Tuy nhiên sự phát triển "nóng" về du lịch của vùng ven biển Hải Phòng cũng đang đứng trước những thách thức không bền vững nếu không được kiểm soát với mục tiêu bền vững.. Là một sinh vi
Trang 1BỘ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
Khoa Văn hóa Du lịch
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DU LỊCH BIỂN
HẢI PHÒNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Nguyễn Văn Cần Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thúy
Lớp : VHDL 15C
Hà Nội, tháng 5 năm 2011
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, em
đã nhận được sự giúp đỡ, ủng hộ nhiệt tình từ phía thầy giáo hướng dẫn, các thầy cô, bạn bè, người thân Đó là một trong những động lực to lớn để em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp của mình
Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn trường Đại học Văn hóa Hà Nội, khoa Văn hóa Du lịch đã tạo mọi điều kiện cho em được làm khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn các thầy các cô trong khoa Văn hóa du lịch
đã tận tình chỉ dậy chúng em những kiến thức quý báu cho nghề nghiệp sau này
Đồng thời, em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ Sở Du lịch Hải Phòng, Cục Thống kê Hải Phòng, Phòng Văn hóa- thông tin huyện Thủy Nguyên đã giúp đỡ em lấy thông tin, số liệu trong quá trình làm khóa luận Hơn hết, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Văn Cần, người đã tận tình giành tâm huyết hướng dẫn, sửa bài giúp em để em có thể hoàn thành tốt đề tài của mình
Do kiến thức của em còn hạn chế nên khóa luận không thể tránh được những thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên Nguyễn Thị Thúy Lớp 15C – Khoa Văn hóa du lịch
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG KHÓA LUẬN
ASEAN: Tổ chức các nước Đông nam Á
BOD: Độ ôxy hoá sinh học
DO: Độ ôxy hoà tan
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
IUCN: Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
HDI: Chỉ số phát triển con người
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Mục đích nghiên cứu 3
3.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
4.Tình hình nghiên cứu 3
5.Phương pháp nghiên cứu 5
6.Bố cục đề tài 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 1.1 Phát triển bền vững .6
1.1.1 Khái niệm về phát triển bền vững………6
1.1.2 Các thước đo về phát triển bền vững……… 8
1.2 Phát triển du lịch bền vững 9
1.2.1 Quan niệm về phát triển du lịch bền vững……… 9
1.2.2 Những nguyên tắc phát triển du lịch bền vững… ………… 10
1.2.3 Các yếu tố tác động đến phát triển du lịch bền vững…… ……12
1.2.4 Dấu hiệu nhận biết du lịch bền vững du lịch không bền vững ………14
1.2.5 Tiêu chí đánh giá du lịch bền vững 17
1.2.6 Vai trò của phát triển du lịch bền vững trong nền kinh tế xã hội hiện nay………21
Chương 2 TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN HẢI PHÒNG 2.1 Tiềm năng phát triển du lịch biển Hải Phòng 23
2.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 23 2 1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 27 2.2 Thực trạng phát triển du lịch biển Hải Phòng 30
2.2.1 Môi trường du lịch biển Hải Phòng 30 2.2.2 Thị trường du lịch, doanh thu và nguồn nhân lực du lịch 33
2.2.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho ngành du lịch 40
Trang 52.2.4 Công tác tuyên truyền xúc tiến và quảng bá du lịch…… 45
2.3 Đánh giá tính bền vững của du lịch biển Hải Phòng 48
2.3.1 Về đáp ứng nhu cầu du khách………48
2.3.2 Sự tác động của du lịch biển đối với hệ sinh thái tự nhiên 49
2.3.3 Sự tác động của du lịch biển đối với hệ kinh tế………… …50
2.3.4 Sự tác động của du lịch biển đối với hệ sinh thái xã hội - nhân văn……… 51
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DU LỊCH BIỂN HẢI PHÒNG 3.1 Phương hướng phát triển du lịch biển Hải Phòng 53
3.1.1 Các quan điểm và mục tiêu phát triển du lịch bền vững 53
3.1.2 Định hướng phát triển du lịch biển Hải Phòng 54
3.1.3 Cơ hội và thách thức phát triển bền vững du lịch biển Hải Phòng 59
3.2 Giải pháp phát triển bền vững du lịch biển Hải Phòng 61
3.2.1.Bảo vệ môi trường du lịch biển 61
3.2.2 Phát triển thị trường du lịch, nguồn nhân lực và sản phẩm du lịch 63
3.2.3 Đầu tư phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 65
3.2.4.Tăng cường công tác xúc tiến quảng bá du lịch 70
3.2.5 Một số giải pháp khác 72
KẾT LUẬN 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 82
Phụ lục 1: Dự án ưu tiên đầu tư 82
Phụ lục 2: Sự phân bố các di tích lịch sử vùng ven biển Hải Phòng 84
Phụ lục 3: Lịch phương tiện giao thông ở Hải Phòng 90
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển Nằm trong khối ASEAN, Việt Nam là một trong số những nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú, là một trong những nước có tiềm năng lớn về du lịch
Thời gian những năm gần đây phát huy thế mạnh của nguồn tài nguyên du lịch của đất nước, ngành du lịch Việt Nam phấn đấu hoàn thiện những điều kiện đã hội đủ góp phần sớm đưa du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn, đưa nước ta thành trung tâm du lịch có tầm cỡ trong khu vực- một điểm du lịch an toàn hấp dẫn và thân thiện Thực hiện chủ trương đó các ngành các cấp các địa phương cũng như tất cả các cơ sở kinh doanh trong cả nước tích cực tìm tòi sáng tạo để góp công sức đưa du lịch nước nhà trở thành một ngành kinh tế quan trọng của đất nước
Trong sự phát triển nền công nghiệp của Việt Nam ngày nay du lịch có thể coi là công nghiệp không khói mang lại cho nền kinh tế Việt Nam một khoản thu nhập đáng kể, trong đó du lịch nghỉ biển chiếm một vị trí khá quan trọng trong sự phát triển của ngành du lịch Trên thế giới ngày nay nhu cầu đi du lịch là rất nhiều, chủ yếu là đi du lịch tham quan, nghỉ dưỡng Trong khi
đó, nước ta là một nước ven biển; vùng biển và ven biển là địa bàn tập trung các nguồn lực các tam giác tăng trưởng kinh tế của đất nước Vùng biển Việt Nam có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thuận lợi cho phát triển nhiều loại hình du lịch
Nước ta ngày nay cũng đã chú trọng đến sự phát triển du lịch, coi du lịch là một ngành triển vọng trong tương lai Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển rất nhanh của ngành công nghiệp không khói này thì chúng ta đã và đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường tại các khu du lịch, các tệ nạn xã hội liên quan đến du lịch ngày càng gia tăng Điều đó đã trở thành mối lo ngại lớn của các nhà chức trách, của mọi người dân trên thế giới, thúc giục những người làm du lịch phải tìm hướng đi mới cho mình đó là phát triển du lịch một cách bền vững
Cùng với kinh tế cảng biển, du lịch đã đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế của thành phố Hải Phòng và trong đó không thể không kể đến du lịch biển Dọc theo bờ biển Hải Phòng chúng ta thấy rất nhiều bãi cát đẹp là hạt nhân tiền đề hình thành các khu du lịch biển Ngoài khơi là một dãy đảo như một chuỗi ngọc viền quanh bờ biển Trong lòng biển là thế giới san hô, bào ngư, và nhiều loại hải sản khác vừa đáp ứng cho du lịch lặn biển vừa là những món ăn đặc sản phục vụ du khách
Sự đa dạng của địa hình ven biển và hải đảo đã tạo ra những cảnh quan thiên nhiên đặc sắc với những vũng, vịnh, đầm phá, hang động nổi tiếng Dọc theo dải ven biển cũng như các đảo ven bờ tập trung khu bảo tồn thiên nhiên, rừng quốc gia Cát Bà có tính đa dạng sinh học cao, nhiều di tích
Trang 7văn hoá lịch sử và các lễ hội đặc biệt có giá trị to lớn đối với phát triển nhiều loại hình du lịch như
du lịch sinh thái, du lịch văn hoá, du lịch nghỉ dưỡng Chính những điều kiện đó mà du lịch biển Hải Phòng trong thời gian vừa qua là địa chỉ quen thuộc của du khách trong nước và quốc tế, đóng góp trên 70% vào tổng doanh thu du lịch của thành phố Tuy nhiên sự phát triển "nóng" về du lịch của vùng ven biển Hải Phòng cũng đang đứng trước những thách thức không bền vững nếu không được kiểm soát với mục tiêu bền vững
Là một sinh viên học ngành Văn hóa du lịch, lại được sinh ra và lớn lên trên quê hương Hải Phòng, tôi có điều kiện được phần nào tiếp cận thực tế của du lịch Hải Phòng, nhận thấy tầm quan trọng của du lịch biển với sự phát triển du lịch thành phố, đồng thời thấy rõ mối quan hệ khăng khít giữa du lịch với môi trường tự nhiên cũng như việc phát triển du lịch với việc khai thác, bảo tồn, gìn giữ các giá trị tài nguyên du lịch Có giữ gìn, bảo tồn được thì du lịch mới khai thác được – và
đó cũng chính là những vận hội của du lịch Hải Phòng trong những năm tới Với những tình cảm tốt đẹp dành cho quê hương, tôi mong muốn được góp phần nào đó vào việc xây dựng ngành du lịch Hải Phòng nói riêng và du lịch Việt Nam nói chung ngày một tốt đẹp hơn
Vì những lý do trên em đã chọn đề tài: ''Phát triển bền vững du lịch biển Hải Phòng" làm
khóa luận tốt nghiệp Với hy vọng đánh giá thực trạng hoạt động du lịch biển Hải Phòng để từ đó đưa ra một số phương hướng và giải pháp khắc phục những tồn tại và đẩy mạnh phát triển du lịch
biển Hải Phòng, đưa du lịch biển thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố
2.Mục đích nghiên cứu
- Tổng quan một số vấn đề lý luận về phát triển du lịch bền vững và vai trò của nó trong nền kinh tế xã hội hiện nay
- Phân tích tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch biển Hải Phòng theo hướng bền vững
- Đề xuất các định hướng chiến lược và một số giải pháp nhằm phát triển bền vững du lịch biển ở thành phố Hải Phòng
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Du lịch biển Hải Phòng
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề du lịch biển trên địa bàn thành phố Hải Phòng trên quan điểm phát triển bền vững
4 Tình hình nghiên cứu
Trang 8Việc áp dụng khái niệm phát triển bền vững đối với du lịch được đưa ra lần đầu tiên trong
“Chiến lược hành động cho sự phát triển du lịch bền vững” do các nhà nghiên cứu thuộc nhiều ngành khác nhau của Canada xây dựng Ba vấn đề chính được đặt ra trong chiến lược này là: + Những vấn đề chủ yếu và những nhu cầu
+ Những nguyên tắc đối với du lịch bền vững
+ Những khuyến nghị cần thực hiện
Một nghiên cứu tương tự được thực hiện tại Dự án phát triển bền vững Bali khởi đầu vào năm
80, trong đó du lịch là một bộ phận (Wall, 1993) Điểm mấu chốt của bản nghiên cứu này là đưa ra tiêu chuẩn sử dụng để có được sự phát triển bền vững, bao gồm tính toàn vẹn, hiệu quả, công bằng, tính toàn vẹn về văn hóa, cộng đồng, hòa nhập hài hòa và phát triển tương ứng với sự nhận thức về tiềm năng Hoặc tác phẩm “ Du lịch và phát triển bền vững: Giám sát, lập kế hoạch, quản lý” của Nelson, Butler và Wall với đóng góp lớn nhất cho việc nghiên cứu du lịch bền vững là việc đưa ra những chỉ số thích hợp để giám sát các hoạt động du lịch
Tuy nghiên cứu từ các góc độ khác nhau, nhưng phần lớn các nhà nghiên cứu đều nhận định rằng, để
có sự phát triển du lịch bền vững phải đạt được 4 chỉ tieu lớn sau:
+ Du lịch phải được dựa trên cơ sở các nguồn tài nguyên được quản lý và gìn giữ tốt và chúng phải mang tính văn hóa và môi trường
+ Phải bền vững về mặt tài chính và mang lại lợi nhuận cho các nhà đầu tư
+ Phải luôn làm hài lòng khách du lịch vì nếu không sẽ mất đi sự phát triển kinh tế
+ Phải dựa trên cơ sở cộng đồng địa phương trợ giúp vì nếu thiếu sự thông qua và hài lòng của địa phương thì không có mục tiêu nào khác về lâu dài
Tóm lại, trên thế giới, lĩnh vực du lịch và du lịch bền vững đã được nhiều nhà khoa học và các tổ chức quốc tế quan tâm nghiên cứu Các ấn phẩm về lý luận và thực tiễn về vấn đề phát triển du lịch bền vững là những tài liệu bổ ích cho việc nghiên cứu và vận dụng cho các quốc gia bắt đầu tham gia tìm hiểu
về loại hình du lịch này
Ở Việt Nam, du lịch bền vững là một lĩnh vực còn mới mẻ, các vấn đề về lý luận của du lịch bền vững đang tiếp tục được thảo luận để đi đến thống nhất về nhận thức và quan điểm trong các nhà nghiên cứu và điều hành du lịch Từ đó, tiến hành đánh giá tiềm năng và thực trạng phát triển thành phố Hải Phòng dựa trên quan điểm phát triển bền vững
Trang 9Tiếp thu các nghiên cứu đi trước, tôi mạnh dạn chọn hướng nghiên cứu còn khá mới mẻ này: Phát triển bền vững du lịch biển Hải Phòng với mong muốn được đóng góp một phần nhỏ bé của mình, cũng
như hy vọng đề tài của mình thực sự có ý nghĩa thực tiển nhằm làm cho du lịch của thành phố quê hương phát triển ngày một bền vững hơn, góp phần tạo nên sự phát triển bền vững của đất nước
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Phương pháp khảo sát thực tế
- Phương pháp điều tra xã hội học
6 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn được chia thành ba chương lớn như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững
Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch biển Hải Phòng
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển bền vững du lịch biển
Hải Phòng
Trang 101.1.1 Khái niệm về phát triển bền vững
Từ những thập niên 70, 80 của thế kỷ trước, khi tăng trưởng kinh tế của nhiều nước trên thế giới đã đạt được tốc độ khá cao, người ta đã bắt đầu có những lo nghĩ đến ảnh hưởng tiêu cực của
sự tăng trưởng nhanh đó đến tương lai con người và vấn đề phát triển bền vững được đặt ra Theo thời gian, quan niệm về phát triển bền vững ngày càng được hoàn thiện Năm 1987, vấn đề phát triển bền vững được Ngân hàng thế giới (WB) đề cập lần đầu tiên, theo đó phát triển bền vững là
" Sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm nguy hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ tương lai"1 Quan niệm đầu tiên về phát triển bền vững của WB chủ yếu nhấn mạnh đến khía cạnh sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo đảm môi trường sống của con người trong quá trình phát triển của con người chưa thấy được vấn đề xã hội được đề cập đến Ngày nay, quan điểm về phát triển bền vững được đề cập một cách đầy đủ hơn, bên cạnh yếu tố môi trường và tài nguyên thiên nhiên thì yếu tố môi trường xã hội được đặt ra với một ý nghĩa cũng vô cùng quan trọng trong đỉnh thế giới về phát triển bền vững tổ chức Johannesbug (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đã xác định : Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt
chẽ, hợp lý, hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm : tăng trưởng về mặt kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường sống2 Cùng với đó tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững
là sự bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt xã hội và bền vững về mặt môi trường Mối quan
hệ đó được thể hiên qua hình vẽ sau:
Hình 1.1 : Mối quan hệ trong phát triển bền vững
1Nguồn: Giáo trình kinh tế phát triển [23]
2Nguồn: Giáo trình kinh tế phát triển.[23]
Trang 11Bền vững về mặt kinh tế là phát triển kinh tế nhanh và ổn định trong một thời gian dài Tăng trưởng nhanh chưa chắc đã có được phát triển bền vững về mặt kinh tế Vì thế chúng ta phải luôn duy trì một tốc độ tăng trưởng ổn định hợp lý và lâu dài không nên chỉ chú trọng và nhấn mạnh vào tăng trưởng kinh tế nhanh
Bền vững về mặt môi trường : Môi trường sống có ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống và sự phát triển của mỗi cá thể và của cộng đồng, nó bao gồm toàn bộ các điều kiện vật lý, hoá học, sinh học và xã hội bao quanh Bền vững về mặt môi trường là ở đó con người có cuộc sống chất lượng cao dựa trên nền tảng sinh thái bền vững
Bền vững về xã hội : Tính bền vững đó phải mang tính nhân văn hay nói một cách khác là phải đem lại phúc lợi và chia sẻ công bằng cho mọi cá nhân trong xã hội Phát triển phải được gắn liền với một xã hội ổn định, hoà bình, mở rộng và nâng cao năng lực lựa chọn cho mọi người cùng với đó là việc nâng cao sự tham gia của cộng đồng vào quá trình phát triển
Ngoài ra phát triển bền vững còn được xem là sự phát triển "bình đẳng và cân đối" Bình đẳng được hiểu là bình đẳng giữa các nhóm người trong cùng một xã hội Còn tính cân đối được thể hiện ở việc cân đối giữa các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội - môi trường
1.1.2 Các thước đo về phát triển bền vững
Môi trường
Phát triển bền vững
Trang 12Cũng như tăng trưởng kinh tế, phát triển bền vững có thước đo riêng và rất đặc trưng Tuy nhiên hệ thống thước đo này rất phức tạp và nhiều thước đo rất khó xác định vì chúng phải đánh giá trên cả 3 phương diện kinh tế- xã hội- môi trường
Về mặt kinh tế, tính bền vững thể hiện ở các chỉ số như: tổng sản phẩm trong nước (GDP), tổng sản phẩm quốc gia (GNP), cơ cấu GDP và GNP, GDP/người, GNP/người Theo tiêu chuẩn quốc tế thì chỉ tiêu GDP/người phải ở mức 5% mới được coi là phát triển bền vững và cơ cấu GDP mạnh là cơ cấu có tỷ lệ đóng góp của công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu phải cao hơn tỷ lệ đóng góp của nông nghiệp trong cơ cấu
Về mặt xã hội, có các chỉ tiêu đánh giá như: chỉ số phát triển con người (HDI), hệ số bất bình đẳng thu nhập, giáo dục, y tế, văn hoá HDI là chỉ tiêu đánh giá tổng hợp sự phát triển của con người vì vậy muốn phát triển bền vững thì yêu cầu đặt ra đối với chỉ tiêu này là phải tăng trưởng và đạt đến mức trung bình Chỉ số bình đẳng trong phân phối thu nhập cũng là một trong số các chỉ tiêu quan trọng trong phát triển bền vững vì bất bình đẳng trong phân phối thu nhập cũng là nguyên nhân gây ra những xung đột, bất ổn trong xã hội
Về mặt môi trường các chỉ tiêu đánh giá như : mức độ ô nhiễm (không khí, nguồn nước ), mức độ che phủ rừng là những chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá tính bền vững của môi trường Môi trường bền vững là môi trường luôn thay đổi nhưng vẫn làm tròn ba chức năng : là không gian sinh tồn ; là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản suất của con người ; là nơi chứa đựng, xử lý chất thải
Ngoài ra còn phải quan tâm đến vấn đề bình đẳng giới; các chỉ tiêu về giáo dục: tỷ lệ biết chữ, tỷ lệ nhập học đúng độ tuổi, tỷ lệ học trung học, đại học, các chỉ tiêu về hoạt động văn hoá khác
1.2 Phát triển du lịch bền vững
1.2.1 Quan niệm về phát triển du lịch bền vững
Du lịch bền vững là khái niệm mới xuất hiện trên cơ sở cải tiến, nâng cấp và hoàn thiện khái niệm du lịch của những năm 90 và thực sự được mọi người quan tâm trong những năm gần đây Hội đồng du lịch và lữ hành quốc tế (WTTC) cho rằng : Du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn đảm bảo những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai Khái niệm này chỉ ra rằng mọi hoạt động du lịch ở hiện tại không được xâm phạm đến lợi ích của thế hệ tương lai và phải luôn tôn trọng đảm bảo duy trì hoạt động ấy một cách liên tục và lâu dài
Trang 13Theo định nghĩa mới của tổ chức Du lịch thế giới (WTO) đưa ra tại hội nghị về môi trường và phát triển của Liên hợp quốc tại Rio de Janerio năm 1992: "Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thoả mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hoá, đa dạng về sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người"3 Trong định nghĩa mới này thì du lịch đã được hiểu một cách đầy đủ hơn nó được xem xét trên cả ba lĩnh vực kinh tế- xã hội- môi trường
Và mới đây hội nghị Bộ trưởng du lịch các nước Đông Á - Thái Bình Dương tổ chức tại Việt Nam đã đưa ra quan điểm về du lịch bền vững đó là: " các hình thức du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại của du khách, ngành du lịch và cộng đồng địa phương nhưng không ảnh hưởng tới khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ mai sau, du lịch khả thi về kinh tế nhưng không phá huỷ môi trường mà tương lai của du lịch phụ thuộc vào đó, đặc biệt là môi trường tự nhiên và kết cấu xã hội của cộng đồng địa phương
Tóm lại: phát triển du lịch bền vững là một vấn đề không thể thiếu được
trong quá trình đi lên của đất nước nói chung và của ngành du lịch nói riêng Tuy nhiên bảo vệ và cải thiện môi trường phải được coi là yếu tố không thể tách rời của quá trình phát triển
Nguyên tắc 2: Giảm thiểu tiêu thụ quá mức tài nguyên và giảm thiểu chất thải Thực hiện nguyên tắc này nhằm giảm chi phí khôi phục tài nguyên và giảm chi phí cho việc xử lý ô nhiễm môi trường và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch
Nguyên tắc 3: Phát triển du lịch phải đặt trong quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế- xã hội
3Nguồn: Tạp chí Du lịch VN, số 3/2001
Trang 14Nguyên tắc 4: Duy trì tính đa dạng tự nhiên, đa dạng xã hội và đa dạng văn hoá Việc duy trì tính đa dạng sẽ tạo cho sức bật cho ngành du lịch giúp du lịch phát triển một cách bền vững Nguyên tắc 5: Phát triển du lịch phải hỗ trợ kinh tế địa phương phát triển Du lịch được coi là một ngành tổng hợp vì vậy sự phát triển của du lịch có liên quan mật thiết với các ngành kinh tế khác trong đó có cả kinh tế địa phương vì vậy muốn phát triển bền vững du lịch thì du lịch phải có vai trò hỗ trợ, dẫn dắt kinh tế địa phương phát triển
Nguyên tắc 6: Lôi kéo sự tham gia của cộng đồng địa phương Sự tham gia của cộng đồng địa phương không chỉ đem lợi nhuận cho cộng đồng mà còn làm tăng tính trách nhiệm của cộng đồng trong việc phát triển du lịch và bảo vệ môi trường
Nguyên tắc 7: Lấy ý kiến quần chúng và các đối tượng liên quan Điều đó giúp thống nhất trong quá trình phát triển du lịch giảm thiểu những mâu thuẫn của mọi nguời, đi đến tính thống nhất cao về quan điểm phát triển giúp phát triển du lịch được lâu dài
Nguyên tắc 8: Chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực Như chúng ta đã biết nguồn nhân lực phục vụ du lịch có ý nghĩa vô cùng quan trọng Nguồn nhân lực có chất lượng sẽ giúp cho du lịch phát triển đa dạng và bền vững hơn
Nguyên tắc 9: tiếp thị du lịch một cách có trách nhiệm (marketing du lịch) Đó là việc cung cấp thông tin một cách đầy đủ cho du khách, quảng bá du lịch một cách có trách nhiệm qua đó giúp du khách thoả mãn tối đa nhu cầu của mình
Nguyên tắc 10: Coi trọng công tác nghiên cứu Triển khai nghiên cứu, nhằm mang lại lợi ích cho khu du lịch, đáp ứng tối đa nhu cầu của du khách, mang lại lợi ích cho doanh nghiệp du lịch Tóm lại, muốn du lịch phát triển bền vững thì nhất thiết phải tôn trọng các nguyên tắc cơ bản trên để không tổn hại đến môi trường tự nhiên, môi trường kinh tế, và môi trường xã hội Du lịch bền vững sẽ tác động tích cực đến đời sống xã hội và kinh tế Du lịch thực sự đóng vai trò quan trọng và là ngành mũi nhọn chỉ khi nó được phát triển một cách bền vững Mặt khác cần triển khai các nguyên tắc trên trong toàn bộ hệ thống của nền kinh tế xã hội thì khi đó mới đem lại hiệu quả cao, hiệu quả tốt nhất
1.2.3 Các yếu tố tác động đến phát triển du lịch bền vững
Nguồn tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du
Trang 15lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo lập ra sự hấp dẫn du khách
Tài nguyên du lịch bao gồm hai nhóm: Tài nguyên du lịch nhân văn và tài nguyên du lịch thiên nhiên
Tài nguyên du lịch thiên nhiên như: đất, nước, khí hậu, sinh vật, khoáng sản, tạo thành cảnh quan, các dạng địa hình, đóng vai trò quan trọng trong quá trình thu hút du khách, giúp du lịch phát triển
Tài nguyên nhân văn gồm: hệ thống các di tích lịch sử, di tích văn hoá, phong tục tập quán,
lễ hội là yếu tố cơ bản để phát triển du lịch
Cơ sở vật chất kỹ thuật và thiết bị hạ tầng
Cơ sở vật chất kỹ thuật, thiết bị hạ tầng là vấn đề không thể thiếu được, là điều kiện quan trọng để phát triển du lịch và nó có ảnh hưởng lớn đến việc thu hút khách du lịch đến với địa điểm
du lịch nó bao gồm:
Mạng lưới giao thông vận tải: là nhân tố quyết định đến việc phát triển du lịch cũng như khai thác những tiềm năng du lịch của địa phương Mạng lưới giao thông thuận lợi mới thu hút được du khách đến với địa điểm du lịch
Mạng lưới thông tin liên lạc và internet: Giúp trao đổi thông tin, tìm kiếm dễ dàng các điểm
du lịch mà mình thích từ đó lên kế hoạch cho chuyến đi giúp chuyến đi được thuận lợi Mặt khác nhờ có mạng lưới thông tin và internet sẽ giúp liên kết trong các doanh nghiệp du lịch với nhau, trao đổi kinh nghiệm và cùng nhau phát triển
Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch: Bao gồm trang thiết bị, phương tiện, cơ sở cần thiết
để đón tiếp khách du lịch, nơi lưu trú cho khách du lịch, khu vui chơi giải trí là yếu tố quan trọng
để thoả mãn nhu cầu nghỉ ngơi cũng như nhu cầu giải trí của du khách từ đó thu hút được nhiều khách du lịch hơn
Đào tạo lao động chuyên ngành du lịch (yếu tố con người)
Là yếu tố quan trọng trong sự phát triển của du lịch Chất lượng công tác kinh doanh chịu ảnh hưởng rất nhiều từ việc sử dụng lao động có chất lượng hay không bởi vì lao động làm việc trong du lịch không những thực hiện công tác chuyên môn về du lịch của mình hộ còn thực hiện nhiêm vụ quan trọng là trao đổi văn hoá, giao tiếp với du khách tạo cho du khách có cảm giác hứng khởi trong lúc du lịch
Trang 16đi du lịch tăng lên Theo một số cuộc điều tra cho thấy: nếu người chủ gia đình có trình độ văn hoá
ở mức trung học thì tỷ lệ đi du lịch là 65%, trình độ cao đẳng tỷ lệ này là 75% , trình độ đai học thì
tỉ lệ này lên tới 85%
Thứ hai, mức thu nhập (hay điều kiện sống): Đây là nhân tố quan trọng để phát triển du lịch Khi thu nhập của người dân tăng lên thì ngoài việc chi tiêu cho cơm ăn áo mặc thì họ sẵn sàng chi tiêu cho các dịch vụ trong đó có cả việc đi du lịch
Cuối cùng là thời gian rỗi: Phần lớn mọi người đi du lịch khi họ rảnh rỗi
(ngày nghỉ lễ, nghỉ phép, cuối tuần ) Vì vậy nhân tố này cũng rất quan trọng để phát triển du lịch
Đường lối chính sách phát triển du lịch
Là nhân tố ảnh hưởng lớn đến việc phát triển du lịch, với một đường lối chính sách nhất định
có thể kìm hãm hay thúc đẩy du lịch phát triển Đường lối phát triển du lịch nằm trong đường lối phát triển chung , đường lối phát triển kinh tế - xã hội vì vậy phát triển du lịch cũng là đang thực hiện sự phát triển chung của xã hội
Tham gia của cộng đồng
Sự tham gia của cộng đồng dân cư vào các hoạt động du lịch làm cho du lịch phát triển bền vững hơn Sự tham gia của cộng đồng dân cư không những tạo thu nhập cho cộng đồng dân cư mà còn tăng tính trách nhiệm trong việc phát triển du lịch Việc tham gia này là hết sức cần thiết và không thể thiếu được
Trên đây chỉ là một số yếu tố chủ yếu để phát triển du lịch ở mỗi địa phương Tuỳ thuộc vào mỗi địa phương mà có những yếu tố khác đặc trưng riêng Tuy nhiên các yếu tố này không tách rời nhau mà kết hợp lại với nhau thành một khối thống nhất tạo nên sức mạnh cho việc phát triển du lịch thành công
1.2.4 Dấu hiệu nhận biết du lịch bền vững và du lịch không bền vững
Thực tế cho thấy, du lịch tình dụ hoăc du lịch 3-S ( sea, sun, sand: biển, nắng, và cát) ở hầu các nước cho thấy không bền vững Tuy vậy phần lớn các loại hình du lịch đều có thể phát triển với
Trang 17quy mô lớn, do đó đã trở nên không bền vững (ví du: số lượng đi du lịch câu cá, đi săn bắt quá đông ở một khu du lịch) Đa số các mô hình du lịch có thể làm cho bền vững hơn thông qua những thay đổi về định tính hoặc định lượng
Bảng 1.1: Loại hình du lịch phân loại theo khả năng tương thích với khái niệm du lịch bền
vững
Không tương thích Tương thích cao
* Du lịch bờ biển có thị trường lớn * Du lịch sinh thái
* Kỳ nghỉ có tác động tiêu cực với môi
* Du lịch nông thôn quy mô nhỏ
* Du lịch ở những nơi có môi trường
nhạy cảm như rừng nhiệt đới, nam cực, bắc
cực
* Kỳ nghỉ bảo tồn, trong đó du khách thực hiện công tác bảo tồn trong kỳ nghỉ của mình
Nguồn: Du lịch bền vững
Muốn củng cố khái niệm du lịch bền vững, nhiều nhà nghiên cứu đã nghiên cứu tác động của
du lịch và so sánh các yếu tố được coi là bền vững với các yếu tố được coi là không bền vững có một số cuộc nghiên cứu đã chỉ ra tác động của du lịch trên cả ba lĩnh vực kinh tế, môi trường, xã hội đã đưa ra so sánh các yếu tố được coi là không bền vững và các yếu tố được coi là bền vững trong phát triển du lịch
Bảng 1.2: Du lịch bền vững và du lịch không bền vững
Du lịch kém bền vững hơn Du lịch bền vững hơn
Khái niệm chung:
Phát triển nhanh Phát trỉên chậm
Phát triển không kiểm soát Phát triển có kiểm soát
Trang 18Quy mô không phù hợp Quy mô phù hợp
Mục tiêu ngắn hạn Mục tiêu dài hạn
Phương pháp tiếp cận theo số lượng Phương pháp tiếp cận theo chất lượng
Tìm kiếm sự tối đa Tìm kiếm sự cân bằng
Kiểm soát từ xa Địa phương kiểm soát
Chiến lược phát triển:
Không lập kế hoạch, triển khai tùy tiện Quy hoạch trước, triển khai sau
Kế hoạch theo dự án Kế hoạch theo quan điểm
Phương pháp tiếp cận theo lĩnh vực Phương pháp tiếp cận chính luận
Tập trung vào các trọng điểm Quan tâm tới cả vùng
Áp lực và lới ích tập trung Phân tán áp lực và lợi ích
Thời vụ và mùa cao điểm Quanh năm và cần bằng
Các nhà thầu bên ngoài Các nhà thầu địa phương
Nhân công bên ngoài Nhân công địa phương
Kiến trúc theo thị hiếu của khách du lịch Kiến trúc bản địa
Xúc tiến Marketing tràn lan Xúc tiến Marketing có tập trung theo đối tượng Nguồn lực:
Sự dụng tài nguyên nước, năng lượng lãng phí Sử dụng vừa phải tài nguyên nước, năng lượng Không tái sịnh Tăng cường tái sinh
Không chú ý tới lãng phí sản xuất Giảm thiểu lãng phí
Thực phẩm nhập khẩu Thực phẩm sản xuất tại địa phương
Tiền bất hợp pháp, không khai báo rõ ràng Tiền hợp pháp
Trang 19Nguồn nhân lực chất lượng kém Nguồn nhân lực có chất lượng
Khách du lịch:
Số lượng nhiều Số lượng ít
Không có nhận thức cụ thể Có thông tin cần thiết bất kỳ lúc nào
Không học tiếng địa phương Học tiến địa phương
Bị động và bị thuyết phục, bảo thủ Chủ động và có nhu cầu
Không ý tứ và kỹ lưỡng Thông cảm và lịch thiệp
Tìm kiếm du lịch tình dục Không tham gia vào du lịch tình dục
Lặng lẽ, kỳ quặc Lặng lẽ, riêng biệt
Không trở lại tham quan Trở lại tham quan
Nguồn: Du lịch bền vững
Tùy thuộc vào đặc điểm của khu du lịch để sử dụng các yếu tố để đánh giá tính bền vững của phát triển du lịch
1.2.5 Tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững
Chỉ tiêu môi trường là những thông tin tổng hợp giúp đánh giá các hoạt
động bền vững của du lịch Để đánh giá mức độ bền vững của điểm du lịch, chúng ta thường dùng các chỉ tiêu đơn và bộ chỉ tiêu đơn Tổ chức du lịch thế giới WTO xây dựng hai bộ chỉ tiêu đơn là: chỉ tiêu chung cho ngành du lịch bền vững và chỉ tiêu đặc thù cho điểm du lịch Ngoài ra,còn sử dụng phương pháp PRA (đánh giá có sự tham gia của cộng đồng) để đánh giá
Trang 20Bảng 1.3 : Các chỉ tiêu chung cho du lịch bền vững
1 Bảo vệ điểm du lịch Loại bảo vệ điểm du lịch theo tiêu chuẩn IUCN
2 Áp lực Số du khách viếng thăm điểm du lịch( tính theo năm, tháng
cao điểm)
3 Cường độ sử dụng Cường độ sử dụng - thời kỳ cao điểm ( người/ha)
4 Tác động xã hội Tỷ số Du khách/Dân địa phương (thời kỳ cao điểm)
5 Mức độ kiểm soát Các thủ tục đánh giá môi trường hoặc sự kiểm soát hiện có
đối với sự phát triển của điểm du lịch và mật độ sử dụng
6 Quản lý chất thải
Phần trăm đường cống thoát tại điểm du lịch có xử lý (chỉ số phụ có thể là giới hạn kết cấu của năng lực cơ sở hạ tầng của điểm du lịch, ví dụ như cấp nước, bãi rác)
7
Quá trình lập quy hoạch
Có các kế hoạch nhằm phục vụ cho điểm du lịch (kể cả các yếu tố du lịch)
8 Các hệ sinh thái tới hạn Số lượng các loài hiếm đang bị đe dọa
Trang 21Cường độ sử dụng (số người/1m bãi biển)
Hệ động vật bờ biển/động vật dưới biển ( số loài chủ yếu nhìn thấy)
Chất lượng nước (rác, phân và lượng kim loại nặng)
2 Các vùng núi
Độ xói mòn (% diện tích bề mặt bị xói mòn)
Đa dang sinh học (số lượng các loài chủ yếu)
Lối vào các điểm chủ yếu (số giờ chờ đợi)
Nguồn: Du lịch bền vững
Bộ chỉ tiêu UNWTO sử dụng để đánh giá tính bền vững của điểm du lịch cụ thể Tuy vậy, các chỉ tiêu này cũng chưa thực sự chính xác.Vì vậy để đánh giá tính bền vững của điểm du lịch chúng ta thường sử dụng thêm hệ thống chỉ tiêu về môi trường Trên thực tế du lịch bền vững còn được xem xét bởi mối quan hệ mới – du lịch bền vững -được thiết lập khi thỏa mãn yêu cầu sau:
- Nhu cầu của du khách: được đáp ứng cao
- Phân hệ sinh thái tự nhiên: không suy thoái
Trang 22- Phân hệ xã hội – nhân văn: giữ được bản sắc văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương trên cơ sở tăng cường văn minh do mở rộng giao lưu với các du khách, các nền văn hóa khác
Bảng 1.5: Hệ thống chỉ tiêu môi trường dùng để đánh giá nhanh
- Số ngày lưu trú bình quân/đầu du khách
- Tỷ lệ % các rủi ro về sức khỏe (bệnh tật, tại nạn) do du lịch/tổng số khách
- % chất thải chưa được thu gom và xủ lý
- Lượng điện tiêu thụ/du khách/ngày( tính theo mùa
- Lượng nước tiêu thụ/du khách/ngày( tính theo mùa
- % diện tích cảnh quan bị xuống cấp do xây dựng/tổng diện tích sử dụng do du lịch
- % số công trình kiến trúc không phù hợp với kiến trúc bản địa (hoặc cảnh quan)/tổng số công trình
- Mức độ tiêu thụ các sản phẩm động, thực vật quý hiếm (phổ biến-hiếm hoi-không có)
- % khả năng vận tải sạch/khả năng vận tải cơ giới (tính theo trọng tải)
- Sự xuất hiện các bệnh/dịch liên quan tới du lịch
- Tệ nạn xã hội liên quan đến du lịch
Trang 23văn - Hiện trang các di tích lịch sử văn hóa của địa phương
- Số người ăn xin/tổng số dân địa phương
- Tỷ lệ % mất giá đồng tiền vào mùa cao điểm du lịch
- Độ thương mại hóa của các sinh hoạt văn hóa truyền thống (lễ hội, ma chay, cưới xin, phong tục, tập quán…) xác định thông qua trao đổi với các chuyên gia
Nguồn: Du lịch bền vững
1.2.6 Vai trò của phát triển du lịch bền vững trong nền kinh tế xã hội hiện nay
Du lịch của một nước phát triển làm tăng ngân sách nhà nước, giải quyết đời sống xã hội, thúc đẩy nhiều ngành kinh tế có liên quan phát triển theo Trên thế giới, nhiều nước do du lịch phát triển đã đem lại cho ngân sách nguồn thu ngoại tệ lớn Năm 1995 các nước thu nhập du lịch quốc tế cao: Mỹ 58 tỷ USD, Italia 27 tỷ USD Du lịch là một trong những nguồn thu ngoại tệ hàng đầu ở nhiều nước như : Thailand, Philippin, Hongkong Việc phát triển du lịch còn là nhân tố thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển như : giao thông, xây dựng, bưu điện, hàng không, nông nghiệp, ngân hàng Vai trò của du lịch còn thể hiện ở chỗ, giúp cho du khách biết được tiềm năng kinh tế của các nước, từ đó xây dựng kế hoạch phát triển các quan hệ hợp tác kinh tế giữa các nước Ngoài ý nghĩa về mặt kinh tế, thì phát triển du lịch bền vững còn góp phần giới thiệu truyền bá nét văn hoá dân tộc cho bạn bè trên thế giới Phát triển du lịch bền vững ngày càng trở nên quan trọng hơn trong xã hội hiện nay:
Du lịch phát triển bền vững sẽ mang tính chất giáo dục cao về ý thức bảo vệ môi trường và nguồn tài nguyên tự nhiên cho khách du lịch và cả cộng đồng địa phương
Du lịch bền vững là phương tiện cải thiện và nâng cao sức khỏe, giáo dục, và phúc lợi cho xã hội Nếu không có phát triển bền vững thì tương lai của các nguồn tài nguyên sẽ bị cạn kiệt
Giúp giảm thiểu đói nghèo và ngăn ngừa vấn đề suy thoái môi trường trong hiện tại và tương lai Phát triển du lịch bền vững là biện pháp thiết thực nhất để cứu lấy môi trường thiên nhiên và là biện pháp gián tiếp cứu lấy con người
Phát triển du lịch bền vững góp phần tạo ra những sản phẩm du lịch mới có sức thu hút cao, đem lại cho
du khách những chuyến đi với chất lượng và hiệu quả cao
Là nhân tố quan trọng trong quan hệ hữu nghị giữa các nước trên thế giới và tạo điều kiện trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Có thể nói rằng, phát triển du lịch bền vững là việc cần làm và có vị trí quan trọng trong nền kinh tế góp phần quan trọng trong việc tăng tốc của nền kinh tế đất nước
Trang 24CHƯƠNG 2 TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN
DU LỊCH BIỂN HẢI PHÒNG
2.1 Tiềm năng phát triển du lịch biển Hải Phòng
Khi nói đến sự đóng góp của các ngành kinh tế vào GDP của Hải Phòng thì chúng ta không thể không nhắc tới sự đóng góp của du lịch Ngành du lịch có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế Hải Phòng ở hiện tại cũng như tương lai Và phần lớn doanh thu đó do du lịch biển Hải Phòng tạo
ra
2.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
Vùng biển Hải Phòng có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thuận lợi cho phát triển nhiều loại hình du lịch Phần lục địa với các kiểu địa hình đồi, núi, đồng bằng đa dạng làm tôn lên
vẻ đẹp của nhiều bãi tắm ở đây, cùng với mặt nước, đáy biển và hải đảo tạo nên nhiều danh lam, thắng cảnh, hang động kỳ thú, sơn thuỷ hữu tình
Khí hậu của vùng biển Hải Phòng là khí hậu nhiệt đới gió mùa chịu ảnh hưởng của đại dương, mùa đông thì ít lạnh hơn và mùa hè thì ít nóng hơn so với đất liền Lượng mưa: 1.700-1.800 mm/năm, dao động theo mùa Mùa mưa chủ yếu là tháng 7, 8 Độ ẩm trung bình: 85% Dao động của thuỷ triều: 3,3-3,9 mét Độ mặn nước biển: từ 0,930% (mùa mưa) đến 3,111% ( mùa khô) Nhiệt độ trung bình 25-28 độ C dao động theo mùa Về mùa hè có thể lên trên 30 độ C, về mùa đông trung bình 15- 20 độ C nhưng có thời điểm có thể xuống dưới 10 độ C (khi có gió mùa đông bắc) Nhìn chung khí hậu ở vùng biển Hải Phòng thuận lợi cho việc tổ chức du lịch biển vào mùa
hè
Tài nguyên nước: Hiện nay, vùng biển Hải Phòng có các nguồn nước khoáng tập trung ở đảo Cát Bà và huyện Tiên Lãng Các nguồn nước khoáng này đều đã được đưa vào khai thác và sử dụng chủ yếu là do nhu cầu giải khát và chữa bệnh Nước khoáng ở xã Bạch Đằng huyện Tiên Lãng đã được khai thác phục vụ cho mục đích chữa bệnh Suối nước khoáng ở đảo Cát Bà có thể cung cấp nước ngọt cho sinh hoạt và chữa bệnh Đảo Cát Hải chưa có nguồn nước ngọt Khả năng khai thác nguồn suối nước khoáng ở đây có thể đạt tới hàng triệu lít/năm và có thể so sánh với một
số loại nước khoáng nổi tiếng trong nước và của nước ngoài Nguồn suối nước nóng có tác dụng
Trang 25chữa bệnh ở xã Xuân Đám nhiệt độ luôn ở 38oC rất thích hợp cho mục đích khai thác nước khoáng nóng cho du lịch nghỉ dưỡng
Tài nguyên sinh vật : Tài nguyên sinh vật phục vụ du lịch chủ yếu tập trung ở các vườn quốc gia, các khu bảo tồn tự nhiên, rừng văn hoá lịch sử và môi trường, các hệ sinh thái đặc biệt, các điểm tham quan sinh vật và tài nguyên sinh vật biển Vùng biển Hải Phòng có rừng quốc gia Cát
Bà, rừng văn hoá lịch sử và môi trường ở Đồ Sơn rất nổi tiếng, thu hút nhiều du khách đến tham quan Rừng trung tâm Cát Bà nằm cách trung tâm thị trấn Cát Bà 15 km về phía tây bắc, rộng khoảng 26.240 ha trong đó có 17.040 ha rừng cạn và 9200 ha rừng ngập mặn, có khu rừng nguyên sinh nhiệt đới rộng 570 ha, với nhiều hang động kỳ thú Khu rừng nguyên sinh nhiệt đới ở đây có
hệ động thực vật vô cùng phong phú Thực vật : có 741 loài, nhiều loại cây gỗ quý như trí lý, lát hoa, lim sẹt, giẻ hoa, kim giao, gỗ trắng, chò dãi, trên thế giới chỉ có ở dãy núi Hy Mã Lạp Sơn, thực vật ngập mặn 23 loài, rong biển 75 loài, thực vật phù du 199 loài Động vật : có 282 loài trong
đó 20 loài thú, 69 loài chim, 20 loài bò sát và lưỡng ngư, 11 loài ếch nhái Đặc biết có voọc Cát Bà tên khoa học: Trachypithecus poliocephalus phân loài poliocephalus tức voọc đầu vàng (một số tài liệu gọi là voọc đầu trắng tên khoa học: Trachypithecus poliocephalus phân loài leucocephalus chỉ
có ở Trung Quốc) là loài thú đặc biệt quý hiếm trên thế giới chỉ còn lại ở Việt Nam (khoảng 50-60 con theo sách đỏ của IUCN) Động vật phù du 98 loài cá biển 196 loài, san hô 177 loài Bên cạnh
đó, vùng biển Hải Phòng có các tài nguyên sinh vật biển giàu có và phong phú từ lâu đã được du khách trên thế giới biết đến và ưa chuộng Một số loài với các món ăn từ chúng rất hấp dẫn khách
du lịch gần xa như tôm, cua, sò huyết, sá sùng, bào ngư Ngoài ra, những tài nguyên sinh vật biển còn là nguồn cung cấp nguyên liệu ( như đồi mồi, ngọc ttrai, san hô, gỗ quý ) cho các ngành thủ công, mỹ nghệ sản xuất những mặt hàng mà người nước ngoài ưa chuộng
Bảng 2.1 Danh mục các loài động vật của Vườn quốc gia Cát Bà
Tên lớp Số bộ Số họ Số giống Số loài
Trang 26Vùng biển Hải Phòng có đường bờ biển dài, nhiều bãi tắm lớn nhỏ là điều kiện thuận lợi cho việc khai thác phục vụ du lịch Trong đó có những bãi tắm đẹp, nổi tiếng như: các bãi tắm khu I, khu II, khu III, ở Đồ Sơn; các bãi tắm Cát Cò1, Cát Cò 2, Cát Dứa, Cát Ông, Cát Trai Gái, Đường Danh.v.v là những bãi tắm nhỏ , đẹp, kín đáo, có nhiều mưa, che nắng, cát trắng mịn, nước biển có
độ mặn cao, trong suốt tới đáy Ở Cát Bà đã và đang thu hút rất đông du khách đến tắm biển, vui chơi và nghỉ dưỡng Đây là điều kiện hết sức thuận lợi để xây dựng lên những khu du lịch biển có tính cạnh tranh trong khu vực và thế giới Tuy nhiên nước biển ở Đồ Sơn đang được đánh giá có độ trong không cao, chỉ đạt 0,3 m, thấp nhất so với các khu vực biển khác trong cả nước cũng gây trở ngại không nhỏ cho phát triển du lịch biển
Trang 27Bảng 2.2: Danh mục bãi biển có tiềm năng phát triển du lịch ở Cát Bà
Tên bãi biển Kích thước Góc dốc trung
bình
Diện tích lộ ra khi thủy triều
xuống (m2) Dài (m) Rộng (m)
Hải Phòng có nhiều đảo và bán đảo Vùng biển Hải Phòng có tới 366 hòn đảo trong đó có
243 đảo ven bờ, lớn nhất là đảo Cát Bà với diện tích gần 19 nghìn ha Trên 90% diện tích đảo Cát
Bà là rừng và đất rừng, trong đó có 570 ha rừng nguyên sinh Rừng nguyên sinh Cát Bà hoang sơ, rậm rạp, có chỗ còn chưa in dấu chân người và là nơi hội tụ của nhiều loài động vật, thực vật quý hiếm Chính vì vậy, rừng Cát Bà đang được xem xét xếp vào danh sách những khu bảo tồn thiên nhiên của thế giới Cát Bà bao gồm một đảo chính và 366 đảo nhỏ và chỉ cách trung tâm của du khách, những con đường mòn dã ngoại, những hang động tự nhiên kỳ thú, những bờ biển cát trắng
lạ thường và biển trong xanh Hải Phòng có bán đảo Đồ Sơn nổi tiếng, chạy dài 4 km do dãy núi Rồng vươn ra biển tạo thành Bãi biển đồ sơn bằng phẳng, sóng nước êm đềm nên từ lâu đã trở thành khu tắm biển và nghỉ ngơi hấp dẫn
Nhìn chung, hệ thống đảo và bán đảo ven bờ biển của Hải Phòng có giá trị rất lớn trong phát triển du lịch Ngoài các cảnh quan hoang sơ, không khí trong lành, các hệ sinh thái rừng nhiệt đới trên các đảo ven bờ biển còn giữ được tính đa dạnh sinh học cao Các bãi tắm trên các đảo không lớn, thậm chí rất nhỏ nhưng thường rất đẹp, bãi cát mịn, nước trong xanh Các đặc điểm trên là điều kiện thích hợp để phát triển du lịch, đặc biệt là loại hình tham quan, nghỉ dưỡng
Như vậy, tài nguyên du lịch tự nhiên của Hải Phòng khá đa dạng và phong phú Với nguồn tài nguyên này, đặc biệt có sự có mặt đầy đủ cảu cả ba yếu tố mở đầu bằng chữ S (sun, sand, sea),
Trang 28Hải Phòng có khả năng phát triển được nhiều loại hình du lịch như: sinh thái, nghỉ dưỡng, tham quan thắng cảnh, du lịch cuối tuần và đặc biệt là du lịch biển
2.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
Bên cạnh nguồn tài nguyên thiên nhiên, các yếu tố nhân văn giàu bản sác văn hoá dân tộc của vùng biển Hải Phòng cũng có ý nghĩa to lớn đối với du lịch biển chu thể là:
- Các di tích lịch sử văn hoá:
Hải Phòng còn giữ được rất nhiều di tích lịch sử văn hoá, nhiều đền, chùa, lăng miếu và các sinh hoạt văn hoá dân tộc ở từng làng xã Hiện nay Hải Phòng có 162 di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia và cấp thành phố Trong số đó có 62 di tích xếp hạng cấp quốc gia và 27 di tích được xếp hạng cấp thành phố tập trung ở 7 quận huyện ven biển, chiếm 54,94% tổng số
Các di tích lịch sử này có giá trị rất lớn đối với du lịch, hợp lại thành bộ sưu tập quý giá trong kho tàng di sản văn hoá Việt Nam Nhiều di vật bên trong một số di tích vẫn được bảo quản nguyên vẹn Nhiều công trình kiến trúc như : Đền Nghè, Chùa Hàng, Chùa Vẽ, Núi Voi, Đền Ngô Quyền, Đền Trần Quốc Bảo, Đền Nguyễn Bỉnh Khiêm được duy trì bảo tồn tốt Tuy nhiên hiện nay nhiều di tích đang bị xuống cấp, bị lấn chiếm, hoặc bị huỷ hoại Nếu chúng ta tiếp tục khôi phục và giữ gìn nó để phát triển tuyến du lịch văn hoá biển Hải Phòng thì chắc chắn sẽ có nhiều người ngưỡng mộ và thu hút được một số lượng khách du lịch lớn hơn đến khu vực này
- Lễ hội:
Lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hoá, sản phẩm tinh thần của người dân được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử Lễ hội là sự kiện thể hiện truyền thống quý báu đó của cộng đồng, tôn vinh những hình tượng thiêng, được định danh là những vị "Thần" - những người có thật trong lịch sử dân tộc hay huyền thoại
Cũng giống như các vùng khác trên cả nước, lễ hội của người dân vùng biển Hải Phòng thường tập trung vào những tháng đầu năm sau tết cổ truyền và thường gắn liền với sản xuất và các hoạt động văn hoá dân gian Lễ hội gắn với tín ngưỡng, đều là nơi phản ánh tâm linh của cộng đồng Con người đều mong được mạnh khỏe, đều mong có được một cuộc sống thanh bình và tin tưởng rằng sẽ có một lực lượng siêu nhiên giúp để thực hiện được điều mong ước đó Họ thi bơi thuyền để mong cho mưa thuận gió hòa, họ chơi vật cầu để mong cho cây củ tốt tươi Họ cố giành cái củ về phần mình là để nhận nhiều may mắn trong vụ làm ăn mới Hội vật cầu ở Hải Phòng, tương truyền có từ thời bà Lê Chân Khi bà Lê Chân cho quân lính khai hoang, lập ấp, trong lúc
Trang 29nghỉ giải lao họ đào củ chuối gọt tròn đi và chơi trò vật cầu Nhựa chuối đã dây ra khắp người và chân tay, nhưng lại làm cho người chơi hết sức thích thú
Khi xã hội phát triển, lễ hội cũng là dịp để con người Hải Phòng tỏ lòng nhớ ơn công với nước với dân; họ coi các vị này như thần thành hoàng, mong các vị đó độ trì cho không chỉ cá nhân mình, gia đình mình, mà còn cho cả cộng đồng mình Các tướng thời vua Hùng, thời Hai Bà Trưng, thời Ngô Quyền, thời Trần, thời Lê đều được ông cha người Hải Phòng trước đây và chính người Hải Phòng thời nay tiếp tục tôn thờ Ngô Quyền – người phá tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng có tới 21 nơi thờ Phạm Tử Nghi – người con, người dũng tướng anh hùng của làng Vĩnh Niệm kiên quyết bảo vệ đất đai biên giới của Tổ quốc thế kỷ 16, đã có trên 70 nơi thờ trên cả nước (trong đó ở Hải Phòng có tới hơn hai chục nơi thờ Phạm Tử Nghi)
Nhìn chung, lễ hội của con người dân vùng biển Hải Phòng giống như lễ hội người Kinh ở khu vực khác Đến đây, du khách sẽ được tiếp xúc với nền văn hoá dân tộc độc đáo của vùng biển Hải Phòng, sẽ được sống lại những ngày tháng hào hùng của lịch sử dân tộc Các lễ hội của người dân vùng biển Hải Phòng rất đa dạng và phong phú, thu hút nhiều khách du lịch như: Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn; lễ hội đền Trạng; lễ hội xuống biển; hội du xuân ở Thuỷ Nguyên; hội đình Dư Hàng; hội đền Phò Mã (đền Dẹo); hội đền Nghè; Lễ hội hát đúm Thuỷ Nguyên; lễ hội pháo đất Vĩnh Bảo; hội đua thuyền truyền thống trên biển (đảo Cát Hải); hội đền An Lư; múa rối cạn và múa rối nước Trong đó đặc trưng nhất là lễ hội chọi trâu Đồ Sơn Đây là một trong những lễ hội được chọn là tiêu biểu của toàn quốc trong chương trình hành động quốc gia Lễ hội diễn ra trong 2 ngày (từ 8 đến 9/8 âm lịch) Lễ nghi thật trang trọng, có lọng che, kiệu rước thần, phường bát âm Mở đầu trận đấu là màn múa cờ tưng bừng của mấy chục nam nữ thanh niên khoẻ Sau tiếng loa từng cặp trâu vào sói chọi Có nhiều cặp trâu thi đấu chúng xông vào nhau, dùng sức mạnh để húc, để ghì, khoá sừng nhau Con nào bỏ chạy là thua Trâu thắng vào chung kết ngày mùng 9 tháng 8 âm lịch, trâu nào giành được giải nhất được rước về đình trong tiếng reo hò, hân hoan của cộng đồng Trâu thắng hay trâu thua đều bị làm thịt để cúng thần linh và được chia sẻ cho mọi người là "lộc" Nhìn chung, tài nguyên nhân văn của Hải Phòng khá phong phú và có giá trị đối với du lịch Hải Phòng là cửa ngõ của đất nước, đồng thời cũng là mặt đất chứa đựng nhiều sự kiện lịch sử, để lại dấu ấn qua số lượng lớn các di tích Không những thế, các di tích này còn có giá trị về mặt lịch
sử, kiến trúc, nghệ thuật nhiều di tích nằm trong khu danh thắng như Hang Vua, núi Voi, đền Trần Quốc Bảo càng làm tăng thêm giá trị du lịch của chúng Không những vậy, Hải Phòng còn là miền đất của những lễ hội, trong đó có những lễ hội không chỉ nổi danh trong nước mà cả nước ngoài như lễ hội chọi trâu Đồ Sơn
- Các tài nguyên nhân văn khác:
Trang 30Các tài nguyên nhân văn khác như: các ngành nghề thủ công truyền thống, nghệ thuật ẩm thực, ca múa nhạc cũng tạo nên sự hấp dẫn du khách bốn phương Hải Phòng hiện có hơn 30 làng nghề, trong đó có 17 làng nghề truyền thống, hoạt động trên nhiều lĩnh vực thủ công mỹ nghệ,
cơ khí, đúc đồng, đúc gang, làm đồ thờ tự và tạc tượng Những ngành nghề truyền thống ở đây khá
đa dạng và có khả năng khai thác phục vụ du lịch không chỉ như là các mặt hàng lưu niệm mà còn
có giá trị về mặt cội nguồn văn hoá như tổ chức cho du khách tham quan các làng nghề kết hợp tham dự những lễ hội và di tích có liên quan đến các vị tổ nghề truyền thống
Hải Phòng có những vùng chợ quê từ lâu nổi tiếng bởi những đặc trưng được gìn giữ và lưu truyền nhiều thế hệ Mỗi chợ quê đều có những nét đẹp riêng, thể hiện phong tục tập quán địa phương, mang đậm bản sắc văn hoá miền biển Hải Phòng Những ngày giáp tết, chợ tết lại càng phong phú hơn
2.2 Thực trạng phát triển du lịch biển Hải Phòng
2.2.1 Môi trường du lịch biển Hải Phòng
Nói chung ý thức giữ gìn vệ sinh chung và môi trường trên biển Hải Phòng đã có bước tiến
bộ nhất định Một số người dân đã có ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường biển và tài nguyên tại các điểm du lịch Tuy nhiên, áp lực về doanh thu và thu hồi vốn đầu tư khiến một số cơ sở kinh doanh dịch vụ đã không tuân thủ đối với trách nhiệm của doanh nghiệp, cá nhân trong bảo vệ môi trường biển
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ tại khu vực biển Đồ Sơn, Cát Bà chưa có
hệ thống thu gom, xử lý nước thải, còn đổ nước thải thẩm thấu xuống đất hoặc đổ ra biển Một số nhà hàng tại Đồ Sơn còn buôn bán các động vật quý hiếm đặơc bảo vệ; hiện tượng săn bắn, khai thác hệ sinh thái quý hiếm còn xảy ra trong các khu bảo tồn
Một số dự án, các dịch vụ còn khai thác các tài nguyên nhạy cảm dễ tổn thương Vấn đề rác thải, chất thải rắn và khí thải còn gia tăng tại các khu du lịch Đồ Sơn và ven biển Cát Bà trong thời
vụ và cuối vụ du lịch
Là địa phương có nhiều khu, điểm du lịch, tập trung nhiều nhất tại khu du lịch Đồ Sơn và đảo Cát Bà nhưng tại các khu du lịch này cơ quan quản lý chuyên ngành du lịch chưa tiến hành quan trắc và đánh giá tác động du lịch đối với môi trường biển từ hoạt động du lịch và những ngành khác tại khu vực này
Theo kết quả phân tích, điều tra khảo sát gần đây nhất của cơ quan nghiên cứu về môi trường thì biển ven bờ của vùng biển Hải Phòng, đặc biệt là khu vực cửa sông có cảng, đang bị ô nhiễm
Trang 31Sự ô nhiễm trước tiên phải kể đến là ô nhiễm dầu Đa số các mẫu phân tích đều cho thấy hàm lượng dầu trong nước vùng biển ven bờ Hải Phòng có xu hướng tăng cao trong các khu vực của sông, gần khu vực cảng, bến đỗ tàu thuyền Có trường hợp dầu lan vào các khu đầm nuôi trồng thuỷ sản bám vào lá sú vẹt và ngấm vào trầm tích mặt đáy Hệ số ô nhiễm dầu trong trầm tích tăng
từ 0,4 ( năm 1995) lên 2,4 (năm 2000) và đến các năm gần đây vẫn tiếp tục tăng Dự báo tình trạng phát triển giao thông thuỷ, công nghiệp và do các phương tiện thuyền đánh cá lạc hậu Chưa kể Hải Phòng còn có tiềm ẩn nhiều sự cố tràn dầu
Ô nhiễm đục nước đứng thứ hai sau ô nhiễm dầu Gần đây ảnh hưởng đục nước của ven biển Hải Phòng tăng lên rõ ở khu vực bãi tắm Đồ Sơn và Đông Nam Cát Bà Đó là kết quả của nạn phá rừng đầu nguồn và xói lở ở ven biển Chỉ riêng sông cấm từ 1960 đến năm 1992, lưu lượng nước tăng từ 1 km3/năm lên 12,9 Km3/năm và hàm lượng phù sa tăng từ 20 g/m3 lên 340 g/m3 Đục không những làm bẩn nước, thiệt hại tới du lịch, mà còn làm chết san hô, giảm năng suất sơ cấp thực vật nổi do hạn chế quang hợp
Ở khu đông bắc Đồ Sơn, độ đục biến thiên trong khoảng từ 10 – 100g/m3 (khu luồng Cấm, cửa Nam Triệu – Lạch Tray có độ đục lớn nhất) Ở phía Tây Nam Đồ Sơn, độ đục trung bình là 20 – 120g/m3, mùa mưa từ 100 – 400g/m3, mùa khô từ 20 – 400g/m3 Hàm lượng phù sa trung bình năm trong nước biển phía ngoài Đồ Sơn là 122g/m3
Độ đục của nước biển Đồ Sơn đã gây ra những trở ngại lớn cho sự phát triển du lịch Phỏng vấn những người dân địa phương cho biết , họ rất ít khi tắm biển, nguyên nhân chính là nước biển
ở đây rất đục Nhiều du khách nói rằng, họ ra Đồ Sơn chủ yếu là để tận hưởng không khí và vẻ đẹp của phong cảnh là chính, ít khi tắm biển Nước biển Đồ Sơn đục khiến cho lượng du khách những năm gần đây chuyển dịch vào Cửa Lò và các điểm du lịch biển miền Trung
Ngoài ra độ ôxy hoà tan (DO) của vùng biển Hải Phòng thấp, trung bình khoảng 3,3 đến 10,9 mg/l vào mùa khô và khoảng 0,1 đến 6,1 mg/l vào mùa lũ Nhu cầu ôxy hoá sinh học (BOD) khá cao (13,6 đến 31mg/l), chỉ số vi trùng học (colifom) qua khảo sát đều thấy vượt quá tiêu chuẩn cho phép Nguyên nhân là do chất thải công nghiệp, đô thị, các khu dân cư và những hoạt động trên biển gây ra Nhiều nhà máy cơ sở sản xuất, khách sạn có nước thải không được xử lý đều đổ thẳng vào sông, biển Nhiều rác thải rắn từ các hoạt động tàu thuyền và dân cư ven biển cũng không được thu gom thường được đổ ra sông, biển ven bờ
Ô nhiễm môi trường biển của Hải Phòng đã và đang tác động xấu đến các hoạt động của cảng, giao thông đường thuỷ, do lượng bồi lắng cộng với xói lở biển gây ra, ảnh hưởng trực tiếp đến ngành nuôi trồng, khai thác thuỷ sản, du lịch biển cũng như cuộc sống của ngư dân và dân cư vùng ven biển Nếu không chú ý và có ý thức bảo vệ môi trường biển Hải Phòng sẽ mất lợi thế về
Trang 32biển Đồng thời cộng với những biến đổi khí hậu toàn cầu, Hải Phòng sẽ còn phải đương đầu với những cơn bão lớn, mực nước dâng cao và sóng biển dữ dội Tất cả những vấn đề đó sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội, đến cuộc sống của nhân dân Hải Phòng
Đợt 30/4 vừa qua, Công ty cổ phần du lịch quốc tế Hòn Dáu vừa tổ chức khánh thành hồ bơi lọc nứoc biển nhân tạo lớn nhất khu vực châu Á tại Đồ Sơn (khu 3) Công trình đã tạo nên điểm nhấn hiện đại, độc đáo hiếm có cho quần thể du lịch “sơn thủy hữu tình” Đồ Sơn Hồ bơi có diện tích gần 7ha Đây là hồ bơi lọc nước biển và tạo sóng đầu tiên được xây dựng tại Việt Nam với độ sâu 2,5m Nguồn nước trong hồ được lấy từ nguồn nước biển sẵn có của Đồ Sơn, sau đó đưa qua hệ thống lọc xử lý cặn bẩn theo công nghệ Tây Ban Nha, trở thành màu nước trong xanh, giữ nguyên
độ mặn, tạo sóng 4 mùa Với sự ra đời của bể lọc nước biển ở Đồ Sơn sẽ mang đến cho du khách
sự yên tâm và thoải mái về một môi trường du lịch trong sạch, an toàn, hứa hẹn sẽ thu hút được nhiều khách du lịch đến với Đồ Sơn nói riêng và biển Hải Phòng nói chung
2.2.2 Thị trường du lịch, doanh thu và nguồn nhân lực
Thị trường du lịch
Khách du lịch đến thành phố Hải Phòng chủ yếu là đi biển Số lượng khách du lịch quốc tế đến vùng biển Hải Phòng chiếm 71,2% lượng khách du lịch quốc tế đến Hải Phòng và khách du lịch nôi địa đến vùng biển Hải Phòng chiếm 90% lượng khách du lịch nội địa đến Hải Phòng Trong số các vùng du lịch ven biển Hải Phòng thì Đồ Sơn và Cát Bà là hai điểm du lịch chủ yếu thu hút số lượng đông đảo cả trong và ngoài nước Đặc biệt năm 2010, theo số liệu sơ bộ thì số khách đến Đồ Sơn là gần 2 triệu lượt khách, chiếm trên 65% tổng số khách du lịch đến vùng biển Hải Phòng
Biểu 2.1: Thị phần khách du lịch quốc tế đến Hải Phòng năm 2010
Trang 3371.2, 71%
28.8, 29%
Vùng khác Vùng
Nguồn :Sở du lịch Hải Phòng
Khách du lịch đến vùng biển Hải Phòng từ năm 1995 đến nay tăng đáng kể cả về số lượng và chất lượng Năm 1995 tổng lượng khách du lịch do các cơ sở lưu trú phục vụ mới chỉ đạt khoảng
Trang 34246.302 lượt khách thì năm 2004 con số này đã lên đến khoảng 1.751.112 lượt khách và đến năm
2010 con số đó là 3.262.138 lượt khách, trong đó riêng khu vực Đồ Sơn đã thu hút khoảng gần 2
triệu lượt khách, Cát Bà thu hút khoảng 702 nghìn lượt khách Do các sản phẩm du lịch ngày càng
phong phú và đa dạng nên khách nghỉ lại với thời gian lưu trú cao hơn và chi tiêu nhiều hơn cho
trọng và là thị trường tiềm năng Năm 1995 lượng khách là 26.875 thì năm 2004 con số đó đã lên
tới 392.010 lượt khách và con số đó tiếp tục tăng nhanh trong những năm gần đây và đến năm 2010
con số đó là 714.314 lượt tăng hơn so với năm 2009 (658.342 lượt khách )
Về khách du lịch nội địa, theo bảng 2.4: số lượng khách du lịch tăng trưởng mạnh và ổn định
từ năm 1995 đến nay Năm 1995 số khách là 219.428 lượt người, năm 2004 là 1359.102 lựơt người
(gấp 6,2 lần so với năm 1995) và đến năm 2010 con số đó là 2.836.752 lượt người (khoảng hơn 10
lần so với năm 1995) Trong thời gian tới, cùng với sự đầu tư phát triển nâng cao chất lượng phục
vụ tại các điểm du lịch, khách nội địa sẽ tăng trưởng ổn định khi thời gian rỗi và thu nhập đảm bảo
hơn, đồng thời khách nội địa sẽ đa dạng và phong phú hơn
Trang 35Về đối tượng khách du lịch đến vùng biển Hải Phòng cụ thể như sau:
- Khách du lịch đến từ các nước châu Âu: Đây là thị trường khách tiềm năng, chiếm khoảng 50% thị phần khách và trở thành nguồn khách quan trọng của du lịch biển Hải Phòng, trong đó chiếm phần lớl
là khách Pháp (chiếm 30%) Mục đích du lịch của đối tượng khách này khi đến vùng biển Hải Phòng là: tắm biển, nghỉ dưỡng, hội nghị hội thảo, kết hợp công tác với việc nghỉ dưỡng biển
- Khách đến từ các nước châu Á: Đây là thị trường khách lớn của du lịch Hải Phòng nói riêng và
du lịch biển nói chung Số lượng khách này chiếm tỷ trọng 35%, trong đó tỷ trọng khách Nhật chiếm chủ yếu trong thị phần khách du lịch châu Á đến vùng biển Hải Phòng Khách Việt Nam đến vùng biển Hải Phòng chủ yếu đến từ Hà Nội và các tỉnh khu vực phía Bắc., thị trường khách đến từ các tỉnh phía Nam và khu vực Tây Nguyên chiếm một phần rất nhỏ
- Khách đến từ châu Mỹ: thị trường khách này cũng có đóng góp đáng kể cho tỷ trọng khách du lịch đến biển Hải Phòng, chiếm khoảng 20%, trong đó Mỹ và Canada là nguồn khách đông hơn cả
- Khách đến từ châu Phi: thị trường khách này không lớn, chiếm khoảng 5%
Bảng 2.4 Mục đích của khách du lịch đến biển Hải Phòng:
Tỷ lệ % Mục đích Khách quốc tế Khách nội địa
Trang 36Chỉ tiêu 1995 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2010 Doanh
Cùng với đó là lượng doanh thu của khách nội địa đến Hải Phòng cũng tăng nhanh trong những năm gần đây càng chứng tỏ du lịch vùng ven biển Hải Phòng giữ một vị trí quan trọng là ngành kinh tế mũi nhọn của thủ đô Tốc độ tăng trưởng doanh thu từ lượng khách này rất cao khoảng trên 30% mỗi năm trong giai đoạn 2001- 2010
Bảng 2.6: Doanh thu từ lượng khách du lịch nội địa đến vùng ven biển Hải Phòng giai đoạn
2001-2010
Đơn vị : Tỷ đồng
Chỉ tiêu 2001 2003 2005 2006 2007 2010 Doanh thu
từ du lịch
(khách nội
địa)
745,9 974,3 1.350,8 2.034,4 3.012,3 7.438,5
Nguồn: Cục thống kê Hải Phòng
Lượng khách du lịch nội địa đến Vùng ven biển Hải Phòng ngày càng tăng trong những năm gần đây kéo theo việc họ cũng ngày càng chi tiêu nhiều hơn để hưởng thụ dịch vụ du lịch điều đó
đã làm cho doanh thu du lịch từ lượng khách này tăng nhanh trong những năm gần đây
Trang 37Sự gia tăng cả về số lượng và doanh thu trong toàn ngành du lịch đã cho thấy vị trí quan trọng của du lịch trong nền kinh tế Hải Phòng, nhất là khu vực ven biển, điều đó cho chúng ta nhận thức được sự phát triển bền vững du lịch biển Hải Phòng là hoàn toàn có cơ sở và đúng đắn cần được tiến hành một cách khoa học
Nguồn nhân lực phục vụ du lịch
Khác với ngành kinh tế khác, lao động trong du lịch luôn đòi hỏi người lao động phải có một
độ tuổi nhất định, đòi hỏi về giới tính, về trình độ nghiệp vụ Nhìn chung, lao động làm việc trong ngành du lịch ở Hài Phòng nói chung và ở vùng biển Hải Phòng nói riêng ít được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ một cách có hệ thống Trình độ nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách du lịch Mấy năm gần đây do tốc độ tăng trưởng du lịch cao (cả về
số lượng khách, doanh thu, cơ sở vật chất kỹ thuật ), việc đào tạo nhân lực cho ngành du lịch tại vùng biển Hải Phòng chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển do có một khó khăn lớn là tại đó không có các cơ sở đào tạo về nghiệp vụ ở các cấp: trung cấp, cao đẳng cũng như đại học và trên đại học Nhân viên ở đây muốn có trình độ nghiệp vụ bắt buộc phải tới nội thành Hải Phòng hoặc
Hà Nội mới có những lớp nghiệp vụ như vậy để học Đó là điều rất hạn chế và khó khăn
Theo báo cáo của Sở du lịch Hải Phòng hiện có 38.945 lao động làm việc trong ngành du lịch thì có tới gần 70% số lao động này làm việc cho du lịch biển Hải Phòng trong số những người này thì có tới 50% không qua đào tạo Theo cán bộ sở du lịch thành phố Hải Phòng ước tính, ngành du lịch Hải Phòng còn thiếu 30- 40% lao động làm việc trong lĩnh vực du lịch, còn về chất lượng của lao động thì con số này cao hơn rất nhiều
Cụ thể, trang phục cho nhân viên thể hiện phần nào chất lượng phục vụ của khách sạn khi khách có cái nhìn đầu tiên và đánh giá Song tại các khách sạn trên biển Đồ Sơn và Cát Bà chưa làm được điều này Hơn thế nữa, đội ngũ lao động trong ngành du lịch tại hai điểm này chưa có nghiệp vụ, phục vụ khách theo thói quen và kinh nghiệm hàng ngày nên thường xuyên thiếu sót, đặc biệt là các khách sạn nhà nước như khách sạn Giếng Ngọc ở Cát Bà; theo nhận xét của khách
du lịch : “nhân viên lễ tân ăn mặc không khác gì nông dân, đầu tóc không gọn gàng, đi dép lê trong giờ làm việc để tiếp khách Khi khách phàn nàn về thời gian phải chờ đợi để nhập phòng khách sạn quá lâu, nhân viên lễ tân không bình tĩnh, đã mắng cả khách ”
Cụ thể hơn, hiện nay trên đảo Cát Bà, khách du lịch là người nước ngoài chiếm tới 50%, điều này thể hiện tiềm năng lớn về việc thu hút khách du lịch quốc tế của đảo nhưng tại đây chỉ có khoảng 10 hướng dẫn viên du lịch với trình độ tiếng anh ở mức giao tiếp thông thường, không được đào tạo chuyên nghiệp nên không đáo ứng được bốn nhu cầu cơ bản của khách du lịch (nhu cầu chỉ dẫn, được khám phá, học hỏi, được thúc đẩy, và quan tâm) cho dù họ đã sẵn có lòng yêu
Trang 38mến cảnh quan của khu đảo Tất cả những ví dụ này đều thể hiện nhân viên phục vụ trong ngành du lịch biển Hải Phòng chưa có trình độ cơ bản về nghiệp vụ du lịch
Tuy nhiên, chúng ta cũng phải công nhận rằng, trong một số doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài, một số doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn, đội ngũ lao động được qua đào tạo các trường lớp, đào tạo tại chỗ, hoặc gửi đi đào tạo ở nước ngoài nên chất lượng có tốt hơn, đáp ứng được yêu cầu và được đánh giá khá tốt
Du lịch mang tính thời vụ rất cao nên ảnh hưởng lớn đến việc sử dụng lao động và trả lương cho lao động Thông thường các cơ sở kinh doanh du lịch theo mùa sử dụng một số lao động nhất định làm việc quanh năm, số còn lại hợp đồng theo thời vụ, theo tháng theo ngày Ở đây nảy sinh ra một mâu thuẫn mà trong ngành du lịch chưa khắc phục được đó là số lao động hợp đồng theo thời
vụ có trình độ chuyên môn không cao nên ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ trong ngành du lịch
2.2.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho ngành du lịch
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch giữ vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển của ngành
Nó bao gồm hệ thống cơ sở lưu trú, ăn uống, các cơ sở vui chơi giải trí thể thao, các cơ sở dịch vụ
du lịch khác, các phương tiện vận chuyển
* Cơ sở lưu trú và ăn uống:
Trong những năm gần đây, cùng với sự gia tăng của khách du lịch, hệ thống cơ sở lưu trú ăn uống ở Hải Phòng phát triển với tốc độ nhanh Hầu hết các thành phần kinh tế đều tham gia kinh doanh dịch vụ lưu trú và ăn uống Sự phát triển tự phát không có quy hoạch đã dẫn đến tình trạng hàng loạt các nhà nghỉ, nhà trọ tư nhân ra đời Tuy bước đầu có giải quyết tạm thời được nhu cầu
ăn nghỉ của du khách bình dân, nhưng về lâu dài đây sẽ là một tồn tại khó khắc phục Tốc độ xây dựng nhanh của các nhà khách, nhà trọ đã nâng tổng số phòng khách ở Hải Phòng lên cao, tạo ra sự khủng hoảng thừa trong những mùa vắng khách và hạ thấp công suất sử dụng phòng trung bình năm trên địa bàn thành phố Năm 1994 công suât này chỉ đạt 25 - 30% ở khu vực Đồ Sơn - Cát Bà,
và khoảng 67% ở khu vực nội thành Mặc dù các cơ sở lưu trú thì nhiều song qui mô nhỏ, phần lớn
từ 6 - 45 phòng Số khách sạn có qui mô trên 100 rất ít nhưng không đồng bộ nên khó đáp ứng được nhu cầu ăn nghỉ của các đoàn khách quốc tế Điều đó đặt ra cho thành phố là trong định hướng phát triển hệ thống cơ sở lưu trú cần ưu tiên cho khách sạn cấp cao, đúng qui chuẩn kiến trúc xây dựng, cần hạn chế việc xây dựng các nhà khách, nhà nghỉ, nhà trọ có qui mô nhỏ
Bảng 2.7: Hiện trạng cơ sở lưu trú ở Hải Phòng giai đoạn 1995 - 2010
Đơn vị : Chiếc
Trang 39chỉ tiêu 1995 2000 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2010
số
khách
sạn 30 122 173 192 200 205 209 220 256
Nguồn : Cục thống kê Hải Phòng
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, đặc biệt là cơ sở
lưu trú, cũng phát triển nhanh Theo số liệu của Cục Thống kê thành phố Hải Phòng, năm 1993
toàn thành phố có khoảng 30 khách sạn thì đến năm 2007 đã có 220 khách sạn, nhà khách, nhà
nghỉ với khoảng 4.800 phòng trọ, trong đó 1.737 phòng đạt tiêu chuẩn quốc tế, đến năm 2010 đã
lên tới 256 khách sạn Trong tổng số gần 6000 phòng, có tới hơn 2000 phòng đạt tiêu chuẩn quốc
tế Đây cũng là con số đáng ghi nhận về những cố gắng của ngành du lịch Hải Phòng trong thời
gian qua Nhiều khách sạn cao cấp được xây dựng làm thay đổi cơ bản diện mạo của hệ thống
khách sạn thành phố, đáp ứng yêu cầu cư trú và tổ chức các hội nghị, hội thảo lớn Tuy nhiên, số
phòng khách quốc tế, đặc biệt là số phòng cao cấp đáp ứng nhu cầu khách quốc tế nhất là trong giới
kinh doanh, thương mại vẫn còn thấp Vì vậy, trong những năm tới cần phải đặc biệt chú ý vấn đề
này và ưu tiên cho những dự án đáp ứng các yêu cầu trên
Hiện nay, trên địa bàn huyện Cát Hải có gần 10 khách sạn với khoảng 200 phòng nghỉ vừa
được xây dựng, nâng tổng số cơ sở lưu trú của khu du lịch Cát Bà gần 140, trong đó có hơn 80
khách sạn, 34 nhà nghỉ với khoảng gần 2,5 nghìn giường, tương đương hơn 5 nghìn giường Khách
sạn Hollyday View trên đường 1-4 vừa được công nhận là khách sạn đạt tiêu chuẩn 3 sao đầu tiên
của khu du lịch Cát Bà Để chuẩn bị cho mùa du lịch cao điểm 30-4, 1-5 năm nay, khách sạn Hùng
Long tiêu chuẩn 3 sao cũng chính thức đi vào hoạt động với gần 90 phòng
Theo Chủ tịch Hiệp hội du lịch Cát Bà Nguyễn Thị Thu Hường, trong năm qua, các doanh
nghiệp, khách sạn, nhà hàng tích cực đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, mở rộng quy mô sản xuất,
kinh doanh Ngoài Hollyday View, Hùng Long, một số khách sạn đạt chuẩn tương đương 3 sao
như Sunrise Resort (Cát Cò 3); Cát Bà Resort (Cát Cò 1) và 20 khách sạn đạt tiêu chuẩn từ 1 sao
trở lên Một số khách sạn uy tín, luôn thu hút đông khách du lịch, nhất là các tua đăng ký do có sự
ổn định về giá như Hướng Dương, Các Hoàng Tử, Hoàng Ngọc… Do nhu cầu ngày càng tăng,
nhiều gia đình cũng cải tạo, sửa sang phòng, trang bị đồ dùng thiết yếu để cho thuê
Hệ thống các cơ sở ăn uống đa dạng và phong phú Hầu hết các khách sạn, nhà khách, nhà
nghỉ đều có cơ sở ăn uống Ngoài ra hệ thống các nhà hàng, các quán ăn từ cao cấp đến bình dân
Trang 40rất đa dạng luôn sẵn sàng phục vụ khách du lịch cũng như nhân dân địa phương suốt ngày đêm Các món ăn được các đầu bếp lành nghề chế biến từ hải sản như tôm, cua, cá, sò là những món ăn đặc sản của miền biển Hải Phòng mà mỗi du khách đã một lần nếm thử thì khó lòng quên được Tuy nhiên,
một vấn đề cần được quan tâm hàng đầu đó là vệ sinh thực phẩm, đồ uống, chất lượng phục vụ của đội ngũ nhân viên và vấn đề giá cả Một số cơ sở còn buông lỏng việc quản lý vệ sinh thực phẩm;
đồ uống, giá cả còn tuỳ tiện, chất lượng phục vụ chưa được chuyên nghiệp Nếu giải quyết tốt vấn
đề này thì sẽ hấp dẫn du khách hơn, thu hút được nhiều du khách, khi đó doanh thu từ du lịch sẽ tăng lên
* Cơ sở cung cấp dịch vụ vui chơi giải trí:
Thực trạng chung tại khu vực biển Hải Phòng là cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động vui chơi giải trí chưa được đầu tư xây dựng phù hợp Các hoạt động kinh doanh cung cấp dịch vụ tại các bãi biển hầu hết là tự phát, do các cá nhân mở ra, các nhà đầu tư và các cơ quan chức năng chưa có sự quan tâm đúng mức
Trải dọc theo các bãi biển của Hải Phòng là hệ thống các quán cà phê và karaoke phục vụ nhu cầu của du khách Đến với các khu du lịch biển này, các hoạt động giải trí chưa đa dạng, do vậy nếu khách du lịch nghỉ tại đây từ 3 đến 5 ngày rất phù hợp, nhưng nếu thời gian lưu trú lâu sẽ gây ra tâm lý tẻ nhạt cho khách du lịch đến với vùng biển này
Trên các bãi biển của Hải Phòng diễn ra một số loại hình du lịch như bơi, lặn, bóng đá, bóng chuyền bãi biển, lướt sóng hoặc các hoạt động khám phá các hòn đảo… Do đó, các cơ sở cho thuê
đồ bơi, phao bơi, bóng chuyền, ván lướt sóng… tải dài dọc bãi biển nhằm phục vụ cho các hoạt động trên Tuy nhiên, các cơ sở cho thuê các loại thuyền từ 4 đến 30 chỗ ngồi và ca nô phục vụ hoạt động du lịch thăm đảo và dạo biển rất ít và giá cả tương đối cao Các cơ sở này tuy được đầu
tư với quy mô nhỏ, lẻ nhưng cũng phần nào đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch, làm đa dạng các hoạt động trên biển
Một dịch vụ cũng khá phổ biến trên các bãi biển của Hải Phòng đó là dịch vụ cho thuê xe đạp đôi để du khách dạo chơi trên những con đường ven biển và ngắm nhìn đường bờ biển trải dài xanh ngắt
Ngoài ra, ở đây còn có các loại xe mô tô thể thao phục vụ nhu cầu khách du lịch Ban đầu, các loại xe này được đầu tư để nhân viên của các trung tâm phòng hộ và cấp cứu sử dụng nhưng nhận thấy tiềm năng của hoạt động thể thao này nên các cơ quan quản lý và các nhà đầu tư tư nhân