1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tài liệu Giáo trình sinh sản gia súc - chương 4 docx

76 2,5K 29

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kỹ Thuật Sinh Sản
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm
Chuyên ngành Công Nghệ Sinh Sản Gia Súc
Thể loại Giáo Trình
Năm xuất bản 2000
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 2,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chế độ nuôi dưỡng không hợp lý Dinh dưỡng đầy đủ không thiếu, không thừa, khẩu phần thức ăn hợp lý, đáp ứng được các nhu cầu của con mẹ trong các giai đoạn sinh trưởng phát dục, mang th

Trang 1

HỌC PHẦN II CÔNG NGHỆ SINH SẢN

- - - - - -

Yêu cầu chung: Nắm được những kỹ thuật tiên tiến nhằm chủ động điều khiển quá

trình sinh sản theo ý muốn của con người

GIỚI THIỆU

Kỹ thuật sinh sản là một trong những biện pháp then chốt để duy trì phẩm giống, phát triển đàn, tạo ra nhiều sản phẩm thịt, sữa, trứng… phục vụ nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng về cả số lượng và chất lượng Năng suất sinh sản trong chăn nuôi nước ta hiện nay còn thấp Theo tổng kết của Hội Chăn nuôi VN (2000) lợn nái lứa đẻ ít (1,5 – 1,6 lứa đẻ/nái/năm), số lợn con sinh ra và nuôi được thấp do đó khả năng sản xuất thịt bình quân của một l nái chỉ đạt 550-600 kg thịt/nái/năm bằng 1/3 chỉ tiêu này ở các nước trong khu vực Khoảng cách giữa các lứa đẻ của đàn trâu bò cái sinh sản bình quân 20-24 tháng (tỉ lệ đẻ 50-60%), ở các nước chăn nuôi tiên tiến chỉ tiêu này

là 14-15 tháng/bê/cái sinh sản (tỉ lệ đẻ 80-85%)… Năng suất sinh sản thấp là một trong những nguyên nhân hàng đầu làm cho hiệu quả chăn nuôi thấp thậm chí còn bị thua lỗ

Những nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến năng suất sinh sản của gia súc có nhiều nhưng chú ý nhất có những nguyên nhân sau:

a Chế độ nuôi dưỡng không hợp lý

Dinh dưỡng đầy đủ (không thiếu, không thừa), khẩu phần thức ăn hợp lý, đáp ứng được các nhu cầu của con mẹ trong các giai đoạn sinh trưởng phát dục, mang thai, trước và sau khi đẻ, nuôi con… làm một trong những biện pháp hữu hiệu đẻ nâng cao năng suất sinh sản của gia súc

b Trình độ quản lý và tay nghề thấp

Trong chăn nuôi hộ gia đình (nhất là đối với trâu, bò, dê) do không thực hiện phân đàn, phân lô đúng cách, chuồng trại chật chội sẽ dẫn đến các vấn đề như cản trở việc phát hiện sớm những gia súc cái động dục, gia súc có chửa sẽ dễ bị sẩy thai, thậm chí bê nghé sơ sinh bị dẫm chết… Mặt khác hàng năm không tiến hành loại thải những gia súc còi cọc hoặc có bệnh đường sinh dục đã được can thiệp nhiều lần không khỏi đều làm cho năng suất sinh sản của đàn cái thấp

Trang 2

c Thời tiết khí hậu

Điều kiện khí hậu của môi trường không thuận lợi có ảnh hưởng đến hoạt động sinh dục của gia súc ở các mức độ khác nhau Trâu cái, dê cừu cái rất nhạy cảm với sự thay đổi nhiệt độ- ẩm độ không khí Mùa hè oi bức hoặc mùa đông giá lạnh trâu cái,

dê cái hầu như ngừng động dục, đến lúc thời tiết trời mát mẻ (từ tháng 9-11 và từ tháng 2-5) mới trở lại động dục (mùa động dục) Ở bò cái tuy hoạt động sinh sản quanh năm nhưng cũng thường tập trung vào mùa hè và hè thu Vì vậy, trong mùa động dục (đối với trâu và dê cừu cái) nêu ta không tập trung mọi cố gắng đẻ phát hiện kịp thời và phối giống đúng lúc cho các gia súc cái se làm cho năng suất sính sản của chúng giảm sút

d Bệnh lý

Một số bệnh có thể làm giảm hoặc mất khả năng sinh sản của gia súc

- Các bệnh sản khoa đặc biệt là bệnh liên quan đến đường sinh dục Ví dụ: nhiễm bệnh ở bộ máy sinh dục sau khi đẻ như nhiễm trùng cục bộ hay toàn bộ, sát nhau, lộn tử cung, âm đạo…; những hiện tượng mất khả năng sinh sản (liệt dục, ngừng hoặc mất hoạt động tính dục, động dục ngầm, chù kì không rụng trứng…)

- Mất cân bằng nội tiết Ví dụ như do tồn lưu thể vàng làm cho gia súc cái không động dục; tỉ lệ FSH/LH không thích hợp làm cho gia súc động dục mà không rụng trứng; sự mất cân đối giữa Progesteron và Oestrogen như là quá ít Progesteron làm không bảo đảm điều kiện tốt của nội mạc tử cung để phôi làm tổ hoặc là quá nhiều Oestrogen gây nên động dục quá mức và liên tục…

- Rối loạn di truyền Đột biến di truyền, tương tác và kết hợp các gen không bình thường ở con đực và con cái hoặc do tác động của điều kiện sống bên ngoài (ánh sáng, nhiệt độ, hoá chất…) đã làm biến đổi hệ thống gen (chuyển đoạn, hoà tâm…) đưa đến mất hoàn toàn hoặc giảm khả năng sinh sản của vật nuôi

Khắc phục những nguyên nhân nêu trên bằng những biện pháp tương ứng và có hiệu quả (chế độ dinh dưỡng hợp lý, cải tiến và nâng cao trình độ quản lý kinh tế-kỹ thuật chăn nuôi thú y, thực hiện tốt quy trình công nghệ TTNT, cấy truyền phôi, điều hoà sinh sản bằng hormone…) chắc chắn sẽ nâng cao năng suất sinh sản của đàn gia súc

Trang 3

CHƯƠNG IV.

KỸ THUẬT THỤ TINH NHÂN TẠO GIA SÚC

Mục đích: Trình bày kỹ thuật huấn luyện đực giống, kỹ thuật khai thác tinh dịch,

kỹ thuật kiểm tra đánh giá chất lượng tinh dịch, đặc tính của tinh trùng, pha chế, bảo quản tinh dịch và kỹ thuật dẫn tinh

Thời lượng giảng dạy: 20 tiết (15 tiết lý thuyết và 5 tiết thực hành)

* Khái niệm

Thụ tinh nhân tạo là một biện pháp khoa học trong chăn nuôi, thông qua một số biện pháp kỹ thuật, con người lấy tinh từ đực giống để thụ tinh nhân tạo cho con cái nhằm phát huy khả năng sản xuất của những gia súc tốt

I LỊCH SỬ CỦA KHOA HỌC THỤ TINH NHÂN TẠO

có chửa và sinh ra con ngựa như ông mong muốn Năm 1898 Heape (Anh) phát hiện

ra chu kỳ sinh dục gia súc làm nền tảng khoa học cho kỹ thuật thụ tinh nhân tạo Ở

Mỹ, Pearson và Harrison phát hiện ra phương pháp dẫn tinh ngựa và bò

Sự bùng nổ của kỹ thuật thụ tinh nhân tạo đạt được sau khi Joseppe Amantea, người Italia phát minh ra âm đạo giả năm 1914 Phát minh này đã giải quyết một loạt khó khăn trong việc lấy tinh các loại gia súc nhất là ngựa và loài dạ cỏ

Trang 4

I.I Ivanov (1917) cùng với V.K Milovanov (1934) là những người đầu tiên đưa ra cơ

sở khoa học và thực nghiệm về pha loãng và bảo tồn tinh dịch với dung dịch điện giải (NaCl, KCl), Phillips (1940), Salisbury (1943) cải tiến môi trường pha loãng và bảo tồn với lòng đỏ trứng gà, Na-Citrate, kháng sinh đã thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực thụ tinh nhân tạo gia súc ngày càng được hoàn thiện theo thời gian và có được

sự phát triển cả về mặt quy mô lẫn chiều sâu như ngày nay [2-4]

2 Lịch sử ở Việt nam

Ở Việt nam, kỹ thuật TTNT được bắt đầu từ năm 1957 tại Học viện Nông - Lâm, nay

là trường Đại học nông nghiệp I thuộc huyện Gia Lâm - Hà Nội Năm 1958, TTNT đã được tiến hành cho lợn ở An Khánh - Hà Tây Đầu năm 1960, TTNT cho bò, 1961 TTNT cho trâu, 1964 cho ngựa Vào những năm 70, cơ sở đông lạnh tinh dịch bò dạng viên do Cuba viện trợ đã tiến hành ở Moncada thuộc Ba Vì - Hà Tây Năm

1986, Viện Chăn nuôi đã ứng dụng thành công TTNT cho gà, năm 1990 cho ngỗng,

1991 TTNT lai xa giữa ngan và vịt, 1995 TTNT cho dê, 1997 TTNT cho chó nghiệp

vụ

Cho đến nay, TTNT cho lợn, bò là phát triển hơn cả Cả nước có 79 trạm (năm 1999)

và 36 phân trạm với trên 2.000 cán bộ kỹ thuật và hàng vạn dẫn tinh viên, số lượng lợn, bò đực giống được sử dụng vào TTNT trên 1.500 con [5, 6]

II LỢI ÍCH VÀ BẤT LỢI CỦA TTNT GIA SÚC

1 Lợi ích

- Nâng cao được khả năng truyền giống của con đực

Bằng cách TTNT một con lợn đực có thể phụ trách 250 - 350 lợn cái (đực nội) và

1000 - 2000 lợn cái (đực ngoại) Đối với bò, một con đực có thể phụ trách hàng vạn

bò cái (vì mỗi lần xuất tinh của bò đực cho 200 liều tinh và lợn đực cho 30 - 40 liều tinh)

- Nâng cao phẩm chất chung của đàn gia súc

Vì chỉ dùng một số ít con đực giống được chọn lọc kỹ càng, với chất lượng tinh dịch rất tốt đem dẫn cho gia súc cái thì các đặc điểm tốt sẽ được truyền cho đời sau

- Có thể mang tinh dịch đi xa

Vì tinh dịch đó đã được dùng các chất thích hợp để pha chế và dùng nhiệt độ thích hợp để bảo tồn Ví dụ :Tinh dịch lợn ở nhiệt độ 16-18 oC có thể giữ được 3-4 ngày (lợn ngoại), lợn nội có thể giữ được 1-2 ngày Đặc biệt tinh dịch bò, bằng phương pháp ướp lạnh có thể giữ được 8-10 năm

Trang 5

- Tránh được sự lây lan một số bệnh qua con đường tiếp xúc

- Khắc phục được khó khăn do sự chênh lệch quá lớn về tầm vóc trong giao phối trực tiếp

Ví dụ lợn đực ngoại nặng chừng 300-400 kg nhưng lợn cái nội chỉ nặng trung bình 50-60kg hay bò đực ngoại nặng 1 tấn - 1,5 tấn trong khi bò cái nội chỉ khoảng 180-

250 kg nên rất khó giao phối trực tiếp

- Trong công tác lai tạo và chăn nuôi công nghiệp với số lượng gia súc cái động dục đồng loạt với các công thức lai tạo giống khác nhau thì chỉ có biện pháp TTNT mới giải quyết được vấn đề trên

- Kéo dài thời gian sử dụng đực giống

Ví dụ bằng nhảy trực tiếp lợn đực ngoại chỉ sử dụng trong khoảng 1,5-2 năm trong khi bằng TTNT nó có thể dùng được 4-5 năm

- Có hiệu quả kinh tế lớn hơn hẳn gia súc đực nhảy trực tiếp

Ví dụ: Giá trị tiền thu được từ TTNT bao giờ cũng gấp từ 5-6 lần so với nhảy trực tiếp đối với lợn và hàng trăm lần đối với bò

2 Bất lợi

- Kỹ thuật TTNT đòi hỏi người làm kỹ thuật nắm được về sinh lý sinh sản và thú y, là người trung thành, yêu nghề, được đào tạo

- Cần vốn ban đầu cao

- Đòi hỏi về thời gian lâu hơn, các công đoạn qúa trình thụ tinh diễn ra nhịp nhàng ăn khớp với nhau

- TTNT nếu không có kiểm tra tốt nó sẽ làm lây lan bệnh tật thông qua sinh sản

III MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ SINH LÝ SINH SẢN CỦA GIA SÚC ĐỰC

(Đã nghiên cứu trong Học phần 1)

IV KỸ THUẬT KHAI THÁC TINH DỊCH CỦA GIA SÚC

Trang 6

1 Phản xạ tính dục của con đực

Phản xạ tính dục là chuỗi phản xạ, là biểu hiện các hành vi động tác muôn hình muôn

vẻ, để kích thích con cái cùng loài, thông qua đó con đực thực hiện được chức năng sinh sản

1.1 Phản xạ săn đuổi (trò sơ bộ)

Phản xạ săn đuổi là phản ứng toàn thân của con đực để kích thích con cái cùng loài dẫn đến khả năng giao phối với nhau Đực giống bình thường đến giai đoạn thành thục về sinh dục đều có phản xạ này, nếu không có thì đực giống đó không bình thường về khả năng sinh sản Thường con đực phát hiện con cái bằng các cơ quan cảm thụ như thính giác, thị giác, khứu giác Khi tiếp xúc với con cái nó thường ngửi phân, ngửi nước tiểu, ngửi bộ phận sinh dục của con cái hoặc dùng mõm hích vào lưng, vào bụng để kích thích Ở gia cầm khi con đực tiếp xúc với con cái thường đạp chân, xả cánh và đuổi theo con cái Nhìn chung ở các loài gia súc khác nhau thì cách thể hiện phản xạ này khác nhau Đây là phản xạ ban đầu và là cơ sở để thực hiện các phản xạ khác do vậy ta cần tạo điều kiện để gia súc thực hiện phản xạ này một cách đầy đủ

Gia súc cái cũng có phản xạ này nhưng nó chỉ biểu hiện ở thời kỳ động dục, con vật thường bỏ ăn, phá chuồng, kêu la và đi tìm con đực, biểu hiện rõ nhất là ở bò

1.2 Phản xạ cương mô giao cấu

Phản xạ này bắt nguồn từ phản xạ săn đuổi làm trương phồng cơ quan giao cấu

Ở gia súc đực do máu của động mạch phân nhánh nhiều đến dương vật và kết thúc

ở cơ quan cương tạo thành xoắn ốc, dẫn đến hiện tượng trương phồng và cương cứng dương vật Đây là phản xạ tạo điều kiện cho phản xạ giao cấu và phản xạ phóng tinh tốt hơn và ngược lại Chính vì vậy mà ta cần tạo điều kiện để cho gia súc thực hiện phản xạ này thật tốt

Ở con cái cũng có phản xạ này khi hưng phấn sinh dục đến đỉnh cao máu dồn lên tiền đình âm đạo làm cho tiền đình âm đạo trương phồng

* Chú ý: nhiều con đực hăng quá : khi ta đưa vào giá vội vã nhảy lên ngay, những con đó thường nhảy không thành công

1.3 Phản xạ giao cấu

Phản xạ này xảy ra ở cả con đực và con cái, hai cơ quan sinh dục tiếp xúc với nhau, toàn cơ thể đực, cái hưng phấn ở mức độ cao (mất phản xạ này thường mất luôn cả phản xạ phóng tinh)

Trang 7

+ Ngựa có kiểu giao cấu có cưa, khi đạt tới trạng thái hưng phấn cao nhất dương vật đưa sâu vào tử cung để thực hiện phản xạ phóng tinh

+ Bò có phản xạ tìm ngắn hơn, biểu hiện cử động nhịp xương chậu kết hợp với cử động của dương vật và đưa dương vật tiếp xúc với môi to âm đạo Lúc này do kích thích của tiểu thể xúc giác (nằm dưới niêm mạc dương vật) bò bắt đầu thực hiện phản xạ phóng tinh

+ Lợn động tác tìm lâu hơn, dương vật xoay nhiều lần, đưa vào rút ra cuối cùng dương vật đưa qua cổ tử cung để thực hiện phản xạ phóng tinh

1.4 Phản xạ phóng tinh

Phản xạ phóng tinh là phản xạ cuối cùng của chuỗi phản xạ sinh dục Nó liên quan đến nhiều phản xạ như nâng dịch hoàn lên để co bóp phóng tinh ra ngoài Đây là phản xạ quan trọng nhất, nó trực tiếp ảnh hưởng đến phẩm chất tinh dịch vì vậy ta phải đặc biệt chú ý tạo mọi điều kiện để gia súc xuất tinh tốt, đặc biệt là các yếu tố kỹ thuật như nhiệt độ, áp suất, độ nhớt của âm đạo giả và các yếu tố kỹ thuật khác Phản xạ này ở những động vật khác nhau thì biểu hiện khác nhau:

+ Ngựa khi phóng tinh nó cử động nhịp đuôi, có lúc rên khẽ, nó phóng tinh từng phần Giai đoạn đầu dịch loãng hầu như không có tinh trùng, giai đoạn thứ hai dịch có màu trắng sữa, nồng độ tinh trùng ở mức độ cao, giai đoạn thứ ba dịch nhầy keo, ít tinh trùng

+ Bò và trâu phóng tinh khi thực hiện phản xạ thúc Thời gian phóng tinh ở trâu, bò chỉ ngắn trong vòng 3-4 giây (cần lưu ý: khi trâu, bò chưa thực hiện phản xạ thúc thì chưa phóng tinh)

+ Lợn suốt trong thời gian phóng tinh nằm im trên giá, dương vật ít cử động Lợn do lượng tinh dịch nhiều nên tinh dịch chảy trực tiếp vào tử cung Theo Burger 1952 mổ khám tử cung sau 15 phút thực hiện phản xạ phóng tinh thì tử cung đầy tinh dịch Lợn cũng phóng tinh từng phần giống như ngựa nhưng thời gian phóng tinh của lợn lâu hơn, có thể kéo dài từ 10 - 15 phút, có con kéo dài tới 30 phút

Trang 8

2 Điều kiện để huấn luyện tốt đực giống

2.1 Tuổi huấn luyện

Đực giống khi đưa vào huấn luyện tuổi phải hơi non (tuổi dậy thì) bởi vì ở tuổi này dễ cảm hóa con vật nhưng đồng thời cũng là tuổi con vật có tinh hăng về sinh dục, còn nếu tuổi trưởng thành thi khó huấn luyện hơn vì tính bảo thủ của nó cao

+ Lợn nội 5-6 tháng tuổi, lợn ngoại 7-8 tháng tuổi

+ Trâu, bò 18-24 tháng tuổi, nếu trên hai năm thường khó huấn luyện

2.2 Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng

Trước khi đưa đực giống vào huấn luyện khoảng 20 ngày cần cho gia súc ăn theo chế độ của đực giống làm việc, khẩu phần ăn phải đảm bảo và cân đối giữa các chất, đặc biệt là protein, canxi, phốt pho và các loại Vitamin A, D, E

Cùng thời gian ấy người huấn luyện phải tiếp xúc với con đực để làm quen bằng cách cho gia súc vận động, tắm chải, xoa bóp dịch hoàn

2.3 Lịch huấn luyện

Phải đảm bảo một tuần không quá hai lần và đúng giờ qui định (tốt nhất là khoảng từ 5-7 giờ sáng)

2.4 Người huấn luyện

Người huấn luyện phải kiên trì tránh nôn nóng, tránh các hành vi thô bạo như : đánh đập gia súc và phải luôn cố định người huấn luyện bởi vì có cố định người huấn luyện thì mới theo dõi được cá tính của từng con để chiều theo ý thích của chúng

2.5 Phòng và giá huấn luyện

Phòng huấn luyện phải rộng đủ cho gia súc đi lại thực hiện các phản xạ Giá huấn luyện phải phù hợp với từng loại gia súc

3 Phương pháp huấn luyện

* Nguyên tắc huấn luyện

Thành lập cho gia súc đực một phản xạ có điều kiện về nhảy giá và thường xuyên củng cố phản xạ này

Các loài gia súc khác nhau thì có phương pháp huấn luyện khác nhau

Trang 9

3.1 Đối với trâu, bò: lúc đầu cho nhảy cái động dục, tiếp đó cho nhảy cái thường, cuối cùng cho nhảy giá hoặc nhảy với đực khác

3.2 Đối với lợn: lúc đầu cho nó nhảy với cái động dục, tiếp đó cho nhảy với con mồi, cuối cùng cho nhảy với giá

* Chú ý: - Mỗi giai đoạn nhảy ta cho củng cố 5 đến 6 lần, khi gia súc thành thạo thì ta

sẽ chuyển sang giai đoạn khác

- Một số con ta chỉ cần cho nó tham quan sau đó tự nó có thể tự nhảy giá được hoặc có những con khi cho nó vào giá nó nhảy giá ngay thì cho chúng nhảy trực tiếp giá không cần áp dụng một cách máy móc quy trình trên để rút ngắn thời gian huấn luyện

4 Kỹ thuật khai thác tinh dịch

4.1 Các yêu cầu cơ bản

Trong Kỹ thuật TTNT thì đối tác số 1 chính là con đực Trong kỹ thuật khai thác tinh dịch có những yêu cầu cơ bản sau:

a Dùng phương pháp nào, kỹ thuật nào thì làm sao cũng phải khai thác toàn bộ tinh dịch của con đực trong 1 lần khai thác

Nếu việc đó không xảy ra thì nó sẽ gây ra 2 hiện tượng:

+ Lãng phí tinh dịch

+ Phản xạ tính dục của con đực bị ảnh hưởng, làm mất khoái cảm sinh dục, dẫn đến làm mất phản xạ có điều kiện đã được tạo nên

b Đảm bảo phẩm chất của tinh dịch

- Để đạt được về số lượng và chất lượng thì phải đảm bảo các điều kiện sống, sinh

lý, chế độ khai thác con đực Sau khi khai thác xong thì phải đảm bảo điều kiện sống cho tinh trùng khi ra ngoài cơ thể đặc biệt là không được có các tạp khuẩn, các chất sinh học gây ảnh hưởng đến chất lượng tinh trùng Phải tránh lây lan các bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng thông qua khai thác tinh dịch

Có những chú ý sau về khâu vệ sinh trong quá trình khai thác tinh dịch:

+ Dụng cụ khai thác tuyệt đối vô trùng

+ Không được khai thác tinh dịch của gia súc ốm, bị bệnh

Trang 10

+ Phải tắm rửa con đực trước mỗi lần khai thác tinh dịch

+ Vệ sinh sạch sẽ giá nhảy, phòng lấy tinh

+ Nhân viên lấy tinh dịch phải cố định và không mắc các bệnh truyền nhiễm

c Không được gây ảnh hưởng thô bạo đến cơ quan sinh đực

d Dụng cụ an toàn cho cơ quan sinh dục gia súc, dễ thao tác, dễ kiếm và giá thành

Kết quả chất lượng tinh dịch giảm, dễ nhiễm bẩn, dễ gây xây xát cho con cái

Chỉ sử dụng trong nghiên cứu như ở trên các động vật: cáo, chồn, khỉ

(Câu chuyện về bộ lạc ở Ả rập)

b Phương pháp âm đạo

Người ta nút cổ tử cung trước khi giao phối sau đó cho gia súc nhảy trực tiếp, tinh dịch được phóng trực tiếp vào âm đạo rồi dùng cái cán dài hoặc ống hút lấy tinh ra

sử dụng Còn gọi là phương pháp cho giao phối trực tiếp

Dĩ nhiên phương pháp này chất lượng tinh dịch không đảm bảo và mất vệ sinh

Hiện nay cũng chỉ sử dụng trong nghiên cứu, vd: trên hổ

c Phương pháp dùng túi

Trang 11

Năm 1903, Sand và Stribold dùng dùng một cái túi bằng cao su mỏng lắp sẵn vào dương vật khi con đực hưng phấn, cho gia súc giao phối, sau khi phóng tinh thì lấy tinh từ bao cao su để sử dụng

Phương pháp này bảo đảm

được chất lượng tinh dịch

nhưng làm giảm cảm giác, khó

lấy tinh, đặc biệt là ở trâu, bò

Phương pháp này không được

công năm 1934 Đầu tiên dùng

tay móc phân ra khỏi trực tràng

sau đó kích thích âm nang làm

cho dịch tiết, rửa sạch ống

phóng tinh rồi gây kích thích

thần kinh chậu hông làm cho gia súc xuất tinh Phương pháp này có thể dùng cho trâu bò nhưng kết quả không cao và rất khó Phương pháp này không được sử dụng hiện nay

Hình 27 Lấy tinh lợn bằng điện

Đối với gia súc thì có thể đưa máy vào trực tràng sau khi lấy hết phân ra Đặc biệt là

sử dụng đối với những con đực giống tốt nhưng bị què hay liệt

Đối với gia cầm thì chia làm hai cực, một cực đặt ở đốt sống lưng thứ 3, cực khác đặt

ở ổ nhớp (lỗ huyệt) Dùng dòng điện có cường độ biến đổi từ 41-62 mA, trung bình là

55 mA với điện thế là 30 vôn Gia cầm thường bài tinh sau 3 phút

f Phương pháp Massage (lấy tinh bằng tay, cơ giới)

Trang 12

Phương pháp này xuất xứ từ Hà lan và Pháp và đến năm 1974 được áp dụng ở Việt

nam Cho đến nay bộ nông nghiệp

đã in thành qui trình và được áp dụng rộng rãi ở tất cả các trạm thụ tinh nhân tạo lợn trong cả nước

- Nguyên tắc:: Theo dòng chung: Đại não tác động, kích thích lên các dây TKTV tạo nên phản xạ xuất tinh Tuy nhiên, người lấy tinh

có thể lợi dụng những kích thích

từ lòng bàn tay (ma sát, ôn độ, áp suất) lên cơ quan sinh dục đực tạo nên các hưng phấn TKTV, từ

đó tác động lên đại não gây nên phản xạ xuất tinh

Phương pháp này sử dụng phổ biến ở lợn, cá, gia cầm Ở trâu,

bò, dê, cừu cho kết quả không cao Phương pháp lấy tinh bằng massage là phương pháp đơn giản tiện lợi, nhưng nó bất lợi là nếu kỹ thuật không tốt

dễ bị làm xây xát dương vật gây ra viêm nhiễm

Hình 28 Âm đạo giả lấy tinh cho chó của Amantea

g Phương pháp sinh vật (dùng âm đạo giả)

Phương pháp này được Amantea áp dụng thành công để lấy tinh cho chó vào năm

1914, sau này được một số nhà khoa học cải tiến và lấy tinh hầu hết cho các loài gia súc

Nguyên tắc: Dựa trên những phản xạ tự nhiên của con đực mà người ta chế tạo ra

âm đạo giả thỏa mãn 3 điều kiện:

+ Nhiệt độ trong lòng âm đạo giả: tùy từng loài gia súc khác nhau mà yêu cầu nhiệt

độ trong lòng âm đạo giả khác nhau Ở bò, trâu nhiệt độ cần 400C đến 410C, ở lợn ngựa cần 390C đến 400C Nhiệt độ qúa cao hoặc quá thấp đều làm cho gia súc xuất tinh không tốt, thậm chí không xuất tinh và ảnh hưởng đến chất lượng tinh dịch Chính vì vậy khi lắp âm đạo giả, cần tạo ra nhiệt độ thích hợp cho từng loài thậm chí tới từng con gia súc

+ Áp suất trong lòng âm đạo giả

Khi giao phối trực tiếp, dương vật con đực chịu một áp lực và ma sát của âm đạo con cái Do đó gây ra sự kích thích, dẫn đến phóng tinh Để tạo một áp lực và ma sát của

âm đạo con cái gây ra sự kích thích dẫn đến phóng tinh Để tạo một áp suất tương tự

Trang 13

cần bơm hơi vào vách trong âm đạo một áp lực tương đương 35 đến 65 mmHg Khi

áp lực quá 80mm Hg, quá trình xuất tinh sẽ bị trở ngại

+ Độ nhớt của âm đạo giả

Khi giao phối tự nhiên, do cọ sát dương vật vào âm đạo, các tuyến trong âm đạo và

cổ tử cung tiết ra chất nhờn bôi trơn âm đạo Để tạo điều kiện cho dương vật con đực giao cấu trong âm đạo giả Khi lắp âm đạo giả ta cần bôi trơn 2/3 kể từ phía miệng bằng một số loại

gia súc không xuất tinh hoặc chất lượng tinh dịch sẽ giảm do vậy ta cần phải chú ý

Đây là phương pháp mang tính tối

ưu nhất hiện nay, có thể áp dụng

được với mọi gia súc, nó có một

số ưu nhược điểm chính sau:

Hình 30 Một số dụng cụ lấy tinh cho gia súc

+ Đảm bảo an toàn được cơ quan

sinh dục của con đực

+ Chất lượng tinh dịch được đảm

bảo tốt

+ Dụng cụ phức tạp, chuẩn bị cầu

kỳ Vì vậy phương pháp này hiện

nay người ta chỉ áp dụng lấy tinh

cho trâu bò

4.3 Một số phương pháp khai thác tinh dịch hiện nay

3.1 Phương pháp lấy tinh bằng âm đạo giả (ÂĐG)

a Cấu tạo ÂĐG: (thực tập)

Trang 14

b Cách lắp ráp đạt yêu cầu: (thực tập)

Trước khi lấy tinh phải chuẩn bị âm đạo giả (sau khi đã vô trùng các bộ phận của âm đạo giả) bằng cách bơm nước nóng và thổi không khí qua van sao cho nhiệt độ trong lòng ÂĐG đạt 39-40oC và mép ngoài ruột cao su ÂĐG phồng lên và thít lại thành 3 khía Sau đó ta bôi vadơlin vào ruột cao su khoảng 1/3 chiều dài ÂĐG kể từ miệng ÂĐG

c Tập luyện con đực để lấy tinh bằng phương pháp ÂĐG

- Chọn tuổi: sau khi thành thục về tính, trước khi thành thục về thể vóc vì lúc đó Testostogen cao nhất cho nên con đực hăng nhất Ở bò là khoảng 18-24 tháng tuổi

- Phương pháp huấn luyện (sử dụng phương pháp sinh vật) : Dựa trên phản xạ giao phối tự nhiên của đực và cái, trên cơ sở đó người ta thiết lập phản xạ lấy tinh bằng cách đánh lừa con vật (thay cơ quan sinh dục thật bằng giả.)

Cụ thể sử dụng ÂĐG lấy tinh cho bò như sau:

Cho cái động dục vào giá đỡ và cố định

Để con đực định huấn luyện cách xa con cái 18-20m để con đực nhìn về phía con cái

và đồng thời dùng khăn nhúng dung dịch thuốc tím 1%o hơi ấm (40oC) vệ sinh vùng bụng và kích thích nhẹ qui đầu con vật làm cho con đực hưng phấn và dương vật thò ra một ít

Người giúp việc đưa con đực giống đến chỗ con cái, ở đó đã có người lấy tinh Người cầm ÂĐG đứng ở tư thế sẵn sàng: Đứng theo hình chữ đinh (để diện tiếp xúc với con vật là nhỏ nhất), ÂĐG vác trên vai

Bò đực sau khi nhảy lên giá sẽ có phản xạ cương cứng dương vật Lúc đó, kỹ thuật viên phải bình tĩnh, thông minh, khéo léo và cảnh giác chuyển chân sang hình chữ bát tay trái cầm lấy bao dương vật bẻ chếch về phía bên phải (nếu thuận bên phải) còn tay phải thì đưa ÂĐG vào dương vật để tránh xây xát đầu dương vật vừa tránh nhiễm bẩn đầu dương vật đồng thời tránh trường hợp con vật hăng quá phóng tinh mất Khi dương vật bò đực thúc vào ÂĐG thì với áp suất và nhiệt độ thích hợp thì con vật sẽ nhún tới trước và xuất tinh Thời gian xuất tinh của bò đực rất ngắn (khoảng 1-2 giây) Sau khi

Hình 31 Sử dụng ÂĐG lấy tinh cho bò và cho dê

Trang 15

xuất tinh bò đực từ từ tuột khỏi giá, ta không rút ÂĐG ra ngay mà từ từ lái tay cầm theo dương vật

Chú ý: Tuyệt đối không để con vật giao phối tự nhiên, điều đó sẽ làm khó cho lần tập

3.2 Phương pháp lấy tinh lợn bằng tay: Trước đây người ta lấy tinh lợn đực bằng âm

đạo giả nhưng ngày nay người ta lấy tinh bằng tay

a Các phương pháp huấn luyện:

Sử dụng con đực ở tuổi: 7-9

tháng đối với lợn ngoại, 5-7

tháng đối với lợn nội

Tùy theo cá tính của mỗi con đực

mà có thể ứng dụng các biện

pháp huấn luyện sau:

- Phương pháp thăm quan: Cho

lợn tập sự xem một lợn khác

nhảy giá Sau đó lại cho lơn tập

sự tiếp xúc với giá nhảy Chỉ một

vài lần như vậy lợn đực đó sẽ

biết nhảy giá

- Phương pháp sinh vật: tương

tự như ở bò, sử dụng một cái

Trang 16

động dục làm mồi và dùng tay kích thích dương vật xuất tinh Khi đã quen thì chuyển sang giá nhảy

- Phương pháp cưỡng bức: cưỡng bức lợn trèo lên, ôm giá, đồng thời dùng tay kích thích bao dương vật để lợn thò dương vật ra ngoài Sau vài lần lợn sẽ quen và tự nhảy giá Cần đề phòng phản ứng của lợn đực

b Kỹ thuật lấy tinh

Dụng cụ lấy tinh gồm một cốc hứng tinh, một khăn vải màn để lọc tinh, tất cả đều được khử trùng Khi chuẩn bị xong, cho lợn vào phòng lấy tinh (lơn đã được huấn luyên để lấy tinh), dùng khăn và thuốc tím 1o/00 vô trùng bộ phận trùng bộ phân sinh dục sau đó cho lợn đực lên giá Dùng tay người lấy tinh đã được vô trùng kích thích ngoài bao dương vật Khi lợn đực thò dương vật ra khỏi bao dương vật ta dùng bàn tay nhẹ nhàng nắm phần dương vật thò ra và kéo cho dương vật lệch ra ngoài giá để tránh dương vật cọ xát vào giá gây thương tích, vì vậy cần nắm dương vật vừa phải cho dương vật khỏi tuột khỏi lòng bàn tay, không được bóp chặt làm cho con vật đau,

sợ và không lấy tinh được, khi đó lợn sinh cáu gắt và nếu không cảnh giác nó sẽ cắn người Khi lợn xuất tinh, ở giai đoạn đầu yếu là dịch tiết của các tuyến sinh dục phụ

có màu trắng trong, hầu như không có tinh trùng do đó ta không hứng vào cốc Khi tinh xuất ra có màu trắng sữa, ta dùng tay còn lại cầm cốc hứng tinh kề vào sát quy đầu để gia súc phóng tinh qua lớp vải màn rồi chảy xuống cốc hứng tinh Gần kết thúc quá trình phóng tinh thì dịch tiết ra chủ yếu là dịch loãng và keo phèn nên ta loại

bỏ không hứng lẫn vào tinh dịch

* Chú ý:

- Không bịt ngón tay vào lỗ phóng tinh, tinh không bắn ra được

- Cho tinh dịch chảy theo thành cốc hứng tinh

- Trong quá trình lợn phóng tinh tay giữ dương vật để nguyên vị trí và có thể dùng ngón tay cái kích thích vào đầu dương vật để gây kích thích cho lợn xuất tinh tốt hơn

- Khi lấy tinh xong cần phải vệ sinh phòng lấy tinh và dụng cụ

V.TINH DỊCH

1 Khái niệmvề tinh dịch

1.1 Quan niệm cũ về tinh dịch

Trước đây, có những thuyết duy tâm về sinh sản, con người thuờng dựa vào các tôn giáo để giải thích các hiện tượng của sinh giới Đặc biệt là tôn giáo phương Đông,

Trang 17

người ta cho rằng vạn vật trên đời là do trời sinh ra Vì vậy, khi quan sát trên các đầm sen thấy nhiều ngỗng trời thì người ta cho rằng ngó sen đã sinh ra ngỗng trời, giun sống trong đất thì cho rằng đất sinh ra giun, thịt thối có giòi thì cho là thịt thối sinh ra giòi, v.v

Khi ý thức được về tinh dịch thì người ta lại quan trọng hóa trong đời sống động vật Thí dụ như cho rằng tinh dịch là chất tinh túy nhất của cơ thể (là linh hồn) phần còn lại chỉ là thể xác và nó liên quan rất nhiều đến sinh thể Các nhà y học phương Đông cho rằng khi tinh dịch sử dụng quá nhiều làm thủy suy hỏa vượng, thủy hỏa mất cân bằng trong cơ thể, dẫn đến con người khô héo gầy mòn Hoặc quan niệm người phụ

nữ tiếp xúc nhiều với tinh dịch thì thủy thịnh hỏa suy, cơ thể xanh xao ốm yếu

1.2 Quan niệm mới về tinh dịch

Ivanốp, nhà bác học Nga, là người đầu tiên có quan niệm đúng về tinh dịch Bằng một lọat các công trình nghiên cứu, ông đã đưa ra các nhận định quan trọng sau đây :

+ Để đạt được kết quả thụ tinh điều kiện cần và đủ là tinh trùng và trứng phải thành thục, có khả năng thụ thai trong hòan cảnh tối thích của chúng Ông cũng khẳng định rằng sự gặp gỡ một cách đặc biệt của hai cá thể cùng giống khác giới đã thành thục chỉ là hình thức bên ngòai, chỉ tạo điều kiện cho hai tế bào sinh dục đực và cái gặp nhau, đồng hóa lẫn nhau để tạo thành hợp tử Như vậy, con người có thể làm thụ tinh nhân tạo được

+ Trong quá trình thụ tinh và di truyền các tính trạng từ đời trước cho đời sau không phải cả tinh dịch quyết định mà chỉ do một mình tinh trùng thành thục có khả năng thụ thai để đồng hóa với trứng là đủ Như vậy, có thể dùng môi trường nhân tạo để pha lõang tinh dịch

Bằng hàng lọat các công trình nghiên cứu, các nhà khoa học sau này đã làm sáng tỏ nhận định trên của Ivanov là đúng đắn và ứng dụng một cách sáng tạo vào thực tế

Cho đến nay, chúng ta đã thu được những thành tựu to lớn trong lĩnh vực này góp phần đắc lực cho nghành chăn nuôi phát triển

2 Đặc điểm của tinh dịch

2.1 Đặc điểm chung

Theo Ivanov, tinh dịch có ba đặc điểm chung

+ Tinh dịch là dịch tiết của cơ quan sinh dục đực khi con đực thực hiện có kết quả phản xạ sinh dục

Trang 18

+ Tinh dịch được hình thành một cách tức thời khi con đực phóng tinh, nghĩa là lúc

nó hưng phấn cao nhất trong quá trình thực hiện phản xạ giao phối

+ Tinh dịch gồm hai thành phần cơ bản là tinh trùng và tinh thanh

- Tinh trùng là tế bào sinh dục đực

- Tinh thanh là chất tiết của các tuyến sinh dục phụ, phụ hòan và ống dẫn tinh

2.2 Các dặc tính của tinh dịch

2.2.1 Tỷ trọng

Trong tinh dịch, tỷ trọng tinh trùng nặng hơn tinh thanh nên tỷ trọng tinh dịch thường chịu ảnh hưởng của số lượng tinh trùng có trong tinh dịch Để biết tỷ trọngcủa tinh dịch người ta so sánh giữa khối lượng tinh dịch với khối lượng nước cất hai lần có cùng một thể tích

Thông thường tỷ trọng tinh dịch lợn là 1,020 - 1,022, bò là 1,03

Như vậy, trong một mẫu tinh nếu tỷ trọng càng cao tì nồng độ tinh trùng càng đậm đặc

2.2.2 Độ nhớt của tinh dịch

Độ nhớt của tinh dịch phụ thuộc vào tỷ trọng và thành phần chất nhầy có trong tinh dịch Việc xác định độ nhớt của tinh dịch có ý nghĩa cần thiết cho việc xây dựng môi trường pha lõang tinh dịch

Xác định độ nhớt chất lỏng dựa trên cơ sở xác định thời gian chảy của một thể tích nhất định chất lỏng đó qua một mao quản so với thời gian chảy của nước cất hai lần cùng thể tích và cùng chảy qua mao quản trên

Tinh dịch lợn thường có độ nhớt là 2,4 - 2,6, bò là 2,8 - 3,2, cừu là 4,5

Việc xác định độ nhớt có tác dụng rất lớn trong việc tạo ra môi trường pha lõang và bảo tồn tinh dịch, vì môi trường phải có độ nhớt tương đương với độ nhớt tinh dịch

2.2.3 Áp suất thẩm thấu của tinh dịch (posm)

Áp suất thẩm thấu có vai trò quan trọng đối với đời sống tinh trùng, nhất là khi tinh trùng được pha lõang trong các môi trường nhân tạo Nếu posm của môi trường tương đương với posm nội tại tinh trùng (đẳng trương) thì sức sống tinh trùng thuận lợi Ngược lại, nếu môi trường nhược trương hoặc ưu trương đều có hại cho tinh trùng, vì sẽ làm cho tinh trùng teo đi hoặc trương phồng và chết đi một cách nhanh

Trang 19

chóng Có nhiều cách xác định posm, nhưng đều dựa trên nguyên tắc xác định độ hạ băng điểm của chất lỏng cần đo rồi suy ra áp suất thẩm thấu

2.2.4 Độ pH của tinh dịch

Độ pH của tinh dịch có mối tương quan nghịch với mật độ tinh trùng

+ Khi còn trong phần phụ hòan (phần túi tinh), tinh trùng có mật độ cao nên pH của tinh dịch thấp Ở lợn pH từ 6,4 - 6,8, ở trâu bò khỏang 6,2

+ Khi ra ngòai, tinh trùng được pha lõang với tinh thanh nên pH thường tăng lên Đối với lợn từ 7,2 - 7,8, đối với trâu bò từ 6,4 - 6,8

+ Để xác định pH của tinh dịch, người ta có nhiều phương pháp khác nhau như ; dùng pH metter, dùng dãy ống so màu, dùng chỉ thị màu

2.2.5 Năng lực đệm

Năng lực đệm của một chất là khả năng ổn định lực toan, kiềm của nó khi thêm một tác nhân toan hoặc kiềm vào chất đó

Năng lực đệm của tinh dịch lợn thường đạt 1.300 - 1.500

2.2.6 Thành phần hóa học của tinh dịch

Tinh dịch là một chất lỏng rất phức tạp Cho tới nay, thành phần hóa học của nó vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, nhiều chất người ta mới định tính được mà chưa định lượng

Bảng 7 Thành phần hóa học tinh dịch của một số lòai gia súc [7]

Lòai gia súc Thành phần %

Cừu Bò Lợn Ngựa Chó

Trang 20

Protein 11.6 4.7 3.8 0.7 0.9

2.2.7 Men trong tinh dịch

Trong tinh dịch có nhiều loại men như:

Hyaluronidaza, mucidaza, catalaza, lipaza, amylaza, photphotaza tất cả các

men này đều tham gia vào quá trình sống và

hoạt động của tinh trùng

3 Hình thái, cấu tạo, chức năng và đặc điểm sinh vật học của tế bào sinh dục đực

3.1 Hình thái

Tế bào sinh dục đực của các loài gia súc khác nhau là khác nhau, nó đặc trưng và ổn định theo loài

Hình 33 Tinh trùng một số loài gia súc

Tinh trùng của gia súc:Có hình thái giống con nòng nọc, có chiều dài gần gấp đôi

đầu, bề dày không đáng kể nên khi nhìn nghiêng giống như hạt gạo hơi cong Có

hình thái khác nhau ở phần cổ và thân

Thông thường nó có độ dài nói chung: 45-90 µ (trong đó phần đuôi là dài nhất Về độ

dài, kích thước, trong lượng của tế bào sinh dục đực không phụ thuộc vào tuổi tác,

trọng lượng của con đực mà nó phụ thuộc và giống lòai

Trong bản thân tinh trùng chủ yếu là nước- chiếm 75%, còn lại là vật chất khô: 25%

Trong vật chất khô chủ yếu là Protein- chiếm 85%, lipit- 13.2%; ngoài ra khoáng,

vitamin: 1.8%

Trang 21

3.2 Cấu tạo và chức năng

Dưới góc độ sinh sản người ta chia tinh trung ra làm 3 phần:

- Phần đầu

- Phần cổ thân

- Phần đuôi

* Cấu tạo phần đầu:

- Ngoài cùng là màng chung của tinh trùng gọi là màng bán thấm Lipoprotein Nó có 3

lớp: protid - lipid - protid, có 2 chức năng: (i) Định hình cho tinh trùng; (ii) Bán thấm: cho phép trao đổi chất bên trong và bên ngoài Trên cùng phần đầu trong màng có lớp màng mỏng gọi là mũ trước chóp (galeapitis)

Dưới mũ trước có một màng gọi là thể giả hoặc thể đỉnh kết hợp với mũ trước chóp tạo nên xoang Acrosome thể hiện khả năng thụ thai của tế bào Acrosome rất dễ bong và men Hyaluronidaza do Acrosome tiết ra rất dễ thẩm xuất ra ngoài

Nhiệt độ càng cao thì Acrosome mất tác dụng và mức độ sốc, lắc làm xoang Acrosome bong và mất tác dụng Ở xoang Acrosome chứa nhiều men Hyaluronidaza không đặc hiệu chủng loại,

nó có chức năng như nhau, để tăng tỷ lệ thụ thai người ta thường bổ sung thêm men tổng hợp Hyaluronidaza vào tinh dịch Nó phá vỡ màng phóng xạ của trứng trong quá trình thụ tinh Sau hệ thống Acrosome là nhân tinh trùng, nó chiếm gần hết phần đầu 76.7-86.3% thể tích của đầu là nơi chứa các gen mật mã di truyền để truyền cho đời con Bản chất hóa học của nhân chủ yếu là Nucleoprotid gồm 2 thành phần cơ bản là acid nucleic và histine, chúng được nối với nhau bởi cầu nối NH2-P, cầu nối này rất dễ bị đứt bởi 3 yếu tố: áp suất thẩm thấu, nhiệt độ cao tới 420C, sự rung động như sốc-lắc Nếu NH2-P đứt thì tinh trùng bị chết

Hình 33 Cấu tạo tinh trùng [1]

Ngoài ra còn có các nguyên sinh chất

Trang 22

* Phần cổ - thân

Cổ tinh trùng gắn với đầu hết sức lỏng lẻo, nhưng có tác dụng rất lớn trong quá trình thụ tinh, nhưng bất lợi trong quá trình bảo quản

Phần cổ tế bào sinh dục đực rất ngắn và mảnh, chiều dài không đáng kể, coi phần cổ

là vạch biên giữa thân và đầu Về cấu trúc vi thể thì cổ tương đối giống thân Có 2 trung tử, trung tử 1 nằm ở dưới đầu, trung tử 2 nằm dưới trung tử 1 và trên thân

Về cấu trúc vi thể, theo Brestneither (1949) cắt ngang phần cổ thân của tinh trùng , từ trung tử 1 nằm trong hố thụ tinh xuất phát ra 2 sợi trục trung tâm và cũng là nơi xuất phát ra 9 sợi fibrin vành trong, 9 sợi này bao bọc lấy hai sợi trung tâm Trung tử 2 nằm thấp hơn trung tử 1 một chút, là nơi xuất phát của 9 sợi fibrin vành ngoài với kích thước sợi fibrin là khác nhau: sợi 1, 4, 7 có kích thước to (1000 A0), sợi 9 nhỏ (180 A0), sợi 2, 3, 5, 6, 8 có đường kính 700 A0 Nó chạy dọc từ cổ đến đuôi hoặc có công thức cấu trúc vi thể 2+ 9+ 9 giúp cho cơ thể tinh trùng không thay đổi vị trí trong di chuyển Phần cổ thân chứa nhiều ty thể Các ty thể là các túi nhỏ chưa 50% protid, 30% lipid và các chất khác Trong ty thể chứa nhiều men giúp cho quá trình photpho-oxyhóa của tế bào, nó nằm sắp xếp như các vách ngăn từ phía ngoài vỏ đi vào phần trung tâm của thân Có nhiều chất ở thể sắc tố Sytine Cytocrom hoặc tế bào sắc tố ở phần cổ thân giúp cho qúa trình oxyhóa của tinh trùng Ngoài ra có lượng lipid đáng kể, trước đây (1856) người ta tưởng tượng lipid đáng kể này là Lơxitin, lượng Lơxitin đó giúp cho tế bào có khả năng thích nghi, thích ứng Đến năm

1952 lượng lipid đáng kể này được tác giả Bowguth khẳng định không phải là Lơxitin

mà đó là Plasmalogen, chất này không có khă năng "chống lạnh" của tế bào Plasmalogen có khản năng bảo vệ tế bào vì thế mà người ta bổ sung chất chống lạnh

đó là lòng đỏ trứng gà

Ở phần cổ thân là kho chưa ATP, ATP chính là năng lượng được thu nhận qua quá trình trao đổi chất của tế bào và kho cung cấp năng lượng cho tế bào sống

* Đuôi

Chia làm 3 đoạn: trung đoạn, đuôi chính và đuôi phụ

+ Trung đoạn nối giữa thân với đuôi Về cấu trúc cơ thể ở đuôi có công thức 2+9+9, nhưng có điểm khác là sợi trung tâm và các sợi vành trong với vành ngoài có sự liên

hệ với nhau giống lip xe và bánh xe đạp gọi là mối liên hệ "nan hoa", giữa các sợi trung tâm với nhau cũng có mối liên hệ "bắt tay", có tác dụng thông tin giữa các sợi trên cùng một chức năng với nhau, làm cho cấu trúc vi thể đuôi tế bào khăng khít, quan sát kính hiển vi thấy rối lên như một màng nhện

+ Ở đuôi chính cũng có chưá ATP nhưng với một lượng ít hơn ở thân, nguyên sinh chất với số lượng ít có một số men chủ yếu là men giúp cho qúa trình fotforin hóa

Trang 23

+ Phần đuôi phụ của tế bào không được bao phủ bởi lớp màng chung của tế bào cho nên đó chính là các mái chèo giúp cho tế bào hoạt động

* Chức năng chính của đuôi:

Đuôi có chức năng duy nhất là chịu trách nhiệm về sự vân động của tế bào

Đối với tế bào sinh dục đực sống được là nhờ trao đổi chất, thể hiện của sự sống là vận động, mà vận động thì phải cần trao đổi chất nhờ năng lượng, như vậy càng vận động thì trao đổi chất càng tăng lên, tất cả những hiện tượng này làm cho tế bào mau chết bởi vì cạn kiệt năng lượng và nhiều độc tố

Trao đổi chât trực tiếp sử dụng năng lượng tích lũy dưới dạng ATP của cổ, thân, đuôi Nó lấy bằng cách nhờ phần protein sợi đuôi (có hai loại: spartine và spermiogine) Nhờ các thành phần protein sợi đuôi này mà ATP được dự trữ ở phần

cổ thân nhờ spermiogine và APTaza giải phóng ra ADP + E1, sau đó ADP với sự có mặt của ADPaza giải phóng ra AMP + E2

2 năng lượng trên được protid sợi đuôi thứ 2 là spartine rải đều năng lượng khắp sợi đuôi làm sợi đuôi co rút gây nên sự chuyển động của tế bào

Bảng 8 Kích thước tinh trùng của một số loại gia súc [8]

Trang 24

Tế bào vận động nhờ đuôi, đuôi rung động sẽ làm cho tinh trùng vận động Bản thân đuôi có khả năng chuyên động chủ động nên khi dòng điện chạy dọc theo tế bào thì cuối đuôi xẽ xòe như mái chèo dẫn đến vận động Tế bào sinh dục đực vận động phụ thuộc vào 3 yếu tố:

- Cấu trúc đuôi hoàn thiện hay không hoàn thiện

- Năng lượng vận động đủ, nhiều

- Môi trường sống bên ngoài của tế bào, áp suất thẩm thấu, nhiệt độ làm cho mức độ, cường độ vận động thay đổi và thông qua đấy người ta có thể đánh giá được chất lượng của tế bào Có thể phân chia ra 3 mức độ vận động:

+ Vận động tiến thẳng: bao gồm các tế bào tốt nhất, gồm những tế bào có phương thức hoạt động mà ở đó mức độ vận động mãnh liệt, vectơ vận động không thay đổi

mà nó chỉ tiến lên phía trước mà thôi Dưới góc độ sinh sản thì tế bào tiến thẳng mới

có khả năng thụ tinh Để đánh giá chất lượng tế bào sinh dục đực thì người ta đánh giá tỉ lệ % số lượng tế bào của phương thức tiến thẳng

+ Vận động xoay vòng: Gồm có các tế bào có cường độ vận động mạnh khi chuyển động thì vectơ chuyển động luôn thay đổi, sức sống tót nhưng tốc độ sinh sản không tốt nên ít có khả năng thụ tinh

+ Vận động lắc lư: là loại tế bào đứng một chỗ nhưng vẫn sống, chúng không có vơ chuyển động, không có khả năng thụ tinh

b Đặc điểm về trao đổi chất của tế bào

Tinh trùng muốn sống thì phải trao đổi chất và trao đổi chất xảy ra theo nhiều yếu tố hoặc là kìm hãm hoặc làm tăng quá trình trao đổi chất dẫn đến có nhiều quá trình trao đổi chất khác nhau

Có hai quá trình trao đổi chất cơ bản sau:

* Quá trình hô hấp yếm khí

Là quá trình trao đổi chất có thể xảy ra ở trên tất cả các đường nhưng mà các loại đường này đều phải chuyển hóa và quá trình này xảy ra hết sức phức tạp tạo thành đường fructoza và đường này mới sử dụng hết trong quá trình trao đổi chất Yếu tố quan trọng nhất là không có Oxy thì đường fructoz tiến hành trao đổi chất tạo thành 2 axit lactic và với năng lượng E1 = 50 Kcal được dự trữ dưới dạng ATP

Thiếu O2

Trang 25

C6H12O6 2C3H6O3 + E1

Axit lactic thải ra môi trường được xem là con dao 2 lưỡi Nếu với nồng độ thấp thì kéo dài thời igan sống của tinh trùng vì nó có tác dụng ức chế tinh trùng hoạt động, nhưng với nồng độ cao sẽ gây chết cho tinh trùng hàng loạt

Trong môi trường pha loãng người ta có thể bổ sung đường glucoza để tham gia quá trình đường phân xảy ra trong điều kiện yếm khí với sự có mặt của enzim glucophotphataza và hecxokinaza

* Quá trình hô hấp háo khí

Muốn kéo dài thời gian sống của tế bào thì giữ trong môi trường không có Oxy Trước khi phối tinh cho con cái thì cho tinh trùng tiếp xúc với không khí

c Các đặc điểm khác

- Đặc tính chuyển động tới trước

Tinh trùng sống thì luôn luôn chuyển động Tinh trùng chuyển động nhờ cổ hay thân

và đuôi để chuyển động quanh trục

Đuôi ngoằn ngoèo uốn khúc chuyển động gây ra một xung động để tự tiến tới trước

Ngoài ra, tinh trùng có đầu giống như quả lê nên tự nó chuyển động xung quanh cái trục của thân nó Sự rung động của đuôi kết hợp với sự xuay của trục giữa làm cho tinh trùng vận động tiến thẳng tới trước

Tốc độ di chuyển của tinh trùng thẳng tới trước còn phụ thuộc vào các điều kiện nội tại và ngoại cảnh và nội tại như niêm dịch ở đường sinh dục gia súc cái tiết ra nhiều hay ít, phương thức phóng tinh của con đực, độ co bóp bộ phận bên trong con cái

mà chủ yếu là sừng tử cung , ống dẫn trứng, mà tinh trùng di chuyển nhanh hay chậm

Trang 26

- Đặc tính lội ngược dòng nước

Tinh trùng chuyển động được nhờ đuôi lái Do đó, nó có thể vận động ngược dòng nước và cũng có xu hướng lội ngược dòng nước

Thí dụ: Nhỏ một giọt tinh dịch lên phiến kính, nghiêng phiến kính để một bên cao bên thấp, sẽ thấy tinh trùng chạy lên phía cao, ngược với trọng lực của giọt tinh dich

Nhờ đặc tính này, khi tinh trùng vào âm đạo gia súc cái, gặp dịch nhờn từ đường sinh dục tiết ra, tinh trùng có khả năng bơi lội ngược dòng, và nhờ lông nhung ở cổ tử cung và ống dẫn trứng làm cho tinh trùng tiến thẳng vào trong 1/3 phía trên ống dẫn trứng để gặp tế bào trứng, tiến hành quá trình thụ thai

- Đặc tính tiếp xúc với hóa chất

Trong ống dẫn trứng có tiết ra chất hóa học, kích thích tinh trùng gây tinh trùng hưng phấn, làm tinh trùng tập trung lại và tiến đến tế bào trứng Chất hóa học này gọi là Firtilzin

- Đặc tính tiếp xúc với điện

Trong ống dẫn trứng hay tử cung có một điện thế mà bản thân tinh trùng cũng mang điện, nên chúng có điện thế, đặc tính của dòng điện này chạy từ cao đến thấp (từ điện thế cao đến điện thế thấp) Cho nên làm tinh trùng lội có phương hướng nhất định

Thí nghiệm: Cho dòng điện 3,55 V vào tinh dịch thì thấy tinh trùng hoạt động rất mạnh

Biết được 5 đặc tính trên của tinh trùng nên trong việc bảo quản tinh trùng, pha chế tinh dịch cần phải chú ý

3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sức sống của tinh trùng

3.4.1 Khi tinh trùng còn ở trong cơ thể gia súc

Trang 27

- Điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng: Nếu đực giống được chăm sóc nuôi dưỡng theo đúng qui trình kỹ thuật (thức ăn đảm bảo các chất và cân đối thành phần, có chế độ tắm chải, vận động, tắm nắng) thì sức sống của tinh trùng sẽ tốt và ngược lại

- Điều kiện sức khoẻ của đực giống: Nếu đực giống khoẻ mạnh thì tinh trùng sẽ tốt, nếu trong tình trạng bệnh tật thì sức sống tinh trùng sẽ kém

- Điều kiện thời tiết khí hậu: Gia súc cần phải nuôi trong điều kiện khí hậu phù hợp

3.4.2 Khi tinh trùng ở ngoài cơ thể gia súc

a Nhiệt độ

Nhiệt độ càng cao thì càng bất lợi cho tinh trùng Nhiệt độ 420C giết chết tế bào tinh trùng trong một thời gian ngắn nhất bởi vì nhiệt độ càng cao thì qúa trình vận động, trao đổi chất càng lớn do đó các chất độc hại sản sinh, nguyên liệu cạn kiệt, sự hoạt hóa các men, các chất độc tố trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi áp suất thẩm thấu

và pH sẽ làm chết tinh trùng Do đó nên giữ tinh trùng ở nhiệt độ thấp, nếu như nhiệt

độ càng thấp và kỹ thuật đảm bảo thì người ta có thể giữ nó đông lạnh và giữ nó vĩnh cửu Mỗi loài gia súc ứng với một biên độ nhiệt độ nhất định

Ví dụ: Lợn hợp với nhiệt độ: 8-130C; Bò, trâu: 0-50C; Tinh trùng của gia cầm: 12-160C

c Áp suất thẩm thấu

Tinh trùng rất mẫn cảm với áp suất thẩm thấu, nó sẽ chết nhanh nếu áp suất thẩm thấu quá cao hay qúa thấp hơn sinh lý Áp suất thẩm thấu là yếu tố đảm bảo cho hình dạng của tinh trùng được định hình Đối với pha chế môi trường, bảo tồn tinh phải điều chỉnh sao cho áp sực thẩm thấu môi trường tinh dịch và môi trường bảo tồn, pha chế phải tương đương nhau Môi trường pha chế nhược hay ưu trương so với tinh dịch đều có hại cho tinh trùng

d Độ pH

Trang 28

Tinh dịch của gia súc có độ pH đặc trưng cho từng loài Có khi giữa các giống trong cùng một loài cũng có sự sai khác rõ rệt và thường được quyết định bởi chất tiết tuyến sinh dục phụ Thường tinh dịch có tính kiềm yếu do quá trình trao đổi chất của tinh trùng yếu là hô hấp, H2CO3 tạo ra dễ dàng biến mất tạo tinh dịch có tính kiềm yếu

Độ pH ảnh hưởng đáng kể đến hệ thống enzim trao đổi chất của tinh trùng, mặt khác

do màng ngoài tinh trùng mang điện tích âm, nếu nồng độ gion H+ môi trường cao sẽ gây đông với tinh trùng Ở môi trường acid yếu tinh trùng vận động yếu nên sức sống kéo dài Nhưng pH qúa thấp cũng gần đông với tinh trùng vì chúng tiết ra men Hyalumindase làm mất khả năng vận động và giảm sức sống

Vì vậy, trong pha chế tinh dịch phải đảm bảo pH môi trường với tinh dịch Thực tiễn sản xuất đã ứng dụng NaHCO3 để điều chỉnh pH của môi trường

h Không khí

Tinh trùng tiếp xúc với không khí dễ tăng quá trình hô hấp yếm khí với nguyên liệu là glucose, các hydrat cabon và acid lactic có trong tinh dịch, thúc đẩy tinh trùng vận động mạnh, làm giảm sức sống

i Ảnh hưởng cơ học

Trang 29

Bất kỳ sự rung động, xóc, lắc đều có hại cho tinh trùng như: bong xoang acrosome, đứt cổ, đứt mạch nối NH2-P, đứt đuôi làm vô giá trị tinh trùng Vì vậy phải nhẹ nhàng cẩn thận khi sử dụng tinh dịch

VI KỸ THUẬT KIỂM TRA PHẨM CHẤT TINH DỊCH

Kiểm tra phẩm chất tinh dịch gia súc có tầm quan trọng trong việc sử dụng đực giống Nhiều con đực có ngoại hình đẹp nhưng không có khả năng sinh sản hoặc sinh sản kém (vô sinh, thụ thai thấp, gây sẩy thai hoặc quái thai ) Có những trường hợp trong tinh dịch không có tinh trùng hoặc tinh trùng kỳ hình, loãng, có mang mầm bệnh truyền nhiễm (xoắn trùng, sẩy thai truyền nhiễm )

Vì vậy, cần thông qua việc đánh giá chất lượng tinh dịch để có biện pháp can thiệp hoặc xử lý đốivới con đực, nhất là những đực giống dùng trong thụ tinh nhân tạo Sau đây là một số nội dung kỹ thuật kiểm tra phẩm chất tinh dịch gia súc

1 Những chỉ tiêu đánh giá thường xuyên

1.1 Thể tích tinh dịch (V, volume)

* Khái niệm: Thể tích tinh dịch (lượng xuất tinh ) là lượng tinh dịch trong một lần xuất

tinh sau khi đã lọc bỏ keo phèn Đây là chỉ tiêu quan trọng vì nó cấu thành nên chỉ tiêu tổng hợp VAC

Riêng đối với tinh dịch lợn, ngựa có một lượng khá nhiều chất keo phèn hay còn gọi keo nhầy (chiếm 5-25%) thể tích tinh dịch nguyên chưa lọc Chất này có nguồn gốc

từ chất phân tiết của tuyến Cowper, khi gặp men Vedicunaza (từ tuyến tinh) sẽ đông đặc lại thành dạng hạt có đặc tính hấp phụ nước trong tinh dịch và trương phồng lên nhanh chóng (kèm theo đó keo nhầy cũng hấp phụ cả luôn tinh trùng) Vì vậy, sau khi lấy tinh xong cần lọc bỏ ngay chất keo phèn này, nếu không chỉ cần sau 30 phút đến

1 giờ, lượng tinh dịch sẽ giảm còn khoảng 50% và nồng độ tinh trùng còn khoảng 30%

Khi xác định lượng xuất tinh chúng ta chia làm hai trường hợp:

- Đối với lợn, ngựa: ta có thể dùng cốc có chia độ (hoặc ống đong) để xác định, khi

đã lọc bỏ keo phèn

- Đối với trâu, bò, dê, cừu: chúng ta có thể xác định ngay tinh thanh trong lọ hứng tinh nếu lọ hứng tinh có vạch chia độ

Chú ý: khi đọc kết quả cần đặt lọ đựng tinh trên một mặt phẳng nằm ngang và đọc

kết quả ở vạch cong dưới của mặt tinh dịch để xác định lượng xuất tinh

Trang 30

a Những nhân tố ảnh hưởng đến lượng xuất tinh

- Loài gia súc

Các loài gia súc khác nhau thì có thể tích tinh dịch khác nhau

Lượng tinh dịch phụ thuộc vào mức độ phát dục khác nhau của các tuyến sinh dục phụ Ở lợn và ngựa tuyến sinh dục phát triển hơn nên thể tích tinh dịch của nó nhiều hơn và ngược lại ở trâu, bò, cừu thì ít hơn Chính vì vậy, thể tích tinh dịch thường tỉ

Các giống gia súc khác nhau thì cũng cho thể tích tinh dịch khác nhau

Bảng 10 Thể tích tinh dịch của các giống lợn

Lang hồng 100-200 Đại bạch 150-300 Landrace 150-300 Yorkshire 150-300 Cornwall 150-350

Qua kết qủa trên bảng chúng ta thấy rằng tất cả các giống lợn ngoại đều có thể tích tinh dịch cao hơn các giống lợn nội Nhưng nếu xét về trị số tuyệt đối (chia lượng

Trang 31

tinh dịch cho trọng lượng) thì mỗi kg trọng lượng của lợn nội lại có lượng tinh dịch cao hơn lợn ngoại Đây cũng là một ưu điểm của lợn nội

- Tuổi của gia súc

Thể tích của tinh dịch thường tăng theo lứa tuổi của gia súc Yếu tố này được biểu hiện rất rõ ở lợn, ở lợn hậu bị chúng ta thường thấy lượng tinh dịch ít hơn só với lợn trưởng thành đặc biệt là lợn già Tuy nhiên nó cũng chỉ tăng đến một mức độ nào đó rồi giảm

- Kỹ thuật lấy tinh

Khi lấy tinh nếu điều kiện cần và đủ cho gia súc xuất tinh đảm bảo, gia súc xuất tinh thoải mái thì tinh dịch sẽ thu được nhiều và ngược lại

Khi theo dõi về khoảng cách lấy tinh lợn, kết quả thu được như sau:

+ 4-5 ngày lấy tinh một lần: V = 150-200ml

+ 2-3 ngày lấy tinh một lần: V = 60-100ml

+ Hằng ngày lấy tinh: V = 50-60ml

+ 1 ngày lấy tinh 2 lần: V = 20-50ml

Trong khi thụ tinh, nếu có những tác nhân kích thích khác thường, đều làm giảm hoặc không có lượng xuất tinh Ví du: khi lấy tinh lợn bằng âm đạo giả mà nước quá nóng (ôn độ trong lòng âm đạo giả trên 450C) hoặc quá nguội (dưới 350C), áp lực trong lòng âm đạo giả quá cao hoặc quá thấp Hoặc khi lấy tinh bằng tay nếu cầm nắm chắc dương vật quá chặt hoặc quá lỏng lẻo cũng ảnh hưởng đến qúa trình xuất tinh của lợn

- Thời tiết, mùa vụ

Trang 32

Điều kiện thời tiết khí hậu và mùa vụ cũng ảnh hưởng đến thể tích tinh dịch Trong điều kiện Việt nam, chúng ta thấy vào vụ đông xuân thì lượng tinh dịch thường cao hơn vụ hè thu

- Điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng

Đây là yếu tố rất quan trọng, nó ảnh hưởng rất lớn đến lượng tinh dịch Vì vậy trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng ta cần chú ý đến các chế độ ăn uống, vận động, tắm chải

1.2 Màu sắc tinh dịch

Màu sắc tinh dịch quyết định bởi nồng độ của tinh trùng và các hạt lipoit có trong tinh dịch Xác định được màu của tinh dịch ta có thể sơ bộ biết được phẩm chất của tinh dịch, màu sắc càng đậm thì nồng độ tinh trùng càng cao

1.2.1 Màu bình thường

Màu sắc của tinh dịch tùy thuộc vào từng loại gia súc

Bảng 11 Màu tinh dịch của các loài gia súc

Ngựa Trắng xám

Cừu Kem Lợn Trắng xám

Chó Trắng xám

1.2.2 Màu khác thường

+ Màu đỏ có thể là do lẫn máu (khi ta lấy tinh làm dương vật bị xây xát) Vì vậy khi khai thác tinh dịch đặc biệt là trong trường hợp lấy tinh bằng tay không để dương vật gia súc cọ xát vào giá lây tinh làm xây xát dương vật

+ Màu xanh lam thường do lẫn mủ, nó thường xảy ra trong các trường hợp gia súc bị viêm nhiễm đường sinh dục

+ Màu vàng thường do lẫn nước tiểu Để khắc phục trong trường hợp này cần chú ý khi lấy tinh tránh hứng cả nước tiểu vào trong tinh dịch

Trang 33

+ Màu đen thường do lẫn phân hoặc các chất bẩn

Chúng ta chỉ được phép sử dụng những mẫu tinh có màu bình thường, còn tất cả các mẫu tinh có màu khác thường thì không được sử dụng

1.3 Độ vẩn của tinh dịch

Ta có thể dùng chỉ tiêu này đánh giá sơ bộ mức độ hoạt động, mật độ, nồng độ của tinh trùng có trong tinh dịch và đây là chỉ tiêu quan sát bằng mắt thường và kiểm tra thường xuyên Người ta cầm lọ tinh dịch và quan sát từ thành bình bên này quan thành bên kia Người ta đánh giá độ vẩn theo 3 mức:

+ Khi tinh dịch có độ vẩn ở mức kém nhất, nồng độ, hoạt lực kém nhất (Ta ghi nhận

độ đậm đặc của mẫu tinh đó là +): người ta thấy từ thành bình này sang thành bình bên kia, không nhìn thấy sự chuyển động trong đó Độ đậm đặc này thường gặp ở lợn nội và chó

+ Khi tinh dịch có độ đậm đặc trung bình thì quan sát không thấy thành bình bên kia, không nhìn thấy sự chuyển động trong đó, ta ghi nhận độ đậm đặc của mẫu tinh là ++ Độ đậm đặc này thường gặp ở lợn ngoại

+ Khi tinh dịch đậm đặc (nồng độ, mức độ, hoạt lực tốt nhất) thì khi quan sát không thấy thành bình bên kia và trong đó có những cuộn sóng chuyển động Độ đậm đặc này thường gặp ở tinh dịch trâu, bò, dê, cừu và một số trường hợp của lợn ngoại

1.4 Mùi của tinh dịch

- Mùi bình thường: Bình thường tinh dịch có mùi nồng, hắc, tanh Mùi của tinh dịch chủ yếu là do chất tiết của các tuyến sinh dục phụ quyết định

- Mùi khác thường

+ Mùi khai do có lẫn nước tiểu

+ Mùi thối do lẫn phân

+ Mùi thối khẳn là do có lẫn dịch của tuyến nacosi

* Chú ý: Chúng ta chỉ được sử dụng những mẫu tinh có mùi bình thường

1.5 Độ pH của tinh dịch

pH của một chất lỏng được xác định bằng nồng độ ion H+ có trong đó Số lượng ion H+ càng tăng thì chất lỏng đó càng toan và ngược lại thì kiềm tính Tinh dịch bình thường phải có pH bình thường, nếu pH quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng đến chất lượng của tinh dịch

Trang 34

Bảng 11 pH của các loài gia súc [9]

* Phương pháp dùng giấy chỉ thị màu hoặc hệ thống ống màu

Chuẩn bị giấy chỉ thị sau đó dùng đũa thủy tinh nhỏ một giọt tinh nguyên lên giấy chỉ thị màu, màu của giấy chỉ thị sẽ thay đổi, ta so sánh với màu chuẩn trên cuộn giấy chỉ thị ta sẽ có kết quả (chú ý kết quả chỉ đọc trong vòng 2-3 giây nếu để lâu, kết quả sẽ không chính xác)

* Dùng pH kế

Nhúng đầu pH kế vào nước và đọc kết quả

1.6 Sức hoạt động của tinh trùng (A, active)

a Khái niệm

Sức hoạt động của tinh trùng là tỷ lệ % tinh trùng có hoạt động tiến thẳng so với tổng

số tinh trùng có trong vi trường quan sát được Việc đánh giá sức hoạt động của tinh trùng cso ý nghĩa rất quan trọng trong việc đánh giá phẩm chất tinh dịch vì nó là chỉ tiêu cấu thành nên chỉ tiêu tổng hợp VAC mà chỉ tiêu này cho biết tổng số tinh trùng

có khả năng thụ thai trong một lần xuất tinh gia súc

Bảng 12 Thang điểm đánh giá sức hoạt động của tinh trùng

Trang 35

Phương pháp tiến hành như sau:

Dùng đũa thủy tinh sạch, lấy một giọt tinh nhỏ lên một phiến kính sạch, dùng la men khô sạch đậy lên giọt tinh sao cho giọt tinh dàn mỏng, đều Đặt tiêu bản lên kính hiển

vi và xem ở độ phóng đại 160-600 lần Trong khi kiểm tra, tiêu bản được sưởi ấm ở nhiệt độ 40-410C (ta có thể dùng máy ổn nhiệt để nâng nhiệt độ) Khi đưa tiêu bản lên kính ta quan sát tại ba điểm trên một vi trường, mỗi điểm ta quan sát và đếm 10 tinh trùng xem có bao nhiêu tinh trùng tiến thẳng và tính theo tỉ lệ % Kết quả tại ba điểm cộng lại và chia trung bình thì đó là kết quả của sức hoạt động của tinh trùng

* Chú ý:

- Tinh trùng cần phải kiểm tra sức hoạt động ngay sau khi lấy ra khỏi cơ thể gia súc hoặc ngay sau khi lấy ra khỏi nơi bảo tồn

- Khi kiểm tra phải ở nhiệt độ 40-410C

- Độ chênh lệch cho phép là 0.1 giữa các lần kiểm tra

- Sức hoạt động của tinh trùng một số loài gia súc sau khi khai thác xong phải đạt:

dê, cừu A ≥ 0.9, trâu bò A ≥ 0.8, lợn A ≥ 0.7 chúng ta mới sử dụng tinh dịch đo trong thụ tinh nhân tạo

tiêu cấu thành nên chỉ tiêu tổng hợp VAC

b Phương pháp kiểm tra

- Phương pháp đếm trực tiếp bằng buồng

đếm hồng, bạch cầu

Tùy theo loài gia súc: Đối với lợn ta dùng

buồng đếm bạch cầu, đốivới trâu bò ta

dùng ống hồng cầu Đây là phương phá Hình 34 Buồng đếm Niubaoơ

Trang 36

khá chính xác và được sử dụng khá phổ biến hiện nay Có nhiều buồng đếm hồng bạch cầu như Toma, Gariaep, Niubaoơ nhưng về hình dạng cấu tạo của chúng là tương tự nhau và nguyên tắc sử dụng cũng như nhau vì diện tích mỗi ô bé nhất của buồng đếm là: S = 1/400 mm2 và độ sâu của buồng đếm là 1/10mm Chúng ta phải đếm số tinh trùng quan sát được trong 5 ô trung bình (80 ô nhỏ) Đó cũng là số tinh trùng có được TK trong một thể tích 1/50m3 (= 1/40 1/10 80) Từ đó có thể suy ra số lượng tinh trùng có trong 1cm3 (1ml) tinh dịch Cách tiến hành như sau:

+ Phương pháp tính nồng độ tinh trùng lợn

* Phương pháp dùng buồng đếm bạch cầu

Đưa buồng đếm lên kính hiển vi có độ phóng đại từ 200-600 lần, sau đó chỉnh kính hiển vi cho nhìn rõ buồng đếm Đặt một la men khô và sạch lên trên buồng đếm Dùng ống pha loãng bạch cầu đã được rửa sạch sấy khô hút tinh dịch đến vạch 0,5 hoặc vạch 1,0 Sau đó hút dung dịch nước muối NaCl 3% đến vạch 11 để giết tinh trùng và pha loãng tinh dịch Trong quá trình hút tinh dịch hoặc hút nước muối cần chú ý không gây hiện tượng sủi bọt Nếu có hiện tượng đó thì phải làm lại Bịt hai đầu của ống pha loãng bằng ngón tay nhẫn, lắc nhẹ 5-6 lần cho đều Như vậy trong đoạn phình của ống pha loãng bạch cầu, tinh dịch được pha loãng 20 lần (nếu hút tinh dịch đến vạch 0,50 và 10 lần nếu hút tinh dịch đến vạch 1,0) Bỏ đi đoạn nước muối 3% ở đoạn ống mao dẫn phía dưới của phần phình ra vì ở phần này không có tinh trùng

Sau đó nhỏ hỗn hợp này vào khe buồng đếm Chú ý: chỉ cần đặt miệng của ống pha

loãng vào mép la men và với lực mao dẫn hỗn dịch sẽ được hút đầy vào buồng đếm (không làm hỗn hợp tràn lên mặt của la men)

Dùng ốc vi cấp chỉnh cho rõ buồng đếm và tinh trùng có trên đó Nguyên tắc đếm tinh trùng giống như đếm hồng bạch cầu

* Chú ý: khi đếm những tinh trùng nằm trên các cạnh mỗi ô chỉ đếm hai cạnh còn hai cạnh kia nhường cho ô khác

Chúng ta đếm tinh trùng trong 5 ô trung bình (80 ô nhỏ), kết quả được bao nhiêu tinh trùng ta ghi nhận và tính theo công thức sau: C = n D 400/N.p.106 (1)

Trong đó: C: nồng độ tinh trùng có trong tinh dịch

n: số tinh trùng đã đếm được trong 80 ô nhỏ D: mức độ pha loãng (10 hoặc 20 lần)

P: độ sâu buồng đếm N: số ô con đã đếm (80 ô)

Trang 37

Hình 35 Buồng đếm hồng bạch cầu

a Nhìn nghiêng

b Nhìn từ trên xuống

Hình 36 Thứ tự đếm tinh trùng: Trên

xuống, từ trái sang phải

Để đơn giản hóa cách tính toán, chúng ta pha loãng tinh

dịch 20 lần trong ống hút bạch cầu Số lượng tinh trùng

đếm được trong 80 ô con là n Như vậy số lượng tinh trùng

đếm được trong 1 ml tinh dịch sẽ là:

Spermiodensimeter còn gọi là ống Karras Đầu là một ống

thủy tinh hình chóp, miệng ống hình vuông (1(1cm) Sau đó

dùng pypet hút 1 ml tinh nguyên cho vào đó (mức độ pha

loãng là 1/10) Dùng ngón tay cái bịt lấy miệng đảo cho

đều Rót hỗn hợp này vào ống Karras cho đến vạch 100

Đặt mảnh giấy trắng phía sau ống Karras để đọc kết quả

Quan sát qua ống: do độ dày của lớp dung dịch dày dần từ

dưới lên trên nên độ đục của lớp dung dịch trong ống cũng

không giống nhau kể từ dưới lên trên Vì vậy các vạch và

các chữ số sẽ mờ tỏ khác nhau

Trước hết cần xác định số hàng chục trên bảng số của

ống Karras mà mắt ta còn nhìn thấy được ở giữa phần tỏ

mờ Thí dụ: ở vạch 65 có thể nhìn thấy rõ, nhưng càng lên

Trang 38

phía trên thì các vạch càng mờ dần sau đó không nhìn thấy nữa Như vậy ta sẽ ghi nhận vạch 65 và đối chiếu với bảng tính sẵn để xác định nồng độ tinh trùng trong 1ml dung dịch

Trong trường hợp nếu tinh dịch quá loãng, có thể đọc được vạch 100 thì phải thay đổi mức pha loãng Có thể pha loãng với tỉ lệ 5/10 mà vẫn con nhìn thấy rõ vạch 100 thì những mẫu tinh đó có nồng độ tinh trùng quá thấp, ta không nên sử dụng nó trong tinh trùng nhân tạo

* Chú ý: phương pháp này rất tiện lợi cho các cơ sở sản xuất, nhưng mức đo chính xác của nó bị hạn chế Vì vậy định kỳ ta phải dùng buồng đếm kiểm tra lại để có độ chính xác cao

Bảng 13 Bảng đối chiếu nồng độ tinh trùng dùng cho ống Karras

Bảng trên Nồng độ loãng tinh trùng (10 6 /ml) qua các mức pha loãng

67,5 67,5 82,5 90,0 97,5 105,0 112,5 122,5 132,5 147,5 167,5 187,5 212,5

45,0 50,0 55,0 60,0 65,0 70,0 75,0 81,6 88,3 98,3 111,6 125,0 141,6

33,7 37,5 41,2 45,0 48,7 52,5 56,2 61,2 66,2 73,7 83,7 93,7 106,2

27,0 30,0 33,8 36,0 39,0 42,0 45,0 49,0 53,0 59,0 67,0 75,0 85,0

Ngày đăng: 14/12/2013, 20:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hafez, E.S.E., Reproduction in Farm Animal. 6th ed. 1993, Philadelphia: Lea&Febiger. 525 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reproduction in Farm Animal
2. Knobil, E. and J.D. Neill, The Physiology of Reproduction. Second ed. 1994, New York: Raven Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Physiology of Reproduction
3. Martin, H.J. and J.E. Barry, Essential Reproduction. Fifth ed. 2000: Blackwell Science. 1-274 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Essential Reproduction
4. Thiện, N. and Đ.Đ. Thà, Cẩm nang Kỹ thuật Thụ tinh nhân tạo Gia súc - Gia cầm. 1999, Hà Nội: Nhà xuất bản Nông nghiệp. 186 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang Kỹ thuật Thụ tinh nhân tạo Gia súc - Gia cầm
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp. 186
5. Dũng, T.T., D.Đ. Long, and N.V. Thanh, Sinh sản Gia súc. 2002, Hà Nội: NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản Gia súc
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
6. Hoàng, N.H., Thụ tinh nhân tạo và chăm sóc cho heo. 1999: NXB Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thụ tinh nhân tạo và chăm sóc cho heo
Nhà XB: NXB Tp Hồ Chí Minh
7. Anh, N.T., Thụ tinh nhân tạo cho Gia súc, Gia cầm. 2002, Hà Nội: NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thụ tinh nhân tạo cho Gia súc, Gia cầm
Nhà XB: NXB Lao động
8. Joe, B. and W.F. John, Applied Animal Reproduction. 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Applied Animal Reproduction
9. Thưởng, N.V., Cẩm nang Chăn nuôi Gia súc - Gia cầm. Những vấn đề chung và cẩm nang chăn nuôi lợn, ed. H.C.n.V. Nam. Vol. Tập I. 2000, Hà Nội: NXB Nông nghiệp. 642 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang Chăn nuôi Gia súc - Gia cầm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp. 642
10. Thiện, N. and N.T. Anh, Thụ tinh nhân tạo cho lợn. 1993, Hà Nội: NXB Nông nghiệp. 179 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thụ tinh nhân tạo cho lợn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp. 179
11. Trạch, N.X., Chăn nuôi bò sinh sản. 2004, Hà Nội: NXB Nông nghiệp. 274. CÂU HỎI ÔN TẬP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi bò sinh sản
Nhà XB: NXB Nông nghiệp. 274. CÂU HỎI ÔN TẬP

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 27. Lấy tinh lợn bằng điện - Tài liệu Giáo trình sinh sản gia súc - chương 4 docx
Hình 27. Lấy tinh lợn bằng điện (Trang 11)
Hình 28. Âm đạo giả lấy tinh cho chó của Amantea - Tài liệu Giáo trình sinh sản gia súc - chương 4 docx
Hình 28. Âm đạo giả lấy tinh cho chó của Amantea (Trang 12)
Hình 30. Một số dụng cụ lấy tinh cho gia súc - Tài liệu Giáo trình sinh sản gia súc - chương 4 docx
Hình 30. Một số dụng cụ lấy tinh cho gia súc (Trang 13)
Hình 29. Cấu tạo âm đạo giả - Tài liệu Giáo trình sinh sản gia súc - chương 4 docx
Hình 29. Cấu tạo âm đạo giả (Trang 13)
Hình 31. Sử dụng ÂĐG lấy tinh cho bò và cho dê - Tài liệu Giáo trình sinh sản gia súc - chương 4 docx
Hình 31. Sử dụng ÂĐG lấy tinh cho bò và cho dê (Trang 14)
3.1. Hình thái - Tài liệu Giáo trình sinh sản gia súc - chương 4 docx
3.1. Hình thái (Trang 20)
3. Hình thái, cấu tạo,  chức năng và đặc  điểm  sinh vật học của tế bào  sinh dục đực - Tài liệu Giáo trình sinh sản gia súc - chương 4 docx
3. Hình thái, cấu tạo, chức năng và đặc điểm sinh vật học của tế bào sinh dục đực (Trang 20)
Hình 33. Cấu tạo tinh trùng [1] - Tài liệu Giáo trình sinh sản gia súc - chương 4 docx
Hình 33. Cấu tạo tinh trùng [1] (Trang 21)
Bảng 8. Kích thước tinh trùng của một số loại gia súc [8] - Tài liệu Giáo trình sinh sản gia súc - chương 4 docx
Bảng 8. Kích thước tinh trùng của một số loại gia súc [8] (Trang 23)
Bảng 10 . Thể tích tinh dịch của các giống lợn - Tài liệu Giáo trình sinh sản gia súc - chương 4 docx
Bảng 10 Thể tích tinh dịch của các giống lợn (Trang 30)
Bảng  9 . Thể tích tinh dịch của các loài  gia súc   (theo H. H. Cole và P. T. Papps,  1977) - Tài liệu Giáo trình sinh sản gia súc - chương 4 docx
ng 9 . Thể tích tinh dịch của các loài gia súc (theo H. H. Cole và P. T. Papps, 1977) (Trang 30)
Bảng 11.   Màu tinh dịch của các loài gia súc - Tài liệu Giáo trình sinh sản gia súc - chương 4 docx
Bảng 11. Màu tinh dịch của các loài gia súc (Trang 32)
Bảng 11.   pH của các loài gia súc [9] - Tài liệu Giáo trình sinh sản gia súc - chương 4 docx
Bảng 11. pH của các loài gia súc [9] (Trang 34)
Hình  35. Buồng đếm hồng bạch cầu - Tài liệu Giáo trình sinh sản gia súc - chương 4 docx
nh 35. Buồng đếm hồng bạch cầu (Trang 37)
Bảng 13.  Bảng đối chiếu nồng độ tinh trùng dùng cho ống Karras - Tài liệu Giáo trình sinh sản gia súc - chương 4 docx
Bảng 13. Bảng đối chiếu nồng độ tinh trùng dùng cho ống Karras (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN