1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ hệ thống tước vị thời lê sơ

222 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 222
Dung lượng 2,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tước chế và hệ thống tước vị đã được đề cập trong một số công trình nghiên cứu, tuy nhiên, về cơ bản, các tác giả mới chỉ điểm qua và liệt kê về tên gọi, hiện tượng… chứ chưa có khảo cứu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Phạm Hoàng Mạnh Hà

HỆ THỐNG TƯỚC VỊ THỜI LÊ SƠ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội, 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Phạm Hoàng Mạnh Hà

HỆ THỐNG TƯỚC VỊ THỜI LÊ SƠ

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Mã số: 62 22 03 13

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS Đinh Khắc Thuân

XÁC NHẬN NCS ĐÃ CHỈNH SỬA THEO QUYẾT NGHỊ

CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN Chủ tịch hội đồng đánh giá

Luận án Tiến sĩ

Người hướng dẫn khoa học

GS.TSKH Vũ Minh Giang GS.TS Đinh Khắc Thuân

Hà Nội, 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa được công bố trong bất cứ công trình nào khác

Tôi cũng xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc Mọi sự giúp đỡ, hướng dẫn khoa học cho luận án đều đã được các tác giả và các cơ sở giáo dục đồng ý cho phép

Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2020

Tác giả luận án

Phạm Hoàng Mạnh Hà

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Chúng tôi muốn gửi lời tri ân sâu sắc tới GS.TS Đinh Khắc Thuân - giảng viên hướng dẫn - người đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo và không ngừng động viên, khích lệ để tôi hoàn thành Luận án này!

Tác giả Luận án cũng muốn nói lời cảm ơn tới các giảng viên Bộ môn Lịch sử Việt Nam Cổ - Trung đại, thầy/cô giáo Khoa Lịch sử, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, đã liên tục có những góp ý xác đáng về mặt học thuật

Bên cạnh đó, chúng tôi còn nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện từ Ban Giám đốc, Ban quản lý phòng Nghiên cứu - Sưu tầm, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia; các anh, chị: TS Trương Đắc Chiến, ThS Bùi Thu Loan cùng rất nhiều các nhà nghiên cứu lớp trước cũng như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp Luận

án không thể hoàn thành nếu thiếu những sự quan tâm, trợ giúp ấy

Xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất!

Tác giả luận án

Phạm Hoàng Mạnh Hà

Trang 5

1

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC 1

DANH MỤC LƯỢC ĐỒ, BẢNG BIỂU 4

MỞ ĐẦU 5

1 Lí do chọn đề tài 5

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 10

5 Đóng góp của Luận án 11

6 Bố cục của Luận án 12

Chương 1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ VÀ NGUỒN TƯ LIỆU 13

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 13

1.1.1 Các nghiên cứu về thiết chế chính trị và quan chế Lê Sơ 13

1.1.2 Các nghiên cứu về tước vị và tước chế 18

1.1.3 Đóng góp của các nghiên cứu trước Luận án và những vấn đề

cần tiếp tục thảo luận 24

1.2 Nguồn tư liệu phục vụ Luận án 26

1.2.1 Tư liệu tiếng Việt 26

Các bộ sử, chí 26

Các văn bản điển chế và pháp luật 31

Tư liệu văn bia 34

Tư liệu bản đồ 36

Các tư liệu khác (sắc phong, di tích, tài liệu truyền ngôn) 38

1.2.2 Tư liệu tiếng nước ngoài 39

1.2.3 Những băn khoăn về tư liệu 40

Tiểu kết chương 1 42

Trang 6

2

Chương 2 CƠ SỞ HÌNH THÀNHVÀ HỆ THỐNG TƯỚC VỊ

THỜI LÊ SƠ 43

2.1 Cơ sở hình thành 43

2.1.1 Khái niệm tước vị và quá trình biến đổi nội hàm khái niệm 43

2.1.2 Tước chế Đại Việt trước thời Lê Sơ 51

2.2 Hệ thống tước vị thời Lê Sơ 57

2.2.1 Thời Lê Thái Tổ 57

2.2.2 Thời Lê Thái Tông - Lê Nhân Tông - Lê Nghi Dân 70

2.2.3 Thời Lê Thánh Tông 71

2.2.4 Thời sau Lê Thánh Tông 82

2.3 Tước chế Lê Sơ trong tương quan đồng đại và lịch đại 83

Tiểu kết chương 2 88

Chương 3 ĐÃI NGỘ THỤ HƯỞNG VÀ ĐẶC QUYỀN CỦA QUÝ TỘC, ĐẠI THẦN PHONG TƯỚC THỜI LÊ SƠ 90

3.1 Đãi ngộ vật chất 90

3.1.1 Tiêu chuẩn thực ấp 93

3.1.2 Tuế bổng thường niên 94

3.1.3 Ruộng đất và các đãi ngộ khác 97

3.2 Quyền lợi chính trị - xã hội 100

3.2.1 Địa vị cao trong bộ máy chính quyền 100

3.2.2 Ưu đãi cho trực hệ bề dưới 102

3.3 Các đặc quyền của Vương - Công, Đại thần 105

3.3.1 Cơ chế địa chủ truyền đời 105

3.3.2 Chế độ quý tộc suốt đời 107

3.3.3 Các đặc quyền trong tư pháp 109

3.4 Vinh phong cho huyết thống trực hệ 111

3.4.1 Lệ ấm phong 111

3.4.2 Lệ truy phong 115

3.4.3 Giải pháp cân bằng quyền lực giữa quý tộc với quan lại 117

Trang 7

3

3.5 Các quy định, đãi ngộ khác 119

3.5.1 Về triều phục 119

3.5.2 Quy định về kiệu võng, nghi trượng 120

3.5.3 Danh xưng và thể thức tâu bẩm 123

3.5.4 Quy định về tang chế 124

Tiểu kết chương 3 125

Chương 4 ĐẶC ĐIỂM, TÍNH CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA TƯỚC VỊ THỜI LÊ SƠ 127

4.1 Đặc điểm 127

4.1.1 Mối quan hệ giữa “tước vị” và “chức quan” 127

4.1.2 Đặc trưng hư phong và nguyên lý “đất phong ảo” 130

4.2 Tính chất 136

4.2.1 Tính liên kết dòng họ 136

4.2.2 Tính tôn quân quyền 143

4.3 Vai trò của tước vị 149

4.3.1 Xác lập mối quan hệ quân - thần bất biến 149

4.3.2 Hình thành cơ chế cấp bậc hành chính “tước bản vị” 150

4.3.3 Phân lập một tầng lớp quý tộc trong xã hội 159

4.3.4 Từ định chế phong tước, bàn về hình thái nhà nước Lê Sơ 162

4.3.5 Tính ưu việt và hạn chế của cơ chế phong tước 166

Tiểu kết chương 4 170

KẾT LUẬN 171

TÀI LIỆU THAM KHẢO 177

PHỤ LỤC 187

Trang 8

2 Bảng 2.2 Cách hiểu khái niệm Trí tự qua các nguồn tư liệu 62

3 Bảng 2.3 Đối chiếu “cửu đẳng tước hầu” năm Thuận Thiên

4 Bảng 2.4 Danh tính, tước phong của 35 công thần thời vua

5 Sơ đồ 2.5 Hệ thống tước vị dưới thời vua Lê Thái tổ 69

6 Sơ đồ 2.6 Hệ thống tước vị dưới thời vua Lê Thánh Tông 78

7 Bảng 2.7 Định chế phong Vương tước qua các thời kỳ 87

Chương 3

8 Biểu đồ 3.1 Biểu đồ 3 1: So sánh đãi ngộ trong bộ máy chính quyền

9 Bảng 3.2 Lương bổng hàng năm cho hoàng tộc (năm 1477) 95

10 Bảng 3.3 Tuế bổng cho quan lại thời Lê Sơ năm Hồng Đức

11 Bảng 3.4 Quy định ruộng đất cho Hoàng tộc nhà Lê Sơ năm 1477 97

12 Biểu đồ 3.5 Đãi ngộ điền - thổ cho đại thần phong tước thời Lê Sơ 98

13 Bảng 3.6 Quy định ruộng đất cho Hoàng tộc nhà Lê Sơ năm 1477 99

14 Bảng 3.7 Truy phong quan lại thời Lê Thánh Tông 116

12 Bảng 3.8 Quy định mộ địa cho quan lại năm Hồng Đức thứ chín 125

Chương 4

13 Biểu đồ 4.1 So sánh số lượng thực ấp của vương tước thời Lê Sơ 132

14 Biểu đồ 4.2 Tỉ lệ điền - thổ thế nghiệp trong tổng số ruộng đất của

Thân vương nhà Lê Sơ 148

15 Bảng 4.3 Các tiêu chí phân cấp chính quyền thời Lê Sơ 152

16 Bảng 4.4 Đãi ngộ theo quan phẩm cho hai ban văn - võ nội nhiệm 154

17 Bảng 4.5 Đãi ngộ theo quan phẩm áp dụng cho huân thần, tản quan 156

Trang 9

Tước chế và hệ thống tước vị đã được đề cập trong một số công trình nghiên cứu, tuy nhiên, về cơ bản, các tác giả mới chỉ điểm qua và liệt kê về tên gọi, hiện tượng… chứ chưa có khảo cứu chuyên sâu về cơ chế hình thành, đặc điểm và bản chất của chế độ phong tước Ở cấp độ cao hơn, vấn đề tước

vị góp phần giải mã những vấn đề lớn lao như bản chất chính thể, hình thái quốc gia Chẳng thế mà lâu nay, nhiều nhà nghiên cứu hoặc xác nhận, hoặc phủ nhận hình thái “phong kiến” của nước Đại Việt từ Ngô Vương (Quyền) đến hết triều Nguyễn mà một trong những dấu hiệu nhận biết chính là tước vị (trong mối quan hệ “phong tước - kiến địa”)

Tìm hiểu tước chế thời Lê Sơ giúp chúng ta có những nhận thức mới, sâu sắc hơn; góp phần bổ sung những nhận thức, luận giải còn khuyết thiếu về

Trang 10

6

chủ đề này Kết quả nghiên cứu không chỉ là củng cố, làm sáng tỏ những nhận thức về mặt khoa học mà ít nhiều sẽ có tác dụng trong công tác giảng dạy, truyền bá kiến thức lịch sử ở các cấp học

Về mặt thực tiễn, hiện nay, việc trọng dụng người tài, bổ nhiệm - quy hoạch cán bộ, trọng đãi người có công, tiền lương cho nhân sự trong bộ máy công quyền đã và đang trở thành một trong những chủ đề rất được quan tâm, nhiều lần “làm nóng” nghị trường Quốc hội Gần một năm trước (ngày 24 tháng 10 năm 2019), nhiều đại biểu đã sôi nổi tranh luận về một trong những nội dung tại dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức là khái niệm về “người có tài năng”, cơ chế tuyển dụng ; điều đó cho thấy hệ thống tước vị thời Lê Sơ cùng với những định chế

về vinh phong, đối tượng, mức độ thụ hưởng… và đặc biệt là tính hai mặt của tước chế Lê Sơ sẽ là tiền đề cần thiết để đúc rút kinh nghiệm

Chẳng hạn như trong tiêu chí phong tước vị cho quan lại, nhà Lê Sơ quy định rất rõ, đó phải là những cá nhân “công to đức lớn” “Đạo đức” là một trong hai tiêu chí bắt buộc Điều này đã đặt ra không ít vấn đề đáng để suy ngẫm về sự “minh bạch lý lịch” của người được xét tuyển, bổ nhiệm trong giai đoạn hiện nay Ở khía cạnh khác, chế độ vinh phong theo phương thức tập ấm - truyền thừa cho thấy, nhà Lê Sơ không ngại công khai chủ trương ưu tiên cho những đối tượng mà ngày nay được liệt vào diện “con ông cháu cha” Tuy nhiên, ưu đãi ra sao, phải chịu những chế tài, ràng buộc như thế nào lại là câu chuyện khác, đòi hỏi sự tiếp thu, kế thừa một cách chuẩn xác, có chọn lựa

Chúng tôi lựa chọn đề tài Hệ thống tước vị thời Lê Sơ làm Luận án Tiến

sỹ Sử học vì những lí do ấy

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu định chế phong tước thời Lê Sơ để làm

rõ quá trình phát sinh, tiếp nối; chỉ ra những đặc trưng cơ bản, trong sự so sánh với điển chế ban phong tước vị ở Đại Việt và Trung Hoa trên cả hai phương diện: Đồng đại và lịch đại, từ đó có thể đem tới những nhận thức mới, sâu sắc

Trang 11

7

hơn về vấn đề này Mặt khác, tìm hiểu hệ thống tước vị thời Lê Sơ còn là một trong những nghiên cứu lâu dài mà tác giả Luận án đã và đang theo đuổi

Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích trên, chúng tôi cần thực

hiện các nhiệm vụ sau đây:

Thứ nhất: phân tích cơ sở hình thành định chế phong tước và sự biến đổi

nội hàm khái niệm tước vị

Thứ hai: làm sáng tỏ tước chế thời Lê Sơ dưới các góc độ: Đối tượng,

tiêu chí, đãi ngộ dành cho người có tước vị và đặc biệt là sự cao - thấp giữa các tước phong để xác lập hệ thống tước vị qua các triều đại

Thứ ba: chỉ ra đặc điểm, tính chất của tước chế thời Lê Sơ trên cơ sở đối

sánh sự tương đồng, dị biệt với tước chế Đại Việt giai đoạn trước Lê Sơ cũng như các triều đại Trung Hoa - nơi sản sinh ra cơ chế phong tước

Thứ tư: từ những nội dung trên, đưa ra những nhận định đánh giá về ưu -

nhược của việc phong tước, ý nghĩa của tước vị trong tổ chức nhà nước, tổ chức xã hội thời Lê Sơ

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Qua các nguồn tư liệu, chúng ta đều biết, chính quyền thời Lê Sơ được tổ chức và phân cấp theo nhiều tiêu chí: Chức, tước, phẩm, hàm… Chẳng hạn

như với trường hợp Triều liệt đại phu, Nhập nội hành khiển, Lại bộ Thượng

thư, kiêm hành Khu mật viện sự Nguyễn Trãi, Đinh Khắc Thuân chỉ rõ: Triều

liệt Đại phu là hàm tản quan, phẩm - trật là Tòng tam phẩm (phẩm Tam, trật Tòng), Hành khiển là chức, Nhập nội chỉ việc được tham dự triều chính, Lại

bộ Thượng thư là quan Thượng thư (đứng đầu) bộ Lại, kiêm nhiệm công việc của Khu mật viện [83, tr.22] Bên cạnh đó, Nguyễn Trãi còn được ban phong

tước vị Quan nội hầu (hầu tước)

Đối tượng nghiên cứu của Luận án là tước vị - một trong những tiêu chí phân cấp nhân sự trong hệ thống chính trị đương thời

Trang 12

8

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi thời gian: diễn ra trong thời Lê Sơ, tức là từ năm 1428 (năm

Thuận Thiên thứ nhất) sau khi Bình Định vương Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế

đến năm 1527 - thời điểm nhà Lê Sơ mất quyền thống trị vào tay họ Mạc Tuy nhiên, để phác dựng hệ thống tước vị, chúng tôi vẫn thống kê, so sánh các

chức, tước được Bình Định vương Lê Lợi ban phong trong Khởi nghĩa Lam

Sơn - một trong những tiền đề hình thành hệ thống tước vị giai đoạn sau

Phạm vi không gian: quốc gia Đại Việt thời Lê Sơ, tương ứng với hệ

thống đơn vị hành chính các cấp hiện diện trên bản đồ hành chính thời Lê Sơ Trên thực tế, việc xác định chính xác ranh giới quốc gia Đại Việt thời kỳ này không hề dễ dàng Nhiều công trình nghiên cứu về chủ đề này chỉ đưa khái niệm “vùng biên giới” (mang tính tương đối) thay cho “đường biên giới” (tuyệt đối) Về đại thể, cương vực Đại Việt đến năm 1479 bao gồm toàn bộ miền Bắc và Bắc Trung bộ Việt Nam hiện tại, kéo dài đến hết tỉnh Bình Định (không bao gồm vùng đất các tỉnh thuộc Tây Nguyên) và một phần diện tích nay thuộc Lào (xin xem lược đồ lãnh thổ thời Lê Sơ phần Phụ lục PL.1A):

Phạm vi nội dung: Trong lịch sử đã xuất hiện ba hình thái tước vị

Thứ nhất là tước phong cho người đứng đầu nước Đại Việt

Đây thực tế là danh hiệu được ban phong bởi hoàng đế Trung Hoa Đó là

các danh hiệu: Giao Chỉ Quận vương (năm 993), Nam Bình vương (năm 997),

Giao Chỉ Quận vương (năm 1010), An Nam vương (1261), An Nam Quốc vương, Đô Thống sứ… Thời Lê Sơ, theo Minh thực lục, người đứng đầu nhà

nước Trung Hoa đã sách phong cho vua Đại Việt các tước: Quyền An Nam

Quốc sự cho Lê Thái Tổ (năm Thiệu Bình thứ nhất 1434), Lê Thái Tông (năm

Thiệu Bình thứ hai 1435) và An Nam Quốc vương (bắt đầu từ tháng một năm

1437 cho Lê Thái Tông) Trên danh nghĩa, “Quyền An Nam Quốc sự” và “An Nam Quốc vương” có sự tương đồng về công việc nhưng lại khác biệt rất lớn

ở tính “chính danh” Theo Tạ Ngọc Liễn, trên thực tế vua Lê Thái Tổ giữ địa

Trang 13

9

vị đứng đầu ở Việt Nam nhưng Quyền An Nam quốc sự chỉ là sự tấn phong

“quản lý lâm thời” [35, tr.38] từ phía “thiên triều” (nhà Minh) Danh hiệu An

Nam Quốc vương về sau lần lượt được phong cho Lê Nhân Tông (tháng 11

năm Thái Hòa thứ nhất - 1443), Lê Nghi Dân (tháng 8 năm Thiên Hưng thứ hai - 1460), Lê Thánh Tông (tháng 9 năm Quang Thuận thứ ba - 1462), Lê Hiến Tông (tháng 12 năm Cảnh Thống thứ hai - 1499), Lê Uy Mục (tháng Giêng nhuận năm Đoan Khánh thứ ba - 1507), Lê Tương Dực (năm Hồng Thuận thứ năm - 1513)

Hệ thống các danh hiệu này có thể tương đương với cấp Vương tước

trong tước chế hoàng thất Đại Việt nhưng khác biệt về tính chất Tước phong

từ Hoàng đế Trung Hoa cơ bản là sự thừa nhận về danh hiệu, quyền quản lý,

xác lập vị thế lớn - nhỏ của hai quốc gia song tước vương trong nội bộ nước

Đại Việt biểu hiện mối quan hệ vua - tôi, mang ý nghĩa tổ chức, phân cấp hệ thống chính trị Trong phạm vi Luận án, chúng tôi không đi sâu tìm hiểu những danh hiệu này

Loại hình thứ hai là xưng hiệu: Trước và sau vương triều Lê Sơ, có một

số xưng hiệu điển hình như: Thân Lợi xưng Nam Bình vương năm 1141, Nguyễn Nộn (năm 1220) tự xưng Hoài Đạo vương, Nguyễn Kỵ xưng Lỗ

vương Điền Kỵ năm 1389; Phạm Ngọc xưng La Bình vương thời thuộc Minh

(năm 1419); Lê Ngã xưng là Thiên Thượng Hoàng đế (tháng Chạp năm Kỷ

Hợi 1419)… thậm chí đến đầu thế kỷ XX, bất bình trước sự nhu nhược của nhà Nguyễn cùng ách thống trị của chủ nghĩa Thực dân, Phan Phát Sanh đã tự

lên ngôi, xưng hiệu là Phan Xích Long Hoàng đế, tháng 10 năm 1912

Không chỉ xưng “vương”, “đế”, nhiều cá nhân khi tranh hùng, cát cứ còn xưng Công (và các xưng hiệu khác) như trong cục diện thập nhị sứ quân chi

loạn (十 二 使 君 之 亂) thế kỷ X có các xưng hiệu: Nguyễn Hữu công, Kiểu Lệnh công… Thậm chí, ngay cả Lê Lợi, sau khi phất cờ khởi nghĩa Lam Sơn

đã xưng vương thì Bình Định vương thực chất cũng chỉ là xưng hiệu Thời Lê

Trang 14

10

Sơ còn chứng kiến hiện tượng mạo hiệu Sử cũ chép: tháng 11 năm Kỷ Tỵ

niên hiệu Đoan Khánh thứ năm (1509), Giản Tu công Lê Oanh trá xưng là

Cẩm Giang vương, dựng cờ chiêu an [34, tr.528] Trên thực tế, đây là tước

phong của Lê Sùng (黎漴), con của Kiến vương Lê Tân (黎鑌)

Những tước xưng/ xưng hiệu này không chịu sự ràng buộc, chi phối bởi các mối quan hệ “Thiên tử - chư hầu”, “quân - thần” đương thời mà chỉ là động thái hợp thức hóa, “chính danh hóa” hoạt động nổi dậy, cát cứ nên không thuộc phạm vi tìm hiểu của Luận án

Thứ ba là tước vị ban phong cho hoàng tộc, công thần

Loại hình này mở đầu bằng sự kiện vua Đinh Tiên Hoàng phong tước

Định Quốc công cho Nguyễn Bặc, phong vương tước cho hoàng tử (Nam Việt vương Đinh Liễn, Vệ vương Đinh Toàn)

Luận án giới hạn ở loại hình thứ ba

Cần nói thêm là xuyên suốt thời Lê Sơ, việc truy ban (ban tước cho người đã khuất) diễn ra khá phổ biến Quý tộc, đại thần sau khi qua đời nếu

có công lớn với triều đình sẽ được truy tặng: Lê Thạch được truy tặng Trung

Vũ Đại vương (tước Đại vương), Lê Lễ được truy ban Hương hầu hay Lê

Khôi được truy tặng Chiêu Trưng vương (tước Vương) Những tước vị tấn

phong cho “nhân thần” cũng không thuộc đối tượng khảo cứu của chúng tôi

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng nhiều phương pháp Để có thể nghiên cứu toàn diện, tổng thể, hệ thống tước vị thời Lê Sơ được đặt trong cả mối quan hệ đồng đại (thí dụ tước chế nhà Minh - Trung Hoa) và lịch đại (tước chế thời Lý - Trần),

do vậy, phương pháp lịch sử truyền thống là phương pháp thường xuyên được

áp dụng và là phương pháp chủ đạo

Phương pháp so sánh được áp dụng để làm nổi bật đối tượng nghiên cứu,

chẳng hạn như đối sánh tước chế với quan chế, tước chế thời Lê Sơ với các

Trang 15

11

triều đại trước (Lý, Trần); hệ thống tước vị Đại Việt với hệ thống tước vị Trung Hoa Phương pháp này còn được áp dụng trong nội bộ triều Lê Sơ, chẳng hạn như tiêu chí định công lao được so sánh trong hai giai đoạn: Sau khi Lê Thái Tổ lên ngôi và giai đoạn sau Lê Thánh Tông

Do Luận án nghiên cứu về hệ thống tước vị nên các thao tác thống kê thường xuyên được áp dụng dưới nhiều góc độ: Số người được ban phong, quyền lợi mỗi cá nhân được thụ hưởng, tước cấp qua các thời kỳ Với hệ thống tước vị thời Lê Thái Tổ, trước hết chúng tôi thu thập tư liệu đề cập đến

các tước phong giai đoạn này rồi phân tích từng tước vị (ví dụ tước Công: Lê Nguyên Long được phong Lương Quận công), từ tước Công của Lê Nguyên Long, chúng tôi xem xét mối liên hệ với tước vị Khai Quận công của Lê Tư

Tề để tìm ra tương quan (cùng là con trai của Lê Thái Tổ), từ đó đưa ra nhận

định: giai đoạn đầu thời Lê Sơ, hoàng tử có thể chỉ được phong tước Công!

Cuối cùng, Luận án sử dụng kết quả nghiên cứu liên ngành như kết hợp nghiên cứu lịch sử với khảo sát thực địa, điền dã khảo cổ học; phương pháp

xử lý sử liệu học đối với tư liệu văn bia, gia phả

5 Đóng góp của Luận án

Với hướng nghiên cứu và phương pháp tiếp cận nói trên, tác giả cho rằng

sẽ giải quyết được những vấn đề chính, đem tới những nhận thức mới, sâu sắc hơn về chủ đề này, cụ thể là:

- Xác định hệ thống tước vị thời Lê Sơ qua các vương triều

- Làm sáng tỏ những quyền lợi mà người có tước vị được thụ hưởng Đáng chú ý là những đặc quyền dành riêng cho hoàng tộc, công thần phong tước mà quan lại đương triều không thể có được

- Chỉ rõ đặc điểm, tính chất của tước chế Lê Sơ

- Phân tích tác động của tước chế với vương triều Lê Sơ ở hai khía cạnh:

Tổ chức xã hội và tổ chức chính quyền

- Nêu lên những tích cực và hạn chế của cơ chế phong tước

Trang 16

12

6 Bố cục của Luận án

Ngoài phần Mở đầu, Tổng quan về tình hình nghiên cứu (chương 1), Kết

luận, Tài liệu tham khảo và nội dung một số văn bia, sắc dụ, chế cáo liên quan

tới tước vị thời Lê Sơ (phần Phụ lục), nội dung chính của Luận án được kết cấu thành ba chương

Chương 2: Luận án chỉ ra đặc tính của tước vị qua từng thời kỳ Thí dụ

như tước Công, thường được xem xét trong ba biểu hiện:

- Là một trong “ngũ đẳng tước” thời Chu (Trung Hoa);

- Tước vị của Thái úy nhà Lý - Lý Thường Kiệt (Việt Quốc công)

- Trong “thập nhị sứ quân chi loạn”, Đỗ Cảnh Thạc còn được gọi là Đỗ

Cảnh công, Nguyễn Thủ Tiệp còn được gọi là Nguyễn Lệnh công…

Tuy nhiên, trên thực tế, từ “công tước” thời Chu đến tước Quốc công của

vị Thái úy nhà Lý và những “Đỗ Cảnh công, Nguyễn Lệnh công” hoàn toàn

khác biệt về nội hàm, tính chất, dù ngôn từ, cấp bậc có thể ngang nhau

Khi đã tường minh về khái niệm, Luận án tổng hợp và trình bày tước cấp thời Lê Sơ theo hệ thống Cần phải nói thêm là sử liệu về tước cấp thời Lê Sơ không hề nhất quán, có độ “vênh” rất lớn Có tác giả ghi là vua Lê Thái Tổ định ra 12 tước cấp nhưng cũng có tài liệu khẳng định: Chỉ tồn tại 3 cấp tước

Sự bất nhất này do đâu? Căn cứ nào để xác định từng cấp tước? Rốt cuộc, hệ thống tước vị nhà Lê Sơ có bao nhiêu tước cấp?

Chương 3: Đề cập đến mức độ danh, lợi mà người có tước vị được thụ

hưởng Điều quan trọng là khi tước chế không đồng nhất với quan chế, định chế phong tước và ban chức có nhiều điểm dị biệt thì đãi ngộ dành cho quý tộc - trọng thần chắc chắn không thể tương đương với quan chức Ngoài tiêu chuẩn chung theo quan phẩm, tước vị còn mang lại những đặc quyền, đặc lợi

mà chỉ những ai sở hữu tước vị mới có được

Chương 4: Từ những nội dung đã đề cập ở hai chương trước, Luận án chỉ

ra những đặc trưng của tước chế Lê Sơ, ưu điểm và hạn chế cùng những tác động của nó đối với nhà nước, xã hội đương thời

Trang 17

13

Chương 1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ VÀ NGUỒN TƯ LIỆU

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các nghiên cứu về thiết chế chính trị và quan chế Lê Sơ

Tước vị không phải đề tài hoàn toàn mới Từ trước tới nay, khi làm sáng

tỏ thiết chế chính trị, mô hình tổ chức nhà nước thời Lê Sơ, việc phong

tước, tước hiệu luôn được các tác giả đề cập ở một phạm vi nhất định

Từ năm 1968, với luận án Tiến sĩ The Development of Le Goverment in

Fifteenth Centery Vietnam (Sự phát triển của chính quyền Lê vào thế kỷ XV

ở Việt Nam), John Kremers Whitmore tiếp cận “chính quyền Lê” qua cuộc

đối đầu giữa hai nhóm: quyền thần và nho sĩ để tranh giành quyền lực trong

thời gian khoảng bốn thập kỷ (từ những năm ba mươi đến những năm bảy mươi của thế kỷ XV) Dưới nhãn quan của một nhà nghiên cứu nước ngoài, thời Lê Sơ được giải mã từ góc nhìn mới mẻ, thú vị Trong công trình của mình, John Whitmore đã nhiều lần đề cập đến tước vị và phát hiện thấy

“Các chức tước mà các cố vấn chiếm giữ là những chức tước vay mượn một

cách ngẫu nhiên từ chế độ cũ của nhà Đường” Song, tước vị không phải là

đối tượng nghiên cứu chính nên John Kremers Whitmore chủ yếu chỉ thống

kê dưới góc độ sự kiện lịch sử như việc “Nghi Dân bị giáng xuống hàng hầu

tước”, hoặc là một hoạt động của người đứng đầu nhà nước đương thời -

“Thánh Tông tuyên bố: y phục quy định các biểu tượng (mà qua đó) các

chức tước được phân biệt và sắp xếp có thứ tự” [28]; nói cách khác, tác giả

chưa xem tước vị là đối tượng nghiên cứu

Ở cuốn Chế độ chính trị Việt Nam thế kỷ XVII và XVIII (năm 1974) của

Lê Kim Ngân; bên cạnh nội dung khảo cứu chính (tiêu đề cuốn sách), tác giả

còn tìm hiểu về đế hiệu, vương hiệu, đế quyền, vương quyền… trong lịch sử

và liên hệ, so sánh, đối chiếu với nhiều triều đại khác như Đinh - Lý - Trần… rồi Trung Quốc Lê Kim Ngân đã truy tìm “nguồn gốc danh xưng Thiên tử”,

“Bá chủ”, “tước hiệu Vương”, “danh hiệu Hoàng đế tại Việt Nam, “danh hiệu

Trang 18

14

Vương tại Việt Nam”… Từ những thống kê, tìm hiểu vai trò, tước phong của

các vị vua trong lịch sử dân tộc, tác giả khẳng định: “các công thần ngoại

thích, dù công lớn tới đâu cũng chỉ được phong tới chức (đúng ra là “tước” -

TG) Công” [55] Tuy vậy, kết quả nghiên cứu này chỉ được Lê Kim Ngân sử dụng để luận giải “nguồn gốc của định chế lưỡng đầu thời Lê - Trịnh”

Tương tự như vậy, chuyên luận Sự sáng tạo của hoạt động lập pháp thời

Lê (thế kỷ XV) qua việc quy định hình phạt của Phạm Thị Ngọc Huyền [21]

mặc dù đã vạch rõ ranh giới giữa “chức” và “tước” (việc giáng chức thường được hiểu là bãi tước) nhưng cũng nhằm mục đích bổ sung, làm sáng tỏ

những quy định về mặt luật pháp đương thời

Chuyên luận: “Nước Đại Việt thời Lê Sơ - một vài đặc điểm căn bản của

nền tảng chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội” (2004) của Nguyễn Hải Kế đã

khảo cứu kỹ lưỡng quan chế, bộ máy chính trị thời Lê Sơ, đặc biệt là quá trình

chuyển biến theo sách lược “tăng cường tư tưởng Nho giáo trong các mặt của

đời sống kinh tế - xã hội” dẫn đến việc “xây dựng theo hướng trung ương tập quyền và đạt tới mức độ cao vào triều Lê Thánh Tông” Trong quá trình này,

tác giả đề cập đến chủ trương “bãi bỏ chế độ sử dụng các vương hầu, quý tộc

và các trọng chức của triều đình, lấy trình độ học vấn Nho giáo làm tiêu chuẩn Các thân vương, công hầu, công chúa được ban cấp hơn hẳn các quan chức song nếu không đỗ đạt thì không được làm quan” [29, tr.7-42]

Cuốn Mô hình tổ chức nhà nước ở Việt Nam thế kỷ X - XIX của Phạm

Đức Anh (năm 2007) nghiên cứu về thiết chế nhà nước các giai đoạn: Thời

Lý - Trần, thời Lê Sơ, nước Đại Việt thế kỷ XVI-XVIII và thời Nguyễn; trong

đó, thiết chế thời Lê Sơ được tiếp cận ở ba khía cạnh: Sự ra đời, đặc điểm và những mâu thuẫn trong thiết chế Trong bộ máy chính quyền trung ương,

đáng chú ý là nội dung khảo cứu về chế độ đãi ngộ, tác giả tập trung vào Thân

vương nhà Lê Sơ (đứng đầu tước chế hoàng thất) để khẳng định tính chất “đãi

ngộ cao” (riêng ruộng đất được ban cấp tới 2.090 mẫu điền, thổ các loại) đồng thời chênh lệch rất lớn so với thư lại ở nha môn nhàn tản [3, tr.98]

Trang 19

15

Tương tự như vậy, khi tìm hiểu “Thiết chế chính trị - pháp lý thời Lê Sơ”

(năm 2017), Trương Vĩnh Khang đã trình bày một cách khá đầy đủ về thiết chế chính trị - pháp lý của nhà nước Đại Việt giai đoạn 1428-1527 Tác giả tập trung làm sáng tỏ về hệ tư tưởng, hệ thống các quy định nền tảng; tổ chức, hoạt động của các bộ phận cấu thành; ngoài ra, còn đề xuất các yếu tố có thể tiếp thu nhằm xây dựng và hoàn thiện nhà nước Việt Nam giai đoạn hiện nay Trong việc bổ dụng quan lại, Trương Vĩnh Khang cho biết: Năm 1478, vua

Lê Thánh Tông định lệ cho phép cháu trưởng các tước công - hầu - bá - tử -

nam được bổ làm tản quan, hàm từ Bát phẩm tới Tứ phẩm [30]

Không thể không nhắc tới ở đây tổng luận Quan chế và phòng chống

quan lại tham nhũng thời Hậu Lê - Một số vấn đề nghiên cứu của Phan Ngọc

Huyền (2017) Trong quá trình khảo cứu về một số cơ quan, chức quan thời Hậu Lê và chính sách phòng chống quan lại tham nhũng giai đoạn Lê Sơ và

Lê Trung Hưng, tác giả đã đề cập đến chính sách bổng lộc (lộc điền, tuế lộc, thực hộ) thời vua Lê Thánh Tông, trong đó có thông tin về bổng lộc của

những cá nhân được phong tước (từ Bá tước đến Thân vương) cùng những

chức quan thấp trong triều (chức lại nhàn tản) [21]

Trong những công trình nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp và ruộng đất thời Lê Sơ, tước vị cũng được nhắc đến trong phạm vi nhất định

Điển hình là cuốn Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê Sơ

(năm 1959) của cố Giáo sư Phan Huy Lê Tác giả đã khảo cứu rất đầy đủ, kỹ lưỡng về công điền, công thổ, chế độ sở hữu ruộng đất tư nhân, địa tô… Đây

là một trong những nghiên cứu sớm, công phu, chất lượng về kinh tế nông nghiệp thời Lê Sơ

Ở phần viết về “chế độ lộc điền”, tác giả Chế độ ruộng đất và kinh tế

nông nghiệp thời Lê Sơ đã thống kê rất chi tiết, tỉ mỉ về nguồn gốc, loại hình,

diện tích lộc điền mà quý tộc, quan lại được ban cấp, trong đó có Thân vương,

Tự thân vương, Thân vương thế tử, Quốc công, Quận công, Hầu, Bá Phan

Trang 20

16

Huy Lê khẳng định: “Thế nghiệp thổ (đất thế nghiệp) chỉ dành riêng cho lớp

đại quý tộc thân thuộc nhà vua Còn các quan văn - võ dù được phong tước Công, Hầu, Bá cũng không được cấp thế nghiệp thổ” [38]

Tương tự như vậy là Luận án Tiến sĩ Chế độ ruộng đất ở Việt Nam từ thế

kỷ XIII đến thế kỷ XV của Trương Hữu Quýnh (Hà Nội: Trường Đại học Sư

phạm, 1971) [72]; về sau tác giả được nâng cấp, phát triển thành cuốn Chế độ

ruộng đất ở Việt Nam từ thế kỷ XI-XVIII, tập I, thế kỷ XI-XV [73] Ở những

công trình này, tác giả đã tiếp cận, giải thích rất kỹ lưỡng về các chính sách liên quan đến tư liệu sản xuất dưới triều đại quân chủ Lê Sơ và trước Lê Sơ Trong đó, đáng lưu ý là những nghiên cứu về loại hình ruộng đất được ban cấp cho hoàng thất và đội ngũ quan lại đầu triều

Các nghiên cứu về khoa cử và quan trường thời Lê Sơ cho chúng ta

cái nhìn tổng thể, toàn diện về quan chế Lê Sơ nói riêng, các triều đại quân chủ Việt Nam nói chung Từ kết quả nghiên cứu ấy, chúng ta biết được tương đối cặn kẽ về các nội dung: hình thức thi tuyển, tuyển bổ, quyền lợi, trách nhiệm, cấp bậc của quan lại trong triều đình

Điển hình như cuốn Lược khảo và tra cứu về học chế và quan chế ở Việt

Nam từ 1945 về trước của ba tác giả: Lê Trọng Ngoạn, Ngô Văn Ban và

Nguyễn Công Lý (năm 1997) Công trình đã “hệ thống lại việc học, việc thi,

tổ chức bộ máy nhà nước cùng hệ thống quan chế” Việt Nam trước năm 1945

(trích Lời nói đầu) và có sự giải thích khá cặn kẽ các chức quan, học vị, phẩm

hàm Phần nội dung về tước cấp được đề cập sơ lược, thí dụ như khái niệm

“ngũ tước” được các tác giả giải thích là “5 tước mà chế độ phong kiến cho

những người có công lớn: Công, Hầu, Bá, Tử, Nam” [60, tr.11]

Cùng nội dung, năm 2011, Nguyễn Công Lý giới thiệu công trình Giáo

dục - Khoa cử và và Quan chế ở Việt Nam thời phong kiến, thời Pháp thuộc,

luận giải nhiều nội dung liên quan đến quan chế, khoa cử; trong đó có “hệ thống quan chế và phẩm trật” [48, tr.281-292]

Trang 21

17

Không khó để nhận thấy, với nhà Lê Sơ, đặc biệt là thời kỳ đầu, chính quyền được điều hành và có sự tham gia của rất nhiều công thần phong tước nên khi nghiên cứu địa vị của một quan chức, các yếu tố “chức”, “tước”,

“phẩm” đều được nhắc đến, nhưng là để đối sánh với chức quan

Chẳng hạn Luận án Tiến sĩ Sử học Chế độ đào tạo và tuyển dụng quan

chức thời Lê Sơ (1428-1527) của Đặng Kim Ngọc (gồm có 4 chương, cũng là

bốn nội dung chính: Cơ sở hình thành, chế độ đào tạo, tuyển dụng và quan điểm của tác giả về quan chức thời Lê Sơ); Luận án (được in thành sách, phát hành năm 2011) đã hệ thống những chính sách của nhà Lê Sơ về quan chức; quan điểm của người đứng đầu nhà nước đương thời với trí thức Tác giả cũng đưa ra những nhìn nhận, đánh giá về các mặt: tích cực, hạn chế trong chế độ đào tạo, tuyển dụng quan chức Đặng Kim Ngọc nhiều lần đặt “chức quan” trong tương quan với “tước danh” và “phẩm hàm” để đối chiếu [56] Chỉ một năm sau khi Đặng Kim Ngọc công bố chuyên khảo về chế độ quan lại thời Lê Sơ, đề tài này tiếp tục được tiếp cận nhưng trong phạm vi hẹp

hơn - khi tiếp cận Chính sách đào tạo, sử dụng quan lại thời Lê Thánh Tông

và công tác cán bộ hiện nay (năm 2012), hai tác giả Nguyễn Hoài Văn và

Đặng Duy Thìn đã làm sáng tỏ các nội dung: Cơ sở hình thành, đặc điểm và ý nghĩa của chính sách quan lại thời Lê Thánh Tông trong giai đoạn hiện tại Nội dung liên quan đến tước vị không nhiều, đáng kể là phần viết về “cơ quan tuyển dụng” Nguyễn Hoài Văn - Đặng Duy Thìn đã cung cấp nhiều thông tin, nhận định về vai trò, chức năng, cơ cấu của Lại Bộ Ba nhiệm vụ chính của

Bộ Lại được khái quát thành: Tuyển dụng và lựa chọn quan chức, khảo xét và thăng giáng, phong tước cho các quan [92, tr.89] - chúng tôi sẽ trình bày quan điểm của mình về nhiệm vụ thứ ba của Lại Bộ ở phần sau

Hơn nửa năm trước (tháng 3 năm 2020), Nguyễn Thị Thu Hòa công bố

cuốn Chế độ quan lại triều Lê Sơ (1428-1527) và những giá trị tham khảo cho

cải cách chế độ công vụ, công chức ở Việt Nam hiện nay; có thể nói đây là

Trang 22

18

một trong những nghiên cứu “gần” nhất về quan chế thời kỳ này Tác giả tập trung làm nổi bật những nội dung về chế độ quan lại, có liên quan đến tước

chế như cơ chế ấm phong: “Cháu trưởng các tước Công, Hầu, Bá, Tử, Nam và

con trưởng quan văn - võ Nhị - Tam phẩm thì bổ làm tản quan, từ Ngũ - Lục - Thất - Bát phẩm” [19, tr.44]; “bãi bỏ chế độ bổ dụng các vương hầu, quý tộc vài các trọng chức trong triều đình” [19, tr.67] Từ chế độ quan lại cách ngày nay trên dưới 5 thế kỷ, Nguyễn Thị Thu Hòa đã có những đối sánh, liên hệ, đề xuất với chế độ công vụ, công chức hiện nay của đất nước Quan trọng hơn, cũng như các công trình khảo cứu về quan chế thời Lê Sơ, cuốn sách của Nguyễn Thị Thu Hòa chủ yếu phân tích về quy trình chọn lựa, bổ nhiệm, tuyển dụng quan lại thời Lê Sơ, phần viết về tước vị có dung lượng không đáng kể

Tuy nhiên, trên thực tế, tước vị định hình một hệ thống riêng biệt, độc lập với quan chế Đúng là giữa “quan chế” với “tước chế” có không ít điểm chung, đặc biệt là trong buổi đầu thời Lê Sơ, khi hầu hết các võ tướng Lam Sơn đều được cơ cấu vào chính quyền mà không phải trải qua thi cử, sát hạch nên cả “chức” và “tước” đều có chung một điểm xuất phát nhưng càng về sau, quan chế và tước chế càng có sự phân biệt rạch ròi Đặc biệt là trong tước chế hoàng thất, tước vị và chức quan đã hoàn toàn phân tách

Chính bởi vậy mà dù có rất nhiều công trình nghiên cứu về quan lại, về thiết chế chính trị, về tổ chức nhà nước Lê Sơ song hệ thống tước chế lại chưa được tìm hiểu một cách đầy đủ Về cơ bản, tước chế thời Lê Sơ đã được nghiên cứu, tìm hiểu ở các mức độ sau đây

1.1.2 Các nghiên cứu về tước vị và tước chế

Do tước vị “gắn rất chặt” với các triều đại quân chủ Việt Nam, đặc biệt

là nhân sự chính quyền và tổ chức nhà nước nên nó được sử dụng để chứng

minh cho nhiều luận điểm Gần một thế kỷ trước (năm 1934), trên báo Phụ nữ

tân văn [31], Phan Khôi khi nêu quan điểm “Lịch sử nước ta không có chế độ

Trang 23

19

phong kiến” đã dẫn nhiều hiện tượng, sự kiện để chứng minh cho nhận định:

“Có phong tước, có thái địa, nhưng người được phong (tước) không hưởng

các quyền cai trị dân chúng ở trong thái địa của mình: điều đó làm cho phân biệt với chế độ phong kiến” Tác giả đề cập đến nguồn gốc của tước vị

“Những vua chư hầu ấy chia ra đẳng cấp theo năm tước: công, hầu, bá, tử,

nam; đất nước lớn hay nhỏ cũng tuỳ từng đẳng cấp mà có khác” [31, tr.5-6]

Tóm lại, trong khảo cứu này, Phan Khôi đã phân tích mối quan hệ tước vị - đất phong để phủ nhận khái niệm nhà nước phong kiến trong lịch sử dân tộc Trong phạm vi hẹp - triều Lê Thánh Tông, tước phong được đề cập

tương đối kỹ lưỡng trong cuốn Tổ chức chính quyền trung ương dưới triều Lê

Thánh Tông (1460 - 1497) của Lê Kim Ngân (năm 1963) Có thể nói, đây là

một trong những nghiên cứu sớm, chuyên sâu về triều đại Lê Thánh Tông Tác giả đã dành Chương III để khảo về quan chế thời Lê Thánh Tông dưới các góc độ: các quan chức chính (văn giai và võ giai), cách tuyển bổ quan lại, vai trò, chức năng của bộ Lại và lệ phong quan tước, nhiệm vụ và quyền lợi của các quan, biện pháp kiểm sát và trừng trị các quan lại phạm pháp [54] Việc phong tước được tác giả nhìn nhận như là một thành tố cấu thành chính quyền trung ương đương thời, bởi vậy, Lê Kim Ngân đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề về tước phong và lệ phong tước đối với quan văn cũng như quan võ dưới triều Lê Thánh Tông như lệ truy phong, lệ ấm phong, lệ nộp tiền để được phong quan tước, chế độ lộc điền, quân điền, hưu trí của quan lại…

Ở góc độ cơ quan chuyên trách (bộ Lại), tác giả Tổ chức chính quyền

trung ương dưới triều Lê Thánh Tông (1460 - 1497) còn tìm hiểu quá trình

hình thành, phát triển, cơ cấu, tổ chức Phẩm hàm của hệ thống nhân sự thuộc Lại Bộ đã được thống kê khá chi tiết Tuy nhiên, đây là vấn đề cần trao đổi Bởi theo tìm hiểu của chúng tôi, định chế phong tước thời Lê Sơ hoàn toàn

phủ nhận vai trò của Bộ Lại Vì vậy, luận điểm “Lại Bộ có nhiệm vụ phong

tước quan lại” của Lê Kim Ngân [54, tr.56] nên được thảo luận

Trang 24

20

Tìm hiểu về tước vị, năm 1980, Ngô Thế Long tiếp cận Những chức tước

của Nguyễn Trãi trong cuộc đời tận tụy vì nước vì dân của ông Đây là nghiên

cứu rất chuyên sâu về chức, tước của một nhân vật lịch sử [47]

Về sự phát triển của tước vị, tác giả Từ điển chức quan Việt Nam (năm

2002) đã khảo cứu tương đối công phu, đầy đủ về chức, tước, phẩm, trật trong lịch sử Việt Nam Thí dụ với mục từ “vương” (số 1719), Đỗ Văn Ninh đã liệt

kê 9 nghĩa của từ này Ngoài ý nghĩ về xưng hiệu của vua trị vì phương Nam, mục từ “vương” được giải thích: khi người cai trị cao nhất quốc gia xưng “đế” thì “vương” là một tước phong cho con, “tước phong cho người trong tôn thất

có công lao lớn”, “là tước phong cho tản quan” (nghĩa 3, 4, 5); tác giả cũng khẳng định: theo quy chế nhà Trần, phàm các tước Vương vào làm tướng đều

xưng là Công, chỉ có Thân vương thì được phục lại tước Vương (nghĩa 6),

tước hiệu “chỉ phong cho Thân vương” theo quy chế nhà Lê (nghĩa 7) Qua

Từ điển chức quan Việt Nam, chúng ta có được cái nhìn khá toàn diện về tước

phong thời Lê Sơ nói riêng, các triều đại quân chủ Việt Nam nói chung Tuy nhiên, do tính chất của cuốn sách (ngắn gọn, súc tích) nên phạm vi nghiên cứu chỉ dừng ở mức độ tra cứu về nguồn gốc, quá trình phát triển của chức quan trong lịch sử dân tộc [65]

Cũng trong năm này (2002), Đinh Khắc Thuân tiếp cận Chức quan của

Nguyễn Trãi và vị thế của ông trong triều đình nhà Lê Tước Quan Phục hầu

của Nguyễn Trãi được tác giả giải thích: Quan Phục hầu là phẩm tước gia

ban mà cao nhất là Huyện Thượng hầu Tứ tính Lê Trãi là Nguyễn Trãi được đặc ân ban quốc tính, tức được đổi theo họ của nhà vua [83, tr.22-25]

Năm 2012, các tác giả: Phan Huy Lê (chủ biên), Nguyễn Thừa Hỷ,

Nguyễn Quang Ngọc, Nguyễn Hải Kế, Vũ Văn Quân công bố bộ sách Lịch sử

Việt Nam, tập II, thuộc bộ sách Lịch sử Việt Nam - 4 tập Bộ sách “được biên soạn phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập lịch sử Việt Nam

Trang 25

21

không chỉ ở Đại học Quốc gia Hà Nội mà còn trong hệ thống giáo dục đại học nói chung, góp phần nâng cao hiểu biết về lịch sử đất nước, truyền thống dân tộc” Nội dung tập II nghiên cứu và trình bày lịch sử Việt Nam một cách

đầy đủ, toàn diện từ đầu thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XIX, trong đó, chúng tôi muốn nhấn mạnh tới những nghiên cứu về chính sách ruộng đất của nhà Lê, đặc biệt là đãi ngộ về ruộng đất, tuế bổng của nhà Lê Sơ cho quan lại, quý tộc

Căn cứ theo tước vị, Hoàng thái tử, Thân vương, Tự thân vương, Quốc công,

Quận công, Hầu tước, Bá tước được hưởng tuế bổng bao nhiêu, thổ, điền

rộng hẹp ra sao đều được lý giải thích một cách chi tiết, thấu đáo “Theo quy

chế cao nhất là Thân vương được cấp đến 2.090 mẫu ruộng Công chúa được cấp 1.186 mẫu” [45, tr.151]

Qua Lịch sử Việt Nam (tập II), chúng ta còn biết được “chế độ lộc điền

chỉ dành riêng cho tầng lớp quý tộc và quan lại cao cấp”; “người được cấp lộc điền không phải nộp tô thuế cho nhà nước Được quyền khai hoang, tổ chức cấy cày, phát canh hưởng lợi nếu là đất hoang hay thu tô thuế của nông dân nếu là ruộng đất công của làng xã” [45, tr.153]

Ở cuốn Lịch sử tư tưởng Phương Đông và Việt Nam (2012), trong quá

trình tìm hiểu mô hình, bản chất nhà nước phong kiến phương Đông, Nguyễn

Minh Tường đã dẫn Từ nguyên để làm sáng tỏ nguồn gốc tước vị: Phong kiến

(thời Tây Chu) tức “Vương giả dĩ tước, thổ dữ nhân dã”, có nghĩa: Bậc vương giả lấy tước vị và đất đai phong cho người khác Về cơ bản, quan điểm của Nguyễn Minh Tường khá tương đồng với Phan Khôi khi cho rằng “tước vị”

và “đất phong” là hai yếu tố cấu thành tổ chức nhà nước phong kiến mà nhà Tây Chu (Trung Hoa) là dẫn chứng điển hình [88, tr.49-50]

Vẫn liên quan đến nguồn gốc tước phong, năm 2013, khi tìm hiểu Quan

hệ sách phong, triều cống Minh - Đại Việt (1368 - 1644), Nguyễn Thị Kiều

Trang đề cập và giải thích một số khái niệm: Sắc phong, sách phong… Theo tác giả: “Sắc là mệnh lệnh của vua”, “phong là ban cho tước hiệu”, “Sách

Trang 26

22

phong là văn bản ghi chỉ dụ, mệnh lệnh của vua, ban tước hiệu hay đất đai cho một người” Trong lịch sử Trung Hoa, Chu Vũ Vương, Chu Công Đán, Chu Thành Vương đã thi hành chế độ phong tước, cắt đất chia cho con

cháu… một trong năm tước: Công, Hầu, Bá, Tử, Nam [84, tr.22-23] Nói cách

khác, ở cuốn sách này, tước vị được làm sáng tỏ ở khía cạnh thời điểm xuất hiện (giai đoạn nhà Chu) và nguồn gốc (xuất xứ từ Trung Quốc)

Cùng thời điểm (năm 2013), tước vị thời Lê Sơ còn được nhìn nhận như

một đối trọng để so sánh, liên hệ - chúng tôi muốn nhắc tới tham luận Hệ

thống quan chức, phẩm trật của Nguyễn Trọng Thường (Hội thảo Khoa học: Truyền thống Văn hóa - khoa bảng dòng họ Nguyễn Trọng, Trung Cần - Nghệ An) của Nguyễn Đức Nhuệ Ở tham luận này, khi làm sáng tỏ quan chức,

phẩm trật của một nhân vật sinh năm 1681 qua các đạo sắc phong chức, tác giả đã liên hệ với tước chế thời Lê Thánh Tông: Đời vua (Lê) Thánh Tông đã

quy định: Bầy tôi có công lao và quan văn, quan võ được phong tước hầu,

tước bá, lấy tên xã làm hiệu, dùng cả hai chữ; phong cho Quốc công hoặc Quận công lấy tên phủ hoặc huyện làm hiệu, được dùng một chữ… Còn tước

tử, tước nam không dùng để phong cho triều thần, chỉ dùng làm quan giai để

phong cho những người được tập ấm Người con trưởng của tước hầu, tước

bá thì được phong tước tử, người con thứ được phong tước nam - để giải

thích: Nguyễn Trọng Thường được dùng chữ “Cần” trong địa danh quê hương

mình (Trung Cần) để đặt cho tước hiệu được phong: Cần Quận công [62] Một trong những nghiên cứu gần đây (năm 2015) chính là công trình Tổ

chức bộ máy Nhà nước quân chủ Việt Nam (từ năm 939 đến năm 1884) của

Nguyễn Minh Tường [89] Đây là công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc, có nhiều đóng góp về khoa học, đặc biệt là lịch sử Nhà nước quân chủ Việt Nam Tác giả tìm hiểu toàn diện và hệ thống về bộ máy nhà nước các triều đại: Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Champa, Trần, Hồ, Lê Sơ, Mạc, Lê Trung hưng, Chúa Nguyễn, Tây Sơn và triều Nguyễn dưới các góc độ: Tổ chức

Trang 27

23

chính quyền Trung ương; Tổ chức chính quyền địa phương; Tổ chức quân đội; Vấn đề ban hành luật pháp và thực thi pháp luật; Cơ quan kiểm tra, giám sát bộ máy Nhà nước; Cách tuyển bổ quan lại và lệ phong tước; Nhiệm vụ và quyền lợi của quan lại; Vấn đề khảo khóa, thưởng phạt và chế độ hưu trí của

quan lại với một dung lượng không nhỏ để Khái luận về tổ chức Nhà nước

quân chủ trong lịch sử phương Đông (chương I)

Tước vị và định chế phong tước thời Lê Sơ được tác giả đề cập ở chương

VIII (Cách tuyển bổ quan lại và lệ phong tước) qua các vấn đề: tiêu chí phong

tước, tên gọi các tước phong, điều kiện để được phong tước Nguyễn Minh Tường cũng nêu lên những bất cập trong cách giải thích về hình thức phong

tư của một số nhà nghiên cứu đi trước Tuy nhiên, có lẽ do đối tượng nghiên

cứu quá rộng, lại trải dài suốt gần 10 thế kỷ nên Lệ phong tước thời Lê Sơ

chưa được khảo cứu kỹ lưỡng

Không thể không nhắc tới ở đây công trình đồ sộ mang tính “thông sử” là

bộ Lịch sử Việt Nam (2017) gồm 15 tập, hoàn thành trên cơ sở Chương trình

nghiên cứu trọng điểm cấp Bộ do Viện Sử học chủ trì, được học giới đánh gia

là bộ sách có giá trị lớn về học thuật, thực tiễn và xã hội, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, giảng dạy và học tập hiện nay Bộ sách có nội dung rất phong phú, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực: Chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa - xã hội, ngoại giao, an ninh, quốc phòng… Tập 3 của bộ sách do Tạ Ngọc Liễn chủ biên, đề cập đến diễn biến lịch sử Việt Nam trong hai thế kỷ XV và XVI, là khung thời gian xuất hiện, tồn tại các triều đại: Hồ (1400-1407), Lê Sơ (1428-1527), Mạc (1527-1592) với những sự kiện trọng yếu về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa cùng mối liên hệ giữa Việt Nam và các quốc gia lân cận

Ở tập này, nhà Lê Sơ được giải mã dưới nhiều góc độ: Bộ máy nhà nước,

tổ chức hành chính - xã hội ở làng xã, đường lối trị nước, chính sách đối ngoại, công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế, sự phát triển văn hóa và cả quá trình khủng hoảng, suy vong dẫn đến sự thay thế của vương triều Mạc

Trang 28

24

Đáng chú ý là khi trong tổ chức chính quyền trung ương triều Lê Thánh Tông, các thông tin về hiệu định quan chế, chế độ bổng lộc, liên quan đến việc định đối tượng phong tước, niên bổng, ruộng đất, đãi ngộ thụ hưởng đã được nhóm

tác giả tập hợp, đối chiếu, thống kê khá chi tiết Bên cạnh đó, tác giả Lịch sử

Việt Nam, (tập, 3 từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVI) còn đưa ra những luận điểm

rất có giá trị tham khảo như: “Những tầng lớp vương hầu, quý tộc dưới triều

vua Lê Thánh Tông không được thiết lập các điền trang, không được nuôi quân đội riêng như thời Lý - Trần, không được phân phong đi trấn giữ các ngoại trấn… Nói chung, (họ) không được tham dự triều chính” [36, tr.155]

1.1.3 Đóng góp của các nghiên cứu trước Luận án và những vấn đề cần tiếp tục thảo luận

Có thể khẳng định: Vương triều Lê Sơ từng được tìm hiểu rất kỹ dưới nhiều góc độ như tổ chức bộ máy nhà nước, kinh tế nông nghiệp, giáo dục, khoa cử, quan hệ bang giao với nước ngoài nhưng chưa có một chuyên khảo

về tước vị Về cơ bản, các nghiên cứu trước Luận án đã giải quyết được những vấn đề sau:

- Xác nhận sự tồn tại cơ chế phong tước trong chính quyền quốc gia Đại Việt thời Trung đại

- Liệt kê một số tước phong điển hình

- Tìm hiểu tước vị như là một danh vị hữu cơ của các nhân vật lịch sử có nhiều đóng góp cho vương triều

Đây là sự gợi mở rất cần thiết, quý báu cho Luận án nhưng quan trọng hơn, bên cạnh những đóng góp ấy, không ít luận điểm các tác giả, theo chúng tôi là cần có thêm sự trao đổi

Trong chính quyền Trung Hoa, hai hệ thống: Chức quan và tước vị đều

được Đàm Gia Kiện đặt riêng thành mục “quan chế các đời” nhưng có sự tách

biệt rất rõ giữa “tước chế” với “quan chế” Chẳng hạn với nhà Đường, vị học giả họ Đàm chỉ rõ: Trên cơ sở Ngụy - Tấn, nhà Đường hệ thống hóa thêm một

Trang 29

25

bước các phẩm tước Quan phẩm chia thành 18 bậc (cửu phẩm nhị trật), tước

vị gồm 9 bậc (đúng ra là 10 bậc): Vương, Tự vương, Quận vương, Quốc công,

Quận công, Huyện công, Huyện hầu, Huyện bá, Huyện tử, Huyện nam [32,

tr.79] Quan chế Đại Việt cũng có sự phân biệt rất rõ, khi “phân tích quan chế

Đại Việt thời Lý thông qua tài liệu văn khắc”, tác giả Momoki Shiro (Nhật

Bản) nhận thấy: “(chức) quan và tước (vị) được phân biệt rõ ràng” [50, tr.93] Tuy nhiên, trong các nghiên cứu về khoa cử, quan chế thời Lê Sơ thường

có sự nhầm lẫn giữa “quan” với “tước” Tiếp cận hoạt động lập pháp thời Lê

Sơ, tác giả Phạm Thị Ngọc Huyền nhận thấy hiện tượng “nhầm chức với

tước” khá phổ biến; hình phạt “biếm tước” được nhiều quan điểm lí giải là

“giáng chức” [21] Ngay cả sử thần Ngô Sỹ Liên khi ghi chép về diễn biến thời kỳ này dường như cũng không có sự đối chiếu, xác minh triệt để Chẳng hạn như chi tiết: Năm Quang Thuận thứ nhất (1460), nhà Lê Sơ ban lệnh

“người nào có nhiều thóc tình nguyện dâng lên, tùy theo số thóc dâng nhiều

hay ít mà trao cho quan tước” [34, tr.426] Thông tin này được Lê Kim Ngân

khái quát thành “lệ nộp tiền để được phong quan tước” [54, tr.133] Trong một luận điểm khác, tác giả Tổ chức chính quyền trung ương dưới triều Lê

Thánh Tông (1460 - 1497) khẳng định: Trực hệ bề trên và trực hệ bề dưới của

huân thần, hoàng thất cũng “được phong quan tước” [54, tr.124]; đồng quan điểm, Đặng Kim Ngọc khẳng định: nhiều đối tượng là tử tôn của đại thần,

hoàng tộc “được phong ấm tước mà trở thành quan chức” [56, tr.144]…

Những luận điểm này có thể đã hiểu sai và làm giảm giá trị của tước vị Khảo cứu tiêu chí phong tước, chúng tôi nhận thấy tước vị chưa bao giờ được ban phong dễ dàng Dựa vào ân điển của ông cha, con cháu có thể có một chức quan nhỏ theo cơ chế phong ấm, truyền thừa nhưng đó không phải tước

vị theo nghĩa phong tước Với huân thần, quan lại, tiêu chí cũng rất khắt khe - phải là người “đức to - công lớn” mới được trao tặng Quan chức đầu triều nếu không có huân công cũng không thể có được tước vị Thành tựu từ khoa

Trang 30

26

cử, dù là Tiến sỹ hay Trạng nguyên thì cũng không phải là điều kiện đủ để được phong tước Bởi vậy, không thể có lệ “nộp tiền mua tước vị” (Xin trở lại vấn đề này ở phần khảo cứu về nguyên tắc “quân công” tại Chương 2) Thứ hai, theo tìm hiểu của chúng tôi, tước chế thời Lê Sơ hoàn toàn phủ nhận vai trò của bộ Lại trong ý nghĩa là cơ quan xét phong Vì thế, các luận

điểm: “Lại bộ có nhiệm vụ phong tước quan lại” của Lê Kim Ngân, “Bộ Lại

có nhiệm vụ phong tước cho các quan” của Nguyễn Hoài Văn - Đặng Duy

Thìn [92, tr.89] đề cập đến, nên chăng cần được nhận thức lại (nội dung cụ thể xin đề cập ở chương 4 Luận án)

Bên cạnh đó, còn có một số ý kiến, quan điểm mà theo chúng tôi là chưa thỏa đáng và sẽ đề cập cụ thể trong quá trình triển khai Luận án

1.2 Nguồn tư liệu phục vụ Luận án

Để tìm hiểu hệ thống tước vị thời Lê Sơ, Luận án sử dụng các nguồn tư liệu mà giá trị và tính xác thực đã được các nhà nghiên cứu ghi nhận:

1.2.1 Tư liệu tiếng Việt

Các bộ sử, chí

Lam Sơn thực lục (藍 山 實 錄): Nguồn tư liệu này được viết dưới dạng

“hồi ký chính trị”, biên soạn năm Thuận Thiên thứ tư (1431) Lam Sơn thực

lục giúp hậu thế nhận thức tính chính nghĩa của cuộc khởi nghĩa “10 năm nếm

mật nằm gai” Nội dung chủ yếu của tập sách ghi lại diễn biến cuộc khởi

nghĩa Lam Sơn Về mặt văn bản, Lam Sơn Thực lục được biết đến với 6 bản

chữ Hán Viện Hán Nôm lưu giữ 5 bản trong đó có bản mà năm 1979, nhà nghiên cứu Hoàng Xuân Hãn đã tặng cho Viện Thông tin Khoa học Xã hội

Việt Nam được gọi là Trùng san Lam Sơn thực lục 重 刊 藍 山 實 錄 (Hồ Sĩ

Dương san định, Trần Nghĩa dịch, chú thích và giới thiệu) in năm Vĩnh Trị

nguyên niên (năm 1676) Bản Trùng san được sử dụng khá phổ biến hiện nay

Bản còn lại được Nguyễn Diên Niên khảo chứng, Lê Văn Uông dịch, tên thông dụng là “bản Lê Sát”/ “bản nhà Lê Sát” [64]

Trang 31

27

Căn cứ vào thời điểm biên soạn, có thể nói, Lam Sơn thực lục là một

trong những tư liệu có niên đại sớm nhất về thời Lê Sơ (chỉ sau khi Lê Thái

Tổ lên ngôi vài năm) Tuy hạn chế của tư liệu này là tính “tam sao thất bản” (bản gốc năm 1431 không còn) song những ghi chép tản mát về việc Lê Lợi vinh phong, trọng thưởng công thần đã cung cấp cho Luận án một số thông tin quan trọng về tước vị, danh tính những cá nhân được phong tước… đặc

biệt là nội dung Lam Sơn thực lục “bản Lê Sát” Luận án sử dụng song song hai phiên bản Lam Sơn thực lục (bản Trùng san và bản Lê Sát) để khảo cứu

Đại Việt sử ký toàn thư (大越史記全書): bộ quốc sử được đánh giá lớn

nhất Việt Nam viết theo thể biên niên từ thời truyền thuyết Kinh Dương Vương (năm 2879 Tr.CN) đến năm 1675 (đời vua Lê Gia Tông); được khắc

in toàn bộ và phát hành lần đầu tiên vào năm Chính Hoà thứ 18 (năm 1697)

Bộ sử bắt đầu được Ngô Sĩ Liên biên soạn dựa trên sự chỉnh lý và bổ

sung hai bộ sử trước đó cùng mang tên Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu và

Phan Phu Tiên; hoàn thành vào niên hiệu Hồng Đức thứ 10 (năm 1479), ghi lại lịch sử Việt Nam từ năm 2879 trước Công Nguyên đến trước khi nhà Hậu

Lê được thành lập (1427), mang tên Đại Việt sử ký toàn thư Đến niên hiệu

Cảnh Trị, chúa Trịnh Tạc hạ lệnh cho Tham tụng Phạm Công Trứ và một số quan văn tiến hành sửa chữa bộ sách năm 1479, đồng thời sai biên soạn tiếp đến năm 1662 (Lê Thần Tông) Nhóm Phạm Công Trứ soạn thảo thành 23 quyển thì công việc phải bỏ dở Những năm Chính Hòa đời vua Lê Hy Tông, chúa Trịnh Căn chỉ thị Tham tụng Lê Hy cùng một số quan lại khác tiếp tục khảo đính sản phẩm của nhóm Phạm Công Trứ, đồng thời chép tiếp lịch sử đến năm 1675 Bộ quốc sử này gồm 25 quyển, được khắc in toàn bộ và phát hành vào niên hiệu Chính Hòa thứ 18 đời vua Lê Hy Tông, tức là năm 1697

cũng mang tên Đại Việt sử ký toàn thư

Đại Việt sử ký toàn thư (bản Chính Hòa) do Hoàng Văn Lâu dịch, chú

giải; Hà Văn Tấn hiệu đính Tập 1, 2 lần lượt được in vào các năm 1983,

Trang 32

28

1985 Đến năm 1993, hai tập này được sửa chữa và in tái bản, đồng thời Hội đồng chỉ đạo phiên dịch còn cho in tiếp tập 3 và tập 4 Bộ sách tiếp tục tái bản vào các năm: 1998, 2000, 2004 và 2009 Gần đây nhất, công ty Đông A phối hợp với nhà xuất bản Khoa học xã hội cho in tái bản thành một tập, khổ lớn

25cm x 35cm Đại Việt sử ký toàn thư cung cấp cho Luận án những tư liệu

chân xác, cụ thể về nhiều vấn đề của lịch sử, trong đó có hệ thống tước vị và những gì liên quan đến tước phong thời Lê Sơ

Luận án sử dụng bản dịch Đại Việt sử ký toàn thư năm 1993 Xin được

nói rõ hơn là năm 2001, văn bản này được Lê Bắc, Công Đệ, Ngọc Thủy, Tuyết Mai, Hồng Ty và Nguyễn Quang Trung chuyển sang phiên bản điện tử, đăng tải tại Thư viện tài liệu trực tuyến tailieuxanh.com Từ “bản cứng” sang

“bản mềm” đã có sự sai lệch về thứ tự các trang Sau khi đối chiếu, để tiện cho tra cứu; đồng thời chứng tỏ sự tôn trọng Thư viện trực tuyến, NCS đã sử dụng, chú thích theo số trang của phiên bản điện tử, và xin cam đoan về nội dung trích dẫn [34]

Lê triều quan chế (黎 朝 官 制): Bản gốc được lưu giữ tại Viện Nghiên

cứu Hán Nôm, kí hiệu, A.51, dung lượng 216 trang, khổ 32cm x 23cm, có bài

dụ của Lê Thánh Tông soạn năm Hồng Đức thứ 2 Sách gồm 6 quyển, 108 tờ, đóng thành một tập, quyển I có 27 tờ, quyển II có 12 tờ, quyển III có 12 tờ, quyển IV có 28 tờ, quyển V có 7 tờ, quyển VI có 22 tờ Sách có nêu quan chế của niên hiệu các triều đại trước đấy như niên hiệu Kiến Trung (1225-1231), Thuận Thiên (1428-1433), Thiệu Bình (1434-1440), Quang Thuận (1469-1479) nhưng tập trung vào quan chế thời Hồng Đức Ngoài ra, sách còn ghi chép đến cả niên hiệu Cảnh Hưng thứ 16 [37]

Khi công bố bản in do Phạm Văn Liệu dịch và chú giải (1977), Viện Sử học & Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin đã căn cứ vào niên hiệu Cảnh Hưng (1740-1786) để xác định sách được biên soạn sớm nhất vào cuối thế kỷ XVIII hoặc đầu thế kỷ XIX (trước năm 1841) Hai cơ quan này cũng nhận thấy sách

Trang 33

Kiến văn tiểu lục (见闻小录): Là một trong những tác phẩm rất có giá trị

của Lê Quý Đôn Theo mục lục ở đầu sách, Kiến văn tiểu lục (Chép vặt

những điều mắt thấy tai nghe) gồm 12 phần (cũng tức 12 quyển) là: Châm cảnh, Thể lệ thượng, Thể lệ hạ, Thiên chương, Tài phẩm, Phong vực thượng, Phong vực trung, Phong vực hạ, Thiền dật, Linh tích, Phương thuật, Tùng đàm Hiện tại, bộ sách của Lê Quý Đôn chỉ còn lưu giữ được 8 phần, thiếu

mất bốn phần: Thể lệ hạ, Phong vực trung, Phong vực hạ và Phương thuật Với Luận án, công trình của Lê Quý Đôn - phần Thể lệ thượng đã cung

cấp nhiều thông tin có giá trị về hệ thống tước vị thời vua Lê Thái Tổ, định chế phong tước thời Lê Thánh Tông và các vấn đề liên quan đến đãi ngộ vật chất cho trọng thần, hoàng tộc có tước phong Phần nội dung trích dẫn, sử dụng là bản dịch của Viện Sử học (1961) do Phạm Trọng Điềm biên dịch và chú giải Bản in lại năm 2007 do Nxb Văn hóa - Thông tin ấn hành [13]

Lịch triều hiến chương loại chí (歷 朝 憲 章 類 誌): là công trình rất có

giá trị khoa học, được các nhà nghiên cứu đánh giá là bộ “bách khoa toàn

thư” về Phép tắc các triều đại chép theo thể phân loại do Phan Huy Chú soạn

trong 10 năm (1809-1819) Nội dung bộ sách ghi chép dữ liệu lịch sử từ thời Hồng Bàng đến giai đoạn Lê Mạt, gồm 49 quyển, chia làm 10 phần:

1- Ðịa dư chí (từ quyển 1 đến quyển 5)

2- Nhân vật chí (từ quyển 6 đến quyển 12)

3- Quan chức chí (từ quyển 13 đến quyển 19)

4- Lễ nghi chí (từ quyển 20 đến quyển 25)

5- Khoa mục chí (từ quyển 26 đến quyển 28)

6- Quốc dụng chí (từ quyển 29 đến quyển 32)

Trang 34

30

7- Hình luật chí (từ quyển 33 đến quyển 38)

8- Binh chế chí (từ quyển 39 đến quyển 41)

9- Văn tịch chí (từ quyển 42 đến quyển 45)

10- Bang giao chí (từ quyển 45 đến quyển 49)

Lịch triều hiến chương loại chí đã nhiều lần được in ấn, tái bản, đó là các

năm: 1960 (bộ 4 tập), năm 1992 (bộ 3 tập), năm 2007 (bộ 2 tập) Ở miền Nam, bộ sách cũng được in ấn, phát hành vào các năm 1971 - 1972 và 1973 Sách cung cấp cho Luận án nhiều tư liệu quan trọng về thể lệ phong tước qua các thời kì Dưới thời Lê Thánh Tông, tác giả Phan Huy Chú đã có những ghi chép tỉ mỉ, cẩn trọng về tước vị, các hình thức, đối tượng được ban phong Đối chiếu nội dung bộ sách qua các bản dịch, chúng tôi nhận thấy không

có sự khác biệt nào lớn, do vậy, để thống nhất trong trích dẫn, Luận án sử dụng bộ sách phát hành gần nhất (năm 2007) của Nxb Giáo dục [9]

Khâm định Việt sử thông giám cương mục (欽 定 越 史 通 鑑 綱 目):

Bộ sử lớn thứ hai của Việt Nam này được Quốc sử quán của triều Nguyễn soạn thảo (Phan Thanh Giản tổng tài) vào khoảng thời gian từ năm 1856 đến năm 1884, cụ thể như sau: Năm 1856, vua Tự Đức (嗣 德) chỉ đạo biên soạn; năm 1859 hoàn thành; năm 1871 duyệt nghị; năm 1872 duyệt kiểm; năm 1876 phúc kiểm; năm 1878 duyệt định; năm 1884 kiểm duyệt; năm Kiến Phúc thứ

nhất (1884) khắc in Khâm định Việt sử thông giám cương mục được biên

soạn theo thể biên niên, chia thành “cương” (tạm hiểu là tóm tắt) và “mục” (chép rộng, cụ thể), gồm 53 quyển (1 quyển thủ, 52 quyển sau) Quyển thủ ghi lại dụ chỉ, tấu nghị, phàm lệ, biểu dâng, mục lục, chức danh 52 quyển sau

được hợp bởi 2 phần: Phần Tiền biên: 5 quyển, chép từ thời Hồng Bàng đến giai đoạn mười hai sứ quân (tức năm 967); phần Chính biên: 47 quyển, chép

từ năm 967 đến vị vua cuối cùng của nhà Hậu Lê - Lê Chiêu Thống, năm

1789 Phần này được chia thành 4 tiểu mục: nhà Đinh và nhà Tiền Lê (2 quyển) - nhà Lý (3 quyển) - nhà Trần (5 quyển) - nhà Hậu Lê - 37 quyển

Trang 35

31

Bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục được Viện Sử học Việt

Nam dịch sang chữ quốc ngữ năm 1960 Trong quá trình in, những người làm sách đã bỏ hai chữ “Khâm định” Đến năm 1998, bộ quốc sử này được Nhà xuất bản Giáo dục (Hà Nội) ấn hành, khôi phục lại những chữ đã bỏ ban đầu

Để khảo cứu đề tài, chúng tôi sử dụng nhiều thông tin mà Khâm định Việt sử

thông giám cương mục cung cấp như: định chế về việc phong tước, chế độ

điền thổ, sản nghiệp cho người được phong tước…[71]

Sử học bị khảo: là một trong hai công trình sử học tiêu biểu của Đặng

Xuân Bảng, khảo cứu về ba vấn đề: Thiên văn, Địa lý và Quan chế trong lịch

sử dân tộc Bản dịch của công trình được Viện Sử học - Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin ấn hành năm 1997

Sử học bị khảo cung cấp nhiều thông tin về quan chế Đặng Xuân Bảng

đã từng bước tiếp cận và làm sáng tỏ nhiều vấn đề liên quan đến quan chế từ

thời Đinh tới “bản triều” (tức triều Nguyễn) Phần quan chế đời Lê tập trung

vào các chức quan, nhân sự của các Bộ: Lại, Hộ, Lễ, Công cũng như các cơ quan Ngự sử đài, lục Khoa… từ khi Lê Thái Tổ lên ngôi đến hết niên hiệu Hồng Đức (Lê Thánh Tông) Trong hệ thống quan chế đời Lê, yếu tố “phẩm cấp” đã được Đặng Xuân Bảng giải mã trong tương quan với “chức quan” (từ

cao nhất là Chánh nhất phẩm tới thấp nhất là Tòng cửu phẩm) Vấn đề tước

phong được đề cập tương đối sơ lược (hệ thống tước vị thời Lê Thái Tổ chỉ chiếm dung lượng khoảng 10 dòng) [5]

Các văn bản điển chế và pháp luật

Hồng Đức Thiện Chính thư: Tư liệu là một trong những văn bản cổ luật

rất được quan tâm và có giá trị, tuy nhiên, do tư liệu nằm ngoài hệ thống các

văn bản luật “chính thống” (bao gồm: Thiên Nam dư hạ tập, Quốc triều chiếu

lệnh Thiện Chính, Quốc triều Thiện Chính tập, Quốc triều Thiện Chính tục tập) nên đem lại không ít “phiền toái” khi khảo cứu về nội dung Hiện nay,

Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã và đang lưu giữ 3 văn bản có cùng tên gọi

Trang 36

32

(Hồng Đức Thiện Chính thư), đều là bản chép tay, mang các ký hiệu: A.330, Vhv.1267 và Vht.29 và đều không ghi niên đại biên soạn Khảo tả văn bản,

văn tự, nhà nghiên cứu Trần Thị Kim Anh cho rằng Hồng Đức Thiện Chính

thư được soạn vào giữa thời điểm biên soạn Thiên Nam dư hạ và Quốc triều chiếu lệnh Thiện Chính Cũng theo nữ dịch giả họ Trần, Hồng Đức Thiện Chính thư “tuy không có giá trị lớn để tìm hiểu đầy đủ về các hoạt động pháp

chế trong suốt thời kỳ tồn tại của nhà Lê và nhà Mạc song các điều luật mà chủ yếu là luật hộ hôn và điền sản được tập hợp trong nó đã cung cấp một số

tư liệu quan trọng về các vấn đề dân luật” [95, tr.422]

Trên cơ sở so sánh, đối chiếu các phiên bản Hồng Đức Thiện Chính thư,

năm 2006 Viện Nghiên cứu Hán Nôm tổ chức biên soạn, dịch thuật, hiệu đính

và công bố trong cuốn Một số văn bản điển chế và pháp luật Việt Nam (tập I:

Từ thế kỷ XV đến XVIII); đây cũng là tư liệu tác giả Luận án tiếp cận và tham cứu Tư liệu có ý nghĩa rất lớn khi tìm hiểu về đãi ngộ cho quan lại nhà

Lê Sơ, đặc biệt là chế độ tử tuất (cụ thể là diện tích mộ địa) cho nhân sự trong chính quyền đương thời

Quốc triều hình luật (國 朝 刑 律), còn có tên gọi thông dụng là Luật Hồng Đức hay Luật nhà Lê Đây là bộ luật đương thời, một trong những thư

tịch cổ nhất mà văn bản còn được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm Được biết, tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện có hai bản khắc mang tên

Quốc triều hình luật và một số văn bản Lê triều hình luật được sao chép lại

Trong đó, theo các nhà nghiên cứu, bản in ván khắc mang ký hiệu A.341 là hoàn chỉnh hơn cả và được coi là văn bản có giá trị nhất

Quốc triều hình luật gồm 6 quyển, in trên 129 tờ giấy bản, không có tác

giả, niên đại Bìa sách (thay thế) được viết bằng bút lông Về cơ bản, Quốc

triều hình luật đã được Phan Huy Chú chép lại trong Lịch triều hiến chương loại chí (phần Hình luật chí) Quốc triều hình luật (bản A.341) gồm 5 quyển

có 2 chương và 1 quyển có 3 chương, tương đương 6 quyển, 13 chương (722

Trang 37

33

điều), trước mỗi chương đều có thông số cụ thể về màu sắc (với tang phục), kích thước, loại hình (với công cụ thực thi luật: roi, gông, dây…) 13 chương

này bao gồm: Chương Danh lệ (49 điều), chương Vệ cấm (47 điều) chương Vi

chế (144 điều), chương Quân chính (43 điều), chương Hộ hôn (58 điều),

chương Điền sản (59 điều), chương Thông gian (10 điều), chương Đạo tặc (54 điều), chương Đấu tụng (50 điều), chương Trá ngụy (38 điều), chương

Tạp luật (92 điều), chương Bộ vong (13 điều) và chương Đoán ngục (65

điều) Toàn bộ nội dung đã được Viện Nghiên cứu Hán Nôm biên soạn, dịch

thuật, hiệu đính và tập hợp thành cuốn Một số văn bản điển chế và pháp luật

Việt Nam, (Tập I: Từ thế kỷ XV đến XVIII ), phát hành năm 2006 [96]

Đối với Luận án, Quốc triều hình luật cung cấp thông tin về quyền và

nghĩa vụ của quan lại cũng như các loại tội phạm về chức vụ (144 điều) Bộ luật cũng cho chúng tôi biết thêm thông tin về hình thức tuyên phạt, ngoài

Ngũ hình, luật Hồng Đức còn quy định hình thức biếm - thưởng tư

Thiên Nam dư hạ tập (天 南 餘 暇 集): Là sưu tập lớn về các cuốn sách,

được Thân Nhân Trung - 申仁忠 (1419-1499) và Đỗ Nhuận - 杜 潤(1440 -?) viết năm 1438 Theo Viện Nghiên cứu Hán Nôm thì cuốn sách do Lê Thánh Tông “chủ biên”, Đỗ Nhuận và Nguyễn Trực biên soạn Nội dung cuốn sách

tập hợp “thơ, văn, điển lệ, điều luật, chinh chiến, quan chức, thiên văn, địa lí,

lịch sử… của nhà Lê, từ Lê Thánh Tông trở về trước”

Thiên Nam dư hạ tập gồm 100 cuốn, song trải qua thời gian đã bị thất

lạc, mất mát khá nhiều, chỉ còn lại 10 cuốn được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu A.334/1 - 10 Trong số 9 tập khổ 31cm x 22cm, riêng tập 9

có khổ 27cm x 16cm với tổng số 1.676 trang 10 tập sách thuộc bộ Thiên Nam

dư hạ tập có nội dung kí hiệu lưu giữ lần lượt là:

1 Điều luật và Quan chế (A.334/1 - 10)

2 Bình thi văn (A.334/2)

3 Liệt truyện, Tạp thức (A.334/3)

Trang 38

10 Thiên hạ bản đồ; Quan chế (A.334/10)

Cũng như Quốc triều hình luật, nội dung Thiên Nam dư hạ tập được khảo cứu, dịch thuật và công bố trong cuốn Một số văn bản điển chế và pháp

luật Việt Nam (năm 2006) Chúng tôi sử dụng quy định về chế độ đãi ngộ

quan lại, Sắc dụ năm 1471 về hiệu định quan chế trong Thiên Nam dư hạ tập

để làm sáng tỏ nội dung đề tài Ngoài ra, bộ sách còn cung cấp nhiều thông tin cần thiết về tình hình chính trị, kinh tế đất nước thời Lê Sơ [97]

Tư liệu văn bia

Với nguồn tư liệu này, chúng tôi rất may mắn vì hầu hết các văn bia thời

Lê Sơ đều đã được Viện Nghiên cứu Hán Nôm tổ chức biên dịch và hiệu đính một cách kỹ càng, tỉ mỉ Tập hợp 67 tấm bia đá thời Lê Sơ được các nhà nghiên cứu: Phạm Thị Thùy Vinh, Trần Thị Kim Anh, Trương Thị Thủy và

Nguyễn Ngọc Thanh giới thiệu trong cuốn Văn bia Lê Sơ tuyển tập (2014) Công trình được đánh giá là “công phu, thể hiện những kiến thức văn hóa

cũng như sự nghiêm túc của nhóm dịch giả” Nội dung văn bia thời Lê Sơ

truyền tải rất phong phú, đa dạng, cung cấp thông tin trên nhiều lĩnh vực Với Luận án, những nội dung liên quan đến tước phong trên hệ thống văn bia nói trên không nhiều, lại rất tản mạn Chỉ một số ít trong 67 tấm bia

đá nói trên có đề cập đến tước vị của những nhân vật đương thời song đó là những thông tin quý báu, giúp ích rất nhiều trong việc làm sáng tỏ định chế tước phong thời Lê Sơ [94]

Trang 39

35

Điển hình như Thụy Cung Vũ chi thạch bi Theo tác giả bài viết Hiểu

thêm về khai quốc công thần Lê Lộng qua tấm bia mới phát hiệnthì bia được phát hiện “ở địa phận khu đất đồi thuộc làng Lam Sơn, xã Xuân Lam, huyện

Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa Phần “trán bia” viết sáu chữ Triện: Thụy Cung

Vũ chi thạch bi làm tên bia Dẫu vẫn còn những vấn đề cần tiếp tục làm sáng

tỏ thì Thụy Cung Vũ chi thạch bi đã cung cấp cho Luận án những thông tin quan trọng về hệ thống huân - tước thời Lê Sơ: Thượng trí tự là tước vị! Một thí dụ khác là Khôn Nguyên chí đức chi bi “Bia Khôn Nguyên chí

đức” cung cấp nhiều thông tin về Ngô Thị Ngọc Dao, đáng chú ý là quy định

truy phong tước vị đối với trực hệ bề trên của vị Thái hậu này, cụ thể là (phiên

âm): …Cao tổ tỷ huý Quỳnh Khôi, tính Đinh thị, Á quận chúa kiêm Bảo Từ

cung Đại Hoàng bà; tằng tổ khảo huý Tây, hoàng triều tặng Kiến Tường hầu, Tăng tổ tỷ huý Ngọc Luân, tính Đinh thị, tặng Kiến Tường Quận phu nhân;

Tổ khảo huý Kinh, truy phong Hưng quận công, tổ tỷ huý Mại, tính Đinh thị, tặng Hưng Đức Quốc phu nhân, khảo húy Từ, Tuyên phủ sứ Thái tử Thiếu Bảo Quan nội hầu, tặng Chương khánh công, gia tặng Ý Quốc công, tỷ huý Ngọc Kế, tính Đinh thị, tặng Ý quốc phu nhân [94, tr.380]

Hay như Đại Việt Thái bảo Bình lạc hầu chi mộ, nội dung “bài văn bia trên mộ của Thái Bảo Bình Lạc hầu nước Đại Việt” hé lộ thông tin: Trịnh Duy Hiếu từng bị giáng từ tước Hầu (Bình Lạc hầu) xuống tước Nam (Bình

Lạc nam) - phiên âm: Quang Thuận ngũ niên Giáp Thân thập nhị nguyệt

phong Bình Lạc hầu Hồng Đức nhị niên Tân Mão cửu nguyệt cải Sùng Tiến tuyên lộc Đại phu Bình Lạc nam

Ngoài ra, Luận án còn sử dụng thông tin từ một số văn bia khác như:

- Quốc triều tá mệnh công thần chi bi,

- Hoàng Việt khai quốc công thần chi bi,

- Bia đá chữ (tên dân gian),

- Tặng Thư Quận công Trịnh Công chi bi…

Trang 40

36

Tư liệu bản đồ

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm Quang Thuận thứ tám (1467), vua Lê

Thánh Tông “ra lệnh cho 12 Thừa tuyên điều tra hình thế sông, núi, sự tích xưa nay của các nơi trong hạt mình, vẽ thành bản đồ ghi chú rõ ràng” [34,

tr.448] Đây chính là bộ Atlas quốc gia đầu tiên được biên vẽ và ban hành,

có tới 10 bản văn cùng đề cập đến bản đồ Hồng Đức, bao gồm: Hồng Đức

bản đồ (A.2499), Hồng Đức bản đồ (VHt 41), An Nam quốc, Trung Đồ tính thập tam thừa tuyên hình thế đồ hoạ, (A.2531), An Nam hình thắng đồ

(A.3034), Thiên Nam lộ đồ (A.1081), Nam Việt bản đồ (A.1603), Giao Châu

dư địa chí (VHt 30), hai văn bản có tên Thiên tải nhàn đàm (A.584), Thiên tải nhàn đàm (không có ký hiệu) và Thiên hạ bản đồ tổng mục lục đại toàn

(A.1362)

Bản đồ hành chính thời Hồng Đức cung cấp không ít thông tin quan

trọng Lấy thí dụ lược đồ Thanh Hóa thừa tuyên lục phủ, nhị thập nhị huyện,

tứ châu sơn hình thế chi đồ1 Xét đơn vị hành chính cấp huyện Đông Sơn (kí

hiệu số 25), đối chiếu với định chế phong Hầu dưới niên hiệu Hồng Đức (hầu

tước lấy huyện đặt tước hiệu) thì thấy trùng khớp với tước hiệu của Mạc

Quyết được ban tặng năm 1522 (tước Đông Sơn hầu) Từ đây có thể suy ra:

Hai mươi mốt đơn vị hành chính cùng cấp như huyện Ngọc Sơn (số 15), huyện An Định (số 31), huyện Lạc Thổ (số 50)… có thể cũng được sử dụng

để đặt tước hiệu Tuy nhiên, trong quá trình tìm hiểu, các nhà nghiên cứu đã

1

Xin xem lược đồ Thanh Hóa thừa tuyên lục phủ, nhị thập nhị huyện, tứ châu sơn hình thế chi đồ

phần PL.1B Phụ lục

Ngày đăng: 18/06/2021, 09:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w