Thông qua các nguồn tài liệu đã được tiếp cận, NCS nhận thấy các nghiên cứu ở Việt Nam thường nghiêng nhiều về lịch sử mỹ thuật, một số khác thì theo xu hướng phê bình và phân tích mỹ th
Trang 1Phạm Văn Tuyến
CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC HỘI HỌA
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật
Mã số: 62 21 01 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ VĂN SỬU
TS NGUYỄN NGHĨA PHƯƠNG
Hà Nội - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ với đề tài Cảm hứng nghệ thuật trong sáng tác hô ̣i ho ̣a là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện
Các trích dẫn, số liệu và kết quả nêu trong luận án là trung thực và có xuất
xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày 16 tháng 7 năm 2015
Tác giả luận án
Phạm Văn Tuyến
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU 5
MỞ ĐẦU 6
NỘI DUNG 25
Chương 1 25
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT 25
TRONG SÁNG TÁC HỘI HỌA 25
1.1 Khái niệm Cảm hứng nghệ thuật 25
1.2 Cảm hứng nghệ thuật trong hội họa 31
1.3 Phân loại Cảm hứng nghệ thuật trong sáng tác hội họa 36
1.4 Bối cảnh chung của hội họa và các hoạ sĩ được đề cập trong luận án 48
Tiểu kết chương 1 55
Chương 2 57
TÁC NHÂN KHƠI NGUỒN CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC HỘI HOẠ 57
2.1 Tác nhân từ nền tảng kiến thức 58
2.2 Tác nhân từ hoàn cảnh lịch sử xã hội và văn hóa 67
2.3 Tác nhân từ đời sống nội tâm của họa sĩ 78
Tiểu kết chương 2 82
Chương 3 84
NHẬN DIỆN CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT 84
TRONG SÁNG TÁC HỘI HỌA 84
3.1 Cảm hứng vớ i hiện thực khách quan 86
3.2 Cảm hứng vớ i những khám phá về chất liệu và kỹ thuật 92
Trang 53.3 Cảm hứng vớ i nhu cầu đổi mới ngôn ngữ trong sáng tác 97
3.4 Cảm hứng vớ i nội tâm của chủ thể hoạ sĩ 102
3.5 Cảm hứng vớ i chính tác phẩm đang thể hiện 109
Tiểu kết chương 3 116
Chương 4 117
HIỆU QUẢ CỦA CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT TRONG HỘI HỌA 117
4.1 Hiệu quả về khoa học tạo hình củ a cảm hứng với hiện thực 118
4.2 Hiệu quả mở rộng phương thức thực hành hội họa củ a cảm hứng với chất liệu, kỹ thuật 125
4.3 Hiệu quả về phong cách nghệ thuật củ a cảm hứng với nhu cầu đổi mới ngôn ngữ tạo hình 129
4.4 Hiệu quả về mặt biểu cảm củ a cảm hứng với nội tâm 134
4.5 Những hiệu quả nghệ thuật khác của cảm hứng với tác phẩm đang hình thành 139
Tiểu kết chương 4 145
KẾT LUẬN 148
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
PHỤ LỤC:……… … 164
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Sơ đồ minh họa sự xuất hiện cảm hứng với hiện thực khách
quan thể chủ động 41 Bảng 2: Sơ đồ minh họa sự xuất hiện cảm hứng với hiện thực khách
quan thể bị động 42 Bảng 3: Sơ đồ minh họa sự xuất hiện cảm hứng với những khám phá về
kỹ thuật chất liệu 43 Bảng 4: Sơ đồ minh họa sự xuất hiện cảm hứng với nhu cầu đổi mới
ngôn ngữ trong sáng tác 44 Bảng 5: Sơ đồ minh họa sự xuất hiện cảm hứng với nội tâm thể chủ
động 45 Bảng 6: Sơ đồ minh họa sự xuất hiện cảm hứng với nội tâm thể bị
động 47 Bảng 7: Sơ đồ minh họa sự xuất hiện cảm hứng với tác phẩm thể chủ
động 47 Bảng 8: Sơ đồ minh họa sự xuất hiện cảm hứng với tác phẩm thể bị
động 48
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Sáng tác hội họa là một diễn trình lao động sáng tạo mang đậm dấu
ấn cá nhân, tác phẩm hội họa gửi những thông điệp của họa sĩ (HS) đến với người xem thông qua các hình thức biểu đạt của ngôn ngữ hội họa như: đường nét, hình, mảng, màu sắc Tuy nhiên, do những hiệu quả nghệ thuật (NT) ấy được thẩm thấu qua thị giác, phụ thuộc đáng kể ở tâm lý thị giác rất đa dạng của con người, nên các tác động từ tác phẩm hội họa vào sự thụ
cảm của người thưởng thức thường không dễ lý giải Tại sao có những bức
vẽ với các tương quan tạo hình khá thuận mắt nhưng lại không có sức truyền cảm, không đem lại giá trị NT, trái lại, nhiều tác phẩm hội họa đầy những sự phi lý lại có một sức truyền cảm mạnh mẽ tới người xem tranh? Tại sao có những HS nổi tiếng nhưng cũng có nhiều tác phẩm không thành công? Tại sao cùng một tác phẩm hội họa mà mỗi người xem lại có cảm nhận khác nhau? Những đặc trưng đó phần nào khiến NT hội họa trở nên
huyền bí, khó cắt nghĩa dưới góc độ lý luận nên rất cần có những lý giải khoa học Nghiên cứu sinh (NCS) hiểu rằng, trong khi kinh nghiệm tri thức
là nền tảng của khoa học thì kinh nghiệm xúc cảm là nền tảng của NT, mà kinh nghiệm xúc cảm thì không ai giống ai
Từ thực tế lịch sử Hội họa Việt Nam đặc biệt là giai đoạn từ thời kỳ đổi mới đến nay , các tài liệu lý luận , các ý kiến của giới HS và những gợi ý của các tài liệu liên quan vừa nêu trên , NCS nhận thấy quá trình triển khai bức vẽ không đơn thuần chỉ là quá trình tư duy, tìm ý tưởng và phong cách thể hiện
mà còn có sự tác động không nhỏ của trạng thái cảm hứng trong sáng tác
Phải chăng để có những thành công trong sáng tác hội hoạ, ngoài bệ đỡ trí tuệ, kiến thức văn hoá và những kiến thức học thuật, còn có một động lực mạnh mẽ của các dạng tâm lý sáng tạo NT? Tất cả đã gợi cho NCS liên tưởng
Trang 8về quá trình sáng tạo tác phẩm Hội họa hiệu quả hơn bởi nguồn cảm hứng nghệ thuật (CHNT) khơi nguồn sáng tạo cho HS - một dạng CHNT tuy khá rõ
ràng nhưng ít được bàn đến
Trong lĩnh vực lý luận phê bình mỹ thuật ở Việt Nam, chừng mực nào
đó rất cần những hướng tiếp cận mới có tính liên ngành Thực tế cho thấy các
HS Việt Nam rất thiếu về lý luận hội hoạ, hiện còn không ít phong cách và quan điểm sáng tác của các HS đang đi trên con đường dò dẫm và có phần duy lý, thiếu điểm tựa về mặt lý luận, vì thế công tác lý luận, phê bình mỹ thuật rất quan trọng trong vai trò định hướng thẩm mỹ cho xã hội, góp phần soi sáng con đường cho các HS để họ vững tâm với quan điểm sáng tác của mình, đồng thời góp phần chỉ ra sự trá hình của một bộ phận nhỏ đang nương náu trong cái vỏ bọc hội họa, làm mất đi giá trị sáng tạo vốn là bản chất của hoạt động sáng tác hội họa
Thông qua các nguồn tài liệu đã được tiếp cận, NCS nhận thấy các nghiên cứu ở Việt Nam thường nghiêng nhiều về lịch sử mỹ thuật, một số khác thì theo xu hướng phê bình và phân tích mỹ thuật, hoặc nghiên cứu theo hướng lý luận mỹ thuật thì chủ yếu dựa trên hệ thống các ngôn ngữ tạo hình
và các tương quan tạo hình, chưa thấy tài liệu nào nghiên cứu hệ thống về việc các HS thường có những trạng thái CHNT như thế nào trong khi đang vẽ tranh, và tác động của cảm hứng đó đến sự hiện diện của ngôn ngữ hội họa
trên bức tranh Phải chăng lý luận hội hoạ ở Việt Nam rất cần những công trình nghiên cứu lý luận cơ bản?
Từ những vấn đề nêu trên cho thấy, việc nghiên cứu về CHNT của HS Việt Nam đã trở nên rất cấp thiết đối với công tác lý luận hội hoạ nói riêng và
lý luận mỹ thuật nói chung Phải tìm thêm những cách tiếp cận mới để hiểu hơn về HS và tác phẩm của họ Điều đó thôi thúc NCS chọn vấn đề nghiên
cứu cho luận án với tên gọi Cảm hứng nghệ thuật trong sáng tác hội họa
Trang 92 Mục đích nghiên cứu
2.1 Mục đích tổng quát của đề tài
Kết hợp các lý luận khoa học về cảm hứng, CHNT, cảm hứng trong sáng tác NT với lý thuyết lý luận hội hoạ, thông qua các dữ liệu điều tra xã hội học, các tác giả, tác phẩm hội họa nhằm tìm hiểu về sự tồn tại, biểu hiện
và hiệu quả của CHNT trong sáng tác hô ̣i ho ̣a Từ đó có thể hình thành một hướng tiếp cận nghiên cứu lý luận hội họa có tính liên ngành
2.2 Mục đích cụ thể của đề tài
- Tổng hợp, phân tích các khái niệm về cảm hứng và hình thành khái niệm CHNT trong sáng tác hội hoạ Tổng hợp và phân tích các quan điểm, bàn luận về cảm hứng trong sáng tác từ các nghệ sĩ, HS, các nhà lý luận phê bình mỹ thuật Sử dụng kết hợp các tài liệu khoa học của các lĩnh vực ngoài
mỹ thuật để kiểm chứng, phân tích, xác định các dạng cảm hứng Xác định bối cảnh chung của xã hội Việt Nam đang có ảnh hưởng đến tư tưởng tình cảm của HS trong sáng tác hội họa Xác định các HS là đối tượng khảo sát
- Nghiên cứu , phân tích về các tác nhân liên quan khơi nguồn CHNT của HS trong sáng tác hội họa
- Nhận diện CHNT của HS bằng khảo sát, lập luận, phân tích, chứng minh
về sự tồn tại có thực của CHNT của HS trong khi sáng tác
- Chứng minh hiệu quả của CHNT của HS trong sáng tác hội hoạ hiện diện trên tác phẩm, từ đó xác đi ̣nh những đóng góp của HS cho NT
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Qua nghiên cứu tài liê ̣u , NCS thấy rằng cảm hứng (các cảm xúc) của con người là đối tượng nghiên cứu của tâm lý học CHNT chính là đối tượng nghiên cứu của các ngành NT, trong đó mỗi ngành NT tuỳ theo đặc thù ngôn ngữ NT và đặc trưng hoạt động sáng tác NT mà hướng vào những phương
Trang 10pháp luận riêng Thậm chí trong cùng một ngành NT cũng có những học giả nghiên cứu theo từng hướng tiếp cận khác nhau, vì thế mà cũng tạo ra những khung lý luận khác nhau theo lý thuyết mà họ định trước
Trong đề tài này NCS xác định đối tượng nghiên cứu là trạng thái CHNT, là yếu tố tinh thần của HS trong quá trình sáng tác hội hoạ Đây là một dạng nghiên cứu về quá trình xảy ra ở bên trong người HS khi sáng tác hội hoạ, là về diễn biến và biểu hiện (bên trong) của sự hình thành ngôn ngữ
và phong cách hội hoạ trên tác phẩm Đối tượng nghiên cứu được xác định ở năm dạng theo các pha ̣m trù quan hê ̣ sáng tác và hai thể , một là CHNT thể chủ động (là thể mà HS có thể ý thức được, kiểm soát được bằng lý trí); hai là CHNT thể bị động (thể nằm ngoài ý thức chủ quan, không được kiểm soát bằng lý trí)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về phạm vi không gian, đề tài luận án giới hạn trong hội hoạ, chủ yếu lấy đại diện là các HS đang sống và sáng tác trên địa bàn Hà Nội để làm đối tượng khảo sát trực tiếp Các HS được chọn, là những HS sáng tác hội họa (không bao gồm các HS đồ họa) là đại diện cho các thế hệ và phong cách sáng tác khác nhau, đại diện cho quan niệm xã hội Chủ yếu gồm các HS được các giải thưởng mỹ thuật, đồng thời cũng quan tâm nhiều đến các HS trẻ
có hướng sáng tác đặc biệt, phù hợp với cách tiếp cận nghiên cứu của đề tài luận án Đồng thời luận án có đề cập đến các HS nổi tiếng ở Việt Nam và Thế giới làm đối chứng trong các phân tích, so sánh
Về phạm vi thời gian, đề tài luận án bám theo mốc giai đoạn lịch sử hội họa hiện đại Việt Nam, chú trọng đặc biệt đến giai đoạn đổi mới sau năm 1986 vì đã có sự thay đổi lớn trong môi trường NT và xã hội Giới hạn này chỉ mang tính tương đối nhằm đảm bảo tính khả thi của các thao tác nghiên cứu thực tế mà đề tài đã lựa chọn
Trang 114 Giả thuyết khoa học của đề tài luận án
Trong thực tế, có rất nhiều HS Việt Nam giỏi về hội hoạ cơ bản, đồng thời họ cũng có một nền tảng tri thức và văn hoá rất tốt nhưng chưa hẳn có được những tác phẩm hô ̣i ho ̣a đạt được giá trị NT cao, vậy nguyên nhân là gì? Làm thế nào để có thêm những căn cứ để đánh giá và thẩm định tác phẩm mỹ thuật hiện nay? Đã có những quan điểm khác nhau về một vài giải thưởng mỹ thuật mà theo NCS, có thể là chưa xác định rõ ràng giữa việc đánh giá một tác phẩm hội họa độc lập (có thể là do may mắn) với việc công nhận sự cống hiến, thành công của một HS (thường phải theo quá trình lâu dài), có thể là do khung tham chiếu và thẩm định tác phẩm mỹ thuật còn chưa thống nhất, chưa khoa học chăng? Vấn đề đặt ra là có thể tìm thêm những cơ sở khoa học nào
để đánh giá đúng hơn về giá trị NT của tác phẩm mỹ thuật và cống hiến của
HS trong tác phẩm của họ?
NCS thấy rằng, trong quá trình sáng tác những tác phẩm mỹ thuật, HS thường trải qua một trạng thái tâm lý khá đặc biệt gọi là cảm hứng trong sáng tác hay CHNT Đây là loại liên quan trực tiếp đến sự hình thành tư duy, ý tưởng và các thủ pháp NT Cảm hứng này có được nhờ vào các năng lực tự nhiên (năng khiếu, tài năng), năng lực được tích lũy (tri thức chung và kiến thức chuyên biệt) và thường để lại dấu vết trên tác phẩm hô ̣i ho ̣a CHNT là một tác nhân có quyết định mạnh mẽ đến hiệu quả truyền cảm của tác phẩm,
có vai trò đặc biệt trong sự hình thành tác phẩm hội họa
Giả thuyết khoa học mà NCS đặt ra là: Trong quá trình sáng tác những tác phẩm hội họa, HS thường trải qua một trạng thái tâm lý khá đặc biệt gọi
là CHNT của HS trong sáng tác hội hoạ CHNT này có được nhờ vào nhiều tác nhân từ bên ngoài hoặc bên trong HS và thường để lại dấu vết trên tác phẩm mỹ thuật CHNT là một tác nhân có quyết định mạnh mẽ đến hiệu quả truyền cảm của tác phẩm
Trang 12Từ đây các câu hỏi sẽ được trả lời thông qua các kết quả nghiên cứu phải đạt được là:
- Cho thấy rõ CHNT của HS là một trạng thái tinh thần xảy ra trong quá trình sáng tác tác phẩm hội hoạ, là dạng biểu hiện tâm lý tác động trực tiếp đến tư duy ngôn ngữ NT, có lợi cho hoạt động sáng tác
- CHNT trong sáng tác hô ̣i ho ̣a giai đoa ̣n từ thời kỳ đổi mới đến nay (thực chất chỉ là đại diện cho đối tượng khảo sát) biểu hiện qua một số tác nhân có tính chủ quan như nền tảng tri thức chung, nền tảng học thuật; những thành tố mang tính khách quan như hoàn cảnh văn hoá, điều kiện lịch sử xã hội, đời sống nội tâm hay tính cách cá nhân của HS
- Theo hướng nghiên cứu của đề tài thì CHNT được xác định có năm dạng và có hai thể là chủ động và bị động (chưa tính về những cách tiếp cận khác có thể cho kết quả khác)
- Giá trị NT trên tác phẩm hội hoạ nhờ một phần không nhỏ từ CHNT Thiếu CHNT thì HS sẽ mất đi một nguồn năng lượng hữu ích cho sáng tạo NT, khó đi đến thành công về mặt NT
5 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể của đề tài luận án này đã được xác
định gồm những phương pháp sau đây:
- Phương pháp tổng hợp, thu thập các luận điểm khoa học của mỹ thuật học và các lĩnh vực khoa học xã hội được xác định trong đề tài
- Phương pháp phân tích, so sánh nhằm liên kết mối quan hệ giữa các
cứ liệu khoa học khác vào hệ thống lý luận mỹ thuật
- Phương pháp điền dã để tiếp cận các tác giả, tác phẩm
- Phương pháp nghiên cứu tác gia để tiếp cận nghiên cứu về các HS và các tài liệu về HS trong lĩnh vực lý luận hội họa
- Phương pháp điều tra xã hội học
Trang 13- Phương pháp lập luận, chứng minh để làm sáng tỏ các vấn đề, các kết luận mà đề tài đưa ra
Khi đặt trong các nhóm phương pháp nghiên cứu thì có thể xác định các phương pháp nghiên cứu cơ bản nhất bao gồm:
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Xác định nhận thức luận đến
phân tích và giải thích khái niệm về cảm hứng và CHNT; hệ thống, phân tích và chứng minh những quan điểm, những đánh giá về CHNT của các nhà nghiên cứu NT và các nghệ sĩ; tìm cơ sở phân loại và phân loại các dạng CHNT của HS trong hội hoạ; đánh giá về các thành tố tác động đến CHNT đó và xác định vai trò của nó đối với sự hình thành tác phẩm hội hoạ, sử dụng các dạng đã phân loại vào khảo sát thực tế trong phạm vi nghiên cứu
Áp dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành: NCS cho rằng vấn đề
CHNT là một vấn đề mới trong nghiên cứu lý luận hội hoạ, nếu chỉ dùng
lý thuyết của mỹ thuật học thì không dễ xác định được nguồn gốc, biểu hiện, dạng thức của CHNT bởi vì CHNT chịu tác động bởi các thành tố chẳng hạn như: Trình độ chuyên môn, học vấn học thuật - thuộc mỹ thuật; Tình cảm thẩm mỹ và nhận thức thẩm mỹ - thuộc mỹ học (còn gọi là triết học NT); Nền tảng văn hoá, vốn sống và tôn giáo - thuộc văn hoá học, xã hội học; Đời sống nội tâm và sức khoẻ tâm thần, cơ cấu và diễn biến tâm trạng của người - thuộc tâm lý học; Đời sống tinh thần, nhận thức luận - thuộc triết học
Phương pháp phỏng vấn, điều tra : Đây là một trong những phương
pháp được sử dụng nhiều trong quá trình nghiên cứu đề tài Có ba nhóm đối tượng phỏng vấn trong nghiên cứu bao gồm: nhóm chuyên gia thuộc các lĩnh vực lý luận NT, nhóm chuyên gia thuộc lĩnh vực mỹ thuật (hội hoạ), nhóm
HS là đối tượng chính trong quá trình lấy dữ liệu nghiên cứu
Trang 146 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Đề tài luận án là công trình mới ở Việt Nam nghiên cứu lý luận chuyên sâu về CHNT của HS Giải quyết vấn đề lý thuyết lý luận hội hoạ theo hướng liên ngành bằng kế thừa các khoa học ngoài mỹ thuật học
- Góp phần hình thành một cơ sở lý luận hội họa để áp dụng cho các nghiên cứu về giá trị của tác phẩm hội họa, đóng góp của HS Chỉ ra các dạng CHNT của HS trong quá trình sáng tác và tác động của nó đến HS trong sáng tác hội họa Chứng minh hiệu quả của CHNT trong tác phẩm hội họa
- Đóng góp về cứ liệu nghiên cứu các thành tố liên quan, ảnh hưởng đến CHNT của HS để có thêm cơ sở phân tích tác phẩm hội họa
7 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
7.1 Như ̃ng công trình nghiên cứu thuộc các lĩnh vực liên ngành
Imanuel Kant (1724-1804) vớ i một số công trình như : Phê phán lý tính thuần túy [43,44], Phê phán lý tính thực hành [45], và nhất là Phê phán năng lực phán đoán [46], với luận điểm, mỹ học là khoa học về cảm giác Kant coi
các ngành mỹ thuật là NT lấy năng lực phán đoán phản tư (từ một hiện tượng
cá biệt, tìm ra quy luật phổ biến) làm chuẩn mực Kant nói đến quan năng và tài năng là tố chất bẩm sinh của tâm thức Trong các quan năng của tâm thức
góp phần tạo nên tài năng là Hồn (Duyên) Kant quan tâm đến sự biểu cảm
của tác phẩm NT và coi: “…các ngành mỹ thuật nhất thiết phải được xem như
là các ngành nghệ thuật của tài năng thiên bẩm” [46, tr.202] Ông cũng đồng
thời đề cao giá trị của tính trường quy, tức là tri thức, học thuật của nghệ sĩ
Trong Mỹ học [32] của Friedrich Hegel (1770-1831) cho là hứng thú
tinh thần xác lập nội dung NT và quy định luôn cả hình thức của nó Các phân tích của Hegel nói rất nhiều đến yếu tố cảm quan trong NT: “Nghệ thuật không có sứ mạng nào ngoài việc làm cho tri giác cảm quan nhận thấy được cái chân thực như nó tồn tại trong tinh thần,…” [32, tr.589] Ông cũng nói về
Trang 15yếu tố nội tâm trong hội hoạ với quan điểm: “Hội hoạ biến cái dung mạo bên ngoài thành sự biểu hiện toàn vẹn để biểu hiện đời sống nội tâm” [32, tr.591] Hegel cho rằng, nguyên lý chủ yếu của hội họa là cái tính chủ thể bên trong
và sinh động với tình cảm Chẳng hạn dưới quan điểm nội tâm thì tình cảm thầm kín của HS trong tác phẩm là: “…chính tâm hồn của nghệ sĩ đã bộc lộ cho chúng ta thấy không phải một sự tái hiện đơn thuần của sự vật; chính nghệ sĩ bộc lộ tâm hồn của mình và cái cảm hứng thầm kín nhất của tâm hồn mình” [32, tr.737] Về đặc trưng của hội hoạ, Hegel nêu ra ba vấn đề là nội dung, chất liệu và loại (sự khác nhau về quan niệm và cách thể hiện) ông lập luận các vấn đề cơ bản theo trục nội tâm và tình cảm của HS:
Phạm vi của hội hoạ, đó là mặt nội tâm của tình cảm nói chung, trong tính chất đa dạng của nó, và để thể hiện nội tâm ấy, cần phải nêu lên những trường hợp, những quan hệ, những hoàn cảnh, không những để giải thích tính cách cá nhân, mà hội hoạ còn có nhiệm vụ nêu lên tính độc đáo với tâm hồn và diện mạo của con người, xem đó là một cái đã được thể hiện hoàn toàn ra hình thức bên ngoài [32, tr 747]
Tóm lại, các phân tích của Hegel đề cập nhiều đến yếu tố cảm quan, yếu
tố nội tâm trong hội hoạ, đánh giá về hội hoạ của một số danh hoạ nổi tiếng
với những góc nhìn về thời đại và đặc biệt là ảnh hưởng của yếu tố tôn giáo, yếu tố lịch sử thời đại, yếu tố địa văn hoá Ông muốn chứng minh về sự biểu
lộ được tính toàn vẹn của yếu tố bên trong (nội cảm nội tâm) ra hình thức bên
ngoài (trên tác phẩm hội hoạ)
Mỹ học [18] của Diderot (1713-1784), phần Tùy bút về hội họa Mặc dù
coi NT có dạng bắt chước , mô phỏng tự nhiên, nhưng những biện luận của Diderot lại cho thấy ông rất quan tâm đến cái hồn của tác phẩm hội họa Về động lực và hành vi sáng tác, Diderot đã miêu tả hình ảnh anh HS đang say
mê trong miền cảm hứng NT của mình, vai trò thể chất của người HS và mối
Trang 16quan hệ giữa tính cách và biểu hiện NT Trong sự đánh giá quá trình thể hiện
tác phẩm hội họa, ông viết: “…tùy theo hào hứng hay lý trí chiếm ưu thắng, nghệ sĩ sẽ ngông cuồng hoặc là nguội lạnh” [18, tr.195]
Trong cuốn Về Văn học và Nghệ thuật [61], Mác đã coi văn học, NT là
một hình thái ý thức đặc thù có khả năng tác động đến lý trí và khả năng tác
động trực tiếp tới tâm hồn, tình cảm của con người Mỹ học Mác - Lênin đề
cao con người xã hội Về lý luận NT, Mác xác định có thể nghiên cứu về sáng tác NT bằng việc nghiên cứu về chủ thể sáng tạo NT, từ tình cảm, lý trí, trí tuệ
và tư tưởng đạo đức xã hội của nghê ̣ sĩ Trong Nguyên lý mỹ học Mác - Lênin
có viết: “…muốn thấu hiểu được cảm hứng đầy nhiệt tình trong sự nghiệp sáng tạo của họ, điều hết sức trọng yếu là phải nghiên cứu thế giới quan cá nhân của họ, và nghiên cứu xem cá tính này đã in dấu vết vào cơ cấu hình
tượng như thế nào” [120, tr.51]
Triết học hiện sinh [23] là triết học về con người, quan niệm con người với
chủ thể tính và tự do tính Ở góc độ này, chủ nghĩa hiện sinh trong triết học đã cung cấp một quan điểm hướng về nghiên cứu con người Cái mà hiện sinh đã nhắc tới - nhân học, là một điểm tự a để nghiên cứu về người HS trong hoạt động sáng tác hội hoạ, tìm hiểu về phong cách cá nhân tuyệt đối, không lặp lại, là chỗ dựa khá vững chắc trong khi nghiên cứu về yếu tố cá nhân cá biệt của người hoạ sĩ được biểu hiện trên tác phẩm
Mỹ học [17] của Denis Huisman, trong đó NCS có sự quan tâm đặc biệt đến thuật ngữ cái thần của ông vì tác giả cho rằng nó là phẩm chất bắt buộc để
một tác phẩm hội hoạ chuyển tải thông điệp tình cảm của hoạ sĩ Nói về sáng tác, tác giả viết “Muốn tạo ra một tác phẩm khả dĩ có giá trị, không thể bỏ qua nhân tố đầu tiên là “cảm hứng”“ [17, tr.119]
Phân tâm học của Sigmund Freud (1856-1939) qua các tác phẩm
Nghiên cứu phân tâm học [24] và Phân tâm học và văn học nghê ̣ thuật [25]
Trang 17và một số công trình khác về vô thức cũng như là tiềm thức trong sáng tạo Quan niệm của Freud về tác phẩm NT rất coi trọng yếu tố tinh thần Nó thể hiện qua nội dung, hình thức mà biểu hiện những ý đồ của người nghệ sĩ:
“Chính tác phẩm phải được phân tích nếu nó biểu đạt, hữu hiệu đối với
chúng ta, những ý đồ và xúc động của nhà nghệ sĩ” [25, tr.23] Ông đặc
biệt quan tâm đến cái vô thức trong sáng tác NT, đề ra thuyết libido và đã dùng để phân tích tác phẩm của một số danh họa thế giới Về cơ bản, ông
đã phân tích thấu lý về mối liên hệ giữa tác phẩm và nội tâm cũng như cái
vô thức tiềm tàng của HS qua dẫn chứng về các danh họa nổi tiếng thế giới Đặc biệt là sự quan tâm của ông đến Leonado da Vinci và yếu tố mà ông gọi là huyễn tưởng cũng như cái libido của HS Các vấn đề vô thức của Freud có thể lý giải trạng thái cảm hứng có tính chất bị động /vô thức của
HS trong sáng tác hội họa
Những cảm xúc của người của Carroll E Izard [9] là công trình tâm lý
học cơ bản, nghiên cứu về cảm xúc của người Cuốn sách đề cập đến việc các xúc động và ý thức theo thuyết cảm xúc phân hoá và thuyết phân tâm: “về bản chất đích thực của mình, cảm xúc là một hiện tượng của ý thức” [9, tr.156] Về cảm hứng, sách có đoạn: “… Một nhân cách sáng tạo, trong trạng thái cảm hứng, hoàn toàn mất đi cả quá khứ lẫn tương lai, và chỉ sống với thời điểm hiện tại, nó hoàn toàn đắm mình trong đối tượng, bị tình huống hiện tại, đang diễn ra ở đây và ngay bây giờ, bị đối tượng công việc của mình làm cho say
mê, đắm đuối” [9, tr.206]
Tâm lý học nghệ thuật [127] của Vưgốtxki (Vygotsky) là cuốn sách có
tính chất lý luận sâu sắc từ lý thuyết của tâm lý học cho lý luận NT, coi trọng vai trò của cảm xúc trong NT Ông cho rằng từ quan điểm của phân tâm học của Freud có thể hình dung đầy đủ hơn vai trò quan trọng của vô thức trong
sự sáng tạo NT, không phải là sự biểu hiện của cái vô thức mà là sự giải quyết
Trang 18xã hội cái vô thức trong sáng tác NT Vưgốtxki đã cho thấy, NT là một tổng thể các ký hiệu thẩm mỹ nhằm khêu gợi cảm xúc ở con người, coi đó là chức năng chính của NT
Tâm lý văn nghệ [103] của Chu Quang Tiềm là một cuốn sách dùng
tâm lý học để giải quyết vấn đề mỹ học cho nên các phân tích trong cuốn sách này cung cấp hệ thống nguyên lý, lý thuyết căn bản về NT cho công việc sáng tạo cũng như thưởng ngoạn tác phẩm NT Chu Quang Tiềm cho
là sáng tạo NT là công việc rất hao phí tâm lực, nhưng nhiều nghệ sĩ chân chính theo đuổi suốt đời “Nguyên do chỉ vì nghệ thuật là một thứ nhu cầu tình cảm, Nghệ thuật gia chân chính dường như bao giờ cũng chứa chất trong tâm tư những nỗi niềm khổ sở không nói ra được” [103, tr.307] Tác
giả cho rằng linh cảm – (nguyên bản dịch (Inspiration)) được hiểu như là cao hứng – cảm hứng đến cao độ, là một trạng thái tâm lý không thể kiểm
soát Chu Quang Tiềm đề cập đến tiềm thức như là mô ̣t tiền chất cho sáng tạo Ông cũng cho là người nghệ sĩ vẫn cần có một hoàn cảnh để cảm
hứng có thể đến
Lao động nhà văn [131] của A Xâytlin (Xaytlin) nghiên cứu về quá trình
sáng tác của nhà văn Tác giả phản bác lại luận điểm cho rằng quá trình sáng tác
là nhờ cảm hứng mà không liên quan đến các tư chất khác của người nghệ sĩ, phản bác lại những ý kiến cho rằng không thể nghiên cứu về quá trình sáng tác
vì nó là không giải thích được và phi lý tính Theo ông, có được những kiệt tác
NT là bởi những cố gắng sáng tạo căng thẳng, cho rằng lao động là cơ sở của sự
xuất hiện cảm hứng Ông không quan tâm tới việc phân tích các ý đồ sáng tác
mà là cái gì đã nảy sinh ra ý đồ đó, mức độ năng khiếu, trình độ văn hoá, kinh nghiệm sống đã tích luỹ và thế giới quan của nhà văn Xâytlin viết: “Quá trình
cảm hứng cho đến nay vẫn là một trong những giai đoạn “tối tăm” nhất và chưa được nghiên cứu của sáng tạo nghệ thuật” [131, tr.178]
Trang 19Trong cuốn Tâm lý học sáng tạo văn học [2] của M Arnauđốp
(Arnaudov), các nghiên cứu của tác giả đã cung cấp dường như đầy đủ một hệ thống các yếu tố bên trong của người nghệ sĩ , cái làm nên phẩm chất của họ với tư cách là một cá nhân xuất chúng Ở chương Vô ý thức, tác giả đã chỉ ra những chứng cứ thuyết phục qua các ghi chép và công bố của những nghệ sĩ thiên tài trên thế giới Tác giả khẳng định: “Nhất thiết phải có sức mạnh của trí tuệ và ý chí để sắp xếp cho cân đối và sử dụng các thành quả của cảm hứng” [2, tr.587]
Dẫn luận nghiên cứu văn học [78] của G.N Pospelov, trong đó có cả
mô ̣t chương bàn về cảm hứng (pathos) của nghệ sĩ và các biến thể của nó , dạng như : cảm hứng anh hùng , cảm hứng bi kịc h, cảm hứng kịch tính , hay cảm hứng thương cảm và cảm hứng lãng mạn , hoă ̣c là cảm hứng châm biếm
và cảm hứng hài hước Đây là mô ̣t cách nghiên cứu về cảm hứng k há phổ biến từ trước đến nay , đem đến nhiều tham chiếu cho NCS
Tinh hoa ly ́ luận văn học cổ điển Trung Quốc [60] của Phương Lựu, hê ̣
thống các quan niê ̣m phương đông về cảm hứng nghê ̣ thuâ ̣t hướng đến đa ̣o và thiền, cảm quan tiến gần đến vô thức Các công bố ở đây cho thấy nhiều cách
lý giải về NT dựa trên cảm tính mà rất hữu hiệu Mỗi quan điểm về NT như vậy đều xuất phát từ biểu hiện kinh nghiệm xúc cảm mà sinh ra luận thuyết Tài liệu này lý giải nhiều vấn đề về cái hư vô/vô thức
Cơ cấu trí khôn [34] của Howard Gardner (sinh 1943) với lý thuyết đa trí
tuệ (Multiple intelligences), cho rằng có 7 loại hình thông minh, trong đó NCS quan tâm đến loại trí khôn không gian với những phân tích của tác giả về năng lực trí tuệ của các HS
Ngoài những tài liệu có tính đại diện trên, còn một số các công trình khác đã
được NCS nghiên cứu như: Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học [47] của M.B Khrapchenkô; Hình thái học của nghệ thuật [8] của M.Cagan;
Trang 20Phân tâm học và phê bình văn học [110] của Liễu Trương; Từ hứng thú đến tài năng [132] của L.X Xôlôvâytrich và rất nhiều tài liê ̣u khác
Qua việc hệ thống tài liệu có thể thấy rằng, các công trình kể trên đều không thuộc phạm vi lý luận hội họa nhưng chính là tiền đề cho việc xây dựng một hướng nghiên cứu liên ngành, đã có những nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề cảm hứng và CHNT Các hướng nghiên cứu đều nhìn ở khía cạnh tác động ở ngoại cảnh vào tình cảm của nghệ sĩ mà sinh ra chủ đề, nội dung NT Cũng đã có những
đề cập đến các yếu tố nội sinh như: năng khiếu, biểu hiện của xúc cảm tình cảm, nội tâm, tiềm thức và vô thức của chủ thể sáng tác NT, nhưng chưa đặt nó trong quan hệ với CHNT Chưa có tài liệu nào đề cập đến vấn đề CHNT theo hướng nghiên cứu về quá trình sáng tác NT thông qua biểu hiện tâm lý sáng tác để truy xét về nguồn gốc và hiệu quả của các CHNT ấy
7.2 Như ̃ng công trình nghiên cứu trong lĩnh vực mỹ thuật
Cuốn Về cái tinh thần trong nghệ thuật [42] của Kandinsky là một cuốn
sách hiếm hoi, gần nhất với đề tài luận án, đề cập trực tiếp đến vấn đề tinh thần trong sáng tác hội họa Cuốn sách từng được nhiều đánh giá coi là một trong số
ít những cuốn sách lý thuyết quan trọng nhất trong lịch sử NT thế giới Với lý thuyết về NT của Kandinsky, câu chuyện về cái tinh thần trong tác phẩm hội
họa, được ông coi là Lý thuyết hòa âm cho ngành hội họa, là kết quả của sự
quan sát và trải nghiệm nội tâm của ông, cùng với nền tảng triết học NT mà ông có Do các vấn đề của cuốn sách có một ý nghĩa đặc biệt với đề tài nên NCS sẽ lưu ý kỹ hơn Cái tinh thần mà ông nói là toàn bộ những gì toát lên ở bức tranh, sau khi nó đi từ bên trong HS để ghi dấu vào tác phẩm NT Kandinsky phê phán sự hời hợt, mô phỏng tự nhiên Ông cho là, ngay cả khi
HS có thể miêu tả các hiện tượng tự nhiên một cách đầy tính NT thì cũng không thể lấy nó làm mục đích, mà phải qua đó biểu lộ cái nội tâm của mình Kandinsky đã lý giải về NT hội họa, các yếu tố ngôn ngữ hình và màu, xác
Trang 21định cái tác động của nó đến cảm thức của người xem Ông coi đó là việc HS phải làm đến cùng, thậm chí loại trừ cả những quy tắc để đạt được cái sự sống bên trong của bức tranh Ông viết: “…, trên thực tế, một bức tranh không được “vẽ tốt” khi nó là đúng đậm nhạt …, hoặc nó được phân bố nóng và lạnh bằng một cách nào đó gần như là khoa học, mà trái lại, bức tranh được vẽ tốt khi về bên trong nó hoàn toàn sống” [42, tr.133,134] Ông cho là không phải quan tâm đến việc, liệu một hình vẽ có mâu thuẫn với giải phẫu học, thực vật học hay bất cứ một môn khoa học nào hay không, ý ông là đẹp chứ không phải đúng Với màu sắc, Kandinsky cho là chỉ khi những cảm giác sâu hơn, tạo ra những trải nghiệm tâm lý thì mới đem lại ấn tượng thị giác Khi tác phẩm ở mức phát triển cao hơn, những đối tượng và thực thể sẽ nhận được
một giá trị nội tại, và cuối cùng là một âm vọng nội tâm Về mặt bản năng,
ông đồng tình việc, một số người có vị thế cao về mặt trí tuệ dễ đi đến sự biểu cảm hơn: “…chính ở những người phát triển ở bậc cao thì những con đường dẫn tới tâm hồn là trực tiếp nên những ấn tượng của họ đạt đến nơi rất nhanh,…” [ 42, tr.66] Ông viết rằng, màu sắc là phương tiện ảnh hưởng trực tiếp đến tinh thần, tức là tâm hồn con người và là nguyên lý của sự thiết yếu bên trong Cái nguyên lý xuất hiện sự thiết yếu bên trong ấy là bởi ba yếu tố: yếu tố cá tính, yếu tố phong cách trong giá trị bên trong, cấu thành từ ngôn ngữ thời đại và ngôn ngữ dân tộc, yếu tố mang tính NT thuần khiết và vĩnh cửu Những yếu tố ấy đi xuyên qua tất cả mọi người, mọi dân tộc, mọi thời đại Mỗi thực thể đều có đời sống riêng, liên tục tác động (tâm lý) đến chúng
ta “Nhiều kết quả của chính tác động tâm lý ấy được giữ lại trong “tiềm thức” Nhiều tác động tâm lý dâng lên cấp độ “siêu ý thức”“ [42, tr.76] Câu chuyện về NT và thời đại, NT và hình thức (kỹ xảo), NT và cái âm vọng nội
tâm được giải quyết chỉ với mệnh đề thế nào đây? và cái gì đây? Kandinsky
chú trọng vào yếu tố bên trong của NT (đặc tính nội ẩn của đối tượng), chứ
Trang 22không phải là hình thức bên ngoài Những thuật ngữ thường xuyên được
xướng lên như âm vọng nội tâm, linh hồn, rung động tâm lý và cảm hứng đã
cho thấy nội dung của cuốn sách này đi thẳng vào cái bên trong của NT, đúng hơn, là cái bên trong của HS Như vậy Kandinsky là người đầu tiên giải quyết vấn đề lý luận thuần nhất về hội họa, theo hướng chú trọng vào trạng thái tinh thần bên trong của HS
Câu chuyện nghệ thuật [29] của E.H Gombrich là một cuốn sách về lịch
sử NT Nhưng trong nội dung phân tích, tác giả đã chỉ ra những lý do khiến cho NT (hội họa) thay đổi về phong cách hay quan niệm Tác giả đã chỉ ra những điều đáng nói nhất về việc cái gì đã khiến cho HS vẽ bức tranh này hay bức tranh kia Chẳng hạn, lòng tin, tín ngưỡng trong NT tiền sử là cảm hứng , tiền đề của sự sống động cho những bức vẽ trong hang động Hay những nguồn cảm hứng từ chủ đề kinh thánh đã là cảm hứng xuyên suốt thời gian dài cho đến khi hội họa Ấn tượng ra đời Cũng có những nguồn cảm hứng tồn tại song song khác nữa, ví như việc mong muốn giải quyết hiệu quả triệt để trên bức tranh đã thôi thúc việc tìm ra chất liệu sơn dầu chậm khô, hoặc nhu cầu về chiều sâu trong tranh đã khiến hội họa Phục Hưng tìm ra luật viễn cận
Ở đó nổi bật vai trò sự phấn khích về tinh thần của người HS
Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20 [81] của Nguyễn Quân, là một cuốn sách có
nhiều vấn đề cần tham khảo bởi nó không thuần tuý là hệ thống lịch sử mỹ thuật, cũng không phải là cuốn sách về lý luận phê bình Cách đặt vấn đề có
tính gợi mở tư duy cho người đọc, chẳng hạn như: Tình Việt ở lụa; Hồn Việt ở
sơn mài; Cái tôi tự do và chủ nghĩa cá nhân; Cảm hứng tự hào, tình cảm tưởng niệm, là những đề mục nghiên cứu mà tác giả đã chủ trương nhìn nhận
về vấn đề lý luận mỹ thuật Tác giả cho là các HS luôn có những mạch ngầm của thẩm mỹ dân tộc , chủ nghĩa yêu nước đặc trưng của người Việt Vấn đề
mô hình nghệ sĩ vừa là chiến sĩ vừa là cán bộ mà Nguyễn Quân đề cập là một
Trang 23cách tiếp cận bình luận mỹ thuật nghiêng về yếu tố hoàn cảnh xã hô ̣i Ở đó tồn tại một thực tế là người HS có thân phận của người vừa phản ánh lịch sử thời đại, lại vừa hưởng những nguồn cảm hứng dân tộc rất mạnh mẽ ở đương thời Đó là một trong những yếu tố tác động mạnh mẽ đến CHNT Yếu tố ấy
đã sản sinh ra hàng loạt những tác phẩm hội họa nổi tiếng như Hà Nội 1946 của Bùi Xuân Phái; Hào của Dương Bích Liên hay Kết nạp Đảng ở Điện biên Phủ của Nguyễn Sáng
Một số tài liệu về mỹ thuật Việt Nam như ba cuốn kỷ yếu hội thảo về
mỹ thuật: Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20 [112]; Nghệ thuật Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa [113]; Những vấn đề mỹ thuật Việt Nam hiện đại [36]
Nhiều bài báo viết về cá c vấn đề lý luận mỹ thuật và lịch sử mỹ thuật nhưng không thấy bàn đến CHNT của HS
Với hội họa Việt Nam đương đại , chỉ có một số công trình về mỹ thuật đương đại nói chung và hầu như quan tâm đến các loại hình mới trong mỹ thuật với một phạm vi rộng hơn Các nghiên cứu thường được đặt với tên là nghệ thuật thị giác và danh xưng là các nghệ sĩ thị giác Có thể kể đến một số
cuốn sách giới thiệu về mỹ thuật đương đại như Nghệ thuật đương đại Việt Nam 1990-2010 của Bùi Như Hương và Phạm Trung; 12 nghệ sĩ mỹ thuật đương đại Việt Nam và Nghệ thuật và tài năng [107] của Đào Mai Trang Đây
là những cuốn sách đề cập trực tiếp đến mỹ thuật đương đại ở Việt Nam , trong đó chủ yếu là giới thiệu và nhận định phong cách sáng tác của các HS,
đề cập đến NT đương đại ở nhiều mặt
Ngoài ra có một số các tài liệu khác có đề cập đến vấn đề cảm hứng của
người HS một cách gián tiếp Có thể kể đến các nguồn tài liệu như: Những nền tảng của mỹ thuật [73] của Ocvirk do Lê Thành dịch , là một công trình nghiên cứu lý luận dựa trên cơ sở hệ thống ngôn ngữ tạo hình; Thưởng ngoạn hội hoạ [16] của David Piper; Viết dưới ánh đèn dầu [77] của Bùi Xuân Phái;
Trang 24Ngôn ngữ của hình và màu sắc [80] và Ghi chú về nghệ thuật [79] của Nguyễn Quân, hay Hình thể và không gian [41] của Jênuê Barotray; mô ̣t số
tài liệu về các chủ nghĩa, trường phái hô ̣i ho ̣a sau hô ̣i ho ̣a Ấn tượng và một số tài liệu khác viết về các danh ho ̣a
Các tài liệu ở mảng mỹ thuật vừa hệ thống đã có những đề cập khá gần với hướng nghiên cứu của NCS Tuy nhiên chưa có một hệ thống lý luận hay phương pháp phân loại, gọi tên về các biểu hiện ấy như một dạng CHNT
7.3 Một số kết luận rút ra sau khi hệ thống các công trình
Về góc độ lý luận và nhận thức các học thuyết triết ho ̣c đều đã làm sáng
tỏ rằng, bản chất của sáng tạo NT có thể giải thích được với hệ thống các đối chứng và phân tích Trong khi học thuyết từ Aristotle nói về vai trò của cá nhân độc đáo, yếu tố thiên bẩm và sự thần thánh hóa cảm hứng, thì triết học
cổ điển với Kant và Hegel đã lưu ý NCS về quan hệ giữa cảm hứng với tính cách và tâm hồn của nghệ sĩ , quan tâm đến trí tuệ và năng khiếu bẩm sinh Phân tâm học của Freud trú trọng vấn đề tiềm thức và vô thức cũng như vai trò của nó đối với sáng tác NT Chủ nghĩa hiện sinh với sự đề cao nhân vị Chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử không chỉ khẳng định cái bản chất xã hội của người nghệ sĩ mà còn xác lập về sự xuất hiện trạng thái cảm hứng luôn gắn liền với điều kiện lao động và tri thức Các hướng nghiên cứu
về cảm hứng (Inspiration/pathos) mới chỉ đề cập nó trong mối quan hệ với chủ đề tư tưởng của tác phẩm NT chứ chưa đi vào nghiên cứu bên trong biểu hiện tâm lý của nghệ sĩ trong quá trình sáng tác, nhất là vấn đề vô thức
Về góc độ phương pháp luận các công trình về tâm lý học sáng tạo và
tâm lý học NT, giúp NCS hiểu về các yếu tố tâm lý của người nghệ sĩ đối với công việc sáng tác NT, mối quan hệ giữa cảm hứng với các yếu tố nội tâm, tiềm thức, trình độ học vấn và năng lực tinh thần, vai trò của bản năng và năng khiếu , cho thấy CHNT là một trong những yếu tố rất đặc biệt
Trang 25trong hoạt động sáng tạo NT, quyết định đến giá trị NT của tác phẩm Đây là các vấn đề có tính liên ngành áp dụng được cho lý luận hội họa Chưa có tài liệu nào nghiên cứu lý luận hội họa qua yếu tố CHNT
Về vấn đề xác định, phân loại CHNT trong sáng tác hội họa, trên thực
tế, đã thấy một số cách phân loại về CHNT Tuy nhiên chưa có công trình nào xác định và phân loại CHNT như của NCS Các dạng CHNT được chỉ ra trong đề tài này dựa theo mối quan hệ sáng tác hội họa giữa một bên là HS, một bên là các yếu tố liên quan trực tiếp như hiện thực, chất liệu, ngôn ngữ hội họa, tác phẩm, có trạng thái cảm hứng ở thể chủ động
và bị động Đây là một cách tiếp cận mà theo NCS sẽ đem lại những góc nhìn mới có chiều sâu về CHNT
8 Bố cục của đề tài luận án
Ngoài phần Mở đầu (19 trang), Kết luận (3 trang), Tài liệu tham khảo (11 trang) và Phụ lục (55 trang) Nội dung chính được chia làm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về CHNT trong sáng tác hội họa (32 trang);
Chương 2: Tác nhân khơi nguồn CHNT trong sáng tác hội hoạ (27 trang) Chương 3: Nhận diện CHNT trong sáng tác hô ̣i ho ̣a (33 trang)
Chương 4: Hiệu quả của CHNT trong hội họa (31 trang)
Trang 26NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT
TRONG SÁNG TÁC HỘI HỌA 1.1 Khái niệm Cảm hứng nghệ thuật
Để hệ thống những khái niệm về cảm hứng và CHNT, các ý kiến, quan
điểm nhận định về vấn đề này của giới nghệ sĩ và các học giả, NCS đã nghiên cứu nhiều tài liệu khoa học bao gồm các công trình nghiên cứu lý luận NT, lý luận văn học, các cuốn từ điển và một số luận án tiến sĩ Ngữ văn có bàn trực
tiếp đến vấn đề cảm hứng và CHNT Có một thực tế là khi bàn về CHNT, các
công trình nghiên cứu dường như chỉ sử dụng thuật ngữ cảm hứng Sau là
việc sử dụng thuật ngữ CHNT với tính chất là cảm hứng của người nghệ sĩ
trong một lĩnh vực NT cụ thể
1.1.1 Giới thuyết về Cảm hứng nghệ thuật
Từ điển Triết học [68] viết:
Cảm hứng – Trạng thái của con người, đặc biệt thuận lợi đối với các loại hoạt động sáng tạo Đặc điểm của cảm hứng là sự tập trung hoàn toàn tất cả sức lực tinh thần của con người vào đối tượng sáng tác, là sự cao hứng (hào hứng sáng tạo, hăng say sáng tác), do đó, lao động trở nên đặc biệt có năng suất cao [68, tr.70]
Từ điển tiếng Việt thông dụng [135] viết về cảm hứng với nghĩa động
từ là “dâng trào những cảm xúc, thúc đẩy óc tưởng tượng, sáng tạo hoạt động
có hiệu quả”, với nghĩa danh từ là “Trạng thái cảm hứng” [135, tr.142]
Trong Từ điển bách khoa Văn hóa học [84], cảm hứng được cho là một
“trạng thái sung mãn năng lượng sáng tạo trong khi tiến hành một hoạt động nào đó Trạng thái đó thường xuất hiện trong những tình huống khi nghệ sĩ,
…cảm thấy xúc cảm của mình được huy động và cứ thế mà đi, hướng tới
Trang 27những bậc thang ngày càng cao trong Thế giới văn hoá” mà khi đã đi vào trạng thái này thì “xúc cảm và tư duy của nghệ sỹ hoặc nhà hoạt động văn hóa tràn đến từ các sự vật rồi vượt ra khỏi ranh giới các sự vật đó” Năng lượng sáng tạo đó các nhà Văn hoá học gọi là “cảm hứng” nhà Thần học gọi đó là
“chúa Trời ban phước” [84, tr.74]
Từ điển tiếng Việt [57], viết với nghĩa động từ là “Dâng trào cảm xúc,
thúc đẩy óc tưởng tượng, sáng tạo, hoạt động có hiệu quả: đang cảm hứng thì tranh thủ làm việc” Nghĩa danh từ là “Trạng thái cảm hứng: cảm hứng tràn đầy, cảm hứng uống rượu, lấy chút cảm hứng làm thơ” [57, tr.84]
Trong từ điển thuật ngữ Văn học [70], cảm hứng được cho là “trạng
thái tình cảm mãnh liệt, say đắm, xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm” [70, tr.39]
Một số định nghĩa về CHNT của các nhà nghiên cứu và nghệ sĩ đã được dẫn trong phần tổng quan của NCS Trong đó Hegel dành cả một phần nghiên cứu về cảm hứng, ông viết: “Hoạt động của hư cấu và sự hoàn thành về mặt kỹ thuật xét ở bản thân nó với tính cách trạng thái tâm hồn của nghệ sĩ, làm thành điểm thứ ba tức là cái người ta vẫn thường gọi là cảm hứng” [32, tr.297], cảm hứng ở đây là trạng thái tâm hồn của nghệ sĩ Trong mặt biểu hiện NT “…cảm hứng chính là cái trạng thái hoạt động tích cực ở trong thế giới bên trong cũng như trong việc thể hiện khách quan một tác phẩm nghệ thuật, bởi vì cảm hứng là cần thiết đối với cả hai hoạt động này” [32, tr.298]
Puskin nói: “Cảm hứng là tâm trạng hướng tới sự tiếp nhận sinh động nhất của xúc cảm, và tiếp đấy tới sự thấu hiểu nhanh chóng bằng khái niệm,
… Cảm hứng có liên hệ hữu cơ với “sức mạnh của trí tuệ”, nó chính là một hành động tư duy nghệ thuật” [131, tr.180] Đây là sự khẳng định mối liên hệ
Trang 28giữa cảm hứng và trí tuệ Đồng thời Pushkin cho là: “Những nhà phê bình thường hay lẫn lộn cảm hứng với niềm phấn khởi” [76, tr.62]
Trong cuốn Dẫn luận nghiên cứu V ăn học [78] do G.N Pospelov chủ
biên, E.G Rudneva viết: “ Ngay các triết gia cổ Hi L ạp, và sau này là Hegel
và Belinsky đều đã dùng từ “cảm hứng” (tiếng Hi La ̣p cổ : pathos – mô ̣t tình
cảm sâu sắc nồng nàn) để chỉ trạng thái phấn hứng cao độ của nhà văn do việc chiếm lĩnh được bản chất của cuô ̣c sống mà ho ̣ miêu tả ” [78, tâ ̣p 1, tr.168]
Cũng chung quan điểm của Pospelov, khi nghiên cứu về Pathos – cảm hứng
các sáng tác của Puskin , Belinski đã cho rằng cảm hứng là có cái gì đó thúc đẩy nghê ̣ sĩ, mô ̣t sức ma ̣nh ghê gớm nà o đó, mô ̣t du ̣c vo ̣ng sống đô ̣ng không thể cưỡng la ̣i, như những xúc cảm tràn dâng trong máu
Pauxtốpxki (Paustovsky) cho là: “Cảm hứng là một trạng thái lao động nghiêm túc của con người” [76, tr.62] hay “Đó là sự cao hứng của tâm hồn, sự thoải mái, sự tiếp nhận hiện thực một cách sinh động, khi trong người tràn đầy ý nghĩ và tri thức về sức mạnh sáng tạo của mình” [76, tr.63] Ông cũng
sử dụng từ Thần hứng để nói về dạng cảm hứng cao độ
Tuốcghênhiép (Turgenev) gọi cảm hứng là “sự thần khởi của con người nhờ ý nghĩ và tình cảm” và “Nó chính là sự bất thần chợt thấy rõ điều ta có thể thực hiện” [76, tr.64]
Arnauđốp cho rằng “Nếu có một sự tập trung chú ý bên trong như vậy
…, nếu trong lúc này có dừng lại hay giảm sút sự kiểm soát của trung khu thần kinh đối với hoạt động của các giác quan mà nhờ chúng sự kích thích được dấy nên bởi các hình ảnh ấy đã đến được, thì chúng ta coi đó là “cảm hứng”, một trạng thái gần với sự mê ly” [2, tr.426]
Trong cuốn Mỹ học cơ ba ̉n và nâng cao [74] M.F Ốpxianhicốp (Opshianhikov) viết: “Giai đoạn chủ yếu nhất của sáng tạo nghệ thuật là cảm hứng Cảm hứng là sự căng thẳng cao nhất cả những sức mạnh tinh thần lẫn
Trang 29thể chất P.I Traicốpxki (Tchaikovsky) nói: “cảm hứng là trạng thái khi con người làm việc hết sức mình như trâu ngựa…”“ [74, tr.300; 75, tr.273] Đó là
sự thống nhất các khía cạnh tình cảm và trí tuệ trong nhân cách của nghệ sĩ, không phải là kết quả của sự bừng sáng bất thần, mà là bước nhảy vọt về chất
trên cơ sở những biến đổi về lượng trong con người nghệ sĩ, là sự căng thẳng tối đa những sức mạnh thể chất và tinh thần, cảm hứng đồng thời là điều kiện
cần về phương diện tâm lý học để nghệ sĩ hiện thực hóa những quan niệm thẩm mỹ của mình
Các giới thuyết về cảm hứng trong sáng tác NT đã dẫn trên đây có thể được tóm lại thành một số ý cơ bản như sau:
- Cảm hứng là trạng thái tâm lý tình cảm của người, xảy ra do các tác động ngoại cảnh và nội sinh
- Cảm hứng là trạng thái tinh thần với mức độ căng thẳng cao nhất gồm
cả những sức mạnh tinh thần lẫn thể chất
- Cảm hứng là trạng thái sung mãn năng lượng sáng tạo của con người, đặc biệt thuận lợi đối với các loại hoạt động sáng tạo, mang lại sự tiếp nhận sinh động nhất của xúc cảm, và tới sự thấu hiểu nhanh chóng bằng khái niệm
- CHNT chính là trạng thái hoạt động tích cực ở trong thế giới bên trong của nghệ sĩ cũng như trong việc thể hiện khách quan một tác phẩm NT
- Cảm hứng nghệ thuật chính là một hành động tư duy NT và có mối liên hệ hữu cơ với sức mạnh của trí tuệ
1.1.2 Những quan điểm đánh giá về cảm hứng trong sáng tác nghệ thuật
Những thành quả nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội nói chung
và lý luận NT nói riêng đã có nhiều quan điểm đánh giá về CHNT Tựu trung đều đề cao vai trò của nó đối với quá trình sáng tác NT, coi CHNT là một yếu
tố khó làm chủ nhưng vô cùng quan trọng
Trang 30Bạch Cư Dị đời Đường , Trung Quốc quan niê ̣m: “Đa ̣i phàm con người cảm xúc trước sự việc , tất sẽ xúc đô ̣ng trong tình cảm, rồi hứng lên ngâm nga
mà hình thành nên thơ ca vậy” [60, tr.159]
Arnauđốp đã đề cập nhiều đến cảm hứng, đánh giá nó dưới góc độ liên quan đến các hoạt động sáng tác NT, khẳng định vai trò của cảm hứng, đồng thời ông đánh giá cao vai trò của cảm hứng giống với tư tưởng của Goethe:
“Một tác phẩm được xây dựng theo cảm hứng bên trong một cách thoải mái
bao giờ cũng đặc biệt ánh lên, điều mà các sản phẩm của kỹ thuật lạnh lùng không có nổi” [2, tr.437] và đồng thời tác giả cũng nhìn nhận: “Nhất thiết phải có sức mạnh của trí tuệ và ý chí để sắp xếp cho cân đối và sử dụng các thành quả của cảm hứng” [2, tr.587] Song ông cho rằng, nghệ sĩ không được
tự do trong việc lựa chọn những giờ phút cảm hứng tới mà phải lao động hăng say để mong chờ cảm hứng ghé thăm
Chu Quang Tiềm cho rằng, sáng tạo NT phải căn cứ theo tình cảm – tài liệu cảm quan, nhưng khi sáng tác thì tình cảm không phải là tình cảm như chất liệu nữa mà nó phải là tình cảm thẩm mỹ được dấy lên ở một cấp độ rất mạnh, là sự khách quan hoá tình cảm chất liệu để trở thành ý tượng Cái tình cảm thẩm mỹ cao độ ấy như là “linh cảm – nguyên bản dịch” (Inspiration) [103, tr.310] (được hiểu như là cao hứng – cảm hứng đến cao độ Tác giả cho rằng linh cảm có hai đặc điểm quan trọng: “Một là nó xuất hiện thình lình Khi linh cảm xuất hiện chúng ta không sao tìm ra được những dấu vết của sự chuẩn bị, thường thường nó xuất hiện ngoài ý liệu của tác giả Những tác phẩm của linh cảm đa phần thành tựu rất mau lẹ” ông viết tiếp: “Điểm thứ hai linh cảm không có tính cách chủ động, khi mình trông mong nó lại, thì mãi không sao thấy, còn trong những lúc mình không chờ đợi thì thình lình nó lại xuất hiện” [103, tr.312] Khi nguồn linh cảm đến thì mọi thứ trong sáng tác
NT đều trở nên đơn giản Giá trị của những tác phẩm đến bằng trạng thái tinh
Trang 31thần này có giá trị cao hơn hẳn so với sự nắn nót của NT tạo thành Về tiềm thức đã được Chu Quang Tiềm đề cập “Cứ theo lý luận của các nhà tâm lý học cận đại, thì linh cảm là những gì đã thai nghén uẩn nhưỡng trong tiềm thức rồi đột nhiên hiện lên trong ý thức” [103, tr.313]
Cũng nói về cảm hứng, Xâytlin đã mở đầu rất gọn: “Hoạt động của tưởng tượng đưa lại những tài liệu hết sức quý giá cho quá trình sáng tác của nghệ sĩ, làm thức tỉnh trong nghệ sĩ những cảm hứng Và đến lượt mình, cảm hứng sau khi nảy sinh, lại tác động vào tưởng tượng, kích thích tưởng tượng tiến tới sự xây dựng những cấu hợp nghệ thuật mới” [131, tr.178] Trong quá trình nghiên cứu, Xâytlin đã quan tâm nhiều đến những điều mà các nghệ sĩ trải nghiệm và việc nêu quan điểm của họ, ví dụ trường hợp Traicốpxki nói:
“Chẳng tài nào có thể kể lại được cho ông về những khoảnh khắc ấy” còn Grigorôvich đã tự hỏi mình: “Thật vậy, giải thích thế nào đây cái quá trình đột nhiên choán lấy con người trong khi đang làm việc?” [131, tr.179]
Quan điểm của Tsécnưsépxki (Chernyshevsky) về việc xác định cảm hứng được ông viết: “Chúng ta không lẫn lộn sự thâm nhập tình cảm với cảm hứng Cảm hứng là một trạng thái đặc biệt thuận lợi của trí tưởng tượng sáng tạo” [115, tr.119]
Trong những bàn luận về cảm hứng, Pauxtốpxki cho là, “Cảm hứng
đi vào tâm hồn chúng ta như một buổi sáng mùa hạ rực rỡ mới rũ khỏi thân mình sương mù của một đêm yên ả, nhưng vẫn còn lại những hạt sương sớm với những bụi cây ẩm ướt Nó nhẹ nhàng thở cái tươi mát tốt lành vào mặt ta” và rồi: “Cảm hứng giống như mối tình đầu, khi tim ta rộn ràng cảm thấy trước những cuộc gặp gỡ ly kỳ,…” cho nên: “Lúc đó thế giới bên trong của chúng ta trở nên tinh tế và chuẩn xác như một cây đàn kỳ diệu, đáp lại mọi âm thanh của cuộc đời, kể cả những tiếng động thầm kín nhất, khó thấy nhất” [76, tr.63]
Trang 32Qua những dẫn chứng trên, có thể hệ thống lại một số quan niệm, đánh giá về cảm hứng trong sáng tác NT như sau:
- Cảm hứng trong sáng tác NT luôn gắn liền với trí tuệ, tài năng, năng khiếu của nghệ sĩ
- Cảm hứng trong sáng tác NT thường đến bất ngờ ngoài ý liệu của nghệ sĩ nhưng cần có những điều kiện để nó xuất hiện
- Cảm hứng trong sáng tác NT là một điều kiện tuyệt vời cho sáng tác NT
- Cảm hứng và tưởng tượng sáng tạo có quan hệ hai chiều, thúc đẩy nhau trong quá trình sáng tác NT
- Tác phẩm NT được sáng tác trong trạng thái cảm hứng thường xuất sắc hơn so với khi sáng tác bằng lý trí thông thường
1.2 Cảm hứng nghệ thuật trong hội họa
1.2.1 Khái niệm Cảm hứng nghệ thuật trong sáng tác hội họa
Như luận án đã đề cập, cảm hứng là một dạng của cảm xúc Cảm xúc còn có dạng tiêu cực như đau khổ, căm giận, kinh hoàng v.v và dạng tích cực như vui thích, hưng phấn, hứng thú v.v còn cảm hứng là chỉ trạng thái
tinh thần tích cực, có lợi cho hoạt động sáng tạo Trong cuốn Tâm lý học của
Trần Nhựt Tân có viết: “…hoạt động của trí tuệ có thể tăng mạnh lên vì cảm xúc Trí tưởng tượng được phấn khích đột ngột, cảm hứng hiện đến thay cho những cố gắng khô khan trước đó ” [88, tr.166] Vị trí của cảm hứng trong thang cảm xúc của người trong tâm lý học cho là nằm ở trong trạng thái hứng thú – hưng phấn, nó là một kết quả tích cực của cảm xúc CHNT ở đây có thể
là kết quả của quá trình tiếp nhận, xử lý dữ kiện từ bên ngoài (được ý thức) hoặc từ bên trong (thường là vô thức) của quá trình sáng tạo NT, góp phần tạo
ra các hiệu quả NT của tác phẩm ấy
Ở Việt Nam, việc sử dụng thuật ngữ thường có xu thế rút gọn từ theo thói quen khiến cho sự giải thích về ý nghĩa phải phụ thuộc vào bối cảnh, vào
Trang 33phạm vi nó được dùng Chẳng hạn, cảm hứng trong tâm lý học là nghiên cứu
về biểu hiện tâm lý, tâm trạng của người; CHNT trong sáng tác Văn học có khi được gọi là cảm hứng, cảm hứng chủ đạo, được gắn với chủ đề, nội dung,
NT ngôn từ, diễn tả Thực tế lý luận NT cho thấy, CHNT thực chất là cảm hứng của nghệ sĩ trong sáng tác một loại hình NT cụ thể và thường có liên quan trực tiếp đến các ngôn ngữ, thủ pháp của NT ấy
Mỹ học Mác - Lênin coi cảm hứng của nghệ sĩ là sự huy động toàn bộ thể chất và năng lực của người nghệ sĩ trong quá trình sáng tác NT, là nhân tố chủ đạo tự nhiên của toàn bộ sáng tạo NT: “Cảm hứng với tư cách sự căng thẳng tối đa những sức mạnh thể chất và tinh thần là khâu kết thúc lao động
và đồng thời là điều kiện cần (về phương diện tâm lý học) để giải tỏa mâu thuẫn nội tại giữa các cảm xúc và trạng thái tinh thần tràn trề của nhà nghệ sĩ” [74, tr.275]
Qua các tài liệu đã nghiên cứu, NCS thấy rằng CHNT thường được gọi
là cảm hứng, là thuật ngữ dùng để nói về trạng thái tình cảm, tâm trạng xảy ra
bên trong con người nghệ sĩ trong sáng tạo NT, tác động đến quá trình tư duy
và sáng tác NT
Từ việc hệ thống các tài liệu và áp dụng vào lý luận hội họa, có thể nêu
ra khái niệm là: CHNT trong sáng tác hội họa là những trạng thái cảm xúc tích cực hay trạng thái tinh thần, tình cảm thẩm mỹ của HS xảy ra trong quá trình tư duy sáng tạo và hành động sáng tác hội họa Trạng thái tinh thần ấy tác động trực tiếp vào sự hình thành và biểu hiện các ngôn ngữ hội họa, góp phần lớn vào sự biểu cảm, tạo nên giá trị NT của tác phẩm hội họa
Trong hướng nghiên cứu của đề tài luận án, khi tiếp cận CHNT dưới góc
độ sự tác động của tâm lý, tình cảm của HS đến quá trình tư duy và sáng tác tranh, đề tài luận án muốn đi thẳng vào cái nguyên nhân xảy ra sự tác động tâm
lý ấy và sự liên quan đến ngôn ngữ hội họa Với cách tiếp cận này, cảm hứng nói
Trang 34chung được coi là một trạng thái tinh thần đặc biệt và hết sức quan trọng đối với hoạt động sáng tác của HS Dấu ấn của cảm hứng có thể thấy được bằng việc phân tích tác phẩm hội họa, dựa trên hệ thống lý luận của Mỹ thuật học
Riêng đối với hội họa, dấu ấn CHNT của HS thường là những biểu hiện
dễ thấy trên bút pháp, ví dụ những lối vẽ mạnh và phóng khoáng thường là dấu ấn của cảm hứng tác động vào hành động vẽ Hay những biểu hiện của hình thể quằn quại trên bức tranh là dấu ấn của cảm hứng từ tâm trạng Về thực tế lý luận và lịch sử hội họa Việt Nam, các biểu hiện của cảm hứng có thể gặp rất nhiều trong các tài liệu nghiên cứu lý luận hội họa đã công bố Theo đó những vấn đề lý luận được đặt dưới góc nhìn từ sự phân tích biểu hiện của ngôn ngữ, nhưng rõ ràng nó mang dấu ấn của CHNT Đơn cử trường hợp nói về sự biểu đạt tình Việt trong các tranh lụa của Nguyễn Phan Chánh,
phân tích về cái chân của anh công nhân động đậy trong tranh Công nhân cơ khí của Nguyễn Đỗ Cung, sự biểu hiện tâm trạng nhân vật trong tranh Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ và Giặc đốt làng tôi của Nguyễn Sáng, là những dấu
ấn của CHNT Trong một nghiên cứu đã công bố, NCS cho rằng đó là cảm hứng từ trí tuệ và tinh thần thôn quê Việt Nam, cảm hứng từ hiện thực cuộc sống, cảm hứng từ nhu cầu khám phá ngôn ngữ hội họa
1.2.2 Một số quan điểm đánh giá về Cảm hứng nghệ thuật trong sáng tác hội họa
Từ triết học cổ điển cho đến hiện đại, từ các công trình nghiên cứu mỹ học hay triết học NT, các triết gia tùy theo quan điểm mỹ học mà có những phương thức lý giải khác nhau về nguồn gốc và dấu ấn của cảm hứng đánh giá về CHNT trong sáng tác hội họa và ý nghĩa của nó đối với HS sĩ và tác phẩm hội họa thì cơ bản giống như nội dung về CHNT ở trên Song xét riêng với hội họa thì được đánh giá qua mấy nội dung là: có liên quan đến nội tâm của HS, như là trạng thái nhập thần, thăng hoa cảm xúc của HS khi cầm bút
Trang 35vẽ, có dạng cảm hứng với cái xấu xí, Đặc biệt là cảm hứng và vô thức hay trạng thái cảm hứng từ vô thức mà HS không nhận thấy NCS xin nêu một số dẫn chứng và biện luận sau đây
Ngay từ Aristotle, Kant đến Hegel đều đã đề cập đến tư chất đặc biệt của nghệ sĩ và yếu tố tinh thần của người nghệ sĩ, xác định vai trò của cảm hứng đối với sáng tác NT Theo đó, cảm hứng với tính cách là trạng thái tâm hồn của nghệ sĩ, giải quyết sự hoạt động của hư cấu và sự hoàn thành ý định
về mặt kỹ thuật trong NT Về yếu tố nội tâm trong sáng tác hội hoạ, Hegel đã viết rằng, hội hoạ biến cái dung mạo bên ngoài thành sự biểu hiện toàn vẹn về khách thể để biểu hiện đời sống nội tâm của HS Ông cho là “…chính tâm hồn của nghệ sĩ đã bộc lộ cho chúng ta thấy không phải một sự tái hiện đơn thuần của sự vật; chính nghệ sĩ bộc lộ tâm hồn của mình và cái cảm hứng thầm kín nhất của tâm hồn mình” [32, tr.737] Như vậy, CHNT của HS là cái cảm hứng thầm kín nhất của tâm hồn
Trong Mỹ học, phần Tùy bút về hội họa, Diderot đề cao sự say mê lao động
sáng tạo đến mức quên cả mình với hình ảnh anh HS tắm ngọn bút vẽ của mình vào trong cái hỗn mang ấy để rút từ đó ra tác phẩm của sự sáng tạo Diderot mô tả một trạng thái cảm hứng của HS như sau: “…tim tôi đập rộn ràng, tình thân ái và
vẻ thanh thản tỏa lan trên mặt tôi; niềm vui của tôi toát ra từ các lỗ chân lông; trái tim nở ra, các nang nhỏ chứa máu lay động, và cái màu không cảm thấy được của chất dịch từ đó thoát ra để triền đi khắp các phía sắc hồng tươi và sự sống” [18, tr.143] Trong phân tích của Diderot, như ông mô tả về HS, đó là đề cao yếu tố cảm hứng mà ông gọi là sự hào hứng cuồng nhiệt trong việc biểu hiện của tác phẩm Cảm hứng của HS, với Diderot như là trạng thái nhập thần vào bức vẽ là sự thăng hoa của trạng thái tinh thần trong khi đang vẽ
Như đã nói ở phần đầu, Kandinsky sử dụng lý thuyết phân tích hội họa dựa hoàn toàn vào những gì thuộc về cái nội tâm của người HS Kandinsky đã lý giải
Trang 36về NT hội họa từ cảm nhận tinh thần của HS và tác động của nó đến cảm thức của người xem Ông đề cập đến vấn đề hết sức then chốt về những thành tố tác động đến NT qua viê ̣c nói về tư cách là người sáng tạo : nghê ̣ sĩ phải biểu
lộ cái riêng của mình, phải biểu lộ cái riêng của thời đại mình Kandinsky cho rằng, nghệ sĩ phải có tránh nhiệm biến những hành vi, ý nghĩ, cảm xúc của anh ta thành vật liệu cho những tác phẩm của mình để chúng lại tham gia vào hoạt động ở môi trường tinh thần Qua câu chuyện của Kandinsky về NT và thời đại, NT và hình thức (kỹ xảo), NT và cái âm vọng nội tâm và ý nghĩa của
nó với sự sinh ra (sáng tác) tác phẩm hội họa, sự đề cao cái tinh thần trong hội
họa như vậy, với sự quan tâm đặc biệt vào giá trị nội tại và Âm vọng nội tâm
là một khởi đầu cho nghiên cứu về cảm hứng của HS ở cấp độ vô thức mà đề tài của luận án này tìm làm điểm tựa khoa học
Một vấn đề rất đáng được quan tâm là, quá trình sáng tạo trên các ngôn ngữ NT là rất đặc biệt Nó đặc biệt ở chỗ, cái đẹp đối với phạm trù ngôn ngữ NT nói chung và hội họa nói riêng không trong phạm trù với cái xấu hay cái xấu xí, thậm chí là ghê tởm, xét trong phạm trù mỹ học của vấn đề này Kant viết:
Chính ở đây, mỹ thuật cho thấy tính hơn hẳn của nó, đó là có thể
mô tả những sự vật vốn xấu xí hay khó ưa trong tự nhiên với vẻ đẹp nghệ thuật Những điều hung dữ, bệnh tật, những sự tàn phá của chiến tranh v.v…, tức những điều gây hại, có thể được miêu
tả rất đẹp, thậm chí được trình bày bằng tranh;… [46, tr.208] Điều này cũng cho thấy việc các HS thường có cảm hứng với các nhân vật “khác lạ”, đôi khi cảm hứng trong sáng tác hội họa với cái lưng còng của
cụ già lại mạnh hơn hình thể của thiếu nữ Hoặc HS cảm hứng với khu tập thể
cũ nát hay nhà tranh, mái ngói hơn hẳn với các khối nhà cao tầng hiện đại Như vậy cảm hứng về cái “xấu xí”, xét ở góc độ CHNT của người HS lại có thể tạo ra một tác phẩm hội họa tuyệt vời Cảm hứng về cái xấu xí hoặc ghê
Trang 37tởm cũng là một nguồn CHNT tốt cho sáng tác NT, cho dù nó không tốt nếu
là cảm hứng về cái ghê tởm, xét dưới góc độ tâm lý học Đây là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau mà chúng ta không thể nhầm lẫn Một bên là vấn đề lý luận mỹ thuật, lý luận NT, một bên là vấn đề tâm lý học
Sau các nội dung đã dẫn và phân tích NCS cho là, việc đề cập đến CHNT trong sáng tác hội họa, qua các dẫn chứng cho thấy, các nghiên cứu về cảm hứng đều đề cập đến yếu tố tinh thần của nghệ sĩ, đời sống nội tâm, âm vọng nội tâm hay các chất liệu của tiềm thức Tất nhiên trí tuệ luôn là bạn đồng hành của trạng thái cảm hứng, như vậy mới đảm bảo quá trình sáng tác NT là quá trình sáng tạo đáng được bàn đến Từ đó, sự hình thành tác phẩm NT, xét về mặt sáng tạo mà nói thì cũng như là việc tìm ra các định lý toán học, định luật vật lý, hóa học và những tác phẩm
âm nhạc giao hưởng bất hủ Sự khác nhau chỉ là đặc thù ngôn ngữ mà thôi Trong sự xuất hiện và tồn tại của các CHNT, cũng có những dạng thức, thể loại khác nhau tùy theo cách tiếp cận nghiên cứu Một số trong
đó sẽ được nghiên cứu theo cách tiếp cận của đề tài luận án
1.3 Phân loại Cảm hứng nghệ thuật trong sáng tác hội họa
Với đề tài luận án, NCS phân loại và xác định các CHNT bằng việc đặt
HS trong mối quan hệ sáng tác hội họa Từ cách tiếp cận đó, ở các chương tiếp theo, NCS có thể xác định CHNT dựa trên các yếu tố tác động đến tâm lý của HS như yếu tố văn hóa, tri thức, học thuật, sức khỏe đời sống tâm thần, tố chất, năng lực của HS Theo cách này, NCS mong sẽ mở ra một chiều kích khác để tiếp cận lý luận hội họa
1.3.1 Cơ sở phân loại Cảm hứng nghệ thuật được sử dụng trong đề tài luận án
Để phân loại CHNT, các nhà nghiên cứu thường dựa trên tính chất của lĩnh vực khoa học, hướng tiếp cận nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu,
Trang 38… của các công trình khác nhau Tùy theo vấn đề nghiên cứu mà việc phân loại cũng theo đó mà có những cách khác nhau Chẳng hạn, theo vấn
đề xã hội thì có cảm hứng lịch sử, cảm hứng thời đại v.v…, dưới góc độ tình cảm thẩm mỹ thì có cảm hứng anh hùng, cảm hứng yêu thương v.v…, xét dưới góc độ ngôn ngữ hội họa có thể là cảm hứng hình thể, cảm hứng màu sắc v.v… Có thể thấy điển hình như nghiên cứu về cảm hứng trong
cuốn Dẫn luận nghiên cứu văn học [78] của Pospelov , tác giả đưa ra một
số loại cảm hứng anh hùng , cảm hứng bi kịch , cảm hứng kịch tính , hoă ̣c là cảm hứng thương cảm và cảm hứng lãng mạn , hoặc là cảm hứng châm biếm và cảm hứng hài hước CHNT theo kiểu của Pospelov là cảm hứng
đi từ tác động ngoại cảnh mà sinh tình cảm Lý thuyết ấy được áp dụng như trong luận án tiến sĩ Ngữ Văn của Bùi Văn Lợi [56] có loại cảm hứng lịch sử, cảm hứng thế sự, cảm hứng anh hùng, cảm hứng hài hước, v.v… luận án tiến sĩ Văn học của Đào Thủy Nguyên [67] xác định loại: cảm hứng nghiên cứu – phân tích, cảm hứng khẳng định – ca ngợi… Cơ bản các nghiên cứu về cảm hứng đã thấy đều theo hướng tiếp cận này
Khác với các cách xác định cảm hứng thường thấy, NCS xin đi vào mối quan hệ sáng tác và những tác động tâm lý đến HS trong các mối quan hệ đó
Cụ thể, trong mối quan hệ sáng tác, HS đối diện với hiện thực (mẫu vẽ), với vấn đề kỹ thuật chất liệu, với vấn đề ngôn ngữ tạo hình, với tình cảm nội tâm
và với chính bức tranh ngay trước mắt Đặt HS trong những mối quan hệ ấy, NCS có thể xác định được biểu hiện của CHNT, những tác động đến CHNT, đánh giá hiệu quả của nó trong sự thể hiện sáng tạo các ngôn ngữ hội hoạ, góp vào sự hình thành giá trị NT của tác phẩm
Do các CHNT không phải lúc nào HS cũng có thể kiểm soát được, chẳng hạn có dạng cảm hứng với hiện thực khách quan nhưng có khi là do HS
tự ý thức được, có khi chính HS cũng không thể ý thức được mà là cảm hứng
Trang 39ở thể vô thức, cho nên NCS xin đưa ra hai cơ sở phân loại sâu hơn các thể của CHNT như sau:
Cơ sở thứ nhất để phân loại CHNT trong sáng tác hội họa dựa trên quá
trình tư duy khoa học và sự say mê khám phá các vấn đề khoa học tạo hình Đây là dạng hoạt động gắn liền với lao động trí óc và sáng tạo có tính trường quy, tính bác học, có thể do ý thức chủ quan của nghệ sĩ mà ra NCS cũng đề xuất việc gọi đây là những dạng hoạt động sáng tác hội họa ở thể chủ động
mà HS thường có thể nắm bắt được
Xin lý giải rằng, khi nói về hoạt động sáng tác của con người Mác viết: “…con ong với những ngăn tổ sáp của mình còn khéo hơn một nhà kiến trúc nhiều Nhưng điều phân biệt giữa một nhà kiến trúc tồi nhất và con ong giỏi nhất là nhà kiến trúc trước khi xây dựng từng ngăn trong tổ ong, thì đã xây dựng từng ngăn đó trong óc mình rồi” [61, tr.19] Như vậy Mác đã nói về tư duy trong sáng tạo, phẩm chất mà bất cứ nghệ sĩ nào cũng phải có Quan điểm của Mác là, con người có ý thức và bản năng nhưng bản năng của con người được ý thức Mác cũng khẳng định phải có
sự rèn luyện mới đạt được trình độ cao như có một sức mạnh thần kỳ, lao động tạo nên sự tiến bộ Hegel cho rằng: “…cái đẹp xem như tác phẩm nghệ thuật thì ngay từ đầu đã đòi hỏi phải có một kỹ thuật thành thạo,…” [32, tr.8] Ông cũng đề cao yếu tố rèn luyện, kiên trì trau dồi luyện tập Arnauđốp viết: “Xét về thực chất, cái kích thích tốt nhất chắc là sự đều đặn trong công việc… Cảm hứng nằm trong lao động hàng ngày” [2, tr.382] Kant thì phát biểu về NT “Nghệ thuật là khi chiêm ngưỡng một đối tượng nào đó với một ấn tượng sâu, nảy sinh khả năng sáng tạo đối tượng đó, sáng tạo có ý thức…” [17, tr.54] Và kể cả Goethe : “Nhất thiết phải có sức mạnh của trí tuệ và ý chí để sắp xếp cho cân đối và sử dụng các thành quả của cảm hứng” [2, tr.587]
Trang 40Như vậy, các nhà nghiên cứu đã thừa nhận sự tồn tại của CHNT trong quá trình sáng tác, đồng thời qua các phát biểu của họ, chúng ta có thể kết luận rằng, trong vấn đề tư duy NT, cảm hứng là trạng thái sung mãn tinh thần thuộc sáng tạo có ý thức, cần tiên đề kỹ thuật thành thạo, cần tri thức Đó là
Dưới lĩnh vực triết học, mỹ học có lý thuyết phân loại hoạt động theo trạng thái tinh thần mà hệ thống mỹ học của Hegel cũng đã nêu: “Nói chung,
vì hội hoạ vốn có tính đặc thù là nội cảm chủ quan…” [32, tr.323] cho nên nếu có cách nào để tìm hiểu cái nội cảm chủ quan ấy thì có thể chúng ta sẽ có nhiều lý giải khoa học về hội hoạ Freud cho rằng: “Chính tác phẩm phải được phân tích nếu nó biểu đạt, hữu hiệu đối với chúng ta, những ý đồ và xúc động của nhà nghệ sĩ” [25, tr.23] Triết học hiện sinh thì đề cao cái chủ thể tính, tự do tính phụ thuộc nhiều vào tình cảm, đồng thời chính chủ thể mới quyết định bản chất của hình tượng NT trên tác phẩm, chứ không phải là tự nhiên Nó thậm chí còn có tính đa nghĩa – đa nhân cách
Dưới góc độ tâm lý học NT, tâm lý sáng tạo NT Như đã đề cập trong luận án, Chu quang Tiềm đã cho rằng linh cảm là từ đồng nghĩa với cảm hứng đồng thời ông cho là cảm hứng không có tính cách chủ động, khi mình không chờ đợi thì nó lại thình lình xuất hiện Goethe thì nói: “Tôi không hề có một hình dung nào hay một linh cảm nào trước về chúng, nhưng chúng ngay tức khắc đã chế ngự tôi và đòi hỏi tôi phải thể hiện ngay