1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề cải biên tác phẩm của nguyễn nhật ánh trường hợp các phim tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh và cô gái đến từ hôm qua

118 28 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 2,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng ta có thể điểm qua một số tác phẩm văn học Việt Nam được cải biên thành tác phẩm điện ảnh rất thành công, tạo tiếng vang trong lòng khán giả, trong giới nghệ thuật, được các nhà ph

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

_

ĐINH THỊ MỸ TÂM

VẤN ĐỀ CẢI BIÊN TÁC PHẨM NGUYỄN NHẬT ÁNH -

TRƯỜNG HỢP CÁC PHIM " TÔI THẤY HOA VÀNG TRÊN CỎ

XANH" VÀ " CÔ GÁI ĐẾN TỪ HÔM QUA"

LUẬN VĂN THẠC SĨ

(Chuyên ngành: Lý luận lịch sử phê bình điện ảnh và truyền hình)

Mã số: 60210231

Hà Nội - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

_

ĐINH THỊ MỸ TÂM

Mã học viên : 17035264

VẤN ĐỀ CẢI BIÊN TÁC PHẨM NGUYỄN NHẬT ÁNH -

TRƯỜNG HỢP CÁC PHIM " TÔI THẤY HOA VÀNG TRÊN CỎ

XANH" VÀ " CÔ GÁI ĐẾN TỪ HÔM QUA"

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô Đào Lê Na người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình và đã giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện, đưa ra những nhận xét, góp ý để em có thể hoàn thành luận văn của mình

Em xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô khoa Văn học và Ngôn ngữ trường Đại Học Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia Hà Nội, quý Thầy cô giảng viên đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho em trong suốt 3 năm học cao học, đã động viên và giúp đỡ em hoàn thành luận văn

Em xin cảm ơn Ban Giám Hiệu - Phòng đào Tạo Trường Đại học Sân khấu Điện Ảnh Truyền hình Thành Phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi, trang thiết bị cơ sở vật chất học tập cho chúng em trong quá trình học tập

Cuối cùng con xin cảm ơn người thân và gia đình đã luôn ủng hộ tinh thần, động viên con trong suốt thời gian học và thực hiện luận văn Xin cảm ơn những người bạn thân thiết đã luôn đồng hành, ủng hộ và động viên, giúp đỡ hỗ trợ tôi trong quá trình học tập và làm luận văn

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm

Đinh Thị Mỹ Tâm

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Đào Lê Na Các nội dung, kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là trung thực, nếu có bất kỳ gian lận nào, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Hội đồng

Học viên thực hiện

Đinh Thị Mỹ Tâm

Trang 5

MỤC LỤC

Mở đầu ……….…….……… 3

1.Lý do chọn đề tài……….……….….…… …….3

2.Lịch sử vấn đề………… ……… ……… ….…… 5

2.1.Cải biên từ văn học đến điện ảnh……… 5

2.2.Lịch sử nghiên cứu các tác phẩm cải biên của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh… 7

3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……… … 8

3.1 Phương pháp nghiên cứu……… 8

3.2 Cấu trúc luận văn……… 9

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CẢI BIÊN HỌC VÀ PHIM CẢI BIÊN TỪ TÁC PHẨM VĂN HỌC……….……….… … 10

1.1.Mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh ……… ……….….…………10

1.2 Các lý thuyết nền tảng của cải biên học……… …….…… 19

1.2.1 Lý thuyết liên văn bản… ……… ………… 20

1.2.2 Lý thuyết văn hóa học……… …….……… 23

1.2.3.Lý thuyết tiếp nhận……….………25

1.3.Phim cải biên trong lịch sử điện ảnh………28

1.3.1 Phim cải biên trong lịch sử điện ảnh thế giới………… ………28

1.3.2 Phim cải biên trong lịch sử điện ảnh Việt Nam………32

Tiểu kết……… ………… 36

CHƯƠNG 2: PHIM CẢI BIÊN TỪ TRUYỆN NGUYỄN NHẬT ÁNH QUA NGHỆ THUẬT KỂ CHUYỆN………….……….37

2.1.Tiếp nhận và thay đổi kết cấu ………… ……….… ……… ………….37

2.2 Không gian trần thuật học từ văn học đến điện ảnh….………… …….…44

Trang 6

2.3 Thời gian trần thuật học từ văn học đến điện ảnh……… … … 51

2.4.Điểm nhìn trần thuật từ truyện đến phim……… ………56

2.5.Sự dịch chuyển diễn ngôn từ văn học đến điện ảnh……… ………61

Tiểu kết………71

CHƯƠNG 3: PHIM CẢI BIÊN TỪ TRUYỆN NGUYỄN NHẬT ÁNH QUA GÓC NHÌN KÝ HIỆU HỌC……… 74

3.1 Hệ thống biểu tượng từ văn học đến điện ảnh ……… 74

3.2 Từ ngôn ngữ ẩn dụ đến hình ảnh ẩn dụ …… … ……….……….….83

3.3 Từ ngôn ngữ văn chương đến ngôn ngữ điện ảnh…… ……….86

Tiểu kết……… 96

Kết Luận ……… ……… 99

Tài Liệu Tham Khảo ……… ……… 101

Phụ lục hình ảnh……… ….…108

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Điện ảnh là một loại hình nghệ thuật có sự ra đời và phát triển gắn liền với những phát minh và tiến bộ của khoa học kỹ thuật công nghệ Tuy mới ra đời vào thế kỷ 19 nhưng điện ảnh đã chiếm giữ một vị trí rất quan trọng trong lĩnh vực nghệ thuật

Trong cuốn sách Ngôn ngữ điện ảnh và truyền hình tác giả Bruno Toussaint đã

có phát ngôn: “Ngôn ngữ này vay mượn trong hội họa (ánh sáng, bố cục, phối

cảnh), trong văn học (lời bình, lời thoại); trong kịch (dàn dựng, diễn xuất) , nhưng cuối cùng một sự kết hợp đặc biệt trong các loại hình nghệ thuật trên lại tạo nên một ngôn ngữ mạnh mẽ, đa dạng và độc lập mà người ta gọi là ngôn ngữ của hình ảnh và

âm thanh” [8, tr.13] Sự ra đời của điện ảnh không phải là một khoảnh khắc mà là một quá trình, vì con người đã biết cách sử dụng hình ảnh và âm thanh để kể chuyện khi chưa có sự ra đời của các thiết bị ghi hình, ghi âm Chính vì vậy, điện ảnh còn được gọi là nghệ thuật tạo hình biết chuyển động, là hội họa biết nói, là nhiếp ảnh

cử động Máy quay phim được phát triển từ máy chụp ảnh, ban đầu lưu giữ hình ảnh, ghi lại khoảnh khắc đẹp sống động Bên cạnh đó, máy quay phim còn có chức năng ghi lời thoại cùng với diễn xuất diễn viên, quang cảnh nền Khi dựng phim, các khung hình, âm thanh, âm nhạc, tiếng động , được lồng ghép vào với nhau tạo thành tác phẩm điện ảnh Và để có một bộ phim hay, hấp dẫn cần có một kịch bản tốt, dù là kịch bản gốc hay kịch bản được cải biên từ tác phẩm văn học

Có thể nói rằng phim truyện điện ảnh cải biên là sợi dây liên kết giữa văn học

và điện ảnh, giúp tác phẩm văn học được đọc lại và tái hiện một phương tiện biểu đạt mới, mở rộng cuộc đối thoại giữa nhà văn và nhà làm phim Việc cải biên một tác phẩm văn học sang điện ảnh đã là hiện tượng rất phổ biến Từ những năm đầu, khi điện ảnh mới hình thành, nội dung tác phẩm văn học có nhiều kịch tính, giàu hình ảnh, tạo điều kiện thuận lợi để các nhà làm phim cải biên

Cải biên từ một tác phẩm văn học thành tác phẩm điện ảnh là công việc không hề đơn giản vì ngôn ngữ văn học và điện ảnh rất khác nhau Tuy nhiên, văn

Trang 8

học rất phong phú đa dạng về thể loại ( truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện dài ) nhiều tác phẩm có nội dung câu chuyện thú vị, giàu hình ảnh sẽ là một điều kiện thuận lợi

để các nhà làm phim cải biên sang tác phẩm điện ảnh

Phải nói thêm rằng, phim truyện không thành hình nếu không có cốt truyện, nhân vật và tình huống, xung đột Kịch bản điện ảnh cũng chính là văn bản văn chương với một dạng thức trình bày đặc biệt Truyện ngắn hay tiểu thuyết là chuyện

kể, làm phim là đem câu chuyện lên hình Vậy phim chính là thế giới chuyện kể văn chương hiện hình Chúng ta có thể điểm qua một số tác phẩm văn học Việt Nam được cải biên thành tác phẩm điện ảnh rất thành công, tạo tiếng vang trong lòng khán giả, trong giới nghệ thuật, được các nhà phê bình đánh giá cao về chất lượng nghệ thuật, và đạt được giải thưởng lớn trong các liên hoan phim, đạt doanh thu cao phòng vé Tác giả tác phẩm văn học nguồn cũng rất hài lòng với hình hài mới của đứa con tinh thần của mình trong ngôi nhà điện ảnh điện ảnh Chúng ta có thể điểm qua một số phim được cải biên từ tác phẩm văn học như: Vợ chồng A Phủ (được chính tác giả nhà văn Tô Hoài chuyển thành kịch bản phim, sản xuất năm 1961, phim được đánh giá hay nhất của điện ảnh Việt Nam), phim Chị Dậu ( từ tác phẩm văn học cùng tên của nhà văn Ngô Tất Tố, Đạo diễn Trần Anh Khoa, phim ra mắt

1981, là một trong những bộ phim biểu tượng điện ảnh Việt Nam), phim Làng Vũ Đại ngày ấy (tác phẩm tiểu thuyết của nhà văn Nam cao được Đoàn Lê chuyển thể thành phim), Mê Thảo thời vang bóng (đạo diễn Việt Linh chuyển thể từ tác phẩm văn học Chùa đàn của Nguyễn Tuân), Thời xa vắng (Đạo diễn việt kiều Hồ Quang Minh mua tác quyền từ tác giả Lê Lựu chuyển thể thành phim), Bến không chồng (Đạo diễn Lưu Trọng Ninh chuyển thể từ tiểu thuyết của nhà văn Dương Hướng), Trăng nơi đáy giếng (Đạo diễn Vinh Sơn chuyển thể từ truyện ngắn cùng tên của nhà văn Trần Thùy Mai), Mùa len trâu ( Đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh chuyển thể từ tiểu thuyết Hương rừng Cà Mau và Mùa len trâu của cố nhà văn Sơn Nam), Hồn Trương ba da hàng thịt (Đạo diễn Nguyễn Quang Dũng chuyển thể từ tác phẩm văn học cùng tên của tác giả Lưu Quang Vũ), Chuyện chưa kể (Đạo diễn nhà sản xuất Ngô Thanh Vân chuyển thể từ chuyện Cổ tích Tấm Cám), Thiên mệnh anh hùng (Đạo diễn Victor Vũ chuyển thể lấy cốt truyện từ tác phẩm Nguyễn Trãi phần

Trang 9

hai Bức huyết thư của nhà văn Bùi Anh Tuấn), Cánh đồng bất tận (Đạo diễn Nguyễn Quang Bình chuyển thể từ tác phẩm cùng tên nhà văn Nguyễn Ngọc Tư) Một hiện tượng đáng chú ý nhất trong những năm gần đây là các tác phẩm văn học của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh được các nhà làm phim, lựa chọn làm phim cải biên thành tác phẩm điện ảnh đã tạo được tiếng vang lớn, có một sức hút mạnh mẽ, được khán giả đón nhận nồng nhiệt, thắng lớn trong doanh thu phòng vé Cụ thể như

phim Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh, chỉ sau hai tuần công chiếu, bộ phim thu hút

850.000 lượt khán giả và mang về 59,48 tỷ đồng cho nhà sản xuất Bên cạnh đó, các

bộ phim cải biên còn có tác động ngược lại tác phẩm văn học vì nhiều khán giả tìm đọc lại truyện Nguyễn Nhật Ánh sau khi phim ra rạp trình chiếu Đồng thời, số lượng sách được tái bản hơn chục nghìn cuốn…

Dù có nhiều ý kiến đánh giá nhận xét trái chiều từ giới chuyên môn nghệ thuật

và những bài viết bình luận của các nhà báo trên các phương tiện báo chí và kênh thông tin, nhưng hầu hết phim cải biên từ tác phẩm văn học vẫn luôn nhận được sự chú ý của khán giả và các nhà phê bình Vậy có thể nói văn học là kho tàng chất liệu của điện ảnh, quan trọng các nhà làm phim biết nắm bắt, dịch chuyển hợp lý và vẫn nắm bắt được cái cốt, hồn của văn học để dựng nên thành phim

Chọn đề tài: Vấn đề cải biên tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh – trường hợp

các phim Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh và Cô gái đến từ hôm qua, chúng tôi mong

muốn tìm hiểu cụ thể quá trình cải biên một tác phẩm văn học sang tác phẩm điện ảnh, thấy rõ nét hơn vẻ đẹp chân thiện mĩ của ngôn ngữ văn học được tái hiện trên màn ảnh Đồng thời phân tích sự dịch chuyển ngôn ngữ văn học thành ngôn ngữ điện ảnh qua góc nhìn tự sự học

2.Lịch sử vấn đề

2.1 Cải biên từ văn học đến điện ảnh

Vấn đề cải biên học đã xuất hiện rất lâu trong lịch sử thế giới Riêng Việt Nam thì vấn đề này còn khá mới, dù phim cải biên đã xuất hiện ngay từ thời gian đầu khai sinh nền điện ảnh nước nhà Cụ thể như các tác phẩm văn học nổi tiếng của những nhà văn tên tuổi như: Chu Lai, Lê Lựu, Nguyễn Quang Lập, Đoàn Giỏi… cũng đã

Trang 10

được cải biên thành những bộ phim ăn khách như: Đời cát, Đất và người, Sóng ở đáy sông, Đất phương Nam, Cánh đồng hoang, Vợ chồng A Phủ… Những bộ phim này luôn là niềm tự hào của nền điện ảnh Việt Nam

Như chúng ta đã biết cải biên không phải là sáng tác lại toàn bộ câu chuyện của bộ phim, nhưng không phải vì vậy mà các nhà làm phim không có sáng tạo mới trong bộ phim của mình Ngược lại, công việc này đòi hỏi nơi các nhà biên kịch phim phải đầu tư trí tuệ không nhỏ vào công việc sáng tác này Cho nên “Cần có những cái nhìn xác đáng cho cải biên” như tiêu đề TS Đào Lê Na đã phát biểu trong bài báo của Đại học Quốc gia Tp.HCM do Phan yên biên soạn TS Đào Lê Na còn nói thêm: “Đối với tác phẩm điện ảnh được sản xuất dựa trên ý tưởng của các tác phẩm văn học, công chúng trước nay luôn có cách đánh giá chưa thật xác đáng Khi xem xong một bộ phim, họ thường so sánh phiên bản điện ảnh với tác phẩm giống

và khác nhau ra sao Nếu tác phẩm điện ảnh thay đổi quá nhiều so với tác phẩm văn học, ê-kíp làm phim thường bị nhận lấy những lời chỉ trích nặng nề Điều này thật không công bằng vì tác phẩm điện ảnh có đời sống riêng của nó Từ kịch bản, diễn suất, cách dàn dựng… Và quan trọng hơn, ở tác phẩm điện ảnh cải biên chính là cách đọc, cách tiếp nhận tác phẩm văn học của đạo diễn Công chúng cần nhận thấy

đó như một trong nhiều cách tiếp nhận” [69]

Năm 2010, với đề tài Vấn đề chuyển thể tác phẩm văn học sang tác phẩm điện ảnh (từ góc nhìn tự sự), Đỗ Thị Ngọc Diệp cho rằng: “Tác phẩm văn học khi đi

vào môi trường điện ảnh không thể sống trọn vẹn đời sống của nó mà luôn có những biến đổi nhất định để phù hợp với ngôn ngữ điện ảnh, phù hợp với phương thức tự

Trang 11

Năm 2016, Lê Anh Tuấn với đề tài khóa luận phim truyện chuyển thể từ tác phẩm của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, thành công và hạn chế Anh cho rằng: “Khi

cải biên một tác phẩm văn học thành một bộ phim truyện điện ảnh hay truyền hình, các tác giả không minh họa một cách giản đơn, dễ dãi mà luôn cố gắng vận dụng những thế mạnh đặc trưng của ngôn ngữ điện ảnh để khai thác những tinh hoa của nguyên tác, làm nên một tác phẩm độc lập, có sức truyền cảm mạnh mẽ bằng hình tượng nghe-nhìn và có tính quần chúng cao Trong quá trình sáng tạo này, những người làm phim hoàn toàn chủ động trong việc sắp xếp, tổ chức lại tác phẩm văn học, chọn lựa những tình huống, chi tiết có thể diễn đạt một cách thuyết phục bằng hình ảnh và âm thanh.” [50, tr.44]

Năm 2019, Nguyễn Văn Hùng có phát biểu trong bài viết Sự dịch chuyển không gian và thời gian nghệ thuật từ truyện ngắn Việt Nam đương đại sang tác phẩm điện ảnh trong tạp chí Sông Hương số 364 như sau: “Có thể nói văn học và

điện ảnh có những thế mạnh riêng trong việc thể hiện không gian và thời gian nghệ thuật Cái chính yếu là hiệu quả tự sự và giá trị thẫm mỹ mà nó mang lại cho người thưởng thức Từ chất liệu nguồn, các nhà làm phim khi chuyển thể tác phẩm văn học lên màn ảnh hoàn toàn có thể tự do tổ chức, cấu trúc lại các mô hìn không gian và chiều kích thời gian nhằm thể hiện ý đồ nghệ thuật của mình Dấu ấn cá nhân của đạo diễn đã thể hiện rõ nét trong phương thức kiến tạo và tổ chức không – thời gian

tự sự Những bộ phim chuyển thể từ truyện ngắn Việt Nam đương đại ở một khía cạnh nào đó đã thành công trong phương diện quan trọng của kết cấu tự sự này.”[64]

2.2 Lịch sử nghiên cứu các tác phẩm cải biên của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh

Có rất nhiều bài báo viết về những bộ phim cải biên tử truyện của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh Như Nam Dương có đặt vấn đề trong bài báo pháp luật xã hội có tiêu đề là: “Phim chuyển thể từ truyện của Nguyễn Nhật Ánh: Hay hay không hay?” [62]

Trang 12

Còn Hằng Nga của Baodatviet.vn lại muốn so sánh ba tác phẩm đã được cải biên xem tác phẩm nào cải biên thành công nhất và có nhận định: “So sánh 3 phim điện ảnh chuyển thể từ tiểu thuyết của Nguyễn Nhật Ánh, 'Mắt biếc' vẫn thành công nhất?” [71]

Helinno của kênh 14.vn thì nghi ngờ “ liệu truyện của Nguyễn Nhật Ánh có thực sự đủ hay để chuyển thể thành phim?” Trong bài viết có tiêu đề “Câu hỏi đầu tuần: Sau tất cả, tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh có phù hợp chuyển thể thành phim?” [66]

Hòa Bình nhận định: “Bí quyết để tác phẩm điện ảnh chuyển thể thành công, thu hút đông khán giả là giữ được "chất" Nguyễn Nhật Ánh” trong bài viết “Truyện Nguyễn Nhật Ánh liên tiếp thành phim” trong báo Người Lao Động [56]

Hoàng Anh thì cảm thấy thú vị với những chi tiết cải biên trong bộ phim Mắt biếc trong bài viết “5 chi tiết cải biên thú vị ở Mắt biếc bản điện ảnh” của báo mạng

ione [55]

Sơn Tùng thì lại bâng khuâng: “Những thay đổi của Mắt Biếc so với nguyên

tác: Sáng tạo quá đà hay cải biên có chủ đích?” [78]

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác phẩm văn học Cô gái đến từ ngày hôm qua và Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh và hai bộ

phim cùng tên của đạo diễn Phan Gia Nhật Linh và Victor Vũ

- Phạm vi nghiên cứu là quá trình cải biên từ tác phẩm văn học thành tác phẩm điện ảnh của hai tác phẩm văn học nêu trên

3.1 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính sau:

- Phương pháp nghiên cứu Liên văn bản giúp nắm rõ hơn hành trình chuyển dịch từ văn học đến điện ảnh và sự cộng hưởng của tác phẩm điện ảnh trở lại văn học

Trang 13

- Phương pháp đối chiếu so sánh nguyên bản văn học và cải biên sang phim điện ảnh với góc nhìn trần thuật học

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành văn học điện ảnh

3.2 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, khóa luận nghiên cứu

“Vấn đề cải biên tác phẩm Nguyễn Nhật Ánh – Trường hợp các phim Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh và Cô gái đến từ hôm qua”, có tổng cộng 113 trang, được chia

Trang 14

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CẢI BIÊN HỌC VÀ PHIM CẢI BIÊN TỪ TÁC PHẨM

VĂN HỌC

Trong dòng chảy của các loại hình nghệ thuật, điện ảnh là loại hình sinh sau

đẻ muộn nhưng lại được sự đón nhận nồng nhiệt Phim cải biên là một trong những hình thức giải mã tác phẩm văn học của đạo diễn Những lí thuyết, những quan điểm

về cải biên đã được đưa ra và tranh luận Văn học và điện ảnh, hai loại hình nghệ thuật tồn tại có tính độc lập tương đối với nhau nhưng vẫn có những điểm chung nhất định Những bộ phim cải biên tác phẩm văn học thành tác phẩm điện ảnh giúp gắn kết hai loại hình nghệ thuật này lại với nhau

1.1 Mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh

Điện ảnh ra đời vào nửa cuối thế kỉ 19, ngày khai sinh ra ra loại hình nghệ thuật thứ bảy này là ngày 28 tháng 12 năm 1895, đây là ngày công chiếu phim chuyển động đầu tiên được anh em nhà Lumière được tổ chức tại Salon Indien (Phòng Ấn Độ) nằm dưới tầng hầm của quán cà phê Grand Café ở Paris, Pháp Những khách vào xem phim phải trả một mức giá là một franc để xem chừng mười đoạn phim ngắn dài một phút Đoạn phim đầu tiên trong số này được Anh em Lumière quay vào khoảng tháng 8 năm 1894 tại tầng trệt căn hộ của họ ở đường

Saint Victor (Lyon), nay đã được đổi tên thành đường Premier Film (nghĩa là Bộ phim đầu tiên) [60]

Sau khi thấy được giá trị tiềm ẩn của điện ảnh, hàng loạt nhà làm phim đã bắt đầu thử thách với loại hình giải trí mới này và cho ra đời những bộ phim đầu tiên của họ Sau đó dựa trên nền tảng lý luận điện ảnh và các trường phái nghệ thuật như chủ nghĩa ấn tượng, chủ nghĩa biểu hiện, chủ nghĩa siêu thực nhiều trường phái điện ảnh ra đời, tạo được những điểm nhấn quan trọng trong lịch sử điện ảnh Các quan điểm về mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh cũng được các nhà làm phim và nghiên cứu phim tranh luận từ rất sớm với những diễn biến ngày càng phức tạp hơn

Trang 15

Điện ảnh tiếp tục dòng chảy của mình cho ra đời những thước phim hết sức

có giá trị, trong số đó có không ít những bộ phim được cải biên từ tác phẩm văn học Văn học và điện ảnh là hai loại hình nghệ thuật độc lập nhưng lại tìm thấy điểm chung trên hành trình biểu hiện cái đẹp của mình Và trong lịch sử điện ảnh Việt Nam phim cải biên đã tạo nên sự gắn kết giữa hai lĩnh vực nghệ thuật này

Một khi mà nhu cầu xem phim của khán giả ngày càng gia tăng thì khán giả càng muốn tìm hiểu, khám phá những cái hay cái đẹp trong những tác phẩm điện ảnh mà họ được xem Và chính lúc này, văn học trở thành trợ thủ đắc lực giúp phim ảnh có thể tiếp tục lôi kéo khán giả đến rạp bằng nguồn tư liệu dồi dào sẵn có của mình Đôi khi, việc khán giả yêu thích một tác phẩm văn học nào đó có thể được nhà làm phim tận dụng, vì đây một phần của sự hứng thú của khán giả khi xem phim, nghĩa là họ được thấy ngôn từ chuyển thành hình ảnh, tất nhiên sẽ trùng khớp với những tiềm năng tài chính ngày càng tăng mà màn bạc có được với tư cách là một loại hình giải trí đại chúng đang lớn mạnh [54, tr.26-27]

Điện ảnh thường vay mượn rất nhiều từ truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch và tất

cả những thể loại hướng tới việc kể chuyện Câu chuyện là điều mà văn học và điện ảnh cùng chia sẻ, bởi vì chúng cung cấp những nguyên liệu cơ bản từ thực tế hoặc

hư cấu, về những sự kiện, đời sống, nhân vật, và những hành động của chúng Điện ảnh và văn học cũng chia sẻ qua cấu trúc tự sự những câu chuyện thông qua cốt truyện, nghĩa là trình bày những sự kiện theo một trật tự nhất địnhvà qua tự sự, nghĩa là việc tạo dựng và thêm màu sắc cho cốt truyện với một điểm nhìn nhất định

Nhìn chung, “Điện ảnh là loại hình nghệ thuật tổng hợp thể hiện bằng hình ảnh động, kết hợp với âm thanh, được ghi trên vật liệu phim nhựa, băng từ, đĩa từ và các vật liệu ghi hình khác để phổ biến đến công chúng thông qua các phương tiện kĩ thuật.Tác phẩm điện ảnh là sản phẩm nghệ thuật được biểu hiện bằng hình ảnh động kết hợp với âm thanh và các phương tiện khác theo nguyên tắc của ngôn ngữ điện ảnh” [Điều 4 Luật điện ảnh]

Tuy tồn tại dưới hai hình thức khác biệt, nhưng giữa văn học và điện ảnh vẫn

có những sợi dây gắn kết tạo nên những điểm tương đồng Trước tiên, chúng tôi

Trang 16

nhận ra rằng cả hai loại hình nghệ thuật này đều cần có cảm hứng sáng tạo Sáng tạo trong nghệ thuật chính là một trong những nhân tố quyết định sống còn của các tác phẩm văn học và điện ảnh Không một tác phẩm nào có thể đi theo những khuôn khổ sáo mòn và lặp lại những gì người khác đã làm mà có thể tồn tại được trong thế giới nghệ thuật Bởi sự bắt chước là có thể chấp nhận được, nhưng sự lặp lại hoàn toàn thì chẳng mang một chút ý tưởng sáng tạo nào sẽ nhanh chóng bị đào thải Có thể cùng một chủ đề viết về tuổi trẻ, nhưng những tác phẩm đoạt giải văn học tuổi

20 lại có những cảm hứng sáng tạo khác nhau Trương Anh Quốc lựa chọn viết về người trẻ trên biển khơi; Nguyễn Thị Mạnh Hà chọn viết về tuổi trẻ của bản thân, những ngày tháng sinh viên và những trắc trở của người mới bước ra ngoài xã hội; Thiên Di lại lựa chọn viết về những giao diện, hay những bản chất, nét tính cách phức tạp của người trẻ khi mới chập chững bước vào đời…

Cả văn học lẫn điện ảnh đều lựa chọn cho riêng mình những phương pháp, thủ pháp sáng tạo để tạo nên chỉnh thể nghệ thuật riêng Đó là cách mà nhà văn, đạo diễn tạo ra những nhân vật của mình, cách họ kể lại những câu chuyện, cách lựa chọn đề tài chủ đề, Chính cảm hứng sáng tạo nghệ thuật tạo sợi dây liên kết giữa nhà văn và đạo diễn Họ dễ tìm thấy sự tương đồng trong cảm xúc, nhà văn tìm thấy thế giới của những câu chuyện thông qua những ngôn ngữ tạo hình Còn đạo diễn cũng cùng câu chuyện ấy sẽ cảm nhận theo những ý tưởng và các đọc hình ảnh thông qua ngôn từ

Văn học mang chức năng thẩm mĩ, giao tiếp, nhận thức, giải trí, giáo dục ,

và điện ảnh cũng tương tự như vậy Cùng là những loại hình nghệ thuật vì thế tính thẩm mỹ chính là yếu tố đầu tiên mà cả văn học lẫn điện ảnh đều cần phải có Một tác phẩm văn học, một bộ phim khi ra mắt đều phải có sự tương tác với người đọc, người xem và đây cũng là nhân tố quyết định sự tồn tại của một tác phẩm Vì không đơn thuần chỉ là kể chuyện nên cả văn học lẫn điện ảnh đều có những chức năng về nhận thức và chúng ta cũng cần xem xét chức năng giải trí của cả hai loại hình này

Để tạo nên một chỉnh thể thì trong quá trình xây dựng tác phẩm của mình cả nhà văn và đạo diễn đều áp dụng những biện pháp nghệ thuật khác nhau Đó là

Trang 17

những cấu trúc tự sự, các phép tu từ như so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, tượng trưng… Việc này làm cho tác phẩm trở nên sinh động và giàu hình ảnh hơn

Dù có những điểm giống nhau, tuy nhiên xét cho cùng thì văn học và điện ảnh vẫn là hai loại hình nghệ thuật khác nhau nên vốn dĩ sẽ có những điểm khác nhau cơ bản Thứ nhất, đó là về chất liệu sáng tác Với văn học thì ngôn từ chính là chất liệu không thể thiếu trong quá trình sáng tạo của nhà văn Ngôn từ chính là yếu

tố phi vật thể mang những đặc trưng riêng của ngôn ngữ Mà ngôn ngữ lại là tổng thể các đơn vị, phương tiện, cách kết hợp các yếu tố như ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng…nên rất phong phú và biến đổi đa dạng Ngôn từ trong văn học chính là những ngôn từ giàu tính hình tượng, biểu cảm và đa nghĩa Chính vì thế mà khi đọc một tác phẩm sẽ có những cách hiểu khác nhau Ngôn từ dùng trong sáng tác nhiều lúc cũng rất gần gũi với ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày Tuy nhiên khi đã được dùng trong sáng tác thì ngôn từ lúc này cũng mang một chức năng thẩm mĩ nhất định

Chất liệu sáng tác của điện ảnh phong phú hơn, bởi đây là nghệ thuật tổng hợp các yếu tố như: hình ảnh, âm thanh, ánh sáng, diễn viên, bối cảnh, kĩ thuật… Tuy nhiên hình ảnh vẫn giữ vai trò trung tâm và quan trọng nhất trong các yếu tố

Để có một bộ phim hoàn chỉnh phải có sự góp sức của các yếu tố trên Chính nhờ sự sinh động trong từng thước phim mà điện ảnh như dễ dàng đến với công chúng hơn Người xem dễ dàng hòa mình vào trong bối cảnh của phim hơn, những cảnh núi non hùng vĩ, hay sa mạc bão táp đều được hiện ra trước mắt Kịch bản phim càng gần yếu tố hiện thực cuộc sống bao nhiêu thì việc khắc họa những điều đó lên màn ảnh

sẽ càng đơn giản và chân thực hơn bấy nhiêu

Ngôn ngữ điện ảnh giúp công chúng dễ tiếp nhận hơn ngôn ngữ văn học Vì nếu một người không biết chữ thì sẽ không thể nào đọc được tác phẩm văn học, thế nhưng họ lại có thể xem phim Đối với các tác phẩm điện ảnh cải biên từ văn học thì đạo diễn phải là người đọc tác phẩm văn học trước và cố gắng tái hiện những gì mình cảm thấy thú vị hoặc tranh luận thông qua ngôn ngữ điện ảnh để truyền đến người xem Điện ảnh cũng là cách đạo diễn gián tiếp thể hiện tư tưởng của mình và

Trang 18

đang góp một tay bóc tách lớp ngôn từ của văn chương để người tiếp nhận có thể thuận lợi hơn khi tiếp cận nội dung ấy

Chủ thể sáng tạo của tác phẩm văn học chính là nhà văn còn chủ thể sáng tạo của tác phẩm điện ảnh lại chính là một tổ hợp nhà sản xuất bao gồm nhiều khâu khác nhau Tập thể sáng tạo đó bao gồm có: biên kịch, đạo diễn, diễn viên, quay phim, họa sĩ, nhạc sĩ…, mà trong đó đạo diễn là người có vai trò chính chi phối các yếu tố còn lại

Quy trình sáng tác một tác phẩm văn học có thể hình dung sơ lược là nhà văn dùng chất liệu ngôn từ thông qua ngòi bút viết những nội dung ấy lên trang giấy Và công việc cứ như thế tiếp diễn cho đến khi tác phẩm hoàn thành Việc sáng tác có thể diễn ra trong một thời ngắn như làm một bài thơ hay viết một truyện ngắn nhưng cũng có những tác phẩm phải hơn chục năm mới trở thành một chỉnh thể hoàn chỉnh được Vì thế hoạt động sáng tác của các nhà văn không ai giống với ai Tùy kinh nghiệm sống và thủ pháp sáng tác riêng mà quá trình sáng tác có thể liên tục một mạch hoặc đứt quãng mới có thể cho ra đời một tác phẩm văn học

Không giống với quá trình sáng tác của nhà văn, quá trình sáng tác ra một tác phẩm điện ảnh chính là sự kết hợp của nghệ thuật, kĩ thuật và kinh tế Trong tập thể sáng tạo bộ phim thì nhà biên kịch chính là người có những phẩm chất gần với nhà văn nhất Nhà biên kịch chính là người viết nên kịch bản cho bộ phim, quá trình viết

đó cũng khá giống với công việc của nhà văn Công việc của nhà biên kịch được xem là bước đầu tiên trong quá trình cho ra đời một sản phẩm điện ảnh Sau khi đã chọn được kịch bản phù hợp, đạo diễn sẽ là người chuyển kịch bản trên trang giấy thành hình ảnh Đôi khi đạo diễn và biên kịch là một người Đạo diễn sẽ là người chịu trách nhiệm chính và chi phối công việc làm phim Bằng sự đồng thuận về nội dung của kịch bản kết hợp với sức thẩm thấu tác phẩm văn học, đạo diễn là người chuyển tải ý tưởng thể hiện trên kịch bản thành phim Mối quan hệ giữa nhà biên kịch và đạo diễn gắn kết mật thiết với nhau, nếu cả hai có sự tương thông tốt thì nội dung của bộ phim sẽ làm sáng rõ ý tưởng của biên kịch hơn

Trang 19

Quay phim cũng chính là một trong những nhân tố quan trọng trong quá trình sáng tạo của tập thể đoàn làm phim Bởi đây là kết tinh của quá trình lao động miệt mài, ghi lại tất cả những hình ảnh, nội dung của toàn bộ phim Người quay phim cũng phải có sự cảm thụ nhất định về nội dung bộ phim mới có thể kết hợp với đạo diễn chọn được những góc quay làm cho tác phẩm điện ảnh càng tăng thêm giá trị nghệ thuật

Diễn viên là nhân tố chính tạo dựng nên những hình tượng nhân vật và truyền tải nội dung của bộ phim Diễn viên thực chất là người hóa thân vào những nhân vật

do nhà biên kịch tạo ra Trong quá trình quay phim, diễn viên sẽ thể hiện như mình chính là nhân vật trong câu chuyện, họ diễn xuất dưới sự chỉ đạo của đạo diễn và sáng tạo trong sự hóa thân hoặc hiện thân nhân vật mà họ đóng vai Thành công của một bộ phim trông cậy rất lớn vào diễn xuất của người diễn viên Vì vậy, khi chọn người hóa thân cho các nhân vật trong kịch bản, đạo diễn phải hết sức cẩn thận và cân nhắc chọn lựa những người thật sự hợp với nhân vật trong phim Chọn người có thể lột tả được hết những nét đặc điểm tính cách và cả thế giới nội tâm của nhân vật

Trong phim điện ảnh, bối cảnh của phim rất quan trọng, nhiều khi đạo diễn phải mất rất nhiều thời gian mới có thể chọn được khung cảnh phù hợp Và cả việc tạo hình chung cho các diễn viên lẫn bộ phim, cũng cần được thực hiện một cách nghiêm túc Những người họa sĩ, sẽ phụ trách công việc này cho cả đoàn phim Lúc này người họa sĩ sẽ đóng vai trò là người thiết kế chính, nên cần có sự am hiểu về văn hóa và sự cảm nhận tinh tế về nghệ thuật để có những tạo hình phù hợp cho bộ phim

Ngoài những nhân tố kể trên, để ra đời một tác phẩm điện ảnh còn cần có sự phối hợp nhiều nhân tố khác nữa như: nhạc sĩ chọn nhạc và sáng tác ca khúc chủ đề cho phim; các chuyên viên về kĩ thuật như âm thanh, ánh sáng, xử lí hình ảnh, kĩ xảo… Tất cả mọi người cùng lao động miệt mài để cho ra sản phẩm cuối cùng là một bộ phim hoàn chỉnh Và trong suốt quá trình sản xuất phim cũng không thể thiếu đi nhà đầu tư, người chịu trách nhiệm chính về kinh tế cho việc sản xuất phim

Trang 20

Văn học có khả năng miêu tả đối tượng một cách tự do, tinh tế và thỏa sức sáng tạo của nhà văn trên từng câu từ Đọc một tác phẩm văn học sẽ thúc đẩy tư duy cảm thụ và trí tưởng tượng Mỗi người đọc sẽ tự hình dung ra cho mình một thế giới khác biệt, dù thế giới đó không có thực ở trong đời sống Ngược lại, điện ảnh phản ánh đối tượng một cách trực tiếp bằng những hình ảnh sinh động và trực quan Người xem có thể trực tiếp nhìn thấy thế giới trong câu chuyện chứ không cần phải thông qua trí tưởng tượng của mình Điện ảnh cũng có thể tái hiện những không gian trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai theo những gì mà nhà biên kịch đã viết

ra

Tuy nhiên, trong lịch sử có không ít những phán xét tác phẩm điện ảnh dựa trên tác phẩm văn học, chưa thấy được tính độc lập của điện ảnh trong dòng chảy nghệ thuật Vì thế việc nhìn nhận một tác phẩm cải biên trên quan điểm khách quan

để thấy được giá trị điện ảnh cũng như những tác động của tác phẩm văn học được cải biên đối với bộ phim là một việc làm thiết thực Việc tìm hiểu về lí thuyết và các

bộ phim cải biên là một việc làm hết sức cần thiết trong bối cảnh sự phát triển của phim cải biên hiện nay

Theo định nghĩa của từ điển Oxford: cải biên là làm (cái gì đó) phù hợp với việc sử dụng hoặc mục đích mới, hay nói cách khác hơn, đó là biến đổi, thay đổi [The Oxford English Dictionary (2014), Oxford University Press, UK] Như vậy, cải biên luôn mang một giá trị hoặc mục đích nhất định vì thế không phải ngẫu nhiên

mà một chi tiết, một nội dung được cải biên mà đó còn có khả năng chính là cách lí giải vấn đề của người tiếp nhận Thuật ngữ cải biên thoạt đầu nghe có vẻ mới nhưng thực ra các hình thức của cải biên học đã được áp dụng từ rất lâu Mỗi một từ ngữ đều mang ý nghĩa nhất định của nó, nhưng cũng không ít trường hợp ý nghĩa đó bị biến đổi tùy theo hoàn cảnh, lúc đó cũng có thể xem là nghĩa của từ đó đã bị cải biên Tuy nhiên ở Việt Nam, mọi người vẫn có quen dùng từ “chuyển thể” thay vì

sử dụng thuật ngữ “cải biên” khi nhắc đến việc đưa văn học vào các loại hình nghệ thuật khác (mà phổ biến nhất vẫn là điện ảnh và sân khấu) Khi được giải nghĩa cụ thể thuật ngữ “chuyển thể”, chúng ta sẽ thấy nó dẫn đến sự mặc định tai hại, đó là tác phẩm chỉ chuyển dịch từ thể loại này sang thể loại khác Và dĩ nhiên nội dung

Trang 21

vẫn không thay đổi so với tác phẩm gốc Mặc dù vậy trong thực tế, bất kỳ bộ phim nào dựa trên tác phẩm gốc đều có sự thay đổi, thể hiện cách đọc, cách cảm nhận của nhà làm phim bằng ngôn ngữ mới cụ thể là ngôn ngữ điện ảnh Sự thay đổi ấy có khi chỉ chút ít hoặc khác xa hoàn toàn tác phẩm gốc Chẳng hạn trong bộ phim Cô gái đến từ hôm qua, bối cảnh trong phim không phải là năm 1988 như trong truyện

Nguyễn Nhật Ánh mà là năm 1997(Làn sóng xanh) - thời của tác giả bộ phim đang còn ngồi trên ghế nhà trường Ngoài ra trong bộ phim còn xuất hiện những cảnh quay kỹ xảo như lớp học bỗng biến thành khu vườn thần tiên, Thư hóa thành con

chim bay vút đi tìm Việt An, chương trình Làn sóng xanh hay cuốn sổ bí mật… là

sáng tạo riêng của đạo diễn để thể hiện sự mơ mộng của thế hệ đạo diễn Phan Gia Nhật Linh Từ bối cảnh khác biệt so với bối cảnh gốc, tác phẩm điện ảnh cải biên có thể ít nhiều mang đến những ý nghĩa, thông điệp khác mà tác phẩm văn học gốc không đề cập đến Do đó, thuật ngữ “cải biên” sẽ bao hàm trong đó ý nghĩa về sự thay đổi, giúp nhà làm phim hiểu đúng để tự do thể hiện sự sáng tạo của mình Qua

đó, giới phê bình và khán giả sẽ có cái nhìn công bằng với tác phẩm cải biên Họ sẽ không còn xem xét tính trung thành hay không trung thành của tác phẩm cải biên với bản gốc, xem xét phim dở hoặc hay hơn bản gốc mà hãy xem nó như một tác phẩm độc lập

Đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn một trong những người khá thành công trong việc làm phim cải biên từng nhận xét: “Điện ảnh là loại hình nghệ thuật độc lập, nên nếu người xem tìm hiểu tác phẩm điện ảnh cải biên trung thành như thế nào so với nguyên tác thì sẽ làm hỏng việc xem phim của họ Đối với nhà làm phim, tác phẩm văn học như là một chiếc bàn bày những món ăn ngon, những nhà làm phim sẽ lựa chọn những món ăn ấy tùy theo khẩu vị chứ không bắt buộc phải lựa chọn tất cả Do

đó, vấn đề cốt lõi từ tác phẩm văn học mà nhà làm phim đưa đến cho khán giả chính

là sự hứng khởi Để làm được điều này đòi hỏi người làm phim phải là độc giả tốt, nắm được câu chuyện, nắm được tình huống Vì vậy, nhà làm phim cải biên phải đóng cả hai vai: người đọc thật tốt và nhà làm phim thật tốt.” [30, tr.195]

Góc nhìn phê phán vốn đặt chung hay tách biệt riêng phim ảnh và văn chương với nhau không còn bị đóng khung trong việc liệu phim có phải là một ngôn

Trang 22

ngữ hay không, hay phim ảnh có thể phản ảnh tác giả tới đâu hoặc mô tả sự thật như thế nào Khi quan hệ của văn chương và màn bạc nổi lên như một chủ đề phê bình Nghiên cứu nghệ thuật trong việc viết kịch bản, viết truyện, nghệ thuật diễn xuất trên màn ảnh, hay những phương hướng mà độc giả, khán giả và công chúng tiếp nhận, trải nghiệm của mình trên từng trang giấy, màn ảnh với những góc nhìn phong phú đa dạng Đối với điểm nhìn của các nhà nghiên cứu phê bình và người làm nghệ thuật xét ở nhiều phương diện yếu tố cấu tạo thành Để cải biên một tác phẩm văn học sang tác phẩm điện ảnh, từ ngôn ngữ hình tượng sang ngôn ngữ hình ảnh, tác giả cải biên cũng phải cân nhắc lựa chọn tính toán thật kỹ, để sáng tạo nên một tác phẩm trọn vẹn vừa đạt được tính nghệ thuật cộng hưởng của hai tác giả, hài lòng đáp ứng nhu cầu thị hiếu của công chúng là điều không dễ dàng gì

Theo quan điểm của tác giả Đào Lê Na - Lý luận văn học nghệ thuật " Đạo diễn hoàn toàn có quyền bám sát tác phẩm gốc hoặc thay đổi Nhưng kể cả khi tôn trọng nguyên tác, tôi cho rằng các đạo diễn sau khi lấy được cái gì từ tác phẩm văn học thì nên cấu trúc lại và tái sáng tạo" [57]

Rõ ràng ta thấy rằng hiệu quả của hình ảnh khác với hiệu quả của văn học Tác giả văn học có thể miêu tả rất dài trên mấy trăm trang văn bản, nhưng một kịch bản phim thì chỉ khoảng hơn 100 trang Cho nên phải lựa chọn, tiết kiệm thời lượng

và nhấn vào đúng hình ảnh gây ấn tượng với người xem

Đạo diễn Phan Gia Nhật Linh trong buổi tọa đàm đối thoại với khán giả có phát biểu thêm: " Tất nhiên, ai làm phim cũng có áp lực vì mọi người thường hay so sánh xem phim làm ra có hay hơn đọc truyện hay không, có giống truyện hay không Với tôi, điều tệ hại nhất là cứ phải tìm cách làm hài lòng người khác Áp lực lớn nhất đối với tôi là thỏa mãn chính mình, tức là làm sao thể hiện được đúng những gì mình hình dung, làm thế nào để khán giả cùng thời thấy mình sống lại trên màn ảnh, còn khán giả trẻ cũng có thể cảm nhận được cái gì đó từ bộ phim” [57]

Có những đạo diễn xem văn học chỉ là chất xúc tác để làm nên tác phẩm điện ảnh, có thể dời điểm nhìn, dịch chuyển cho phù hợp Nhiều tác phẩm văn học khi lên phim, độc giả sẽ không còn nhận ra tác phẩm văn học đó nữa mà hoàn toàn khác

Trang 23

hẳn Thực tế, trong lịch sử điện ảnh, bất kỳ bộ phim nào được làm dựa trên văn bản nguồn là tác phẩm văn học cũng đều có sự thay đổi, thể hiện một cách đọc của nhà làm phim đối với văn bản văn chương

Cải biên tác phẩm văn học thành một bộ phim cũng chính là cách tiếp nhận tác phẩm văn học bằng một hình thức mới lạ và thú vị Cải biên học ra đời góp phần thúc đẩy các đạo diễn mạnh dạng hơn trong việc lí giải các tác phẩm văn học và chuyển nó thành những ngôn ngữ của điện ảnh Điều này đã hiện thực hóa những tưởng tượng của người đọc về nội dung của một tác phẩm văn học thành một thước phim cụ thể, có nhân vật, tình tiết được trông thấy rõ ràng

1.2 Các lý thuyết nền tảng của cải biên học

Trong lịch sử điện ảnh tồn tại hàng loạt các trường phái khác nhau đã đóng góp thêm sự phong phú vào kho tàng nghệ thuật thế giới Để nghiên cứu những bộ phim cải biên từ tác phẩm văn học cũng đã có nhiều ý kiến đề xuất xoay quanh và khó có thể thống nhất được Thực tế có thể thấy rằng khi những lí thuyết mới xuất hiện sẽ tác động không ít đến điện ảnh Vì thế có thể xem lí thuyết về cải biên học là một sự phức hợp của các lí thuyết Để lí giải được một bộ phim, những hiểu biết về văn hóa và ngôn ngữ chính là yếu tố không thể thiếu Bên cạnh đó, những tác động của phiên dịch học khi một bộ phim ra khỏi biên giới lãnh thổ của quốc gia cũng là một trong yếu tố không thể bỏ qua Khi những quan điểm hậu hiện đại xuất hiện đã tác động mạnh mẽ đến điện ảnh, những liên văn bản được phát hiện và xem đó chính là sợi dây xâu chuỗi các tình tiết của nội dung bộ phim, những kiến giải mới này đã góp phần mang đến một hướng tiếp cận mới cho người nghiên cứu

Đối với các tác phẩm điện ảnh cải biên từ một tác phẩm văn học, khán giả thường có những bình luận không chính xác Nhà nghiên cứu Vetuni từng nói:

“Phim cải biên theo như lệ thường đã được mô tả và đánh giá trên cơ sở sự tương xứng của nó với văn bản văn chương, theo đó, nó có xu hướng được đánh giá như là

sự giao tiếp không trung thành hoặc bị bóp méo ý đồ biểu hiện của tác giả” [20, tr.55] Lí thuyết liên văn bản đã cho phép khán giả, các nhà phê bình, nghiên cứu có cái nhìn khách quan hơn về những bộ phim cải biên Chúng ta không thể xem những

Trang 24

bộ phim cải biên từ tác phẩm văn học thuộc đời “F2”, có nghĩ là được sản sinh từ tác phẩm gốc Mà chúng ta nên tác phẩm điện ảnh cải biên và tác phẩm văn học nguồn độc lập với nhau, cùng “cộng sinh” với nhau Khi phân tích tác phẩm điện ảnh cải biên, người xem không nên phán xét tính trung thành hay không trung thành của bộ phim so với tác phẩm gốc, mà nên tập trung nghiên cứu mục đích, phương thức, những sáng tạo trong việc chuyển đổi ngôn ngữ nghệ thuật, đối thoại tư tưởng, đặc biệt là hiệu quả nghệ thuật của sự chuyển vị bên trong tác phẩm điện ảnh đối với người đọc, người xem trong bối cảnh xã hội đương đại

1.2.1 Lí thuyết liên văn bản

Giữa văn học và điện ảnh có một sợi dây kết nối, gắn kết những chi tiết, thủ pháp, ý nghĩa hình tượng văn học chuyển hóa thành những hình ảnh sống động Sự tương thông ấy cũng một phần chịu tác động của tính liên văn bản Liên văn bản chính là yếu tố góp phần ghép nối những sự so sánh, những hướng lí giải của người xem trước một bộ phim cải biên Người xem sẽ luôn gắn những suy nghĩ, liên tưởng các chi tiết trong phim có xuất hiện trong tác phẩm văn học không hoặc đã xuất hiện trong những bộ phim khác Mối liên kết này sẽ hỗ trợ tích cực cho việc tìm hiểu những bộ phim được cải biên từ tác phẩm văn học Vì thế, chúng tôi cho rằng liên văn bản là một lí thuyết có đóng góp quan trọng trong việc tìm hiểu về phim cải biên

Liên văn bản từ khi xuất hiện vẫn chưa có tên gọi xác định Mãi đến sau này, các nhà nghiên cứu mới định hiện tượng này Dưới sự tác động của chủ nghĩa hậu hiện đại, liên văn bản dần trở thành một cụm từ quen thuộc và được ứng dụng phổ biến trong sáng tác cũng như trong nghiên cứu văn học Có nhiều cách hiểu khác nhau về liên văn bản

Theo từ điển Oxford Dictionary Terms, liên văn bản là “thuật ngữ do Julia

Kristeva đặt ra để chỉ những mối quan hệ khác nhau có thể có của một văn bản cho trước với những văn bản khác Những quan hệ có tính chất liên văn bản này bao gồm sự nghịch đảo (anagram), sự ám chỉ (allusion), sự phỏng thuật (adaptation), sự

Trang 25

dịch thuật (translation), sự biếm phỏng (parody), sự cắt dán (pastiche), sự mô phỏng (imitation) và những kiểu biến đổi khác”

Liên văn bản (intertextuality) là một phát hiện quan trọng trong tư duy văn học của chủ nghĩa giải cấu trúc thế kỉ XX Trong xu hướng giải cấu trúc những sự cấu trúc, sắp đặt ý nghĩa trước đây dường như bị phá vỡ, những mạch liên kết tưởng chừng khá vững chắc nhưng cũng trở nên rời rạc Và liên văn bản xuất hiện như một cứu cánh để có thể lí giải mọi văn bản đều có mối liên hệ gắn kết với những văn bản khác Đó chính là cách mà các nhà nghiên cứu cả Âu Mỹ lẫn Châu Á đã tìm thấy ở thủ pháp này Trong các tác phẩm văn học, nhất là vào thời văn học Trung đại, chúng ta thấy rất rõ hiện tượng liên văn bản xuất hiện trong các bài thơ, đặc biệt là thơ ca đời nhà Đường - Trung Quốc Việc các tác giả xưa sử dụng hình thức liên văn bản cũng giống như một thi pháp sáng tác văn học của thời đại đó Còn ở phương Tây, những tác phẩm thời kì cổ điển, những vở kịch, những truyện ngắn lấy chất liệu tích góp từ những câu chuyện thần thoại, những câu chuyện truyền miệng trong dân gian… Mọi sự vật hiện tượng trên thế giới luôn có tác động qua lại lẫn nhau, mâu thuẫn loại trừ nhau nhưng cũng đồng thời thúc đẩy sự phát triển lẫn nhau Trong văn học nghệ thuật cũng vậy, việc sử dụng liên văn bản cũng có thể được xem là sự tiếp nối, kế thừa và tiếp tục sáng tạo ra các giá trị tinh thần

“Thuật ngữ liên văn bản đã lần đầu tiên được đề cập trong công trình Từ, đối thoại và tiểu thuyết (1967) của Julia Kristeva Tại đây, J Kristeva đã đi vào phân

tích tư tưởng của nhà nghiên cứu Mikhail Bakhtin, người vận dụng và phát triển một cách mới mẻ lí thuyết ngôn ngữ của Ferdinand de Saussure trong việc tìm hiểu văn học Theo đó, cùng với sự phát hiện bản chất đối thoại của ngôn ngữ, Bakhtin đã đề xuất nên một hướng nhìn nhận phổ quát về việc thực hành ngôn từ, cụ thể là cả trong văn học J Kristeva ghi nhận điều này, đi vào xem xét nó và định danh nên một bản chất của văn bản, vốn là kết quả của hành động tư duy ngôn ngữ, đó là tính liên văn bản” [68]

Mỗi một khái niệm, một ý tưởng khi nảy sinh ra thì âu cũng là sự kết hợp của những khái niệm phạm trù khác, sự kết nối liên hợp đó thúc đẩy sản sinh ra một khái niệm mới Liên văn bản trở thành một người bạn đồng hành với các tác giả trong

Trang 26

quá trình sáng tác, tạo ra động lực thúc đẩy những tư duy phức hợp và từ đó góp phần lí giải những cấu trúc, những vấn đề chồng chéo tồn tại trong các mạch liên kết Theo R Barthes, văn bản không phải đơn thuần là một tổ hợp ngôn ngữ cố định

mà văn bản chính là một không gian đa chiều chứa đựng vô số các văn bản kết tinh

từ vô số các hiểu biết, kiến thức, niềm tin, những nền văn hóa khác nhau Chính vì cách hiểu này nên khi đọc một văn bản chúng ta không nên đóng khung văn bản ấy lại mà cần có sự liên hệ với những văn bản khác Tuy nhiên cũng không nên sa đà vào việc tin rằng sẽ tìm được trong văn bản này những gì từ văn bản khác mang đến

“Liên văn bản là một trong những khái niệm có nội hàm và ngoại diên linh hoạt nhất trong hệ thống lí thuyết văn học, và việc xác lập yếu tính của nó tùy thuộc vào phương diện nghiên cứu mong muốn và lập trường triết học của người tiếp cận Liên văn bản như một hình ảnh thế giới và như một yếu tính của văn bản văn học và như một phương pháp sáng tạo” [31, tr.13]

Liên văn bản giúp chúng ta phát hiện được những hiện tượng có liên quan, tương tác với nhau trên những lĩnh vực tương đồng Các tác giả dù vô tình hay cố ý cũng đã để lại những chi tiết, yếu tố liên văn bản Vì mọi văn bản đều có mối liên kết với nhau Trong văn học, liên văn bản thường gặp ở những câu chuyện có chất liệu từ văn học dân gian, hay những bài thơ được lấy cảm hứng từ một câu chuyện sẵn có, một tác giả đọc và cảm sâu sắc một tác phẩm rồi sáng tạo lại dưới ngòi bút của mình Như trường hợp của Nguyễn Du với Truyện Kiều, hay Moliere với Lão

hà tiện,… Khi tiến hành khảo sát chúng ta sẽ thấy có rất nhiều hình thức thực hành

kĩ thuật liên văn bản, hình thức thường bắt gặp nhất đó là mô phỏng, tiếp đến có thể

kể đến một số hình thức khác như: phóng tác, chuyển thể, dịch thuật, điển tích điển

cố, cắt dán, ám chỉ, nghịch đảo,… Dù dưới bất kì hình thức sáng tác nào thì việc áp dụng kĩ thuật liên văn bản vẫn xuất hiện trong các sáng tác một cách vô tình hay cố

ý và đóng góp tích cực vào việc thể hiện nội dung mà tác giả muốn truyền tải

Thuật ngữ liên văn bản còn có thể hiểu dưới hàm ý là sự dịch chuyển những

ý nghĩa của sự vật hiện tượng này thành một ý nghĩa mới Bởi vì, khi một tác phẩm văn học hoàn thành lúc ấy vai trò tác động của tác giả đã không còn, sinh thể nghệ thuật sẽ tự thân vận động Liên văn bản sẽ góp phần tìm hiểu, lí giải chỉnh thể nghệ

Trang 27

thuật ấy Nhưng cũng không phải vì vậy mà chúng ta cố gắng truy tìm nguồn gốc của một văn bản có trước đã tác động lên một tác phẩm văn học Cách hiểu, phát hiện được yếu tố liên văn bản cũng một phần chịu ảnh hưởng từ người đọc Bởi vì khi người đọc có một trình độ nhận thức nhất định, có sự tinh tế để phát hiện những hiện tượng liên văn bản thì từ đó mới hình thành những quá trình lí giải các liên văn bản

Trong cải biên học, liên văn bản có thể được hiểu đơn giản chính là sự kết nối lí giải những hiện tượng, chi tiết trong văn học thành những hình ảnh biểu tượng

để thể hiện lên hình ảnh Hay đó là những sự liên hệ giữa các chi tiết, tình tiết trong phim với những thước phim khác hoặc một nội dung tư tưởng nào khác

1.2.2 Lí thuyết văn hóa học

Trần Ngọc Thêm định nghĩa về văn hóa như sau: “Theo nghĩa hẹp, văn hoá được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian… Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn hoá nghệ thuật…) Giới hạn theo chiều rộng, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh…) Giới hạn theo không gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hoá Tây Nguyên, văn hoá Nam Bộ…) Giới hạn theo thời gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đông Sơn…)” [77]

Theo lí giải của Trần Ngọc Thêm thì văn hóa tinh hoa có sự tương đồng gần nhất với nghệ thuật văn chương, vì thế để hiểu được một tác phẩm văn chương hay bất kì một tác phẩm nghệ thuật nào, sự am hiểu về văn hóa là đặc biệt cần thiết và quan trọng Lí thuyết về văn hóa học đặt các vấn đề về văn hóa làm đối tượng trung tâm Và khi áp dụng lí thuyết này tiếp cận một vấn đề về văn hóa chúng ta nên hiểu

về mặt bản chất của hiện tượng chứ không phải chỉ mô tả ở bên ngoài Hiểu được bản chất của các hiện tượng văn hóa sẽ góp phần tạo những lí giải có chiều sâu hơn các hiện tượng văn học nghệ thuật ở trên những vùng văn hóa lãnh thổ nào đó

Trang 28

Điều quan trọng không kém đó là văn hóa luôn gắn với một quốc gia cố định nên nhất định sẽ bị chi phối bởi nền chính trị của nước đó Những nhà cầm quyền sẽ xây dựng nên một hệ thống những chuẩn mực văn hóa và quản lí nó theo những cách riêng của mình Các quy định về văn hóa được xây dựng đều có mục đích rõ ràng nhằm tô đậm tính dân tộc và màu sắc của đất nước đó, nhằm tạo một dấu ấn khác biệt trên trường quốc tế Tuy nhiên, những định nghĩa chung về văn hóa có thể được xem là những diễn ngôn mà người đời sau đã lập nên để lí thuyết hóa một đặc điểm của phong tục, đời sống tinh thần của dân tộc ấy

Yếu tố diễn ngôn trong văn hóa chính là đặc điểm mà các nhà làm phim tựa vào để dựng nên những thước phim nhằm thể hiện điều mà đạo diễn muốn truyền tải Yếu tố văn hóa trong cải biên học là một quy trình biến đổi những ảnh hưởng của văn hóa trong tác phẩm văn học vào trong tác phẩm phim cải biên Vì từ đọc hiểu chuyển sang nghe nhìn là cả một quá trình biến đổi chuyển hóa đầy công phu của đạo diễn Nhờ những nghiên cứu về văn hóa chúng ta có thể phần nào trả lời cho câu hỏi tại sao đạo diễn lại chọn chi tiết này, bỏ chi tiết kia trong tác phẩm văn học Vì có thể trong văn học đó được xem là bình thường nhưng nếu dựng thành hình ảnh thì những chi tiết đó có thể không phù hợp với văn hóa hoặc không phục

vụ tối đa cho hiệu quả nghệ thuật

Một bộ phim ra đời cũng là một sản phẩm văn hóa cũng được ra đời Thế nên việc nghiên cứu lí giải bộ phim cũng đi kèm với việc tìm hiểu những nét văn hóa xuất hiện trong phim Nghiên cứu một bộ phim theo các lí thuyết về văn hóa học thì người nghiên cứu cũng cần chú ý đến các yếu tố ngoại biên xung quanh bộ phim như: bối cảnh chính của phim, địa điểm ra đời bộ phim, nhà làm phim là ai, đạo diễn của phim có phong cách làm phim cố định nào không, đề tài của phim là gì… Những yếu tố này chính là những nhân tố tác động không nhỏ đến bộ phim và những nét văn hóa trong phim

Những diễn ngôn của đạo diễn khi tạo nên một bộ phim cũng giống như cách các nhà văn hóa học khái quát một khái niệm, một hiện tượng nào đó thành một nền văn hóa Chính vì thế mà có những bộ phim dù được lấy nội dung cốt truyện từ các tác phẩm văn học nước ngoài nhưng lại được các nhà đạo diễn trong nước dựng lên

Trang 29

mang đậm màu sắc quốc gia của nước sở tại Như trường hợp bộ phim “Loạn” của đạo diễn Kurosawa Akira, ông đã vận dụng những chi tiết trong tác phẩm kịch của Shakespeare Với khả năng cảm thụ và bằng những diễn ngôn của mình ông đã mang những yếu tố của văn hóa Châu Âu trong tác phẩm Shakespeare đặt vào trong bối cảnh văn hóa truyền thống Nhật Bản tạo nên một màu sắc riêng biệt cho bộ phim

Nghiên cứu một tác phẩm cải biên cần xem xét tổng hợp các yếu tố văn hóa trong những hoàn cảnh xã hội cụ thể Hay nói cách khác chúng ta không nên hiểu một chiều là nghiên cứu văn hóa trong phim chính là tìm hiểu những nét văn hóa xuất hiện trong bộ phim Mà ở đây, văn hóa cũng chính là cách lí giải của đạo diễn

về nội dung của một bộ phim cải biên

1.2.3 Lý thuyết tiếp nhận

Lí thuyết tiếp nhận thường được sử dụng trong nghiên cứu cải biên

“Reception” trong tiếng Anh có nghĩa là “tiếp nhận” trong tiếng Việt Theo Oxford Reference, lí thuyết tiếp nhận là “một phần của lí luận văn học hiện đại đề cập đến vấn đề tiếp nhận của độc giả trước những tác phẩm văn học” (A branch of modern literary studies concerned with the ways in which literary works are received by readers) [61]

“Lý thuyết” là kiến thức về lí luận mà nói cụ thể ra là một công trình xây dựng có hệ thống trí tuệ, có tính chất giả thuyết và tổng hợp, nhằm để giải thích một hiện tượng nào đó Khi chúng ta ghép hai từ ghép “lý thuyết” và “tiếp nhận” lại ta

có một từ học thuật hoàn chỉnh là lý thuyết tiếp nhận Vậy lí thuyết tiếp nhận là sự tiếp thu, đón nhận của một đối tượng đối với một ấn phẩm đã hoàn chỉnh để khám phá, giải thích một điều gì đó Có nhiều tác giả đã nghiên cứu và đưa ra định nghĩa

về lý thuyết tiếp nhận Theo Từ điển thuật ngữ văn học, tiếp nhận văn học được

định nghĩa là: “ hoạt động chiếm lĩnh (giành lấy quyền làm chủ) các giá trị tư tưởng, cũng như tính thẩm mỹ của tác phẩm văn học, mà bắt đầu từ sự cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tài nghệ của tác giả cho đến các sản phẩm sau khi

Trang 30

đọc như là: cách hiểu, ấn tượng trong trí nhớ, ảnh hưởng đến hoạt động sáng tạo, bản dịch, chuyển thể,…”[28, tr.325]

Từ đây, ta có thể hiểu lý thuyết tiếp nhận trong văn học, văn chương là sự tiếp thu của độc giả về một tác phẩm và nó nhấn vào vai trò hiểu và cảm nhận của

họ với tác phẩm đó và có một điều thú vị là đọc giả sẽ là người được chủ động sáng tạo song song một cách gián tiếp vào tác phẩm sau khi nó đã hoàn chỉnh được ra mắt bạn đọc và ở đây về mặt vai trò của tác giả đã được làm nhẹ lại.Vì vậy người ta nói văn học luôn luôn phát triển, luôn luôn tiến bước cùng thời đại, không dừng lại bao giờ bởi mỗi một tác phẩm khi đến với công chúng nó sẽ được đón nhận, lĩnh hội

và tiếp thu theo các cách khác nhau của họ theo từng thời đại mà nó được đón nhận

do trình độ, lứa tuổi, hoàn cảnh xã hội và cả thị hiếu mỗi giai đoạn sẽ khác nhau Đây là một cái hay, thú vị và sinh động đối với các tác phẩm nghệ thuật nó sẽ sống mãi với thời gian nếu nó là là một tác phẩm bất hủ, một tác tác với các giá trị thẩm

mĩ và giáo dục hay Qua đó, ta nhận định ra được một điều là vai trò của độc giả luôn chủ động, quan trọng không kém cạnh tác giả với những đặc quyền riêng của bản thân nó Việc trao cho đọc giả cái quyền góp ý, sáng tạo gián tiếp cùng tác giả

có những mặt tích cực như tôi đã trình bày ở trên song cũng có những mặt hạn chế

là nếu đọc giả hiểu qua loa chỉ cái bên ngoài của một tác phẩm thì sẽ dẫn đến tác phẩm dần mất đi những giá trị nhân văn, cái hay và cái đẹp của nó Vì vậy, bạn đọc phải thật sáng suốt, tỉnh táo và phải có trình độ đọc cũng như trình độ xem phim Phải có sự chắt lọc, tìm hiểu kĩ mang tính khách quan trước rồi hãy đến cái chủ quan

là cái cảm nhận, hiểu của bản thân chúng ta để có thể nắm gần như trọn vẹn cái chân, thiện, mĩ mà tác phẩm đề cập, nhắn gửi đến chúng ta Việc tìm hiểu kĩ và có cái nhìn sâu sắc là một sự tôn trọng không gì bằng đối với tác giả và các giá trị của một tác phẩm mà qua đó nó sẽ nâng cao trình độ đọc và các phép lịch sự tối thiểu nhất với tác phẩm, tác giả và bản thân độc giả

Còn theo tác giả Huỳnh Như Phương thì cho rằng: “việc tiếp nhận văn học diễn ra cả trên hai bình diện quan trọng là bình diện cá nhân lẫn bình diện lịch sử Xét trên bình diện cá nhân thì sẽ tùy vào độ tuổi vào vốn hiểu biết và kinh nghiệm, mỗi một độc giả sẽ có các cách nhìn cũng như cách hiểu khác nhau cho cùng một

Trang 31

tác phẩm Xét trên bình diện lịch sử thì chính hoàn cảnh xã hội, văn hóa, chính trị sẽ chi phối cách tiếp nhận một văn bản Điều này không chỉ đúng riêng với tác phẩm văn học mà còn đúng với các loại hình nghệ thuật khác và cũng sẽ liên quan rất nhiều đến đề tài của chúng tôi khi khai thác về vấn đề bối cảnh xã hội và lịch sử đã ảnh hưởng thế nào đến cách dàn dựng của một tác phẩm khi được cải biên, biên tập” [38, tr.192-193]

Qua những lí giải và dẫn chứng tôi nêu ở trên, ta thấy lí thuyết tiếp nhận đề cao vai trò của đọc giả song song như một tác giả thứ hai của tác phẩm Cũng từ đó,

ta lại có thêm một khái niệm được xuất hiện “Chân trời chờ đợi” vào năm 1940 của nhà triết học người Đức Karl Manheim Khái niệm này sau đó được Hans Robert Jauss vận dụng trong nghiên cứu văn học của ông Theo tôi, có thể hiểu đơn giản chân trời chờ đợi là những gì dựa vào những sở thích cũng như sự quan tâm của đọc giả dành cho một điều gì đó mà họ mong muốn ở các tác phẩm văn học Và cái chân trời này nó cũng có ở tác phẩm khi tác giả viết nên tác phẩm Đây có thể được hiểu

là mối quan hệ hai chiều giữa chân trời chờ đợi của tác phẩm mà tác giả khi viết ra mong muốn, kì vọng ở đứa con tinh thần và cũng là chân trời chờ đợi của người đọc

tò mò, phấn khởi để đón nhận cái hay, cái đẹp ở tác phẩm đó Vậy là giữa đọc giả và tác giả của tác phẩm ở cả hai phía đều có những mong muốn riêng cho một tác phẩm mà họ sắp được chiêm ngưỡng, thưởng thức ở các vấn đề sau: Người viết sẽ chịu ảnh hưởng một phần bởi cái gu, thị hiếu của khán giả trong từng thời kì mà họ mong muốn, yêu thích, vì vậy tác giả dù muốn dù không hoặc một bộ phận họ sẽ chiều lòng đọc giả của mình mà sáng tác để thu hút cái chân trời mà độc giả mong muốn Còn người đọc sẽ trong chờ một tác phẩm mà anh ta mong muốn được nhìn thấy, được trải nghiệm để thỏa mãn cái hiếu kì, cái yêu thích của anh ta cũng vì vậy

mà khi một tác giả không chiều chuộng họ thì tác phẩm ấy cũng không nhận được

sự đón nhận nồng nhiệt, thích thú của đông đảo công chúng Vì vậy, tôi xin kết luận

về mối quan hệ trên là hai chiều giữa đọc giả và tác giả

Cuối cùng, tôi cũng dành một sự quan tâm đặc biệt với khái niệm “trò chơi ngôn ngữ” Sở dĩ, tôi đề cập đến vấn đề này vì đây là một việc tranh chấp khá lâu dài giữa một tác phẩm văn học được cải biên phải giống hay được quyền sáng tạo

Trang 32

riêng cho nó một sức sống mới vẫn là vấn đề tranh cãi hằng bao lâu nay Trong triết học ngôn ngữ hậu kì của Wittgenstein mà theo Jauss thì chân trời chờ đợi chính là trò chơi ngôn ngữ (51, tr.142) Vậy trò chơi ngôn ngữ là gì? Tôi xin phép được giải thích trong sự hiểu biết hạn hẹp của bản thân “Trò chơi” là một danh từ chỉ một hoạt động bày ra để vui chơi, giải trí Còn “ngôn ngữ” cũng là một danh từ chỉ một

hệ thống những âm, những từ và những quy tắc kết hợp chúng, làm phương tiện để giao tiếp, diễn đạt, thông báo chung trong một cộng đồng Vậy ghép các từ này lại thì nó được một nghĩa hoàn chỉnh là một hoạt động được bày ra, làm ra để nhằm giải trí, thu hút chúng ta qua phương tiện bằng cách diễn đạt cho mọi người được hiểu về nó Mà cụ thể ở đây là sự biểu đạt của ngôn ngữ đến các đọc giả được hiểu

về những gì mà tác giả mong muốn nhắn gửi đến bạn đọc Đã là một “trò chơi”, tức

là sẽ có luật lệ của riêng nó Và trò chơi ngôn ngữ cũng không ngoại lệ “Theo Wittgenstein, nó được tạo lập và chi phối bởi những „quy tắc‟ tồn tại trong các ngữ cảnh đời sống sinh ra nó” [51, tr.142] Những quy tắc này lại luôn thay đổi theo thời gian Vì vậy ở mỗi trò chơi sẽ có những quy tắc khác nhau, ta không thể đem so sánh một tác phẩm văn chương với một tác phim ảnh Đây có thể là một sự so sánh khập khiễng, không phù hợp vì vốn dĩ văn học và điện ảnh đã là hai lĩnh vực phạm trù khác nhau rất lớn

1.3 Phim cải biên trong lịch sử điện ảnh

1.3.1 Phim cải biên trong lịch sử điện ảnh thế giới

Trong suốt lịch sử phát triển của ngành điện ảnh, đã có không ít những bộ phim được cải biên từ tác phẩm văn học và có được những thành công vang dội Tuy nhiên không phải vì vậy mà không có những bộ phim cải biên thất bại Khi một nhà biên kịch hoặc đạo diễn đã quyết định cải biên tác phẩm văn học thành phim thì

đó là cả một quá trình cân nhắc và chọn lựa thật cẩn thận và kĩ càng Việc cải biên một tác phẩm văn học thành phim cũng không phải là một công việc dễ dàng mà đó

là cả một quá trình công phu Người đạo diễn phải làm sao chuyển tiếp được hồn của tác phẩm văn chương vào các hình ảnh cụ thể nhưng vẫn phải thể hiện được sự sáng tạo của nhà làm phim

Trang 33

Tác phẩm văn học có thể có nội dung lên đến hàng nghìn trang, thế nhưng một bộ phim điện ảnh luôn có giới hạn về thời gian nhất định Thế nên, việc khó khăn nhất với đạo diễn là nên chọn cảnh nào và cắt cảnh nào, phải làm sao đưa những cảnh hiệu quả vào phim để phục vụ mục đích nghệ thuật Hơn nữa, nhiều lúc tác phẩm văn học thật sự rất hay nhưng để chuyển những câu từ ấy thành hình ảnh thì là việc vô cùng khó khăn Nhiều khi bằng ngôn từ, các nhà văn đã chạm đến được những ý nghĩa triết lí sâu xa, thế nên khi cải biên thành phim thì công việc càng khó gấp bội phần Thế nhưng, những khó khăn đó cũng không cản trở được sự thành công của những đạo diễn tài ba Họ đã có những cảm thụ riêng về tác phẩm văn học vàcải biên thành công khi đưa chúng lên màn ảnh

Đó là trường hợp đạo diễn người Mỹ D W Griffith, một trong những nhân vật có công đặt nền móng cho điện ảnh Hollywood Trong lịch sử phim cải biên, ông đã rất thành công khi chỉ trong năm 1915 đã dàn dựng được đến 40 phim ngắn, trong đó có nhiều phim được cải biên từ tác phẩm văn học Và bộ phim nổi tiếng nhất của ông chính là “Sự ra đời của một quốc gia” (The birth of nation), được cải

biên từ cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Charles Dickens có tên Người ở bộ lạc Clan Cũng từ đó những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng khác cũng được cải biên

thành phim và thành công rực rỡ

Cùng với thời gian, khoa học kĩ thuật càng phát triển thì điện ảnh cũng từng bước nâng cấp dần Từ phim câm chuyển dần đến phim có tiếng, từ phim trắng đen đến phim màu… Những kĩ thuật dựng phim, quay phim ngày càng được cải tiến làm cho chất lượng các bộ phim không ngừng được nâng cao Hàng loạt các bộ phim điện ảnh được cải biên từ tác phẩm văn học cũng lần lượt ra đời và từ đó các tiểu thuyết được dựng thành phim nhiều vô kể Chúng ta có thể nhắc đến những quyển

như: Nhà thờ đức bà Paris, Những người khốn khổ của nhà văn V Hugo; Ana Karenina của Tolstoy, Không gia đình của Hecto Malot, Hội chợ phù hoa của Thackeray… Đặc biệt quyển tiểu thuyết Ana Karenina là một trong những tác phẩm

văn học thu hút các nhà làm phim của nhiều nước trên thế giới Mỗi một đạo diễn khai thác những khía cạnh khác nhau của tác phẩm để dựng nên một bộ phim theo

Trang 34

cách cảm của riêng mình Từ năm 1905 đã có vở opera được cải biên từ nội dung tiểu thuyết Cho đến nay tác phẩm này đã trở thành chủ đề chính cho nhiều vở ballet

và được dựng phim hơn 10 lần Tuy được dựng lại nhiều lần như thế, nhưng mỗi

nhà đạo diễn đều có một cách đọc Ana Karenina rất riêng, chính điều này làm cho

nội dung của bộ phim không gây nhàm chán mà ngược lại còn rất thu hút người xem

qua từng thời kì Những người đã từng xem bộ phim cải biên Ana Karenina năm

2012 (bản mới nhất) sẽ rất tò mò muốn tìm xem các bản phim trước đây để có sự so sánh và thấy được những khía cạnh khai thác khác nhau của đạo diễn Mỗi lần cải biên đều có những ý kiến nhận xét đánh giá khác nhau, có bản được xem là hay cũng có bản bị phê bình là kém Thế nhưng các đạo diễn ở từng thời kì vẫn háo hức dựng lại nội dung của quyển tiểu thuyết nổi tiếng của đại văn hào Nga này

Năm 1939, lịch sử phim cải biên được đánh dấu bởi thắng lợi của bộ phim

Cuốn theo chiều gió cải biên theo tác phẩm văn học cùng tên của nữ nhà văn

Margaret Michell Bộ phim đã làm nên kỉ lục rất ấn tượng với 10 giải Oscar Từ câu chuyện văn học miêu tả bối cảnh cuộc nội chiến nam bắc, trong hoàn cảnh ác liệt ấy lại khơi dậy một tình yêu quê hương đất nước và lòng dũng cảm, quyết tâm khắc phục khó khăn Ẩn trong bức tranh xã hội đầy khắc nghiệt ấy chính là tình yêu của hai nhân vật chính là Scarlett và Rhett Butler Sau những thất bại trong hôn nhân Scarlett lại một lần nữa tìm được bến đỗ hạnh phúc bên cạnh Rhett Butler Trải qua khoảng thời gian hạnh phúc, ai ngờ Rhett Butler lại một lần nữa như những người trước đây bỏ Scarlett ra đi Scarlett sống những tháng ngày vô cùng đau đớn và nhận

ra vết thương lòng quá lớn bởi cô yêu Rhett Butler vô cùng sâu đậm Thế rồi, Scarlett đã tìm ra cách để trấn an bản thân bằng niềm tin rằng tương lai tốt đẹp rồi sẽ đến, và từ đó cô có thêm động lực đứng vững vàng hơn trong xã hội đầy chông gai

Sự thành công của bộ phim ngoài lưu lại dấu ấn của nhà văn và đạo diễn còn làm nên tên tuổi bất hủ cho hai diễn viên thủ vai chính Đó là nữ diễn viên Vivien trong vai Scarlett và nam diễn viên William Clark Gable trong vai Rhett Butler Không chỉ dừng lại ở đó, bộ phim đã được đông đảo khán giả trên thế giới mong đợi và yêu thích Cuốn tiểu thuyết của nhà văn Margaret Michell được tái bản rất nhiều lần và dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới

Trang 35

Tiếp theo thành công vang dội của bộ phim Cuốn theo chiều gió những bộ phim cải biên khác cũng tiếp bước ghi dấu ấn Đó là bộ phim Giai điệu hạnh phúc được cải biên từ quyển tiểu thuyết Câu chuyện những người ca sĩ gia đình Trapp

(The story of the Trapp Family Singer) Đây được xem là bộ phim cải biên rất thành công ở thể loại phim âm nhạc và có cốt truyện chân thực cảm động nhất Maria là nhân vật chính, cô là một tu sĩ rất yêu âm nhạc và thích ca hát Được gia đình Von Trapp mời đến làm cô giáo cho những đứa con yêu quý của họ Bằng sự dịu dàng cùng giọng hát trời phú, cô đã chinh phục những đứa trẻ tinh nghịch và truyền cảm hứng yêu âm nhạc đến chúng Cả câu chuyện được kể lại theo phong cách trình diễn của những bộ phim âm nhạc lúc bấy giờ Những bài hát chính trong phim đã khơi dậy sự đồng cảm và cái kết thúc có hậu làm người xem vô cùng mãn nguyện

Hay bộ phim bộ phim Chúa tể của những chiếc nhẫn được đạo diễn Peter Jackson cải biên năm 1997 Chúa tể của những chiếc nhẫn là cuốn sách kết tinh quá

trình lao động miệt mài suốt 14 năm của nhà văn Anh JPP Tolkien Cả tiểu thuyết

và phim đều tái hiện lại khung cảnh thần thoại đầy kì bí, nhưng đằng sau đó là cả những triết lí cho con người ở thế giới hiện tại Thành công của quyển sách đã khơi nguồn cảm hứng và quyết tâm làm phim nơi đạo diễn Tolkien Không dừng lại ở đó, hiệu ứng của bộ phim còn biến ngôi làng được chọn làm bối cảnh chính trở thành một địa điểm du lịch vô cùng hấp dẫn, thu hút hàng triệu du khác đến tham quan hằng năm

Những bộ phim cải biên liên tiếp giành nhiều giải Oscar đã giúp khẳng định giá trị và sức hút của thể loại phim này Những bộ phim cải biên tiếp tục nhận giải

Oscar sau đó có thể kể đến là: Hamlet (năm 19480), Ben Hur (năm 1959), Bố già (năm 1969)…Những bộ phim cải biên nổi tiếng khác: Số phận con người từ tác phẩm cùng tên của nhà văn Solokhov; Triệu phú khu ổ chuột; Tình yêu thời thổ tả; Chiến tranh và hòa bình của nhà văn Tolstoy; Hồng lâu mộng của Tàu Tuyết Cần; Cao lương đỏ; Tam quốc chí diễn nghĩa của La Quán Trung, Tây du kí của Ngô

Thừa Ân…

Trang 36

Những bộ phim cải biên đã đánh cột mốc quan trọng trong lịch sử điện ảnh thế giới Các nội dung từ tác phẩm văn học đã được những đạo diễn thẩm thấu và bằng thiên hướng thẩm mĩ của mình đã chuyển đổi ngôn ngữ văn học thành ngôn ngữ điện ảnh đưa lên màn hình Tuy nhiên không phải tác phẩm văn học nào cũng

có khả năng cải biên thành công Những tác phẩm văn học được chọn thường là những tác phẩm có câu chuyện hấp dẫn với cấu trúc chặt chẽ Khi xây dựng kịch bản lấy cảm hứng từ tác phẩm văn học, nhà biên kịch cũng phải đắn đo xem xét kĩ lưỡng và cần lọc ra được một câu chuyện cơ bản từ nội dung tác phẩm văn học Câu chuyện đó có thể được giữ nguyên như trong tác phẩm văn học, cũng có thể biến đổi chút ít cho phù hợp với ý đồ của nhà làm phim, tuy nhiên cũng phải tuân theo những nguyên tắc nhất định của sáng tạo nghệ thuật trong ngành điện ảnh Khi lựa chọn tạo hình nhân vật, đạo diễn cũng phải quan tâm đến tính chất điện ảnh của một nhân vật văn học có thể đưa vào phim Nhân vật của điện ảnh phải là những nhân vật hành động, họ phải thông qua những hành động của mình để thể hiện ý đồ của đạo diễn, thể hiện những suy nghĩ nét tính các của nhân vật đó Nếu họ chỉ suy tư và có những đoạn hồi tưởng độc thoại như trong văn học thì sẽ mất đi chất điện ảnh Vì thế nhà biên kịch chính là người cần phải biết cách chuyển đổi những dòng suy tư trăn trở

đó thành những hành động cụ thể Tác phẩm văn chương có chứa nhiều chất điện ảnh cũng không hẳn sẽ là những điều kiện để tác phẩm đó được chọn dựng thành phim, mà ở đây còn phụ thuộc rất lớn vào nhà biên kịch và đạo diễn Để có được thành công nhất định, bộ phim cải biên khi ra đời cũng cần chọn đúng thời điểm công chiếu và phù hợp với bối cảnh xã hội lúc ấy

1.3.2 Phim cải biên trong lịch sử điện ảnh Việt Nam

Đầu thế kỷ 20, điện ảnh Việt Nam đã có những thước phim tài liệu, phim phóng sự phục vụ cho công cuộc giải phóng dân tộc Vào ngày 15/3/1953, Chủ tịch

Hồ Chí minh đã ký sắc lệnh thành lập Ngành Điện Ảnh quốc gia Việt Nam mới chính thức được công nhận vị trí và vai trò của mình Tiếp sau đó, những bộ phim điện ảnh lần lượt được ra đời Trong thời chiến, những bộ phim về đề tài yêu nước rất được khuyến khích

Trang 37

Năm 1959, hai đạo diễn Nguyễn Hồng Nghi và Phạm Hiếu Dân đã cho ra đời

bộ phim Chung một dòng sông, đánh một cột mốc quan trọng trong điện ảnh nước

nhà Bộ phim đã tái hiện được thành công tình hình chính trị lúc bấy giờ của đất nước, đồng thời đặt nền móng cho hướng đi của những bộ phim cách mạng về sau Chính vì thế mà vào năm 1973, bộ phim đã được trao giải Bông sen vàng tại liên

hoan phim Việt Nam lần thứ 2 Sau thành công của Chung một dòng sông hai đạo diễn lại tiếp tục hợp tác và cải biên truyện ngắn Vật kỉ niệm của người đã mất thành

bộ phim Vật kỉ niệm vào năm 1960

Hưởng ứng điều đó năm 1962 bộ phim Vợ chồng A Phủ được đạo diễn Mai

Lộc và Hoàng Thái cải biên từ tác phẩm cùng tên của nhà Tô Hoài Sau đó một năm

bộ phim Con chim vành khuyên được cải biển từ tác phẩm Câu chuyện về một bài ca

của nhà Nguyễn Văn Thông đã giành được nhiều lời khen ngợi của giới chuyên môn cũng như khán giả

Năm 1963, đạo diễn Phạm Kỳ Nam đã dựa trên nội dung của truyện dài Một chuyện chép ở bệnh viện của nhà văn Bùi Đức Ái dựng thành bộ phim Chị Tư Hậu

Bộ phim cải biên này có nội dung nói về cuộc đời của một người phụ nữ miền Nam trong thời kháng Pháp Bộ phim đã thành công vang dội và nhận được nhiều giải

thưởng điện ảnh danh giá Chị Tư Hậu đã nhận được giải Bông sen vàng tại liên

hoan phim Việt Nam lần thứ 2, huy chương bạc tại liên hoan phim quốc tế Moskvo năm 1963, riêng nghệ sĩ Trà Giang cũng nhận được giấy khen cho vai diễn chị Tư Hậu

Năm 1966, đạo diễn Bùi Đình Hạt đã cải biên tác phẩm Sống như anh của nhà văn Trần Đình Vân thành bộ phim Nguyễn Văn Trỗi Bộ phim đã khắc họa

thành công hình ảnh người anh hùng Nguyễn Văn Trỗi với khí thế hiêng ngang, dũng cảm, không khuất phục quân thù đã truyền cảm hứng yêu nước khắp các đồng bào chiến sĩ Bộ phim đã nhận được giải Bông sen vàng tại liên hoan phim Việt Nam lần thứ 1

Năm 1975, tiểu thuyết Vùng trời của Hữu Mai được đạo diễn Huy Thành cải

biên thành bộ phim cùng tên

Trang 38

Năm 1997, là thời điểm xuất hiện nhiều bộ phim cải biên trong đó có thể kể

đến các bộ phim: Chị Nhàn của đạo diễn Huy Thành, Ngày lễ thánh của đạo diễn Bạch Diệp, Những đứa con của đạo diễn Khánh Dư

Những tác phẩm của nhà văn Nguyên Ngọc cũng lần lượt được dựng thành

phim Đó là bộ phim Rừng xà nu của đạo diễn Nguyễn Văn Thông, phim Đất nước đứng lên của đạo diễn Lê Đức Tiến Nội dung của những bộ phim xoay quanh sự

anh hùng dũng cảm của những người dân núi rừng Tây Nguyên

Nguyễn Quang Sáng là một trong những nhà văn có các tác phẩm tạo cảm hứng cho nhiều đạo diễn cải biên thành phim Năm 1970, đạo diễn Đặng Nhật Minh

và Nguyễn Đức Hinh đã cải biên truyện ngắn Chị Nhung thành bộ phim cùng tên và

phim đã nhận được bằng khen tại liên hoan phim Việt Nam lần thứ 2 Tiếp tục là bộ

phim Mùa gió chướng và Cánh đồng hoang do chính Nguyễn Quang Sáng viết kịch

bản và đạo diễn Hồng Sến dàn dựng Cả hai bộ phim đều thành công vang dội và

được đón nhận rộng rãi Đến nay, Cánh đồng hoang vẫn được xem là một trong

những bộ phim về đề tài chiến tranh hay nhất của Việt Nam

Hàng loạt các tác phẩm văn học sau thời chiến được cải biên thành phim và tạo nên một hiệu ứng tích cực từ phía người xem Những bộ phim thành công có thể

kể đến là: Người đi tìm dĩ vãng của đạo diễn Trần Phương và Tất Bình cải biên từ tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng của nhà văn Chu Lai; Phim Mê thảo- thời vang bóng của đạo diễn Việt Linh cải biên từ truyện Chùa đàn của Nguyễn Tuân; phim Thời xa vắng của đạo diễn Hồ Quang Minh cải biên từ tiểu thuyết cùng tên của Lê Lựu; phim Người đàn bà mộng du của đạo diễn Nguyễn Thanh Vân cải biên từ truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành của Nguyễn Minh Châu

Những năm gần đây những bộ phim cải biên lần lượt xuất hiện và gặt hái

được nhiều thành công rực rỡ Như Mùa len trâu được đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh cải biên từ tác phẩm cùng tên nằm trong tập truyện Hương rừng Cà Mau của

nhà văn Sơn Nam Bộ phim đã tái hiện được bối cảnh cùng những trăn trở, đời sống của người dân miền Tây nam bộ mỗi khi mùa nước lũ tràn về Những người nông làm nghề “len trâu” phải đấu tranh để tìm được cỏ cho những chú trâu sống qua mùa

Trang 39

lũ, họ yêu quý những con trâu như người thân gắn bó trong gia đình Phim đã đoạt giải đặc biệt tại Liên hoan phim Locarno ở Thụy Sĩ, giải đạo diễn xuất sắc nhất ở Liên hoan phim Chicago ở Mỹ, giải cao nhất của Liên hoan phim Amiens ở Pháp, giải đặc biệt của Liên hoan phim Amazonas ở Brasil và giải Cánh diều vàng cho phim hợp tác với nước ngoài xuất sắc nhất Bộ phim mang điện ảnh Việt Nam vươn

ra thế giới và khẳng định tài năng điện ảnh của nước nhà Hay phim Cánh đồng bất tận được cải biên từ truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư của đạo

diễn Nguyễn Phan Quang Bình cũng tạo được những thành công vang dội về doanh thu và những giải thưởng uy tín của nước nhà Bộ phim còn đoạt được những giải

thưởng lớn như giải Cánh diều vàng 2010 dành cho nhạc sĩ phim truyện nhựa, dành

cho diễn viên nữ chính phim truyện nhựa, dành diễn viên nam phụ phim truyện

nhựa Đặc biệt, tại Cánh diều vàng năm 2010, bộ phim còn giành được giải Cánh diều bạc dành cho phim truyện nhựa và giải phim hay nhất trong năm do báo chí

bình chọn…

Mới đây nhất vào năm 2015, bộ phim Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh của

đạo diễn Victor Huy Vũ được cải biên từ tác phẩm văn học cùng tên của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh đã dành được thành công vang dội Phim lấy bối cảnh làng quê miền Trung với cốt truyện thiếu nhi khá nhẹ nhàng cùng những cảnh quay đẹp mắt

đã giành được sự yêu thích của đông đảo người xem Bộ phim đã giành được rất

nhiều giải thưởng điện ảnh lớn như giải phim truyện hay nhất trong năm tại Liên hoan phim thiếu nhi quốc tế Toronto 2015, tại Liên hoan phim Silk Road lần thứ hai Đặc biệt tại Liên hoan phim Việt Nam 2015, bộ phim đã giành được các giải

như bông sen vàng dành cho đạo diễn xuất sắc nhất, dành cho quay phim xuất sắc nhất và phim đã giật luôn giải phim hay nhất do khán giả bình chọn

Năm 2015 cũng là năm mà điện ảnh Việt Nam có nhiều bộ phim được cải

biên từ tác phẩm văn học ra đời Đó là các bộ phim như Quyên cải biên từ tiểu thuyết Quyên của Nguyễn Văn Thọ, Dịu dàng cải biên từ truyện ngắn “Một sinh vật dịu dàng” của Dostoevsky, Nước 2030 của Nguyễn Võ Nghiêm Minh cải biên từ

“Nước như nước mắt” của Nguyễn Ngọc Tư Nhìn chung, sự cải biên có thể khiến

Trang 40

cho một bộ phim mang tầm nghĩa sâu hơn tác phẩm văn học nguyên gốc Nhưng cũng có những bộ phim không giữ được chủ đề gốc của tác phẩm văn học khi đưa lên phim Cụ thể như “Cánh đồng bất tận” – đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình Cải biên từ một tác phẩm văn học thành tác phẩm điện ảnh là một quá trình lao động và sáng tạo tích cực của các nhà làm phim Song song với việc xử lý những chi tiết có sẵn là việc xây dựng những chi tiết mới Những chi tiết này thể hiện rõ nét sự định hướng của tác giả vào chủ đề phim Quá trình này đòi hỏi sự nhạy bén, trình độ cảm thụ của nhà làm phim để có thể xử lý các chi tiết một cách có hiệu quả nhất; đồng thời, cũng cần tài năng của đạo diễn để sáng tạo ra các chi tiết đắt giá khác, góp phần tạo nên giá trị tác phẩm điện ảnh

Tiểu kết

Cải biên học là một vấn đề không mới nhưng luôn được quan tâm ở mọi thời đại Những năm gần đây các bộ phim cải biên lần lượt ra đời làm khơi dậy sự yêu thích và quan tâm của người xem lẫn những người nghiên cứu về thể loại phim cải biên Nắm rõ được cải biên là gì và có những đặc điểm tính chất gì phù hợp để áp dụng vào trong điện ảnh sẽ giúp người xem dễ tiếp cận các bộ phim cải biên mà

không bị ảnh hưởng bởi chính tác phẩm văn học nguồn

Lí thuyết về cải biên học là sự phức hợp các lí thuyết, trong đó các lí thuyết

về văn hóa học, phiên dịch học, liên văn bản là những lí thuyết hiện nay có ảnh hưởng đến cải biên được quan tâm khá nhiều Từ lịch sử phim điện ảnh cho đến lịch

sử của phim cải biên đã có không ít những bộ phim cải biên rất thành công và ghi dấu trong nền điện ảnh thế giới Một tác phẩm văn học có tính cải biên khả thi cũng cần hội tụ rất nhiều yếu tố Sự tương thông của đạo diễn với nhà văn sẽ giúp ích rất lớn cho việc thành công của một bộ phim cải biên Từ tác phẩm văn học đến tác phẩm điện ảnh là cả một quá trình dày công phối hợp của rất nhiều cá nhân, để có thể chuyển đổi thành công mật mã văn chương lên màn ảnh rộng, một tác phẩm cải biên thành công là được sự đón nhận, yêu thích ủng hộ của quý khán giả yêu nghệ thuật

Ngày đăng: 31/03/2021, 09:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Aristotle (2007), Nghệ thuật thi ca (Lê Đăng Bảng, Thành Thế Thái Bình, Đỗ Xuân Hà, Thành Thế Yên Bái dịch), NXB Lao động, Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thi ca (Lê Đăng Bảng, Thành Thế Thái Bình, Đỗ Xuân Hà, Thành Thế Yên Bái dịch)
Tác giả: Aristotle
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2007
6. Bakhtin M. (1993), Những vấn đề thi pháp tiểu thuyết Đôxtôiepxki (Trần Đình Sử dịch), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp tiểu thuyết Đôxtôiepxki (Trần Đình Sử dịch)
Tác giả: Bakhtin M
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1993
7. Barthes R. (2008), Những huyền thoại (Phùng Văn Tửu dịch), NXB Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những huyền thoại (Phùng Văn Tửu dịch)
Tác giả: Barthes R
Nhà XB: NXB Tri thức
Năm: 2008
8. Bruno Toussaint (2007), Ngôn ngữ điện ảnh và truyền hình, NXB Dixit và Hội điện ảnh Việt Nam đồng xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ điện ảnh và truyền hình
Tác giả: Bruno Toussaint
Nhà XB: NXB Dixit và Hội điện ảnh Việt Nam đồng xuất bản
Năm: 2007
9. C Mác – Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, tập 20, NXB Tiến bộ, Matcova Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 20
Nhà XB: NXB Tiến bộ
10. Đỗ Thị Ngọc Diệp (2010), Vấn đề chuyển thể tác phẩm văn học sang tác phẩm điện ảnh (từ góc nhìn tự sự, Luận văn thạc sĩ Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề chuyển thể tác phẩm văn học sang tác phẩm điện ảnh (từ góc nhìn tự sự
Tác giả: Đỗ Thị Ngọc Diệp
Năm: 2010
12. Denis Diderot (2013), Từ mỹ học đến các loại hình nghệ thuật (Phùng Văn Tửu dịch), NXB Tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ mỹ học đến các loại hình nghệ thuật (Phùng Văn Tửu dịch)
Tác giả: Denis Diderot
Nhà XB: NXB Tri thức
Năm: 2013
13. Direction editoriale (1993), Petit Larousse en couleurs, Paris: Larousse Sách, tạp chí
Tiêu đề: Petit Larousse en couleurs
Tác giả: Direction editoriale
Năm: 1993
14. Erika Fischer – Lichte (1997), Ký hiệu học nghệ thuật, Viện nghệ thuật Hà Nội và lưu trữ Điện ảnh Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký hiệu học nghệ thuật
Tác giả: Erika Fischer – Lichte
Năm: 1997
15. Đào Duy Hiệp (2008), Phê bình văn học từ lí thuyết hiện đại, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình văn học từ lí thuyết hiện đại
Tác giả: Đào Duy Hiệp
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2008
16. Nguyễn Thị Hoa (2012), Từ trang viết đến màn bạc: chuyển thể điện ảnh và sự hội đáp của người xem/người đọc qua một số tác phẩn văn học Việt Nam đương đại, Luận văn thạc sĩ Đại học Quốc gia TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ trang viết đến màn bạc: chuyển thể điện ảnh và sự hội đáp của người xem/người đọc qua một số tác phẩn văn học Việt Nam đương đại
Tác giả: Nguyễn Thị Hoa
Năm: 2012
17. Iouri Lotman (1997), Ký hiệu học nghệ thuật sân khấu, điện ảnh, Viện Nghệ thuật và lưu trữ điện ảnh Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký hiệu học nghệ thuật sân khấu, điện ảnh
Tác giả: Iouri Lotman
Năm: 1997
18. Jean Chevailier & Alain Gheerbrant (2002), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới
Tác giả: Jean Chevailier & Alain Gheerbrant
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2002
19. Jean-Paul Sartre, Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản (Đinh Hồng Phúc dịch năm 2015), NXB Tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản (Đinh Hồng Phúc dịch năm 2015)
Nhà XB: NXB Tri thức
20. Lawrence Venuti. (2007), Adaptation, Translation, Critique. Journal of Visual Culture, New York: Sage Publications Sách, tạp chí
Tiêu đề: Adaptation, Translation, Critique. Journal of Visual Culture
Tác giả: Lawrence Venuti
Năm: 2007
21. Phong Lê (2014), Văn học Việt Nam hiện đại đồng hành cùng lịch sử, NXB Khoa học Xã hội, TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại đồng hành cùng lịch sử
Tác giả: Phong Lê
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2014
22. Luc Estang (2009), Saint-Exupery cuộc đời và tác phẩm (Châu Văn Thuận dịch), NXB Thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Saint-Exupery cuộc đời và tác phẩm
Tác giả: Luc Estang
Nhà XB: NXB Thời đại
Năm: 2009
23. Đức Kôn (1996), Tiểu luận phê bình Điện ảnh, NXB Trẻ TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu luận phê bình Điện ảnh
Tác giả: Đức Kôn
Nhà XB: NXB Trẻ TP.HCM
Năm: 1996
24. Trần Luân Kim - Tạ Hoàn Anh - Phạm Hải Vân ( biên tập chính) (1997),, Ký hiệu học nghệ thuật Sân khấu và Điện ảnh, Viện Nghệ thuật và Lưu trữ Điện ảnh VN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký hiệu học nghệ thuật Sân khấu và Điện ảnh
Tác giả: Trần Luân Kim - Tạ Hoàn Anh - Phạm Hải Vân ( biên tập chính)
Năm: 1997
74. Trần Đình Sử, Khái niệm diễn ngôn, Trandinhsu.wordpress.com (https://trandinhsu.wordpress.com/2015/01/04/khai-niem-dien-ngon/, truy cập ngày 28/6/2020, 8:30) Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w