1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thái độ của cộng đồng địa phương đến phát triển bền vững du lịch biển tại thành phố tuy hòa, tỉnh phú yên

108 278 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 2,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan đề tài: “Nghiên cứu thái độ của cộng đồng địa phương đến phát triển bền vững du lịch biển tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên’’ số liệu và kết quả nghiên cứu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Người hướng dẫn khoa học:

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đề tài: “Nghiên cứu thái độ của cộng đồng địa phương đến

phát triển bền vững du lịch biển tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên’’ số liệu và

kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ cho một học vị nào

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đề đã được ghi rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Hồ Thị Hằng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các quý thầy, cô giáo của trường Đại học Nha Trang dạy bảo và giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập và làm luận văn

Đặc biệt, tôi xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Lê Chí Công đã nhiệt tình, tận

tâm, đầy trách nhiệm hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này

Để thực hiện luận văn, bản thân tôi đã cố gắng tìm tòi, học hỏi, tự nghiên cứu với tinh thần, nghị lực và ý chí vươn lên Tuy nhiên, không tránh khỏi những hạn chế

và thiếu sót Kính mong quý thầy, cô giáo và bạn bè, đồng nghiệp tiếp tục đóng góp ý kiến để đề tài ngày càng hoàn thiện hơn

Cuối cùng, tôi xin được cảm ơn gia đình và người thân đã luôn động viên, giúp

đỡ tôi an tâm công tác và hoàn thành luận văn này./

Tác giả luận văn

Hồ Thị Hằng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC HÌNH ix

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN x

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 5

2.1 Các lý thuyết có liên quan đến phát triển du lịch bền vững 5

2.1.1 Phát triển bền vững 5

2.1.2 Phát triển du lịch bền vững 9

2.1.3 Mô hình phát triển du lịch bền vững 12

2.2 Các lý thuyết có liên quan đến sự tham gia cộng đồng địa phương vào phát triển du lịch bền vững 15

2.2.1 Cộng đồng địa phương 15

2.2.2 Thái độ cộng đồng địa phương đối với phát triển du lịch bền vững 17

2.2.3 Lý thuyết hành vi trong tham gia phát triển du lịch 19

2.2.4 Lý thuyết trao đổi xã hội (SET - Social exchange theory) 20

2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến thái độ của cộng đồng địa phương đến phát triển bền vững du lịch biển 21

2.3.1 Các nghiên cứu trong nước 21

2.3.2 Các nghiên cứu nước ngoài 23

2.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất 26

2.4.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 26

2.4.2 Phát triển các giả thuyết nghiên cứu 26

Tóm tắt chương 2 28

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

3.1 Quy trình nghiên cứu 29

3.1.1 Nghiên cứu sơ bộ 30

Trang 6

3.1.2 Nghiên cứu chính thức 32

3.2 Chọn mẫu trong nghiên cứu chính thức 33

3.3 Các phương pháp phân tích được sử dụng trong nghiên cứu chính thức 33

Tóm tắt chương 3 34

CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH VÀ THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35

4.1 Phân tích mô tả địa bàn nghiên cứu 35

4.1.1 Đặc điểm thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 35

4.1.2 Tiềm năng phát triển du lịch tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh phú Yên 37

4.1.3 Kết quả kinh doanh du lịch tại thành phố Tuy Hòa giai đoạn 2011-2016 43

4.2 Phân tích kết quả nghiên cứu 46

4.2.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu 46

4.2.2 Đánh giá mức độ tham gia của cộng đồng vào phát triển bền vững du lịch biển tại thành phố Tuy Hòa 47

4.2.3 Kết quả thống kê mô tả 50

4.2.4 Phân tích độ tin cậy thang đo 53

4.2.5 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 55

Tóm tắt chương 4 63

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 64

5.1 Kết luận từ câu hỏi nghiên cứu 64

5.2 Gợi ý chính sách quản trị 65

5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 71

Tóm tắt chương 5 72

KẾT LUẬN 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT CHỮ

VIẾT TẮT TIẾNG ANH TIẾNG VIỆT

ADB The Asian Development Bank Ngân hàng phát triển Châu Á

CĐĐP Cộng đồng địa phương

EFA Exploratory Factor Analysis Phân tích các yếu tố khảo sát GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội

HDI Human Development Index Chỉ số phát triển con người

IUCN International Union for Conservation

of Nature and Natural Resources

Liên minh Quốc tế Bảo tồnThiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên

MMU Multimedia University Đại học đa phương tiện

UNDP United Nations Development

UTM University of Technology, Malaysia Đại học công nghệ Malaysia

TPB Theory of Planned Behavior Mô hình lý thuyết hành động

theo dự tính

TRA Theory of Reasoned Action Mô hình lý thuyết hành động

hợp lý SET Social exchange theory Lý thuyết trao dổi xã hội

WT Dependent Variable Biến phụ thuộc

WTO World Tourism Organization Tổ chức du lịch tế giới

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1: Thống kê đặc điểm nhân khẩu học trong mẫu nghiên cứu 47

Bảng 4.2: Mức độ tham gia các hoạt động liên quan đến du lịch trong vòng 3 năm qua của cộng đồng 48

Bảng 4.3: Cộng đồng tham gia các hoạt động liên quan đến Chương trình phát triển bền vững du lịch biển tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên trong vòng 5 năm qua 49

Bảng 4.4: Đánh giá mức độ sẵn sàng tham gia chương trình phát triển du lịch bền vững 50

Bảng 4.5: Thống kê mô tả các biến quan sát 51

Bảng 4.6: Kiểm định độ tin cậy thang đo INTEN 53

Bảng 4.7: Kiểm định độ tin cậy thang đo đo các nhân tố tác động đến mức độ tham gia chương trình phát triển du lịch bền vững 54

Bảng 4.8: Kết quả EFA thang đo các nhân tố tác động đến mức độ tham gia chương trình phát triển du lịch bền vững tại thành phố Tuy Hòa 55

Bảng 4.9: Kết quả EFA thang đo mức độ tham gia chương trình phát triển du lịch bền vững 57

Bảng 4.10: Kết quả phân tích hệ số tương quan Pearson thể hiện trong ma trận tương quan 58

Bảng 4.11: Kết quả hồi quy sử dụng phương pháp Enter của mô hình 59

Bảng 4.12: Kết quả kiểm định phương sai ANOVA 60

Bảng 4.13: Mô hình hồi quy theo lý thuyết 60

Bảng 5.1: Kiểm định giả thuyết nghiên cứu 65

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Mô hình phát triển bền vững theo quan điểm của Jordan Ryan 13

Hình 2.2: Mô hình phát triến bền vững của ngân hàng Thế giới World 14

Hình 2.3: Mô hình phát triến bền vững của Villen (1990) 14

Hình 2.4: Thuyết hành vi dự định (TPB) 20

Hình 2.5: Đề xuất mô hình nghiên cứu của tác giả 26

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 29

Hình 4.1: Bản đồ hành chính thành phố Tuy Hòa 35

Hình 4.2: Đồ thị phân tán giữa phần dư chuẩn hóa và giá trị ước lượng 62

Hình 4.3: Đồ thị phân phối chuẩn của phần dư 63

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

1 Đặt vấn đề

Cộng đồng địa phương, đặc biệt là những người tham gia trực tiếp vào hoạt động

du lịch phải tự ý thức một cách nghiêm túc về việc đảm bảo chất lượng sản phẩm du lịch phục vụ cho du khách, chất lượng của sản phẩm du lịch không chỉ thể hiện ở giá trị vật chất mà còn ở giá trị tinh thần Cảm nhận tốt của du khách bắt nguồn từ chính thái độ thân thiện, tiếp đón ân cần, sự am hiểu về môi trường tự nhiên và nhân văn, sự chân thực của cộng đồng địa phương Hiệu quả trong quá trình giao tiếp giữa du khách

và cộng đồng là sự diễn đạt thông tin một cách chính xác và dễ hiểu Vì vậy, rào cản

về mặt ngôn ngữ cần được khắc phục từ chính sự nỗ lực của những người dân khi triển khai các hoạt động đón tiếp khách du lịch quốc tế Để tạo nên những giá trị văn hóa đích thực, cộng đồng địa phương cần nhận thức sâu sắc việc gìn giữ, bảo tồn và thực hiện các thói quen văn hóa một cách đời thường chứ không phải trình diễn văn hóa (Nguyễn Thị Hồng Nhung, 2015)

Vì vậy để du lịch cộng đồng phát triển bền vững, phục vụ tốt cho cuộc sống của người dân, cần chú trọng 3 yếu tố, đó là: Kinh tế, văn hóa xã hội, tài nguyên môi trường Cần nghiên cứu sản phẩm du lịch đặc trưng; chất lượng, kỹ năng và tính chuyên nghiệp trong dịch vụ; sự hỗ trợ đồng bộ từ các cấp, các ngành và nhận thức của người dân là điều quan trọng nhất để bảo đảm sự phát triển du lịch bền vững, từ cách làm sản phẩm thế nào, giữ gìn nét đẹp truyền thống, môi trường sinh thái của cộng đồng mình ra sao, để họ liên kết với nhau, cùng nâng cao chất lượng dịch vụ

Từ những nguyên nhân trên, việc phát triển du lịch cộng đồng vùng ven biển Phú Yên, mà ở đó các giá trị văn hóa truyền thống, vai trò cộng đồng được phát huy đầy đủ

là một trong những phương thức tiếp cận hiện đại và thuận lợi cho phát triển kinh tế bền vững Du lịch cộng đồng tạo ra cơ hội việc làm, tăng thu nhập, xóa đói, giảm nghèo cho cộng đồng địa phương; góp phần tích cực phục hồi và phát huy các giá trị văn hóa, nghề truyền thống, từ đó đẩy mạnh giao lưu văn hóa, kinh tế giữa các vùng miền, giữa Việt Nam và thế giới Với mong muốn tìm ra những cơ sở khoa học nhằm thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng địa phương ở thành phố Tuy Hòa tỉnh Phú Yên

phát triển du lịch biển theo hướng bền vững tôi chọn đề tài “Nghiên cứu thái độ của cộng đồng địa phương đến phát triển bền vững du lịch biển tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên’’ Việc phát triển du lịch cộng đồng cũng sẽ góp phần tạo thêm

Trang 11

những sản phẩm du lịch thực sự hấp dẫn đáp ứng cho nhu cầu và tính đa dạng trong hoạt động du lịch tại Phú Yên

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Xác định các nhân tố cấu thành thái độ của cộng đồng địa phương và mức độ tác động của các yếu tố này đến sự tham gia của cộng đồng vào phát triển bền vững du lịch biển tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên từ đó đề xuất các kiến nghị chính sách nhằm khuyến khích hành vi của cộng đồng tham gia phát triển du lịch biển tại thành phố Tuy Hòa theo hướng bền vững

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Xác định các nhân tố cấu thành thái độ cộng đồng địa phương ảnh hưởng đến

sự tham gia của họ trong phát triển du lịch biển tại thành phố Tuy Hòa;

- Xem xét mức độ tác động của các nhân tố đến đến sự tham gia của cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch biển tại thành phố Tuy Hòa;

- Đề xuất một số kiến nghị chính sách phù hợp nhằm thúc đẩy hành vi của cộng đồng tham gia phát triển du lịch biển tại thành phố Tuy Hòa theo hướng bền vững

3 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành thu thập 220 hộ gia đình tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, lựa chọn các hộ gia đình để phỏng vấn theo phương pháp thuận tiện, trong đó tỷ

lệ không phản hồi hoặc trả lời không đầy đủ thông tin là 9,9% và có 90,1% trả lời câu hỏi hoàn chỉnh, số phiếu thu về hợp lệ là 200 phiếu Dữ liệu thu thập được xử lý bằng

kỹ thuật phân tích độ tin cậy thông qua hệ số Cronbach’s Alpha, Phân tích nhân tố khám phá EFA và mô hình hồi quy tuyến tính Kết quả nghiên cứu cho thấy: tất cả thang đo đều đạt độ tin cậy và giá trị Đồng thời, kết quả cũng cho thấy mô hình lý thuyết đề ra phù hợp với dữ liệu thị trường 04/05 giả thuyết đề xuất trong mô hình nghiên cứu ở chương 2 có tác động cùng chiều và mạnh đến mức độ tham gia chương trình phát triển du lịch bền vững của cộng đồng địa phương tại thành phố Tuy Hòa, theo thứ tự: (1) Thái độ tích cực với việc giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội; (2) Thái độ tích cực với sự gia tăng du khách; (3) Thái độ tích cực đối với bảo vệ tài nguyên du lịch biển; (4) Thái độ tích cực đối với hoạt động đầu tư kinh doanh du lịch

Trang 12

4 Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu làm bằng chứng khoa học quan trọng giúp đề xuất các kiến nghị chính sách nhằm khuyến khích hành vi của cộng đồng tham gia phát triển du lịch biển tại thành phố Tuy Hòa theo hướng bền vững Theo đó, tác giả đã đưa ra những kiến nghị chính sách nhằm cải thiện mức độ mức độ tham gia chương trình phát triển

du lịch bền vững của cộng đồng địa phương theo hướng đồng tham gia Ngoài ra, luận văn cũng đã đề xuất năm nhóm giải pháp cho chính quyền địa phương nhằm gia tăng vai trò của cộng đồng trong phát triển bền vững du lịch biển Tuy Hòa trong thời gian tới Cuối cùng, luận văn cũng đề cập đến một số hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo Nghiên cứu này cũng đã khẳng định vai trò quan trọng của mức độ tham gia chương trình phát triển du lịch bền vững của cộng đồng là hết sức quan trọng góp phần phát triển du lịch biển Tuy Hòa, Phú Yên bền vững trong thời gian tới

Từ khóa: Thái độ, cộng đồng địa phương, du lịch bền vững, Tuy Hòa

Trang 13

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Sự cần thiết của nghiên cứu

Du lịch hiện nay đã và đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và mang lại lợi ích cho nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Từ nay đến năm 2020 theo UNWTO, dự báo du lịch còn tăng trưởng nhanh hơn nữa, tạo ra các cơ hội kinh tế lớn song cũng mang lại những thách thức gay gắt và những mối đe dọa tiềm

ẩn đối với môi trường và các cộng đồng địa phương nếu không có quy hoạch, được quản lý tốt Trước những nguy cơ như vậy, con người đã có những thay đổi trong nhận thức và ngày càng muốn đóng góp trách nhiệm cho một thế giới phát triển bền vững hơn Theo đó, xu thế phát triển du lịch bền vững định hướng đến cộng đồng có ý nghĩa quan trọng, không chỉ về mặt kinh tế mà còn đối với sự phát triển bền vững của

du lịch trên các khía cạnh về bảo tồn giá trị văn hóa và tài nguyên môi trường

Trong khi phát triển du lịch bền vững đòi hỏi sự quan tâm của các bên có liên quan đến quản lý nguồn tài nguyên theo cách thức khác nhau nhằm khai thác và cung cấp sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ mà vẫn duy trì đượcbản sắc văn hóa, đa dạng hệ sinh thái và bảo đảm sự sống cho thế hệ mai sau (Lê Chí Công, 2015), điều quan trọng không thể thiếu là sự đóng góp của cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch theo hướng bền vững

Cộng đồng địa phương, đặc biệt là những người tham gia trực tiếp vào hoạt động

du lịch phải tự ý thức một cách nghiêm túc về việc đảm bảo chất lượng sản phẩm du lịch phục vụ cho du khách, chất lượng của sản phẩm du lịch không chỉ thể hiện ở giá trị vật chất mà còn ở giá trị tinh thần Cảm nhận tốt của du khách bắt nguồn từ chính thái độ thân thiện, tiếp đón ân cần, sự am hiểu về môi trường tự nhiên và nhân văn, sự chân thực của cộng đồng địa phương Hiệu quả trong quá trình giao tiếp giữa du khách

và cộng đồng là sự diễn đạt thông tin một cách chính xác và dễ hiểu Vì vậy, rào cản

về mặt ngôn ngữ cần được khắc phục từ chính sự nỗ lực của những người dân khi triển khai các hoạt động đón tiếp khách du lịch quốc tế Để tạo nên những giá trị văn hóa đích thực, cộng đồng địa phương cần nhận thức sâu sắc việc gìn giữ, bảo tồn và thực hiện các thói quen văn hóa một cách đời thường chứ không phải trình diễn văn hóa (Nguyễn Thị Hồng Nhung, 2015)

Vì vậy để du lịch cộng đồng phát triển bền vững, phục vụ tốt cho cuộc sống của người dân, cần chú trọng 3 yếu tố, đó là: Kinh tế, văn hóa xã hội, tài nguyên môi

Trang 14

chuyên nghiệp trong dịch vụ; sự hỗ trợ đồng bộ từ các cấp, các ngành và nhận thức của người dân là điều quan trọng nhất để bảo đảm sự phát triển du lịch bền vững, từ cách làm sản phẩm thế nào, giữ gìn nét đẹp truyền thống, môi trường sinh thái của cộng đồng mình ra sao, để họ liên kết với nhau, cùng nâng cao chất lượng dịch vụ Phú Yên là một địa phương giàu nguồn lực cho phát triển du lịch.Trong nhiều nguồn lực nói chung có hệ thống du lịch biển là một đặc thù riêng, rất hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế Nói đến du lịch biển ở Phú Yên, nhiều người nghĩ ngay đến loại hình du lịch nghỉ dưỡng biển và thể thao trên biển, trên cát Các bãi tắm có sự kết hợp giữa núi non, biển và cát trắng mịn, thoai thoải, nước biển luôn trong xanh và lặng sóng bên những rặng phi lao, rừng dừa, thưởng ngoạn các danh thắng, tắm biển, lặn biển ngắm san hô biển thành phố Tuy Hòa Trong định hướng chung về “chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” đã xác định mục tiêu là mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương nhưng vẫn bảo tồn nguồn lợi tự nhiên và giá trị văn hóa truyền thống Tuy nhiên, thực tế đời sống cộng đồng ven biển Phú Yên còn nhiều khó khăn

do nhiều nguyên nhân như: sự tập trung dân cư cao, hoạt động kinh tế phụ thuộc nhiều vào môi trường tự nhiên, dẫn đến sự tác động mạnh tới hệ thống tài nguyên môi trường và xã hội, gây ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng và hiệu quả du lịch nói chung Như vậy, du lịch Phú Yên rất cần một định hướng chiến lược cho các loại hình

du lịch mang tính bền vững Điều này, không những đáp ứng cho những du khách thích sự khám phá và trải nghiệm mà còn đảm bảo cho sự phát triển du lịch biển bền vững của Phú Yên trong tương lai

Từ những nguyên nhân trên, việc phát triển du lịch cộng đồng vùng ven biển Phú Yên, mà ở đó các giá trị văn hóa truyền thống, vai trò cộng đồng được phát huy đầy đủ

là một trong những phương thức tiếp cận hiện đại và thuận lợi cho phát triển kinh tế bền vững Du lịch cộng đồng tạo ra cơ hội việc làm, tăng thu nhập, xóa đói, giảm nghèo cho cộng đồng địa phương; góp phần tích cực phục hồi và phát huy các giá trị văn hóa, nghề truyền thống, từ đó đẩy mạnh giao lưu văn hóa, kinh tế giữa các vùng miền, giữa Việt Nam và thế giới Với mong muốn tìm ra những cơ sở khoa học nhằm thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng địa phương ở thành phố Tuy Hòa tỉnh Phú Yên

phát triển du lịch biển theo hướng bền vững tôi chọn đề tài “Nghiên cứu thái độ của cộng đồng địa phương đến phát triển bền vững du lịch biển tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên’’ Việc phát triển du lịch cộng đồng cũng sẽ góp phần tạo thêm

những sản phẩm du lịch thực sự hấp dẫn đáp ứng cho nhu cầu và tính đa dạng trong hoạt động du lịch tại Phú Yên

Trang 15

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát: Xác định các nhân tố cấu thành thái độ của cộng đồng

địa phương và mức độ tác động của các yếu tố này đến sự tham gia của cộng đồng vào phát triển bền vững du lịch biển tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên từ đó đề xuất các kiến nghị chính sách nhằm khuyến khích hành vi của cộng đồng tham gia phát triển du lịch biển tại thành phố Tuy Hòa theo hướng bền vững

Mục tiêu cụ thể:

- Xác định các nhân tố cấu thành thái độ cộng đồng địa phương ảnh hưởng đến

sự tham gia của họ trong phát triển du lịch biển tại thành phố Tuy Hòa;

- Xem xét mức độ tác động của các nhân tố đến đến sự tham gia của cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch biển tại thành phố Tuy Hòa;

- Đề xuất một số kiến nghị chính sách phù hợp nhằm thúc đẩy hành vi của cộng đồng tham gia phát triển du lịch biển tại thành phố Tuy Hòa theo hướng bền vững

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

- Có những yếu tố nào thuộc thái độ cộng đồng ảnh hưởng đến hành vi tham gia phát triển du lịch biển tại thành phố Tuy Hòa theo hướng bền vững ?

- Mức độ tác động của các yếu tố này đến hành vi tham gia phát triển du lịch biển tại Tuy Hòa theo hướng bền vững như thế nào ?

- Làm thế nào để đẩy mạnh hành vi tham gia phát triển du lịch biển tại thành phố Tuy Hòa theo hướng bền vững của cộng đồng địa phương ?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Khung lý thuyết phát triển bền vững, lý thuyết hành vi

tham gia phát triển du lịch, các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tham gia phát triển du lịch biển tại thành phố Tuy Hòa theo hướng bền vững

Đối tượng khảo sát: Cộng đồng địa phương (những người đang sinh sống và

làm việc trên địa bàn thành phốTuy Hòa)

Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài thực hiện khảo sát trên địa bàn thành phốTuy Hòa, tỉnh Phú Yên trong thời gian từ tháng 5/2017 đến tháng 6/2017

1.5 Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu

Thông qua nghiên cứu sẽ giúp tìm ra được các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tham gia phát triển du lịch biển tại thành phố Tuy Hòa theo hướng bền vững, trong đó

Trang 16

nhân tố nào có ý nghĩa quan trọng nhất Đồng thời, việc xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tham gia phát triển du lịch biển tại thành phố Tuy Hòa theo hướng bền vững sẽ giúp các nhà quản lý du lịch và chính quyền địa phương tìm ra các biện pháp nhằm tăng cường hành vi tham gia phát triển du lịch biển tại thành phố Tuy Hòa theo hướng bền vững, luận văn cũng đề cập đến một số hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo Nghiên cứu này cũng đã khẳng định vai trò quan trọng của mức độ tham gia chương trình phát triển du lịch bền vững của cộng đồng là hết sức quan trọng góp phần phát triển du lịch biển Tuy Hòa, Phú Yên bền vững trong thời gian tới Ngoài ra kết quả nghiên cứu còn có giá trị tham khảo đối với những đề tài tương tự sau này

1.6 Kết cấu đề tài

Ngoài lời mở đầu, kết luận, trích yếu, luận văn đề tài gồm 05 chương như sau:

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH VÀ THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH

Trang 17

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1 Các lý thuyết có liên quan đến phát triển du lịch bền vững

2.1.1 Phát triển bền vững

“Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển

về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai

xa Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó.”

Từ thế kỷ XIX, qua thực tiễn quản lý rừng ở Đức, người ta đã đề cập tới sự “phát triển bền vững” Nhưng mãi đến thập kỷ 80 của thế kỷ XX, khái niệm này mới được phổ biến tương đối rộng rãi

Năm 1980, IUCN cho rằng “phát triển bền vững” phải và cân nhắc đến việc khai thác các tài nguyên có khả năng phục hồi và không phục hồi, cần xem xét các điều kiện khó khăn cũng như thuận lợi trong việc tổ chức xen kẽ các hoạt động ngắn và dài hạn Đến năm 1987, ủy ban môi trường và phát triển thế giới WCED do bà Grohalem Brandtland thành lập đã công bố thuật ngữ “phát triển bền vững” trong bản báo cáo

“Tương lai chúng ta” như sau: “Phát triển bền vững được hiểu là sự phát triển có thể

đáp ứng những điều kiện hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”

Năm 1992, Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Brazil) năm 1992 và được bổ sung, hoàn chỉnh tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002: "Phát triển bền vững" là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo

và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên)

Quan niệm về phát triển bền vững dần được hình thành từ thực tiễn đời sống xã hội và có tính tất yếu Tư duy về phát triển bền vững bắt đầu từ việc nhìn nhận tầm quan trọng của bảo vệ môi trường và tiếp đó là nhận ra sự cần thiết phải giải quyết những bất ổn trong xã hội Năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và Phát

Trang 18

triển của Liên hợp quốc được tổ chức ở Rio de Janeiro đề ra Chương trình nghị sự toàn cầu cho thế kỷ XXI, theo đó, phát triển bền vững là: “Một sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của thế hệ tương lai”

Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã đưa ra định nghĩa cụ thể hơn, đó là:

“phát triển bền vững là một loại hình phát triển mới, lồng ghép một quá trình sản xuất với bảo toàn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng của chúng ta đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai” Định nghĩa này đã đề cập cụ thể hơn về mối quan hệ ràng buộc giữa sự đáp ứng nhu cầu hiện tại với khả năng đáp ứng nhu cầu tương lai, thông qua lồng ghép quá trình sản xuất với các biện pháp bảo toàn tài nguyên, nâng cao chất lượng môi trường

Tuy vậy, định nghĩa này vẫn chưa đề cập được tính bản chất của các quan hệ giữa các yếu tố của phát triển bền vững và chưa đề cập đến các nhóm nhân tố cụ thể mà quá trình phát triển bền vững phải đáp ứng (tuân thủ) cùng một lúc, đó là nhóm nhân tố tạo ra tăng trưởng kinh tế, nhóm nhân tố tác động thay đổi xã hội, bao gồm thay đổi cả văn hoá và nhóm nhân tố tác động làm thay đổi tài nguyên, môi trường tự nhiên

Theo hướng phân tích đó, luận án đề xuất một cách định nghĩa cụ thể hơn về phát triển bền vững, đó là: phát triển bền vững là một phương thức phát triển kinh tế-

xã hội nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề

xã hội và BVMT với mục tiêu đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của thế hệ hiện tại đồng thời không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau Hay nói cách khác: đó là sự phát triển hài hoà cả về kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường ở các thế hệ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng sống của con người Định nghĩa này có thể

mở rộng với ba cấu thành cơ bản về sự phát triển bền vững:

Về mặt kinh tế: Một hệ thống bến vững về kinh tế phải có thể tạo ra hàng hoá

và dịch vụ một cách liên tục, với mức độ có thể kiểm soát của chính phủ và nợ nước ngoài, tránh sự mất cân đối giữa các khu vực làm tổn hại đến sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ

Về mặt xã hội: Một hệ thống bền vững về mặt xã hội phải đạt được sự công

bằng trong phân phối, cung cấp đầy đủ các dịch vụ xã hội bao gồm y tế, giáo dục, bình đẳng giới, sự tham gia và trách nhiệm chính trị của mọi công dân

Trang 19

Về môi trường: Một hệ thống bền vững về môi trường phải duy trì nền tảng

nguồn lực ổn định, tránh khai thác quá mức các hệ thống nguồn lực tái sinh hay những vận động tiềm ẩn của môi trường và việc khai thác các nguồn lực không tái tạo không vượt quá mức độ đầu tư cho sự thay thế một cách đầy đủ Điều này bao gồm việc duy trì sự đa dạng sinh học, sự ổn định khí quyển và các hoạt động sinh thái khác mà thường không được coi như các nguồn lực kinh tế

Cho tới nay, quan niệm về phát triển bền vững trên bình diện quốc tế có được

sự thống nhất chung và mục tiêu để thực hiện phát triển bền vững trở thành mục tiêu thiên niên kỷ Các tiêu chí để phát triển bền vững được hiểu như sau:

Thứ nhất, phát triển bền vững về kinh tế là phát triển nhanh và an toàn, chất

lượng Phát triển bền vững về kinh tế đòi hỏi sự phát triển của hệ thống kinh tế trong

đó cơ hội để tiếp xúc với những nguồn tài nguyên được tạo điều kiện thuận lợi và quyền sử dụng những nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các hoạt động kinh tế được chia sẻ một cách bình đẳng Yếu tố được chú trọng ở đây là tạo ra sự thịnh vượng chung cho tất cả mọi người, không chỉ tập trung mang lại lợi nhuận cho một số ít, trong một giới hạn cho phép của hệ sinh thái cũng như không xâm phạm những quyền

cơ bản của con người

Khía cạnh phát triển bền vững về kinh tế gồm một số nội dung cơ bản: Một là, giảm dần mức tiêu phí năng lượng và các tài nguyên khác thông qua công nghệ tiết kiệm và thay đổi lối sống; Hai là, thay đổi nhu cầu tiêu thụ không gây hại đến đa dạng sinh học và môi trường; Ba là, bình đẳng trong tiếp cận các nguồn tài nguyên, mức sống, dịch vụ y tế và giáo dục; Bốn là, xóa đói, giảm nghèo tuyệt đối; Năm là, công nghệ sạch và sinh thái hóa công nghiệp (tái chế, tái sử dụng, giảm thải, tái tạo năng lượng đã sử dụng)

Nền kinh tế được coi là bền vững cần đạt được những yêu cầu sau: (1) Có tăng trưởng GDP và GDP đầu người đạt mức cao Nước phát triển có thu nhập cao vẫn phải giữ nhịp độ tăng trưởng, nước càng nghèo có thu nhập thấp càng phải tăng trưởng mức

độ cao Các nước đang phát triển trong điều kiện hiện nay cần tăng trưởng GDP vào khoảng 5%/năm thì mới có thể xem có biểu hiện phát triển bền vững về kinh tế (2) Cơ cấu GDP cũng là tiêu chí đánh giá phát triển bền vững về kinh tế Chỉ khi tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP cao hơn nông nghiệp thì tăng trưởng mới có thể đạt

Trang 20

được bền vững (3) Tăng trưởng kinh tế phải là tăng trưởng có hiệu quả cao, không chấp nhận tăng trưởng bằng mọi giá

Thứ hai, phát triển bền vững về xã hội được đánh giá bằng các tiêu chí, như

HDI, hệ số bình đẳng thu nhập, các chỉ tiêu về giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, hưởng thụ văn hóa Ngoài ra, bền vững về xã hội là sự bảo đảm đời sống xã hội hài hòa; có sự bình đẳng giữa các giai tầng trong xã hội, bình đẳng giới; mức độ chênh lệch giàu nghèo không quá cao và có xu hướng gần lại; chênh lệch đời sống giữa các vùng miền không lớn

Công bằng xã hội và phát triển con người, chỉ số phát triển con người (HDI) là tiêu chí cao nhất về phát triển xã hội, bao gồm: thu nhập bình quân đầu người; trình độ dân trí, giáo dục, sức khỏe, tuổi thọ, mức hưởng thụ về văn hóa, văn minh

Phát triển bền vững về xã hội chú trọng vào sự công bằng và xã hội luôn cần tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực phát triển con người và cố gắng cho tất cả mọi người cơ hội phát triển tiềm năng bản thân và có điều kiện sống chấp nhận được Phát triển bền vững về xã hội gồm một số nội dung chính: Một là, ổn định dân số, phát triển nông thôn

để giảm sức ép di dân vào đô thị; Hai là, giảm thiểu tác động xấu của môi trường đến đô thị hóa; Ba là, nâng cao học vấn, xóa mù chữ; Bốn là, bảo vệ đa dạng văn hóa; Năm là, bình đẳng giới, quan tâm tới nhu cầu và lợi ích giới; Sáu là, tăng cường sự tham gia của công chúng vào các quá trình ra quyết định

Thứ ba, phát triển bền vững về môi trường Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại

hóa, phát triển nông nghiệp, du lịch; quá trình đô thị hóa, xây dựng nông thôn mới, đều tác động đến môi trường và gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, điều kiện tự nhiên Bền vững về môi trường là khi sử dụng các yếu tố tự nhiên đó, chất lượng môi trường sống của con người phải được bảo đảm Đó là bảo đảm sự trong sạch về không khí, nước, đất, không gian địa lý, cảnh quan Chất lượng của các yếu tố trên luôn cần được coi trọng và thường xuyên được đánh giá kiểm định theo những tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế

Khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và cải thiện chất lượng môi trường sống Phát triển bền vững về môi trường đòi hỏi chúng ta duy trì sự cân bằng giữa bảo vệ môi trường tự nhiên với sự khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ lợi ích con người nhằm mục đích duy trì mức độ khai thác những nguồn tài nguyên ở một giới hạn nhất định cho phép môi trường tiếp tục hỗ trợ điều

Trang 21

Phát triển bền vững về môi trường gồm những nội dung cơ bản: Một là, sử dụng

có hiệu quả tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên không tái tạo; Hai là, phát triển không vượt quá ngưỡng chịu tải của hệ sinh thái; Ba là, bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ tầng ôzôn; Bốn là, kiểm soát và giảm thiểu phát thải khí nhà kính; Năm là, bảo vệ chặt chẽ các hệ sinh thái nhạy cảm; Sáu là, giảm thiểu xả thải, khắc phục ô nhiễm (nước, khí, đất, lương thực thực phẩm), cải thiện và khôi phục môi trường những khu vực ô nhiễm Việt Nam đã ban hành Chiến lược phát triển bền vững giai đoạn 2011- 2020 nhằm mục tiêu tăng trưởng bền vững, có hiệu quả, đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia

Các chỉ tiêu giám sát và đánh giá phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn

2011-2020 gồm: các chỉ tiêu tổng hợp (GDP xanh, chỉ số phát triển con người, chỉ số bền vững môi trường); Chỉ tiêu về kinh tế (hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, năng suất lao động xã hội, mức giảm tiêu hao năng lượng để sản xuất ra một đơn vị GDP, chỉ số giá tiêu dùng, cán cân vãng lai ); Chỉ tiêu về xã hội (tỷ lệ nghèo, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ lao động đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo, tỷ số giới tính khi sinh, hệ số bất bình đẳng trong phân phối thu nhập ); Chỉ tiêu về tài nguyên và môi trường (tỷ lệ che phủ rừng, tỷ lệ đất được bảo vệ, diện tích đất bị thoái hoá

2.1.2 Phát triển du lịch bền vững

Theo WTO (1992) đưa ra tại hội nghị về mô trường và phát triển của Liên hợp quốc tại Rio de Janerio thì “Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho phát triển hoạt động du lịch trong tương lai Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái

và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người” (Phạm Trung Lương, 2002)

Phát triển du lịch bền vững là hoạt động khai thác có quản lý các giá trị tự nhiên

và nhân văn nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai; cho công tác bảo vệ môi trường, góp phần nâng cao mức sống

Trang 22

Du lịch bền vững là việc di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một cách

có trách nhiệm với môi trường để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên (và tất cả những đặc điểm văn hoá kèm theo, có thể là trong quá khứ và cả hiện tại) theo cách khuyến cáo về bảo tồn, có tác động thấp từ du khách và mang lại những lợi ích cho sự tham gia chủ động về kinh tê - xã hội của cộng đồng địa phương (WTO, 2002) Du lịch bền vững có 3 hợp phần chính (Kibert và cộng sự, 2011), đôi khi được ví như “ba chân” như sau:

Thứ nhất là thân thiện môi trường, du lịch bền vững có tác động thấp đến nguồn lợi tự nhiên, giảm thiểu các tác động đến môi trường (động thực vật, các sinh cảnh sống, nguồn lợi sống, sử dụng năng lượng và ô nhiễm…) và cố gắng có lợi cho môi trường Thứ hai là gần gũi về xã hội và văn hoá, nó không gây hại đến các cấu trúc xã hội hoặc văn hoá của cộng đồng nơi mà chúng được thực hiện Thay vào đó thì nó lại tôn trọng văn hoá và truyền thống địa phương Khuyến khích các bên liên quan (các cá nhân, cộng đồng, nhà điều hành tour, và quản lý chính quyền) trong tất cả các giai đoạn của việc lập kế hoạch, phát triển và giám sát, giáo dục các bên liên quan về vai trò của họ

Thứ ba là có kinh tế, nó đóng góp về mặt kinh tế cho cộng đồng và tạo ra những thu nhập công bằng và ổn định cho cộng đồng địa phương cũng như càng nhiều bên liên quan khác càng tốt Nó mang lợi ích cho người chủ, cho nhân viên và cả người xung quanh Nó không bắt đầu một cách đơn giản để sau đó sụp đổ nhanh do các hoạt động kinh doanh nghèo nàn Một đơn vị kinh doanh du lịch mà có đủ 3 tiêu chí trên thì

“sẽ kinh doanh tốt nhờ làm tốt” Điều này có nghĩa là việc thực hiện kinh doanh du lịch trong nhiều cách có thể không phá huỷ các nguồn lợi tự nhiên, văn hoá và kinh tế, nhưng cũng khuyến khích đánh giá cao những nguồn lợi mà du lịch phụ thuộc vào Việc kinh doanh mà được thực hiện dựa trên 3 tiêu chí này có thể tăng cường việc bảo tồn nguồn lợi tự nhiên, đánh giá cao giá trị văn hoá và mang lợi tức đến cho cộng đồng

và có thể cũng sẽ thu lợi tức

Mạng Lưới tổ chức Du lịch Thế giới của Liên Hợp Quốc (United Nation World Tourism Organization Network - UNWTO) chỉ ra rằng du lịch bền vững cần phải:

Về môi trường: Sử dụng tốt nhất các tài nguyên môi trường đóng vai trò chủ yếu

trong phát triển du lịch, duy trì quá trình sinh thái thiết yếu, và giúp duy trì di sản thiên nhiên và đa dạng sinh học tự nhiên

Trang 23

Về xã hội và văn hóa: Tôn trọng tính trung thực về xã hội và văn hóa của các

cộng đồng địa phương, bảo tồn di sản văn hóa và các giá trị truyền thống đã được xây dựng và đang sống động, và đóng góp vào sự hiểu biết và chia sẻ liên văn hóa

Về kinh tế: Bảo đảm sự hoạt động kinh tế tồn tại lâu dài, cung cấp những lợi ích

kinh tế xã hội tới tất cả những người hưởng lợi và được phân bổ một cách công bằng, bao gồm cả những nghề nghiệp và cơ hội thu lợi nhuận ổn định và các dịch vụ xã hội cho các cộng đồng địa phương, và đóng góp vào việc xóa đói giảm nghèo

Khái niệm phát triển du lịch bền vững không chỉ tập trung vào việc bảo vệ môi trường mà còn tập trung vào việc duy trì những văn hóa của địa phương và đảm bảo việc phát triển kinh tế, mang lại lợi ích công bằng cho các nhóm đối tượng tham gia

Du lịch là một trong những công nghệ tạo nhiều lợi tức nhất cho đất nước Du lich có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp chúng ta đạt các Mục Tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (Millennium Development Goals) mà Liên Hơp Quốc đã đề ra từ năm 2000, đặc biệt là các mục tiêu xóa đói giảm nghèo, bình đẳng giới tính, bền vững môi trường và liên doanh quốc tế để phát triển

Chính vì vậy mà du lịch bền vững (sustainable tourism) là một phần quan trọng của phát triển bền vững (sustainable development) của Liên Hợp Quốc và của Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Bộ

Kế hoạch và Đầu tư)

Phát triển du lịch bền vững là một chủ đề được thảo luận rất nhiều ở các hội nghị và diễn đàn lớn nhỏ trên toàn thế giới Mục đích chính của phát triển bền vững là

để 3 trụ cột của du lịch bền vững - Môi trường, Văn hóa xã hội và Kinh tế - được phát triển một cách đồng đều và hài hòa

Những lý do đi sâu vào chi tiết để giải thích tại sao lại cần phát triển du lịch bền vững thì có nhiều, nhưng có thể thấy rất rõ ở 3 yếu tố từ định nghĩa trên:

Thứ nhất: Phát triển du lịch bền vững giúp bảo vệ môi trường sống Vì bảo vệ

môi trường sống không chỉ đơn giản là bảo vệ các loài động thực vật quý hiếm sống trong môi trường đó, mà nhờ có việc bảo vệ môi trường sống mà con người được hưởng lợi từ đó: Không bị nhiễm độc nguồn nước, không khí và đất Đảm bảo sự hài hòa về môi trường sinh sống cho các loài động thực vật trong vùng cũng là giúp cho môi trường sống của con người được đảm bảo

Thứ hai: Phát triển du lịch bền vững còn giúp phát triển kinh tế, ví dụ, từ việc

khai thác các đặc sản văn hóa của vùng, người dân trong vùng có thể nâng cao đời

Trang 24

sống nhờ khách du lịch đến thăm quan, sử dụng những dịch vụ du lịch và sản phẩm đặc trưng của vùng miền, của vùng Phát triển du lịch bền vững cũng giúp người làm

du lịch, cơ quan địa phương, chính quyền và người tổ chức du lịch được hưởng lợi, và người dân địa phương có công ăn việc làm

Thứ ba: Phát triển du lịch bền vững còn đảm bảo các vấn đề về xã hội, như việc

giảm bớt các tệ nạn xã hội bằng việc cung cấp công ăn việc làm cho người dân trong vùng Ở một cái nhìn sâu và xa hơn, du lịch bền vững giúp khai thác nguồn tài nguyên một cách có ý thức và khoa học, đảm bào cho các nguồn tài nguyên này sinh sôi và phát triển để thế hệ sau, thế hệ tương lai có thể được tiếp nối và tận dụng

Tại Việt Nam, nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững ngày càng được chú trọng không chỉ ở cấp độ quản lý ngành, doanh nghiệp mà còn từ những nhà nghiên cứu du lịch (Đỗ Cẩm Thơ, 2012) Tuy vậy, nghiên cứu nhằm xây dựng tiêu chí đánh giá phát triển bền vững du lịch biến đảo còn khá khiêm tốn Trong khi, đối với địa phương có lợi thế về biển đảo hiện nay, vấn đề phát triển bền vững trong du lịch sẽ không thể giải quyết nếu chỉ chủ yếu dựa vào một số giải pháp mang tính tức thời mà ngành và doanh nghiệp cần phải quan tâm đến nhiều khía cạnh khác nhau liên quan đến vừa khai thác, bảo tồn và gìn giữ sản phẩm du lịch vật thể, phi vật thể, vừa chủ động nâng cao chất lượng nhân lực, chú trọng đầu tư để nâng cao chất lượng cơ sở vật chất, sản phẩm phục vụ kinh doanh du lịch, phát triển thị trường du lịch, marketing du lịch, chủ động liên kết trong kinh doanh du lịch, bảo vệ môi trường Nói cách khác, ngành du lịch không chỉ tập trung hướng đến sự phát triển theo chiều rộng như trước đây mà phải chú trọng hơn đến phát triển theo chiều sâu tức là hướng đến sự phát triển

Trang 25

đến tính bền vững của sảnphẩm trong phát triển du lịch, vì thế mà sử dụng chỉ tiêu đánh giá tập trung vào sản phẩm và xem xét thông qua sự thỏa mãn của du khách Trong khi phát triển du lịch bền vững đòi hỏi sự quan tâm của các bên có liên quan đến quản lý nguồn tài nguyên theo cách thức khác nhau nhằm khai thác và cung cấp sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ mà vẫn duy trì đượcbản sắc văn hóa, đa dạng hệ sinh thái và bảo đảm sự sống cho thế hệ mai sau Trên góc độ này, tác giả sử dụng nhiều nhóm chỉ tiêu để đánh giá phát triển du lịch bền vững (Hens, 1998; UNWTO, 2002)

Tổ chức du lịch thế giới cho rằng chỉ tiêu dùng để đo lường thông tin giúp nhà quản lý đưa ra quyết định tốt hơn chỉ tiêu liên quan đến quyết định quản lý trong lĩnh vực du lịch phục thuộc vào đặc trưng điểm đến và tầm quan trọng tương đối của chúng đối với du khách (UNWTO, 2002)

Nhằm xác định tính bền vững trong phát triển du lịch biển đảo, chỉ tiêu sẽ là công

cụ hữu ích giúp các nhà quản lý hiểu rõ hơn mối liên hệ giữa du lịch và những hoạt động

có liên quan cũng như năng lực tái tạo của môi trường trong việc duy trì sự bền vững Theo ông Ryan - đại diện thường trú của UNDP tại Việt Nam thì “phát triển bền vừng là một quá trình đảm bảo tăng tối đa phúc lợi của xã hội và xóa bỏ đói nghèo thông qua việc quản lỷ ở mức tối ưu và có hiệu quá tài nguyên thiên nhiên” Ông khẳng định phát triển bền vững nằm ở phần giao nhau của 3 vòng tròn: bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường Cũng theo ông, chúng ta không nên coi phát triển bền vững như một phương tiện thuận lợi để gom tất cả các vấn đề về kinh tế,

xã hội và môi trường lại với nhau, mà cần có một quan điểm toàn diện để đảm bảo các chính sách có tác dụng hỗ trợ thay vì mâu thuẫn nhau

Hình 2.1: Mô hình phát triển bền vững theo quan điểm của Jordan Ryan

Trang 26

Trong Hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất tháng 6 năm 1992 tại Rio De

Janeiro,“phát triển bền vững được hình thành trong sự hòa nhập, xen cài và thỏa hiệp

giữa ba hệ thống là hệ tự nhiên, hệ kinh tế và hệ xã hội

Ngày nay, tất cả các quốc gia đều đề cập đến “phát triển bền vững” trong quá trình hoạch định chính sách và quản lý phát triển kinh tế với ý muốn nhấn mạnh phương thức và việc sử dụng có trách nhiệm các nguồn lực của sự phát triển

Tuy hiện nay có khá nhiều quan điểm khác nhau về phát triển bền vững, song tựu trung, tất cả đều thống nhất ở các nội dung sau: “Phát triển bền vững là sự phát triển hài hòa cả về 3 mặt: Kinh tế, xã hội và môi trường để đáp úng những nhu cầu về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của thế hệ hiện tại nhưng không làm tồn hại, gây trở ngại đến khả năng cung cấp tài nguyên để phát triển kinh tế - xã hội mai sau, không làm giảm chất lượng cuộc sống của các thế hệ trong tương lai”

Hình 2.2: Mô hình phát triến bền vững của ngân hàng Thế giới World

Trang 27

Như vậy, muốn phát triển bền vững thì phải cùng đồng thời thực hiện ba mục tiêu: (1) Phát triển có hiệu quả về kinh tế; (2) Phát triển hài hòa các mặt xã hội; nâng cao mức sống, trình độ sống của các tầng lớp dân cư; (3) Cải thiện môi trường môi

sinh, bảo đảm phát triển lâu dài vững chắc cho thế hệ hôm nay và mai sau (Hình 2.2

Trong đời sống xã hội, khái niệm cộng đồng thường được dùng để chỉ nhiều đối tượng có những đặc điểm tương đối khác nhau về qui mô và đặc tính xã hội Ý nghĩa rộng nhất của cộng đồng là tập hợp người với các liên minh rộng lớn như toàn thế giới (cộng đồng thế giới), một châu lục (cộng đồng Châu Âu…), một khu vực (cộng đồng Đông Nam Á…) Cộng đồng còn được áp dụng để chỉ một kiểu xã hội, căn cứ vào những đặc tính tương đồng về sắc tộc, chủng tộc hay tôn giáo Nhỏ hơn nữa, cộng đồng được dùng khi gọi tên các đơn vị làng, bản, xã, huyện… Trong các chương trình phát triển có sự tham gia của cộng đồng, khái niệm này được hiểu trên phạm vi hẹp hơn Cộng đồng là những nhóm người được tập hợp dưới nhiều hình thức khác nhau như theo lứa tuổi, nghề nghiệp, huyết thống, khu vực địa lý, tổ chức đoàn thể, sở thích

Sự hình thành cộng đồng thường dựa vào các yếu tố: lãnh thổ, kinh tế và văn hóa Khái niệm cộng đồng bao gồm các yếu tố: tương quan cá nhân mật thiết với những người khác; có sự liên hệ tình cảm; có sự tự nguyện hy sinh đối với những giá trị được tập thể coi là cao cả; có ý thức đoàn kết mọi thành viên trong tập thể Cộng đồng là một tập thể người định cư trên lãnh thổ nhất định Họ có hoạt động kinh tế để đảm bảo về mặt vật chất và tạo nên sự gắn kết cộng đồng Đây là nhân tố quan trọng giúp cho một cộng đồng phát triển vững mạnh Mỗi cộng đồng có những nét văn hóa đặc trưng riêng, được hình thành trong quá trình phát triển của cộng đồng đó Đó là phong tục tập quán, các quy ước, tín ngưỡng tôn giáo, được lưu truyền từ đời này sang đời khác

Trang 28

Trong du lịch, cộng đồng thường được xác định theo phân bố địa lý Theo một nghiên cứu khác thì “Cộng đồng là một nhóm người, thường sống trên cùng một khu vực địa lý, nhận biết bản thân họ thuộc cùng một nhóm Các thành viên trong một cộng đồng thường có quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân Tất cả họ có thể thuộc về cùng một nhóm tôn giáo, chính trị, tầng lớp hoặc đẳng cấp” Ngoài những đặc điểm chung, cộng đồng là một thực thể phức tạp và không đồng nhất Trong cùng một cộng đồng, có người giàu và người nghèo, người mới nhập cư và những cư dân bản địa, người có nhiều đất đai và người không có đất Sự phân hóa trong cộng đồng dẫn đến mức độ tham gia và hưởng lợi khác nhau của thành viên trong một cộng đồng trong các chương trình, dự án phát triển cộng đồng, do đó ẩn chứa những xung đột xảy ra trong cộng đồng (Israr và cộng sự, 2009)

Hầu hết nghiên cứu trước nói về “cộng đồng” như một đơn vị không gian nhỏ, cấu trúc xã hội đồng nhất với mức độ chia sẻ và lợi ích chung Cộng đồng địa phương

là nhóm người với một bản sắc chung và những người có thể được tham gia vào một loạt các khía cạnh liên quan của đời sống Họ cũng lưu ý rằng cộng đồng địa phương thường có quyền liên quan đến khu vực và tài nguyên thiên nhiên, mối quan hệ mạnh

mẽ về văn hóa, xã hội, kinh tế và tinh thần Nghiên cứu khác phát biểu rằng một cộng đồng dùng để chỉ một nhóm các cá nhân sinh sống hoặc làm việc trong khu vực địa lý cùng với một số chia sẻ về văn hóa hoặc lợi ích chung (Aref & Gill, 2010)

Cộng đồng là một tập thể người định cư trên một lãnh thổ nhất định Họ có hoạt động kinh tế để đảm bảo về mặt vật chất và tạo nên sự cố kết cộng đồng Đây là nhân

tố quan trọng giúp cho một cộng đồng phát triển vững mạnh Mỗi cộng đồng có những nét văn hóa đặc trưng riêng, được hình thành trong quá trình phát triển cộng đồng đó Ngoài những đặc điểm chung, cộng đồng là một thực thể phức tạp và không đồng nhất Trong cùng một cộng đồng, có người giàu và người nghèo, người mới nhập cư

và những cư dân bản địa, người có nhiều đất đai và người không có đất Sự phân hóa trong cộng đồng dẫn đến mức độ tham gia và hưởng lợi khác nhau của các thành viên trong một cộng đồng trong các chương trình, dự án phát triển cộng đồng, do đó ẩn chứa những xung đột trong cộng đồng

Hiện nay, yếu tố cộng đồng đang được chú trọng trong các chương trình phát triển kinh tế-xã hội Người ta đã nhận ra rằng cộng đồng nên được quyền tham gia quyết định và kiểm soát các hoạt động ảnh hưởng đến cuộc sống của chính họ Với sự

Trang 29

tham gia của cộng đồng, dự án phát triển sẽ mang lại hiệu quả cao hơn vì nó phù hợp với đặc thù riêng của cộng đồng địa phương, khả năng của họ cũng như những mâu thuẫn giữa các thành viên trong cộng đồng Có hai cấp độ chính đánh giá mức độ tham gia của cộng đồng là bị động và chủ động Khi mà cộng đồng hoàn toàn giữ vai trò chủ động và tích cực, dự án đó sẽ được coi là dựa vào cộng đồng Cụ thể, trong một dự án

áp dụng phương pháp dựa vào cộng đồng, cộng đồng chủ động tham gia vào tất cả các khâu ngay từ đầu, từ khâu lập kế hoạch đến khâu ra quyết định và thực thi, quản lý dự án.Tuy nhiên các dự án du lịch dựa vào cộng đồng không dễ triển khai khi năng lực của cộng đồng chưa đủ để họ có thể giữ vai trò chủ động, thậm chí là dẫn đầu

Riêng trong lĩnh vực du lịch, việc áp dụng cách tiếp cận dựa vào cộng đồng thường gặp phải một số hạn chế:

Thứ nhất, cộng đồng địa phương không có vốn đầu tư, sự hiểu biết hay cơ sở hạ

tầng cần thiết để dẫn đầu trong phát triển du lịch (Campbell, 1999; Tosun, 2000)

Thứ hai, một vài yếu tố về văn hóa có thể hạn chế sự tham gia của họ vào quá

trình lập kế hoạch và quản lý du lịch (Tosun, 2000)

Thứ ba, du lịch có thể là một khái niệm khó nắm bắt đối với người dân sống ở

những vùng nông thôn hẻo lánh, cô lập (Kang, 1999; Timothy, 1999)

Thứ tư, trong xã hội có cơ cấu chính trị tập trung còn nặng nề, các thành viên của cộng đồng bản địa có thể nghĩ rằng lập kế hoạch phát triển kinh tế là nhiệm vụ của chính phủ và việc họ nắm thế chủ động là không phù hợp

Cộng đồng có những đặc điểm như vậy không thể tự nâng cao năng lực của mình một cách hiệu quả Họ cần sự hỗ trợ bên ngoài, một đòn bẩy để giúp họ vượt qua giới

hạn về nhận thức Do đó, trước khi dựa vào cộng đồng, các chương trình tập huấn,

giáo dục, đào tạo kỹ năng nhằm nâng cao năng lực của cộng đồng bao giờ cũng rất quan trọng

2.2.2 Thái độ cộng đồng địa phương đối với phát triển du lịch bền vững

Đối với cư dân địa phương, du lịch không chỉ có những tác động kinh tế mà còn tác động đến cuộc sống cá nhân họ Du lịch tác động lên cách sống, truyền thống và văn hoá cũng như sinh kế của họ Không giống như những người tham gia khác trong ngành du lịch, cộng đồng địa phương sẽ phải giải quyết với du lịch cho dù họ có chọn hay không (Salam, 2009) Một số cộng đồng vùng xa nơi mà thường là rất yên tĩnh và

an bình, đã bị phát hiện cho các hoạt động của du khách quốc tế, những người mà phần

Trang 30

lớn chỉ đi qua và không ở lâu để gặp gỡ với cộng đồng địa phương Các cư dân địa phương cần phải hoà nhập những phản ứng với việc xâm nhập này Một số không muốn làm gì với du khách, nhưng một số bị hấp dẫn bởi những cơ hội việc làm Cho

dù những phản ứng đầu tiên này như thế nào, các cư dân địa phương thường là chưa có những chuẩn bị cho những nhu cầu của du khách Họ thường không thể cạnh tranh với các ngành du lịch lớn và không hiểu những mong muốn hoặc thói quen của những du khách tự do này, những người thích khám phá những vùng mới Các thành viên cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong du lịch Họ có thể thực hiện nhiều vai trò trực tiếp trong ngành du lịch như: Cho thuê đất cho việc phát triển; Làm việc bán thời gian, toàn thời gian hoặc thời vụ cho những nhà điều hành tư nhân; Cung cấp những dịch vụ cho các nhà điều hành tư nhân như thức ăn, hướng dẫn viên, giao thông, nhà nghỉ; Hình thành liên kết với các nhà điều hành tư nhân, những người cung cấp thị trường, hậu cần, hướng dẫn viên đa ngôn ngữ, trong khi đó thì cộng đồng cung cấp những dịch

vụ còn lại; Thực hiện các chương trình du lịch tự do dựa vào cộng đồng địa phương Cho dù cộng đồng địa phương có hay là không tham gia trực tiếp vào ngành du lịch, nhưng họ cũng đóng nhiều vai trò gián tiếp mà tác động đến sự thành công của bất cứ doanh nghiệp du lịch bền vững nào Sự giao lưu không chính thức của cộng đồng địa phương với du khách có vai trò lớn trong việc mở rộng thêm những trải nghiệm của du khách về những cái tích cực như du khách cảm thấy được sự hiếu khách, an toàn và tiện nghi Các chủ đất địa phương cũng có thể có vài trò quan trọng đối với sự lành mạnh sinh thái của vùng, đặc biệt là ở vùng đệm của khu bảo tồn biển, gần bờ biển, xung quanh cửa sông Nhà cửa, thị xã, gia đình và cuộc sống cũng sẽ bị thay đổi nếu du lịch trở thành một phần quan trọng (Gutierrez và cộng sự, 2005) Một trong những đóng góp lớn nhất của du lịch bền vững là khả năng để chuyển những “đe doạ” thành những “lợi ích” cho cộng đồng địa phương (Gutierrez và cộng

sự, 2005) Các cư dân địa phương đóng vai trò quan trọng trong du lịch bền vững do 2 nguyên nhân chính sau Trước hết, địa điểm và nhà của họ đang thu hút nhiều du khách Tiếp theo, việc hỗ trợ của cư dân địa phương là cần thiết cho sự thành công của những nỗ lực bảo tồn bao gồm cả du lịch bền vững Thêm vào đó, những hiểu biết truyền thống và địa phương thường là những hợp phần chính của những trải nghiệm và giáo dục thu hút du khách

Trang 31

Những tác động tiêu cực về môi trường, văn hoá và xã hội của việc phát triển du lịch không bền vững tác động đến cư dân địa phương một cách sâu sắc nhất Các cộng đồng truyền thống và những người bản xứ có thể đóng vai trò chính trong việc bảo tồn đang dạng sinh học, nhưng chỉ được nhận ra trong thời gian gần đây và vấn đề quan trọng liên quan đến sự tham gia, sử dụng đất và nguồn lợi và vấn đề dân chủ cũng cần được xem xét trong hoàn cảnh phát triển du lịch Du lịch có thể phát triển và tăng trưởng khi người dân địa phương có một thái độ tích cực đối với nó và khi họ nhìn thấy vai trò của họ trong quá trình phát triển du lịch (Ambro, 2008)

2.2.3 Lý thuyết hành vi trong tham gia phát triển du lịch

Sự phát triển du lịch dựa trên cộng đồng được xem là một phương án để phát triển hoạt động kinh tế của địa phương Mô hình này đem lại nhiều lợi ích quan trọng như: tạo ra sinh kế cho người dân địa phương, xây dựng được thương hiệu cho điểm

du lịch, gia tăng sự hài lòng của du khách cũng như xây dựng nhận thức tốt về vấn đề môi trường (Lee, 2012) Nghiên cứu này dựa trên các lý thuyết sử dụng khá phổ biến trong nhiều nghiên cứu gồm lý thuyết trao đổi xã hội (Emerson, 1962) lý thuyết hành

vi có dự tính (Ajzen, 1991)

Giá trị của lý thuyết hành vi có dự tính đã được khẳng định bởi việc áp dụng rộng rãi này trong rất nhiều lĩnh vực nghiên cứu trong suốt thời gian dài.Trong lĩnh vực du lịch lý thuyết này được ứng dụng khá phổ biến (Choi và Sirakaya, 2005) Như vậy để có thể dự đoán sự tham gia của cộng đồng địa phương vào việc phát triển hoạt động du lịch bền vững cần căn cứ trên các biến số thái độ của người dân Lợi ích mà cộng đồng địa phương thu được từ phát triển du lịch có thể tạo ra thái độ tiêu cực và tích cực đến sự phát triển du lịch (Choi và Sirakaya, 2005) Đối với cộng đồng địa phương du lịch không chỉ có những tác động đến kinh tế mà còn tác động đến cuộc sống của họ Du lịch tác động lên cách sống, truyền thống văn hóa cũng như sinh kế của họ Cộng đồng địa phương sẽ phải giải quyết với du lịch dù họ có chọn hay không TPB là lý thuyết hành vi theo dự tính được mở rộng từ TRA TPB cho rằng thái

độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan và sự kiểm soát hành vi là ba yếu tố quyết định khái niệm độc lập về ý định hành vi (Ajzen, 1991) Sự khác biệt lớn giữa hai mô hình

là TPB kết hợp thêm một nhân tố là kiểm soát hành vi như một yếu tố quyết định về

xu hướng hành vi Nhân tố này được liên kết đến việc kiểm soát niềm tin Nó bao gồm yếu tố niềm tin rằng việc thực hiện hành vi dễ dàng hay khó khăn phụ thuộc vào việc

Trang 32

sở hữu các nguồn tài nguyên thiết yếu và cơ hội để thực hiện một hành vi cụ thể TPB

đã được sử dụng như là cơ sở để điều tra hành vi bền vững nói chung và hành vi du lịch bền vững nói riêng (Han & Kim, 2010) Các nhà nghiên cứu TPB cho rằng ý định hành vi không chuyển thành hành vi và tác động lẫn nhau là khá yếu

Hình 2.4: Thuyết hành vi dự định (TPB)

Nguồn: Ajzen (1991)

2.2.4 Lý thuyết trao đổi xã hội (SET - Social exchange theory)

Nguyên lý của lý thuyết trao đổi xã hội được hình thành từ những năm 20 của thế kỷ trước bởi các học giả: Malinowski (1922), Mauss (1925) (Soontrayaton, 2013) Tuy nhiên, lý thuyết trao đổi xã hội được phát triển bởi tác giả Emerson vào năm 1962 được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau (Soontrayaton, 2013) Nguyên

lý nền tảng mà lý thuyết này đề cập là trao đổi xã hội sẽ xảy ra nếu quy trình tương tác đem lại phần thưởng có giá trị cũng như đem lại lợi ích lớn hơn so với chi phí bỏ ra (William và Lawson, 2001; Gursoy và cộng sự, 2002)

Trong hoạt động du lịch, lý thuyết trao đổi xã hội được sử dụng trong nghiên cứu nổi tiếng của tác giả Ap (1992) Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng mô hình SET để giải thích phản ứng phản ứng khác nhau của cá nhân hoặc nhóm cộng đồng đối với hoạt động du lịch Theo đó, các cá nhân hay nhóm cộng đồng quyết định tương tác sau khi cân nhắc lợi ích và bất lợi của sự tương tác này Thái độ của mỗi cá nhân phụ thuộc vào cảm nhận về sự trao đổi mà họ thực hiện Ví dụ, các cá nhân đánh giá rằng trao đổi đem lại lợi ích sẽ có cảm nhận hoàn toàn khác với cá nhân cho rằng hoạt động trao đổi là vô ích, bất lợi (Matheison và Wall, 2006)

Từ lập luận này có thể kết luận rằng cộng đồng người dân địa phương sẽ sẵn lòng tham gia vào hoạt động tương tác với du khách nếu họ có thể thu nhận được lợi ích với chi phí bỏ ra không đáng kể Nói cách khác, một khi người dân địa phương có

Trang 33

lợi ích, sự tương tác xã hội sẽ góp phần hỗ trợ sự phát triển của hoạt động du lịch (Snepenger và Akis, 1994)

2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến thái độ của cộng đồng địa phương đến phát triển bền vững du lịch biển

2.3.1 Các nghiên cứu trong nước

[1]Lê Chí Công & Võ Hoàn Hải (2015) với nghiên cứu “Thái độ của cộng đồng

địa phương đối với phát triển du lịch biển Nha Trang-Khánh Hòa” được đăng trên

Tạp chí Tạp chí Kinh tế và dự báo, số 08, tr 42-44 Nghiên cứu đã sử dụng kĩ thuật phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi chi tiết với cộng đồng địa phương Mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp thuận tiện với 250/275 phiếu phát ra tại tại thành phố Nha Trang Kết quả ủng hộ tất cả các giả thuyết nghiên cứu được đưa ra khi chỉ ra rằng 5 nhân tố: (1) lợi ích kinh tế; (2) sự tham gia của cộng đồng địa phương vào phát triển du lịch; (3) sự hài lòng của du khách; (4) bền vững môi trường; (5) phát triển xã hội tác động thuận chiều đến thái độ sẵn sàng tham gia vào chương trình phát triển du lịch biển Kết quả nghiên cứu cho phép nhà nghiên cứu và quản lý ngành du lịch có cái nhìn toàn diện đến vai trò đặc biệt quan trọng của cư dân địa phương trong phát triển bền vững du lịch biển đảo

[2] Nghiên cứu của Lê Chí Công và cộng sự (2016) với chủ đề “Nghiên cứu

ảnh hưởng của các thành phần thái độ đến ý định của cộng đồng địa phương tham gia phát triển du lịch bền vững” được đăng trên Tạp chí Khoa học Thương mại, số 100,

tr.65-72 Nghiên cứu này sử dụng kĩ thuật phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi chi tiết với cộng đồng địa phương Mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp hạn ngạch với 200 phiếu phát ra tại thành phố Quy Nhơn Kết quả 04/05 giả thuyết ủng hộ được đưa ra khi chỉ ra rằng bốn nhân tố: (1) thái độ đối với bảo vệ môi trường; (2) thái

độ đối với bảo vệ tài nguyên du lịch; (3) thái độ đối với bảo vệ cơ sở hạ tầng kinh doanh du lịch; (4) thái độ đối với bảo vệ bản sắc văn hóa địa phương và gìn giữ an ninh trật tự xã hội tác động thuận chiều đến ý định tham gia phát triển du lịch biển bền vững Kết quả cho phép nhà nghiên cứu, quản lý ngành du lịch có cái nhìn toàn diện đến vai trò quan trọng của cư dân địa phương trong phát triển du lich bền vững

[3] Nghiên cứu của Lê Chí Công (2015) với chủ đề “Xây dựng chỉ tiêu đánh giá

du lịch bền vững: Nghiên cứu điển hình tại thành phố Nha Trang”, được đăng trên Tạp

chí Kinh tế và phát triển, số 217, tr 56-64.Phát triển du lịch bền vững đang là chủđề nhận

Trang 34

được nhiều sự quan tâm triển bền vững du lịch biển đảo từ nhà nghiên quản lý ngành Ba trụ cột chính trong phát triển bền vững (1) Phát triển mang lại hiệu quả kinh tế; (2) Phát triển mang lại công bằng xã hội; và (3) Phát triển góp phần bảo vệ và gìn giữ môi trường

đã được đề cập nhiều trong nghiên cứu du lịch

Về phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đã áp dụng các phương pháp nghiên cứu hiện đại, kết hợp đồng thời phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng với

kỹ thuật phân tích tiên tiến nhằm chứng minh các kết quả nghiên cứu đảm bảo độ tin cậy cao trong việc nghiên cứu dự định và hành vi của CĐĐP trong phát triển du lịch Đặc biệt, trong phân tích hồi quy (để kiểm định mối liên hệ giữa nhận thức về các tác động du lịch, kinh nghiệm tham gia du lịch và đặc điểm nhân khẩu học với dự định tham gia du lịch của CĐĐP) đã sử dụng hồi quy logistic - mới chỉ được sử dụng trong một vài nghiên cứu và hồi quy thứ bậc - chưa được sử dụng trong các nghiên cứu trước đó về chủ đề này Nghiên cứu bắt đầu từ lý thuyết khoa học, xây dựng các thang

đo, cho đến đánh giá và kiểm định thang đo Những kết luận, đề xuất mới rút ra từ kết quả nghiên cứu cho thấy: (1) Nâng cao nhận thức của người dân về vai trò của du lịch thông các hình thức qua giáo dục, tuyên truyền phù hợp với đặc điểm của địa phương (phát thanh chương trình du lịch trong các buổi phát thanh của đài truyền thanh xã); (2) Nâng cao kinh nghiệm tham gia kinh doanh du lịch bằng cách tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh cho CĐĐP để người dân tham gia các hoạt động kinh doanh khác nhau, đồng thời, tăng lợi ích từ các hoạt động đó Thứ nhất, phát triển đa dạng các dịch vụ: dịch vụ nghỉ của khách (nghỉ trưa/ nghỉ qua đêm), dịch vụ trông giữ xe Thứ hai, các thôn/xã phát triển du lịch nên nghiên cứu và áp dụng các mô hình để cung cấp thực phẩm/nông sản ngay tại địa phương Đây cũng là một giải pháp rất khả thi để cân bằng

cơ cấu các ngành kinh tế của các địa phương, phát huy thế mạnh phát triển nông nghiệp tại địa phương, và khắc phục tính thời vụ của du lịch; (3) Cần có sự hỗ trợ của các doanh nghiệp lữ hành cũng như các cơ quan quản lý nhà nước trong việc nghiên cứu và phân loại các sản phẩm, dịch vụ; cung cấp, phân phối và tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ du lịch đến khách du lịch một cách tốt nhất; (4) Đưa ra các chính sách tăng cường lợi ích cho CĐĐP, phân chia lợi ích hợp lý giữa các bên liên quan: CĐĐP – doanh nghiệp lữ hành - Nhà nước

Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu trước về chỉ tiêu đánh giá phát triển du lịch bền vững lại không hoàn toàn nhất quán và phụ thuộc vào các bối cảnh khác nhau

Trang 35

(Machado, 2003) Tác giả nhấn mạnh đến tính bền vững của sản phẩm trong phát triển

du lịch, vì thế mà sử dụng chỉ tiêu đánh giá tập trung vào sản phẩm và xem xét thông qua sự thỏa mãn của du khách Trong khi phát triển du lịch bền vững đòi hỏi sựquan tâm của các bên có liên quan đến quản lý nguồn tài nguyên theo cách thức khác nhau nhằm khai thác và cung cấp sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm

mỹ mà vẫn duy trì được bản sắc văn hóa, đa dạng hệ sinh thái và bảo đảm sự sống cho thế hệ mai sau

2.3.2 Các nghiên cứu nước ngoài

[1] Nghiên cứu của Choi và Sirakaya (2005) với chủ đề “Measuring Resident’s

Attitude toward Sustainable tourism: Development of sustainable tourism attitude Scale” được đăng trên Tạp chí Journal of Travel Research Nghiên cứu đã làm rõ thái

độ của cộng đồng địa phương đóng vai trò quan trọng trong việc tham gia phát triển du lịch bền vững Mô hình nghiên cứu đưa ra dựa trên nền tảng lý thuyết phát triển du lịch bền vững, lý thuyết hành vi dự định TPB ứng dụng cho du lịch và lý thuyết thái

độ Mô hình nghiên cứu khai thác thành phần thái độ ảnh hưởng đến ý định của cộng đồng địa phương đối với phát triển du lịch bền vững Các thành phần thái độ đối với phát triển du lịch bền vững của cộng đồng địa phương bao gồm có năm thành phần: (1) Thái độ đối với bảo về môi trường; (2) Thái độ đối với bảo vệ tài nguyên du lịch; (3) Thái độ đối với bảo về cơ sở hạ tầng kinh doanh; (4) Thái độ đối với bảo vệ giá trị bản sắc văn hóa địa phương; (5) Thái độ đối với giữ gìn an ninh trật tự xã hội cho phát triển du lịch

[2] Nghiên cứu của Eshliki và Kaboudi (2011)với chủ đề “Community Perception

of Tourism Impacts and Their Participation in Tourism Planning: A Case Study of Ramsar, Iran” được trình bày trong hội thảo quốc tế Procedia - Social and Behavioral Sciences Mục đích của nghiên cứu này là để khám phá và phân tích mối quan hệ giữa tác động của du lịch đối với chất lượng cuộc sống trong cộng đồng địa phương và mức

độ tham gia của họ trong các chương trình nâng cao chất lượng du lịch Bãi biển của Ramsar ở Iran được chọn là một nghiên cứu trường hợp Kết quả phân tích cho thấy rằng du lịch có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống trong cộng đồng địa phương Cũng

có một mối liên quan giữa các yếu tố thuộc thái độ của cộng đồng đến chất lượng cuộc sống cộng đồng và mức độ tham gia của họ với các chương trình phát triển du lịch bền

Trang 36

vững tại Iran Kết quả nghiên cứu một lần nữa chứng minh vai trò quan trọng của cộng đồng địa phương trong việc đóng góp vào sự phát triển du lịch

[3] Nghiên cứu của Muganda và cộng sự (2013) với chủ đề “The Role of Local

Communities in Tourism Development: Grassroots Perspectives from Tanzania” được

đăng trên Tạp chí Journal of Human Ecology Nghiên cứu đãchỉ ra rằng sự tham gia của cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch không thể bị bỏ qua do vai trò quan trọng của họ Jamal và Stronza (2009) khẳng định rằng liên quan đến các cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch trong và xung quanh các khu vực được bảo vệ là rất quan trọng trong việc thu hẹp khoảng cách giữa quản lý và sử dụng nguồn lực tại một địa điểm du lịch Ngoài sự đóng góp kinh tế mà cộng đồng địa phương có thể thu được từ du lịch, sự tham gia của họ vào phát triển du lịch cũng có thể có lợi cho phát triển du lịch vì họ có thể tạo ra Các cộng đồng địa phương có thể tham gia vào việc xác định và quảng bá tài nguyên du lịch và các hoạt động thương mại tạo cơ sở cho sự phát triển du lịch cộng đồng Để đạt được sự ra đời lâu dài, cộng đồng cần phải là những người tham gia tích cực thay vì những người quan sát thụ động,Jamieson (2001) được trích dẫn ở Pongponrat (2011) lưu ý rằng sự tham gia trực tiếp hơn của địa phương vào quá trình ra quyết định có thể cho phép cư dân yêu cầu một phần lợi ích thuế cụ thể từ du lịch được phân bổ cho phát triển cộng đồng và bảo vệ cơ sở nguồn lực du lịch Điều này phù hợp với Sanoff (2000), người duy trì mục đích chính của sự tham gia của cộng đồng là tham gia vào việc thiết kế và quá trình ra quyết định Tiếp tục lập luận rằng sự tham gia của cộng đồng vào việc ra quyết định làm tăng lòng tin và niềm tin của người dân với ngành công nghiệp du lịch này

Nó cũng cung cấp cho cộng đồng địa phương tiếng nói trong quan điểm và ra quyết định để cải thiện kế hoạch, cung cấp dịch vụ, và cuối cùng, thúc đẩy lòng tin của cộng đồng bằng cách mang lại cho nhau những người chia sẻ các mục tiêu chung (Pongponrat, 2011) Kết quả nghiên cứu một lần nữa chứng minh quan điểm quan trọng của cộng đồng địa phương trong việc đóng góp vào sự phát triển du lịch

[4] Nghiên cứu của Fun và cộng sự (2014) với chủ đề “The impact of local

communities’ involvement and relationship quality on sustainable rural tourism in rural area, Sarawak The moderating impact of self-efficacy” được trình bày trong Hội

thảo quốc tế Procedia - Social and Behavioral Sciences Nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự tham gia của cộng đồng có thể được định nghĩa là mức độ mà cư dân tham gia vào các

Trang 37

hoạt động hàng ngày trong các cộng đồng mà họ sống (Lee, 2013) Do đó, phát triển

du lịch sẽ thành công hơn với sự tham gia của cộng đồng địa phương vì nhận thức và thái độ của họ rất quan trọng đối với những người ra quyết định để đạt được du lịch nông thôn bền vững (Eshliki & Kaboudi, 2012)

Nghiên cứu này có một số đóng góp về mặt lý thuyết và thực tiễn cho cả học giả và các học viên, đặc biệt là trong lĩnh vực các bên liên quan đến du lịch Về mặt lý thuyết, nghiên cứu này cung cấp cơ sở cho các nhà nghiên cứu tiếp tục kiểm tra mối quan hệ tích hợp giữa sự tham gia của cộng đồng địa phương và chất lượng mối quan

hệ đối với du lịch nông thôn bền vững với sự tự tin là một người điều tiết trong bối cảnh ngành du lịch ở Sarawak Từ góc nhìn thực tế, những phát hiện trong nghiên cứu này có thể cung cấp thông tin có giá trị cho các bên liên quan đến du lịch để đạt được

du lịch bền vững nói chung và du lịch nông thôn nói riêng Do đó, nghiên cứu này rất hữu ích cho các bên liên quan du lịch hiểu được tầm quan trọng của sự tham gia của cộng đồng và chất lượng mối quan hệ với sự tự tin là người điều tiết để duy trì và đạt được lợi thế cạnh tranh trong du lịch nông thôn

[5] Nghiên cứu của Lai (2003) với chủ đề “Community participation in

sustainable tourism - A case study of two indigenous communities” được đăng trên Tạp

chí Review of Tourism Research Nghiên cứu đã làm rõ mặc dù sự tham gia của địa phương vào phát triển du lịch bền vững đã được ủng hộ rộng rãi, nhưng động viên các thành viên cộng đồng không bao giờ là một nhiệm vụ dễ dàng Từ nghiên cứu này, người ta thấy rằng hành vi cư trú tham gia vào du lịch bền vững bị cản trở ngay cả khi thái độ tích cực đã được thể hiện Nghiên cứu không chỉ cung cấp sự hiểu biết về nhận thức và mối quan tâm của địa phương về phát triển cộng đồng và du lịch khu vực có bảo vệ mà còn khuyến khích thảo luận địa phương về các vấn đề có liên quan Mục đích của nghiên cứu này là để khám phá những mối quan tâm địa phương và nhận thức

về phát triển du lịch tại hai cộng đồng bản địa và một khu bảo tồn thiên nhiên kết hợp với cộng đồng

Trang 38

2.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất

2.4.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Hình 2.5: Đề xuất mô hình nghiên cứu của tác giả 2.4.2 Phát triển các giả thuyết nghiên cứu

Thái độ của cộng đồng đối với bảo vệ môi trường, nghiên cứu trước chỉ ra rằng cộng đồng càng có ý thức tốt với bảo vệ môi trường, nỗ lực tham gia các hoạt đông bảo

vệ môi trường với thái độ tích cực Họ càng có mong muốn/ý định/ dự định tham gia các hoạt động bảo vệ du lịch bền vững (Eshliki & Kaboudi, 2001) Từ kết quả nghiên cứu trên, trong nghiên cứu này tác giả cho rằng một khi cộng đồng có ý thức, thái độ tích cực với việc bảo vệ môi trường, ý định/ khả năng tham gia các chương trình du lịch bền vững càng cao Vì vậy, giả thuyết H1 được đề xuất như sau:

Giả thuyết H1: Cộng đồng địa phương có thái độ tích cực với việc bảo vệ môi trường, ý định tham gia các chương trình phát triển du lịch bền vững càng tăng

Thái độ tích cực đối với bảo vệ tài nguyên du lịch, mức độ tham gia của họ vào chương trình phát tiển du lịch càng tăng: Tài nguyên du lịch, dù là tài nguyên tự nhiên hay tài nguyên văn hóa, các nghiên cứu trước cho thấy rằng cộng đồng càng có ý thức tốt với bảo vệ tài nguyên du lịch, các tài nguyên văn hóa càng được tích cực bảo vệ và phát huy các giá trị của nó, tài nguyên thiên nhiên được tôn trọng và bảo vệ tính nguyên sơ Họ càng có mong muốn/ý định/dự định tham gia các hoạt động bảo vệ du lịch bền vững (Eshliki và Kaboudi, 2001) Từ kết quả nghiên cứu trên, trong nghiên cứu này tác giả cho rằng một khi cộng đồng có ý thức, thái độ tích cực với việc bảo vệ

Mức độ tham gia của cộng đồng địa phương đến phát triển bền vững du lịch tại thành phố Tuy Hòa

Trang 39

tài nguyên du lịch, ý định tham gia các chương trình du lịch bền vững càng cao Giả thuyết H2 được đề xuất như sau:

Giả thuyết H2: Cộng đồng địa phương có thái độ tích cực đối với bảo vệ tài nguyên du lịch, mức độ tham gia của họ vào chương trình phát tiển du lịch càng tăng

Cộng đồng địa phương có thái độ tích cực đối với giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn

xã, mức độ tham gia của họ vào chương trình phát tiển du lịch càng tăng: Mặc dù giữ gìn an ninh, an toàn trật tự xã hội là nhiệm vụ chính của công an, chính quyền địa phương, nhưng một khi có sự giúp sức, đấu tranh chống tệ nạn xã hội của người dân thì công tác giữ gìn an ninh, an toàn trật tự xã hội được đảm bảo hơn Các nghiên cứu trước chỉ ra rằng thái độ tốt của người dân đối với việc giữ gìn an ninh, an toàn trật tự

xã hội họ đấu tranh làm cho xã hội an toàn, văn minh Họ càng có mong muốn/ý định/dự định tham gia các hoạt động bảo vệ du lịch bền vững (Eshliki và Kaboudi, 2001) Từ kết quả nghiên cứu trên, trong nghiên cứu này tác giả cho rằng một khi cộng đồng có ý thức, thái độ tích cực với việc giữ gìn an ninh, an toàn trật tự xã hội, ý định/khả năng tham gia các chương trình du lịch bền vững càng cao Vì vậy, giả thuyết H3 được đề xuất như sau:

Giả thuyết H3: Cộng đồng địa phương có thái độ tích cực đối với giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã,mức độ tham gia của họ vào chương trình phát tiển du lịch càng tăng

Thái độ cộng đồng địa phương có thái độ tích cực đối với sự tham gia đầu tư kinh doanh du lịch, mức độ tham gia của họ vào chương trình phát tiển du lịch càng tăng: Cơ sở hạ tầng kinh doanh du lịch tốt sẽ mang lại sự nhanh chóng và thuận tiện cho sinh hoạt của cộng đồng cũng như phục vụ tốt cho việc phát triển du lịch Các nghiên cứu chỉ ra rằng người dân có thái độ tốt đối với bảo vệ cơ sở vật chất - hạ tầng,

họ tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ cơ sở vật chất - hạ tầng Họ càng có mong muốn/ý định/dự định tham gia các hoạt động bảo vệ du lịch bền vững (Eshliki và Kaboudi, 2001) Từ kết quả nghiên cứu trên, trong nghiên cứu này tác giả cho rằng một khi cộng đồng có ý thức, thái độ tích cực với việc bảo vệ cơ sở vật chất - hạ tầng,

ý định/khả năng tham gia các chương trình du lịch bền vững càng cao Vì vậy, giả thuyết H4 được đề xuất như sau:

Trang 40

Giả thuyết H4: Cộng đồng địa phương có thái độ tích cực đối với sự tham gia đầu tư kinh doanh du lịch, mức độ tham gia của họ vào chương trình phát tiển du lịch càng tăng

Cộng đồng địa phương có thái độ tích cực đối với hài lòng của khách du lịch mức

độ tham gia của họ vào chương trình phát tiển du lịch càng tăng: Sự hài lòng cũng đã được sử dụng như một công cụ giúp đánh giá những trải nghiệm trong quá khứ, sự thực hiện các sản phẩm/dịch vụ, và nhận thức các yếu tố môi trường xung quanh thông qua sử dụng các sản phẩm/ dịch vụ như: dịch vụ vui chơi giải trí ngoài trời, dịch vụ tại một điểm đến du lịch Thêm vào đó sự hài lòng cũng liên quan đến sự lựa chọn điểm đến của du khách, mức tiêu dùng các sản phẩm/ dịch vụ và quyết định quay trở lại của

họ (Alegre& juaneda, 2006) Vì vậy, giả thuyết H5 được đề xuất như sau:

Giả thuyết H5: Cộng đồng địa phương có thái độ tích cực đối với hài lòng của khách du lịch mức độ tham gia của họ vào chương trình phát tiển du lịch càng tăng

Tóm tắt chương 2

Chương này đề cập đến lý thuyết liên quan đến phát triển du lịch bền vững, cộng đồng địa phương và vai trò của họ trong việc phát triển du lịch bền vững Dựa trên nền tảng lý thuyết về phát triển du lịch bền vững và mô hình TPB, lý thuyết trao đổi xã hội tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu TPB ứng dụng trong lĩnh vực du lịch Bên cạnh đó là

mô hình riêng nghiên cứu tác động của các thành phần thái độ ảnh hưởng đến ý định tham gia phát triển du lịch bền vững

Ngày đăng: 21/05/2018, 09:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w