Trong tình hình đó, việc xem xét và làm rõ lập luận của từng nhóm đối tượng trên cơ sở các cứ liệu là tác phẩm văn học Việt Nam sẽ góp phần làm rõ hơn lí thuyết lập luận để từ đó giúp ch
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
CHU THỊ THÙY PHƯƠNG
LẬP LUẬN TRONG HỘI THOẠI CỦA NHÂN VẬT
(QUA TƯ LIỆU VĂN XUÔI VIỆT NAM,
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Văn Tình
Phản biện 1: GS.TS Nguyễn Thiện Giáp
Phản biện 2: GS TS Lê Quang Thiêm
Phản biện 3:PGS.TS Hà Quang Năng
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện, họp tại Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội
Vào hồi giờ ngày tháng năm 201
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Lập luận là một thao tác của tư duy được biểu hiện qua hành động ngôn ngữ Nói cách khác, lập luận là hoạt động dùng ngôn ngữ tác động vào nhận thức
và hành vi của người tiếp nhận – một sự lựa chọn có tính đến những can thiệp mạnh mẽ của tư duy để điều chỉnh tư duy
1.2 Văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 có sự chuyển biến mạnh mẽ đến mọi phương diện từ phản ánh đời sống đến việc sử dụng các thủ pháp văn học Nhà văn thông qua nhân vật thể hiện các quan điểm của mình đồng thời phản ánh chân thực về con người xã hội trong giai đoạn đó Từ nhận thức, tư duy đến việc hiện thực trong sử dụng ngôn ngữ, nhà văn đã dựng lên cả một xã hội đầy biến động mà ở đó có sự phân chia thành các giai cấp/ các nhóm người mang những đặc điểm riêng biệt Nói cách khác, trong tác phẩm văn học, tính cách, cá tính nhân vật được thể hiện qua hội thoại Thông qua các diễn ngôn hội thoại, nhân vật thể hiện lối suy nghĩ, cách nói, cách lập luận Hay ở bất cứ tác phẩm nào nếu đã có nhân vật thì có lập luận Đồng thời, việc xem xét nhân vật từ phương diện lập luận sẽ góp phần làm nổi bật tính chất điển hình của nhân vật, làm rõ phong cách nhà văn và góp phần hiện thực hóa hoạt động hành chức của ngôn ngữ trong giao tiếp
1.3 Hiện nay trong nhà trường, việc rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ, kỹ năng lập luận được coi là một nhiệm vụ quan trọng trong việc rèn luyện đối với học sinh, sinh viên Trong tình hình đó, việc xem xét và làm rõ lập luận của từng nhóm đối tượng trên cơ sở các cứ liệu là tác phẩm văn học Việt Nam sẽ góp phần làm rõ hơn lí thuyết lập luận để từ đó giúp cho học sinh sinh viên rèn luyện kỹ năng tư duy
và sử dụng ngôn ngữ
Vì những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Lập luận trong hội thoại của
nhân vật (qua tư liệu văn xuôi Việt Nam, giai đoạn 1930-1945)”
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu lập luận của nhân vật trong hội thoại (qua tư liệu văn xuôi Việt Nam, giai đoạn 1930-1945), luận án nhằm chỉ ra đặc điểm cấu trúc hình thức, phạm vi sử dụng của lập luận của từng nhóm nhân vật trong hội thoại
Trang 4dưới cách nhìn của ngữ dụng học và phân tích diễn ngôn phê phán Từ đó, luận
án làm rõ đặc điểm nổi bật của từng nhóm nhân vật trong việc sử dụng lập luận
ở các cuộc hội thoại
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
1/ Tổng quan được tình hình nghiên cứu về lập luận trên thế giới, ở Việt Nam để thấy được vị trí và vai trò của lập luận trong việc nghiên cứu ngôn ngữ nói chung và ứng dụng trong nghiên cứu các tác phẩm văn học nói riêng Từ đó, tìm hiểu những vấn đề lí thuyết liên quan đến đối tượng đề tài quan tâm như: lập luận trong ngữ dụng học; lập luận trong phân tích diễn ngôn; lập luận trong hội thoại ở văn bản nghệ thuật
2/ Khảo sát, thống kê, phân thoại các cuộc thoại chứa lập luận của các nhóm nhân vật (quan lại, địa chủ, nông dân, trí thức) trong các văn bản nghệ thuật (văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930-1945)
3/ Phân tích, mô hình hóa cấu trúc lập luận của các nhóm nhân vật khảo sát theo lí thuyết lập luận
4/ Phân tích và chỉ ra các lẽ thường đặc trưng trong sử dụng; các đặc điểm
từ ngữ được sử dụng trong các lập luận của từng nhóm nhân vật Từ đó, luận án góp phần vào việc làm rõ vai trò của lập luận khi tham gia vào quá trình điển hình hóa nhân vật trong tác phẩm và làm nổi bật phong cách nhà văn
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Lập luận được coi là một hoạt động ngôn từ, có mặt ở mọi nơi, mọi lúc và mọi trường hợp, đa dạng, phong phú của cuộc sống ngôn ngữ Đối tượng nghiên cứu của luận án là lập luận trong hội thoại của nhân vật
Phạm vi nghiên cứu: lập luận của nhân vật (quan lại, địa chủ, nông dân và trí thức) trong hội thoại qua tư liệu văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930-1945
Việc nghiên cứu lập luận trong hội thoại căn cứ vào tác phẩm văn học tất nhiên không đảm bảo tuyệt đối tính khách quan, nguyên bản của dạng lời nói trong giao tiếp đời thường Tuy nhiên, ở mức độ nhất định, các nhà văn vẫn tôn trọng và phản ánh đúng thực tế giao tiếp Do vậy, lập luận trong hội thoại nhân vật qua tư
Trang 5liệu văn xuôi Việt Nam ở mỗi giai đoạn vẫn đảm bảo độ tin cậy để tiến hành công việc nghiên cứu
3.2 Tư liệu khảo sát
Tư liệu các tác phẩm khảo sát gồm:
1.Tuyển tập Nguyễn Công Hoan (2006) (tập 1), NXB Văn học, Hà Nội
2.Tuyển tập Nguyễn Công Hoan (2006) (tập 2), NXB Văn học, Hà Nội
3 Tuyển tập Vũ Trọng Phụng (2011), (tập 1), NXB Văn học, Hà Nội
4.Tuyển tập Vũ Trọng Phụng (2011), (tập 2), NXB Văn học, Hà Nội
5 Văn học Việt Nam hiện đại (2010), Tuyển tập Nam Cao, NXB Thời đại, Hà
Nội
6 Văn học Việt Nam hiện đại (2012), Ngô Tất Tố tuyển tập, NXB Văn học, Hà
Nội
7 Ngô Tất Tố (2012), Lều chõng, NXB Văn học, Hà Nội
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
1/ Phương pháp phân tích diễn ngôn
2/ Phương pháp miêu tả
3/ Phương pháp liên ngành
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận án cung cấp một số cứ liệu về đặc điểm của các phương tiện ngôn ngữ trong giao tiếp nói chung, trong lập luận nói riêng Kết quả nghiên cứu của luận án có thể góp phần phát triển nghệ thuật hùng biện
- Kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng vào việc xây dựng, tăng cường
kĩ năng giao tiếp hay phục vụ cho việc nghiên cứu giảng dạy Ngữ dụng học, Ngôn ngữ học, Phân tích diễn ngôn
- Kết quả của luận án có thể được dùng để tham khảo cho giáo viên, học sinh trong việc phân tích nhân vật văn học nói riêng, phong cách nhà văn nói chung Đồng thời, giúp cho việc rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ, khả năng tư duy và lập luận bằng ngôn ngữ của học sinh trong nhà trường
6 Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lí luận
Trang 6Nghiên cứu lập luận là một nội dung quan trọng của Ngữ dụng học Luận án góp phần làm rõ lí luận về lập luận của ngôn ngữ nói chung và lập luận của nhân vật trong hội thoại qua các tác phẩm văn học nói riêng Kết quả của luận án đóng góp thêm ý kiến cho việc nghiên cứu ngôn ngữ ở phương diện hành chức thông qua thao tác tạo lập lập luận và chuỗi lập luận
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận án hướng đến các lập luận của nhân vật trong hoạt động giao tiếp của ngôn ngữ trên văn bản Đó cũng là phương diện thể hiện việc hành chức của ngôn ngữ Việc xem xét lập luận của các nhóm nhân vật (địa chủ, phong kiến, nông dân và trí thức) sẽ góp phần làm rõ đặc điểm sử dụng ngôn ngữ của nhân vật; làm sáng tỏ nhân vật và từ đó khẳng định tài năng của nhà văn Đây sẽ là cơ sở cho việc phân tích nhân vật văn học nói riêng và làm sáng tỏ phong cách nhà văn nói chung trong việc dạy và học văn ở nhà trường
Kết quả của luận án là minh chứng giúp cho việc rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ, kỹ năng tư duy và khả năng lập luận của học sinh trong nhà trường Đồng thời, giúp cho việc mở rộng nội dung giảng dạy các tác phẩm văn học một cách thiết thực, hiệu quả hơn
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận án được triển khai thành 3 chương: Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chương 2: Một số kiểu cấu trúc lập luận của nhân vật trong hội thoại (qua tư liệu văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930- 1945)
Chương 3: Lập luận của nhân vật trong hội thoại xét từ phương diện ngữ cảnh, vai giao tiếp và các lẽ thường (qua tư liệu văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930- 1945)
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Nghiên cứu lập luận
1.1.1.1 Trên thế giới
Trang 7Trong cuộc sống, con người luôn dùng đến lập luận (argumentation) để chứng minh, giải thích, hay bác bỏ một ý kiến nào đó Lập luận có tầm quan trọng đặc biệt, đó chính là cơ sở để giải quyết mọi vấn đề Thuở ban đầu, lập luận được
coi là một lĩnh vực thuộc phạm vi của thuật hùng biện - một “nghệ thuật nói năng”, được trình bày trong Tu từ học (Rhetoric) của Aristotle Sau đó, từ thế kỷ thứ V
TCN, nó đã được chú ý nghiên cứu trong logic học Ban đầu là chuyện tranh cãi trong những vụ kiện cáo trước tòa Có thể văn bản đầu tiên đề cập tới lập luận
(phương thức lập luận) là tài liệu về “phương pháp lí lẽ ” do Corax và học trò của
ông ta là Tisias nói trước tòa Cũng ở thế kỷ này, một trong những công trình
nghiên cứu đầu tiên về lập luận cũng đã xuất hiện trong tác phẩm “thuật tranh
biện” của Protago - một học giả ngụy biện nổi tiếng của Hy Lạp
Nửa sau thế kỷ XX, lí thuyết lập luận được quan tâm trở lại Mở đầu là
những công trình của Perelman C., Olbrechts – Tyteca (1969), “Traité de
l’argumentation – La Nouvelle Rhétorique” và của Toulmin S (1958/2003), “The use of argument” Sau đó là “De la logique à I’argumentation” (Từ logic tới sự lập
luận) của Grize Trong mấy chục năm gần đây, lĩnh vực nghiên cứu về lập luận đã
có sự phát triển và chuyển biến mạnh mẽ
Trước hết đó là những công trình của hai tác giả Pháp Ducrot O (1973)
“Les Echelles argumentatives” (Sự lập luận – trong ngôn ngữ) và Anscomber J.c
“Logique, structure, énonciation Lectures sur le langage” (Logic, cấu trúc, sự phát
ngôn: Những bài giảng về hoạt động ngôn ngữ, Minuit, 1989) đã đưa ra những kiến giải mới, căn bản và độc đáo về lí thuyết lập luận trong ngôn ngữ Trong công trình, các tác giả đã chú ý tới: 1/ Hiện tượng đa thanh khi phân biệt người nghe với người tiếp nhận, người nói với chủ ngôn, 2/ Những kết tử và tác tử trong lập luận Hướng nghiên cứu này gặt hái được nhiều kết quả thú vị, bất ngờ và hiện nay đang được nhiều người quan tâm
Lập luận theo logic hình thức: Frans van Eemeren và Rob Grootendorts – hai nhà ngôn ngữ học Hà Lan năm 1984 - lần đầu tiên đưa ra quan điểm ngữ dụng - biện chứng Hai công trình được nhìn nhận là dấu ấn trong giới nghiên cứu ngôn
ngữ Các nhà nghiên cứu logic học quan tâm về lĩnh vực này là: “Argumentation,
Communication and fallacies: A pragma – dialectical perspective” (Lập luận,
Trang 8thông tin và những suy luận sai lầm: một viễn cảnh ngữ dụng – biện chứng) (1992)
Sau đó, công trình được trình bày đầy đủ và hệ thống sau 12 năm trong “A
systematic theory of argumentation: The pragma – dialectical approach” (Một lí
thuyết hệ thống về lập luận: Cách tiếp cận ngữ dụng - biện chứng) (2004)
Lập luận theo logic phi hình thức: Các tác giả Robert J Fogelin, Sinnott và
Armastrong W trong công trình “Understanding arguments: An introduction to
informal logic” (Sự lập luận được hiểu như là logic phi hình thức) nhận định: một
trong những mục đích của lí thuyết lập luận là phải cho phép nghiên cứu tốt nhất mọi cấu trúc trừu tượng Từ đó, phát hiện những nguyên lý cơ bản giúp phân biệt được những lập luận tốt và lập luận tồi Mỗi một lập luận được coi như một cách dùng ngôn ngữ - hoạt động ngôn từ, trong đó có hoạt động luận cứ
1.1.1.2 Ở Việt Nam
Xét về tần suất xuất hiện của các công trình nghiên cứu có giá trị về lĩnh vực này cần phải nhắc tới các tác giả: Nguyễn Đức Dân và Đỗ Hữu Châu; Diệp Quang Ban; Nguyễn Chí Hòa; Nguyễn Hòa… Từ việc đưa ra cách hiểu về lập luận, các tác giả lần lượt đưa ra những đánh giá, nhận định về các vấn đề liên quan như: quan
hệ lập luận, chỉ dẫn lập luận và lí lẽ trong lập luận
Một số đường hướng nghiên cứu về lập luận như: nghiên cứu lí thuyết về lập luận trên cơ sở đi sâu nghiên cứu, quan hệ lập luận và chỉ dẫn lập luận như các nghiên cứu của Nguyễn Minh Lộc (1994); Kiều Tập (1996); Trần Thị Lan (1994); Kiều Tuấn (2000); …và nghiên cứu lập luận từ phương diện phân tích diễn ngôn trên văn bản và một số khía cạnh của xã hội như luận án của Hoàng Xuân Hoa (1999; Lê Tô Thúy Quỳnh (2000); Nguyễn Thị Hường (2005); Đây được xem là những công trình có tính chất xương sống để giúp cho những ai quan tâm tiếp tục tìm hiểu ở nhiều phương diện và nội dung khác nhau
1.1.2 Vấn đề nghiên cứu lập luận của nhân vật trong các văn bản nghệ thuật
Một số tác giả với một số công trình nghiên cứu các văn bản nghệ thuật từ phương diện lập luận như: Lê Huy Bắc (2005); Lê Thị Kim Cúc (2007); Trần Trọng Nghĩa (2011); Nguyễn Thị Thu Trang, …Tiếp cận lập luận từ một số
Trang 9phương diện của đời sống xã hội như: tòa án, văn hóa… như: Lê Tô Thúy Quỳnh
(2000); Hồ Bạch Thảo (2006); Trần Thị Linh (2011) …
Có thể thấy, việc tìm hiểu lập luận từ phương diện lí thuyết đến phương diện ứng dụng thực tiễn đã dành được nhiều thành tựu to lớn Tuy nhiên với việc khẳng định vị thế của mình trong hệ thống lí thuyết ngôn ngữ, lập luận vẫn là một đối tượng mới mẻ, là mảnh đất màu mỡ cho những ai quan tâm
1.2 Cơ sở lí thuyết
1.2.1 Một số vấn đề về lí thuyết hội thoại
Khái niệm hội thoại: Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên và phổ
biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác
Trong khuôn khổ của luận án chúng tôi chỉ trình bày những vấn đề lí
thuyết hội thoại là cơ sở trực tiếp cho quá trình nghiên cứu như: vận động hội
thoại; quy tắc hội thoại; cấu trúc hội thoại; nghĩa hàm ẩn và nghĩa tường minh
1.2.2 Một số vấn đề về lập luận trong hội thoại
1.2.2.1 Lập luận và một số khái niệm liên quan
Khái niệm lập luận trong luận án là: Lập luận là đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn
dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới
1.2.2.2 Các thành phần trong cấu trúc lập luận
Trong một lập luận có ba bộ phận: luận cứ, kết luận (hay luận đề) và quan hệ lập luận
1.2.2.3 Chỉ dẫn lập luận
Chỉ dẫn lập luận là các dấu hiệu hình thức nhờ chúng người nghe nhận ra được hướng lập luận và các đặc tính lập luận của các luận cứ trong một quan hệ lập luận Các chỉ dẫn lập luận gồm hai loại lớn: Các tác tử lập luận, các kết tử lập
luận và các dấu hiệu giá trị học
1.2.2.4 Lí lẽ trong lập luận
Khái niệm: Lí lẽ được hiểu là lí lẽ chung, là hệ thống giá trị được xã hội
chấp nhận theo kinh nghiệm
1.2.3 Lập luận của nhân vật trong hội thoại
1.2.3.1 Hội thoại trong văn bản nghệ thuật
Trang 10Hội thoại trong văn bản nghệ thuật là vấn đề quan trọng thể hiện sự tương tác giữa các chức năng cơ bản của lời nói tự nhiên như chức năng giao tiếp, chức năng nhận thức với chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ nghệ thuật Có thể khẳng định: với tổ chức lập luận của nhân vật trong hội thoại, tác giả đã góp phần vào quá trình xây dựng hình tượng nghệ thuật (nhân vật văn học)
1.2.3.2 Các tiêu chí xác định lập luận của nhân vật trong hội thoại ở văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930-1945
1.2.4 Một số lí thuyết về phân tích diễn ngôn phê phán được áp dụng phân tích lập luận của nhân vật trong hội thoại
Các tác giả có nhiều đóng góp cho sự ra đời của CDA là Van Dijk, Fairclough, Wodak, và Chouliaraki Chúng tôi nhận thấy các tác giả hầu hết đều hướng đến một điểm lớn đó là nghiên cứu có phê phán; phân tích diễn ngôn có thái độ; nhìn nhận vai trò của diễn ngôn trong việc tác lập và duy trì quyền lực
Ngữ cảnh trong đường hướng phân tích diễn ngôn phê phán là một nội dung rất được coi trọng Có nhiều kiểu loại ngữ cảnh, các tác giả Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Hòa… thống nhất quy về hai nhóm lớn: ngữ cảnh tình huống và ngữ cảnh văn hóa
1.3 Tiểu kết chương 1
Một số nội dung chính về lí thuyết lập luận đề tài quán triệt khi nghiên cứu
về đề tài như: 1/ Dựa trên cơ sở lí thuyết tìm ra những điểm chung của những nhóm lập luận và mô hình hóa thành các mô hình lập luận của từng hệ thống nhân vật Từ
đó, luận án đưa ra những đặc điểm chung về cấu trúc của lập luận ở từng hệ thống nhân vật; 2/ Dựa trên lí thuyết phân tích diễn ngôn phê phán để thấy được ngữ cảnh của lập luận Từ đó luận án đánh giá toàn diện vai trò, ý nghĩa của tổ chức lập luận của từng hệ thống nhân vật; 3/ Trên cơ sở các phân tích trên, luận án hướng tới việc xác lập các đặc điểm nổi bật trong việc tổ chức và hoạt động của lập luận trong thể hiện hình tượng nhân vật, thể hiện phong cách nhà văn và góp phần vào việc rèn luyện kỹ năng lập luận cho người đọc, người học
Trang 11Chương 2 MỘT SỐ KIỂU CẤU TRÚC LẬP LUẬN CỦA NHÂN VẬT TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM
(qua tư liệu văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 )
2.0 Đặt vấn đề
2.1 Đặc điểm cấu trúc lập luận của nhân vật trong hội thoại (qua tư liệu văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945)
2.1.1 Cơ sở khảo sát
2.1.1.1 Độ dài văn bản của lập luận
Dù được cấu tạo với độ dài văn bản khác nhau nhưng mỗi lập luận đều hướng đến tính thuyết phục, định hướng, dẫn dắt… người đối diện nhằm đạt hiệu quả giao tiếp
2.1.1.2 Tính mạch lạc của lập luận
Trong tổ chức lập luận có sự liên kết của nhiều chủ đề Sự có mặt của nhiều chủ đề trong hội thoại và trong lập luận phần nào làm cho lập luận trở nên chặt chẽ, thuyết phục hơn
2.1.1.3 Cách khảo sát tư liệu
2.1.2 Đặc điểm cấu trúc lập luận chung của nhân vật trong hội thoại
Một lập luận đầy đủ bao giờ cũng có hai thành phần là: luận cứ (p, q) và kết luận (r) Mô hình đầy đủ của một lập luận như sau:
L = p,q - > r
Trong đó: L: lập luận p,q, luận cứ r: kết luận ->: chỉ quan hệ lập luận Lập luận không đầy đủ là lập luận vắng một trong hai thành phần (luận cứ hoặc kết luận)
2.1.2.1 Cấu trúc đầy đủ và cấu trúc không đầy đủ
a Lập luận có cấu trúc đầy đủ
Dạng chuẩn Dạng biến thể vị trí
L = p, q r L = r p, q L = p r q
b Lâp luận có cấu trúc không đầy đủ
Dạng 1 (Vắng luận cứ) : L = Ø -> r
Trang 12Dạng 2 (vắng kết luận): L = p, q -> Ø
Trong đó: L: lập luận p,q: luận cứ
Ø: rỗng ->: chỉ quan hệ lập luận
Nhận xét: Lập luận có cấu trúc đầy đủ xuất hiện trong các cuộc giao tiếp
giữa nhân vật thuộc tầng lớp thống trị và nhân vật thuộc tầng lớp bị trị trong các hoàn cảnh như: trao đổi mua bán, thuyết phục vay tiền, dụ dỗ làm việc xấu… Đối với nhân vật cùng tầng lớp thống trị, lập luận có cấu trúc đầy đủ được nhân vật sử dụng trong những hoàn cảnh: tâm sự chuyện quan trường, chuyện gia đình, chạy án… Lập luận có cấu trúc không đầy đủ xuất hiện trong các cuộc giao tiếp mang
tính đời thường, ít có tính tranh biện
2.1.2.2 Cấu trúc đơn và cấu trúc phức
Lập luận có cấu trúc đơn là lập luận có cấu tạo chỉ gồm một kết luận Lập luận có cấu trúc phức là các lập luận mà trong đó kết luận là một tổ hợp đồng loại nhằm diễn đạt một nội dung lập luận nào đó Hoặc kết luận là các chuỗi kết luận được suy ra trong lập luận Điều này cho thấy sự phức tạp trong các vấn đề cần thuyết phục hoặc trong suy nghĩ của nhân vật với từng hoàn cảnh giao tiếp
2.1.3 Đặc điểm cấu trúc các luận cứ và kết luận của lập luận trong hội thoại của nhân vật
2.1.3.1 Cấu trúc của luận cứ
a Cấu trúc các luận cứ của nhân vật thuộc tầng lớp bị trị
Nhận xét: Trong giao tiếp ngoài xã hội, đặc biệt là đối thoại với nhân vật địa chủ thì nhân vật nông dân sử dụng luận cứ có cấu trúc phức (gồm nhiều luận cứ) ở phạm vi hẹp Khi đối thoại với quan lại, nhân vật nông dân thường sử dụng cấu trúc đơn
- Nhân vật trí thức sử dụng các luận cứ có cấu trúc đơn và phức hài hòa, phù hợp từng hoàn cảnh phản ánh trình độ hiểu biết, vị thế của nhân vật trí thức được
xã hội ghi nhận
b Cấu trúc các luận cứ của nhân vật thuộc tầng lớp thống trị
Nhận xét: Các luận cứ có cấu trúc đơn thường xuất hiện trong các lập
luận của nhân vật thống trị gắn với các hoàn cảnh như: trong giao tiếp gia đình và
Trang 13thuyết phục nhân vật nông dân vay mượn tiền… Các luận cứ có cấu trúc phức được
sử dụng khi giao tiếp trên công đường với nhân vật bị trị và nhân vật cùng tầng lớp
2.1.3.2 Cấu trúc của kết luận
Nhận xét: Các cấu trúc đơn và phức của kết luận gần như có sự tương
đồng nhau về tần suất xuất hiện trong lập luận có chứa kết luận Các kết luận có cấu trúc đơn thường được nhân vật sử dụng trong giao tiếp gia đình, giao tiếp xã hội (thuyết phục nhân vật thuộc tầng lớp bị trị…) Các cấu trúc phức xuất hiện trong các cuộc trao đổi, buôn bán, thỏa thuận đối với nhân vật bị trị và nhân vật cùng tầng lớp
2.2 Tác tử và kết tử lập luận trong lập luận của nhân vật trong văn xuôi Việt Nam thời kỳ 1930 -1945
Thông qua những yếu tố ngôn ngữ, các lập luận được đánh dấu Những yếu tố đó được gọi là các chỉ dẫn lập luận (các tác tử và kết tử lập luận) Các chỉ dẫn lập luận là những yếu tố nhờ đó mà chúng ta biết được giá trị lập luận và quan
hệ lập luận của các luận cứ và kết luận
2.2.1 Tác tử lập luận
Đóng vai trò là các yếu tố tình thái, khi có mặt trong một lập luận, tác tử lập luận sẽ làm thay đổi giá trị của nội dung miêu tả trong lập luận và thay đổi giá trị của lập luận đó
2.2.1.1 Tác tử lập luận trong lập luận của nhân vật thuộc tầng lớp bị trị
Thứ nhất: Tác tử “chỉ”, “chỉ…thế kia”… làm thay đổi nội dung miêu tả
hướng nội dung miêu tả về phía “ít”, “duy nhất”, “hạn chế”
Các tác tử “chỉ”, “chỉ… thế kia”, “chỉ vì”, “chỉ những”… trong lập luận
của nhân vật bị trị được dùng khá phổ biến Tuy nhiên khi đối đáp với tầng lớp thống trị, các tác tử này được dùng với tần số cao hơn
Thứ hai: Các tác tử “đã”, “mới”, “đã… đâu mà”, “lại còn”… làm thay đổi
giá trị lập luận của cùng một nội dung miêu tả biến nó thành những luận cứ nghịch hướng
Nhóm tác tử này được dùng nhiều trong giao tiếp sinh hoạt giữa những đối tượng trong nhóm (cùng là nông dân hoặc cùng là trí thức)