Ruộng đất và các đãi ngộ khác

Một phần của tài liệu Luận án tiến sĩ hệ thống tước vị thời lê sơ (Trang 101 - 104)

Chương 3. ĐÃI NGỘ THỤ HƯỞNG VÀ ĐẶC QUYỀN CỦA QUÝ TỘC, ĐẠI THẦN PHONG TƯỚC THỜI LÊ SƠ

3.1. Đãi ngộ vật chất

3.1.3. Ruộng đất và các đãi ngộ khác

Ngay từ khi lên ngôi, Lê Thái Tổ đã nhận thấy những bất cập trong sở hữu đất đai: “Người đi đánh giặc thì nghèo, kẻ rong chơi thì giàu. Người đi chiến đấu thì không có một thước, một tất đất mà ở còn những kẻ du thủ du thực, không có ích gì cho nước lại có quá thừa ruộng đất” [34, tr.356] nên sớm quy định các hạng ruộng tốt - xấu để ban cho quan lại, quân nhân. Trong định chế chung về ruộng đất, hoàng thất và công thần khai quốc luôn đƣợc ƣu đãi lớn về diện tích sở hữu. Hoàng tộc đƣợc cấp đất dựng phủ đệ, đƣợc ban tối thiểu 1 mẫu và tối đa 2 mẫu, quân nhân thiết đột ngoài quy định chung thì được hưởng thêm 5 sào. Năm Hồng Đức thứ tám (1477), vua Lê Thánh Tông định thể lệ điền thổ cho bách quan, gồm các loại hình:

- Lộc điền: ruộng canh tác thu lợi, qua đời phải trả lại cho nhà nước.

- Lộc thổ: đất đai canh tác thu lợi, qua đời cũng trả lại cho nhà nước.

- Thế nghiệp điền (ruộng thế nghiệp): có thể truyền lại cho con cháu.

- Thế nghiệp thổ (đất thế nghiệp): cũng đƣợc truyền lại cho tử tôn.

- Tế tự điền (ruộng tế tự): sau khi qua đời lấy hoa màu để cúng tế.

Ngoài ruộng đất, hoàng tộc, đại thần phong tước còn được thụ hưởng nhiều đãi ngộ khác như lượng người hầu, số hộ làm mắm muối và đặc biệt là số lƣợng hộ thực phong, thực ấp - chỉ dành riêng cho hoàng thất nhà Lê Sơ.

Thổ - điền cho hoàng tộc phong tước: tại bảng thống kê 3.4 dưới đây.

Bảng 3.4. Quy định ruộng đất cho Hoàng tộc nhà Lê Sơ năm 1477 Loại hình

ruộng đất

Thân vương

Thân tự vương

Quốc công

Quận công

Hầu tước

tước

Tử tước

Nam tước Thế nghiệp điền 600 500 400 350 300 200 Không

Thế nghiệp thổ 40 36 34 32 30 28 18 16

Ruộng vua ban 1000 500 300 300 260 230 100 80

Bãi trồng dâu 150 110 100 90 80 70 30 20

Ao đầm (trị giá) 80 70 60 40 40 30 Không

Tế tự điền 300 250 200 160 160 140 70 60

98

Hộ thực phong 500 200 Không được hưởng thực phong

Người hầu 500 130 120 80 80 70 Không

Hàm diêm hộ 100 70 60 40 40 40 Không

Đơn vị tính: ruộng, đất = mẫu, tiền và ao đầm = quan, thực phong = hộ, người hầu và dân làm muối = người Nguồn: Lịch triều hiến chương loại chí [9, tr.646-647]

Thổ - điền cho đại thần phong tước

- Đại thần các bậc Công, Hầu, Bá không có thế nghiệp thổ, còn tiêu chuẩn về thế nghiệp điền, ruộng vua ban, bãi trồng dâu, ao đầm (trị giá tiền) và ruộng tế tự giống nhƣ hoàng tộc.

- Đại thần đƣợc phong Tử tước, Nam tước, có quan phẩm từ Tòng nhị phẩm đến Chánh nhất phẩm không đƣợc ban thế nghiệp thổ, các tiêu chuẩn khác giống như người hoàng tộc.

Đại thần ở trong kinh thành thì đƣợc thêm tiêu chuẩn về thổ trạch và ao đầm. Với quan chức đương triều, phẩm cấp cao nhất cũng chỉ được 1 mẫu thổ trạch và không có ao đầm (đơn vị đo lường thời Lê Sơ tính 1 mẫu = 20 sào, 16 thước, 5 tấc [37, tr.119]), để dễ hình dung, xin xem biểu đồ 3. 5 dưới đây.

Biểu đồ 3.5. Đãi ngộ điền - thổ cho Đại thần phong tước thời Lê Sơ Đơn vị tính: mẫu

Chú thích: Quốc Công: thổ trạch 4 mẫu, ao đầm 3 mẫu.

Quận công: thổ trạch 3 mẫu, ao đầm 2 mẫu.

Hầu tước: thổ trạch 2,5 mẫu, ao đầm 1,5 mẫu.

Bá tước: thổ trạch 2 mẫu, ao đầm 1,2 mẫu.

99

Chi tiết về đãi ngộ ruộng, đất, người hầu… trong Kiến văn tiểu lục có đôi chút sai lệch và không ít thông tin mâu thuẫn: Thế nghiệp điền của tước cao hơn Hầu tước, tế tự điền của Bá tước, Phò mã cao hơn Quận công

Nhiều chỉ số đãi ngộ không đƣợc đề cập, xin ghi ra đây để tham khảo:

Bảng 3.6. Quy định ruộng đất cho Hoàng tộc nhà Lê Sơ năm 1477 Loại hình

ruộng đất

Thân vương

Thân tự vương

Quốc công

Quận công

Hầu tước

tước

Phò mã

Thế nghiệp điền 600 400 300 260 30 150 --- Thế nghiệp thổ 40 36 34 30 --- 10 --- Ruộng vua ban 1000 400 200 130 --- 100 80

Bãi trồng dâu 150 90 90 80 --- 70 ---

Ao đầm (trị giá) 80 70 60 50 --- 30 --- Tế tự điền Không đề cập 200 17 --- 70 50 Hộ thực phong 500 200 Không được hưởng thực phong

Người hầu 600 220 120 15 60 60 ---

Hàm diêm hộ 100 100 70 60 40 40 ---

Đơn vị tính: ruộng, đất = mẫu, tiền và ao đầm = quan, thực phong = hộ, người hầu và dân làm muối = người Nguồn: Kiến văn tiểu lục [13, tr.167-168]

Thời Lê Thánh Tông, tiêu chuẩn về ruộng đất, ao đầm và các đãi ngộ khác được quy định rất rõ ràng theo tiêu chí cao - thấp của chức, tước cũng nhƣ các cấp bậc khác trong hậu cung, nhiệm sở. Tuy nhiên, diện tích ruộng đất được ban thưởng rất nhiều trong khi lãnh thổ quốc gia Đại Việt “chưa đƣợc rộng lớn”. Tác giả Khâm định Việt sử thông giám cương mục đã nhận thấy sự phi lí này và bày tỏ nghi ngờ: “Thuế công quốc gia còn được bao nhiêu, việc này chưa thể tin được” [71, tr.1149].

Một phần của tài liệu Luận án tiến sĩ hệ thống tước vị thời lê sơ (Trang 101 - 104)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(222 trang)