách cụ thể các hành vi của đối tượng nghiên cứu Đây là bằng chứng xác thực là căn cứ thực tế cho sự tồn tại của
đề tài
Trang 115 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài mong muốn đứng trên góc nhìn văn hóa ẩm thực của Hà Nội mà
cụ thể là bữa trưa của các nhân viên công sở cho ta thấy được thực trạng của
“Bữa trưa công sở” tại Hà Nội hiện nay Từ đó nói lên một khía cạnh của quá trình biến đổi lối sống của người dân thành phố Hà Nội trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa Trên cơ sở đó đề tài đưa ra một số nhận xét về quá trình biến đổi lối sống cá nhân, biến đổi gia đình Việt Nam trong thời kỳ CNH – HĐH
Đề tài cho thấy một phần ý nghĩa, nguyên nhân tồn tại của quán ăn, món ăn vỉa hè vốn được coi là nét đặc sắc trong văn hóa Hà Nội cũng như ảnh hưởng và ý nghĩa của nó với bữa trưa của một bộ phận dân cư khá lớn ở thủ
đô Hà Nội
Từ đó, đề tài mong muốn đưa ra một số kiến nghị nhằm đóng góp ý kiến nghiên cứu của đề tài với những chính sách của nhà nước về quản lí cơ sở kinh doanh các loại món ăn trong bữa trưa, phát huy hơn nữa giá trị của bữa trưa với nhân viên công sở tại Hà Nội
6 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận thì tiểu luận gồm có 3 chương:
Chương 1 Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa và những biến đổi xã hội ở Việt Nam
Chương 2 “Bữa trưa công sở” - của người Hà Nội trong thời kỳ Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
Chương 3 Ảnh hưởng của “Bữa trưa công sở” tới văn hóa gia đình của người Hà Nội
Trang 12Chương 1 CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA VÀ SỰ HÌNH THÀNH LỐI SỐNG VĂN MINH CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM
1.1 QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM
VÀ HÌNH THÀNH THÀNH LỐI SỐNG VĂN MINH CÔNG NGHIỆP Ở NƯỚC TA
1.1.1 Quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam
Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở nước ta kéo dài hơn 50 năm và trải qua nhiều giai đoạn khác nhau
Công cuộc công nghiệp hóa được tiến hành ở nước ta từ đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (1960) Do tình trạng phát triển công nghiệp trong thời điểm đất nước có chiến tranh, nên giai đoạn đầu những thành tựu đạt được không lớn Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong quá trình CNH – HĐH ở nước ta, nước ta bước vào quá trình đổi mới
Trên cơ sở phát huy những thành tựu đã đạt được Đại hội toàn quốc lần thứ VII (1991) đã đề ra những chủ chương mới khắc phục những khó khăn hạn chế và thúc đẩy, phát huy những ưu điểm, bổ sung phát triển đường lối mới
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (28/6-1/7/1996) được đánh dấu
là “Đại hội khẳng định đất nước đã thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế
- xã hội và cho phép chuyển sang thời kì phát triển mới – thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước Mục tiêu đặt ra của Đại hội là phấn đấu đến năm 2020 nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp.”[9;
16/3/2006]
1.1.2 Tác động của quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa vào xã
hội Việt Nam
Trang 13Công nghiệp hóa – hiện đại hóa nhanh chóng tác động mọi mặt đến xã hội Việt Nam và trên mỗi một lĩnh vực khác nhau có những ảnh hưởng ở nhiều mức độ
1.1.2.1 Những thay đổi về mặt xã hội Việt Nam trong quá trình CNH – HĐH
Trước hết CNH- HĐH đưa đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế đất
nước
Thực hiện quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa một cách đúng đắn
đã mang lại thành tựu phát triển kinh tế mạnh mẽ, một bộ mặt hoàn toàn mới cho nền kinh tế Việt Nam Ta thấy từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế Việt Nam với những thành tựu ngày càng lớn
Công trình nghiên cứu tổng hợp từ kết quả công bố trong cuộc họp báo
do Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Đức Khiển chủ trì trung tâm Báo chí Đại hội X của Đảng về thành tựu phát triển kinh tế - xã hội qua 20 năm đổi mới và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010 cho ta thấy nền kinh tế Việt Nam có bước phát triển liên tục giai đoạn 1986- 1990 tỉ lệ tăng trưởng kinh tế trung bình là 4%, sang giai đoạn 1991 – 1995 tỉ lệ tăng trưởng GDP tăng vọt lên 8% và từ 1996 – 2005 nền kinh tế nước ta vẫn duy trì tỉ lệ tăng trưởng GDP 7,5 %
Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng nhanh và liên tục Theo số liệu công bố ngày 14/1/2006 trên cổng thông tin điện tử của chính phủ Việt Nam:
“Năm 1988 là 21,6%, năm 2005 lên 41%” [19;14/1/2006] Công nghiệp và
xây dựng phát triển mạnh với thiết bị công nghệ ngày càng hiện đại
Những số liệu thực tế trên có thể thấy rằng quá trình CNH - HĐH đã và đang phát huy hiệu quả trong việc thúc đẩy kinh tế nước ta phát triển Tỷ trọng các ngành công nghiệp - xây dựng cũng như GDP hàng năm không ngừng tăng lên Qua đó có thể thấy được sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
Trang 14nước ta trong giai đoạn hiện nay theo hướng tăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng của các ngành nông nghiệp, thủ công nghiệp Sự chuyển dịch này góp phần đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020
Kinh tế là nền tảng thúc đẩy sự phát triển của các lĩnh vực khác trong
xã hội Những thành tựu nền kinh tế nước ta đạt được tác động thay đổi mọi mặt của đời sống xã hội
*Quá trình đô thị hóa
Trước hết về khái niệm đô thị có thể hiểu như sau:
Đô thị (thành thị, thành phố) là trung tâm kinh tế, chính trị, khoa học, văn hóa của quốc gia, của vùng hay của địa phương; là khu vực hành chính tập trung với mật độ cao các cơ sở hạ tầng kinh tế, văn hóa; là nơi tập trung sinh sống, sản xuất, buôn bán, dịch vụ của đông đảo cư dân là nơi gần các trục giao thông với mạng lưới giao thông hiện đại, là nơi cơ cấu công nghiệp, dịch vụ cao hơn nông nghiệp [18; tr97]
Công nhiệp hóa và hiện đại hóa với mục tiêu xây dựng xã hội công nghiệp, phát triển kinh tế đất nước theo hướng hiện đại hóa Ngoài kết quả về tăng trưởng và phát tiển kinh tế thì quá trình đô thị hóa là quá trình diễn ra mạnh mẽ ở nước ta
Từ năm 1990 các đô thị Việt Nam bắt đầu phát triển, lúc đó cả nước mới
có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ (tỷ lệ đô thị hoá vào khoảng 17-18%), đến năm 2000 con số này lên 649 và năm 2003 là 656 đô thị Tính đến năm
2007, cả nước đã có 729 đô thị bao gồm 2 đô thị đặc biệt: TP Hồ Chí Minh, Hà Nội; 4 đô thị loại 1: Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, và Huế;
13 đô thị loại 2; 36 đô thị loại 3; 39 đô thị loại 4 và 635 đô thị loại 5
[24; tr 285]
Trang 15Các đô thị giữ chức năng trung tâm hành chính-chính trị, kinh tế, văn hoá, du lịch-dịch vụ, đầu mối giao thông Các đô thị là một phần không thể thiếu trong xã hội công nghiệp, là điều kiện căn bản để hình thành lối sống công nghiệp
*Cơ cấu dân số, lao động và nghề nghiệp
Quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa với mục tiêu là phát triến kinh tế nâng cao đời sống đời sống người dân, gắn liền với quá trình đô thị hóa là sự thay đổi về cơ cấu dân số một sự biến đổi tất yếu của xã hội Dân số Việt Nam ngày càng tăng nhanh và có sự chuyển dịch mạnh mẽ số lượng dân thành thị và lao động làm việc trong lĩnh vực kinh tế dịch vụ ngày càng tăng lên
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2011 của cả nước là 51,39 triệu người, tăng 1,97% so với năm 2010 Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là 46,48 triệu người, tăng 0,12% Tỷ trọng lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 48,7% năm 2010 xuống 48,0% năm 2011; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 21,7% lên 22,4%; khu vực dịch vụ duy trì ở mức 29,6% [6; 1/1/2012]
Do sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế như vậy, bộ phận người làm trong ngành công nghiệp chiếm số lượng ngày càng đông đảo Đây là chủ thể sáng tạo hình thành nên lối sống công nghiệp trên thế giới cũng như ở Việt Nam Qúa trình công nghiệp hóa gắn liền với đô thị hóa đồng thời tạo nên sự chuyển dịch khối lượng lao động của các ngành kinh tế khác nhau.Tỉ lệ lao động trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên Nhóm lao động này sống và làm việc theo những khuôn phép nhất định trong xã hội công nghiệp với những quy định về thời gian, hiệu xuất làm việc, giao tiếp, trao đổi trong cuộc sống Những điều kiện này quy định việc hình thành nên lối sống mới lối sống công nghiệp trong xã hội Việt Nam
Trang 161.1.2.2 Những biến đổi trong lĩnh vưc văn hóa tinh thần ở Việt Nam trong thời kì CNH – HĐH
Quá trình CNH – HĐH tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội trong đó không thể không nhắc đến lĩnh vực văn hóa tinh thần
*Giao lưu hội nhập quốc tế và văn hóa của Việt Nam
Đồng thời với quá trình CNH - HĐH, điều kiện tất yếu phát triển kinh
tế đất nước là chúng ta phải hội nhập giao lưu tăng cường học tập kinh nghiệm và hợp tác quốc tế Bên cạnh, những hợp tác quốc tế về khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, kinh tế …chính là quá trình giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và các nước trên thế giới
Quá trình giao lưu văn hóa đang diễn ra, rất nhiều những giá trị văn hóa
từ nước ngoài du nhập vào xã hội Việt Nam Đặc biệt là ở các đô thị, ta thấy xuất hiện hàng loạt những giá trị văn hóa mới như các loại hình âm nhạc, hội họa, kiến trúc, ẩm thực… từ nước ngoài tràn vào nước ta Những giá trị văn hóa mới tiếp biến với nền văn hóa bản địa nước tạo cho nền văn hóa Việt ngày càng phong phú và đa dạng
*Hình thành lối sống và tác phong công nghiệp
“Lối sống là tổng thể, một hệ thống đặc điểm chủ yếu nói lên hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội các cá nhân trong điều kiện kinh tế xã hội nhất định” [14;23]
Trong những năm đất nước ta đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa và hiện đại hóa, hội nhập, giao lưu quốc tế, đặc biệt là qua các phương tiện thông tin hiện đại, các giá trị của toàn cầu hoá đã tác động mạnh mẽ tới lối sống Việt Nam, tạo ra những chuyển biến quan trọng Những giá trị phổ quát của văn minh nhân loại thâm nhập xã hội ta được chọn lọc đón nhận trong xã hội Việt Nam
Trang 17+Lối sống thể hiện phổ quát nhất ở phương thức hoạt động kinh tế - xã hôi Những phương thức sản xuất trên tiến và hiện đại của thế giới đã mở
mang và nâng cao tầm hiểu biết cũng như phương thức hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, khắc phục tư duy và thao tác của nền sản xuất nông nghiệp, thủ công; nâng chúng lên tầm tư duy và thao tác của nền sản xuất công nghiệp
Nhất là khi chúng ta hoà mạng Internet, quá trình đa dạng hoá, đa phương hoá liên kết và hợp tác quốc tế đã tạo điều kiện cho các giá trị và các lối sống của nhiều dân tộc khắp hành tinh tác động tới lối sống từng cá nhân, gia đình và xã hội, người Việt Nam được hướng theo lối sống công nghiệp, hình thành phong cách quan hệ có tính sòng phẳng, thiết thực, thậm chí có khi
đề cao tính thực dụng
+ Biến đổi trong nhu cầu tiêu dùng: Nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao
và khản năng đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu tiêu thụ của xã hội Mặt khác, nâng cao khả năng lựa chọn tiêu dùng theo khả năng kinh tế vì sở thích cá nhân
Phương thức sản xuất - tiêu dùng được nâng lên cách thức và trình độ mới kéo theo hình thức sinh hoạt tương ứng Tác phong sinh hoạt kiểu nông nhàn giờ đây được thay thế bởi cách thức sinh hoạt có nhịp điệu gấp gáp Nhịp sống sôi động không chỉ do hoạt động của cơ chế thị trường, mà còn do nhịp điệu công nghiệp và không khí sinh hoạt quốc tế cuốn hút
+ Lối sống trong giao tiếp: phương thức giao tiếp truyền thống của
người Việt Nam được chuyển hoá theo hướng quốc tế hoá một cách nhanh chóng Nhiều giá trị truyền thống trong các nếp sống phong tục tập quán, lễ nghi của người Việt Nam bị mai một Hoạt động giao tiếp hiện nay chủ yếu diễn ra ở cơ quan đoàn thể, xí nghiệp, trường học, nơi công việc kiếm sống, hối hả làm giàu
Trang 18*Biến đổi của gia đình trong thời kì công nghiệp hóa và hiện đại hóa
Gia đình là tế bào của xã hội, những sự biến đổi xã hội có tác động đến
sự hình thành và phát triển của gia đình Đặc biệt là trong thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay, gia đình Việt Nam đang có sự thay đổi nhanh chóng để phù hợp với điều kiện xã hội…
“Cơ cấu và chức năng của gia đình thay đổi nhanh, khác với gia đình ở
nông thôn: ở đô thị thường có nhiều gia đình hạt nhân, gia đình hai thế hệ Ở
đô thị, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, sự phân công lao động và các nghĩa vụ gia đình mang tính bình đẳng hơn, quan hệ giới cũng trở nên bình đẳng hơn.” [4;139]
Biến đổi trong gia đình là một trong những thay đổi của xã hội hay những giá trị của xã hội, làm cho sự bình đẳng nam nữ được đề cao hơn, cuộc sống riêng tư của con người được tôn trọng hơn, tránh được những mâu thuẫn trong đời sống của gia đình truyền thống Thay đổi chính bản thân gia đình và cũng là thay đổi hệ thống xã hội, làm cho xã hội trở nên thích nghi và phù hợp hơn với tình hình mới, thời đại mới
1.2 THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA VÀ NHỮNG BIẾN ĐỔI XÃ HỘI CỦA MÌNH 1.2.1 Quá trình Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa tại thành phố Hà Nội
Thủ đô Hà Nội đã trở thành Thành phố lớn thứ 17 trên thế giới, với diện tích 3344,60 km2 (tăng hơn 3 lần so với năm 2008, chiếm khoảng 1% diện tích cả nước); dân số hiện gần 7 triệu người (tăng hơn 2 lần so với năm 2008, chiếm gần 8% dân số cả nước) và 555 đơn vị hành chính, trong đó cớ 29 quận, huyện và thị xã.[25; 18/5/2011]
Quá trình CNH – HĐH của thành phố Hà Nội diễn ra một cách mạnh
mẽ chia làm nhiều những giai đoạn khác nhau
Trang 19Năm 1991, Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XI (năm 1991) xác định
cơ cấu kinh tế Hà Nội là công nghiệp - thương mại, du lịch, dịch vụ - nông
nghiệp Trong giai đoạn 1991 - 1995, thành phố đã tập trung đầu tư cho các
cơ sở quốc doanh trọng điểm, làm ăn có hiệu quả, đồng thời chuyển hình thức
sở hữu, giải thể hoặc cho thuê các cơ sở sản xuất quốc doanh không hiệu quả,
thua lỗ kéo dài, không có khả năng vươn lên
Giai đoạn 1996-2000, thành phố tập trung nguồn lực phát triển kinh tế
nhà nước trong những ngành, những lĩnh vực trọng yếu như kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội, hệ thống tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, những cơ sở sản
xuất và thương mại, dịch vụ then chốt
Giai đoạn sau năm 2000 trở lại đây, thành phố Hà Nội chủ trương phát
triển CNH – HĐH với hướng đầu tư chủ yếu cho công nghiệp sáng tạo Công nghiệp được phát triển có chọn lọc, tập trung vào các ngành có trình độ
công nghệ cao, như: điện tử - tin học, viễn thông, công nghệ sinh học, cơ khí
chính xác và vật liệu mới, các nhóm sản phẩm công nghiệp có lợi thế và
thương hiệu Rà soát, xây dựng, điều chỉnh quy hoạch các khu, cụm công
nghiệp theo hướng bền vững; quan tâm xử lý, di dời các cơ sở sản xuất gây ô
nhiễm môi trường ra khỏi khu dân cư theo quy hoạch
Thành phố Hà Nội với hướng đi đúng đắn đã và đang đạt được những
thành tựu to lớn trong quá trình công nghiệp hóa hiện hóa
1.2.2 Biến đổi của Hà Nội trong quá trình Công nghiệp hóa – Hiện đại
hóa
Ở Hà Nội, cho ta thấy nét đặc biệt trong sự biến đổi mọi mặt của đời
sống xã hội như sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu dân số, biến đổi trong
gia đình, lối sống văn minh công nghiệp, văn hóa v.v… Những biến đổi này
khẳng định vai trò đầu tầu quan trọng của Hà Nội trong quá trình CNH –
HĐH cũng như phát triển kinh tế của đất nước
Trang 201.2.2.1 Sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của thành phố Hà Nội trong thời kì CNH - HĐH
Tính đến cuối năm 2010, tỉ trọng cơ cấu kinh tế của Hà Nội là: Dịch vụ 52,5% - Công nghiệp & xây dựng 41,4%- Nông nghiệp 6,1% ; GDP bình quân/người đạt trên 38 triệu đồng ; khu vực kinh tế Nhà nước tạo ra khoảng 45% GDP, kinh tế ngoài nhà nước tạo ra khoảng 38% GDP và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tạo ra khoảng 17%
GDP [15; 2/1/2011]
Nhìn vào những số liệu đáng kể trên cho ta thấy Hà Nội là trung tâm kinh tế, chính trị văn hóa xã hội Hà Nội đang dần chuyển mình phát triển thành một trong những thành phố công nghiệp hiện đại, với mật độ tập trung dày đặc của các cơ quan xí nghiệp, nhà máy công nghiệp, hoạt động kinh tế mang lại hiệu quả kinh tế cao với thu nhập bình quân đầu người vào hàng dẫn đầu cả nước Quá trình phát triển này diễn ra trong một khoảng thời gian dài lại diễn ra trên nền tảng lối sống đô thị phong kiến trước đây, tạo cho Hà Nội một bộ mặt kinh tế - xã hội đan xen giữa các giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại
Phát triển kinh tế mạnh mẽ là điều kiện vô cùng quan trọng thúc đấy hàng loạt những biến đổi khác trong xã hội như quá trình đô thị hóa, hình thành lối sống, văn minh công nghiệp, biến đổi văn hóa … Với tốc độ phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả kinh tế cao theo hướng hiện đại Hà nội trở thành trung tâm kinh tế chính trị hiện đại, hình thành nên xã hội với lối sống công nghiệp
1.2.2.2 Quá trình đô thị hóa
Hà Nội là một trong những đô thị được xếp hạng đặc biệt tại Việt Nam
Mức và tốc độ đô thị hóa đạt cao nhất tính đến năm 2010, “Tỷ lệ đô thị hóa
đạt ở Hà Nội là 30 - 32% và nhảy vọt thành 55 - 65% vào năm 2020
Trang 21[21”, 18/5/2011] Quá trình đô thị hóa của Hà Nội đã phát triển mạnh theo
chiều rộng và có sức lan tỏa mạnh Mật độ dân số trung bình của Hà Nội rất cao hiện tại đã đạt trên 30.000 người /km2 và đạt cột mốc 7.1 triệu người
Hà Nội hình thành các khu đô thị các trung tâm dân cư tập trung với cơ sở hạ tầng hiện đại như là Khu đô thị mới Định Công, Khu đô thị mới Trung Yên, Làng Quốc tế Thăng Long, Khu đô thị mới Nam Thăng Long - Ciputra , các khu trung cư tập trung hoặc là các tòa nhà trung cư xen lẫn với các khu dân cư khác tạo nên diện mạo đô thị hiện đại cho Hà Nội
Quá trình đô thị hóa của Hà Nội còn thể hiện qua hình thành các hệ thông giao thông vận tải, sân bay, các trung tâm mua sắm, trường học và bệnh viện… tất cả đều tập trung với mật độ dày đặc Hà Nội hình thành các khu hành chính, chính trị của Trung ương và thành phố, có hệ thống công sở hiện đại, đặc trưng kiến trúc cao tầng, có quy hoạch cụ thể tạo thành nhưng khu trung tâm khác nhau.Quá trình đô thị hóa cung cấp cho người dân điều kiện sống hiện đại với những phương tiện kỹ thuật ngày càng tiên tiến nâng cao chất lượng cuộc sống Thỏa mãn nhu cầu về ăn, mặc, ở, đi lại, vui chơi giải trí,… của người dân là cơ sở hình thành nên lối sống đô thị
Quá trình đô thị hóa của Hà Nội diễn ra lâu dài với nền tảng căn bản ở
đô thị phong kiến trước đây Việt Nam hiện nay, ta có thể nhận thấy một vấn
đề là ở đa số các đô thị quá trình đô thị hóa và trình độ đô thị hóa vẫn còn thấp Cụ thể chính là dù nhiều vùng địa phương được xếp và nhóm đối tượng
là đô thị thế nhưng đây là các dạng đô thị không triệt để Các nhóm đô thị này vẫn còn sự tồn tại khá rõ nét của xã hội nông nghiệp như là các hoạt động sản xuất nông nghiệp, cơ sở hạ tầng… điều này tạo nên hiện tượng lối sống của người dân tại các đô thị này có sự pha trộn giữa lối sống công nghiệp và nông nghiệp, lối sống công nghiệp chưa thật sự rõ nét
Trang 22Hà Nội với quá trình đô thị hóa mạnh mẽ lại dựa trên nền tảng đô thị phong kiến tồn tại lâu đời tách dần đời sống của người dân theo hướng xã hội công nghiệp, xóa nhòa dần dấu ấn hoạt động của xã hội nông nghiệp Thời gian đô thị hóa lâu dài, với trình độ cao tạo cho Hà Nội những giá trị văn hóa
đô thị Nhiều thành tựu cũng được định hình một cách rõ nét và có sự ổn định nhất định
Thành phố Hà Nội là trung tâm kinh tế - chính trị phát triển bậc nhất cả
nước, hàng năm với lượng dân số tăng khá nhanh “Ngoài dân số gia tăng tự
nhiên do quá trình gia tăng cơ học trong 4 năm (2008 -2011) tăng khoảng 43 vạn người Trong đó, dân số tăng tự nhiên của Hà Nội khoảng 9 vạn người/năm, tăng dân số cơ học cũng lên tới 5 vạn người/năm.” [3, 4/6/2012]
Dân số Hà Nội tăng lên một cách nhanh chóng Đặc biệt là hiện tượng tăng dân số cơ học chiếm tỉ lệ rất cao Hà Nội trong thập niên trở lại đây là trung tâm thu hút luồng dân nhập cư cao nhất cả nước
Hà Nội có rất nhiều những giá trị văn hóa đang được lưu giữ và phát triển Xét ở góc độ nào đó, những luồng dân cư mới đến có tác động không nhỏ đến những giá trị văn hóa đang tồn tại trong đó có cả tác động tiêu cực và tích cực
Thứ nhất: người dân từ các địa phương khác đến Hà Nội sinh sống, làm việc tạo cho Hà Nội sự pha trộn những luồng dân cư Nguồn dân cư mới đến
Hà Nội mang theo những giá trị văn hóa của địa phương mình, làm giàu thêm cho nét văn hóa của Hà Nội Điều này ta có thể dễ dàng nhận thấy ở Hà Nội, đơn cử như trong ẩm thực ta có thể tìm thấy những món ăn ngon của hầu hết vùng miền trong cả nước và nước ngoài
Thứ hai: luồng dân cư mở tạo nên xu thế mở trong tiếp nhận những giá trị văn hóa từ bên ngoài Những giá trị được tiếp nhận và biến đổi sao cho phù
Trang 23hợp nhất với cuộc sống hiện đại.Nhưng đôi khi sự tiếp nhận một cách quá ồ ạt
và không có định hướng lại làm mất dần đi nét thanh lịch, tao nhã trong văn hóa của người Hà Nội xưa Luồng dân di cư đến quá nhanh và đông tạo nên
áp lực lực cho đô thị như vấn đề nhà ở, các phúc lợi xã hội, ô nhiễm môi trường…
1.2.2.4 Về biến đổi cơ cấu xã hội - nghề nghiệp:
Sự chuyển biến từ đan xen giữa các ngành phi nông nghiệp và nông nghiệp sang định hình cơ bản ngành nghề phi nông nghiệp Nếu như vào đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, nhiều vùng nội thành của Hà Nội vẫn duy trì
sản xuất nông nghiệp như trồng húng thơm ở Láng (Đống Đa), trồng hoa ở Ngọc Hà, Nhật Tân, Quảng Bá, Nghi Tàm (Tây Hồ), trồng rau muống ở nhiều
quận nội thành thì đến nay hầu như không còn Tại các quận nội thành mới
mở rộng như Hoàng Mai, Long Biên dù vẫn còn cư dân nông nghiệp, nhưng tốc độ chuyển đổi sang sản xuất phi nông nghiệp cũng diễn ra khá nhanh chóng
Hà Nội là một trong những trung tâm dân số có chỉ số đào tạo trình độ học vấn cao nhất cả nước, nơi tập trung phần lớn những đối tượng người lao động chất lượng cao qua đào tạo.Theo số liệu của Cục văn thư - lưu trữ nhà nước đưa ra năm 2012:
“Thủ đô đang chiếm hơn 60% cán bộ khoa học đầu ngành và hơn 50% cán bộ khoa học có trình độ sau đại học của cả nước; Tỷ lệ lao động qua đào tạo là khoảng 35% Trên địa bàn thành phố đã có 54 trường đại học và cao đẳng với 48.579 cán bộ giảng viên, chiếm gần 30% lực lượng giảng viên các trường đại học và cao đẳng trong cả nước; 112 viện nghiên cứu khoa học công nghệ với vài chục ngàn cán
bộ nghiên cứu ở hầu hết các lĩnh vực khoa học công nghệ; 130 trung tâm nghiên cứu khoa học công nghệ thuộc các loại hình nhà nước, tư
Trang 24nhân, các tổ chức đoàn thể - xã hội; trên 14.000 nhân lực (những người
có trình độ đại học trở lên) khoa học công nghệ đang làm việc tại các
sở ban ngành thành phố
Nếu xét lực lượng tri thức thì tỷ lệ bình quân tri thức trên 1 vạn dân tại thành phố Hà Nội là 844, gấp 4 lần mức bình quân trung của cả nước Lực lượng tiến sỹ, phó giáo sư, giáo sư chiếm 63,82% trong cả nước (thành phố Hồ Chí Minh: 19,33%, các địa phương còn lại: 4%) Lực lượng tiến sỹ, thạc sỹ tại các trường đại học và cao đẳng trên địa bàn chiếm tỷ lệ 52,5% và 32%; trong đó đội ngũ giáo sư là 74,4% và phó giáo sư là 64,7%.” [15;2/11/2011]
Trên địa bàn có nhiều lực lượng nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực khoa học công nghệ khác nhau, trong đó đáng lưu ý là những lực lượng thuộc lĩnh vực công nghệ cao (thông tin, sinh học, vật liệu, điện tử - tin học - tự động hóa, cơ khí…) Ngoài các tổ chức khoa học công nghệ truyền thống thuộc loại hình nhà nước, đã xuất hiện những loại hình tổ chức mới với đội ngũ nhân lực năng động: hình thành 13 trung tâm tư nhân họat động khoa học công nghệ;
34 trung tâm loại hình đoàn thể xã hội; 6 tổ chức khoa học công nghệ có vốn nước ngoài
Các khối lượng dân cư này là nhóm đối tượng tư duy mở dễ dàng tiếp nhận cũng như học hỏi những giá trị văn hóa mới từ các vùng khác hay từ nước ngoài Họ là những lớp người đi đầu trong việc tạo nên những thay đổi
và hình thành lối sống công nghiệp hiện đại trong lòng đô thị
1.2.2.5 Biến đổi trong lĩnh vực văn hóa – xã hội của người Hà Nội trong thời kì CNH - HĐH
Lối sống công nghiệp là khái niệm chỉ lối sống được hình thành trong
xã hội công nghiệp Nước ta vẫn ở thời kỳ xây dựng CNH – HĐH cho nên bộ phận lối sống này chỉ hình thành và tập trung tại các đô thị lớn Trải qua thời
Trang 25gian dài, trong xã hội có sự tách biệt tương đối giữa lối sống trong xã hội
nông nghiệp, tư duy tiểu nông với lối sống công nghiệp
Hà Nội là một trong những cái nôi hình thành cho lối sống công nghiệp
ở Việt Nam ta có thể thấy rõ nhất những biểu hiện của lối sống công nghiệp khi đi phân tích thực thể xã hội tại đây
*Giao tiếp trong xã hội
Sự phát triển về kinh tế, thay đổi về điều kiện sống, làm việc tác động trực tiếp đến sự giao tiếp trong xã hội của con người Biến đổi trong giao tiếp thể hiện trong một số mặt như là:
Sự suy giảm của mối quan hệ cộng đồng cư trú: Đây là điển hình của
phương thức giao tiếp ở các đô thị Và quá trình biến đổi này do một số nguyên nhân:
+ Cuộc sống của con người bó hẹp trong các không gian cố định như: gia đình, cơ quan, trường học… Mối quan hệ hàng xóm láng giềng khó có điều kiện để phát triển để trở nên mật thiết
+ Dân cư sinh sống thì từ nhiều địa phương khác nhau nên không có gốc nền tảng hiểu biết và sự quan tâm lẫn nhau
+ Quá trình đô thị hóa và sự biến đổi cơ cấu nghề nghiệp: Không gian sinh sống của đô thị khép kín ít có cơ hội giao tiếp Sự mai một của các làng nghề, các nghề truyền thống thiếu đi những sự liên kết chung
Ở Hà Nội những “làng trong phố” tồn tại khá nhiều những làng nghề khác nhau như Làng Ngọc Hà, Làng Thành Công, Làng Đông Ngạc… những phố nghề khác nhau, người ta làm ăn cố kết nghề nghiệp vẫn giữ lối sống của xóm làng tối lửa tắt đèn có nhau với những sinh hoạt văn hóa cộng đồng chung Nhưng giờ đây các “làng trong phố” của Hà Nội đang dần thay đổi cho dù vẫn tồn tại các không gian của các làng, các phố thế nhưng quan hệ cộng đồng bị giảm sút rất nhiều
Trang 26Quan hệ giao tiếp ở nơi làm việc được đề cao: Xu hướng này do điều
kiện làm việc gắn liền với tổ chức cơ quan nơi làm việc Quá tình giao tiếp cộng đồng cư trú giảm sút
Xuất hiện nhiều phương thức giao tiếp mới: Cách thức giao tiếp trực
tiếp thay thế một phần bằng hình thức giao tiếp gián tiếp thông qua sự hỗ trợ của các phương tiện hiện đại Tạo nên mạng lưới giao tiếp cho các cá nhân rộng khắp không bị bó hẹp bởi không gian cư trú
1.2.2.6 Biến đổi trong gia đình tại Hà Nội trong thời kỳ CNH- HĐH
Biến đổi trong gia đình Hà Nội hiện nay đang diễn ra nhanh chóng và thể hiện trên một số khía cạnh như:
Biến đổi về quy mô và kiểu loại gia đình: xu thế chính trong sự biến đổi
gia đình của Hà Nội Nguồn dân nhập cư chủ yếu là nhập cư cá nhân và gia đình hạt nhân Hình thành các gia đinh kiểu đặc biệt như: gia đình đơn thân hoặc sống với nhau mà không kết hôn cũng là một trong xu hướng biến đổi Hội nhập kinh tế làm cho mức sống con người được nâng cao hơn, chất lượng cuộc sống được cải thiện, từ đó cũng làm cho nhu cầu hưởng thụ của họ tăng lên và mang những nét cá nhân hơn Mỗi một thành viên trong gia đình, chứ không chỉ riêng lớp trẻ, đều muốn được có khoảng không gian riêng, thoải mái để làm những gì mình thích, không phải bận tâm đến sự nhận xét của người khác Do có việc làm ổn định, thu nhập tốt con cái đến tuổi kết hôn cũng không phải phụ thuộc kinh tế nhiều vào cha mẹ, từ đó sẽ nảy sinh ra nhu cầu ở riêng cho thuận tiện về sinh hoạt Mặt khác, việc duy trì gia đình truyền thống sẽ kìm hãm sự tự do, làm cho cái tôi, cá tính riêng, năng lực của con người không có cơ hội phát triển, dẫn đến sự thiếu hụt về lực lượng nhân tài cho đất nước trong thời buổi công nghiệp hóa hiện đại hóa
Biến đổi về chức năng của gia đình: nhiều chức năng của gia đình san
sẻ cho các thiết chế xã hội khác Cụ thể như giáo dục con cái được chuyên
Trang 27môn hóa bằng hệ thống trường học, chăm sóc sức khỏe các thành viên có vai trò lớn của hệ thống y tế…
Biến đổi về vấn đề giao tiếp giữa các thành viên, thế hệ trong gia đình:
Giao tiếp giữa các thế hệ, thành viên trong gia đình đang giảm sút Điều này
do tác động nhiều mặt đặc biệt là do đặc diểm cuộc sống hiện đại Thời gian gặp mặt giữa các cá nhân trong gia đình giảm đi, tính cá nhân được đề cao trong xã hội
Biến đổi trong nhận thức, giải phóng sức lao động cho người phụ nữ:
Họ được đối xử bình đẳng hơn và có nhiều điều kiện để phát triển, nâng cao
vị thế xã hội của mình; vai trò của họ trong cuộc sống, trong sản xuất, ngày càng trở nên quan trọng hơn, gánh nặng gia đình cũng dần được chia sẻ và cơ hội phát huy tiềm năng cũng đến nhiều hơn, được toàn xã hội công nhận Bình đẳng giới nói riêng và bình đẳng nói chung được tôn trọng làm cho mỗi
người được tự do phát triển mà không phải chịu nhiều ràng buộc
1.2.2.7 Biến đổi trong văn hóa ẩm thực của Hà nội
Trong lĩnh vực của đời sống, những hoạt động văn hóa cơ bản như: ăn, mặc, ở đi lại người Hà Nội không chỉ coi là nhu cầu thiết yếu mà được nâng lên thành biểu tượng giá trị văn hóa
“Nhất cao là núi Ba Vì Nhất lịch, nhất sắc, kinh kỳ Thăng Long”
Mỗi món ăn Hà Nội đều có hương vị, nét đẹp riêng và đặc biệt là có truyền thống trong cách thưởng thức, được nâng lên thành nghệ thuật ẩm thực Cuộc sống hiện đại, nhịp sống hối hả tác động làm biến đổi văn hóa ẩm thực của Hà Nội
Sựu biến đổi trong văn hóa ẩm thực của Hà Nội thể hiện qua các loại món ăn và cách thức thực hiện bữa ăn của của người Hà Nội
Trang 28Biến đổi về các loại món ăn: Các món ăn Hà Nội hiện nay, vô cùng phong phú, đa dạng với nhiều loại món ăn Xuất hiện và phổ biến của các loại hình thức ăn nhanh: gà rán KFC, BBQ, PIZZA,…, hay các loại đồ ăn truyền thống của các nước trên thế giới như: Cơm cuộn Hàn quốc, sushi Nhật Bản … Các món ăn ngon khác nhau ở các vùng miền trong cả nước cũng góp phần làm nên sự phong phú của văn hóa ẩm thực Hà Thành Cách chế biến món ăn cũng thay đổi nhiều đôi khi để chạy đua và tiết kiệm thời gian, hơn nữa để hạ giá thành nên món ăn chế biến qua loa mất đi cái tinh tế vốn có của nó
Cách thức thực hiện bữa ăn của người Hà Nội: Bữa trưa thường ăn vào khoảng giờ Ngọ, tức giữa trưa Bữa chiều, ăn lúc lên đèn, khoảng 18 hay 19 giờ
Cho đến khoảng những năm năm mươi, chưa có việc làm theo ca, thì gia đình nào cũng luôn có hai bữa quây quần Ăn bữa trưa xong, ông chủ nhà ngủ tạm mươi mười lăm phút rồi mới đi làm
Hai bữa cơm chính trong gia đình người Hà Nội ngày nay đã có thay đổi Nhiều gia đình chỉ có một bữa chính vào buổi chiều; còn bữa trưa, tiện ở đâu thì ăn ở đấy Cơm bụi, cơm cơ quan, cơm hộp, trẻ em thì ở bán trú, nên giản tiện đi, do đó cũng mất đi một phần thân mật, cởi mở đổi trao nhau trong bữa ăn
Trang 29động – dân cư, biến đổi về các giá trị văn hóa đặc biệt là sự hình thành lối sống công nghiệp
Từ những nghiên cứu về thành phố Hà Nội trong quá trình CNH – HDDH cho thấy chúng ta bắt đầu hình thành xã hội công nghiệp Nhưng xã hội ấy chưa thật ổn định và còn nhiều bất cập trong tồn tại Những tồn tại xã hội đó gây nhiều khó khăn cho các nhà quản lí đất nước Từ những kinh nghiệm của Hà Nội, các địa phương khác có thể học tập và rút kinh nghiệm cho quá trình phát triển của mình
Trang 30Chương 2
“BỮA TRƯA CÔNG SỞ”
TẠI HÀ NỘI TRONG THỜI KỲ CNH – HĐH
2.1 NHẬN DIỆN ĐỐI TƯỢNG SỬ DỤNG “BỮA TRƯA CÔNG SỞ” TẠI HÀ NỘI
Hà Nội tiến hành công nghiệp hóa và hiện đại hóa một cách nhanh chóng, hình thành nên cơ cấu xã hội đô thị với những tầng lớp và nghề nghiệp khác nhau Đặc biệt, xuất hiện ngày càng đông đảo tầng lớp người là nhân viên tại các công sở, văn phòng Nhóm đối tượng này với hoạt động trong thời gian nghỉ trưa là đối tượng nghiên cứu chính của đề tài
Để cung cấp những căn cứ khoa học cho kết quả nghiên cứu, đề tài đã tiến hành khảo sát 250 người làm việc tại các văn phòng, công ty, cơ quan nhà nước tại Hà Nội thông qua hình thức trả lời bảng hỏi và ghi nhận được nhiều kết quả đáng chú ý
Người sử dụng “Bữa trưa công sở” tại Hà Nội là người trong độ tuổi lao động (22tuổi - 55 tuổi đối với nữ, 22 tuổi – 60 tuổi đối với nam) đang làm việc tại các cơ quan, doanh nhiệp, tổ chức trên địa bàn thành phố Hà Nội Đây
là nhóm đối tượng ở độ tuổi trưởng thành và có khả năng điều chỉnh hành vi của mình Lối sống của họ được hình thành tương đối ổn định
Nhân viên công sở tại Hà Nội và có thu nhập ổn định và ở nhiều mức khác nhau
Bảng thống kê thu nhập của đối tượng nghiên cứu (250 người)
Mức thu
nhập
1triệu 3triệu
-3 5triệu
triệu-5 triệu -10 triệu
Trang 31Nhân viên công sở là nhóm có thu nhập khá cao so với mức thu nhập bình quân trên đầu người của cả nước trong 250 được hỏi về vấn đề thu nhập chỉ có 6.4 % số người là có mức thu nhập từ 1 triệu đồng đến 3 triệu đồng Trong khi đó thì có 39.2% số nhân viên công sở có mức thu nhập là từ 3 triệu đến 5 triệu đồng, 40% số người là có mức thu nhập từ 5 triệu đến 10 triệu đồng Đặc biệt có 15.2% số người được khảo sát có mức thu nhập trên 10 triệu đồng.Nhìn chung thì mức thu nhập của nhóm đối tượng này cao hơn
mức thu nhập trung bình trong cả nước (thu nhập bình quân đầu người cả
nước đạt khoảng 1.540 USD/người/năm [13, 6/12/2012] Tuy nhiên ta thấy
vẫn tồn tại nhóm nhân viên công sở có thu nhập thấp từ 1 triệu đồng đến 3 triệu đồng Mức thu nhập thấp gây khó khăn trong việc chi trả để thỏa mãn nhu cầu cần thiết của cuộc sống Điều này cho thấy một điều nhóm đối tượng này sẽ lựa chọn bữa ăn trưa với giá thành thấp phù hợp với túi tiền của bản thân Đứng trên lập trường lí luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin:
“Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội Ý thức xã hội theo hai trình độ và hai phương thức phản ánh tồn tại xã hội, đó là tâm lí xã hội và hệ tư tưởng xã hội Tâm lí xa hội là toàn bộ đời sống tình cảm tâm trạng, khát vọng, ý chí của những cộng đồng người nhất định; là sự phản ánh trực tiếp tự phát đối với hoàn cảnh sống của họ”[11;44]
Từ đó ta có thể thấy được mức thu nhập của nhân viên công sở chính là một khía cạnh của tồn tại xã hội Yếu tố này góp phần quyết định nhu cầu và điều kiện để thỏa mãn nhu cầu trong cuộc sống nói chung và trong bữa trưa nói riêng của người làm công sở
Nhóm đối tượng nhân viên công sở lựa chọn địa điểm ăn trưa ngay tại nơi làm việc như là: nhà hàng, quán ăn vỉa hè, canteen công ty… và đặc biệt
Trang 32trong 250 người được khảo sát trong nghiên cứu của đề tài thì 100% trong những ngày làm việc tại cơ quan thường xuyên không về ăn nhà ăn cơm trưa Những đối tượng này chiếm số lượng lao động khá lớn tại thành phố
Hà Nội Chứng minh cụ thể là “Hà Nội có 441.854 cơ sở kinh tế, hành chính,
sự nghiệp, với số lao động hơn 3 triệu người chiếm 42,8% trong tổng dân số của Hà Nội”[10; 2/11/2011] Trình độ học vấn của nhóm đối tượng này khá
cao ta có thể thấy qua các con số thống kê: “Hà Nội có 54 trường đại học vơi
48.579 cán bộ giảng viên, 112 viện nghiên cứu khoa học công nghệ với vài chục ngàn cán bộ nghiên cứu; trên 14000 nhân lực lực (những người có trình
độ đại học trở lên) đang làm việc tại các sở ban ngành của thành phố Hà Nội”[15; 2/11/2011] Nhóm đối tượng là nhân viên công sở phải trải qua quá
trình đào tạo mới có khả năng đáp ứng yêu cầu của công việc.Và trong điều kiện lao làm việc trong các văn phòng với hệ thống tin liên lạc hiện đại, họ là nhóm có cơ hội trong việc tiếp thu những giá trị văn hóa, tri thức mới từ bên ngoài Từ đó ta có thể khẳng định đây là nhóm đối tượng có vai trò quan trọng trong việc hình thành lối sống tại các đô thị Họ là đối tượng tiên phong trong tiếp nhận những giá trị văn hóa mới từ bên ngoài
Trong khảo sát của đề tài với 250 người được hỏi có đến 165 người đã lập gia đình và 30 người còn độc thân nhưng có sống cùng với các thành viên khác trong gia đình Có thể thấy số tượng người có gia đình nhưng vẫn sử dụng bữa trưa tại nơi làm việc mà không về nhà khá nhiều Điều này chứng tỏ khía cạnh thay đổi trong lối sống gia đình Bữa trưa đang dần không còn là thời gian sum họp, cầu nối gắn kết các thành viên trong gia đình Nhiều chức năng của gia đình đang chia sẻ cho các thiết chế xã hội khác đảm nhiệm Cụ thể chức năng giáo dục con cái trong gia đình chia sẻ cho hệ thống giáo dục; chức năng chăm sóc sức khỏe các thành viên trong gia đình được chuyên môn
Trang 33hóa bởi hệ thống y tế, trung tâm tư vấn, trung tâm chăm sóc sức khỏe, sắc đẹp…
Ngoài thay đổi về kiểu loại và chức năng của gia đình thì khi nghiên cứu về nhóm đối tượng là nhân viên công sở ta thấy một phần thay đổi trong nhận thức về giải phóng sức lao động của người phụ nữ Thông qua sự hiện diện của nhóm đối tượng là nữ giới (chiếm 45.3% trên tổng số 250 người được hỏi) có sử dụng “Bữa trưa công sở” Trước đây, hình ảnh người phụ nữ gắn liền với công viêc chăm sóc gia đình, nhất là trong các bữa ăn Giờ đây
nữ giới cũng có quyền tham gia vào các hoạt động xã hội và đặc biệt là việc giải phóng khỏi một phần những công việc gia đình để có thời gian chăm sóc, thỏa mãn những nhu cầu, tiếp cận nhiều hơn với nguồn lực để phát triển bản thân
Sử dụng hợp lí khoảng thời gian nghỉ trưa có thể giúp cho người làm công sở cân bằng được cuộc sống, tái tạo sức lao động Từ đó, nó giúp họ có khả năng vừa đáp ứng được các yêu cầu của cuộc sống vừa có điều kiện nâng cao và phát triển bản thân
2.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA “BỮA TRƯA CÔNG SỞ” TẠI HÀ NỘI
2.2.1 Thời gian của “Bữa trưa công sở” tại Hà Nội
Nhân viên công sở khác với những người làm công việc tự do, kinh doanh, buôn bán, … Công ty, cơ quan nhà nước, hay các tổ chức hoạt động thường xuyên có những quy định yêu cầu cơ bản về giờ bắt đầu vào làm việc, thời gian nghỉ buổi trưa, và thời gian nghỉ làm về
Thông thường quy định thời gian làm việc của nhân viên công sở sáng
từ 7h30 – 10h30 chiều từ 13h30 – 16h30 Tuy nhiên, tùy vào điều kiện cụ thể của những các cơ quan và doanh nghiệp mà có điều chỉnh thời gian nghỉ trưa phù hợp với hoạt động của mình
Trang 34Bảng: Khảo sát thời gian nghỉ trưa của nhân viên công sở Đv: %
Nguồn: Số liệu khảo sát thực tế tháng 4/ 2013 ở 250 người là nhân viên công sở tại Hà Nội
Biểu đồ cho ta thấy rõ tỉ lệ thời gian nghỉ trưa của nhân viên công sở
Nguồn: Tổng hợp số liệu khảo sát thực tế của tác giả tháng 5/ 2013
Con người trong một ngày phải dùng thời gian để giải quyết các nhiệm
vụ khác nhau trong cuộc sống Theo nhà nghiên cứu Đoàn Văn Chúc khẳng định:
“Nói chung trong bất kì thời đại nào, con người cũng đều dùng thì giờ vào bốn loại hoạt động:
1- Những hoạt động thuộc lao động sản xuất để đảm bảo sự sống còn cho cá nhân và xã hội nói chung Đó là nghĩa vụ xã hội của mỗi người
Trang 352- Những hoạt động thuộc các quan hệ cá nhân trong đời sống xã hội như dạy dỗ trẻ em, chăm nom gia đình, họ hàng bạn bè xóm riềng… Đó
là bổn phận xã hội của mỗi người
3- Những hoạt động thuộc sự duy trì, bảo vệ đời sống vật chất cá nhân như nấu nướng, dọn dẹp chỗ ở, sửa sang đồ dùng, ăn uống, ngủ, tắm giặt… Đó là nhu cầu vật chất cá nhân của mỗi người
4- Những hoạt động thuộc đời sống tinh thần của cá nhân được diễn ra bằng nhiều biện pháp khác nhau: kể và nghe kể chuyện, xem sách báo, đánh đàn, làm thơ đi dạo…
Loại hoạt động thứ nhất được thực hiện theo những quy chế xã hội nhất định không phụ thuộc vào hoàn cảnh cá nhân, số giờ giành cho hoạt động ấy là thì giờ tất yếu
Ba loại hoạt động tiếp theo đều không thể thiếu trong đời sống, nhưng
do mỗi cá nhân tùy điều kiện riêng của mình để quyết định những quy chế về chúng… thời gian dành cho các hoạt động ấy được gọi là thì giờ
tự do
Khi chú ý đến hoạt động thứ tư, người ta thấy nó diễn ra trong một khoảng thời gian không nhiều trong ngày Đó là số thì giờ còn lại của mỗi người sau khi đã làm xong các loại bổn phận trên Đặc diểm của nó
là cá nhân được hoàn toàn tự do cái mình thích để hoạt động trong thì giờ ấy … người ta gọi thời gian này là thời gian rỗi, hoạt động trong đó
là hoạt động rỗi.”[4;tr 224- 226]
Từ lí thuyết nhìn vào thực tế vấn đề nghiên cứu cho ta thấy thời gian nghỉ trưa của nhân viên công sở ngoài việc thỏa mãn nhu cầu vật chất thì chính là khoảng thời gian rỗi khi mà các cá nhân không phải thực hiện nghĩa
vụ, bổn phận Họ có thể tự do lựa chọn những hoạt động mà mình thích Thời gian nghỉ trưa là vô cùng quan trọng, cung cấp nguồn năng lượng sống cho cơ thể, giải quyết nhu cầu sinh học Ngoài ra giúp giải tỏa những căng thẳng, thỏa mãn một số nhu cầu khác nhau trong cuộc sống như giao lưu tình
Trang 36cảm, chăm sóc sức khỏe, làm đẹp, nghỉ ngơi phục hồi sức lao động… Đây là thời gian mà nhân viên công sở dành riêng cho bản thân ngoài thời gian cho gia đình và công việc cũng như thực hiện các trách nhiệm xã hội khác Bản chất của thời gian rỗi khi nghỉ ngơi của nhân viên công sở không chỉ là việc thỏa mãn nhu cầu ngay trước mắt mà nó còn mang ý nghĩa sâu sắc Nó là khả năng hồi suy chính là quá trình tái nhận thức lại cuộc sống, tức là người ta tái dựng trong trí óc những hoàn cảnh với những tình huống trong đó một (hay nhiều) ứng xử của người ta (mình hay người khác) đã dẫn đến một kết cục nào đó Nói cách khác, người ta suy ngẫm hành vi của chính mình bằng cách
so sánh với các trường hợp tương đồng hay tương tự, tổng hợp và khái quát thành những điều nên tránh nên làm khi sau này tình huống tái diễn Thời gian rỗi có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với quá trình phát triển nhận thức của cá nhân
Theo như bảng số liệu khảo sát, ta thấy thời gian nghỉ trưa chủ yếu tập trung vào khoảng từ 1 tiếng cho đến 2 tiếng với tỉ lệ là 52,8% Với khung thời gian như vậy có khả năng đáp ứng nhu cầu ăn uống cũng như các nhu cầu kèm theo của nhân viên công sở Cung cấp cho nhân viên công sở khoảng thời gian để tái nhận thức, giải trí Bên cạnh đó vẫn tồn tại một tỉ lệ khoảng thời gian nghỉ trưa chỉ kéo dài trong 30 phút (4.4 %) và (36.8%) là nghỉ trưa 1 tiếng Với khoảng thời gian như vậy là quá ngắn chỉ đủ để cho các cá nhân có thể giải quyết những nhu cầu căn bản và bản chất của khoảng thời gian nghỉ trưa không còn là thời gian rỗi với ý nghĩa của nó nữa Sự hạn chế trong thời gian nghỉ ngơi tạo tích tụ căng thẳng trong công việc và cuộc sống có thể ảnh hưởng đến sức khỏe và tình thần của con người
Thời gian rỗi trong điều kiện xã hội Việt Nam còn ít và chưa được phân hóa rõ ràng tách biệt vơi những thời gian khác Điều này là do điều kiện CNH – HĐH chưa cao, trình độ chuyên môn hóa thấp, phân công lao động chưa triệt để tạo nên điều kiện lao động chưa cao nên thời gian lao động sẽ kéo dài
để đáp ứng đủ nhu cầu của xã hội
Trang 37Thời gian nghỉ trưa là một trong những điều kiện quyết định nhiều hoạt động mà người làm công sở lựa chọn Thời gian nghỉ trưa là có hạn mà giao thông đi lại ở Hà Nội vô cùng khó khăn đặc biệt là trong giờ nghỉ trưa với mật
độ giao thông rất cao hầu hết các con đường thường nằm trong tình trạng tắc nghẽn cộng với giá thành các mặt hàng xăng, dầu ngày càng tăng Thời gian
di chuyển từ nơi làm việc về nhà hay đến những địa điểm khác xa nơi làm việc là khó khăn và tốn kém cũng là nhân tố quyết định địa điểm ăn trưa của nhân viên công sở
Từ những phân tích trên cho ta thấy thời gian nghỉ trưa là vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của nhân viên công sở Thế nhưng ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng thì thời gian nghỉ trưa vẫn còn ngắn Điều này do nhiều yếu tố khác nhau tác động Chúng ta cần có biện pháp cụ thể để tạo ra được thời gian nghỉ trưa hợp lí và mang lại hiệu quả tốt nhất
2.2.2 Địa điểm của “Bữa trưa công sở” tại Hà Nội
Việc khảo sát cho thấy một thực tế là gần như 100% được hỏi đều không về nhà ăn trưa với gia đình và nhóm địa điểm ăn trưa của họ cũng rất phong phú và đa dạng.Địa điểm ăn trưa của nhân viên công sở đã hình thành
hệ thống với mạng lưới dày đặc đáp ứng được những nhu cầu, mức thu nhập,
sở thích và các điều kiện khác nhau
Bảng số liệu : Địa điểm nơi ăn trưa của nhân viên công sở
canteen
Nhà hàng
Quán ăn vỉa hè
Trang 38Biểu đồ cho ta thấy rõ nhất cơ cấu, tỉ lệ trong việc lựa chọn địa điểm ăn trua của nhân viên công sở
Nguồn: tổng hợp từ số liệu khảo sat thực tế của tác giả tháng 5/ 2013
Những địa điểm được nhân viên công sở lựa chọn thường gần với nơi làm việc
Các nhóm địa điểm ăn trưa được nhân viên công sở lựa chọn:
+ Ăn ngay tại nơi làm việc: mang theo đồ ăn đến nơi làm việc, tự nấu
ăn tại nơi làm việc, hoặc là ăn ở nhà ăn công ty, đặt cơm hộp tại mua đến cơ quan
+ Ăn tại các quán ăn vỉa hè: “Quán ăn vỉa hè là các cơ sở ăn uống nhỏ,
thường chỉ có một vài nhân viên phục vụ, có tính bán cơ động, thường được
bố trí dọc đường, trên hè phố, những nơi công cộng”, và gánh hàng rong của người bán hàng
+ Nhà hàng: đây là các loại hình có kinh doanh kết hợp các loại dịch
vụ khác nhau có thể là cơm trưa và nước giải khát, thư giãn, hát karoke Mỗi một nhóm lại có lợi thế đặc điểm khác nhau:
Trang 39+ Ăn ngay tạị nơi làm việc: dù là hình thức mang từ nhà đi hay tự nấu
tại cơ quan, ăn cơm canteen thì đây là hình thức tiết kiệm thời gian nhất nhân viên công sở có thể ăn ngay tại nơi làm việc để có thời gian tranh thủ làm những công việc khác Trong khảo sát thực tế có 105 người chiếm 42% số người được hỏi lựa chọn địa điểm ăn trưa này Đây là nhóm địa điểm được lựa chọn nhiều nhất
Ăn tại công ty này giá thành bữa ăn không cao do có thể tiết kiệm chi phí đi lại giá thành thức ăn do hỗ trợ từ công ty, doanh nghiệp Thức ăn có thể nói là khá đảm bảo về vấn đề an toàn thực phẩm, khiến người tiêu dùng có thể yên tâm trong việc ăn uống
Nhưng cũng có những hạn chế khác như các loại món ăn, không gian tù túng ảnh hưởng của mùi thức ăn đến nơi làm việc.Việc ăn uống ngay tại bàn làm việc theo một số đánh giá nghiên cứu phương Tây rất có hại cho sức khỏe Không vận động nhiều ngay cả trong giời nghỉ trưa sẽ làm nặng thêm những căn bệnh thường mắc của người làm công sở như béo phì, các bệnh về
hệ tiêu hóa và vận động Ngoài ra thì việc nấu ăn tại công sở có thể gây nên tình trạng nguy hiểm như cháy nổ, gây mất vệ sinh nơi làm việc
Và việc có nhà ăn cho nhân viên cũng yêu cầu tổ chức phải có một không gian đủ lớn và có nguồn chi phí lớn, những điều kiện này không phải
tổ chức nào cũng có được Hình thức ăn tại canteen nên được phát huy có thể đảm bảo cho nhu cầu của nhân viên để họ có thể làm việc, hoàn thành công việc của mình một cách tốt nhất
Quán ăn vỉa hè:
Quán ăn vỉa hè ở Hà Nội cho người thưởng thức vô vàn những lựa chọn khác nhau về món ăn Nó có thể phục vụ hầu hết những sở thích của người dùng có thể là cơm trưa bình thường với cơm và thức ăn có thể là các loại thức ăn ngon của Hà Nội như bún, phở, miến, bánh cuốn, cháo…
Trang 40Quán ăn vỉa hè là một loại hình kinh doanh ăn uống rất phổ biến tại Hà Nội Trước đây, khi loại hình “Bữa trưa công sở” chưa phổ biến chủ yếu phục
vụ cho bữa ăn sáng, hay là nơi kinh doanh các món ăn đặc sản của Hà Nội Ngày nay, quán ăn vỉa hè trở thành một địa điểm ăn trưa quan trọng nhân viên công sở Nó có không gian thoải mái người ăn không cần phải gò ép bản thân vào những khuôn phép cứng nhắc Theo khảo sát cho thấy tại các quận khác nhau của thành phố Hà Nội thì tỉ lệ các quán ăn vỉa hè cũng khác nhau Tập trung đông nhất cũng như nhiều món ăn và được đánh giá chất lượng cao nhất
là quận Hoàn Kiếm Tại đây hình thành nên các phố chuyên môn phục vụ bữa trưa cho nhân viên công sở như: Ngõ Tràng Tiền, Ngõ 49 Tràng Tiền, Phố
Ẩm thực Tống Duy Tân, Ngõ Hàng Bông ( Ngõ Cấm Chỉ), Phố Hàn Thuyên… Do đây là trung tâm Hà Nội xưa có lịch sử truyền thống lâu đời tồn tại nhiều món ăn nổi tiếng
Tại các quận khác trong Hà Nội các quán ăn vỉa hè có tồn tại nhưng không tập trung thành khu vực đông đúc mà tản mát gắn liền vơi khu dân cư Quận Ba Đình, đây là địa điểm đặt các cơ quan chính phủ trong và ngoài nước nên khu vực này hầu như là cấm các hoạt động buôn bán vỉa hè để đảm bảo mĩ quan đô thị cũng như an toàn chính trị
Thế nhưng cùng với đó thì quán ăn vỉa hè vẫn có những điểm hạn chế cho bữa trưa công sở Ví dụ như tình trạng an toàn thực phẩm là vấn đề quan trọng hàng đầu Vì kinh doanh các quán ăn vỉa hè là chủ yếu dựa vào các không gian nhỏ hẹp của vỉa hè để làm nơi buôn bán nơi này hạn chế về không gian chế biến, nước sạch làm các món ăn, ảnh hưởng bởi khói bụi của đường giao thông … Cùng với ý thức chưa được tốt của người chế biến món ăn thì đây là nơi có nguy cơ tiềm ẩn rất nhiều mầm bệnh ảnh hưởng đến sức khỏe của con người Thêm vào với việc kinh doanh ngay tại các vỉa hè nên người
ăn cũng ngồi ăn ngay tại các vỉa hè để ăn ảnh hưởng đến giao thông đi lại