TRÍCH YẾU LUẬN VĂNĐề tài: “Nghiên cứu thái độ của cộng đồng địa phương đến phát triển bền vững du lịch biển đảo tại huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi” được thực hiện với mục đích đánh giá th
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn: “Nghiên cứu thái độ của cộng đồng địa phương
đến phát triển bền vững du lịch biển đảo tại huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi” là
công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Tất cả số liệu và những trích dẫn trong luận văn này đều có nguồn gốc chính xác và rõ ràng
Những phân tích của Luận văn cũng chưa từng công bố ở bất kỳ công trình nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan trên
Nha Trang, 20 tháng 12 năm 2017
Tác giả
Bùi Thị Hồng Loan
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tác giả xin kính gửi đến thầy hướng dẫn TS Lê Chí Công lời biết ơn chân thành nhất Với sự hướng dẫn tận tâm, trách nhiệm và khoa học của thầy đã giúp tác giả hoàn thành Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Tác giả xin chân thành cảm ơn trường Đại học Nha Trang, Khoa Kinh tế Phát triển, các thầy cô tham gia chương trình giảng dạy, cùng các thầy, cô giảng viên trong
và ngoài trường Dựa vào các chương trình, bài giảng của thầy cô, tác giả đã hoàn thành Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình
Cuối cùng, tác giả xin gửi đến những người thân, cha mẹ, bạn bè, đồng nghiệp và cộng đồng địa phương ở huyện Lý Sơn Quảng Ngãi những lời chúc tốt đẹp nhất Chính sự quan tâm, hỗ trợ của những người thân là động lực to lớn giúp tác giả hoàn thành Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Trân trọng cảm ơn !
Nha Trang, 20 tháng 12 năm 2017
Tác giả
Bùi Thị Hồng Loan
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH x
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 5
2.1 Cơ sở lý thuyết về phát triển du lịch bền vững 5
2.1.1 Phát triển bền vững 5
2.1.2 Phát triển du lịch bền vững 7
2.1.3 Một số tiêu chí đánh giá phát triển bền vững du lịch biển đảo 8
2.2 Lý thuyết liên quan đến thái độ tham gia của cộng đồng địa phương đến phát triển bền vững du lịch biển đảo 10
2.2.1 Cộng đồng địa phương 10
2.2.2 Lý thuyết hành vi trong tham gia phát triển du lịch bền vững 12
2.2.3 Thái độ tham gia phát triển du lịch bền vững của cộng đồng địa phương 14
2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến thái độ của cộng đồng địa phương đến phát triển du lịch bền vững 15
2.3.1 Các nghiên cứu trong nước 15
2.3.2 Các nghiên cứu nước ngoài 16
2.4 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu 20
2.4.1 Phát triển các giả thuyết nghiên cứu 20
2.4.2 Mô hình đề xuất nghiên cứu 23
Tóm tắt chương 2 24
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN 25
3.1 Thiết kế nghiên cứu 25
3.1.1 Phương pháp nghiên cứu 25
3.1.2 Quy trình nghiên cứu 25
Trang 63.1.3 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 26
3.1.4 Xây dựng thang đo 27
3.1.5 Phương pháp xử lý thông tin 29
Tóm tắt chương 3 31
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 32
4.1 Tổng quan về sự phát triển du lịch 32
4.1.1 Tổng quan về sự phát triển du lịch Quảng Ngãi 32
4.1.2 Tổng quan phát triển du lịch Lý Sơn, Quảng Ngãi 34
4.2 Kết quả nghiên cứu 37
4.2.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 38
4.2.2 Thống kê mẫu 42
4.2.3 Đánh giá độ tin cậy của thang đo 43
4.2.4 Phân tích nhân tố khám phá - EFA 47
4.2.5 Hiệu chỉnh thang đo các biến độc lập 51
4.2.6 Phân tích hồi quy 52
4.2.7 Kiểm định Anova 58
Tóm tắt chương 4 62
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 63
5.1 Kết luận từ mục tiêu nghiên cứu 63
5.2 Một số hàm ý chính sách dựa trên kết quả nghiên cứu đã đạt được 64
5.2.1 Hình thành thái độ tích cực của cộng đồng đối với bảo vệ môi trường (ảnh hưởng lớn nhất, beta = 0,308) 64
5.2.2 Hình thành thái độ tích cực của cộng đồng đối với bảo vệ tài nguyên 66
5.2.3 Hình thành thái độ tích cực với giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội 67
5.2.4 Hình thành thái độ tích cực với sự tham gia đầu tư kinh doanh du lịch 69
5.2.5 Hình thành thái độ tích cực đối với sự gia tăng du khách 70
5.2.6 Hình thành thái độ của cộng đồng địa phương đến phát triển bền vững du lịch biển đảo tại huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi 71
5.3 Một số kiến nghị 73
5.3.1 Đối với cơ quan quản lý du lịch tại địa phương 73
5.3.2 Đối với các doanh nghiệp kinh doanh du lịch 74
5.3.3 Đối với cộng đồng dân cư 75
Trang 75.3.4 Đối với khách du lịch 76
5.4 Những hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 77
5.4.1 Những hạn chế của đề tài 77
5.4.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài 77
Tóm tắt chương 5 78
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Giải thích cụ thể các nhân tố 17
Bảng 2.2: Giải thích nhân tố mô hình nghiên cứu Eshliki & Kaboudi (2011) 19
Bảng 3.1: Xây dựng thang đo 27
Bảng 4.1: Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 38
Bảng 4.2: Các hoạt động liên quan đến du lịch đã tham gia 39
Bảng 4.3: Mức độ đã tham gia hoạt động liên quan đến Chương trình phát triển bền vững du lịch biển đảo (n=231) 40
Bảng 4.4: Khi tham gia các chương trình phát triển bền vững du lịch, tôi cảm thấy (n=231) 41
Bảng 4.5: Giá trị mang lại của việc tham gia chương trình phát triển bền vững du lịch biển đảo (n=231) 42
Bảng 4.6: Kết quả phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha nhân tố “Thái độ tích cực với bảo vệ môi trường du lịch biển đảo” 43
Bảng 4.7: Kết quả phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha nhân tố “Thái độ tích cực với bảo vệ tài nguyên du lịch biển đảo” 44
Bảng 4.8: Kết quả phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha nhân tố “Thái độ tích cực với bảo vệ tài nguyên du lịch biển đảo”sau khi loại biến quan sát TN2 44
Bảng 4.9: Kết quả phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha nhân tố “Thái độ tích cực với giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội” 45
Bảng 4.10: Kết quả phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha nhân tố “Thái độ tích cực với sự tham gia đầu tư kinh doanh du lịch” 45
Bảng 4.11: Kết quả phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha nhân tố “Thái độ tích cực với sự tham gia đầu tư kinh doanh du lịch” sau khi loại biến quan sát ĐT3 46
Bảng 4.12: Kết quả phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha nhân tố “Thái độ tích cực đối với sự gia tăng du khách” 46
Bảng 4.13: Kết quả phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha nhân tố “Mức độ tham gia của cộng đồng địa phương đến phát triển du lịch bền vững biển đảo” 47
Bảng 4.14: Kiểm định KMO và Bartlett cho các biến độc lập 47
Bảng 4.15: Bảng phương sai trích khi phân tích nhân tố Total VarianceExplained (Phương sai trích) cho các biến độc lập 48
Trang 10Bảng 4.16: Bảng kết quả Rotated Component Matrix cho các biến độc lập 49
Bảng 4.17: Kiểm định KMO và Bartlett cho biến phụ thuộc 50
Bảng 4.18: Bảng phương sai trích khi phân tích nhân tố Total Variance Explained (Phương sai trích) cho biến phụ thuộc 50
Bảng 4.19: Bảng kết quả Rotated Component Matrix cho biến phụ thuộc 50
Bảng 4.20: Các biến quan sát của mô hình nghiên cứu điều chỉnh 51
Bảng 4.21: Hệ số tương quan 52
Bảng 4.22: Phân tích các hệ số hồi quyb 53
Bảng 4.23: Kết quả kiểm định độ phù hợp của mô hình 54
Bảng 4.24: Kết quả phân tích hồi quy theo phương pháp Enter 54
Bảng 4.25: Kiểm định Levene - giới tính 58
Bảng 4.26: Kiểm định Anova - giới tính 59
Bảng 4.27: Kiểm định Levene - trình độ học vấn 59
Bảng 4.28: Kiểm định Anova - trình độ học vấn 60
Bảng 4.29: Kiểm định Levene - thu nhập 60
Bảng 4.30: Kiểm định Anova - thu nhập 61
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Mô hình phát triển bền vững theo quan điểm của Jordan Ryan 5
Hình 2.2: Mô hình phát triến bền vững của ngân hàng Thế giới World Bank 6
Hình 2.3: Mô hình phát triến bền vững của Villen (1990) 6
Hình 2.4: Thuyết hành động hợp lý TRA 12
Hình 2.5: Thuyết hành vi dự định (TPB) 13
Hình 2.6: Mô hình đánh giá sự tham gia của CĐĐP trong ngành du lịch 16
Hình 2.7: Đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu 23
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 26
Hình 4.1: Hình ảnh các điểm đến của du lịch Quảng Ngãi 33
Hình 4.2: Hình ảnh các điểm đến của du lịch Quảng Ngãi 34
Hình 4.3: Biểu đồ tần số Histogram 56
Hình 4.4: Biểu đồ Q-Q plot 57
Hình 4.5: Biếu đồ phân tán Scatterplot 57
Trang 12TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Đề tài: “Nghiên cứu thái độ của cộng đồng địa phương đến phát triển bền vững
du lịch biển đảo tại huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi” được thực hiện với mục đích đánh giá thực trạng tham gia phát triển du lịch biển đảo của cộng đồng địa phương tại huyện đảo Lý Sơn trong thời gian qua, khẳng định tầm quan trọng của cộng đồng địa phương trong việc phát triển du lịch bền vững Đồng thời, nghiên cứu các yêu tố ảnh hưởng đến thái độ tham gia của cộng đồng trong việc phát triển du lịch bền vững Trên
cơ sở đó, tác giả đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao thái độ của cộng đồng địa phương trong việc phát triển du lịch biển đảo bền vững
Dựa vào các lý thuyết về hành vi, thái độ tham gia của cộng đồng địa phương trong phát triển bền vững; các mô hình nghiên cứu trên thế giới và nghiên cứu trong nước về các vấn đề có liên quan đến thái độ của cộng đồng địa phương trong phát triển
du lịch bền vững Tác giả đã đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu thái độ của cộng đồng địa phương đến phát triển bền vững du lịch biển đảo tại huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi Mô hình lý thuyết cho thấy có 5 yếu tố tác động đến thái độ của cộng đồng Cụ thể như sau: (1) Thái độ đối với bảo vệ môi trường; (2) Thái độ đối với bảo vệ tài nguyên du lịch; (3) Thái độ đối với giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội; (4) Thái
độ đối với tham gia đầu tư kinh doanh du lịch; (5) Thái độ đối với sự gia tăng du khách
Dữ liệu thu thập từ việc phát bảng câu hỏi khảo sát đến cộng đồng địa phương ở
03 xã: An Vĩnh, An Bình, An Hải huyện Lý Sơn tỉnh Quảng Ngãi với cỡ mẫu là 231 phiếu hợp lệ Dữ liệu sau khi được thu thập về sẽ tiến hành mã hóa, nhập số liệu, làm sạch với phần mềm SPSS 22.0 và xử lý bằng kỹ thuật phân tích độ tin cậy thông qua
hệ số Cronbach’s Alpha, Phân tích nhân tố khám phá EFA và mô hình hồi quy tuyến tính Kết quả nghiên cứu cho thấy: 5/5 yếu tố tác động có ý nghĩa thống kê đến thái độ của cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch biển Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao thái
độ tham gia của cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch biển Lý Sơn trong thời gian tới
Từ khóa: Thái độ, cộng đồng địa phương, du lịch bền vững, Lý Sơn, Quảng Ngãi.
Trang 13CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Sự cần thiết của nghiên cứu
Du lịch được mệnh danh là ngành công nghiệp không khói, lợi ích của nó mang lại vô cùng to lớn không chỉ về mặt kinh tế mà còn đem lại hiệu quả xã hội tích cực, có
ý nghĩa quan trọng đối với công cuộc xóa đói giảm nghèo Nhu cầu đi du lịch ngày càng phổ biến và đã trở thành nhu cầu không thể thiếu trong xã hội Cũng vì vậy mà các loại hình du lịch phát triển ngày một đa dạng, phong phú Với những thế mạnh vốn
có của Việt Nam như thiên nhiên phong phú, đa dân tộc, truyền thống văn hóa sâu sắc độc đáo, con người hiếu khách thân thiện, Việt Nam đang hướng tới những loại hình
du lịch bền vững Trong đó đang được chú trọng mạnh là loại hình du lịch biển đảo Hơn nữa, xã hội phát triển ngày nay nhiều khi làm con người phải sống quá nhanh với nhịp độ công nghiệp, người ta mong muốn trở về với tự nhiên, tìm hiểu môi trường văn hóa, trải nghiệm cuộc sống chân thực mang đậm màu sắc văn hóa bản điạ Do vậy
mà du lịch biển đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi ngày càng khẳng định những lợi thế và tiềm năng phát triển mạnh mẽ trong tương lai
Đảo Lý Sơn (Cù lao Ré), cách cửa biển Sa kỳ khoảng 14 hải lý, với diện tích hơn
10 km2 Đảo có 03 xã: An Vĩnh, An Hải và An Bình Đảo Lý Sơn được mệnh danh là một hòn đảo thiên đường với khung cảnh thiên nhiên hoang sơ, kì thú Trên đảo có 4
di tích cấp quốc gia và nhiều di tích, thắng cảnh nổi tiếng như miệng núi lửa Giếng Tiền và Thới Lới, các loại hình văn hóa tín ngưỡng đặc sắc mà tiêu biểu và độc đáo nhất là Lễ Khao lề thế lính Hoàng sa Lý Sơn còn được xem là bảo tàng sống động, lưu giữ các bằng chứng lịch sử về chủ quyền Việt Nam trên biển Đông Theo số liệu của Phòng Nghiệp vụ Du lịch thuộc Sở VHTTDL tỉnh Quảng Ngãi, tổng lượt khách năm
2016 đạt hơn 650 nghìn người (đạt 108% kế hoạch), trong đó có 55 nghìn lượt khách quốc tế (đạt 110% kế hoạch) Tổng thu du lịch cả năm đạt 560 tỷ đồng (đạt 102% kế hoạch) Trong những năm gần đây, các chỉ số đạt được trong hoạt động du lịch của tỉnh năm sau cao hơn hẳn so với năm trước Đối với Lý Sơn, lượt khách đến tham quan tăng mạnh Năm 2016, có 109.334 lượt khách đến Lý Sơn, so với năm 2015 tăng 198,5%, đây là con số kỷ lục Trong dịp lễ 30/4 và 1/5 năm 2016, lượng khách đến Lý Sơn tăng gấp 300 lần so với cùng kỳ Đây là minh chứng cho thấy, sức hút ngày một mạnh mẽ của Quảng Ngãi trên bản đồ du lịch
Trang 14Tuy nhiên, tiềm năng và thế mạnh du lịch biển đảo Lý Sơn vẫn chưa được khai thác đúng mức và hiệu quả, sự đóng góp của ngành du lịch cho nền kinh tế của tỉnh còn thấp Nguyên nhân chủ yếu là do việc đầu tư phát triển du lịch mới chỉ dựa trên cái mình có sẵn và làm theo cách dễ nhất, ít quan tâm đến nhu cầu, thị hiếu của khách du lịch Đặc biệt, vai trò của người dân địa phương trong phát triển du lịch vẫn chưa thật
sự chú trọng Nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng, một trong những yếu tố cốt lõi của
sự phát triển du lịch là sự tham gia và vai trò của cộng đồng dân cư địa phương, vì nó
là trung tâm của sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp du lịch (Hall và cộng
sự, 2005) Nếu không có những chính sách và giải pháp để cải thiện, nâng cao vai trò của người dân địa phương thì hình ảnh điểm đến du lịch biển đảo Lý Sơn sẽ đi xuống không còn hấp dẫn khách du lịch
Cộng đồng dân cư địa phương đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển du lịch (Hall và cộng sự, 2005) Tuy nhiên, nhận thức và chủ động phát huy vai trò của cộng đồng trong phát triển du lịch vẫn còn hạn chế ở Việt Nam nói chung và huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi nói riêng Với mong muốn được góp sức đưa du lịch tỉnh nhà phát triển đến đỉnh cao sánh ngang cùng các tỉnh bạn trong khu vực Tôi quyết định
chọn đề tài “Nghiên cứu thái độ của cộng đồng địa phương đến phát triển bền vững
du lịch biển đảo tại huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi” nhằm tìm ra các yếu tố quan
trọng ảnh hưởng đến thái độ của cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch, từ đó có
hướng đi đúng đắn để phát triển du lịch biển đảo Lý Sơn theo hướng bền vững
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát:
Mục tiêu tổng quát của đề tài là nghiên cứu vai trò của cộng đồng dân cư địa phương trong phát triển du lịch bền vững biển đảo Lý Sơn Từ đó, giúp cho nâng cao thái độ của cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch biển đảo Lý Sơn thời gian tới
Mục tiêu cụ thể:
- Xây dựng mô hình các yếu tố cấu thành thái độ cộng đồng địa phương ảnh
hưởng đến sự tham gia của họ trong phát triển du lịch biển đảo tại Lý Sơn;
- Phân tích mức độ tác động của các yếu tố đến đến sự tham gia của cộng đồng
Trang 15địa phương trong phát triển du lịch biển đảo tại Lý Sơn;
- Đề xuất một số kiến nghị chính sách phù hợp nhằm thúc đẩy hành vi của cộng đồng tham gia phát triển du lịch biển đảo Lý Sơn theo hướng bền vững
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Có những yếu tố nào thuộc thái độ cộng đồng ảnh hưởng đến hành vi tham gia phát triển du lịch biển đảo Lý Sơn theo hướng bền vững?
- Mức độ tác động của các yếu tố này đến hành vi tham gia phát triển du lịch biển đảo Lý Sơn theo hướng bền vững như thế nào?
- Làm thế nào để đẩy mạnh hành vi tham gia phát triển du lịch biển đảo Lý Sơn theo hướng bền vững của cộng đồng địa phương?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Khung lý thuyết phát triển bền vững, lý thuyết hành vi
tiêu dùng trong du lịch, các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia phát triển du lịch biển
đảo Lý Sơn theo hướng bền vững
Đối tượng khảo sát: Cộng đồng địa phương (những người đang sinh sống và
làm việc trên địa bàn huyện đảo Lý Sơn)
Phạm vi nghiên cứu
Đề tài thực hiện khảo sát trên địa bàn huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian từ tháng 5/2017 đến tháng 6/2017
1.5 Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu sẽ giúp tìm ra được các nhân tố thuộc về cộng đồng địa phương có ảnh hưởng đến sự tham gia của họ vào phát triển du lịch biển đảo Lý Sơn theo hướng bền vững, trong đó nhân tố nào có ý nghĩa quan trọng nhất Các kết quả nghiên cứu sẽ giúp các nhà quản lý du lịch và chính quyền địa phương trong huyện tìm
ra các biện pháp nhằm tăng cường hành vi tham gia phát triển du lịch biển đảo Lý Sơn theo hướng bền vững, góp phần ngăn chặn và làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu; đồng thời vạch ra được hướng đi đúng đắn và bền vững cho sự phát triển của ngành du lịch huyện đảo Lý Sơn trong thời gian tới Ngoài ra kết quả nghiên cứu còn có giá trị tham khảo đối với những đề tài tương tự sau này
Trang 161.6 Kết cấu luận văn
Ngoài lời cảm ơn, trích yếu luận văn, và phần kết luận, luận văn được trình bày bao gồm 05 chương, cụ thể như sau:
Chương 1 Giới thiệu chung về vấn đề nghiên cứu Trong chương này tác giả đã làm rõ tính cấp thiết nghiên cứu dưới góc độ lý luận và thực tiễn, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của kết quả nghiên cứu
Chương 2 Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trong chương này, tác giả đã trình bày các học thuyết liên quan đến phát triển du lịch bền vững; mô hình lý thuyết
về thái độ, hành vi tham gia của cộng đồng trong việc phát triển du lịch bền vững Trên cơ sở lý thuyết trên, tác giả đề xuất các giả thuyết và mô hình nghiên cứu về thái
độ của cộng đồng địa phương đến phát triển bền vững du lịch biển tại huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu Trong chương này, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Sau khi thu thập dữ liệu, tác giả
sử dụng phần mềm SPSS 22.0 để xử lý, phân tích dữ liệu và nhận xét
Chương 4 Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chương bốn đề cập đến kết quả mô
tả dữ liệu định tính và định lượng Đồng thời, phân tích mô hình hồi qui bội về thái độ của cộng đồng địa phương đến phát triển bền vững du lịch biển đảo tại huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi
Chương 5 Kết luận và hàm ý chính sách Trong chương này, tác giả kết luận mục tiêu nghiên cứu của đề tài Đồng thời, đề xuất một số hàm ý chính sách nâng cao thái độ của cộng đồng địa phương đến phát triển bền vững du lịch biển đảo tại huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi
Trang 17CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý thuyết về phát triển du lịch bền vững
2.1.1 Phát triển bền vững
Từ thế kỷ XIX, qua thực tiễn quản lý rừng ở Đức, người ta đã đề cập tới sự “phát
triển bền vững” Nhưng mãi đến thập kỷ 80 của thế kỷ XX, khái niệm này mới được phổ biến tương đối rộng rãi
Năm 1980, IUCN cho rằng “phát triển bền vững” phải và cân nhắc đến việc khai thác các tài nguyên có khả năng phục hồi và không phục hồi, cần xem xét các điều kiện khó khăn cũng như thuận lợi trong việc tổ chức xen kẽ các hoạt động ngắn và dài hạn Đến năm 1987, ủy ban môi trường và phát triển thế giới WCED do bà Grohalem Brandtland thành lập đã công bố thuật ngữ “phát triển bền vững” trong bản báo cáo
“Tương lai chúng ta” như sau: “Phát triển bền vững được hiểu là sự phát triển có thể đáp ứng những điều kiện hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”
Theo ông Ryan - đại diện thường trú của UNDP tại Việt Nam thì “phát triển bền vừng là một quá trình đảm bảo tăng tối đa phúc lợi của xã hội và xóa bỏ đói nghèo thông qua việc quản lỷ ở mức tối ưu và có hiệu quá tài nguyên thiên nhiên” Ông khẳng định phát triển bền vững nằm ở phần giao nhau của 3 vòng tròn: bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường Cũng theo ông, chúng ta không nên coi phát triển bền vững như một phương tiện thuận lợi để gom tất cả các vấn đề về kinh tế,
xã hội và môi trường lại với nhau, mà cần có một quan điểm toàn diện để đảm bảo các chính sách có tác dụng hỗ trợ thay vì mâu thuẫn nhau
Hình 2.1: Mô hình phát triển bền vững theo quan điểm của Jordan Ryan
Trang 18Trong Hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất tháng 6 năm 1992 tại Rio De Janeiro,
“phát triển bền vững được hình thành trong sự hòa nhập, xen cài và thỏa hiệp giữa ba hệ thống là hệ tự nhiên, hệ kinh tế và hệ xã hội
Ngày nay, tất cả các quốc gia đều đề cập đến “phát triển bền vững” trong quá trình hoạch định chính sách và quản lý phát triển kinh tế với ý muốn nhấn mạnh phương thức
và việc sử dụng có trách nhiệm các nguồn lực của sự phát triển
Tuy hiện nay có khá nhiều quan điểm khác nhau về phát triển bền vững, song tựu trung, tất cả đều thống nhất ở các nội dung sau: “Phát triển bền vững là sự phát triển hài hòa cả về 3 mặt: Kinh tế, xã hội và môi trường để đáp ứng những nhu cầu về đời sống
vật chất, văn hóa, tinh thần của thế hệ hiện tại nhưng không làm tồn hại, gây trở ngại
đến khả năng cung cấp tài nguyên để phát triển kinh tế - xã hội mai sau, không làm giảm chất lượng cuộc sống của các thế hệ trong tương lai”
Hình 2.2: Mô hình phát triến bền vững của ngân hàng Thế giới World Bank
Hình 2.3: Mô hình phát triến bền vững của Villen (1990)
Trang 19Như vậy, muốn phát triển bền vững thì phải cùng đồng thời thực hiện ba mục tiêu: (1) Phát triển có hiệu quả về kinh tế; (2) Phát triển hài hòa các mặt xã hội; nâng cao mức sống, trình độ sống của các tầng lớp dân cư; (3) Cải thiện môi trường môi sinh, bảo đảm phát triển lâu dài vững chắc cho thế hệ hôm nay và mai sau (Hình 2.2 và Hình 2.3)
2.1.2 Phát triển du lịch bền vững
Theo WTO (1992) đưa ra tại hội nghị về môi trường và phát triển của Liên hợp
quốc tại Rio de Janerio thì “Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho phát triển hoạt động du lịch trong tương lai Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái
và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người” (Phạm Trung Lương, 2002)
Phát triển du lịch bền vững là hoạt động khai thác có quản lý các giá trị tự nhiên
và nhân văn nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai; cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương
Du lịch bền vững là việc di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một cách
có trách nhiệm với môi trường để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên (và tất cả những đặc điểm văn hoá kèm theo, có thể là trong quá khứ và cả hiện tại) theo cách khuyến cáo về bảo tồn, có tác động thấp từ du khách và mang lại những lợi ích cho sự tham gia chủ động về kinh tê - xã hội của cộng đồng địa phương (WTO, 2002) Du lịch bền vững có 3 hợp phần chính (Kibert và cộng sự, 2011), đôi khi được ví như “ba chân”
như sau:
Thứ nhất là thân thiện môi trường, du lịch bền vững có tác động thấp đến nguồn lợi tự nhiên, giảm thiểu các tác động đến môi trường (động thực vật, các sinh cảnh sống,
nguồn lợi sống, sử dụng năng lượng và ô nhiễm…) và cố gắng có lợi cho môi trường
Thứ hai là gần gũi về xã hội và văn hoá, nó không gây hại đến các cấu trúc xã hội hoặc văn hoá của cộng đồng nơi mà chúng được thực hiện Thay vào đó thì nó lại tôn trọng văn hoá và truyền thống địa phương Khuyến khích các bên liên quan (các cá nhân, cộng đồng, nhà điều hành tour, và quản lý chính quyền) trong tất cả các giai đoạn của việc
Trang 20lập kế hoạch, phát triển và giám sát, giáo dục các bên liên quan về vai trò của họ
Thứ ba là có kinh tế, nó đóng góp về mặt kinh tế cho cộng đồng và tạo ra những thu nhập công bằng và ổn định cho cộng đồng địa phương cũng như càng nhiều bên liên quan khác càng tốt Nó mang lợi ích cho người chủ, cho nhân viên và cả người xung quanh Nó không bắt đầu một cách đơn giản để sau đó sụp đổ nhanh do các hoạt động kinh doanh nghèo nàn Một đơn vị kinh doanh du lịch mà có đủ 3 tiêu chí trên thì
“sẽ kinh doanh tốt nhờ làm tốt” Điều này có nghĩa là việc thực hiện kinh doanh du lịch trong nhiều cách có thể không phá huỷ các nguồn lợi tự nhiên, văn hoá và kinh tế, nhưng cũng khuyến khích đánh giá cao những nguồn lợi mà du lịch phụ thuộc vào Việc kinh doanh mà được thực hiện dựa trên 3 tiêu chí này có thể tăng cường việc bảo tồn nguồn lợi tự nhiên, đánh giá cao giá trị văn hoá và mang lợi tức đến cho cộng đồng
và có thể cũng sẽ thu lợi tức
2.1.3 Một số tiêu chí đánh giá phát triển bền vững du lịch biển đảo
Tổ chức du lịch thế giới cho rằng chỉ tiêu dùng để đo lường thông tin giúp nhà quản lý đưa ra quyết định tốt hơn…chỉ tiêu liên quan đến quyết định quản lý trong lĩnh vực du lịch phục thuộc vào đặc trưng điểm đến và tầm quan trọng tương đối của chúng đối với du khách (UNWTO, 2002) Nhằm xác định tính bền vững trong phát triển du lịch biển đảo, chỉ tiêu sẽ là công cụ hữu ích giúp các nhà quản lý hiểu rõ hơn mối liên
hệ giữa du lịch và những hoạt động có liên quan cũng như năng lực tái tạo của môi trường trong việc duy trì sự bền vững Tất cả chỉ tiêu đều có thể được lượng hóa (ví như, số lượng, quy mô, tỷ lệ…) Cronin (1990) và Dowling (1993) cho rằng để đạt được sự phát triển du lịch bền vững, quá trình này cần được đánh giá một cách thường xuyên dựa trên việc xác định đầy đủ tác động khác nhau đến chúng để từ đó cung cấp những thông tin hữu ích cho quyết định quản lý Quản lý ngành, đơn vị kinh doanh du lịch cần thông qua quá trình để xem xét đầy đủ và có ý nghĩa chỉ tiêu đo lường sự phát triển du lịch bền vững từ ba trụ cột cơ bản: (i) Kinh tế; (ii) Văn hóa - xã hội; (iii) Tài nguyên, môi trường và từ đó hình thành các quyết định quản lý kinh doanh tốt hơn
+ Góc độ kinh tế: Đánh giá tính bền vững trên góc độ kinh tế thường được đề
cập đến sự đảm bảo tăng trưởng bền vững mà nội hàm của nó cùng lúc được thể hiện thông qua tốc độ tăng trưởng doanh thu, tốc độ tăng trưởng lượng khách, sự tăng lên của cơ sở kinh doanh du lịch,…đặc biệt là chất lượng tăng trưởng (Machado, 2003) Tốc độ tăng trưởng là chỉ tiêu quan trọng cho việc đánh giá phát triển bền vững về kinh tế đã được đề cập nhiều tại nghiên cứu trong và ngoài nước, trong khi chất lượng
Trang 21tăng trưởng là chỉ tiêu rất quan trọng ảnh hưởng đến tính bền vững trên góc độ kinh tế (Crouch, 2010) Tuy vậy, trong nhiều công trình nghiên cứu, vấn đề chất lượng tăng trưởng còn ít được đề cập hoặc chưa tương xứng với nội dung tăng trưởng (Machado, 2003) Rõ ràng bền vững trong kinh doanh chỉ đạt được khi tăng trưởng có hiệu quả hay tạo ra giá trị đóng góp ngày càng lớn Chất lượng tăng trưởng thể hiện: (i) Giá trị gia tăng; (ii) Năng lực cạnh tranh; (iii) Cơ cấu doanh nghiệp kinh doanh trong ngành
du lịch (Van Duren và cộng sự, 1991; Machado, 2003) 07 nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của ngành như: năng suất, công nghệ, sản phẩm, đầu vào, chi phí, mức
độ tập trung, độ liên kết (Porter, 1985) Đánh giá năng lực cạnh tranh thông qua việc phân tích định tính/định lượng sẽ giúp xác định được lợi thế và yếu tố nào do ngành kinh doanh kiểm soát, yếu tố nào do Chính phủ kiểm soát nhằm góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh Mặt khác, với tính chất đặc thù là ngành kinh tế tổng hợp, vì thế
sẽ rất khó khăn để đánh giá một cách toàn diện và chính xác năng lực cạnh tranh của ngành du lịch Nghiên cứu này xem xét một số chỉ tiêu cụ thể để đánh giá bước đầu năng lực cạnh tranh của ngành như: (i) Năng suất lao động; (ii) Thị phần và tốc độ tăng thị phần; (iii) Sức cạnh tranh về giá của sản phẩm/dịch vụ; (iv) Chất lượng sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp du lịch; (v) Đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp du lịch; (vi) Chất lượng nguồn nhân lực du lịch; (vii) Lòng trung thành đối với sản phẩm/dịch vụ du lịch (Machado, 2003)
+ Góc độ văn hóa - xã hội: Phát triển kinh doanh du lịch phải có những đóng góp
cụ thể cho phát triển văn hóa - xã hội, đảm bảo sự công bằng trong phát triển (Hens, 1998) Đánh giá tính bền vững du lịch biển đảo có thể xem xét bộ chỉ số đánh giá tác động của du lịch lên phân hệ văn hóa - xã hội đối với ngành du lịch dựa trên bộ chỉ số Doxey (1975) Đây là bộ chỉ số được đưa ra nhằm phân tích thái độ của cộng đồng địa phương đối với du khách Tác giả xây dựng mô hình xem xét thái độ của cộng đồng với các giai đoạn khác nhau như: vui vẻ, thỏa mãn, hạnh phúc; lãnh đạm, hờ hững; phát cáu, giận dữ; phản đối, phản kháng Một số chỉ tiêu được đề cập bởi Hens (1998), Dymond (1997) như: (i) Sự xuất hiện dịch bệnh liên quan đến phát triển du lịch; (ii) Tệ nạn xã hội liên quan đến phát triển du lịch; (iii) Hiện trạng di tích lịch sử - văn hóa tại địa phương; (iv) Biến động về giá cả vào mùa cao điểm trong du lịch; (v) Mức độ thương mại hóa hoạt động văn hóa truyền thống (lễ hội, ma chay, cưới xin, phong tục tập quán…) Đối với doanh nghiệp, sự phát triển bền vững du lịch biển đảo sẽ xem xét thông qua mức độ tham gia, đóng góp của doanh nghiệp đến bảo tồn, tôn tạo di tích
Trang 22lịch sử - văn hóa địa phương cũng như tham gia phòng, chống tệ nạn xã hội (tạo công
ăn việc làm, góp ngân sách cho hoạt động của tổ dân phố) Cuối cùng, thái độ của cộng đồng đối với doanh nghiệp du lịch hoặc sự phát triển du lịch cũng là một chỉ tiêu rất có ý nghĩa trong việc đánh giá tính bền vững về văn hóa - xã hội (Murphy, 1994)
+ Góc độ môi trường: Khai thác, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên và điều kiện
môi trường tại điểm đến trong quá trình phát triển du lịch là khía cạnh rất đáng được quan tâm (UNWTO, 2002), việc khai thác, sử dụng tài nguyên cho phát triển du lịch biển đảo cần được quản lý sao cho không chỉ thỏa mãn nhu cầu phát triển trong hiện tại mà còn đảm bảo cho nhu cầu phát triển cho tương lai Tác động của hoạt động du lịch đến môi trường trong quá trình phát triển sẽ được hạn chế đi đôi với những đóng góp của cộng đồng doanh nghiệp cho các nỗ lực tôn tạo tài nguyên, bảo vệ môi trường UNWTO (2002) đề xuất một số tiêu chí đánh giá tính bền vững của tài nguyên và môi trường: (i) Lượng chất thải được thu gom và xử lý/ tổng số chất thải; (ii) Lượng điện tiêu thụ/du khách/ngày (tính theo mùa); (iii) Lượng nước tiêu thụ/du khách/ngày (tính theo mùa); (iv) Số cảnh quan phục vụ du lịch bị xuống cấp/tổng số cảnh quan; (v) Số công trình kiến trúc không phù hợp với cảnh quan/tổng số công trình; (vi) Số sản phẩm động, thực vật quý hiếm được tiêu thụ; (vii) Số phương tiện vận tải sạch/tổng số phương tiện vận tải Đối với doanh nghiệp, sự phát triển bền vững du lịch biển đảo cũng được xem xét trên khía cạnh mức độ tham gia/đóng góp của doanh nghiệp đến bảo vệ tài nguyên môi trường biển đảo thông qua một số chỉ tiêu cụ thể như: lượng chất thải hàng năm doanh nghiệp thu gom và xử lý so với tổng số chất thải; lượng điện, nước tiêu thụ/ngày (tính theo mùa); số sản phẩm động, thực vật quý hiếm đang
được kinh doanh (Lê Chí Công, 2015)
2.2 Lý thuyết liên quan đến thái độ tham gia của cộng đồng địa phương đến phát triển bền vững du lịch biển đảo
2.2.1 Cộng đồng địa phương
Trong đời sống xã hội, khái niệm cộng đồng thường được dùng để chỉ nhiều đối tượng có những đặc điểm tương đối khác nhau về qui mô và đặc tính xã hội Ý nghĩa rộng nhất của cộng đồng là tập hợp người với các liên minh rộng lớn như toàn thế giới (cộng đồng thế giới), một châu lục (cộng đồng Châu Âu…), một khu vực (cộng đồng Đông Nam Á…) Cộng đồng còn được áp dụng để chỉ một kiểu xã hội, căn cứ vào những đặc tính tương đồng về sắc tộc, chủng tộc hay tôn giáo Nhỏ hơn nữa, cộng đồng được dùng khi gọi tên các đơn vị làng, bản, xã, huyện…Trong các chương trình
Trang 23phát triển có sự tham gia của cộng đồng, khái niệm này được hiểu trên phạm vi hẹp hơn Cộng đồng là những nhóm người được tập hợp dưới nhiều hình thức khác nhau như theo lứa tuổi, nghề nghiệp, huyết thống, khu vực địa lý, tổ chức đoàn thể, sở thích
Sự hình thành cộng đồng thường dựa vào các yếu tố: lãnh thổ, kinh tế và văn hóa Khái niệm cộng đồng bao gồm các yếu tố: tương quan cá nhân mật thiết với những người khác; có sự liên hệ tình cảm; có sự tự nguyện hy sinh đối với những giá trị được tập thể coi là cao cả; có ý thức đoàn kết mọi thành viên trong tập thể Cộng đồng là một tập thể người định cư trên lãnh thổ nhất định Họ có hoạt động kinh tế để đảm bảo
về mặt vật chất và tạo nên sự gắn kết cộng đồng Đây là nhân tố quan trọng giúp cho một cộng đồng phát triển vững mạnh Mỗi cộng đồng có những nét văn hóa đặc trưng riêng, được hình thành trong quá trình phát triển của cộng đồng đó Đó là phong tục tập quán, các quy ước, tín ngưỡng tôn giáo…được lưu truyền từ đời này sang đời khác Hầu hết nghiên cứu trước nói về “cộng đồng” như một đơn vị không gian nhỏ, cấu trúc xã hội đồng nhất với mức độ chia sẻ và lợi ích chung (Agrawal và Gibson, 1999; Olsder và Vander Donk, 2006) Scherl và Edwards (2007) mô tả các cộng đồng địa phương là nhóm người với một bản sắc chung và những người có thể được tham gia vào một loạt các khía cạnh liên quan của đời sống Họ cũng lưu ý rằng cộng đồng địa phương thường có quyền liên quan đến khu vực và tài nguyên thiên nhiên, mối quan hệ mạnh mẽ về văn hóa, xã hội, kinh tế và tinh thần Theo Aref và cộng sự (2010), một cộng đồng dùng để chỉ một nhóm các cá nhân sinh sống hoặc làm việc trong khu vực địa lý cùng với một số chia sẻ về văn hóa hoặc lợi ích chung
Trong du lịch, cộng đồng thường được xác định theo phân bố địa lý Theo
Sproule (1996) thì “Cộng đồng là một nhóm người, thường sống trên cùng một khu
vực địa lý, nhận biết bản thân họ thuộc cùng một nhóm Các thành viên trong một cộng đồng thường có quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân Tất cả họ có thể thuộc về cùng một nhóm tôn giáo, chính trị, tầng lớp hoặc đẳng cấp” Ngoài những đặc điểm
chung, cộng đồng là một thực thể phức tạp và không đồng nhất Trong cùng một cộng đồng, có người giàu và người nghèo, người mới nhập cư và những cư dân bản địa, người có nhiều đất đai và người không có đất Sự phân hóa trong cộng đồng dẫn đến mức độ tham gia và hưởng lợi khác nhau của thành viên trong một cộng đồng trong các chương trình, dự án phát triển cộng đồng, do đó ẩn chứa những xung đột xảy ra trong cộng đồng Khi nói đến cộng đồng trong du lịch tại Việt Nam, người ta thường nghĩ ngay đến cộng đồng địa phương ở nông thôn, ở những vùng cao (cộng đồng
Trang 24người dân tộc) mà quên rằng ở thành thị cũng có những cộng đồng với những giá trị và bản sắc riêng của họ (cộng đồng thị dân, cộng đồng người Hoa ở các “khu phố Tàu”)
Do đó, chúng ta cần có cách tiếp cận khác hơn để thấy rõ được nhiệm vụ và vai trò của những cộng đồng ở những nơi là điểm đến du lịch
2.2.2 Lý thuyết hành vi trong tham gia phát triển du lịch bền vững
Thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991) được phát triển và cải tiến từ lý thuyết hành động hợp lý (Ajzen & Fishbein, 1975), được xem là lý thuyết phổ biến nhất liên kết thái độ và hành vi Thuyết hành động hợp lý TRA được Ajzen & Fishbein xây dựng năm 1975 và được xem là học thuyết tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu tâm
lý xã hội (Mark & Christopher, 1998) Mô hình TRA được phát triển để giải thích cho các cơ chế của hành vi con người trong quá trình ra quyết định Nó được thiết kế đặc biệt để dự đoán hành vi của con người dưới sự kiểm soát hoàn toàn của ý chí Lý thuyết hành động hợp lý TRA giả định rằng hầu hết các quyết định hay hành vi của cá nhân đều bắt nguồn từ những nỗ lực của ý chí trong việc cố gắng thực hiện quyết định hay hành vi đó (Han & Kim, 2010)
Theo lý thuyết TRA, hai yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định là thái độ cá nhân và chuẩn chủ quan
Mô hình lý thuyết hành động hợp lý TRA được trình bày như hình 2.4 (Chuttur, 2009)
Hình 2.4: Thuyết hành động hợp lý TRA
Nguồn: Ajzen & Fishbein, 1975
Niềm tin đối với những thuộc tính
của sản phẩm
Đo lường niềm tin đối với những
thuộc tính của sảnphẩm
Niềm tin về những người ảnh
hưởng sẽ nghĩ rằng tôi nên thực
Sự thúc đẩy làm theo ý muốn của
những người ảnh hưởng
Thái độ
Chuẩn chủ quan
Ý định hành vi
Trang 25Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu đã đặt ra câu hỏi về tính ứng dụng của TRA bởi
lẽ trong những trường hợp nhất định, hành vi của một người cũng có thể được xác định bởi các yếu tố không phụ thuộc vào ý chí (ví dụ như nguồn lực) Trong những tình huống như vậy thì TRA không đủ để dự đoán về xu hướng hành vi của cá nhân
Nếu như lý thuyết hành động hợp lý (TRA) chỉ tập trung vào các yếu tố của ý chí
cá nhân hay xã hội để giải thích sự hình thành của ý định cá nhân thì lý thuyết hành vi
dự định (TPB), một phiên bản đầy đủ hơn của TRA sẽ cho phép chúng ta kiểm tra sự ảnh hưởng của các yếu tố quyết định cá nhân và môi trường xã hội xung quanh cũng như các yếu tố quyết định không liên quan đến ý chí khi đưa ra ý định hành vi Đặc biệt, TPB có thể góp phần cải thiện dự báo về ý định của khách hàng khi lựa chọn một sản phẩm (Untaru, Epuran, & Ispas, 2014)
TPB là lý thuyết hành vi theo dự tính được mở rộng từ TRA TPB cho rằng thái
độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan và sự kiểm soát hành vi là ba yếu tố quyết định khái niệm độc lập về ý định hành vi (Ajzen, 1991) Sự khác biệt lớn giữa hai mô hình
là TPB kết hợp thêm một nhân tố là kiểm soát hành vi như một yếu tố quyết định về
xu hướng hành vi Nhân tố này được liên kết đến việc kiểm soát niềm tin Nó bao gồm yếu tố niềm tin rằng việc thực hiện hành vi dễ dàng hay khó khăn phụ thuộc vào việc
sở hữu các nguồn tài nguyên thiết yếu và cơ hội để thực hiện một hành vi cụ thể TPB
đã được sử dụng như là cơ sở để điều tra hành vi bền vững nói chung và hành vi du lịch bền vững nói riêng (Han & Kim, 2010) Các nhà phê bình TPB cho rằng ý định hành vi không chuyển thành hành vi và một vài nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng liên kết này thực sự là khá yếu (Prillwitz & Barr, 2011) đã tìm thấy rằng thái độ
“xanh” không bị ảnh hưởng bởi việc đi du lịch
Trang 262.2.3 Thái độ tham gia phát triển du lịch bền vững của cộng đồng địa phương
Việc thiếu sự tham gia của cộng đồng đã được xác định là rào cản quan trọng để phát triển du lịch hiệu quả (Aref và Redzuan, 2006) Thái độ của cộng đồng dân cư là rất quan trọng cho sự phát triển du lịch thành công và bền vững Vì chính họ là những người bị ảnh hưởng nhiều nhất hoặc tích cực hoặc tiêu cực của phát triển du lịch (Eshliki và Kaboudi, 2011) Xác định được thái độ của người dân địa phương, chương trình có thể được thiết lập để giảm sự ma sát giữa khách du lịch và người dân (Zhang
và cộng sự, 2006) Mối quan hệ tích cực giữa mức độ tham gia của cộng đồng và nhận thức của họ đối với sự gia tăng phát triển du lịch (Nzama,2008) Cả trực tiếp và gián tiếp, sự hỗ trợ và tham gia của cộng đồng “là nền tảng của sự phát triển bền vững” (Butcher, 1997; Jamieson và Jamal, 1997; Hunter, 1997) Sự tham gia của cộng đồng trong phát triển du lịch không chỉ liên quan đến quá trình ra quyết định và những lợi ích của phát triển du lịch mang lại mà còn đóng góp một phần không thể thiếu cho phát triển du lịch bền vững (D’Amore, 1992; Green, 1995; Leslie, 1993; Murphy, 1988) Harrill (2004) nhấn mạnh dân cư có lợi ích kinh tế, nhất là hỗ trợ hầu hết ngành
du lịch Một số nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định đã phàn nàn rằng quá trình lập kế hoạch có sự tham gia của cộng đồng dân cư rất tốn thời gian và không hiệu quả (Swarbrooke, 1999) Tuy nhiên, Boothroyd (1986, tr.20) lập luận rằng “trong khi phải mất nhiều thời gian hơn so với những phương pháp khác, nhưng nó có nhiều khả năng thành công”
Ý thức cộng đồng có thể được xem như là năng lực của người dân địa phương để tham gia vào các hoạt động phát triển (Cupples, 2005) Tầm quan trọng và cần thiết của ý thức và sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng năng lực mạnh mẽ của cộng đồng cho phát triển du lịch là không thể bỏ qua (Aref, 2010.) Sự tham gia của cộng đồng như là một sự tham gia của người dân địa phương trong quá trình phát triển
du lịch Nếu không có sự tham gia của cộng đồng rõ ràng là không có hợp tác, không phát triển và không có chương trình Do đó thiếu sự tham gia của cộng đồng trong việc
ra quyết định để thực hiện phát triển du lịch có thể dẫn đến thất bại trong việc phát triển cộng đồng (Miranda, 2007) Sự tham gia của cộng đồng làm tăng cảm giác của người dân về quyền kiểm soát các vấn đề có ảnh hưởng đến cuộc sống của họ và cũng thúc đẩy sự tự tin và tự nhận thức (Nampila, 2005) Sự tham gia của cộng đồng cung cấp một ý thức cộng đồng phải chịu trách nhiệm cho bản thân và những người khác,
Trang 27sẵn sàng chia sẻ và tương tác (Aref, 2010.) Ý thức cộng đồng là một động lực để hỗ trợ người dân địa phương tham gia vào các hoạt động du lịch Rõ ràng, ý thức cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của du lịch
2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến thái độ của cộng đồng địa phương đến phát triển du lịch bền vững
2.3.1 Các nghiên cứu trong nước
[1] Lê Chí Công & Võ Hoàn Hải (2015) với nghiên cứu “Thái độ của cộng đồng
địa phương đối với phát triển du lịch biển Nha Trang - Khánh Hòa” được đăng trên
Tạp chí Tạp chí Kinh tế và dự báo, số 08, tr 42-44 Nghiên cứu đã sử dụng kĩ thuật phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi chi tiết với cộng đồng địa phương Mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp thuận tiện với 250/275 phiếu phát ra tại tại thành phố Nha Trang Kết quả ủng hộ tất cả các giả thuyết nghiên cứu được đưa ra khi chỉ ra rằng năm nhân tố: (1) lợi ích kinh tế; (2) sự tham gia của cộng đồng địa phương vào phát triển du lịch; (3) sự hài lòng của du khách; (4) bền vững môi trường; (5) phát triển
xã hội tác động thuận chiều đến thái độ sẵn sàng tham gia vào chương trình phát triển
du lịch biển Kết quả nghiên cứu cho phép nhà nghiên cứu và quản lý ngành du lịch có cái nhìn toàn diện đến vai trò đặc biệt quan trọng của cư dân địa phương trong phát triển bền vững du lịch biển đảo
[2] Nghiên cứu của Lê Chí Công và cộng sự (2016) với chủ đề “Nghiên cứu ảnh
hưởng của các thành phần thái độ đến ý định của cộng đồng địa phương tham gia phát triển du lịch bền vững” được đăng trên Tạp chí Khoa học Thương mại, số 100, tr.65-72
Nghiên cứu này sử dụng kĩ thuật phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi chi tiết với cộng đồng địa phương Mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp hạn ngạch với 200 phiếu phát ra tại thành phố Quy Nhơn Kết quả 04/05 giả thuyết ủng hộ được đưa ra khi
chỉ ra rằng bốn nhân tố: (1) thái độ đối với bảo vệ môi trường; (2) thái độ đối với bảo vệ
tài nguyên du lịch; (3) thái độ đối với bảo vệ cơ sở hạ tầng kinh doanh du lịch; (4) thái
độ đối với bảo vệ bản sắc văn hóa địa phương và gìn giữ an ninh trật tự xã hội tác động thuận chiều đến ý định tham gia phát triển du lịch biển bền vững Kết quả cho phép nhà nghiên cứu, quản lý ngành du lịch có cái nhìn toàn diện đến vai trò quan trọng của cư dân địa phương trong phát triển bền vững du lịch biển đảo
[3] Nghiên cứu của Lê Chí Công (2015) với chủ đề “Xây dựng chỉ tiêu đánh giá
du lịch bền vững: Nghiên cứu điển hình tại thành phố Nha Trang”, được đăng trên Tạp
Trang 28chí Kinh tế và phát triển, số 217, tr 56-64.Nghiên cứu nêu ra 36 chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững (trên cả hai góc độ ngành và doanh nghiệp du lịch) Trong đó, 15 chỉ tiêu thể hiện sự phát triển bền vững về kinh tế, 9 chỉ tiêu thể hiện sự phát triển bền vững về văn hóa - xã hội, 12 chỉ tiêu thể hiện sự phát triển bền vững về môi trường Nghiên cứu này đã bước đầu làm rõ quan điểm phát triển bền vững du lịch biển đảo và chỉ tiêu đánh giá nó trên góc độ ngành du lịch và doanh nghiệp
2.3.2 Các nghiên cứu nước ngoài
[1] Mô hình nghiên cứu của Michael (2009, đề xuất một “mô hình để đánh giá
sự tham gia của cộng đồng địa phương và tham gia trong ngành du lịch” Mô hình
cho thấy kiến thức của người dân địa phương về các tác động tích cực của phát triển
du lịch sẽ ảnh hưởng đến: nhận thức của họ về tham gia cộng đồng và tham gia phát triển du lịch, tham gia của họ trong việc chia sẻ lợi ích của phát triển du lịch và tham gia của họ trong quá trình ra quyết định phát triển du lịch Sự tham gia trong quá trình này lại ảnh hưởng lẫn nhau và bị ảnh hưởng bởi quan điểm về sự đóng góp của phát triển du lịch đối với xóa đói giảm nghèo
Hình 2.6: Mô hình đánh giá sự tham gia của CĐĐP trong ngành du lịch
Nguồn: Michael (2009), Community involvement and participation in tourism development in Tanzania: A case study of local communities in Barabarani village, MTO &MBO, Victoria University of Wellington
Tham gia của người dân địa phương trong quá trình ra
phát triển du lịch
Kiến thức của người dân địa phương về các tác động tích cực
của phát triển du lịch
Tham gia của
người dân địa
Quan điểm về đóng góp của phát triển du lịch đối với xóa
đói giảm nghèo
Trang 29[2] Nghiên cứu của Choise & cộng sự (2005) về “đo lường thái độ của dân cư về
phát triển du lịch bền vững”, đã đưa ra có 7 yếu tố bao gồm: môi trường bền vững, chi
phí xã hội, lợi ích kinh tế, sự tham gia của cộng đồng, lập kế hoạch dài hạn, sự hài lòng của khách và nền kinh tế cộng đồng làm trung tâm Theo nghiên cứu, độ tin cậy
và yếu tố điều tra phân tích xác định 7 yếu tố bao gồm: môi trường bền vững, chi phí
xã hội, lợi ích kinh tế, sự tham gia của cộng đồng, lập kế hoạch dài hạn, sự hài lòng của khách, nền kinh tế cộng đồng làm trung tâm đều có giá trị Cronbach’s Alpha ≥ 0.6 Điều này cho thấy rằng các biến thể hiện một sự tương quan mạnh mẽ đến thái độ của dân cư, yếu tố của nhóm và do đó là nhất quán Nghiên cứu của Choise & cộng sự có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo tiền đề để lựa chọn các thuộc tính cho nghiên cứu về thái độ của cộng đồng địa phương đến phát triển bền vững du lịch biển đảo tại huyện
Lý Sơn, Quảng Ngãi Tuy nhiên, đối tượng khảo sát của nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu cũng khác nhau, chính vì vậy, việc đưa các thuộc tính cần có sự cân nhắc
Các nhân tố được giải thích cụ thể trong bảng 2.1
Bảng 2.1: Giải thích cụ thể các nhân tố
Môi trường của cộng đồng phải được bảo vệ hiện tại và trong tương lai
Sự đa dạng của thiên nhiên phải được coi trọng và bảo vệ
Tôi nghĩ rằng phát triển du lịch nên tăng cường nỗ lực để bảo vệ môi trường
Du lịch phải bảo vệ môi trường của cộng đồng
Du lịch cần được phát triển trong sự hài hòa với môi trường tự nhiên và văn hóa
Phát triển du lịch đúng cách đòi hỏi rằng môi trường sống hoang dã và tự nhiên được bảo vệ mọi lúc
Phát triển du lịch phải thúc đẩy đạo đức môi trường trong tất cả các bên có quyền lợi trong du lịch
Các tiêu chuẩn về môi trường pháp lý là cần thiết để giảm thiểu tác động tiêu cực của phát triển du lịch
Trang 30Nguồn tài nguyên giải trí cộng đồng đang bị lạm dụng bởi khách du lịch Cộng đồng của tôi đang quá tải do sự phát triển du lịch
Tôi không cảm thấy thoải mái hay chào đón trong các doanh nghiệp du lịch địa phương
Du lịch đang phát triển quá nhanh
Tôi tin rằng chất lượng của môi trường trong cộng đồng của tôi đã trở nên xấu đi vì du lịch
Tôi thích du lịch vì nó đem lại nguồn thu mới cho cộng đồng của chúng tôi
Tôi tin rằng du lịch là một đóng góp kinh tế mạnh mẽ với cộng đồng
Du lịch tạo nguồn thu thuế đáng kể cho các chính quyền địa phương
Tôi tin rằng du lịch là tốt cho nền kinh tế của chúng tôi
Du lịch tạo ra thị trường mới cho các sản phẩm địa phương của chúng tôi
Du lịch đa dạng hóa nền kinh tế địa phương
Lợi ích
kinh tế
Du lịch mang lại lợi ích ngành công nghiệp khác trong cộng đồng
Quyết định du lịch phải được thực hiện bởi tất cả cộng đồng, bất kể nguồn gốc của một người
Tham gia đầy đủ của tất cả mọi người trong cộng đồng vào các quyết định liên quan đến du lịch là phải cho phát triển du lịch thành công
Sự tham gia của cộng đồng không quan trọng khi quyết định phát triển du lịch, không liên quan đến tất cả mọi người trong cộng đồng
Ngành công nghiệp du lịch phải lập kế hoạch cho tương lai
Tôi tin rằng quản lý thành công của du lịch đòi hỏi phải có chiến lược kế hoạch nâng cao
Tôi tin rằng chúng ta cần có cái nhìn dài hạn khi lập kế hoạch cho phát triển du lịch
Sức hấp dẫn của của cộng đồng là yếu tố cốt lõi làm gia tăng du khách
Các doanh nghiệp du lịch phải xem xét sự hài lòng của du khách
Nguồn: Choi và cộng sự (2005), Measuring Residents' Attitude toward Sustainable Tourism: Development of Sustainable Tourism Attitude Scale, Journal of Travel Research
Trang 31[3] Nghiên cứu của Eshliki & Kaboudi (2011) về “nhận thức của cộng đồng về
du lịch và tác động của họ trong việc tham gia vào kế hoạch du lịch”, đã đưa ra 5
thuộc tính: phá hoại môi trường gồm yếu tố 6 giải thích, xã hội và văn hóa ảnh hưởng gồm yếu tố 3 giải thích, hiệu quả kinh tế gồm yếu tố 5 giải thích, ô nhiễm nước và bờ biển gồm yếu tố 3 giải thích và cải thiện chất lượng cuộc sống được giải thích bằng 2 yếu tố Trong đó có những yếu tố gây tác động tích cực và tiêu cực vào kế hoạch du lịch Từ đó có thể đưa ra các giải pháp hạn chế và nâng cao nhận thức, sự tác động của cộng đồng vào kế hoạch du lịch
Bảng 2.2: Giải thích nhân tố mô hình nghiên cứu Eshliki & Kaboudi (2011)
Du lịch tăng làm ách tắc giao thông
Du lịch thu hút đông đúc khách ghé thăm
Du lịch tăng làm xói mòn đất Thảm thực vật biến mất, ví dụ: chặt cây, phá rừng…
Kết quả phát triển du lịch
Phá hoại môi
trường
Phá hủy các lĩnh vực nông nghiệp
Du lịch làm tăng tội phạm và vấn đề xã hội
Du lịch làm nâng cao hình ảnh của thành phố
Xã hội và văn hóa
đoạn cuộc sống yên tĩnh trong thành phố
Du lịch làm tăng chi phí sinh hoạt
Du lịch làm tăng thu nhập hộ gia đình
Du lịch giúp các ngành khác phát triển
Du lịch làm tăng phát triển bán lẻ Hiệu quả kinh tế
Du lịch làm tăng cơ hội việc làm cho người địa phương
Du lịch làm tăng rác thải dọc theo bờ biển
Du lịch làm tăng lượng nước thải
Ô nhiễm nước và
bờ biển
Hoạt động du lịch gây ra ô nhiễm nước biển
Du lịch làm nâng cao chất lượng các dịch vụ công cộng
Nguồn: Eshliki & Kaboudi (2011), “Nhận thức của cộng đồng về du lịch và tác động của họ trong việc tham gia vào kế hoạch du lịch”
Trang 322.4 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu
2.4.1 Phát triển các giả thuyết nghiên cứu
Theo nghiên cứu của Choise (2005) cho biết: “Cho đến cuối năm 1970, tại nhiều khu vực, du lịch được coi là “một con ngỗng vàng”, “một ngành công nghiệp không khói” gặt hái được nhiều lợi ích với ít nguồn lực tài chính và gây thiệt hại không đáng
kể về xã hội con người và thiên nhiên Tuy nhiên, nghiên cứu hàng năm cho thấy vấn
đề môi trường đã gây áp lực lên ngành công nghiệp du lịch Chính phủ phải xây dựng lại khuôn khổ phát triển du lịch để đáp ứng các nhu cầu của các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường trong khi vẫn duy trì một mức độ tối ưu các lợi ích kinh tế xã hội” Chính phủ, các nhà phát triển và cộng đồng dân cư địa phương đã bỏ qua tầm quan trọng của môi trường xung quanh và chỉ có nguyện vọng duy nhất để tối đa hóa tăng trưởng kinh tế Các mô hình tăng trưởng trong phát triển du lịch cho thấy rằng sự phát triển của chính
nó là không bền vững với môi trường, cũng không hiệu quả kinh tế (Inskeep, 1991) Các quy định thích hợp và sự tuân thủ cần được thực hiện để hỗ trợ các hoạt động liên quan về bảo vệ môi trường (Sirakaya, 1997; Fennell, 1999) Theo Hongshu và Min Tong (2009), sự phát triển của ngành du lịch cần phải dựa trên sự trong lành của bầu trời, nước và núi, cũng như bảo vệ môi trường Cộng đồng dân cư cần hiểu đúng vấn
đề môi trường, xây dựng nhận thức về môi trường tốt và giữ văn minh hành vi môi trường để hiến thân mình vào kiểm soát ô nhiễm môi trường và nâng cao môi trường sinh thái Tàn phá môi trường không chỉ gây ô nhiễm mà còn gây khó khăn trong việc bảo vệ đa dạng sinh học Vì vậy, chính phủ nên tích cực truyền bá và áp dụng năng lượng mới để bảo vệ môi trường, chẳng hạn như khí sinh học, năng lượng mặt trời, điện, than bánh, xây dựng nhà máy xử lý nước thải cho cộng đồng… để hình thành phong cách sống bảo vệ môi trường Vì vậy, giả thuyết H1 được đề xuất như sau:
Giả thuyết H1: Cộng đồng địa phương có thái độ tích cực đối với bảo vệ môi trường du lịch, mức độ tham gia của họ vào chương trình phát tiển du lịch càng tăng
Tài nguyên du lịch là điểm thu hút chính của du khách, vì đó là nguồn tài nguyên
có giá trị, vì vậy cần được bảo vệ và gìn giữ (Stabler, 1997) Khi một điểm đến trở nên phổ biến mà không cần bất kỳ quy hoạch trước hoặc chuẩn bị, sự phát triển nhanh chóng đó gây ra tiêu cực xã hội, tác động đến môi trường nhân văn (Choise, 2005) Theo một bài báo của Liên Hợp Quốc cho biết, du lịch dựa vào cộng đồng bền vững
Trang 33giúp tăng cường “kiến thức địa phương, sự tham gia của cộng đồng, hỗ trợ, giúp duy trì văn hóa địa phương và tài nguyên thiên nhiên” (UN, 2001, p.10) Theo Hongshu và Min Tong (2009), mặc dù sự phát triển du lịch đã mang lại lợi ích kinh tế cho điểm đến du lịch, nhưng nó đã gây ảnh hưởng lớn đến tài nguyên du lịch của địa phương, chẳng hạn như quá nhiều cảnh quan nhân tạo, phá hủy những tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn tại địa phương Theo các tổ chức có liên quan điều tra trên 100% thiên nhiên dự trữ trên cấp tỉnh, đã có 22% thiên nhiên dự trữ gây hủy hoại môi trường
vì sự phát triển du lịch sinh thái và 11% trong số đó đã xuất hiện suy thoái tài nguyên
du lịch Hiện nay do việc phát triển du lịch một cách ồ ạt, đôi khi tự phát, thiếu một kế hoạch mang tính chiến lược dài hơi, cùng với việc cơ sở hạ tầng yếu kém, thiếu đồng
bộ trong một sợi dây liên hoàn, công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh du lịch còn mang tính thời vụ, thiếu chuyên nghiệp Đội ngũ hướng dẫn viên còn thiếu và yếu về chất…dẫn đến nhiều giá trị văn hóa quý báu bị sai lạc, bóp méo, thậm chí mất dần Nói như tác giả Trương Hồng Tú, đó là “nguy cơ một “cái chết” văn hóa” và trách nhiệm đó “thuộc về những người quản lý và khai thác du lịch” Trong bài Nguy cơ một “cái chết” văn hóa, tác giả Trương Hồng Tú cũng khẳng định: “Khi những vẻ đẹp văn hóa độc đáo, bản sắc của một làng, một bản, một cộng đồng nhỏ hay một vùng bị chết sẽ dẫn đến “cái chết” của một nền văn hóa đa sắc tộc” (“Nguy cơ một “cái chết” văn hóa” - Tuanvietnam.net, 24/07/2011) Điều đó ta có thể nhìn thấy ở bất cứ đâu mà
du lịch phát triển một cách ồ ạt, thiếu tính bền vững Chính vì vậy tài nguyên du lịch cần được cộng đồng dân cư tham gia bảo vệ, duy trì và phát triển Vì vậy, giả thuyết H2 được đề xuất như sau:
Giả thuyết H2: Cộng đồng địa phương có thái độ tích cực đối với bảo vệ tài nguyên du lịch, mức độ tham gia của họ vào chương trình phát tiển du lịch càng tăng
Cộng đồng dân cư địa phương phải giữ nếp sống văn minh, nhận thức tốt về môi trường văn hóa, xã hội - chính trị (Sharpley, 1997) Phát triển du lịch ngày càng mạnh mang lại hiệu quả xã hội không mong muốn như gia tăng nạn mại dâm, cờ bạc, sự ồn
ào, tiếng ồn không mong muốn, tắc nghẽn và một số vấn đề khác (McIntosh, Goeldner
và Ritchie, 1995, tr 235) Phát triển du lịch ảnh hưởng đến cả người dân và khách du lịch bằng nhiều cách khác nhau; các thế hệ cộng việc, giáo dục, dịch vụ công cộng và hội nhập văn hóa đã thay đổi cùng với sự phát triển du lịch trong các khía cạnh tích cực và tiêu cực Tội phạm có thể gia tăng, khách du lịch trở thành nạn nhân của tội
Trang 34phạm một cách dễ dàng Các cơ quan phải giúp du khách tránh những nơi nguy hiểm trong khu vực (McIntosh, Goeldner và Ritchie, 1995, tr 234) Các phương tiện của sự thành công là mối quan tâm cải thiện tổ chức giáo dục, các chuyên gia du lịch có trình
độ, cạnh tranh công bằng, có đạo đức và tiến hành quản lý theo các tiêu chuẩn để chống lại các tội ác gây dư luận không tốt, tạo hình ảnh tiêu cực trong tâm trí của khách du lịch trong tương lai (Goeldner và Ritchie, 1995, tr 223) Vì vậy, giả thuyết H3 được đề xuất như sau:
Giả thuyết H3: Cộng đồng địa phương có thái độ tích cực đối với giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã, mức độ tham gia của họ vào chương trình phát tiển du lịch càng tăng
Brackenbury (1993, tr 17) cho biết: “Sự kết thúc của môi trường là kết thúc của
du lịch” Nếu không có kế hoạch phát triển, xây dựng các điểm tham quan ở địa phương để đáp ứng các nhu cầu của ngày càng tăng của du khách sẽ tác động tiêu cực đến phát triển du lịch Cộng đồng địa phương có thể tham gia trong việc xác định và phát huy tài nguyên du lịch và các điểm tham quan đã hình thành các cơ sở phát triển
du lịch cộng đồng (Matarrita và cộng sự, 2010; Muhanna, 2007) Theo Muganda và cộng sự (2013), người dân địa phương cần được hỗ trợ về tài chính để đầu tư phát triển
du lịch, cải thiện cơ sở vật chất địa phương, tăng, cải tiến và tạo ra các sản phẩm du lịch mới phục vụ cho du khách Người dân địa phương nên có vai trò hàng đầu như các doanh nhân phát triển du lịch Một số người dân sẽ tham gia vào hoạt động sinh kế khác như nông nghiệp hoặc chăn nuôi Vì vậy, giả thuyết H4 được đề xuất như sau:
Giả thuyết H4: Cộng đồng địa phương có thái độ tích cực đối với sự tham gia đầu tư kinh doanh du lịch, mức độ tham gia của họ vào chương trình phát tiển du lịch càng tăng
Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào việc phát triển du lịch sẽ làm gia tăng khách du lịch ( Tosun và Timothy,2003), bởi vì bản thân các phong tục tập quán, lễ hội, lối sống, kiến trúc nhà ở, lòng tự hào về truyền thống của làng xóm, của quê hương gắn với tình yêu dân tộc,… đó cũng chính là cuội nguồn lớn nhất của sức mạnh cộng đồng Ngoài ra, môi trường sống của cộng đồng dân cư là yếu tố tạo nên sức hấp dẫn cho hoạt động du lịch Do vậy, có thể nói cộng đồng là một thành tố của tài nguyên du lịch, tạo nên hoạt động du lịch Khi người dân tham gia vào hoạt động du lịch sẽ tạo cho họ nghề nghiệp mới, phương thức sống mới, có thêm nguồn thu nhập
Trang 35mới sẽ giảm sức ép của họ đối với việc khai thác tự nhiên một cách bừa bãi, qua đó sẽ bảo tồn được tài nguyên du lịch, góp phần đa dạng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm
du lịch và hạ giá thành du lịch Hơn nữa, khi tham gia vào hoạt động phát triển du lịch, cộng đồng địa phương sẽ được giáo dục, tập huấn về du lịch, môi trường sẽ giúp nâng cao kỹ năng tổ chức cuộc sống, lao động sản xuất, chất lượng cuộc sống được cải thiện Chính vì điều này, cộng đồng dân cư cũng mang tới cho du khách những yếu tố mới lạ, đặc sắc, làm phong phú thêm các sản phẩm du lịch Tất cả những yếu tố trên tạo ra được môi trường du lịch hấp dẫn (cả tự nhiên và văn hóa) làm cho sự gia tăng du khách Vì vậy, giả thuyết H5 được đề xuất như sau:
Giả thuyết H5: Cộng đồng địa phương có thái độ tích cực đối với sự gia tăng của
du khách, mức độ tham gia của họ vào chương trình phát tiển du lịch càng tăng
2.4.2 Mô hình đề xuất nghiên cứu
Thông qua khảo lược nghiên cứu của Ajzen & Fishbein (1975), Michael (2009), Eshliki & Kaboudi (2011), Choise & cộng sự (2005),… Cùng với các nghiên cứu của
Lê Chí Công & Võ Hoàn Hải (2015) về đo lường thái độ của dân cư địa phương đến phát triển du lịch bền vững, tác giả đề xuất giả thuyết và mô hình nghiên cứu thái độ của cộng đồng địa phương đến phát triển bền vững du lịch biển đảo tại huyện Lý Sơn, Quảng Ngãi như sau:
Hình 2.7: Đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu
Trang 36Tóm tắt chương 2
Trong chương này, luận văn thạc sĩ đã hệ thống cơ sở lý luận và tổng quan về các
lý thuyết liên quan đến phát triển bền vững, phát triển du lịch biển đảo theo hướng bền vững, vai trò của cộng đồng địa phương trong việc phát triển du lịch bền vững Luận văn đã đưa ra các quan điểm khác nhau liên quan đến các khái niệm về du lịch, cộng đồng địa phương và vai trò của họ trong việc phát triển du lịch bền vững Bên cạnh đó, luận văn đã đưa ra một vài mô hình của các nghiên cứu trước trên thế giới có liên quan, từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu cụ thể về các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ tham gia phát triển du lịch biển của cộng đồng địa phương tại huyện đảo Lý sơn, Quảng Ngãi Đồng thời mô hình nghiên cứu đề xuất được dùng làm cơ sở cho những bước tiếp theo
Trang 37CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
3.1 Thiết kế nghiên cứu
3.1.1 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, kết hợp cả các kỹ thuật thu thập dữ liệu và thủ tục phân tích dữ liệu định tính và định lượng, sử dụng cả nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp Nghiên cứu này được thực hiện qua hai bước chính: (1) nghiên cứu sơ bộ, (2) nghiên cứu chính thức
Bước 1 Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện thông qua phương pháp định tính và định lượng
Trước hết, nghiên cứu định tính được thực hiện nhằm kiểm tra tính phù hợp và điều chỉnh mô hình lý thuyết, qua đó giúp tác giả khám phá, điều chỉnh và bổ sung các biến quan sát dùng để đo lường các khái niệm, đảm bảo thang đo phù hợp với lý thuyết
và điều kiện thực tế Thêm nữa, nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu 02 chuyên gia về nghiên cứu thái độ của cộng đồng địa phương đến phát triển
du lịch bền vững tại huyện đảo Lý Sơn
Nghiên cứu định lượng sẽ tiến hành tiếp theo Đối tượng khảo sát sẽ trả lời bảng câu hỏi
Bước 2 Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng Nghiên cứu này được thực hiện thông qua quá trình phỏng vấn trực tiếp cộng đồng địa phương tại 03 xã: An Vĩnh, An Hải và An Bình huyện Lý Sơn
3.1.2 Quy trình nghiên cứu
Với cách tiếp cận trên, tác giả đề xuất quy trình nghiên cứu như sau:
Trang 38Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu
Nguồn: Cao Hào Thi, 2006, trích trong Châu Ngô Anh Nhân, 2011, tr.18
3.1.3 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
3.1.3.1 Kích thước mẫu
Liên quan đến quy mô của mẫu nghiên cứu, cho thấy có nhiều quan điểm khác nhau trong việc xác định kích thước mẫu Chẳng hạn, kích thước mẫu tùy theo phương pháp ước lượng sử dụng ví dụ: ML, GLS,…trong mô hình cấu trúc tuyến tính Nếu sử dụng phương pháp ước lượng ML thì kích thước mẫu tối thiểu phải từ 100 đến 150, hay ít nhất là 200 quan sát (Hoelter) Cũng có quan điểm cho rằng kích thước quan sát tối thiểu là 5 quan sát cho một tham số ước lượng trong mô hình nhưng trong giới hạn của bài nghiên cứu này, tác giả xin được sử dụng phương pháp xác định cỡ mẫu của Hair và các cộng sự (1998), theo đó trong phân tích EFA, cần 5 quan sát cho 1 biến đo lường và cỡ mẫu không nên ít hơn 100
Trong nghiên cứu này, để đảm bảo kích thước quan sát phục vụ nghiên cứu, tác
Vấn đề nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước
Nghiên cứu sơ bộ
Điều tra sơ bộ
Điều chỉnh bảng câu hỏi sơ bộ
Khảo sát điều tra
Kiểm định phép đo, Cronbach’s Alpha
Phân tích nhân tố (EFA)
Kiểm định mô hình
Kết luận
Bảng hỏi khảo sát sơ bộ
Bảng hỏi khảo sát chính thức
Phân tích độ tin cậy
Phân tích hồi quy đa biến
Trang 39giả đã cân đối lựa chọn số quan sát sau khi đã thảo luận và xem xét toàn bộ các tham
số ước lượng trong mô hình Bao gồm 5 chỉ báo đo lường có tổng 26 biến quan sát Dựa trên số chỉ báo đo lường và khái niệm nghiên cứu, qui mô quan sát tối thiểu cần thiết là 5 x 26 = 130 quan sát Như vậy, tác giả sử dụng số lượng mẫu là 231
3.1.3.2 Cách lấy mẫu
Nghiên cứu được thực hiện bằng cách phát bảng câu hỏi trực tiếp cho cộng đồng đang sinh sống và làm việc tại 03 xã An Vĩnh ; An Hải ; An Bình huyện đảo Lý Sơn theo phương pháp thuận tiện
3.1.4 Xây dựng thang đo
Bảng 3.1: Xây dựng thang đo
nghiên cứu của
MT Thái độ với bảo vệ môi trường du lịch
tại và trong tương lai
Choise (2005);
Lê Chí Công (2014)
Lê Chí Công (2014)
giảm thiểu tác động xấu đến phát triển biển đảo Lý
Sơn
Choise (2005);
Lê Chí Công (2014)
sử dụng tài nguyên du lịch của biển đảo Lý Sơn
Choise (2005);
Lê Chí Công (2014)
TN Thái độ với bảo vệ tài nguyên du lịch
với môi trường tự nhiên và nhân văn
vệ
Choise & cộng
sự (2005
Lê Chí Công (2014)
Trang 40TN3 Sự phong phú và đa dạng của thiên nhiên phải được
coi trọng và bảo vệ
các công trình văn hóa và di tích lịch sử
đánh mất bản sắc văn hóa địa phương
Eshliki & Kaboudi (2011)
Lê Chí Công (2014)
AN Thái độ với giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội
đồng địa phương (chăn nuôi, trồng trọt, dịch vụ bán
lẻ, vận tải…)
Choise & cộng sự (2005)
Lê Chí Công (2014)
ĐT Thái độ với sự tham gia đầu tư kinh doanh du lịch
du khách trong tương lai
cho du khách
Choise & cộng sự (2005)
Lê Chí Công (2014)
cho du khách
Eshliki & Kaboudi (2011)
Lê Chí Công (2014)
GT Thái độ đối với sự gia tăng du khách
Timothy,2003
gia tăng du khách
Tosun và Timothy,2003