1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chiến lược lịch sự trong hội thoại qua khảo sát tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh của nguyễn nhật ánh

68 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu đưa ra những lí thuyết về chiến lược lịch sự trong giao tiếp, nhưng những công trình vận dụng lí thuyết ấy vào thực tế hội thoại tr

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

KHOA NGỮ VĂN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NIÊN KHÓA 2016 – 2017

CHIẾN LƯỢC LỊCH SỰ TRONG HỘI THOẠI

(QUA KHẢO SÁT TÔI THẤY HOA VÀNG TRÊN CỎ XANH CỦA

NGUYỄN NHẬT ÁNH)

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Dương Thanh Trúc Giáo viên hướng dẫn: Th.S Hoàng Thị Thắm Lớp: D13NV02

Khoá: 2013 - 2017 Hệ: Chính quy

-o0o - Bình Dương, ngày 27/04/2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

KHOA NGỮ VĂN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NIÊN KHOÁ: 2016 - 2017

CHIẾN LƯỢC LỊCH SỰ TRONG HỘI THOẠI

(QUA KHẢO SÁT TÔI THẤY HOA VÀNG TRÊN CỎ XANH CỦA

NGUYỄN NHẬT ÁNH)

Người hướng dẫn: Th.S Hoàng Thị Thắm Sinh viên thực hiện: Nguyễn Dương Thanh Trúc Lớp: D13NV02

Khóa: 2013 - 2017 Hệ: Chính quy

-o0o -Bình Dương, tháng 04 năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Quý Thầy, Cô kính mến!

Mới ngày nào em còn bỡ ngỡ, rụt rè bước chân vào giảng đường đại học mà thấm thoắt 4 năm đã trôi qua Em nay đã trưởng thành và sắp sửa chắp cánh bay đi, thực hiện sự nghiệp cao quý của nghề nhà giáo 4 năm- một khoảng thời gian tuy không quá dài nhưng cũng không phải là ngắn, ở mái trường này, các Thầy Cô ở khoa Ngữ văn

đã bằng tất cả tình yêu thương và lòng yêu nghề của mình để quan tâm, giúp đỡ và bảo ban chúng em, đã ở bên cạnh trong giai đoạn chúng em khó khăn nhất, xa gia đình, thiếu thốn tình cảm, chập chững nơi đất khách quê người! Chú chim bé nhỏ ngày nào giờ đây sắp phải xa quý Thầy Cô để bay đến những chân trời mới nhưng sẽ mãi nhớ về các Thầy Cô và về mái ấm gia đình Khoa Ngữ văn Với lòng biết ơn của mình, em xin gửi lời tri ân đến quý Thầy Cô ở Khoa Ngữ văn– Trường Đại học Thủ Dầu Một Cảm

ơn những người cha, người mẹ kính yêu đã truyền đạt cho chúng em rất nhiều kiến thức quý báu Đó sẽ là hành trang vô giá mà chúng em luôn mang theo trên chặng đường sắp tới

Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Th.S Hoàng Thị Thắm Cô là người đã tận tâm hướng dẫn em từng bước trong quá trình thực hiện đề tài này Khóa luận không chỉ là sản phẩm học tập của cá nhân em mà còn ẩn chứa trong đó biết bao công sức dạy dỗ và tâm huyết của Cô Em cảm thấy rất vui và vinh

dự vì được học với Cô Em cảm ơn Cô đã luôn yêu thương, động viên, bảo ban và giúp

đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận Em hứa sẽ luôn ghi nhớ những chia sẻ, những lời dạy bảo mà Cô dành cho em!

Cuối cùng, em kính chúc quý Thầy, Cô trong khoa Ngữ Văn luôn dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp cao quý!

Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất, song chắc chắn khóa luận này không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân

Trang 4

em chưa nhận thấy được Em rất mong nhận được sự góp ý của quý Thầy, Cô giáo để khóa luận được hoàn chỉnh hơn

Em xin trân trọng cảm ơn!

Sinh viên

Nguyễn Dương Thanh Trúc

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong các công trình khác

Sinh viên

Nguyễn Dương Thanh Trúc

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

PHẦN MỞ ĐẦU

PHẦN NỘI DUNG 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 8

1.1 Lí thuyết hội thoại 8

1.1.1 Định nghĩa 8

1.1.2 Cấu trúc hội thoại 9

1.1.2.1 Cuộc thoại 9

1.1.2.2 Đoạn thoại 9

1.1.2.3 Cặp thoại 10

1.2.2.4 Tham thoại 11

1.2.2.5 Hành động nói năng 12

1.1.3 Các quy tắc hội thoại 12

1.1.3.1 Quy tắc điều hành luân phiên lượt lời 12

1.1.3.2 Quy tắc điều hành nội dung của hội thoại 13

1.1.3.3 Quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân- phép lịch sự 14

1.2 Lí thuyết về lịch sự 14

1.2.1 Định nghĩa 14

1.2.2 Các hướng nghiên cứu lịch sự trong giao tiếp 17

1.2.2.1 Hướng xem xét theo chuẩn mực xã hội 17

1.2.2.2 Hướng xem xét theo quy tắc hội thoại 18

1.2.2.3 Hướng xem xét theo cộng tác hội thoại 19

1.2.2.4 Hướng xem xét theo thể diện 19

1.3 Giới thuyết về nhà văn Nguyễn Nhật Ánh và tác phẩm Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh 21

Trang 7

1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp 21

1.3.2 Tác phẩm Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh 23

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN NGÔN NGỮ THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC LỊCH SỰ TRONG HỘI THOẠI Ở TÔI THẤY HOA VÀNG TRÊN CỎ XANH 25

2.1 Dùng từ ngữ xưng hô 25

2.1.1 Xưng hô chuẩn mực 26

2.1.2 Xưng hô thân thiện 28

2.2 Dùng trợ từ 31

2.3 Dùng hô ngữ 34

2.4 Dùng các yếu tố rào đón 35

CHƯƠNG 3: 39

GIÁ TRỊ CỦA CÁC PHƯƠNG TIỆN NGÔN NGỮ THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC LỊCH SỰ TRONG HỘI THOẠI Ở TÔI THẤY HOA VÀNG TRÊN CỎ XANH 39

3.1 Phác họa tính cách nhân vật 39

3.1.1 Nhân vật Tường 39

3.1.2 Nhân vật Thiều 43

3.2 Khắc họa những đặc trưng trong văn hóa giao tiếp của người Việt 49

3.2.1 Thông qua cách dùng từ ngữ xưng hô 50

3.2.2 Thông qua việc sử dụng các hành vi rào đón 53

KẾT LUẬN 56

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TƯ LIỆU KHẢO SÁT 59

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

L Pheurbach đã từng nói: “Con người cá thể không chứa bản chất con người

ở trong mình…Bản chất con người chỉ bộc lộ ra trong giao tiếp, trong thể thống nhất giữa con người với con người Con người để cho mình chỉ là con người theo nghĩa thông thường, còn con người trong giao tiếp với đồng loại, trong sự thống nhất giữa Tôi với Anh mới chính là Thượng đế” Đúng như vậy, giao tiếp chính là nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống của con người và cũng là điều kiện để con người bộc lộ bản thân mình Đặc điểm của nền văn minh nông nghiệp lúa nước, tính

cố kết cộng đồng bền vững và bắt rễ sâu vào trong tâm thức lớp lớp các thế hệ nên với người dân Việt Nam, vấn đề giao tiếp lại càng được coi trọng Vì coi trọng nên người Việt không chỉ thích giao tiếp, thích tìm hiểu, quan sát mọi người thông qua giao tiếp mà còn luôn cố gắng để cuộc giao tiếp đạt được hiệu quả như mong muốn

Và lịch sự chính là một trong những yếu tố được người Việt đặt lên hàng đầu để đảm bảo cho việc giao tiếp được thuận lợi, tranh thủ được sự hợp tác của người khác Nói như vậy để thấy được rằng, tìm hiểu về lịch sự cũng chính là tìm hiểu về một nét đẹp trong văn hóa giao tiếp của người Việt

Mặt khác, đứng ở góc cạnh ngôn ngữ học, đặc biệt ở phân ngành Dụng học, lịch sự trong hội thoại đang là mảnh đất vẫn còn rất mới, rất cần được các nhà ngôn ngữ học khai phá Tìm hiểu về lịch sự là một vấn đề rất thú vị nhưng cũng không hề

dễ dàng Bởi lẽ, lịch sự không phải là một vấn đề thuần túy ngôn ngữ học mà nó còn chịu tác động, còn bị chi phối bởi các yếu tố phi ngôn ngữ như: ngữ cảnh giao tiếp, vai giao tiếp, văn hóa, phong tục, tập quán, Chính điều này càng thu hút, thúc đẩy người viết đi sâu vào tìm hiểu về vấn đề lịch sự trong hội thoại

Bên cạnh đó, mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu đưa ra những lí thuyết về chiến lược lịch sự trong giao tiếp, nhưng những công trình vận dụng lí thuyết ấy vào thực tế hội thoại trong tác phẩm văn học lại rất khan hiếm Trong giới hạn của mình, người viết chỉ tìm được một số công trình nghiên cứu lịch sự trong giao tiếp ngôn ngữ, trong hành động cầu khiến tiếng Việt Số lượng đề tài nghiên

Trang 9

cứu về lịch sự trong hội thoại ở một tác phẩm văn học hầu như không có Nếu có, chỉ là những công trình nghiên cứu hội thoại (có kèm một nội dung nhỏ về lịch sự) trong một số tác phẩm văn học lớn như: Truyện Kiều, Số đỏ, các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp trước năm 2000,

Trong những năm gần đây, Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh của Nguyễn Nhật

Ánh là một trong những tác phẩm văn học đương đại hiếm hoi nhận được sự chú ý đặc biệt của công chúng Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về tác phẩm này trên phương diện ngôn ngữ Thế giới nhân vật trong tác phẩm không chỉ là thế giới trẻ con, mà còn là tổng hòa những mối quan hệ giữa các em với người lớn nên

sẽ xuất hiện rất nhiều mối quan hệ giao tiếp khác nhau Hơn nữa, các công trình tìm hiểu về lịch sự trong các tác phẩm văn học đương đại dường như ít được các tác giả quan tâm tìm hiểu Trong khi đó, theo người viết, chiến lược lịch sự trong những tác phẩm văn học đương đại sẽ phản ánh cách thức giao tiếp của người Việt trong bối cảnh hiện nay Điều này càng thôi thúc người viết thực hiện đề tài liên quan đến tác phẩm trên

Đó là tất cả những lí do để người viết lựa chọn thực hiện đề tài “Chiến lược

lịch sự trong hội thoại (Qua khảo sát Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh của Nguyễn

tác giả: Robin Lakoff, Geoffery Leech, George Yule, Penelop Brown & Stephen

Levinson Đây là những tác giả nổi bật nhất đã đưa ra những công trình nghiên cứu của mình về vấn đề lịch sự trong giao tiếp

R Lakoff (1973) là người mở đầu cho việc nghiên cứu lịch sự trong ngôn ngữ

Kế thừa và phát huy nguyên tắc cộng tác (cooperative principle) trong lí thuyết hội thoại của Grice, tác giả này đã mở rộng các khái niệm về quy tắc ngữ pháp và khái

Trang 10

niệm về tạo dựng các hình thức phù hợp với ngữ dụng học Theo Lakoff “lịch sự là tôn trọng nhau” Nó là một biện pháp dùng để giảm bớt trở ngại trong tương tác giao tiếp giữa các cá nhân

Phép lịch sự của Leech (1983) được xây dựng dựa trên khái niệm “thiệt hại”

(cost) và “lợi ích” (benefit) giữa người nói và người nghe do ngôn từ gây nên Sự thay đổi mức độ lợi- thiệt trong một phát ngôn, do đó, sẽ làm thay đổi mức độ lịch

sự trong lời nói Theo Leech, lịch sự là sự bù đắp những hao tổn, thiệt thòi do hành động của người nói gây ra cho người đối thoại Cũng theo Leech, có những hành vi tại lời mang bản chất cố hữu là không lịch sự, chẳng hạn hành vi ra lệnh, nhưng cũng có những hành vi tại lời lại mang bản chất cố hữu là lịch sự như sự khen, tặng

Có thể nói, Penelop Brown & Stephen Levinson (1978- 1987) là hai tác giả

lớn và có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong lĩnh vực nghiên cứu về lịch sự Dựa trên khái niệm thể diện (face) của Goffman (1973), Brown và Levinson đã phân biệt hai phương diện của thể diện, đó là thể diện dương và thể diện âm hay còn gọi là thể diện tích cực và thể diện tiêu cực Cũng chính Brown và Levinson là những tác giả

đã đưa ra hai chiến lược lịch sự cơ bản, lịch sự dương tính và lịch sự âm tính nhằm giảm thiểu mức độ “mất thể diện” cho những đối tượng tham gia giao tiếp Mặc dù

lí thuyết của Brown và Levinson vẫn chưa hoàn toàn thỏa đáng khi cho rằng lịch sự

là một chiến lược giao tiếp của cá nhân mà bỏ qua sự ảnh hưởng của các chuẩn mực

xã hội trong ứng xử bằng ngôn ngữ nhưng lí thuyết này vẫn được xem là có sức giải thích lớn nhất

Sau Brown và Levinson, Yule (1996) cũng có thảo luận về vấn đề lịch sự và

tương tác trong Pragmatics Tuy nhiên, nhìn chung, so với lí thuyết của Brown và

Levinson thì nghiên cứu của Yule cũng không có gì mới hơn

Ở Việt Nam, bắt đầu từ những năm 90, vấn đề lịch sự trong ngôn ngữ cũng bắt

đầu được nghiên cứu Người mở đầu cho xu hướng này là tác giả Nguyễn Đức Dân

với công trình Ngữ dụng học (1998) khi ông đề cập đến nguyên lí lịch sự thông qua

việc bàn luận về vấn đề thể diện trong lí thuyết của Brown và Levinson cũng như nêu ra những điểm chưa thỏa đáng trong lí thuyết của Leech

Trang 11

Đến năm 2000, trong cuốn Dụng học Việt ngữ, Nguyễn Thiện Giáp cũng điểm

qua lí thuyết về lịch sự và giao tiếp

Trong Đại cương ngôn ngữ học, tập hai, Ngữ dụng học (2001), tác giả Đỗ Hữu

Châu đã đưa ra các quan điểm về lịch sự tương đối hoàn chỉnh bên cạnh việc phân

tích những lí thuyết về lịch sự của Robin Lakoff, Geoffery Leech, George Yule, Penelop Brown & Stephen Levinson

Ngoài ba tác giả trên, còn một số bài viết rải rác trên các báo và tạp chí, một số luận án cũng đề cập các vấn đề liên quan đến phép lịch sự trong giao tiếp ngôn ngữ

như: Lê Thị Kim Đính, Lịch sự trong hành động cầu khiến tiếng Việt, Luận văn thạc

sĩ ngành Ngôn ngữ học, 2006; Lê Thị Thúy Hà, Lịch sự trong hành động ngôn từ phê phán của người Việt và người Anh, Luận văn tiến sĩ ngành ngôn ngữ học, 2015;

Tạ Thị Thanh Tâm, Lịch sự trong một số nghi thức giao tiếp tiếng Việt, Luận văn

tiến sĩ ngành ngôn ngữ học, 2008 Tuy nhiên, vấn đề ứng dụng những lí thuyết về lịch sự trên để đi sâu tìm hiểu về chiến lược lịch sự trong hội thoại ở tác phẩm văn học vẫn còn khá ít ỏi Số lượng các công trình được công bố không nhiều Qua khảo

sát, người viết chỉ tìm được công trình của Vũ Thị Minh Nguyệt, Lịch sự trong

hành động thỉnh cầu và hành động hồi đáp trong một số tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại, Luận văn thạc sĩ ngành Ngôn ngữ học, 2015 Chính vì thế, việc

nghiên cứu về vấn đề lịch sự nói chung, lịch sự trong một tác phẩm văn học nói riêng đang rất cần sự quan tâm tìm hiểu và đầu tư của các nhà nghiên cứu

Nguyễn Nhật Ánh là nhà văn tiêu biểu của văn học đương đại Chính vì vậy,

có không ít các công trình nghiên cứu các tác phẩm của ông trên mọi bình diện: văn học, điện ảnh, sân khấu… Từ bình diện văn học có thể kể đến các công trình của:

Đỗ Ngọc Quỳnh Như, Kết cấu cốt truyện "Kính vạn hoa" của Nguyễn Nhật Ánh, 2014; Nguyễn Thị Thuấn, Nghệ thuật trần thuật trong tác phẩm Ngồi khóc trên cây

của Nguyễn Nhật Ánh, 2014, Từ bình diện sân khấu có thể kể đến công trình của:

Lê Anh Tuấn, Phim truyện chuyển thể từ tác phẩm của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh-

Thành công và hạn chế, 2016 Tuy nhiên, trong chừng mực nghiên cứu của chúng

Trang 12

tôi thì chưa có công trình nào nghiên cứu trên bình diện ngôn ngữ các tác phẩm của nhà văn, bao gồm cả việc nghiên cứu về khía cạnh lịch sự trong hội thoại

Chính vì vậy, với đề tài “Chiến lược lịch sự trong hội thoại (Qua khảo sát Tôi

thấy hoa vàng trên cỏ xanh của Nguyễn Nhật Ánh)”, người viết hi vọng sẽ mang

đến một công trình tìm hiểu hoàn toàn mới mẻ, vận dụng được những lí thuyết lịch

sự trong hội thoại để giải quyết, phân tích những tình huống hội thoại hết sức đặc sắc và thú vị trong bộ truyện dài nổi tiếng đã đem lại cho nhà văn nhiều giải thưởng danh giá trong 8 năm trở lại đây

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Người viết thực hiện đề tài nghiên cứu này nhằm những mục đích sau đây:

So với một số tác phẩm văn học khác, trong Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh,

mối quan hệ giữa các nhân vật chủ yếu là quan hệ ngang hàng Hơn thế, đây lại là một tác phẩm được viết trong không gian đương đại Chính vì vậy, thông qua khảo sát sẽ làm sáng rõ những phương tiện ngôn ngữ thường được các nhân vật giao tiếp

có vị thế ngang hàng nhau sử dụng để duy trì việc thực hiện chiến lược lịch sự trong giao tiếp hiện nay

Bên cạnh đó, khóa luận này cũng sẽ chỉ ra được giá trị của việc sử dụng những phương tiện ngôn ngữ duy trì chiến lược lịch sự trong hội thoại đối với việc góp phần khắc họa tính cách nhân vật cũng như phác họa những đặc trưng văn hóa trong giao tiếp của người Việt

3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Có rất nhiều phương tiện ngôn ngữ góp phần thực hiện chiến lược lịch sự trong hội thoại Tuy nhiên, ở khóa luận này, người viết chỉ khảo sát những phương tiện ngôn ngữ được sử dụng nhiều và có tầm quan trọng đặc biệt trong các cuộc thoại: dùng các từ ngữ xưng hô, dùng hô ngữ, dùng trợ từ và các yếu tố rào đón

Phạm vi ngữ liệu khảo sát là các cuộc thoại trong tác phẩm Tôi thấy hoa vàng trên

cỏ xanh

Trang 13

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp thống kê

Dựa trên tác phẩm Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh của Nguyễn Nhật Ánh,

người viết sẽ thống kê các cuộc thoại điển hình phục vụ cho mục đích phân tích các phương tiện ngôn ngữ chủ yếu được nhà văn sử dụng để thực hiện chiến lược lịch

sự trong hội thoại: dùng từ ngữ xưng hô, dùng hô ngữ, dùng trợ từ và các yếu tố rào đón

4.2 Phương pháp xã hội- dân tộc học

Lịch sự là một chiến lược trong giao tiếp của con người Sự giao tiếp lại là một hoạt động mang tính xã hội Vì thế, những yếu tố liên quan đến con người và xã hội như tâm lí, phong tục, văn hóa, dân tộc, là không thể bỏ qua trong quá trình nghiên cứu về lịch sự

Chính vì thế, trong bài nghiên cứu của mình, người viết cũng sử dụng phương pháp xã hội- dân tộc học để giải thích cách sử dụng những phương tiện ngôn ngữ trong giao tiếp của người Việt ở Nam Bộ

4.3 Phương pháp miêu tả và phân tích hội thoại

Người viết sử dụng hai phương pháp này trong quá trình mô tả, phân tích các ngữ liệu để tìm ra các phương tiện ngôn ngữ thực hiện chiến lược lịch sự trong hội thoại giữa các nhân vật cũng như đưa ra những giá trị của việc sử dụng các phương tiện ngôn ngữ đó

4.4 Phương pháp diễn dịch và quy nạp

Người viết sử dụng phương pháp này trong quá trình dẫn dắt và đưa ra từng kết luận của khóa luận

5 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của khóa luận được chia làm ba chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận

1.1 Lí thuyết hội thoại

1.2 Lí thuyết về lịch sự

Trang 14

1.3 Giới thuyết về nhà văn Nguyễn Nhật Ánh và tác phẩm Tôi thấy hoa

Chương 3 Giá trị của việc sử dụng các phương tiện ngôn ngữ thực hiện chiến

lược lịch sự trong Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh

3.1 Phác họa tính cách nhân vật

3.1.1 Nhân vật Tường

3.1.2 Nhân vật Thiều

3.2 Khắc họa những đặc trưng trong văn hóa giao tiếp của người Việt

3.2.1 Thông qua cách dùng từ ngữ xưng hô

3.2.2 Thông qua việc sử dụng các hành vi rào đón

Trang 15

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Lí thuyết hội thoại

1.1.1 Định nghĩa

Trong nghiên cứu Việt ngữ học hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hội thoại (conversation) Hầu hết các tác giả đều định nghĩa về hội thoại một cách

sơ bộ, có tính chất giả thiết để nghiên cứu

Tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuốn Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 xác lập khái

niệm hội thoại: Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, và cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác Tác giả cũng chỉ

ra rằng, các cuộc hội thoại thường khác nhau ở những phương diện sau đây: đặc điểm của thoại trường, số lượng người tham gia hội thoại, cương vị và tư cách của những người tham gia hội thoại, có đích hay không có đích đến, tính có hình thức hay không có hình thức, vấn đề ngữ vực

Tác giả Nguyễn Đức Dân trong cuốn Ngữ dụng học khẳng định: “Trong giao

tiếp hai chiều, bên này nói, bên kia nghe và phản hồi trở lại Lúc đó vai trò của hai bên thay đổi Bên nghe lại trở thành bên nói và bên nói lại trở thành bên nghe Đó là hội thoại” [tr.76] Tác giả cũng chỉ ra rằng: “Trong các loại hội thoại thì song thoại

là quan trọng nhất”

Tác giả Đỗ Thị Kim Liên trong cuốn Giáo trình Ngữ dụng học, lại có một cách

định nghĩa khác: “Hội thoại là một trong những hoạt động ngôn ngữ thành lời giữa hai hay nhiều nhân vật trực tiếp, trong một ngữ cảnh nhất định mà giữa họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến một đích nhất định” [tr.18]

Như vậy, có thể nhận thấy mặc dù cách định nghĩa, cách quan niệm có thể khác nhau nhưng nhìn chung nội hàm của khái niệm hội thoại của các tác giả nêu trên cơ bản là tương đồng Người viết cũng đồng tình với các tác giả và cho rằng hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng lời giữa những người tham gia giao tiếp nhằm hướng đến một mục đích nào đó Hội thoại diễn ra trong một ngữ cảnh nhất định,

Trang 16

mà ở đó giữa các nhân vật tham gia giao tiếp có sự tương tác lẫn nhau nhằm đạt được mục đích giao tiếp

1.1.2 Cấu trúc hội thoại

Các đơn vị tham gia cấu trúc hội thoại gồm có: cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại, tham thoại và hành động ngôn trung (còn gọi là hành vi ngôn ngữ)

1.1.2.1 Cuộc thoại

Cuộc thoại hay còn gọi là cuộc tương tác (interaction) là đơn vị hội thoại bao trùm, lớn nhất Có thể nói toàn bộ hoạt động ngôn ngữ của con người là một chuỗi dằng dặc những lời đối đáp Thông thường, để xác định một cuộc thoại có thể dựa vào các tiêu chí sau đây:

- Nhân vật hội thoại: có thể có hai, ba hoặc nhiều người tham gia

- Tính thống nhất về thời gian và địa điểm diễn ra cuộc hội thoại

- Tính thống nhất về đề tài diễn ngôn Các tham thoại cấu thành cuộc thoại phải

có xu hướng thống nhất về chủ đề

- Tiêu chí về các dấu hiệu định ranh giới cuộc thoại Thông thường có những dấu hiệu mở đầu cuộc thoại (như ở cuộc họp, người điều khiển có thể tuyên bố khai mạc và tuyên bố đề tài) và dấu hiệu kết thúc (lời tuyên bố bế mạc) Trong trò chuyện thông thường, giữa những người lạ, dấu hiệu mở đầu có thể là lời chào hỏi, dấu hiệu kết thúc có thể là những câu hỏi kiểu như: còn gì nữa không nhỉ? hoặc những lời như: thế thôi nhé v.v

1.1.2.2 Đoạn thoại

Đoạn thoại là đơn vị gồm một số cặp trao lời, đáp lời có sự liên kết chặt chẽ với nhau về chủ đề và mục đích Đoạn thoại thường gồm các phần: mở thoại, thân thoại và kết thoại

Phần mở thoại thường là phần có tính đưa đẩy, thăm dò, thương lượng về đề

tài, về số lượng, về thái độ Trong phần này, người nói thường sử dụng lời chào, lời giới thiệu mang tính nghi thức nhằm tạo lập quan hệ, hướng người nghe tham gia cuộc thoại Ví dụ:

Dùng hành vi hỏi để chào:

Trang 17

- Bà lão chưa đi hàng cơ à? Muộn mấy?

(Ngữ văn 9.T1, Nxb Giáo dục, H., 2007, tr.168)

Dùng hành vi hỏi mang tính thăm dò:

Phần thân thoại là phần triển khai nội dung chủ đề hội thoại và mang tính thống nhất cao

Phần kết thoại là phần tổng kết, kết luận về chủ đề đã triển khai ở phần thân thoại Đó thường là lời cảm ơn, xin lỗi, hứa hẹn, lời chúc hoặc lời tạm biệt, Ví dụ: Lời cảm ơn:

hỏi - trả lời, chào – chào, trao - nhận, đề nghị - đáp ứng, xin lỗi - chấp nhận xin lỗi, nhận định - bác bỏ Các thành viên của cặp thoại có thể đứng kế cận hoặc bị gián

cách, tức là bị các cặp thoại khác chen vào Ví dụ:

Câu trao là một câu hỏi, câu đáp là câu trả lời:

Trang 18

- Con có mấy cái hoa tay hở chú?

Chú Đàn lắc đầu, thất vọng:

(Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh, Nguyễn Nhật Ánh)

Câu trao là câu đề nghị, câu đáp là câu chấp nhận:

đơn, có được không?

Cao Bá Quát vui vẻ trả lời:

(Tiếng Việt 4.T1 – Nxb Giáo dục, 2006)

Tham thoại lớn hơn lƣợt lời:

Trong ví dụ trên, lƣợt lời đáp có tới ba tham thoại: một tham thoại đáp, một tham thoại cảm ơn và một tham thoại hỏi

Trang 19

Trong ví dụ trên, lời trao của người chồng có hai hành động nói năng: hành động hỏi và hành động đề nghị; lời đáp của người vợ chỉ có một hành động nói năng: hành động hỏi

1.1.3 Các quy tắc hội thoại

1.1.3.1 Quy tắc điều hành luân phiên lượt lời

Các quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời gồm một hệ những “điều khoản”

mà Sacks và các đồng tác giả phát biểu như sau:

a) Thứ nhất, vai nói thường xuyên luân phiên trong một cuộc hội thoại

Theo điều khoản này thì một cuộc hội thoại lí tưởng là một cuộc hội thoại có

sự cân bằng về lượt lời: Thời gian nói của một người nói càng dài thì thời gian anh

ta nghe cũng phải dài Trong một cuộc hội thoại bình thường, người chiếm độc quyền nói là người dễ bị lên án

Ngoài ra, điều khoản cân bằng lượt lời này cũng có tác dụng về mặt nội dung: người nào nói quá nhiều về mình trong một cuộc hội thoại- dù nói theo kiểu tự khen

hay kể khổ- cũng đều bị lên án Cái tôi là cái đáng ghét (tục ngữ Pháp)

b) Thứ hai, mỗi lần chỉ có một người nói

c) Thứ ba, lượt lời của mỗi người thường thay đổi về độ dài do đó cần có những biện pháp để nhận biết khi nào thì một lượt lời chấm dứt

d) Thứ tư, vị trí ở đó nhiều người cùng nói một lúc tuy thường gặp nhưng không bao giờ kéo dài

e) Thứ năm, thông thường lượt lời của đối tác này chuyển tiếp cho đối tác kia diễn ra không bị ngắt quãng quá dài, cũng không bị dẫm đạp lên nhau

Trang 20

f) Thứ sáu, trật tự (nói trước, nói sau) của những người nói không cố định, trái lại luôn luôn thay đổi Do đó một số phương tiện được dùng để chỉ định và phân phối lượt lời là cần thiết

Việc chỉ định và phân phối lượt lời tất nhiên không đặt ra đối với những cuộc song thoại mặt đối mặt, nó chỉ đặt ra ở những cuộc đa thoại Trong những trường hợp đó, không phải đợi đến khi lượt lời mình nói kết thúc, mà ngay khi đang nói, người đang nói phải tính toán xem ai sẽ là người nói tiếp mình Thói thường, người đang nói có thể đưa mắt nhìn người mình định chọn, hoặc đưa ra những gợi ý, những vấn đề mà chỉ người mình định chọn mới đáp lại phát triển thêm được Người đang nói cũng có thể chỉ định một cách tường minh người nói sau bằng cách đặt câu hỏi, mời đích danh v.v

1.1.3.2 Quy tắc điều hành nội dung của hội thoại

Ngoài quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời, trong hội thoại, người ta còn đề cập đến quy tắc điều hành nội dung của hội thoại Quy tắc này chủ yếu quy định về quan hệ nội dung giữa các phát ngôn được đưa ra trong quá trình hội thoại Thuộc các quy tắc điều hành nội dung hội thoại, theo tác giả Đỗ Hữu Châu gồm 2 nguyên

tắc: Nguyên tắc cộng tác hội thoại (của Grice) và Nguyên tắc quan yếu (của hai nhà

ngôn ngữ Wilson và Sperber) Tuy nhiên, trong giới hạn của một khóa luận tốt nghiệp, dưới đây người viết chỉ trình bày nguyên tắc cộng tác hội thoại của Grice Trước C.K Orecchioni, ngay từ năm 1967, Grice đã đưa ra những phác thảo đầu tiên của nguyên tắc cộng tác thông qua những bài giảng của mình tại trường Đại học Havard Dần dần, nguyên tắc này được Grice hoàn thiện và có dạng tổng quát như sau:

“Hãy làm cho phần đóng góp của anh, chị (vào cuộc hội thoại) đúng như nó

được đòi hỏi ở giai đoạn (của cuộc hội thoại) mà nó xuất hiện phù hợp với đích hay

phương hướng của cuộc hội thoại mà anh, chị đã chấp nhận tham gia vào.”

Nguyên tắc này bao trùm bốn phạm trù mà Grice gọi tên là: phạm trù lượng, phạm trù chất, phạm trù quan hệ, phạm trù cách thức Mỗi phạm trù như vậy tương ứng với một “tiểu nguyên tắc” mà Grice gọi là phương châm, và mỗi phương châm

Trang 21

lại bao gồm một số “tiểu phương châm” Đó là: phương châm về lượng; phương

châm về chất; phương châm quan hệ và phương châm cách thức

a) Phương châm về lượng:

Hãy làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin đúng như đòi hỏi

Đừng làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin lớn hơn đòi hỏi

b) Phương châm về chất:

Đừng nói những điều mà anh tin rằng không đúng

Đừng nói điều mà anh không có bằng chứng xác thực

c) Phương châm quan hệ:

Hãy quan yếu

d) Phương châm cách thức:

Tránh lối nói tối nghĩa

Tránh lối nói mập mờ (có thể hiểu nhiều nghĩa)

Hãy ngắn gọn (tránh dài dòng)

Hãy nói có trật tự

Dù còn bị chỉ ra khá nhiều hạn chế, nhưng từ năm 1967 đến nay, lí thuyết của Grice vẫn tiếp tục là cơ sở cho tất cả các công trình nghiên cứu về ngữ dụng học Nguyên tắc quan yếu, phép lịch sự là những cố gắng lấp đầy những “lỗ hỗng” đó trong lí thuyết của Grice

1.1.3.3 Quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân- phép lịch sự

Phép lịch sự là một trong những nội dung trọng tâm của bài nghiên cứu này Chính vì thế, người viết sẽ trình bày nó ở một mục riêng (Mục 1.2)

Trang 22

Theo cách hiểu thông thường, lịch sự là một biểu hiện của quan hệ liên cá nhân trong tương tác, làm cho cuộc tương tác được hài hòa, các cá nhân tham gia tương tác cảm thấy dễ chịu, thoải mái, góp phần đưa cuộc hội thoại đến thành công Tuy nhiên, ở góc độ ngữ dụng học, khái niệm “lịch sự” không chỉ hiểu đơn giản như vậy Dưới đây, người viết sẽ đưa ra một số định nghĩa về lịch sự của các nhà ngôn ngữ đi trước trước khi trình bày định nghĩa mà nghiên cứu này đồng thuận

Nguyễn Thiện Giáp (2000) trong cuốn Dụng học Việt ngữ khẳng định lịch sự

như một chuẩn mực xã hội, và tác giả lập thức: “Các nhà văn hóa thuộc nhiều dân tộc khác nhau đã quan niệm lịch sự là hành vi xã hội có lễ độ hay là phép xã giao trong hành vi văn hoá" [ tr 100] Tác giả cho rằng chuẩn mực xã hội trong giao tiếp

"không chỉ thể hiện ở lời nói mà còn thể hiện ở giọng, ở điệu" [tr.101] Cùng với việc khẳng định lịch sự là chuẩn mực xã hội, tác giả cũng xác nhận rằng “ trong giao tiếp còn một kiểu lịch sự nữa được thực hiện Để miêu tả kiểu lịch sự này cần biết khái niệm thể diện (face)” [tr 104], và thể diện theo hướng phân tích của nhà ngôn ngữ học này, về thực chất là sự kế thừa quan niệm về chiến lược lịch sự của Brown và Levinson Lịch sự được tác giả Nguyễn Thiện Giáp quan niệm là những

“nguyên tắc chung trong tương tác xã hội” [tr 102] Những nguyên tắc này có thể bao gồm “sự tế nhị, sự khoan dung, sự khiêm tốn, sự cảm thông đối với người khác” [tr 102] Những lời nói, câu thơ, ca dao, tục ngữ của người Việt là những ví

dụ được đưa ra để minh chứng cho nguyên tắc lịch sự mà tác giả đã bênh vực Trong những nguyên tắc đó, nguyên tắc nhún nhường và khiêm tốn không những thích hợp với người Việt mà còn thích hợp với nhiều dân tộc khác, tức là có tính phổ quát đối với nhiều dân tộc

Vũ Thị Thanh Hương là một trong những người quan tâm nhiều nhất đến lịch

sự trong giao tiếp bằng tiếng Việt Qua công trình nghiên cứu với nhan đề

Politeness in modern Vietnamese: A sociolinguistic study of a Hanoi speech community (Lịch sự trong tiếng Việt hiện đại: Một nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội

ở một cộng đồng ngôn ngữ của Hà Nội), tác giả đã phác hoạ một mô hình lịch sự

trong tiếng Việt bao gồm các nội dung: lễ phép, tế nhị, đúng mực, khéo léo [tr

Trang 23

148], trong đó lễ phép được hiểu là một kiểu lịch sự của người bề dưới đối với người bề trên

Kết quả phân tích của tác giả cho thấy rằng xét trong quan hệ với lịch sự, thì lễ phép và đúng mực nằm ở cùng một bình diện, còn khéo léo và tế nhị nằm ở một bình diện khác, mặc dù ranh giới giữa hai bình diện này không rành mạch Điều này cho phép khẳng định “lịch sự bao gồm hai bình diện cơ bản là lịch sự lễ độ hay lịch

sự tối thiểu (có nội dung chính là lễ phép, đúng mực) và lịch sự chiến lược hay lịch

sự xã giao (khéo léo, tế nhị) là có cơ sở" [tr 147] Theo tác giả, các thể hiện của lịch

sự là đúng mực, lễ phép, khéo léo, tế nhị có mối quan hệ đan xen, bao hàm nhau, nhưng không đồng nhất, vừa bao hàm vừa khác biệt, theo kiểu những tập hợp có bộ phận giao nhau Mối tương quan giữa các yếu tố thể hiện khái niệm lịch sự trong tiếng Việt được tác giả biểu diễn như ở hình dưới đây:

Trần Ngọc Thêm trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam cho rằng trong

tiếng Việt, lịch sự gắn với nghi thức lời nói, nghĩa là lịch sự gắn với chuẩn mực xã hội mà ít gắn với chiến lược cá nhân trong tương tác Tác giả đã đưa ra những nhận xét có vẻ thường tình nhưng lại khá thú vị đối với việc so sánh nền văn hoá này với nền văn hoá khác Trong tiếng Việt, nghi thức lời nói trong lĩnh vực các cách nói lịch sự cũng rất phong phú Chẳng hạn, người Việt Nam không có một từ xin lỗi, cảm ơn khái quát có thể dùng chung cho mọi trường hợp như người phương Tây Người Việt Nam có nhiều cách cảm ơn, nhiều cách xin lỗi khá phong phú trong những ngữ huống giao tiếp khác nhau [tr.315]

Trang 24

Định nghĩa mà người viết sử dụng trong khóa luận này là định nghĩa của C.K Orecchioni Theo đó, C.K Orecchioni khẳng định: “Phép lịch sự liên quan tới tất cả các phương diện của diễn ngôn:

1 Bị chi phối bởi các quy tắc (ở đây không có nghĩa là những công thức hoàn toàn đã trở thành thói quen)

2 Xuất hiện trong địa hạt quan hệ liên cá nhân

3 Và chúng có chức năng giữ gìn tính chất hài hòa quan hệ đó (ở mức thấp nhất

là giải tỏa những xung đột tiềm tàng, tốt hơn nữa là làm cho người này trở thành càng dễ chịu đối với người kia thì càng tốt.”

Cũng cần lưu ý rằng, những định nghĩa trên chỉ đề cập đến mặt tích cực của phép lịch sự Cũng như mọi phạm trù khác của ngôn ngữ, lịch sự bao gồm cả không lịch

sự, như G.M Green viết:

“Những người tham gia hội thoại có thể chọn cách xử sự lịch sự, tránh cục cằn, thô lỗ Họ còn có thể lựa chọn cách xử sự tùy thích, không đếm xỉa đến tình cảm và nguyện vọng của người khác Họ còn có thể dựa vào những hiểu biết của mình về các quy tắc lịch sự để tỏ ra cục cằn, thô lỗ một cách cố ý

1.2.2 Các hướng nghiên cứu lịch sự trong giao tiếp

Lịch sự là vấn đề nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, và cũng đã được tìm hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau Dưới đây, người viết sẽ trình bày bốn hướng tiếp cận chủ yếu vấn đề này

1.2.2.1 Hướng xem xét theo chuẩn mực xã hội

Đại diện cho hướng đi này có thể kể đến các tác giả J S Locke và N Boston

Từ thời xa xưa, nhiều dân tộc, nhiều nhà văn hóa đã đề cập tới phép lịch sự dưới góc độ một chuẩn mực xã hội (social-norm) Theo J S Locke và N Boston, mỗi xã hội có một hệ thống những quy tắc ứng xử chung, đòi hỏi các thành viên phải tuân theo Khi hành vi chuẩn mực theo đúng quy tắc chung, thì có được lịch sự, ngược lại là mất lịch sự

Trang 25

1.2.2.2 Hướng xem xét theo quy tắc hội thoại

Các công trình của R Lakoff (1973, 1989), G Leech (1983), W Edmondson (1981), A Kasher (1986) đều có điểm chung là tiếp cận phép lịch sự dưới góc độ như một phương châm hội thoại

Năm 1975, P.Grice đã đề xuất các quy tắc ứng xử trong hội thoại Đó là nguyên tắc cộng tác hội thoại Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là: “làm cho phần đóng góp của anh đúng như đòi hỏi ở giai đoạn mà cuộc thoại đang diễn ra, bằng cách chấp nhận mục đích hoặc chiều hướng của sự trao đổi lời mà anh tham dự” Tuy nhiên, khi phát biểu về nguyên tắc này, chính Grice cũng thừa nhận là nó quá hẹp Mục đích của nguyên tắc cộng tác là: “tìm kiếm hiệu quả tối ưu của sự trao

đổi thông tin.” Trong Logic và hội thoại, Grice cho rằng “Chắc chắn còn những quy

tắc khác (thẩm mĩ, xã hội hay đạo đức) kiểu như quy tắc “hãy lịch sự” mà những người tham gia hội thoại đều tuân thủ và chúng có thể làm xuất hiện những hàm ngôn phi quy ước”

Một trong những người đầu tiên tiếp bước quan điểm của P Grice và đưa nó lên một tầm cao mới là R Lakoff Tác giả này coi lịch sự là một phương tiện được

sử dụng để giảm bớt trở ngại trong sự tương tác giữa các cá nhân Lịch sự là tôn trọng nhau Và để cụ thể hoá quy tắc lịch sự trong giao tiếp, R Lakoff đề xuất 3 quy tắc sau: a) Không áp đặt (trong lễ nghi, ngoại giao); Để ngỏ sự lựa chọn (trong giao tiếp thông thường); Làm cho người đối thoại cảm thấy thoải mái (trong trò chuyện thân mật)

Một học giả có tên tuổi khác là J.N Leech đã đề xuất các quy tắc về lịch sự Các quy tắc này được xây dựng không dựa trên khái niệm “thể diện” mà dựa trên hai khái niệm “tổn thất” và “lợi ích” Và cũng vì Leech quan niệm phép lịch sự liên quan chặt chẽ tới “lợi ích” hay “tổn thất” gây ra cho người nghe, nên mục tiêu của

nó, như một nguyên tắc, là “tối thiểu hóa những lối nói bất lịch sự (lịch sự tiêu cực)

và tối đa hóa những lời nói lịch sự (lịch sự tích cực)” Từ đó, tác giả đề ra những

phương châm trong giao tiếp lịch sự là: Khéo léo, hào hiệp, tán đồng, khiêm tốn và

thiện cảm Chẳng hạn, “Hãy giảm đi những lời chê bai người khác và tăng lên

Trang 26

những lời khen ngợi người ta” (phương châm tán đồng) Có vậy mới giữ được hòa

khí Hay “Hãy giảm đi lợi ích của mình và sẳn sàng tăng thêm phần tổn thất cho

mình” (phương châm hào hiệp)

1.2.2.3 Hướng xem xét theo cộng tác hội thoại

B Fraser (1975) và Nolen (1981) đã tìm ra cách tiếp cận này Cùng với việc tán đồng các quan điểm của các nhà nghiên cứu đi trước, hai tác giả chỉ ra rằng, lịch

sự là sự cộng tác của các bên khi tham gia hội thoại Nếu sự cộng tác hài hoà thì đảm bảo được yếu tố lịch sự, nếu sự hài hoà bị phá vỡ thì dẫn đến bất lịch sự

1.2.2.4 Hướng xem xét theo thể diện

P Brown và S Levinson được xem là hai tác giả nổi tiếng nhất trong lĩnh vực nghiên cứu về lịch sự Các tác giả đã xây dựng nên lí thuyết về lịch sự của mình

năm 1978 trong cuốn Politeness – Some Universals in language Usage Lí thuyết

này được hai tác giả chỉnh lí và hoàn thiện trong lần xuất bản thứ hai vào năm 1987 Đây là lí thuyết hiện nay được xem là nhất quán nhất, có ảnh hưởng rộng rãi nhất đối với việc nghiên cứu về phép lịch sự Theo các tác giả này, phép lịch sự trong giao tiếp có liên quan đến thể diện của người nói và người nghe khi họ giao tiếp với nhau Vậy thể diện là gì?

Theo J Thomas, thể diện nên được hiểu là “cảm giác về giá trị cá nhân của mỗi người, là hình ảnh về ta, về chính mình Hình ảnh này có thể bị tổn hại, được giữ gìn hay được đề cao trong tương tác.”

Như vậy “thể diện” hiểu một cách khái quát, là tư cách, là lợi ích tinh thần, là danh dự mà mỗi cá nhân khi tham gia giao tiếp đều muốn là phía bên kia sẽ tôn trọng và giữ gìn nó

Nhìn vào bản chất của thể diện, P Brown và S Levinson đã chia thể diện ra thành hai loại và phân biệt chúng như sau:

- Thể diện dương tính là cái “được phản ánh trong ý muốn mình được ưa thích, tán thưởng, tôn trọng, đánh giá cao” (J Thomas), là “sự thỏa mãn khi một giá trị của mình được tán thưởng” (G.M Green) G.Yule thì giải thích cụ thể hơn: “Thể diện

Trang 27

dương tính của một người là nhu cầu được người khác thừa nhận, thậm chí quý mến, được đối xử như một thành viên trong nhóm đó”

- “Thể diện âm tính là mong muốn không bị can thiệp, mong muốn được hành động

tự do theo như cách mình đã lựa chọn.” (J Thomas); nó là “nhu cầu được độc lập, được tự do trong hành động, không bị áp đặt bởi người khác Nói đơn giản thể diện

âm tính là nhu cầu được độc lập còn thể diện dương tính là nhu cầu được liên thông với người khác” (G.Yule)

Trong hội thoại, hai loại thể diện trên là hai mặt bổ sung cho nhau, phát huy vai trò tác dụng theo lối tương hỗ, vẫn gọi là “cộng sinh”, nghĩa là sự vi phạm thể diện

âm tính cũng đồng thời làm mất thể diện dương tính Như vậy, những chiến lược bảo vệ thể diện âm tính cũng có tác dụng bảo vệ cả thể diện dương tính

Trong tương tác bằng lời chúng ta phải thực hiện những hành vi ngôn ngữ nhất định Đại bộ phận những hành vi ngôn ngữ đều tiềm ẩn đến khả năng làm tổn hại đến 2 loại thể diện trên Nhưng có hành vi thì đe doạ đến thể diện, lại có hành vi giúp cứu vãn thể diện Vậy làm sao để không vi phạm đến thể diện? Điều này đặt ra yêu cầu người nói phải sử dụng các chiến lược lịch sự

Chiến lược lịch sự được hiểu đại khái là những ý định, những cách thức sử dụng ngôn ngữ sao cho đạt được hiệu quả giao tiếp cao nhất Người nói cần phải có một chiến lược giao tiếp cụ thể, sử dụng những phương tiện ngôn ngữ như thế nào

để gìn giữ, bảo toàn thể diện cho mình cũng như người cùng tham gia giao tiếp Tương ứng với từng loại thể diện mà cần có những loại chiến lược lịch sự thích hợp, tạo tiền đề đưa cuộc giao tiếp tới đích mong muốn Có hai loại thể diện tiêu biểu (âm tính và dương tính), và tương ứng là hai loại chiến lược lịch sự:

- Chiến lược lịch sự âm tính là những phương châm, cách thức sử dụng hành vi ngôn ngữ nhằm bày tỏ sự tôn trọng tự do cá nhân, nhấn mạnh tầm quan trọng, chú ý đến những điều quan tâm của người khác

- Chiến lược lịch sự dương tính là những phương châm, cách thức sử dụng hành vi ngôn ngữ nhằm bày tỏ tình thân hữu, chú ý rằng cả hai người đều có cùng một điều mong muốn, và cả hai có cùng một mục tiêu chung

Trang 28

Mỗi chiến lược lịch sự đều có những cách biểu hiện ngôn ngữ khác nhau, như giảm thiểu sự xung khắc, tình thái hoá, rào đón, vuốt ve, xin lỗi, cảm ơn,… hay dùng những hành vi tôn vinh thể diện người nhận, dùng các yếu tố ngôn ngữ để xác lập quan hệ cùng nhóm xã hội giữa người nói và người nhận

1.3 Giới thuyết về nhà văn Nguyễn Nhật Ánh và tác phẩm Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh

1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp

Nguyễn Nhật Ánh sinh ngày 7 tháng 5 năm 1955 tại thôn An Mỹ, xã Bình

An, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam Thuở nhỏ, ông theo học tại các trường Tiểu La, Trần Cao Vân và Phan Chu Trinh Từ năm 1973, Nguyễn Nhật Ánh chuyển vào sống tại Sài Gòn, theo học ngành sư phạm Ông đã từng đi Thanh niên xung phong, dạy học môn Văn tại trường THCS Bình Tây (Quận 6) từ năm 1983-

1985 Từ năm 1986, ông là phóng viên nhật báo Sài Gòn Giải phóng, lần lượt viết

về sân khấu, phụ trách mục tiểu phẩm, phụ trách trang thiếu nhi và hiện nay là bình luận viên thể thao trên báo Sài Gòn Giải phóng Chủ nhật với bút danh Chu Đình Ngạn Nguyễn Nhật Ánh còn có những bút danh khác như Anh Bồ Câu, Lê Duy Cật, Đông Phương Sóc, Sóc Phương Đông,

Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh bắt đầu từ năm 13 tuổi và được đánh

dấu bởi tập thơ Thành phố tháng tư (1984) Đến nay, ông đã xuất bản gần 100 đầu

sách và đã trở thành nhà văn thân thiết của các bạn đọc nhỏ tuổi ở Việt Nam

Trong sự nghiệp cầm bút của mình, Nguyễn Nhật Ánh đã nhận được rất nhiều

giải thưởng danh giá như: Giải thưởng của hội nhà văn Asean với tác phẩm Cho tôi

xin một vé đi tuổi thơ; Được bầu chọn là nhà văn được yêu thích nhất trong 20 năm

(1975-1995) qua cuộc trưng cầu ý kiến bạn đọc về các gương mặt trẻ tiêu biểu trên

mọi lĩnh vực của Thành Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh và báo Tuổi Trẻ; được Hội

nhà Văn Thành phố Hồ Chí Minh chọn là một trong 20 nhà văn trẻ tiêu biểu trong

20 năm (1975-1995); được Trung ương Đoàn Thanh Niên Cộng sản Hồ Chí Minh

trao huy chương Vì thế hệ trẻ với bộ truyện dài Kính vạn hoa (2003) Ông cũng

được Trung tâm sách Kỷ lục ghi nhận là nhà văn viết cho thanh thiếu niên nhiều

Trang 29

nhất Ông được xem như một hiện tượng của văn học Việt Nam đương đại với năng lực sáng tác dồi dào, phong cách sáng tác đa dạng- đa dạng về thể loại (thơ, truyện ngắn, truyện dài), về bút pháp (hiện thực, kỳ ảo, giả tưởng)

Nếu từng một lần được cầm trên tay và thưởng thức tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh, ắt hẳn bạn sẽ bắt gặp ở đâu đó hình ảnh của chính mình Nguyễn Nhật Ánh có lối viết vô cùng chân thật và gần gũi Chính sự bình dị và lối viết như tâm tình ấy đã tạo nên sức hút đến lạ kì Biểu chứng cho điều ấy là tính đến thời điểm này, Nguyễn Nhật Ánh là nhà văn sở hữu số lượng tác phẩm xuất bản kỉ lục, số sách bán chạy nhất trong số các nhà văn viết cho thiếu nhi ở Việt Nam Trong gần 30 năm, từ năm

1984 - 2012, Nguyễn Nhật Ánh đã cho ra đời 112 tác phẩm văn học gồm thơ, truyện dài, truyện ngắn, tiểu thuyết, tạp bút Tác phẩm của ông được chuyển thể thành phim, gợi cảm hứng cho nhạc sĩ sáng tác, được dịch sang tiếng nước ngoài

Nguyễn Nhật Ánh bắt đầu hoạt động sáng tác của mình vào năm 1985 Đây là thời kỳ nước ta bước đầu đi vào công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế Tuy nhiên, đây cũng là thời điểm mà văn học nước nhà gặp muôn vàn khó khăn- đặc biệt là ở mảng văn học thiếu nhi Số lượng các nhà văn sáng tác cho thiếu nhi và số lượng các tác phẩm văn học thiếu nhi chất lượng ngày càng ít đi Thế là giữa bao ngã rẽ, Nguyễn Nhật Ánh lựa chọn sáng tác mảng văn học thiếu nhi Trong hơn 30 năm qua, Nguyễn Nhật Ánh đã không ngừng tìm tòi, sáng tạo, đổi mới Và quả thực, Nguyễn Nhật Ánh đã thổi một cơn gió lạ cho văn học thiếu nhi trong nước

Không hoa mĩ và trau chuốt như Nguyễn Tuân, cũng không triết lí và giàu chất suy tưởng như Nguyễn Minh Châu, lối viết của Nguyễn Nhật Ánh thu hút người đọc ở sự bình dị và chân chất, ở khả năng kiến tạo sự hòa hợp tâm hồn giữa nhà văn

và bạn đọc Đúng như lời tựa mà Nguyễn Nhật Ánh viết ở đầu tác phẩm Cho tôi xin

một vé đi tuổi thơ: “Tôi viết cuốn sách này không dành cho trẻ em Tôi viết cho những ai từng là trẻ em”, đến với tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh, người đọc sẽ có

cảm giác vừa lạ lẫm lại vừa quen thuộc Lạ vì câu chuyện kể về một đứa trẻ nào đấy

ở đâu đó, chẳng phải là mình Nhưng lại cũng vừa quen, bởi vì đứa trẻ ấy sao mà giống mình quá! Mỗi người trong chúng ta như được trở về trên chuyến tàu tuổi thơ

Trang 30

mà ở đó có rất nhiều toa, mỗi toa lại là một bất ngờ thú vị, là một trải nghiệm riêng

mà có khi nó làm ta bật cười, khi lại khiến ta phải suy ngẫm Ngôn ngữ của nhà văn rất đỗi mộc mạc và gần gũi, nhưng dường như lại có phép màu Bởi thông qua ngôn ngữ ấy, người đọc có thể hình dung trước mắt mình từng khu vườn bé nhỏ, đơn sơ, từng ngọn đồi, từng con ngõ thậm chí là sâu thẳm những ngóc ngách, những biến chuyển nhỏ nhất trong tâm khảm của nhân vật Tất cả đã hiện lên vô cùng sống động, vô cùng chân thật mà không kém phần dí dỏm, hài hước Xin kết lại vấn đề bằng lời nhận định của PGS.TS Ngô Văn Giá về “người bạn đồng hành của tuổi

thơ” ấy: “Nói Nguyễn Nhật Ánh là nhà văn thiếu nhi, e chừng cái danh xưng ấy trở

nên chật chội với nhà văn này Anh là người viết nhiều, và viết hay Anh viết cho thiếu nhi, và không chỉ thiếu nhi Thực ra, anh viết cho tất thảy người lớn – những người đã từng có một thuở thiếu nhi, và đang còn giữ được con người trẻ thơ trong tâm hồn Anh viết cho tất cả Và anh thuộc về tất cả”

1.3.2 Tác phẩm Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh

Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh là một truyện dài dành cho thanh thiếu niên của

nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, xuất bản lần đầu tại Việt Nam vào ngày 9 tháng 12 năm

2010 bởi Nhà xuất bản Trẻ, với phần tranh minh họa do Đỗ Hoàng Tường thực hiện Tác phẩm được xem là cuốn sách mở đầu cho phương thức in nhiều dạng ấn bản trên một tác phẩm ở Việt Nam, với ấn bản bìa mềm và bìa cứng được bán ra song song Truyện dài này được chuyển thể thành một bộ phim điện ảnh cùng tên bởi đạo diễn Victor Vũ, công chiếu vào tháng 10 năm 2015 với doanh thu phòng vé rất cao và gây được nhiều sự chú ý trong công chúng Như một hiệu ứng từ sự ảnh

hưởng tích cực của bộ phim, truyện dài Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh đã trở thành

quyển sách bán chạy nhất trong Hội sách Hà Nội năm 2015 Tính đến tháng 10 năm

2015, tác phẩm đã trải qua 28 lần tái phát hành với tổng số bản in lên đến 130.000

bản

Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh kể về một giai đoạn đời người mà ai cũng từng

trải qua Nhưng đôi khi, trong cuộc sống, do những lo toan bộn bề với cơm, áo, gạo, tiền và rất nhiều những nỗi lo không đặt hết tên, chúng ta đã quên mất sự tồn tại của

Trang 31

nó: Tuổi thơ Mượn giọng kể của nhân vật "tôi", Nguyễn Nhật Ánh đã vẽ nên một bức tranh về thân phận con người trong kiếp sống qua lăng kính của trẻ thơ Tác phẩm là tập hợp những mẩu chuyện xoay quanh cuộc sống của những đứa trẻ ở một vùng quê Việt Nam nghèo khó Đó là chuyện gia đình nhân vật Thiều với ông bố

ham làm vè "Trúng số cứ tưởng trúng bom/ Hết ôm cây cột tới ôm nợ nần" nhưng vì

gánh nặng mưu sinh, phải xa vợ con, lên thành phố kiếm việc Sau này, vì lũ lụt đói kém, người mẹ cũng theo xe tải đi buôn củi, cốt chỉ để cho mâm cơm trong nhà có thêm phần thịt cá

Đó còn là mối tình bị cấm đoán giữa chị Vinh và chú Đàn, là những rung động đầu đời của Thiều và Mận Đó là câu chuyện về tình cảnh nhà con Mận: ba bị bệnh,

mẹ mở tiệm tạm hóa nhưng rồi một hôm, bị cháy rụi Hay đó là "tiếng thở dài sầu não" của ông Tám Tàng khi đứa con gái yêu đang tuổi lớn bỗng dở dở ương ương sau một tai nạn khi coi xiếc Tác phẩm tưởng chừng chỉ là cuốn nhật kí xoay quanh cuộc sống và những mối quan hệ của nhân vật Thiều, với những tâm tư của tuổi mới lớn thế nhưng lại chứa đựng biết bao thông điệp nhân văn: thông điệp về tình anh em, về tình làng nghĩa xóm và thông điệp về tình yêu thương Ai cũng vậy,

sẽ có ít nhất một lần trong đời gây khổ đau cho người khác vì sự ích kỉ, vô tâm, tắc trách của mình Và tác phẩm sẽ khiến người đọc cảm thấy ăn năn, day dứt khi nhìn thấy hình ảnh của mình trong đó Nhưng rồi, cái mà chúng ta nhận được chính là giá trị của bài học tình thương Bởi lẽ, chính tình thương là thứ giúp con người đến gần nhau hơn và vượt qua được tất cả những khó khăn, bế tắc trong cuộc sống

Trang 32

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN NGÔN NGỮ THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC

LỊCH SỰ TRONG HỘI THOẠI Ở TÔI THẤY HOA VÀNG

TRÊN CỎ XANH

Qua khảo sát một số cuộc thoại điển hình trong Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh,

người viết nhận thấy rằng các nhân vật trong tác phẩm trong quá trình giao tiếp đã

sử dụng rất nhiều những phương tiện ngôn ngữ khác nhau để đảm bảo cho việc thực hiện chiến lược lịch sự Dưới đây, người viết sẽ trình bày một số phương tiện ngôn ngữ được nhà văn Nguyễn Nhật Ánh thường xuyên sử dụng hơn cả

2.1 Dùng từ ngữ xưng hô

Các từ ngữ xưng hô không chỉ dùng để thay thế (để khỏi lặp lại), để trỏ người,

sự vật, hiện tượng mà còn góp phần tạo nên tính lịch sự trong giao tiếp Trong Tôi

thấy hoa vàng trên cỏ xanh, các từ ngữ xưng hô cũng là phương tiện ngôn ngữ được

sử dụng nhiều nhất trong việc thực hiện phương châm lịch sự

Trong hoạt động giao tiếp, sự có mặt của nhân vật giao tiếp được đánh dấu bằng các từ xưng hô Nhân vật giao tiếp là một thực thể xã hội được xác lập dựa trên hàng loạt các nhân tố như tuổi tác, quyền lực, quan hệ, văn hóa… Vì vậy, việc

sử dụng từ xưng hô như thế nào có vai trò vô cùng quan trọng trong việc xác lập và nhận diện vị thế của nhân vật giao tiếp trong từng cuộc thoại Bên cạnh đó, nếu như tiếng Anh có hệ thống đại từ nhân xưng khá đơn giản thì trong tiếng Việt, nhóm đại

từ xưng hô không chỉ đa dạng mà còn được sử dụng rất linh hoạt, tùy thuộc vào từng ngữ cảnh Chính vì thế, việc lựa chọn từ ngữ xưng hô như thế nào cho phù hợp cũng thể hiện thái độ tôn trọng của người nói đối với người nghe, làm gia tăng thể diện âm tính của người nghe và qua đó thể diện dương tính của người nói cũng được đề cao

Mặc dù hệ thống từ xưng hô trong tiếng Việt rất đa dạng nhưng căn cứ vào các

cuộc thoại được tổ chức trong Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh, theo người viết, hệ

Trang 33

thống từ xưng hô góp phần thực hiện chiến lược lịch sự trong tác phẩm có thể chia thành “xưng hô chuẩn mực” và “xưng hô thân thiện”

2.1.1 Xưng hô chuẩn mực

Trong tiếng Việt, xưng hô lịch sự thể hiện trước hết ở xưng hô chuẩn mực Xưng

hô chuẩn mực là xưng hô theo đúng vai giao tiếp Vai giao tiếp có thể được hiểu là toàn bộ các giá trị xã hội của một con người như: vị thế, quan hệ gia đình, giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, Vi phạm các chuẩn mực trong lúc xưng hô chính là vi phạm phép lịch sự tối thiểu của người Việt, chưa kể đến các yếu tố khác Chính vì thế, trong giao tiếp, người nói cần phải định rõ vai giao tiếp của mình cũng như của người nói để có sự cân nhắc, lựa chọn từ ngữ xưng hô cho phù hợp, làm hài lòng người nghe

Trong Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh hệ thống từ xưng hô chuẩn mực được

khai thác triệt để Câu chuyện được kể đặt dưới cái nhìn của nhân vật Thiều, nhân vật xưng “tôi” và kể lại câu chuyện Đi vào khảo sát hệ thống từ nhân xưng trong tác phẩm, chúng tôi nhận thấy, tác giả ít khi sử dụng các đại từ nhân xưng (có chăng

là cặp mày – tao) mà chủ yếu dùng các danh từ chỉ quan hệ thân tộc đã chuyển hóa thành các đại từ: anh, em, con, chú, bác, chị,… Ngoài các từ trên, có khi nhà văn còn sử dụng tên riêng để xưng hô Điều này không có gì mới so với các cuộc hội thoại khác trong tiếng Việt Tùy vào vai giao tiếp của các nhân vật mà từ xưng hô được lựa chọn cho tương hợp

Chẳng hạn, khi xưng hô với anh của mình (nhân vật Thiều), trong tất cả các cuộc thoại, Tường luôn xưng “em” và gọi “anh” một cách rất nhẹ nhàng, tình cảm:

Nhìn nó thút thít, tôi cầm lòng không đậu Tôi ngồi xuống bên cạnh, ôm vai nó, dỗ:

Trang 34

- Bớt đau rồi, anh Hai – Tường sụt sịt

- Thế sao em khóc hoài vậy?

- Ai biểu thầy Nhãn vô cớ đánh em – Tường ngước gương mặt nhòe nhoẹt lên nhìn tôi, nó chùi nước mắt bằng cả hai tay, ấm ức đáp- Khi bắt quả tang em đem thư cho chị Vinh, sao lúc đó thầy Nhãn không đánh em, bây giờ lại đánh? [tr 97]

Khi trò chuyện với chú Đàn, Thiều cũng luôn giữ cách xưng hô rất lễ phép, Thiều gọi “chú” và xưng “con”:

- Chú Đàn ơi! Chú có mấy cái hoa tay hở chú?- Tôi vừa chạy vừa hét lớn

- Chú hả? – Chú xoa đầu tôi bằng bàn tay duy nhất – Trước đây chú có

năm cái hoa tay Nhưng bây giờ chẳng còn cái nào

- Sao thế hả chú? – Tôi ngơ ngác- Những cái hoa tay cũng biến mất sao?

- Không phải là biến mất! Chú Đàn cười khì khì, buông tay khỏi đầu tôi để mân mê mẩu tay cụt- Chỉ vì cả năm cái hoa tay của chú đều nằm ở bàn tay phải

Bàn tay phải của chú tức là bàn tay đã bị cưa đi

Đột nhiên tôi nói:

- Nhưng dù bàn tay phải của chú không còn nữa thì chú vẫn là người có năm cái

hoa tay chứ? (lược bỏ lời dẫn truyện)

- Con nói không đúng hả chú?- Tôi lo lắng

- Không! Con nói rất hay! Điều đơn giản thế mà lâu nay chú không nghĩ ra! Ha ha, hay quá! Thế là tôi vẫn có năm cái hoa tay, bà con ơi!” [tr 23-24]

Rõ ràng, trong cuộc thoại trên, không chỉ nhân vật giao tiếp ở bậc dưới lựa chọn nhân xưng chuẩn mực mà nhân vật giao tiếp ở bậc trên cũng tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc trên Trong mỗi lượt lời tương tác của chú Đàn, chú cũng không dùng cặp mày – tao để giao tiếp với người bậc dưới mà dùng ngay cặp xưng hô chú – con đổi vai nói phù hợp để giao tiếp với nhân vật

Khi giao tiếp với thầy Đàn, mẹ của Thiều cũng có cách xưng hô rất chuẩn mực

Sự chuẩn mực ấy đến từ việc mẹ Thiều đã xưng mình là “tôi” và gọi thầy Đàn bằng

từ ngữ chỉ nghề nghiệp của đối ngôn:

- Thằng Đàn đâu?

Ngày đăng: 21/06/2021, 21:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w