Trong những vấn đề ấy, một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấpthiết đã và đang đặt ra, đòi hỏi phải được nghiên cứu, giải đáp, đó là: xu hướngbiến động về cơ cấu, vai trò của giai
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng; động lực chính củacuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, cơ sở xã hội chủ yếu của Đảng Cộng sản ViệtNam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Xây dựng giai cấpcông nhân Việt Nam vững mạnh là vấn đề cấp bách Điều đó xuất phát từ thựctrạng giai cấp công nhân nước ta hiện nay,đặc biệt từ vai trò của nó và đòi hỏikhách quan qua việc xây dựng giai cấp công nhân trong sự nghiệp đổi mới, sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Trong tình hình hiệnnay,khi chủ nghĩa xã hội thế giới đang trải qua một thời kỳ khủng hoảng nghiêmtrọng nhất; khi mà cuộc tiến công mới của kẻ thù đang tập trung vào việc xoá bỏ
hệ tư tưởng Mác-Lênin, phủ nhận tính tất yếu của chủ nghĩa xã hội và vai tròlãnh đạo của Đảng Cộng sản - đội tiên phong của giai cấp công nhân - thì việcnghiên cứu về giai cấp công nhân Việt Nam để góp phần củng cố, xây dựng giaicấp này vững mạnh; việc khẳng định vai trò lịch sử của giai cấp công nhân ViệtNam cách mạng xã hội chủ nghĩa càng có ý nghĩa quan trọng
Để xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam vững mạnh, nhằm đáp ứng yêucầu của cuộc cách mạng trong giai đoạn mới, Đảng và Nhà nước ta phải nghiêncứu, giải quyết nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về giai cấp công nhân ViệtNam Trong những vấn đề ấy, một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấpthiết đã và đang đặt ra, đòi hỏi phải được nghiên cứu, giải đáp, đó là: xu hướngbiến động về cơ cấu, vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam trong nền kinh tếhàng hoá nhiều thành phần ở thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Nghiên cứu làm rõ vấn đề này có ý nghĩa rất quan trọng Bởi lẽ, đó là mộttrong những vấn đề lý luận và thực tiễn bao quát và định hướng xã hội chủnghĩa của công cuộc đổi mới, là một trong những cơ sở khoa học cho Đảng vàNhà nước ta định hướng ra các chính sách đúng đắn để phát triển giai cấp côngnhân cả về số lượng và chất lượng Tầm quan trọng của vấn đề còn ở chỗ, khi ởnước ta có khuynh hướng phủ nhận vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân,cho rằng vai trò đó ngày nay phải thuộc về tầng lớp trí thức; khi trên thế giới cónhững người cho rằng, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không còn nữa;trong bối cảnh ấy, nghiên cứu vấn đề này sẽ góp phần làm sáng tỏ một trongnhững nguyên lý gốc, điểm chủ yếu của học thuyết Mác-Lênin trong thời đạingày nay - luận điểm về sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân Trên
cơ sở đó, góp phần củng cố và nâng cao lòng tin của giai cấp công nhân vào sứcmạnh và vai trò lịch sử của họ trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới, khắc phụcnhững biểu hiện hữu khuynh, dao động, lạc hướng trong công cuộc đổi mới, xây
Trang 2dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Vì thế, đềtài luận án này có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn.
Tình hình nghiên cứu vấn đề.
Trên thế giới, đề tài về giai cấp công nhân nói chung, về cơ cấu xã hội giaicấp công nhân và vai trò của nó nói riêng, được nhiều nhà khoa học quan tâmnghiên cứu Ở hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa, thậm chí, ở không ít các nước
tư bản chủ nghĩa, đều có cơ quan, viện nghiên cứu về giai cấp công nhân, như ở
Mỹ, Nhật Bản, I-xra-en, v.v
Ở nước ta, trong những năm vừa qua, đề tài về giai cấp công nhân ViệtNam đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu dưới những góc độ: lịch sử, xã hộihọc, văn học - nghệ thuật, xã hội - chính trị, … Những năm gần đây, việc nghiêncứu về cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam và vai trò của nó
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã được đề cập đến trong một vàicông trình, bài nghiên cứu của một số nhà khoa học (*)
Tuy nhiên, vấn đề này nói chung, chưa được coi trọng đúng mức, Đảng vàNhà nước chưa có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ và sự đầu tư thích đáng cho việc nghiên cứu đề tài này mà tính bức thiết của nó đã bộc lộ ngay từ ngày đầu
cả nước đi vào cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhất là từ khi thực hiện chính sáchphát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần; chưa có một cơ quan khoa họcchuyên trách nghiên cứu toàn diện về giai cấp công nhân nói chung và vấn đềnêu trên nói riêng Vấn đề cơ cấu và vai trò của giai cấp công nhân Việt Nammới chỉ được đặt ra và giải quyết ở một chừn mực nhất định trong khuôn khổnhững bài báo, những bản tham luận khoa học, hoặc một mảng của một côngtrình, trong đó các tác giả của chúng phần nhiều còn dừng lại ở mức độ nêu ravấn đề như là những gợi ý, những giả thuyết khoa học, cần phải được tiếp tụcnghiên cứu
Cho đến nay - theo chúng tôi được biết - ở nước ta, chưa có một công trìnhnào đi sâu nghiên cứu một cách tập trung, cơ bản vấn đề của đề tài luận án này.Một thời gian không ngắn, các cấp lãnh đạo, chỉ đạo còn coi nhẹ công tácnghiên cứu của lý luận về giai cấp công nhân Việt Nam; thiếu quan tâm xâydựng đội ngũ người thợ về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đời sống, tay nghề, v.v Thậm chí, còn có những sai lầm trong một số chính sách kinh tế - xã hội dokhông dựa trên lập trường giai cấp công nhân, đã gây thiệt hại cho đội ngũngười thợ Vì thế, "các hiện tượng tiêu cực và tha hoá trong một bộ phận giaicấp công nhân và người lao động có chiều hướng phát triển" (24) Văn kiện Đạihội lần thứ VI Công đoàn Việt Nam, tr 24) (*) Điều đó đã ảnh hưởng đến uy tín
và vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Và do vậy, ở một số người, đã xuất
Trang 3hiện sự hoài nghi, khuynh hướng phủ nhận vai trò lãnh đạo của giai cấp côngnhân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đặt
ra và đòi hỏi phải làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn của cách mạngnước ta, trong đó có vấn đề của đề tài luận án này
Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án là, nghiên cứu tìm hiểu xu hướng biến động về cơcấu giai cấp công nhân Việt Nam, luận giải vai trò của nó trong thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội Từ đó xác định mục tiêu, phương hướng xây dựng giai cấpcông nhân và biện pháp tác động của Đảng và Nhà nước ta nhằm thúc đẩy sựbiến đổi cơ cấu giai cấp công nhân, xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh màtrên cơ sở đó, giai cấp công nhân Việt Nam có thể hoàn thành ngày càng tốt hơn
sứ mệnh lịch sử của mình trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Để thực hiện được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết những nhiệm
vụ cụ thể sau đây:
Thứ nhất, làm rõ khái niệm giai cấp công nhân hiện đại Trên cơ sở đó, tìm
hiểu cơ cấu xã hội giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay
Thứ hai, luận giải mối quan hệ giữa cơ cấu thành phần kinh tế ở Việt Nam
với cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay
Thứ ba, tìm hiểu những nhân tố chủ quan và khách quan chủ yếu quy định
sự biến đổi của cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam và xu hướng biến động của
nó trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Thứ tư, làm rõ vai trò lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam trong sự
nghiệp xây dựng xã hội mới Từ đó xác định mục tiêu, phương hướng, biệnpháp xây dựng giai cấp công nhân nhằm tăng cường bản chất cách mạng của nótrong chặng đường đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Trên cơ sở ấy, kiến nghị những chính sách, biện pháp vừa cơ bản, vừa cấpbách nhằm góp phần xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh, xứng đáng vớivai trò lịch sử của nó trong công cuộc xây dựng đất nước ở chặng đường đầucủa thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Cơ sở lý luận - thực tiễn và phương pháp nghiên cứu.
Cơ sở lý luận chủ yếu của luận án là, hệ thống những quan niệm, tư tưởng
cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về khái niệm giai cấp công nhân hiện đại vàvai trò của nó trong quá trình cách mạng, về các quan hệ xã hội và cơ cấu xã
Trang 4hội; đặc biệt là các luận điểm của Mác, Ăng ghen và Lênin ề tính quy định lịch
sử của các quan hệ kinh tế, vật chất đối với các quan hệ xã hội và tinh thần.Các văn kiện của Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IV, V, VI, VII;những tác phẩm của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam có liênquan đến luận án có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và phương pháp luận đốivới những vấn đề được đề cập trong luận án
Khi viết luận án, tác giả cũng đã chú ý sử dụng, tham khảo một số côngtrình nghiên cứu, bài viết của các nhà khoa học và hoạt động thực tiễn (trong vàngoài nước); số liệu thống kê, điều tra xã hội học, v.v của các cơ quan nghiêncứu, tổng hợp, lưu trữ, v.v Những vấn đề có liên quan đến luận án mà các nhàkhoa học, các nhà nghiên cứu … đã nêu ra được xem như là những chỉ dẫn, gợi
ý khoa học có ý nghĩa phương pháp luận cho tác giả luận án
Trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, ngườiviết luận án trực tiếp đi vào khảo sát, điều tra xã hội học, nghiên cứu thực tiễnđội ngũ công nhân Việt Nam hiện nay trên một số địa bàn chính: Hà Nội, HảiPhòng, Quảng Ninh, Bắc Thái, v.v trong một số loại hình xí nghiệp, liên hiệp
xí nghiệp, nhà máy, công ty, xí nghiệp công nghiệp quốc phòng và một số hợptác xã sản xuất công nghiệp… đại diện cho các khu vực, thành phần, ngành kinh
tế (trên cơ sở sản xuất, kinh doanh): nghiên cứu đội ngũ công nhân thành phố
Hồ Chí Minh qua số liệu điều tra xã hội học ở 21 xí nghiệp công nghiệp (với5.400 phiếu điều tra) do thành uỷ và liên hiệp công đoàn thành phố Hồ ChíMinh tổ chức (năm 1988 - 1989); nghiên cứu số liệu và tình hình tổng hợp độingũ công nhân công nghiệp quốc phòng (cuối năm 1990 và thời gian gần đây).Tác giả luận án cũng chú ý nghiên cứu thực tiễn phát triển của giai cấp côngnhân Việt Nam từ khi ra đời đến nay, đặc biệt là từ năm 1975 lại đây; đồng thời
có nghiên cứu tình hình phát triển của giai cấp công nhân thế giới (ở một vàinước, để tham khảo, so sánh), qua một số tài liệu trong và ngoài nước, một số sốliệu tổng hợp, v.v Trên cơ sở đó, người viết luận án cố gắng phân tích, kháiquát nhằm rút ra những kết luận khoa học; phát hiện những vấn đề có tính quyluật, những nhân tố chủ yếu tác động đến xu hướng biến động và những xưhướng biến động tất yếu của cơ cấu xã hội giai cấp công nhân Việt Nam trongthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhất là ở chặng đường đầu
Luận án được nghiên cứu dưới góc độ chính trị - xã hội của chủ nghĩa xãhội khoa học Những phương pháp nghiên cứu của triết học, kinh tế - chính trịMác-Lênin, khoa học lịch sử và xã hội Mác-Lênin… được vận dụng tổng hợp đểtìm ra con đường, phương pháp tiếp cận, giải quyết các vấn đề được đặt ratrong luận án Tác giả luận án đặc biệt chú ý vận dụng các phương pháp: kết
Trang 5hợp lôgích và lịch sử, so sánh - phân tích - tổng hợp, nguyên tắc thống nhất giữakinh tế và đào tạo - xã hội, cái chung và cái riêng.
Cái mới khoa học của luận án.
Một là: Góp phần làm sáng tỏ thêm nhận thức mới về khái niệm "giai cấp
công nhân hiện đại" trong thời đại ngày nay, dưới ánh sáng của công cuộc đổimới và cương lĩnh của Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam Nêu lên kết
cấu của giai cấp công nhân hiện đại bao gồm một bộ phận những người lao động trí óc gắn liền trực tiếp với quá trình sản xuất ra của cải vật chất, một bộ phận những người lao động của họ có tính chất lao động công nghiệp Điều đó
cho phép làm rõ vai trò ngày càng tăng lên của giai cấp công nhân Việt Namtrong sự nghiệp xây dựng xã hội mới
Hai là: Bước đầu phát hiện và làm rõ 6 nhân tố chủ quan và khách quan
chính, thường xuyên tác động và quy định xu hướng biến đổi cơ cấu giai cấpcông nhân Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Ba là: Dự báo khoa học về 6 xu hướng biến động chủ yếu của cơ cấu giai
cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Bốn là: Nêu lên và làm rõ những khả năng, điều kiện chính để giai cấp
công nhân Việt Nam có thể giữ vững, phát huy vai trò và hoàn thành sứ mệnhlịch sử của mình trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Năm là: Xác định những mục tiêu chính xây dựng giai cấp công nhân Việt
Nam trong chặng đường đầu của thời kỳ qúa độ Nêu lên một chính sách, biệnpháp vừa cơ bản, vừa cấp bách nhằm xây dựng giai cấp công nhân Việt Namvững mạnh để nó ngang tầm với sứ mệnh lịch sử của mình trong thời kỳ qúa độlên chủ nghĩa xã hội
Ý nghĩa thực tiễn và khả năng sử dụng của luận án:
Góp phần vào việc đưa ra những cơ sở khoa học để xây dựng chính sáchkinh tế- xã hội đúng đắn với giai cấp công nhân nhằm củng cố, phát huy vai trò
và tăng cường bản chất cách mạng của nó
Luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảngdạy một số chuyên đề của môn chủ nghĩa xã hội khoa học, xã hội học, triết học
Kết luận của luận án:Luận án gồm có: lời nói đầu, 3 chương (6 tiết), kết
luận và danh mục tài liệu tham khảo
Trang 6(*) Xem :
- Sưu tập chuyên đề cơ cấu xã hội của xã hội xã hội chủ nghĩa, H, 1979 và cơ cấu
xã hội -giai cấp của xã hội trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội Tuyển tập lược thuật, H, 1979, của Viện thông tin khoa học xã hội
( Tiếp trang trên)
- "Cơ cấu xã hội - giai cấp và chính sách xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội ở nước ta", H, 1990 Công trình chủ nghĩa của tập thể tác giả, ViênMác-Lênin, do PTS Hoàng Chí Bảo làm chủ nhiệm đề tài, cùng với các tác giả:Nguyễn Thanh Tuấn, Phạm Hữu Xuyên, Đinh Thị Minh Châu, Nguyễn Đức Kha,
Lê Văn Tuấn, Chu Thế Vinh
- Một số bài nghiên cứu về cơ cấu xã hội - giai cấp, cơ cấu xã hội giai cấp côngnhân Việt Nam, … của PTS triết học Đỗ Nguyên Phương :Tạp chí Giáo dục lýluận, số 3.1988; Thông tin lý luận, số 1.1988; Xã hội học, số 3.1989; Tạp chíNghiên cứu, số 3.1987 và 4.1989; Tạp chí cộng sản, số 5, 1987, và 9.1991; Cơ cấu
xã hội - giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, H, 1988,v.v
- Một số bài về cơ cấu xã hội - giai cấp, cơ cấu xã hội giai cấp công nhân ViệtNam và xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam… của các nhà khoa học và nghiêncứu: Vũ Khiêu, Nguyễn Vũ, Nguyễn Xuân Mai, Vũ Hoa Thạch, Ngô Hiện Tại,Mai Trọng Phụng, Dương Xuân An,… Tạp chí Xã hội học, số 4, 1989, 1-2.1987,1-2 1988, số 3 1989,Tạp chí cộng sản số 5.1987, Sưu tập chuyên đề về cơ cấu xãhội - giai cấp… Học viện Nguyễn ái Quốc, H, 1988
- Đỗ Khánh Tặng: Đặc điểm và xu hướng biến đổi của cơ cấu xã hội - giai cấptrong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Luận án phó tíên sĩ khoahọc Triết học, H, 1990
- Tạp chí xã hội học, số 1 1990 - Số chuyên đề về chính sách xã hội đối với giaicấp công nhân, gồm nhiều bài nghiên cứu của các nhà khoa học và hoạt động thựctiễn trong và ngoài nước như: Trương Lai, Bùi Đình Thanh, Xuân Cang, HoàngĐốp, Mai Văn Hai, Bùi Thị Liên, Hoàng Phú Nhuận, Lê Văn Cường, Hoàng ĐứcPhương, Tô Thậm, Phong Hải, Nguyễn Viết Chắt, Hy Minh Đức, Trịnh HoàBình…
- Một số công trình nghiên cứu về giai cấp công nhân Việt Nam ở góc độ lịch
Trang 7+ Cao Văn Biền: Giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ 1936-1939 Nxb Khoahọc xã hội, H, 1979.
+Văn Tạo - Đinh Thu Cúc: Giai cấp công nhân miền Bắc Việt Nam 1960), Nxb Khoa học xã hội, H, 1974
(1955-+ Cao Văn Lượng: Công nhân miền Nam Việt Nam trong cuộc kháng chiếnchống Mỹ cứu nước (1954-1975), Nxb KHXH, H, 1977
* Số thứ tự 1, 2, 3… 45 đặt trong ngoặc ( ) là ký hiệu dẫn tư liệu sử dụng, còndấu * là ký hiệu giải thích của các tác giả
Chương I
THỰC TRẠNG CƠ CẤU GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM HIỆN
NAY Tiết 1: Bàn về khái niệm giai cấp công nhân
Nghiên cứu cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay và vai trò của nó,trước hết phải nghiên cứu khái niệm "giai cấp công nhân hiện đại" chỉ xuất phảnánhht từ khái niệm đúng về "giai cấp công nhân hiện đại, thì mới có cơ sởphương pháp luận để nghiên cứu kết cấu giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay
Và do vậy, mới tìm hiểu được xu hướng biến động về cơ cấu của giai cấp côngnhân Việt Nam, thấy rõ được vai trò của nó trong thời kỳ qúa độ lên chủ nghĩa
xã hội Từ đó, Đảng và Nhà nước ta mới có cơ sở để xây dựng chính sách đúngđắn đối với giai cấp công nhân, có kế hoạch xây dựng đội ngũ giai cấp côngnhân đáp ứng nhiệm vụ xây dựng đạo đức trong thời kỳ qúa độ lên chủ nghĩa xãhội ở nước ta Nếu không hiểu được bản thân khái niệm "giai cấp công nhân" là
gì, thì cũng không thể hiểu được sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp côngnhân
Trong những năm gần đây và hiện nay, bọn theo chủ nghĩa chống cộng, cơhội, xét lại dưới mọi màu sắc đã và đang điên cuồng tần công vào chủ nghĩaMác-Lênin, mà nội dung căn bản , chủ yếu là phủ nhận sứ mệnh lịch sử thế giớicủa giai cấp công nhân Hiểu đúng khái niệm này sẽ có ý nghĩa quan trọng trongcuộc đấu tranh tư tưởng đang diễn ra ở trong nước và trên thế giới
Về khái niệm giai cấp công nhân, các nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hộikhoa học đã nhiều lần đề cập và đã đưa ra những chỉ dẫn cơ bản
Mác và Ăng ghen coi việc tìm hiểu xem "giai cấp vô sản thực ra là gì, và phủ hợp với tồn tại ấy của bản thân nó, giai cấp vô sản buộc phải làm gì về mặt
lịch sử" ([2], Tập I, tr.150) là một vấn đề căn bản trong nghiên cứu khoa học vàhoạt động thực tiễn của mình
Trang 8Giai cấp vô sản là gì, vấn đề này đã được Mác và Ăng ghen đề cập đếntrong nhiều tác phẩm Trong các tác phẩm ấy, hai ông đã nêu nhiều thuộc tínhcủa giai cấp vô sản.
Ở "Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêgel- lời nói đầu" ([1],tập I, tr 13-35) Mác đã chỉ ra nguồn gốc kinh tế, xã hội và xu hướng phát triểncủa giai cấp vô sản Mác nói rằng, ở Đức, giai cấp vô sản chỉ mới bắt đầu hìnhthành nhờ sự phát triển của công nghiệp Như vậy, giai cấp vô sản ra đời gắnvới công nghiệp, nó là sản phẩm của công nghiệp Về mặt xã hội, giai cấp vôsản được nảy sinh ra và đang hình thành nên trong quá trình tan rã dữ dội của xãhội, do sự giải thể của tất cả các đẳng cấp, trước hết là sự tan rã của đẳng cấptrung gian Xu hướng phát triển của giai cấp vô sản là đi tới chỗ xoá bỏ nó với
tư cách là một giai cấp Cũng trong tác phẩm này, Mác đã nêu lên mối quan hệgiữa giai cấp công nhân và triết học: giai cấp công nhân là vũ khí vật chất củatriết học, triết học là vũ khí tinh thần của giai cấp công nhân Triết học chỉ trởthành hiện thực, nếu nó xoá bỏ giai cấp vô sản.Và, giai cấp vô sản không thểxoá bỏ bản thân mình nếu không biến triết học thành hiện thực Ở đây đã toát
lên tư tưởng của Mác rằng, giai cấp công nhân là người đại biểu cho tri thức tiên tiến của xã hội loài người.
Trong "Gia đình thần thánh" ([2], tập I, tr 141- 176), Mác và Ănghen phântích mối quan hệ giữa giai cấp vô sản và chế độ tư hữu Giai cấp vô sản là sảnphẩm của chế độ tư hữu và cũng là điều kiện tồn tại của chế độ tư hữu Chế độ
tư hữu muốn duy trì sự tồn tại vĩnh viễn của mặt đối lập với nó là giai cấp vôsản.Chế độ tư hữu tìm được sự thoả mãn trong bản thân mình là mặt khẳng địnhcủa sự đối lập, giai cấp vô sản và giai cấp tư sản là hai mặt đối lập của một chỉnh thể thống nhất- chế độ tư hữu tư bản Cả hai đều là sản phẩm của chế độ
ấy Xu hướng phát triển của giai cấp vô sản đi tới thủ tiêu sự tồn tại của bảnthân mình với tư cách là giai cấp vô sản và do đó, tiêu diệt cả mặt đối lập với nó
là chế độ tư hữu- đang chi phối và làm cho nó thành giai cấp vô sản
Đến "Tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh" ([3], tập I, tr 179-251).Ăngghen khẳng định rằng, Anh là nước điển hình cho sự phát triển của giai cấp
vô sản Giai cấp công nhân Anh là kết quả chủ yếu của cuộc cách mạng côngnghiệp ở Anh Lịch sử giai cấp công nhân Anh bắt đầu từ nửa sau thế kỷ XVIII,
và, "công nghiệp nhỏ đã làm nảy sinh ra giai cấp tư sản, công nghiệp lớn đãlàm nảy sinh giai cấp công nhân" ([3], tập I, tr 209) Công nhân công nghiệp làhạt nhân của phong trào công nhân Họ là những người nhận thức được rõ ràngnhất những lợi ích của bản thân họ Vì, trình độ văn hoá của các loại công nhânliên quan trực tiếp đến mối quan hệ của họ với công nghiệp
Trang 9Ở "Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản" ([3], tập 1, tr 441- 466).Ăngghen đã định nghĩa giai cấp vô sản như sau: "Giai cấp vô sản là một giai cấp
xã hội hoàn toàn chỉ sống dựa vào việc bán lao động của mình, chứ không phảisống dựa vào lợi nhuận của bất cứ số tư bản nào, đó là một giai cấp mà hạnhphúc và đau khổ, sống và chết, toàn bộ sự sống còn của họ đều phụ thuộc vàoyêu cầu về lao động, tức là vào tinh hình chuyển biến tốt hay xấu của công việclàm ăn, vào những sự biến động của cuộc cạnh tranh không gì ngăn cản nổi Nóitóm lại, giai cấp vô sản hay giai cấp của những người vô sản là giai cấp laođộng trong thế kỷ XIX… Giai cấp vô sản là do cuộc cách mạng công nghiệp sảnsinh ra" ([3], tập I, tr 441)
Đến "Tuyên gnôn của Đảng Cộng sản" ([2], tập I, tr 539- 586) Mác vàĂngghen đã trình bày khái niệm "giai cấp vô sản" tương đối đầy đủ trên cácphương diện khác nhau Có thể khái quát lại trên ba phương diện như sau:
Thứ nhất, về nguồn gốc kinh tế: giai cấp vô sản ra đời gắn với nền đại công
nghiệp, nó là sản phẩm chính của bản thân nền đại công nghiệp, nền sản xuất xãhội hoá; về nguồn gốc xã hội: giai cấp vô sản được tuyển mộ trong tất cả cácgiai cấp, tầng lớp xã hội
Thứ hai, những đặc trưng chủ yếu của giai cấp công nhân hiện đại là:
- Không có tư liệu sản xuất: đối lập trực tiếp với giai cấp tư sản; ở địa vị làgiai cấp bị trị; làm thuê cho nhà tư sản, tạo ra giá trị thặng dư cho nàh tư bản và
bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư Sự tiến bộ của công nghiệp càng tăng,
sự phân công lao động tăng lên thì giai cấp công nhân càng bị bóc lột nặng nềhơn
- Có bản chất cách mạng.Giai cấp công nhân là hiện thân của lực lượng sảnxuất hiện đại Cũng từ đó, nó đại biểu cho lao động toàn thế giới, đại biểu chophương thức sản xuất tiên tiến
- Do tính chất lao động và địa vị trong nền sản xuất đại công nghiệp màgiai cấp vô sản có tính quốc tế, tinh thần quốc tế vô sản, tinh thần đoàn kết cáchmạng, đoàn kết giai cấp, tính tổ chức, kỷ luật cao
Thứ ba, những xu hướng phát triển của giai cấp vô sản:
- Cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, số lượng và chất lượng củagiai cấp vô sản không ngừng tăng lên Nó luôn luôn biến đổi cùng với sự biếnđổi của lực lượng sản xuất Quá trình lôi cuốn giai cấp vô sản vào phong tràochính trị, giai cấp tư sản để cung cấp cho giai cấp vô sản một phần tri thức củabản thân nó Mặt khác, sự tiến bộ của công nghiệp đã đẩy từng bộ phận của giaicấp thống trị vào hàng ngũ giai cấp vô sản Những bộ phận này cũng đem lại
Trang 10cho giai cấp vô sản nhiều tri thức Thêm nữa, quá trình cuộc đấu tranh giữa giaicấp vô sản với giai cấp tư sản đã dẫn tới sự phân hoá giai cấp trong giai cấpthống trị, một bộ phận nhỏ của giai cấp thống trị- những nhà tư tưởng tư sản tiến
bộ đã vươn lên nhận thức được về mặt lý luận, toàn bộ cuộc vận động lịch tách khỏi giai cấp này và đi theo giai cấp vô sản, làm cho giai cấp vô sản nhận
sử-rõ được sức mạnh và sứ mệnh lịch sử của mình
Sự trưởng thành của giai cấp vô sản sẽ dẫn đến sự xuất hiện hệ tư tưởng vềchính Đảng của nó, giai cấp vô sản được tổ chức thành giai cấp với tư cách làmột giai cấp cách mạng
Trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản, giai cấp vô sản thông qua conngười cách mạng mà trở thành giai cấp thống trị Và, với tư xách là giai cấpthống trị, nó tiến hành cuộc cải biến cách mạng, tạo ra những điều kiện kinh tế-
xã hội để thủ tiêu phương thức sản xuất cũ, xoá bỏ các giai cấp nói chung Cũng
do đây, nó xoá bỏ sự thống trị của chính giai cấp mình và tự xoá bỏ mình với tưcách là giai cấp
Những vấn đề đã nêu ở trên được Mác và Ăngghen rút ra qua sự phân tíchmột cách sâu sắc từ địa vị kinh tế- xã hội của giai cấp vô sản dưới chế độ tư bảntrong những năm nửa đầu thế kỷ XIX Những kết lậun ấy cũng đã được thựctiễn cuộc sống đương thời chứng minh sự đúng đắn của nó
Những đặc trung cơ bản của giai cấp vô sản dưới chế đọ tư bản mà Mác vàĂngghen đã nêu ra, được Lênin tiếp tục làm rõ và khẳng định trong "Dự thảoCương lĩnh của Đảng Cộng sản (b)Nga" ([4], tập 38, tr 101- 150), "Những"người bạn dân" là thế nào…" ([4] tập 1, tr 149- 386), "Dự thảo và thuyết minhCương lĩnh của Đảng dân chủ - xã hội" ([4], tạp 2, tr 95- 130) và nhiều tácphẩm khác Dến các tác phẩm "Nhà nước và cách mạng" ([4], tạp 39, tr 01-34),
từ thực tiễn của cách mạng - Lênin phát hiện và khẳng định rõ vị trí của giai cấp
vô sản: là giai cấp thống trị về chính trị, giai cấp lãnh đạo toàn thể xã hội trongcuộc đấu tranh lật đổ ách tư bản, trong sự nghiệp sáng tạo ra một xã hội mới,trong toàn bộ cuộc đấu tranh để tuân thủ hoàn toàn các giai cấp Xu hướng pháttriển của giai cấp vô sản là đi tới chỗ tự thủ tiêu mình với tính cách là giai cấp
vô sản
Những đặc trưng của giai cấp vô sản mà Mác, Ăngghen và Lênin đã nêu ra
là phù hợp và đúng với điều kiện lịch sử đương thời Những đặc trưng cơ bản đóđến nay vẫn còn nguyên giá trị Nó là cơ sở phương pháp luận khoa học đểchúng ta nghiên cứu giai cấp công nhân hiện đại, trong điều kiện lịch sử hiệnnay
Trang 11Ngày nay, chủ nghĩa xã hội cũng như chủ nghĩa tư bản, có nhiều biến đổisâu sắc, làm cho giai cấp công nhân trong quá trình vận động, có những bướcphát triển rất quan trọng và có thêm đặc trưng mới vì thế, cần phải nghiên cứuthực tiễn để bổ sung vào khái niệm "giai cấp công nhân" những đặc trưng, khíacạnh mới, sao cho công cụ nhận thức và hoạt động thực tiễn này phản ánh đầy
đủ hơn nữa thực tại khách quan Trên cơ sở đó mà tập hợp lực lượng hạt nhân,đoàn kết các lực lượng xã hội trong cuộc đấu tranh của giai cấp công nhânchống giai cấp tư sản
Công việc nói trên để có nhiều nhà nghiên cứu, giảng dạy trong và ngoàinước đề cập, bàn luận
Những cuốn: 1) Từ điển triết học ([38], tr 210 211), 2) Từ điển triết họcgiản yếu ([27], tr 178- 179) 3) chủ nghĩa cộng sản khoa học- từ điển và 4) từđiển chính trị vắn tắt ([37], tr 140- 141) xuất bản gần đây bàn luận khái niệm
"giai cấp công nhân" tương đối đầy đủ, nhưng vẫn còn hạn chế nhất định Trongcuốn "Chủ nghĩa cộng sản khoa học- từ điển", xuất bản năm 1986, khái niệm
"giai cấp công nhân được trình bày như sau: "công nhận- một trong những giaicấp cơ bản của xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, lực lượng chủ yếutrong việc sản xuất ra của cải vật chất và trong việc cải tạo các quan hệ xã hội.Trong điều kiện chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân, hay giai cấp vô sản, làmột giai cấp cơ bản bị bóc lột và đối lập với giai cấp tư sản Dưới chủ nghĩa xãhội, giai cấp công nhân là giai cấp cầm quyền trong xã hội" ([16], tr 63- 65).Theo Lênin, trong các vấn đề thuộc về khoa học xã hội, phương pháp chắcchắn và cần thiết nhất để nghiên cứu một vấn đề, cần phải làm rõ 3 nội dung cơbản:
1 Nguồn gốc của sự vật (đã xuất hiện trong lịch sử như thế nào).
2 Sự vật đã trải qua những giai đoạn chủ yếu nào.
3 Xu hướng phát triển của sự vật ([4], tạp 39, tr 78) Khái niệm "giai cấp
công nhân" nêu trên, chưa thoả mãn được các nội dung ấy Về mặt lý luận, kháiniệm đó chưa phản ánh được nguồn gốc của sự vật- giai cấp công nhân, ra đời
từ bao giờ: chưa nêu rõ được đặc trưng chủ yếu, bản chất của giai cấp công nhân
là lao động công nghiệp, là tập đoàn người lao động làm thuê trong nền đại côngnghiệp tư bản chủ nghĩa, bị giai cấp tư sản bóc lột ngày càng nhiều giá trị thặng
dư Và,cũng chưa chỉ ra xu hướng phát triển của nó như thế nào Khái niệm
"giai cấp công nhân" là một phạm trù xã hội- kinh tế, xã hội- chính trị và mangtính quốc tế Khái niệm "giai cấp công nhân" trên đây, chưa làm rõ những nộidung cơ bản cần và đủ của phạm trù này Do vậy, về mặt thực tiễn khó có thểthừa nhận vai trò của giai cấp chủ nghĩa trong tiến trình cách mạng quân đội từ
Trang 12chủ nghĩa từ bản lên chủ nghĩa, không có cơ sở lý luận khoa học để đấu tranhvới những quan điểm sai trái đang phủ nhận sự tồn tại và vai trò của giai cấpcông nhân trong thời đại ngày nay.
Có tác gỉa cho rằng, khái niệm giai cấp công nhân "bao gồm cả một tầnglớp ngày càng đông những công nhân lao động dịch vụ" ([33], Giáo dục lý luận,
1989, số 12, tr 29) Chúng tôi không nhất trí với ý kiến này Bởi lẽ, a) lao độngdịch vụ có nhiều loại: dịch vụ công nghiệp, dịch vụ thương nghiệp, dịch vụ ănuống, dịch vụ sinh hoạt v.v Nếu đưa vào khái niệm "giai cấp công nhân" tất cảnhững người lao động dịch vụ thì mặc nhiên đã phủ nhận đặc trưng chủ yếu nhấtcủa giai cấp công nhân là lao động công nghiệp, là hiện thân của lực lượng sảnxuất hiện đại, đại biểu cho phương tứhc sản xuất mới b) không phải tất cả
những người lao động dịch vụ ấy đều tham gia trực tiếp vào sản xuất và tái sản
xuất ra của cải vật chất- một dấu hiệu chủ yếu khác của giai cấp công nhân a)những người lao động này do tính chất lao động, cách thức hưởng thụ…của họkhác nhau nên không mang đầy đủ những thuộc tinhú của giai cấp công nhân,
mà phần lớn thuộc vào tập thể viên chức và người lao động thừa hành Theochúng tôi, chỉ có thể đưa vào khái niệm "giai cấp công nhân" một bộ phận
những người lao động dịch vụ Đó là những người lao động dịch vụ có tính chất công nghiệp, mà tính chất lãnh đạo của họ là lao động công nghiệp, gắn liền trực tiếp với quá trình sản xuất và tái sản xuất ra của cải vật chất.
Ý kiến khác nhận định, "giai cấp công nhân đang dần dần tiêu vong" Một
số người quả quyết "giai cấp công nhân đang tan rã, mất đi hình thù rõ rệt", nóđang bị "hoà tan" vào các giai cấp còn lại trong xã hội Họ lập luận: ngày naykhoa học và kỹ thuật đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, đòi hỏi người laođộng công nghiệp phải có trình độ văn hoá, chuyên môn cao, trong mỗi đơn vịsản phẩm chất chất công nghiệp thì phần đóng góp, kết tinh của trí tuệ nhiềuhơn của sức mạnh cơ bắp Do vậy, đã dẫn đến sự biến mất của giai cấp côngnhân- những người quai búa, đạp máy.v.v
Với cách nhìn và đánh giá như vậy, những tác giả nói trên đã không thấyhoặc không muốn thừa nhận sự tồn tại của giai cấp công nhân gắn với vai tròquyết định của sản xuất và với hiện tượng xã hội là sự bóc lột của giai cấp tưsản Hoặc là, họ chỉ gắn giai cấp công nhân với lao động chân tay, chứ khôngphải với sản xuất
Còn có lối lập luận: trong các nước tư bản phát triển, do sự tác động vàthành tựu của cách mạng khoa học - kỹ thuật đã làm cho giai cấp công nhân mất
đi và xuất hiện một giai cấp công nhân mới Theo chúng tôi, đó chỉ là sự lừa bịp
! cũng như trước đây, ở các nước tư bản, giai cấp công nhân vẫn tồn tại và ngàycàng phát triển Bởi vì, "giai cấp tư sản, tức là tư bản, mà lớn lên thì giai cấp vô
Trang 13sản, giai cấp công nhân hiện đại - tức là giai cấp chỉ có thể sống với điều kiệnkiếm được việc làm, nếu lao động của họ làm tăng thêm tư bản- cũng phát triểntheo"([2], tập I, tr 549) Đây là tất cả những người lao động công nghiệp, làmthuê cho giai cấp tư sản, sáng toạ ra của cải vật chất, làm nên giá trị thặng dư…nhưng lại không có (hay nói đúng hơn là bị tước mất) tư liệu sản xuất Song,một giai cấp gồm tất cả những người lao động như vậy đã vận động phát triểntheo xu thế của lịch sử và sự phát triển của cách mạng khoa học kỹ thuật, củalực lượng sản xuất hiện đại.
Đầu những năm 50, tổng số công nhân ở 5 nước tư bản phát triển: Mỹ,Nhật, Anh, Pháp, Tây Đức là 99 triệu, đến năm 1988 đã lên tới 190 triêu (xembảng 1)
(Theo tài liệu của Ban đối ngoại, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam)
Tóm lại, đến nay, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm "giai cấpcông nhân" ([29], Tạp chí công đoàn, 1991, số 1, tr.6+7) Dẫu sao, trong những
ý kiến ấy, có sự thống nhất về một số đặc điểm của giai cấp công nhân là laođộng, có tổ chức, kỷ luật cao…
Ngoài những nét chung nói trên, còn không ít sự khác biệt, có thể chiathành 3 loại yư kiến như sau:
1 Chỉ coi là công nhân, những người lao động chân tay, hoặc "chủ yếu là
lao động chân tay, trực tiếp tham gia vào việc tạo ra những giá trị vật chất".Trong chủ nghĩa xã hội, đó là những người lao động ở các xí nghiệp quốcdoanh, "sử dụng công cụ sản xuất thuộc sở hữu nhà nước" ([42], xã hội học,
1991, số 1, tr 6 +7)
2 Quan niệm, giai cấp công nhân bao gồm: tất cả những người không có tư
liệu sản xuất, làm thuê cho nhà tư bản, bị các tư sản bóc lột giá trị thặng dưtrong chế độ tư bản chủ nghĩa ([44] Những vấn đề hoà bình và chủ nghĩa xã hội,
Trang 141987, số 1, tr 75- 82); bao gồm cả "tầng lớp những công nhân trí thức" ([33],Giáo dục lý luận, 1989, số 12, tr 29); "những người lao động chân tay và trí óc
là việc ở tất cả các cơ quan và các xí nghiệp thụôc các ngành sản xuất vật chất
và lưu thông" ([45], Cơ cấu xã hội… tr 15)
Chúng tôi không tán thành với hai loại ý kiến này, như đã phan tích ở trên
3 Cho rằng, đặc trưng chủ yếu của giai cấp công nhân là lao động công
nghiệp" ([29], Xã hội học, 1989, số 3, tr.05) trực tiếp sản xuất, hoặc tham gia
vào quá trình toạ ra giá trị vật chất cho xã hội Do vậy, có thể đưa vào thànhphần của giai cấp công nhân một bộ phận các nàh nghiên cứu,áp dụng khoa học
kỹ thuật vào sản xuất, các kỹ sư, đốc công, kỹ thuật viên cao cấp cán bộ kỹ
thuật trực tiếp lao động trong quá trình sản xuất về tài sản xuất công nghiệp, tạo ra của cải vật chất, thực hiện chức năng của người công nhân lành nghề trong sản xuất Và, thêm nữa, cả những người lao động trong các bộ phận dịch
vụ công nghiệp, mà lao động của họ có tính chất lao động công nghiệp
Theo tôi, ý kiến thứ ba này là có lý hơn cả Bởi vì, trong điều kiện khoahọc, kỹ thuật phát triển cực kỳ nhanh, mạnh như hiện nay, những thành tựukhoa học - kỹ thuật- công nghệ tiên tiến nhất, mới nhất được áp dụng ngay vàosản xuất, buộc người lao động phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn,
bổ sung tri thức, gia tăng hàm lượng trí tuệ vào sản xuất Đó là bước tiến triểnmới của những người lao động trong thời đại chúng ta Sự thâm nhập của laođộng trí óc vào sản xuất, sự tăng thêm vai trò của hoạt động trí óc trong mọilĩnh vực sản xuất, đặc trưng cho sự tiến triẻn của lực lượng sản xuất trong thờiđại ngày nay Sự liên hệ ngày càng chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học và sảnxuất cho ta thấy một thực tế là, những nhà nghiên cứu, sáng chế, kỹ sư, kỹ thuậtviên cao cấp điều khiển các thiết bị tự động háo trong nền sản xuất công nghiệp
hiện đại, xuất hiện ngày càng đông, đã trực tiếp tham gia và đóng vai trò quan trọng nhất vào quá trình công nghệ Bởi lẽ, hàm lượng chất xám ngày càng
quyết định giá trị của hàng hoá đó là những người công nhân lao động trí tuệ.(Các nhà khoa học, nghiên cứu khác của tầng lớp tri thức, không có hoạt độngnhư thế thì không thể gọi là công nhân lao động trí tuệ, thuộc nội hàm" giai cấpcông nhân")
Cho nên, không thể coi giai cấp công nhân chỉ là những người lao độngchân tay, điều khiển các máy móc cơ khí Giai cấp công nhân rõ ràng là đadang, phong phú hơn thế Nếu chỉ dừng ở khái niệm truyền thống "giai cấp côngnhân" là những người lao động chân tay, điều khiển máy móc cơ khí thì chưa
đủ Lực lượng xã hội này cũng như tất cả các sự vật, hiện tượng, quá trình xãhội không ngừng vận động, phát triển "giai cấp công nhân" với tư cách là kết
Trang 15quả sự trừu tượng hoá và khái quát hoá hiện thực, cũng phải thay đổi, phát triển.
Vì vậy, có quan niệm mới về khái niệm "giai cấp công nhân" là điều tất nhiên.Theo nguyên tắc định nghĩa của Lôgíc hình thức, quán triệt tư tưởng củacác nhà sáng lập chủ nghĩa cộng sản khoa học vè các vấn đề giai cấp Về giai
cấp công nhân, và từ thực tiễn cách mạng- xã hội, chúng tôi quan niệm: Giai cấp công nhân hiện đại là một tập đoàn xã hội hình thành cùng sự ra đời của nền đại công nghiệp, phát triển cùng với sự phát triển của cách mạng công nghiệp, với nhịp độpt của lực lượng sản xuất hiện đại có tính xã hội hoá ngày càng cao, bị giai cấp tư sản hiện đại hoá bóc lột giá trị thặng dư: là lực lượng
cơ bản, tiên tiến trong sản xuất của cải vật chất, cải tạo các quan hệ xã hội, động lực chính của tiến trình lịch sử từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản.
Trên đây là một đinh nghĩa, mà định nghĩa nào cũng chỉ là sự khái quát.Sau đây giải thích, cụ thể hoá một số điểm trong nội dung định nghĩa đó nhưsau:
Ở xã hội tư bản chủ nghĩa, đó là giai cấp vô sản, những người lao động bịtước đoạt hết tư liệu sản xuất, làm thuê trong nền sản xuất đại công nghiệp tưbản chủ nghĩa, bị giai cấp tư sản thống trị, bóc lột giá trị thặng dư, có khả năngthay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa xã hội
Dưới chủ nghĩa xã hội, đó là giai cấp cơ bản, thống trị xã hội, làm chủ cáccông cụ, tư liệu sản xuất chủ yếu, đại đa số làm việc ở những nhà máy, xínghiệp thuộc sở hữu xã hội chủ nghĩa và một bộ phận làm việc trong nhữnghình thức kinh tế cá thể, tư nhân, công tư hợp doanh, liên doanh… Thông qauchính đảng của mình, liên minh chặt chẽ với giai cấp nông dân và tầng lớp tríthức, giai cấp công nhân thực hiện vai trò lãnh đạo chính quyền, Nhà nước vàcác tổ chức xã hội, lãnh đạo các tổ chức quần chúng nhân dân lao động thựchiện cuộc cải biến cách mạng, xây dựng xã hội mới
Kết cấu gồm những người lao động công nghiệp và dịch vụ mà lao độngcủa họ có tính công nghiệp; những kỹ sư, kỹ thuật viên cao cấp… thực hiệnchức năng của công nhân lành nghề trong sản xuất và tái sản xuất ra của cải vậtchất
Chúng tôi không quan niệm định nghĩa trên đây về giai cấp công nhân hiệnđại là hoàn chỉnh Bởi lec, như Ăngghen đã nói "Tất cả những khái niệm về sựsống hữu cơ chỉ phù hợp một cách gần đúng với hiện thực" ([3], tập VI, tr.815) Hơn nữa, đâ yko phải là một "sự vật" đã ở trạng thái ổn định, sự phát triểncủa nó đã chấm dứt, mà vẫn còn đang phát triển và thường xuyên biến động
Trang 16Từ khái niệm về giai cấp công nhân hiện đại nêu trên, một vấn đề lý luận
và thực tiễn đặt ra là: giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ quá đọ lên chủnghĩa xã hội bao gồm những người lao động như thế nào, cơ cấu và vai trò củanó
Có nhà nghiên cứu quan niệm, giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay "baogồm toàn bộ những người lao động thộc các xí nghiệp quốc doanh ở thành thị vànông thôn.Trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất của cải vật chất" ([25], Xãhội học, 1987, số 1-2, tr.07) Với quan niệm như vậy, phải chăng, tác giả nàyxem tiêu chí lao động ở các xí nghiệp quốc doanh và trực tiếp tham gia vào quátrình sản xuất của cải vật chất như là hai đặc trưng chủ yếu của giai cấp côngnhân Việt Nam hiện nay?
Chúng tôi cho rằng, đó là những yếu tố cần, nhưng chưa đủ Nếu chúng tacòn coi định nghĩa của các nhà kinh điển của chủ nghĩa mnl về giai cấp côngnhân hiện đại và những đặc trưng cơ bản của nó mà các ông đã nêu ra như là cơ
sở phương pháp luận đúng đắn để nghiên cứu giai cấp công nhân Việt Nam, thìcần phải thấy rằng, đặc trưng chủ yếu của giai cấp công nhân mà các ông nêu
lên là lao động công nghiệp, là hiện thân của lực lượng sản xuất hiện đại Chính tính chất lao động này- lao động mang tính chất xã hội hoá cao mới
là yếu tố quyết định địa vị tiên tiến của gcn trong sản xuất cũng như trong đờisống chính trị, xã hội , đạo đức, quyết định bản chất, khả năng, tinh thần triệt để
và vai trò lãnh đạo cách mạng của giai cấp công nhân; quyết định tính tổ chức,
kỷ luật và tinh thần đoàn kết giai cấp của nó, "lao động ở các xi nghiệp quốcdoanh" chưa nói lên đầy đủ địa vị tiên tiến trong nền sản xuất và những phẩmchất cách mạng của giai cấp mà chúng ta đang xem xét Vì, ở nước ta hiện nay,không phải tất cả các xí nghiệp quốc doanh đều sản xuất có tính chất côngnghiệp hiện đại, mà không ít xí nghiệp còn sản xuất có tính chất thủ công giảnđơn, ở giai đoạn "công trường thủ công", nhất là các xí nghiệp ở nông thôn Vìvậy, chúng tôi không hoàn toàn tán thành quan niệm của tác giả này
Nước ta đang ở chặng đường đầu tiên của thời kỳ qúa độ lên chủ nghĩa xãhội Sự tồn tại của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với nhiều hình thức sởhữu trong thời kỳ quá độ là tất yếu khách quan Đó là những vấn đề đã đượckhẳng định Từ thực tiễn đó và trên cơ sở định nghĩa về giai cấp công nhân hiệnđại, như đã nêu ở trên, chúng tôi quan niệm cơ cấu xã hội giai cấp công nhân
Việt Nam hiên nay bao gồm những người lãnh đạo jcnj Học viện Chính trị quân sựà dịch vụ mà lao động của họ có tính chất công nghiệp; những kỹ sư, cán bộ
kỹ thuật, nghiên cứu, áp dụng những thành tựu của cách mạng khoa học- kỹ thuật vào sản xuất, trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và tái sản xuất của cải vật chất, lao động trong các xí nghiệp quốc doanh, quốc phòng, công tư
Trang 17hợp doanh, tư bản tư nhân, hợp tác liên doanh với nước ngoài Xí nghiệp cổ phần, tiểu công nghiệp khu vực tập thể và một bộ phận lao động công nghiệp,
cơ khí kỹ thuật cao, thuộc khu vực kinh tế tập thể và tư nhân Họ đã và đang là
lực lượng lãnh đạo, lực lượng nòng cốt trong công cuộc xây dựng chế độ xã hộimới, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Một trong những đặc trưng kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam là sự tồn tại khách quan của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,với nhiều hình thức sở hữu, và những hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng.Đặc trưng kinh tế ấy chẳng những quy định tính chất phức tạp và đa dạng của cơcấu xã hội giai cấp nói chung ở nước ta trong thời kỳ qúa độ, mà còn quy địnhtính chất đa dạng, phức tạp của cơ cấu giai cấp công nhân, nói riêng
Vậy, sự liên quan và quy định của nền kinh tế nhiều thành phần đến cơ cấugiai cấp công nhân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay như thế nào? tiết 2 sẽ giảiquyết vấn đề này
TIẾT 2: NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN VÀ THỬCTẠNG CƠ CẤU GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
a) Nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan, là hiện tượng có tính quy luật.
Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: "Cần có chính sách sửdụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế… Đó là một giải pháp có ýnghĩa chiến lược,… là sự vận động quan điểm của Lênin coi nền kinh tế có cơcấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ"([6], Văn kiện Đại hội
VI, tr 56) Đến Hội nghị lần thứ VI Ban chấp hành Trung ương (khoá VI),Đảng ta khẳng định: "Chính sách kinh tế nhiều thành pầhn có ý nghĩa chiến lượclâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội" ([6] Nghịquyết hội nghị lần thứ VI… tr 13) Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội, đã được Đại hội VII thông qua, ghi rõ: "Phát triểnnền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vậnhành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước" ([6], Cương lĩnh … tr.9+10) Đại hội coi đó là mọt trong những phương hướng cơ bản mà Đảng vàNhà nước ta cần nắm vững trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ
Tổ quốc
Sự khẳng định trên đây xuất phát từ quy luật về sự phù hợp giữa quan hệsản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; từ quy luậtphát triển không đồng đều về lực lượng sản xuất giữa các vùng, các ngành sảnxuất; từ quan điểm hiệu quả; từ tính khách quan của quá trình xây dựng chủ
Trang 18nghĩa xã hội ở Việt Nam Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế chủyếu là sản xuất nhỏ, lực lượng sản xuất rất thấp.Do đó, việc phát triển lực lượngsản xuất là vấn đề có ý nghĩa sống còn để thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu.
Chính sách phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa cho phép sử dụng nhiều hình thức kinh tế với quy mô vàtrình độ kỹ thuật thích hợp, nhằm giải phóng và khai thác mọi kinh nghiệm củacác thành phần kinh tế để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ cấu kinh tếhợp lý Quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã cho thấy một bài họclà,lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong quan hệ sản xuất lạc hậu, mà
cả khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa sovới trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Tình hình thực tế của nước ta đòihỏi phải coi trọng những hình thức kinh tế trung gian, qúa độ từ thấp lên cao, từquy mô nhỏ lên quy mô lớn, phải đẩy mạnh xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật,tạo ra lực lượng sản xuất mới, trên cơ sở đó tiếp tục đưa quan hệ sản xuất lênhình thức và quy mô mới Thích hợp để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
Về vấn đề này, các nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội khoa học đã cónhững chỉ dẫn cho chúng ta Theo Mác, không có hình thái kinh tế xã hội nào đãtồn tại từ trước đến nay là thầun nhất và quan hệ sản xuất mới cao hơn khôngbao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vật chất của những mối quan
hệ đó chín muồi Ăngghen đã khẳng định, không thể thủ tiêu chế độ tư hữu ngaylập tức được, mà chỉ có thể cải tạo xã hội đó một cách dần dần Và , chỉ khi nào
để tạo nên được một khối lượng tư liệu sản xuất cần thiết cho cải tạo đó, thì khi
ấy mới thủ tiêu được chế độ tư hữu
Lênin cho rằng, một trong những nội dung quan trọng nhất của thời kỳ quá
độ là nền kinh tế nhiều thành phần Người viết: "Danh từ quá độ có nghĩa là…trong chế độ hiện nay có những thành phần, những bộ phận, những mảnhcủachủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội" ([4],tập 43, tr 248) Lênin cho là sai lầmnếu "không đếm xỉa tới toàn thể các kết cấu kinh tế xã hội hiện có, mà chỉ nhìnthấy có hai kết cấu trong số đó thôi" [5] Ông còn nhấn mạnh rằng, chưa có điềukiện để chuyển trực tiếp từ nền sản xuất nhỏ lêncn xã hội Bởi vậy, trong mộtmức độ nào đó, chủ nghĩa tư bản là không thể tránh khỏi, nó là sản vật tự nhiêncủa nền sản xuất nhỏ Do đó, chúng ta phải lợi dụng chủ nghĩa tư bản "làm mắtxích trung gian giữa nền tiểu sản xuất và chủ nghĩa xã hội, làm phương tiện, conđường, phương pháp, phương thức để tăng lực lượng sản xuất lên" ([4], tập 43,
tr 276)
Trong đời sống hiện thực, nền kinh tế của xã hội loài người bao giờ cũngtồn tại và phát triển dưới dạng kết hợp, dan xencủa những hình thức tổ chứchoạt động kinh tế khác nhau Trong mỗi hình thái kinh tế xã hội, cùng với một
Trang 19quan hệ sản xuất thống trị điền hình, còn tôn tại những quan hệ sản xuất phụthuộc, lỗi thời như là những tàn dư của xã hội cũ Đó là sự thể hiện của quy luậtphủ định biện chứng Trên thế giới, cho đến hiệnnay, chưa cớnớc nào có nềnkinh tế phát triển mà trong nền kinh tế đó chỉ có một thành phần kinh tế, dù đó
là nước xx chủ nghĩa xã hội từ nền kinh tế đã qua giai đoạn phát triển tư bản chủnghĩa hay đó là nước ta bản chủ nghĩa có nền công nghiệp phát triển
Thực tiễn cho thấy, ở đây và khi nào người ta dựng lên một hình mẫu tổchức thống nhất chỉ với một kiểu sở hữu duy nhất, thì ở đó và khi ấy có sự thiếunăng động, kém hiệu quả, thậm chí làm ngừng trệ và đổ vỡ nền sản xuất xã hội,đưa lại hiệu quả tiêu cực cho đời sống xã hội, thực chất, đó là hậu quả của sự viphạm quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độpt của lựclượng sản xuất Cho đến nay, chưa bao giờ và ở đâu, lực lượng sản xuất củanhân loại đạt tới một trình độ và tính chất phát triển đồng đều ở các vùng, cácngành, các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế, cho nên, nõ cũng đòi hỏi sự đadạng của các loại hình sản xuất, cùng với những hình thức phong phú nhằm thựchiện kiểu sở hữu đó Ngay ở các nước ta bản phát triển nhất hiện nay, cũngkhông chỉ có mộ tqh sản xuất tư bản chủ nghĩa thuần nhất Chủ nghĩa xã hộicũng không phải là một ngoại lệ, nhất là ở những nước đi lên chủ nghĩa xã hộikém như nước ta Vì thế, được VII đã khẳng định rõ adr của Đảng và Nhà nước
ta là, phát triển một "nền kinh tế có nhiều thành phần với nhiều dạng sở hữu vàhình thức tổ chức kinh doanh phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượngsản xuất" ([6],Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế- xã hội đến năm 2000, tr.08)
chính sách kinh tế nhiều thành phần thể hiện tinh thần dân chủ về kinh tế.Nền dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực của chủ nghĩa xã hội, trong đóquyền dân chủ về kinh tế có vai trò nền tảng Quyền đó vừa thể hiện ở chế độ tựchủ của các đơn vị kinh tế quốc doanh, tạp thể và tư nhân, ở quyền làm chủ củanhững người lao động trong các đơn vị ấy, vừa bảo đảm cho mọi người được tự
do làm ăn theo pháp luật Đó là điều kiện để giải quyết mọi năng lực sản xuất,thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển có hiệu qảu của nền sản xuất xã hội, khuyếnkhích mọi ngời Việt Nam trong cả nước và ở nước ngoài đem hết khả năng vềsức lao động, vốn, tay nghề… để làm giàu cho mình và cho đất nước
Sự tồn tại khách quan của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là mộthiện tượng kinh tế- xã hội có tính phổ biến trong thời kỳ qúa độ lên chủ nghĩa
xã hội, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hộichủ nghĩa là một trong những quan điểm cơ bản của quá trình đổi mới trongkinh tế của Đảng ta
Trang 20b) Triết học Mác-Lênin khẳng định "Cái kinh tế" quyết định"cái xã hội" và
"cái xã hội" gắn chặt v'í "cái kinh tế" Xét đến cùng thì các nhân tố kinh tế có ý
nghĩa quyết định đối với sự phát triển của xã hội loài người.Cơ cấu kinh tế lànền tảng của cơ cấu xã hội- giai cấp ứng với mỗi hình thái kinh tế- xã hội làmột cơ cấu xã hội- giai cấp, trong đó những giai cấp, tầng lớp xã hội cơ bản cótính tương đối ổn định, tồn tại trong suốt quá trình, tồn tại của hình thái kinh tế-
xã hội ấy Trong thư gửi Fa-ven Vát-xi-li-e-vích An-nen-cốp Mác viết, "Hãy giả
dụ một trình độ phát triển nhất định của sản xuất, trao đổi và tiêu thụ, chúng ta
sẽ có một chế độo xã hội nhất định, một tổ chức nhất định của gia đình, của cácđẳng cấp hay giai cấp, nói tóm lại, là có một xã hội công nhân nhất định" ([1],tập I, tr 788) Trong lời tựa viết cho bản tiếng Đức, xuất bản năm 1983.Ăngghen đã nhấn mạnh tư tưởng cơ bản và chủ đạo của "tuyên ngôn của ĐảngCộng sản" là : "Trong mỗi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội- cơcấu này tất yếu phải dõ kinh tế mà ra, cả hai cái đó câu thành cơ sở của lịch sửchính trị và lịch sử tư tưởng của thời đại ấy" ([3], tập I, tr 509)
Do vậy, để tìm hiểu sự vận động, biến đổi của cơ cấu mỗi giai cấp nóiriêng, cũng như của toàn bộ cơ cấu xã hội giai cấp nói chung, tất yếu phải xuấtphát từ sự vận động của bản thân hình thái kinh tế- xã hội mà trước hết và trựctiếp quy định là sự vận động, biến đổi của cơ cấu kinh tế và lực lượng sản xuất.Các thành phần kinh tế liên quan và và quy định các thành phần xã hội, giaicấp Sự vận động của nó sẽ kéo theo sự vận động của các thành phần kinh tế xãhội, giai cấp Vì thế, cùng vớ sự tồn tại của nền kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần,trong xã hội sẽ nhiều giai cấp và giai tầng Nhìn chung, cơ cấu xã hội - giaicấp phản ánh cơ cấu kinh tế và cơ cấu thành phần kinh tế Nhưng, không phải
là sự phản ánh máy móc Không phải mỗi thành phần kinh tế sẽ có một giai cấp
Tầng lớp xã hội tương ứng, như có tác giả đã khẳng định Các giai cấp, giai tầng xã hội gắn liền với các thành phần kinh tế: Song, nó phong phú hơn, phức tạp hơn các thành phần kinh tế, không phải mỗi thành phần kinh tế chỉ tương ứng với một giai cấp Mà có nhiều giai cấp, giai tầng Ngay trong một giai cấp
cũng bao gồm nhiều bộ phận khác nhau Ví dụ: trong thành phần kinh tế quốcdoanh có giai cấp công nhân, tầng lớp trí thức, viên chức và người lao động thừahành, giai cấp công nhân có ở các khu vực, các thành phần kinh tế khác nhau,quốc daonh, tập thể, công tư hợp doanh, tư bản tư nhân, … Giai cấp tư sản cómặt trong thành phần kinh tế công tư hợp doanh, tư bản tư nhân.Trong giai cấpnông dân có yếu tố công nhân (thợ sửa chữa máy cày, bừa, máy gặt, máy bơmnước), yếu tố tri thức, tiểu thương.v.v
Như vậy, tính chất nhiều thành phần của nền kinh tế sẽ dẫn đến sự phânhoá trong thành phần xã hội, trong cơ cấu giai cấp Sự đa dạng và phức tạp của
Trang 21cơ cấu thành phần kinh tế là nhân tố khách quan quy định tính chất phức tạp của
cơ cấu xã hội- giai cấp, của mỗi giai cấp, tầng lớp xã hội ở nước ta nói chung,cũng như giai cấp công nhân nói riêng, trong giai đoạn hiện nay Ở thời kỳ quá
độ, với đặc trưng kinh tế nêu trên, sẽ đưa đến hệ quả là cơ cấu gcc và các tầnglớp xã hội sẽ không ngừng biến đổ giai cấp và các tầng lớp xã hội sẽ khôngngừng biến đổi về số lượng và chất lượng Đồng thời, sự phân hoá về thu nhập,mức sống, văn hoá, lối sống… đã,đang và sẽ còn diễn ra mạnh mẽ trong phạm
vi toàn xã hội, từng giai cấp và từng lớp xã hội, trong đó có giai cấp công nhân
c) Nền kinh tế nhiều thành phần trong chặng đường đầu của thời kỳ quân đội quy định sự biến đổi thường xuyên, ngày càng đa dạng, phức tạp, không thuần nhất về cơ cấu số lượng, chất lượng và tính chất quá độ của giai cấp công
nhân Việt Nam Điều đó được thể hiện tập trung trên các phương diện sau
- Một là, sự phát triển không ổn định về số lượng của giai cấp công nhân,
sự giảm sút nhanh chóng về số lượng công nhân trong khu vực kinh tế quốc doanh.
Những 1976 đến 1980, thực hiện đường lối phát triển kinh tế của Đại hộiĐảng lần thứ IX, công nghiệp được chú trọng đằut và có bước phát triển mạnh,nhất là công nghiệp nặng Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp,cảu kinh tế quốc doanh, giai cấp công nhân Việt Nam có sự phát triển nhanh về
số lượng Sự phát triển này chậm dần từ 1981 đến 1985, năm 1986 đến nay, có
xu hướng giảm dần Đặc biệt điểm mạnh trong 2 năm 1989 - 1990, nhất là bộphận công nhân khu vực kinh tế quốc doanh (cả về số lượng tuyệt đối cũng như
tỷ lệ phần trăm só với tổng số lao động xã hội và dân cư), trong đó, công nhânngành công nghiệp nặng, xây dựng cơ bản, công nhân quốc phòng… giảmnhanh, Bộ phận công nhân khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có sự phát triển rất nhanh về số lượng trong những năm 1986- 1988 và giảmđi về số lượng tuyệtđối trong 2 năm 1989 - 1990 và đầu năm 1991 Dưới đây, xin dẫn một vài sốliệu:
- Số liệu cụ thể về đội ngũ công nhân sản xuất công nghiệp quốc doanh (từ1976- 1989) như sau:
Trang 22Sự biến động nêu trên của giai cấp công nhân Việt Nam liên quan và gắnchặt với đường lối phát triển kinh tế, với chính sách sử dụngvà cải tạo các thànhphần kinh tế, với chính sách sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế trong mỗigcd của Đảng và Nhà nước ta, với đường lối "cởi mở", quan hệ hợp tác về kinh
tế, khoa học kỹ thuật và lao động… của Việt Nam với nước ngoài Nó cũngphản ánh rất rõ sự phát triển và đình đốn của nền công nghiệp non trẻ của nước
ta trong những năm qua.v.v Sự biến động về số lượng của đội ngũ công nhânnói chung, cũng như của từng bộ phận công nhân, nói riêng (công nhân khu vựcquốc doanh và ngoài quốc daonh) phụ thuộc vào những nguyên nhân chủ quan
và khách quan của từng giai đoạn Xét cho cùng là do nguyên nhân kinh tế, do
sự phát triển của nền kinh tế nước ta quy định Song chúng ta không thể phủ
Trang 23nhận một thực tế đã diễn ra trong những năm qua là, sự tăng lên hay giảm đi cảu
cả đội ngũ công nhân hay từng bộ phận công nhân, trước hết phụ thuộc vàonguyên nhân chủ quan, đó là chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, chính sách sửdụng và cải toạ các thành phần kinh tế, chính sách kinh tế đối ngoại, chính sáchđối với giai cấp công nhân của Đảng và Nhà nước ta Đây là nguyên nhân có ýnghĩa trực tiếp quyết định Sự đúng hay sai trong đường lối, chính sách củaĐảng và nhà nước về những vấn đề trên đây sẽ tác đọng một cách nhanh chóng,trực tiếp đến sự phát triển của đội ngũ công nhân Những số liệu nêu trên về sựphát triển của giai cấp công nhân trong mỗi giai đoạn (gắn bó mật thiết đườnglối, chính sách của Đảng) đã chứng minh cho sự khẳng định trên đây.Sự tănglên nhanh chóng của đội ngũ công nhân,chủ yếu là công nhân khu vực kinh tếquốc doanh trong những năm 1076 - 1980 là hệ quả của đường lối "đẩy mạnhcông nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa… xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật của chủnghĩa xã hội" ([6], nghị quyết Đại hội IV, tr 30), của chủ trương "xây dựng kinh
tế quốc doanh lớn mạnh nhanh chóng, chiếm ưuthế trong sản xuất và lưu thông,phân phối" ([6], Nghị quyết Đại hội IV, tr 51), của chính sách "ra sức xây dựnggiai cấp công nhân không ngừng lớn mạnh về số lượng và chất lượng" ([6],Nghị quyết Đại hội IV, tr 69) Sự phát triển chậm chạp của bộ phận công nhânkhu vực kinh tế ngoài quốc doanh trong giai đoạn này gắn liền với chủ trươngnhanh chóng "củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới"([6], Nghị quyết Đạihội IV, tr.50), tiến hành mạnh mẽ việc "cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các xínghiệp tư bản tư doanh, … tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp" ([6], Nghị quyếtĐại hội IV, tr.51+52) Sự tăng trưởng lên nhanh chóng của bộ phận công nhânkhu vực ngoài quốc doanh trong những năm gần đây là hệ quả của chính sáchkinh tế nhiều thành phần, khuyến khích các hình thức kinh tế tư nhân phát triển,của sự mở rộng hợp tác kinh tế, lao động với nước ngoài và chính sách khuyếnkhích đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam Sự giảm đi nhanh chóng của độingũ công nhân khu vực kinh tế quốc doanh là kết quả tất yếu của chủ trương sắpxếp lại tổ chức và lao động, củng cố các đơn vị kinh tế quốc doanh theo quyếtđịnh 176/ HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng,…
- Hai là: Sự tăng lên về tuổi đời và tuổi nghề của bộ phận công nhân klhu
vực kinh tế quốc doanh; sự trẻ hoá công nhân khu vực ngoài quốc doanh: tỷ lệ
nữ công nhân, công nhân lâu năm và công nhân nhiều đời giảm trong những năm gần đây.
Trong những năm 1976 - 1985, cùng với việc đẩy mạnh công nghiệp hoá,giai cấp công nhân Việt Nam có sự tăng lên nhanh chóng về số lượng Lựclượng mới bổ sung vào đội ngũ công nhân, phần lớn là học sinh phổ thông vàthanh niên, vì thế đã làm cho giai cấp công nhân nước ta có cấu trúc trẻ (Tuổi
Trang 24đời bình quân của công nhân sản xuất là 31 Một số ngành như công nghiệp nhẹ,điện, lâm nghiệp,… số công nhân chiếm 51% trong tổng số công nhân sản xuất,
và bằng 60% tổng số công nhân viên chức (31), tr 04 Xem phụ lục, trang 5-8).Những năm gần đây, do đổi mới cơ ché quản lý kinh tế; do tác động củanền kinh tế thế giới vào nước ta, tình hình sản xuất kinh doanh trong côngnghiệp gặp nhiều khó khăn về vốn, vật tư, thị trường tiêu thụ, … nhiều xínghiệp (nhất là công nghiệp địa phương) rơi vào cảnh làm ăn thua lỗ, kém hiệuquả, phải thu hẹp sản xuất hoặc chuyển sang hình thức kinh tế tập thể, cá thể,thậm chí phải giải thể Do vậy, việc tuyển dụng lực lượng mới vào đội ngũ côngnhân rất hạn chế Khu vực kinh tế quốc doanh, thực hiện quyết định 176 củaHội đồng bộ trưởng, đã và đang giảm một lực lượng lớn công nhân
"Đến tháng 5-1991, theo thống kê của 37 liên đoàn lao động các địaphương, có 2.498 xí nghiệp không đủ việc làm, sản xuất cầm chứng, trong đó có
726 xí nghiệp đang gặp khó khăn gay gắt, 709 xí nghiệp phải sát nhập, giải thểhoặc chuyển hình thức sở hữu Nhìn chung các xí nghiệp thuộc địa phương quản
lý có khó khăn hơn, bế tắc hơn Tỷ lệ các xí nghiệp ổn định được sản xuất chỉchiếm khoảng 22%; còn lại 78% là các cơ sở gặp khó khăn, nhiều cơ sở gặp khókhăn gay gắt, có nguy cơ "sập tiệm" (đặc biệt là các xí nghiệp do cấp huyệnquản lý) Đối với các xi nghiệp quốc doanh trung ương thuộc các ngành kinh tếmũi nhọn, thì số cơ sở ổn định, sản xuất phát triển chiếm khoảng trên 50%,khoảng 40% số cơ sở gặp khó khăn, gần 5% số cơ sở làm ăn kém hiệu quả.Thực trạng bế tắc trong sản xuất kinh doanh đã trở thành phổ biến, không loạitrừ một địa phương nào, ngành nào, kể cả các thành phố lớn, khu vực côngnghiệp tập trung Ở thành phố Hà Nội có 336 xí nghiệp không đủ việc làm, sảnxuất cầm chừng, 167 xí nghiệp khó khăn gay gắt, 112 xí nghiệp phải sát nhập,giải thể Thành phố Hồ Chí Minh có 154 xí nghiệp phải sản xuất cầm chừng,
119 xí nghiệp gặp khó khăn gay gắt Thành phố Hải phòng có 219 xí nghiệp sảnxuất cầm chừng, 111 xí nghiệp khó khăn gay gắt Tỉnh An Giang có 86 xínghiệp phải sát nhận và cho giả thể Tỉnh Cửu Long có 95 xí nghiệp phải sátnhập, giải thể hoặc chuyển hình thức sở hữu, v.v." Đến cuối năm 1991, đã và sẽđưa ra trên 1 triệu công nhân vào lao động ở khuvực sản xuất kinh doanh ([9],Báo cáo sơ kết… tr 02) (xem phụ lực trang 1-3 và 39+40)
Lao động trong công nghiệp quốc doanh được sắp xếp và bố trí lại theohướng tinh, gọn, phát triển sản xuất theo chiều sâu Như vậy, hiện nay và trongmột vài năm tới, nhu cầu bổ sung lao động trể trong công nghiệp quốc doanh rấthạn chế (trừ một số ngành công nghiệp nhẹ) Điều đó đã sẽ dẫn tới sự tăng lên
về tuổi đời và tuổi nghề của bộ phận công nhân trong khu vực kinh tế quốcdoanh Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, đang và còn phát triển mạnh Xu
Trang 25hướng liên doanh, đang và còn phát triển mạnh Xu hướng liên doanh, liên kếtvới các hãng hoặc công ty nước ngoài được mở rộng và phát triển Trong côngnghiệp, một số dạng xí nghiệp mới như: xí nghiệp hoặc công ty cổ phần, công tyliên doanh trong và ngoài nước, xí nghiệp tư nhân,… đã và sẽ còn phát triển Đểđạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh, khu vực này đã và đang thu hútngày càng nhiều và phần lớn là lao động trẻ Do đó, bộ phận công nhân trongkhu vực kinh tế ngoài quốc doanh có cấu trúc trẻ về tuổi đời, tuổi nghề.
Những năm trước đây, do hoản cảnh chiến tranh, cơ chế bao cấp v.v nênnhững công nhân chiếm tỷ lệ cao Trong quá trình sắp xếp lại lao động ở khuvực kinh tế quốc doanh, số người nghỉ hưu, mất sức, thôi việc hưởng trợ cấpmột lần, phần đông là nữ Trong số công nhân mới được tuyển dụng (kể cả khuvực trong và ngoài quốc doanh) đã chú ý nhiều đến hiệu quả kinh tế, nên laođộng nam được tuyển dụng nhiều hơn nữ Vì vậy, tỷ lệ nam công nhân tăng lên,
nữ công nhân đã và sẽ còn giảm đi Mặt káhoặc, quá trình tinh giảm biên chế,sắp xếp lại lao động, số công nhân lâu năm đã và sẽ nghỉ hưu, mất sức, thôiviệc… chiếm tỷ lệ lớn Số tuyển dụng mới thì hầu hết là dân tộc trẻ, vì thế, đãlàm cho tỷ lệ công nhân lâu năm và cnnn nhiều đời giảm xuống (xem phụ lục,tr.6-8)
So với các giai cấp và tầng lớp khác trong xã hội, những năm qua giai cấpcông nhân nước ta đã đóng góp nhiều vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ ta.Nhưng, họ lại là những người chịu nhiều thiệt thòi (đặc biẹt là đội ngũ côngnhân quốc phòng, thợ mỏ, công nhân làm việc ở những vùng độc hại, vùng núi,
…) Vì thế, còn em công nhân thường không muốn làm thợ Họ tìm mọi cách đểkhông phải nối nghiệp cha ông, nhất là con em công nhân trong các nghề nặngnhọc như: khai thác kim loại, các ngành công nghiệp nặng, v.v Do vậy, đội ngũcông nhân nhiều đời có xu hướng ngày càng giảm ở khu vực kinh tế quốc doanhtrong những năm gần đây
- Ba là: Sự đa dạng, phức tạp, không thuần nhất và phân hoá trong nộibộ
giai cấp, giữa các bộ phận công nhân trong các ngành, nghề và thành phần kinh tế.
Ngoài bộ phận công nhân khu vực kinh tế quốc doanh, công tư hội doanh
và tập thể, hiện nay còn có các bộ phận khác; công nhân làm thuê trong các xínghiệp tư bản tư nhân; công nhân làm thuê ở nước ngoài; công nhân trong các xínghiệp, công ty liên kết, liên doanh với nước ngoài; công nhân trong các xínghiệp, công ty của tư bản tư nhân nước ngoài hoặc của các tổ chức nước ngoàiđầu tư vào Việt Nam; công nhân trong các tổ hợp, hợp tác xã cơ khí cao cấp tiểucông nghiệp, v.v Ngay trong khu vực kinh tế quốc doanh và tập thể còn có bộphận công nhân trong các xí nghiệp, nhà máy, công ty.v.v cổ phần Và, trong
Trang 26những xí nghiệp này, củng cố bộ phận công nhân có cổ phần và không có cổphần Trong số công nhân có cổ phần cũng có những công nhân có cổ phần lớn,nhỏ khác nhau.Thậm chí, trong một số xí nghiệp, còn có một số bộ phận liênkết, liên doanh với nước ngoài Ngoài số công nhân sinh trưởng và được đào tạotrong chế độ mới, còn có bộ phận công nhân làm việc trong chế độ cũ còn lại(chủ yếu là ở miền Nam), và có một bộ phận công nhân được cử đi học tập, đàotạo ở nước ngoài trở vê, v.v (xem phụ lục, tr.2-4, 8,9).
Các bộ phận công nhân nêu trên, do làm việc ở những môi trường lao động,trình độ sản xuất công nghiệp, công tác quản lý đào tạo, yêu cầu về tay nghề,cách thức tổ chức sản xuất, môi trường chính trị, xã hội.v.v khác nahu, nên có
sự khác biệt, không thuần nhất về ý thức và khả năng làm chủ, trình độ taynghề, tác phong công nghiệp, ý thức chính trị và trách nhiệm công dân, tinh thần
kỷ luật lao động, lương tâm người thợ, tác phong sinh hoạt, lối sống, nguyệnvọng, giác ngộ và tình đoàn kết giai cấp, … Ngoài ra, sự phân tầng trong thunhập đã, đang và sẽ còn diễn ra mạnh mẽ, có sự chênh lệch rất lớn giữa các bộphận công nhân trong các thành phần, vùng, khu vực kinh tế; giữa các ngành,nghề; thậm chí, giữa các bộ phận công nhân trong cùng một thành phần, vùng,khu vực kinh tế, trong cùng một ngành, nghề và ngay cùng một xí nghiệp, công
ty (Xem phụ lục, tr.40+41) Điều này cũng sẽ dẫn đến sự phân hoá phức tạp,không thuần nhất trên mọi phương diện trong đội ngũ giai cấp công nhân ViệtNam hiện nay
- Bốn là: Sự già hoá, đứt đoạn và giảm đi của đội ngũ công nhân lành
nghề, thợ bậc cao, thợ giỏi trong mấy năm gần đây, nhất là ở bộ phận công nhân khu vực kinh tế quốc doanh (xem phụ lục tr 5, 6, 11-14).
Do chạy theo lợi ích kinh tế trước mắt, cục bộ, kinh phí đào tạo ít và trongtình trạng sản xuất đình đốn, thua lỗ, sản phẩm ứ đọng, công nhân thiếu việclàm, giám đốc được giao toàn quyền trong xí nghiệp, … nên công tác đào tạo,bồi dưỡng tay nghề, nguồn kế tiếp trong những năm qua không được chú ý đúngmức, thậm chí rất coi nhẹ Do vậy, số công nhân trẻ bổ sung vào đội ngũ côngnhân lành nghề, thợ bậc cao rất ít Ngoài ra, còn do hậu quả của cuộc chiếntranh kéo dài Trong những năm chiến tranh, hầu hết, lực lượng trẻ đi ra mặttrận Chiến tranh kết thúc, lực lượng này trở về, được bổ sung vào nhà máy, xínghiệp, hầu hết là chưa có tay nghề hoặc tay nghề thấp Số thợ bậc cao, lànhnghề còn lại sau những năm chiến tranh hoặc về hưu, mất sức, hoặc tuổi đã cao,tạo nên sự già hoá, đứt đoạn, hẫng hụt của đội ngũ công nhân này Tình hình đócòn có một nguyên nhân hết sức quan trọng là, chế độ chính sách về lương, ưuđãi và các phúc lợi, quyền lợi vật chất, tinh thần khác đối với thợ bậc cao, lànhnghề chưa thoả đáng, có tính chất bình quân Thêm nữa, để nâng một bậc thợ,
Trang 27người công nhân phải trải qua một thời gian lao động dài, từ 3 đến 5 năm vàphải qua thi tuyển ngặt nghèo Do vậy, không khuyến khích được công nhân,nhất là công nhân trẻ phấn đấu nâng cao bậc thợ, tay nghề Cũng phải kể đếnmột nguyên nhân khác là,cuộc sống của người công nhân trong những năm quaquá khó khăn nên họ không có thời gian, điều kiện, nhiệt tình và lòng say mênghề nghiệp để rèn luyện nâng cao tay nghề, bậc thợ (Xem phụ lục, tr 25, 30,31).
Các xí nghiệp quốc doanh, chưa có chế độ, chính sách phù hợp để thu hútthợ bậc cao, lành nghề, thợ giỏi Bởi vậy, một số không nhỏ trong lực lượng này
bỏ nhà máy, xí nghiệp ra làm ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, vì ở đó cóthu nhập cao hơn, làm cho đội ngũ thợ bậc cao, lành nghề trong khu vực kinh tếquốc doanh ngày càng giảm (xem phụ lục, tr 12, 13)
- Năm là: Sự mất cân đối về cơ cấu đội ngũ công nhân giữa các thành
phần, ngành kinh tế, trên các địa bàn dân cư, giữa số lượng và chất lượng.
Do nhận thức rằng, càng xoá bỏ nhanh chóng các thành phần kinh tế ngoàiquốc doanh, càng sớm có chủ nghĩa xã hội, vì thế, những năm trước đây, chínhsách kinh tế- xã hội của Đảng và Nhà nước ta chưa khuyến khích và tạo điềukiện thuận lợi cho thành phần ngoài quốc doanh nói chung, và công nghiệpngoài quốc doanh, nói riêng phát triển Thậm chí, còn có những chủ trương,chính sách kìm hãm, thủ tiêu thành phần kinh tế này, nhất là đối với tư bản tưnhân Trong nhận thức và chế độ, chính sách cụ thể, chúng ta chưa thừa nhận có
bộ phận công nhân ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh; còn có sự phân biệt đối
xử với những người lao động ở khu vực này Do vậy, bộ phận công nhân trongkhu vực trên rất nhỏ bé Mấy năm gần đây, đặc biệt là từ năm 1986 đến nay, vớichính sách kinh tế nhiều thành phần, với sự thừa nhận quyền tự do sản xuất,kinh doanh theo pháp luật và quyền bình đẳng trước pháp luật của các đơn vị Thành phần kinh tế, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nói chung và công nhânngoài quốc doanh nói riêng, sau một thời gian dài bị gò bó, hạn chế, đã pháttriển nhanh Cùng với sự phát triển của công nghiệp ngoài quốc doanh vàchính sách đối xử bình đẳng với người lao động trong các thành phần kinh tế, bộphận công nhân ở khu vực này đã tăng lên nhanh chóng (xem phụ lục, tr.1-3)
Sự phát triển đó là tất yếu và cần thiết, nhưng chưa cân đối về cơ cấu đội ngũcông nhân giữa hai kh uvực (quốc doanh và ngoài quốc doanh) Sự mất cân đốinày sẽ ảnh hưởng đến vai trò và chất lượng của đội ngũ công nhân nói chung.Hiện nay, phần lớn công nhân vẫn tập trung trong các ngành công nghiệp,giao thông vận tải,xây dựng Bộ phận công nhân nông nghiệp, lâm nghiệp vàcác ngành khác còn ít Công nhân khu vực ngoài quốc doanh chủ yếu tập trungtrong các ngành công nghiệp nhẹ, tiểu, thủ công nghiệp
Trang 28Phần lớn công nhân tập trung ở vùng đồng bằng Trong đó, chủ yếu ở cácvùng đô thị, thành phố lớn; ở các vùng khác; miền núi, trung du, ven biển,…chiếm tỷ lệ nhỏ Công nhân ngành công nghiệp nặng tập trung ở các tỉnh phíaBắc Công nhân ngành công nghiệp nhẹ tập trung ở các tỉnh phía Nam Côngnhân khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, tập trung phần lớn ở 3 thành phố, HàNội, Hải Phòng, Hồ Chí Minh.
Đang có sự mất cân đối giữa số lượng và chất lượng của đội ngũ công nhânViệt Nam hiện nay Điều này thể hiện ở toàn bộ giai cấp công nhân cũng như ởtừng bộ phận công nhân trong các thành phần kinh tế, nhất là ở bộ phận côngnhân trong khu vực kinh tế quốc doanh Việc đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng độingũ công nhân còn thiếu quy hoạch, không theo kịp yêu cầu mở rộng sản xuất
và phát triển công nghiệp, dẫn đến tình trạng số lượng đông, nhưng chất lượngkhông cao
Nhìn chung, cơ cấu giai cấp công nhân còn chưa cân đối và đồng bộ, công nhân trong các nghành công nghiệp nặng chiếm tỷ lệ còn thấp, trong khi đó công nhân ngành công nghiệp nhẹ và chế biến thực phẩm chiếm tới gần 40% Đảng và Nhà nước ta coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, nhưng chưa chú trọng phát triển đội ngũ công nhân nông nghiệp Bộ phận công nhân nông nghệp còn quá ít Điều này thể hiện sự phát triển chưa cân đối và đồng bộ giữa công nghiệp và nông nghiệp Đó cũng là biểu hiện của một nền nông nghiệp còn ở tình trạng sản xuất nhỏ, lạc hậu.
- Sáu là: Phản ánh sự liên kết, hỗn hợp, đa dạng của các thành phần kinh
tế, cơ cấu giai cấp công nhân cũng có sự đa dạng, phức tạp, đan xen giữa các
bộ phận của nó, trong mỗi người công nhân.
Các đơn vị sản xuất kinh doanh không tồn tại và hoạt động một cách độclập, khép kín Trái lại, trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, có nhiều loại hìnhhỗn hợp, đan kết với nhau, xu hướng liên kết, liên doanh ngày càng phát triển,chẳng những trong phạm vi quốc gia mà còn mở rộng trọng phạm vi quốc tế.Trong mỗi nhà máy, xí nghiệp, công ty, … có những dây chuyền sản xuất, cónhững bộ phận liên kết với các đơn vị sản xuất thuộc các thành phần kinh tếkhác ở trong và ngoài nước Những đơn vị sản xuất ấy vừa có mặt ở thành phầnkinh tế này, vừa nằm trong thành phần kinh tế khác, khó có sự phân biệt rạch ròi
giữa các thành phần kinh tế Bởi thế người công nhân trong các đơn vị sản xuất này cũng không thuần nhất thuộc một thành phần kinh tế nhất định Mặt khác,
trong giai đoạn hiện nay, khi sản xuất công nghiệp vẫn chưa thoát khỏi tìnhtrạng đình đốn, việc làm và đời sống của công nhân không ổn định Thì vấn đề
nêu trên càng rõ nét Người công nhân không chỉ có mặt trong một thành phần kinh tế nhất định nào đó, mà họ có thể hiện diện ở hai, hoặc vài thành phần
Trang 29kinh tế: họ vừa là người công nhân trong khu vực kinh tế quốc doanh, vừa làm việc ở khu vực kinh tế tập thể, cá thể hoặc tư nhân, hộ gia đình.v.v Có những trường hợp họ vừa là người công nhân vừa không phải là người công nhân một khi họ sống bằng nghề phụ (tăng gia, chăn nuôi, làm nông nghiệp, làm thủ công, buôn bán…), hoặc bằng thu nhập khác là chủ yếu, họ có vốn cổ phần ở một mức độ nào đó trong xi nghiệp, công ty.v.v.
Tình hình phát triển về số lượng, cơ cấu đa dạng, phức tạp, thường xuyênbiến động như trên, đã và đang dẫn đến một thực trạng về chất lượng giai cấp
công nhân: đang có sự yếu kém về nhiều mặt và sự phân hoá, không thuần khiết giữa các bộ phận của đội ngũ công nhân Việt Nam hiện nay Thực trạng
này được phản ánh trên các bình diện sau đây:
Thứ nhất, trình độ văn hoá, tay nghề thấp và không đồng đều, mất cân đối giữa các bộ phận công nhân; ý thức hcọ tập nâng cao trình độ văn hoá, nghiệp
vụ chuyên môn, tay nghề, nhìn chung, có xu hướng giảm (Xem phụ lục, tr
9-14)
So với trước đây, trình độ văn hoá của công nhân có được tăng lên, nhưng
só với công nhân ở các nước khác và yêu cầu của nền sản xuất công nghiệp hiệnđại thì, công nhân Việt Nam hiện nay, trình độ văn hoá còn thấp ("Hiện nay,gần 90% công nhân Nhật Bản có trình độ địa học hoặc tương đương Còn Phápthì đặt chương trình đến năm 2000 phải nâng tỷ lệ người có học vấn đại họctrong công nhân lên 80%") ([23], Tạp chí Cộng sản, 1990, số 9, tr 80) Xétriêng từng nhóm, từng bộ phận công nhân thì, nhìn chung, nhóm công nhân trẻ
có trình độ văn hoá cao hơn nhóm công nhân lớn tuổi Công nhân các tỉnh phíaBắc, khu công nghiệp tập trung, thành thị, thành phố lớn- Hà Nội, Hải Phòng,thành phố Hồ Chí Minh- có trình độ văn hoá cao hơn công nhân ở các tỉnh phíaNam, trung du, miền núi Công nhân khu vực kinh tế quốc doanh, công nhânquốc phòng có trình độ vhu cao và đều hơn công nhân khu vực kinh tế ngoàiquốc doanh Trong các ngành nghề thì, công nhân ngành điện nói riêng và côngnghiệp nói chung, có trình độ văn hoá, tay nghề cao hơn công nhân ở các ngànhkhác Công nhân trong các ngành than, xây dựng, nông nghiệp, lâm nghiệp, giaothông vận tải có trình độ văn hoá, tay nghề thấp (xem phụ lục tr 9-14)
Trình độ kỹ thuật, kiến thức quản lý kinh tế, khả năng nghề nghiệp củacông nhân còn thấp so với yêu cầu đòi hỏi của cuộc cách mạng về kỹ thuật,công nghệ và những yêu càu của một nền sản xuất hàng hoá hiện đại Trình độvăn hoá, tay nghề thấp đã ảnh hưởng không tốt đến việc tiếp thu khoa học, kỹthuật: đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, ý thức chính trị, v.v củacông nhân
Trang 30Hệ thống các trường đào tạo công nhân đã yếu lại xuống cấp nghiêm trọng,nhất là trong những năm gần đây (do kinh phí khó khăn, thiếu quan tâm.v.v.), vìthế, chưa đủ khả năng cung cấp đội ngũ công nhân được đào tạo tay nghề tốtcho các ngành kinh tế.Số được đào tạo đã ít lại thiếu cân đối, số được đào tạonhưng sử dụng không đúng ngành, nghề đã đào tạo khá nhiều.
Cơ cấu công nhân giữa thợ bậc thấp và thợ bậc cao, giữa công nhân kýthuật với các bộ phận khác chưa cân đối: công nhân bậc 7, thợ lành nghề ít hơnphó tiến sĩ; công nhân bậc 6 ít hơn công nhân có trình độ kỹ sư; thợ bậc 7, thợgiỏi quá ít Hiện nay đang có tình trạng cố công nhân có trình độ học vấn cao thìphổ biến là có tay nghề thấp vì còn trẻ, mới vào nghề; trái lại, thợ bậc cao, lànhnghề, tuổi nghề lâu năm thường có trình độ học vấn thấp
Những năm vừa qua và hiện nay, hệ thống chính sách cảu nnta chưa thực
sự coi trọng thợ bậc cao, thợ giỏi Vì vậy, công nhân nói chung, nhất là thanhniên công nhân, kể cả số công nhân trẻ ưu tú, tích cực trong lãnh đạo, có vănhoá cao không muốn phấn đấu thành thợ giỏi Ý thức học tập nâng cao trình đọvăn hoá, sự ham mê rèn luyện tay nghề không chiếm ưu thế trong tâm lý côngnhân và ngày càng giảm (xem phụ lục, tr 16,17)
Ở các nước có nền công nghiệp phát triển, công nhân kỹ thuật, thợ bậc cao,lành nghề chiếm tỷ lệlớn trong tổng số công nhân (xem bảng 5) Ở nước ta, tỷ
lệ đó còn rất nhỏ, chủ yếu là dân tộc giản đơn (80%)
Bảng 5
Tên nước
Công nhân kỹthuật cao (% trongtổng số công nhân)
Trang 31(40) N01.1990 và (43), N02 1990, tr 170).
Nhìn chung, hiện nay công nhân khu vực ngoài quốc doanh, chất lượng vềmọi mặt kém hơn công nhân khu vực quốc doanh
Tình hình trên do nhiều nguyên nhân: do điều kiện lịch sử - kinh tế- xã hội
cụ thể của mỗi giai đoạn, mỗi vùng, khu vực, … có sự khác nhau; do tính chất
và đòi hỏi của mỗi ngành, nghề không giống nhau; do chiến tranh; do đời sốngcủa công nhân trong những năm qua có khó khăn v.v Nguyên nhân sâu xa vàxét đên cùng là do trình độ phát triển còn thấp của nền kinh tế nước ta nói
chung, và nền công nghiệp nói riêng, quyết định Song- theo chúng tôi nguyên nhân có ý nghĩa trực tiếp quyết định của tình trạng trên là do, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta chưa có chiến lược kinh tế- xã hội đúng đắn, nhất quán ngay từ dầu(khi bước vào thời kỳ quá độ); sự quan tâm xây dựng giai cấp công nhân trong nhận thức cũng như trong hành động - chưa đầy đủ Do
đó, chưa có một hệ thống chính sách kinh tế- xã hội cụ thể, đồng bộ, phù hợp đối với giai cấp công nhân Vì thế, đã kìm hãm phát triển cả về số lượng và chất
lượng (trên mọi phương diện) của giai cấp công nhân
Tuy vậy, ở một số ngành, nghề, nhất là trong các ngành nghề mới như dầukhí, điện tử, tin học, du lịch, thuỷ sản, dịch vụ.v.v đã và đang xuất hiện ngàycàng đông đảo một đội ngũ công nhân trẻ, có trình độ văn hoá, tay nghề cao, cósức khoẻ tốt và sự say mê học tập văn hoá, nghiệp vụ, tự nâng cao tay nghề, đặcbiệt là trong điều kiện cạnh tranh hiện nay và ở những nơi có sự quan tâm, cóchế độ, quy định ưu đãi thợ có tay nghề cao, thợ giỏi
Thứ hai, trong một chừng mực nhất định, cũng xuất phát từ những nguyên
nhân kahchs quan, chủ quan nêu trên đã dẫn đến vấn đề lớn nhất nổi lên trong nhiều năm qua là, giai cấp công nhân nước ta chưa thực sự làm chủ mọi mặt của đời sống xã hội Nhất là trong sản xuất, kinh doanh, phân phối, (xem phụ
lục, tr 18) Một phần, vì công nhân chưa có thói quen và năng lực làm chủ; mặtkhác, do nhiều cơ quan lãnh đạo, quản lý các cấp trong xí nghiệp và ngoài xãhội chưa tôn trọng quyền làm chủ của họ, có nơi còn vi phạm nghiêm
trọng Đây là mặt yếu rất đặc trưng của ggcn ở những nước chưa có công nghiệp lớn Trong điều kiện sản xuất, kinh doanh của xi nghiệp theo nghị định
218 - 98-50/ HĐBT, vai trò lãnh đạo của đảng uỷ trong xí nghiệp mờ nhạt; việcxác định vai trò, chức năng của tổ chức Đảng, công tác đoàn, Hội đòng xínghiệp, Ban thanh tra công nhân, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh trong
xí nghiệp (nhất là các xí nghiệp, công ty, cơ sở sản xuất ngoài quốc doanh) vềviệc xác định mối quan hệ giữa các tổ chức này với nhau, với giám đốc chưa rõ;hoạt động của các tổ chức này kém, (xem phụ lục, tr 24, 29,30), chưa có tínhđộc lập,v.v Trong khi đó, giám độc lại được giao toàn quyền xử lý các vấn đề
Trang 32trong xí nghiệp; tất cả điều đó đã gây trở ngại cho việc thực hiện vai trò làm chủcủa công nhân trong sản xuất, kinh doanh, phân phối sản phẩm cũng như trongmọi vấn đề khác của xí nghiệp, nhà máy Hơn nữa, mấy năm gần đây, tình hìnhviệc làm ngày một căng thẳng, lương không đủ sống, người công nhân phảixoay sở bằng mọi cách để tồn tại, phát triển vật lộn với cuộc sống sinh hoạt
hàng ngày, … người công nhân chưa làm chủ được bản thân mình thì khó có thể làm chủ được nhà máy, xí nghiệp và xã hội.
Công nhân thực hiện quyền làm chủ một cách trực tiếp và làm chủ thôngqua các đoàn thể của mình và các cơ quan dân cử Trên cà hai hình thức làm chủ
ấy, những năm qua, quyền làm chủ của công nhân còn nhiều hạn chế Ngoàinhững nguyên nhân đã nêu ở trên, thực trạng này còn do nhiều nguyên nhânsau: công nhân có những điều kiện cần thiết và đủ để làm chủ- trình độ văn hoá,chuyên môn, nghiệp vu, trình độ hiểu biết về pháp luật và ý thức tuân thủ phápluật, khả năng tiếp nhận và xử lý thông tin,trình độ lý luận, chính trị… còn thấp
so với yêu cầu làm chủ Nhà nước ta chưa xây dựng được một hệ thống phápluật hoàn chỉnh để thể chế hoá quyền làm chủ của công nhân và thể hiện ra bằngnhững quy định cụ thể đối với từng loại hình xí nghiệp cũng như trên phạm vitoàn xã hội; chưa có một cơ chế hữu hiệu thể hiện trên thực tế quyền làm chủcủa công nhân Sự phân định chức năng và xác định mối quan hệ giữa Đảng,Nhà nước với các đòan thể Nhà nước chưa rõ, giải quyết những mối quan hệ đóchưa tốt Chủ nghĩa quan liêu, tư tưởng phong kiến, gia trưởng còn nặng nề,những khuynh hướng dân chủ cực đoan, bệnh dân chủ hình thức, tệ tham nhũng,đặc quyền đặc lợi không được xử lý nghiêm minh, ngăn chặn kịp thời đã xâmphạm và hạn chế quyền làm chủ của công nhân Tỷ lệ thành phần công nhântrong các cơ quan Đảng, Nhà nước và quản lý các cấp còn quá thấp cũng làmhạn chế quyền và vai trò làm chủ của đội ngũ người thực hiện (xem phụ lục, tr
14 + 15) Ngoài ra còn do trong những năm qua, công tác giáo dục chính trị, tưtưởng bị xem nhẹ; việc bồi dưỡng văn hoá cho công nhân chưa được chú ý;công tác đào tạo, bồi dưỡng tay nghề cho công nhân không được quan tâm đúngmức; những tiêu cực trong đời sống văn hoá, xã hội… tác động, tất cả điều đó
để làm hạn chế ý thức và khả năng làm chủ của công nhân
Tình trạng mất dân chủ và những khó khăn về kinh tế đã dẫn đến nhữnghậu quả nặng nề: hạn chế nhiệt tình lao động và khả năng sáng tạo của côngnhân, giảm sức đấu tranh cho chân lý từ phía người thợ Do đó, sai lầm củangười quản lý không bị phát hiện kịp thời, những biểu hiện tiêu cực, thamnhũng càng phát triển đến mức độ trầm trọng Tình hình đó phát triển, lại càng
vi phạm quyền làm chủ của công nhân
Trang 33Bên cạnh thực trạng trên, cũng có không ít cơ sở sản xuất, kinh doanh, ở đóquyền làm chủ của công nhân được tôn trọng, đảm bảo, không chỉ trong nhậnthức, mà bằng những quy định cụ thể của nhà máy, xí nghiệp Ở những đơn vịnày, quyền lợi và nghĩa vụ được đảm bảo và thực hiện nghiêm túc, công bằng;lợi ích vật chất và tinh thần của người công nhân được chăm lo; kết hợp hài hoàgiữa lợi ích của người lao động với lợi ích của xí nghiệp và lợi ích toàn xã hội.
Vì thế, ở đó đã khơi dậy và phát huy được vai trò làm chủ xí nghiệp của côngnhân trong sản xuất, kinh doanh, trong phấn phối sản phẩm… Do vậy, tính chủđộng, năng động, sáng tạo của công nhân được phát huy trong tháo gỡ khó khăn,giữ vững và phát triển sản xuất cả chiều rộng và chiều sâu
Với chính sách, cơ chế quản lý và những quy định hiện hành, công nhânkhu vực ngoài quốc doanh, quyền và vai trò làm chủ thể hiện hạn ché hơn côngnhân khu vực quốc doanh
Thứ ba, một bộ phận kổnh trong đội ngũ công nhân trình độ chính trị,
phẩm chất giai cấp giảm; kỷ luạt lao động, tác phong công nghiệp kém (Xem
phụ lục, tr.4-6 và 16-30)
Nguồn bổ sung vào đội ngũ công nhân Việt Nam hiện nay chủ yếu là họcsinh, phần lớn xuất thân từ nông dân, dân nghèo thành thị, đa số tuổi đời còn trẻ,sinh ra và lớn lên trong chế độ mới; Họ đi vào đội ngũ công nhân không phải từngười vô sản Số đông trong đội ngũ công nhân hiệnnay chưa từng bán sức laođộng cho nhà tư bản, chưa từng đấu tranh sống mãi với chủ đề giành lại miếngcơm, manh áo Trình độ sản xuất công nghiệp, tính chất xã hội hoá của sản xuất
ở nước ta hiện nay còn thấp, lao động thủ công là chủ yếu Người công nhânnằm trong mối quan hệ hàng ngày với nông dân, với nông nghiệp Nguồn sốngchính của công nhân hiện nay không phải từ lương, từ thu nhập do Nhà nước, xínghiệp cấp, mà không đủ việc làm, đời sống khó khăn, v.v Tất cả những vấn đềnêu trên, đã làm hạn chế đến trình độ chính trị, giác ngộ giai cấp, ý thức tổ chức
kỷ luật, thái độ và phong cách lao động cảu đội ngũ công nhân Việt Nam hiệnnay
Phần lớn công nhân, trong đó đa số thanh niên công nhân không hiểu được
vị trí, vai trò lịch sử của giai cấp mình, ý thức tự hào về giai cấp của công nhânnói chung, nhất là thanh niên công nhân trong các xí nghiệp quốc doanh hiệnnay rất thấp (xem phục lục, tr 16) Tình hình này ở các xí nghiệp, cơ sở sảnxuất ngoài quốc doanh còn thấp hơn Một bộ phận công nhân hoài nghi, khôngtin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, mơ hồ giai cấp,nhìn thấy một vài biểu hiện về mức sống cao của một số nước ta bản đã vội cangợi và không tin vào chủ nghĩa xã hội (Xem phụ lục, tr 26+29) Trong côngcuộc đổi mới, cái cũ chưa mất đi, cái mới chưa hình thành làm nảy sinh tâm lý
Trang 34hoang mang, dao động trong việc định hướng phấn đấu của công nhân, nhất làcông nhân trẻ Trình độ hiểu biết, nắm bắt chủ trương, chính sách của Đảng vàNhà nước trong công nhân rất yếu Mối quan tâm hàng ngày của công nhân là
có đủ việc làm,thu nhập đủ để duy trì cuộc sống của bản thân và gia đình (Xemphụ lục, tr 25-27)
Sự hạn chế đó, ngoài những nguyên nhân khách quan như đã trình bày ởtrên, còn có nguyên nhân do công tác giáo dục trong những năm qua bị buônglỏng, những ảnh hưởng tiêu cực trong đời sống xã hội.Và thêm nữa, phải thấyràng, uy tín, sức chiến đấu của không ít tổ chức Đảng giảm sút, không giữ vững
vị trí lãnh đạo, hạt nhân đoàn kết trong các xí nghiệp; sự thiếu gương mẫu, thoáihoá của một số đảng viên trong sản xuất, đời sống, sinh hoạt đã tác động khôngnhỏ đến đội ngũ công nhân trong các cơ sở sản xuất Gần đây, tình hình khủngkhoảng, tan rã ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô; tình hìnhphức tạp trên thế giới, v.v cũng làm suy giảm lòng tin, phai mờ lý tưởng trongcông nhân (xem phụ lục, tr 29)
Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bảo qua chế độ tư bản, từ mọt xã hộivốn là thuộc địa, nửa phong kiến; nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nhỏ, lực lượngsản xuất rất thấp Tính chất là sản xuất nhỏ, lực lượng sản xuất rất thấp Tính chất của nền sản xuất nhỏ được thể hiện ở mọi nơi; từ hạ thấp cơ sở đến thượngtầng kiến trúc, trong cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý, tâm lý, ý nghĩ của người laođộng và phong cách, tập quán của cả dân tộc Đặc điểm này chi phối rất lớn vàđang trở ngại trong việc hình thành phẩm chất giai cấp trong lao động xã hộicủa công nhân Mặt khác, công tác giáo dục lao động cho công nhân chưa cómột hệ thống khoa học, chưa được quan tâm đúng mức Do vậy, phong cách laođộng mới chưa được quan tâm đúng mức Do vậy, phong cách lao động mớichưa được phổ biến trong công nhân Cơ chế, chính sách cụ thể đối với ngườithợi chưa phù hợp, chậm đổi mới, ít có tác dụng động viên, khuyến khích ngườicông nhân gắn bó với nghề nghiệp, xí nghiệp, nhà máy những yếu tố kíchthích, động viên (cả vật chất lẫn tinh thần) để công nhân hăng hái, năng động,sáng tạo trong lao động sản xuất còn hạn chế Cơ chế quan liêu bao cấp duy trìtrong thời gian quá dài, nền sản xuất lại mang nặng tính chất tự cấp, tự túc, làmcho phần lớn công nhân chưa có phản xạ về lao động, không có ý thức quýtrọng những sản phẩm do mình làm ra, không quan tâm đến nhu cầu thị trường,năng suất, chất lượng sản phẩm, tâm lý ỷ lại, thụ động, tạm bợ, tính tự do, tuỳtiện của người sản xuất nhỏ là hiện tượng phổ biến trong công nhân Tính tựchủ, năng động, tác phong công nghiệp của đội ngũ công nhân còn kém Tất cảđiều đó dẫn đến lãng phí lao động sống, lao động quá khứ, thời gian, công suấtthiết bị, máy móc…
Trang 35Do điều kiện lao động, cuộc sống khó khăn, công nhân ít quan tâm vàkhông tích cực tham gia các hoạt động xã hội, thờ ơ với tình hình chính trị- xãhội trong nước và trên thế giới, ngại học tập chính trị, ngoại ngữ, văn hoá.
Những hiện tượng nêu trên ở mỗi bộ phận công nhân có mức độ khác nhau.Nhìn chung, công nhân khu vực ngoài quốc doanh, trình độ chính trị, giác ngộ
và phẩm chất giai cấp thấp hơn bộ phận công nhân khu vực quốc doanh
Thứ tư, tỷ lệ đảng viên, đoàn viên thanh niên, đoàn viên công doàn trong
công nhân thấp (Xem phụ lục, tr 14 - 16, 31 +32, 36+37).
Một bộ phận công nhân, nhất là thanh niên công nhân, nhìn chung khôngthiết tha và Đảng, ngay cả ở không ít công nhân tích cực trong sản xuất cũngkhông có nguyện vọng vào Đảng Lòng tin vào Đảng, vào chế độ giảm sút Một
số (không nhỏ) tổ chức cơ sở Đảng trong công nhân còn yếu Số đoàn viênthanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong công nhân ngày càng ít, đoàn viên côngđoàn giảm Tỷ lệ đảng viên, đoàn viên thanh niên, đoàn viên công đoàn giữakhu vực kinh tế quốc doanh với người quốc doanh có sự chênh lệch lớn Vai tròcủa tổ chức cơ sở Đảng, đoàn thanh niên và công đoàn ở khu vực ngoài quốcdoanh yếu hơn khu vực quốc doanh Ở nhiều cơ sở sản xuất ngoài quốc doanh,
tổ chức đoàn thanh niên, công đoàn chưa thành lâpợ được, hoặc nếu có thì chỉ làhình thức, hầu như không có hoạt động gì Tại nhiều cơ sở sản xuất, tiếng nóicủa Đoàn thanh niên, Công đoàn trong Hội đồng xí nghiệp gần như không có tácdụng, nhất là việc bảo vệ lợi ích, quyền lợi chân chính của đoàn viên thanh niên,đoàn viên Công đoàn
Thực trạng trên đây có nguyên nhân sâu xa là do sản xuất đình đốn, tìnhtrạng thiếu việc làm, đời sống của công nhân gặp nhiều khó khăn để ảh đến tổchức, hoạt động, sinh hoạt của các tổ chức trên, dẫn đến nhiệt tình và hứng thúphấn đấu, thamgia vào hoạt động của các tổ chức đó của công nhân.Nhưng,nguyên nhân chính là ở chỗ: các tổ chức Đảng, Công đoàn, đoàn thanh niênchưa có sự đổi mới kịp thời về nội dung và phương thức hoạt động, về tổ chức
và cán bộ cho phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế mới; chưa thấy hết tính chấthai mặt, phức tạp của cơ chế thị trường, chưa hình dung được những bước đi cụthể Do đó, những tổ chức này đã bị động lúng túng trong hoạt động; chậm xácđịnh rõ và đúng vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình Những chứcnăng, nhiệm vụ đã được xác định cũng chưa thực hiện đầy đủ và thực hiện chưatốt; chưa mang lại quyền lợi thiết thực cho công nhân Vì thế, vai trò, tác dụngcủa các tổ chức trên bị mờ nhạt, hạn chế và do vậy, các tổ chức ấy không cònsức thu hút công nhân phấn đấu gia nhập và tham gia hoạt động, Công đoàn vàđoàn thanh niên chưa thể hiện được tính độc lập về tổ chức , tính quần chúngrộng rãi; hình thức hoạt động gò bó, đơn điệu, không phù hợp với đặc điểm tâm
Trang 36lý, nguyện vọng… của từng đối tượng cũng làm mất đi sự hứng thú, nhiệt tìnhtham gia của công nhân, nhất là công nhân trẻ Ngoài ra, còn có các nguyênnhân khác như: mô hình, hệ thống tổ chức của các tổ chức trên được nghiêncứu, tổ chức lại cho hợp lý và phù hợp với nền kinh tế hàng hoà nhiều thànhphần; trình độ của đội ngũ cán bộ còn nhiều hạn chế; bất cập.v.v (Xem phụ lục,
tr 32,-35) Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát huy vai trò, tác dụng của các tổ chức này trong sản xuất, kinh doanh, trong việc thực hiện chức năngđại diện, bảo vệ lợi ích và quyền làm chủ… của công nhân Vì thế, công nhânkhông gắn bó thiết tha với các tổ chức ấy Một nguyên nhân hết sức quan trọnglàm cho công nhân không muốn gia nhập và hoạt động tích cực trong các tổchức trên là do, các tổ chức ấy chưa quan tâm đầy đủ đến lợi ích (vật chất vàtinh thần) của họ
Thứ năm, tình trạng sức khoẻ của công nhân không đảm bảo yêu cầu của
sản xuất công nghiệp, bệnh nghề nghiệp phát triển; điều kiện lao động, vệ sinh lao động công nghiệp kém.
Công tác bảo hộ lao động không tốt, số vụ tai nạn lao động ngày càngnhiều" Công tác bảo hộ lao động đang bị thả nỏi Các cơ sở thì tuỳ tiện thựchiện, các ngành các cấp quản lý trước đây hầu như không còn trách nhiệm chỉđạo đôn đốc cơ sở về bảo hộ lao động" ([13], tr 02) Tình hình trên ở các xínghiệp, cơ sở sản xuất ngoài quốc doanh xấu hơn khu vực quốc doanh (Xemphụ lục, tr 18-21 và 41-44)
Thực trạng này do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan Trong đó,cần thấy rõ nguyên nhân chủ yếu, trước hết là do, con người chưa được đặt lên
vị trí hàng đầu của mọi chính sách kinh tế- xã hội trong những năm qua Mọihoạt động sản xuất, kinh doanh, công tác bảo hộ lao động … trong từng xínghiệp chưa xuất phát từ mục đích tối thượng là vì con người, "đặt con ngườivào vị trí trung tâm" Thậm chí, con người còn bị coi như chỉ là phương tiện đểđạt mục tiêu kinh tế đơn thuần hoặc vì quyền lợi của một cá nhân, một nhómnhỏ, vì một "cái chung" vô hình Do đó, chưa có một hệ thống chính sách, vănbản pháp luật, pháp quy, chế độ, quy định cụ thể, đồng bộ trong việc chăm losức khoẻ, phòng chống bệnh nghề nghiệp, đảm bảo điều kiện lao động vệ sinh,
an toàn, lao động tốt cho công nhân Sự quan tâm nghiên cứu để thay đổi, bổsung những quy định, chế độ, chính sách đã lỗi thời so với tình hình về cơ chếmới chưa được chú ý đúng mức Mặt khác, đi lên từ sản xuất nhỏ, nên chúng tachưa có một đội ngũ cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật có kiến thức Kinhnghiệm về công tác này; nếp nghĩ và cách làm tuỳ tiện, thiếu căn cứ khoa học,bất chấp luật lệ trong công tác quản lý cũng như trong quá trình thực hiện côngtác bảo hộ lãnh đạo Công tác nghiên cứu khoa học, lãnh đạo, chỉ đạo tổng kết
Trang 37kinh nghiệm về công tác bảo vệ sức khoẻ, chống bệnh nghề nghiệp và bảo hộlao động công nghiệp, trong các ngành nghề, môi trường và điều kiện lao độngkhác nhau, ở nước ta, chưa được quan tâm.
Ngoài ra, còn do cơ chế quản lý (cả cơ chế cũ và mới) kìm hãm Tình trạng
cơ chế bao cấp kéo dài trước đây đã cuốn hút sự chỉ đạo về quá trình thực hiệncông tác bảo hộ lao động theo luồng gió tuỳ tiện (cả từ trong chủ trương, côngtác quản lý đến quá trình và cách tổ chức thực hiện) Cơ chế bao cấp đã làm cho
sự chỉ đạo thiếu tầm vĩ mô, sa vào sự vụ cụ thể,chắp vá, thiếu đồng bộ; khôngđiều hành, quản lý theo kỷ cương của luật lệ, chế độ, mà nặng về hô hào sự
"quan tâm" một cách chung chung Cơ chế bao cấp cũng ràng buộc các cơ sở,không phát huy được tính năng động, tự chủ trong việc chăm lo cải thiện vànâng cao đời sống cho công nhân, cải tiến máy móc thiết bị, cải thiện đièu kiệnlàm việc, bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động công nghiệp cho công nhân Cơ chếbao cấp còn hạn chế chức năng thanh tra, giám sát của công nhân và Nhà nướcđối với việc thi hành công tác này của người quản lý, của cơ sở Trái lại, cơ chếhiện nay cũng phát sinh tiêu cực trong công tác trên Cơ sở có quyền tự chủ,giám đốc được giao toàn quyền giải quyết các vấn đề trong xí nghiệp đã dẫn đến
sự tuỳ tiện, thiếu quan tâm hoặc cố tình làm ngơ của người và cơ quan quản lýtrong công tác bảo hộ lao động vì những mục đích trước mắt, cục bộ, cá nhân.Trong cơ chế thị trường, tự do cạnh tranh, do chạy theo lãi, lỗ đơn thuần, nhất làtrong điều kiện sản xuất đình đốn, người quản lý thường không chú ý đến côngtác bảo hộ lao động
Tuy nhiên, cũng có một thực tế là, có không ít cán bộ quản lý, cơ sở sảnxuất, do biết quan tâm đúng mức đến lợi ích trước mắt, đồng thờ quan tâm đếnlợi ích lâu đài của người lao động, của xí nghiệp, nên đã làm tốt việc chăm losức khoẻ cho công nhân Công tác phồng và chống bệnh nghề nghiệp, đảm bảođiều kiện vệ sinh và an toàn lao động tốt; thường xuyên quan tâm và làm tốtcông tác bảo hộ lao động nói chung Do vậy, ở đó sản xuất phát triển, công nhângắn bó với nhà máy, xí nghiệp
Thứ sáu, một bộ phận công nhân bị thoái hoá và tha hoá nghiêm trọng về
lao động, phẩm chất giai cấp và lối sống (Xem phụ lục, tr 18-21) Do cơ chế
chính sách không phù hợp, chưa quan tâm đến lợi ích chính đáng của người laođộng, công tác tổ chức, quản lý kỷ luật lao động chưa tốt, v.v khiến cho một sốngười chưa giác ngộ, không quan tâm đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh làmdối, làm ẩu, không coi trọng quy trình kỹ thuật, quy tắc an toàn lao động.v.v.Nạn cờ bạc, nghiện hút, mê tín dị đoan phát triển, cả ở trong và ngoài xí nghiệp.Chủ nghĩa thực dụng chiếm ưu thế trong tư tưởng, tâm lý ở một bộ phận côngnhân Hiện tượng ăn cắp vặt trong công nhân; tham nhũng, ăn hối lộ trong cán
Trang 38bộ lãnh đạo, quản lý hầu như ở xi nghiệp nào cũng có Để xuất hiện tâm lý làm
đủ mọi việc, bất chấp đạo lý, coi thường pháp luật, kỷ cương, đạo đức, nhânphẩm miễn là có lợi cho bản thân Số công nhân là tội phạm tăng lên ở mức độbáo động Một số cán bộ có chức, có quyền lợi dụng sơ hở trong cơ chế, chínhsách làm giàu bất chính Một số giàm đốc như những "ông chủ", lợi dụng quyềnhành, bóp nghẹt dân chủ, trù dập người lao động trung thực không thực hiệndân chủ, công khai trong phân phối, làm cho quần chúng công nhân bất bình,dẫn đến những cuộc phản ứng tập thể của công nhân dưới hình thức trong năm
1989 và 1990 Tình trạng thoái hoá và tha hoá ở một bộ phận công nhân nêutrên đã làm giảm uy tín của giai cấp công nhân trong các tầng lớp xã hội.Nguyên nhân chính của tình hình đó là sự duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tếtập trung, quan liêu, bao cấp; ví dụ: chính sách phân phối bình quân và chế độtrả lương bằng hiện vật đã hạn chế nhiệt tình lao động sáng tạo của công nhânthậm chí còn dẫn đến tình trạng lấn công khá phổ biến Không thực hiện chế độhạch toán là nguyên nhân làm giảm trách nhiệm của tập thể lao động, gây nênbệnh ỷ lại, dựa dẫn và các biểu hiện phường hội trong tổ chức sản xuất, kinhdoanh và phân phối Những sơ hở trong một số chính sách đồng bộ đã dẫn đếntình trạng tham nhũng, làm thất thoát tài sản của Nhà nước, vi phạm quyền làmchủ của công nhân, … sự tha hoá của một bộ phân công nhân nêu trên, đókhông phải là bản chất của chế độ mới và cũng không phải là giai cấp côngnhân Việt Nam hiện nay đã biến chất Từ một giai cấp bị trị trở thành giai cấplãnh đạo, làm chủ xã hội, cùng với việc tiến hành cải tạo xã hội cũ, xây dựng xãhội mới, giai cấp công nhân Việt Nam cũng đồng thời phải cải tạo và xây dựng
cả chính bản thân mình
Theo Mác, hiện tượng người lao động bị tha hoá là một phạm trù lịch sử
Nó xuất hiện và phát triển trong điều kiện quan hệ sản xuất dựa trên cơ sở chế
độ tư hữu về tư liệu sản xuất Chừng nào còn chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất,thì còn có nguồn gốc làm nảy sinh sự tha hoá của người lao động Vì vậy, sự thahoá của người lao động chỉ có thể được xoá bỏ hoàn toàn khi chế độ tư hữu bịxoá bỏ hoàn toàn Chỉ có thể khắc phục được sự tha hoá của người lao động mộtcách triệt để ở chủ nghĩa cộng sản, khi chế độ công hữu về tư liệu sản xuất đượcxác lập đầy đủ, Bởi thế, trong thời kỳ quân đội lên chủ nghĩa xã hội, khi mà nềnkinh tế nhiều thành phần với nhiệm vụ loại hình sở hữu và hình thức tổ chứckinh doanh còn tồn tại, thì hiện tượng lao động bị tha hoá, đương nhiên vẫn còntồn tại như một "hiện tượng quá độ" Hiện tượng này biểu hiện thành những thái
độ, hành vi trái với bản chất giai cấp của người công nhân, trong mối quan hệđối với sản phẩm do họ làm ra, đối với tài sản của Nhà nước và của tập thể, đốivới chính hoạt động lao động của bản thân họ như một lực lượng "xa lạ", trongđiều kiện quan hệ sản xuất ở nước ta những năm qua, cũng như hiện nay và
Trang 39trong suốt thời kỳ quá độ còn có hạn chế, thiếu sót do chủ quan và khách quangây nên, nhất là, trong những năm vừa qua và hiện nay, thiếu sót, khuyết điểmtrong quan hệ sản xuất ở nước ta còn nhiều, trước hết là những thiếu sót chủquan do chính chúng ta gây nên, "đẻ ra", trong quan hệ quản lý, trong quan hệphân phối.
Bộ máy quản lý kinh tế nhiều tầng, nấc trung gian không cần thiết làm cho
nó quá cồng kềnh, kém hiệu lực Công tác quản lý lao động, vật tư, tiền vốn,nguyên liệu, sản phẩm, v.v bị buông lỏng Công tác quản lý sản xuất, kinhdoanh chưa thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ Nguyên tắc tự chủ,nguyên tắc hạch toán kinh doanh khi thì tâp trung quan liêu,lúc thì tự chủ "vôchính phủ" Từ khi chuyển sang cơ chế quản lý mới, Nhà nước đã ban hành một
số quy định, quyết định, chế độ, chính sách,… có nhiều sơ hở Tình hình trênđây đã dẫn tới tệ ăn bám, nạn tham nhũng; một bộ phận cán bộ có chức, cóquyền lợi dụng quyền hành và sơ hở trong chế độ, quy định để thu vén cá nhân,làm giàu bất chính, gây thất thoát tài sản của Nhà nước, tập thể làm sói mòn chế
độ sở hữu xã hội chủ nghĩa, làm cho tài sản4 xã hội chủ nghĩa trở nên vô chủ, tưnhân hoá
Trong quan hệ phân phối,chưa thực hiện đúng nguyên tắc phân phối theolao động; thiếu công bằng trong phân phối lương, thưởng, phúc lợi mà nặng tínhchất bình quân, đặc quyền đặc lợi Và, như đã nó ở trên, công tác bảo hộ laođộng cho người công nhân không được quan tâm cải thiện Những nhu cầu tốithiểu cần thiết, lợi ích (cả vật chất lẫn tinh thần ) chính đáng, hợp pháp củangười công nhân không được đảm bảo Đời sống người lao động khó khăn gaygắt, kéo dài Quan hệ giữa ngưồi và cơ quan quản lý với công nhân có nhiều tiêucực; trù dập, ức hiếp, xâm phạm thô bạo và nghiêm trọng quyền dân chủ tốithiểu của người lao động Trên thựctế, người công nhân không làm chủ được laođộng của mình, cũng như sản phẩm do họ làm ra… Tất cả tình hình trên đã dẫnđến chỗ, người công nhân trở nên xa lạ, thờ ơ với tài sản chung; coi lao độngnhư một sự cưỡng bức, ở bên ngoài họ, không phải là bản chất của họ, càng laođộng nhiều càng bị thiệt thòi; làm ra sản phẩm tốt hay xấu đều phải trả lươngnhư nhau; thậm chí có lúc cơ chế quản lý còn khuyến khích làm dối, làm ẩu Vìthế, đã ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ của người công nhân đối với tài sản xãhội chủ nghĩa, đối với hành vi lao động của họ Không quan tâm đến năng suất,chất lượng, hiệu quả của sản xuất, người lao động trở nên đối lập với nhau, táchrời nhau: v.v
Cơ chế quản lý kinh tế mới tuy đã khắc phục được một phần sự tha hoácủa người lao động, song vẫn còn nhiều vấn đề cần bổ sung, sửa đổi, để hạn chếtới mức thấp nhất những nguyên nhân dẫn tới sự tha hoá của người công nhân
Trang 40Sự biến động của cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam sẽ còn diễn ra mạnh
mẽ với tốc độ nhanh trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần Đó là nhữngbiến động từ một giai cấp công nhân được hình thành nên một cách khiêncưỡng, dập khuôn, chủ quan, duy ý chí làm cho nó biến dạng trong thời kỳ baocấp với cơ chế quản lý tập trung quan liêu, sang một giai cấp công nhân có cơcấu mới, phức tạp, đa dạng, thích ứng với nền kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần theo cơ chế thị trương có sự điều tiết của Nhà nước và theo định hướng xãhội chủ nghĩa Sự biến động ấy là tất yếu và có những yếu tố hợp lý, phù hợp.Đồng thời, cũng có sự biến động theo khuynh hướng tiêu cực, không xã hội chủnghĩa Do đó, đảng và Nhà nước ta với vai trò to lớn của mình, cần có nhữngchính sách kinh tế- xã hội cụ thể, đúng đắn để xây dựng giai cấp công nhân,nhằm thúc đẩy những khuynh hướng biến động tích cực, hạn chế tới mức thấpnhất những khuynh hướng biến động tiêu cực, làm cho giai cấp công nhân ViệtNam phát triển theo đúng định hướng giai cấp công nhân xã hội chủ nghĩa
Thực trạng cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay (như đã trình bày
ở trên) là một trong những vấn đề biểu hiện tính quy luật Nó phản ánh đặc điểmcủa thời kỳ quá độ, nhất là trong chặng đường đầu tiên Mọi sự vật, hiện tượng
trong thời kỳ này đều có tính chất quá độ, đan xen lẫn nhau, không thuần nhất,
đa dạng, phức tạp và luôn biến động.Thực trạng ấy phản ánh đặc điểm của cơ
cấu kinh tế nhiều thành phần, của nền sản xuất nhỏ, của nền công nghiệp nhỏ bé(lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề) đang trong quá trình phát triển với nhữngđiều kiện chủ quan và khách quan không ổn định (về đường lối kinh tế nóichung, đường lối công nghiệp hoá nói riêng còn đang trong quá trình hoàn thiện,
về vốn, nguyên liệu, thị trường và những yếu tố liên quan đến phát triển côngnghiệp.v.v.) Thực trạng ấy cũng phản ánh hậu quả nặng nề, sâu sắc, lâu dài,trên nhiều mặt của một cuộc chiến tranh ác liệt kéo dài trên đất nước ta trongnhững thập kỷ vừa qua; cùng với những hậu quả tiêu cực của chủ nghĩa thựcdân cũ và mới chưa kịp khắc phục hết Thực trạng đó cũng phản ánh mối quan
hệ hợp tác quốc tế về kinh tế, về lao động, về khoa học - kỹ thuật, giáo dục vàđào tạo, v.v tuy còn hạn chế, nhưng đang trong xu thế ngày càng phát triển củanước ta
Thực trạng cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay còn do nhữngnguyên nhân khác quy định: đặc điểm riêng của sự hình thành, phát triển củagiai cấp công nhân Việt Nam với những hạn chế của nền sản xuất nhỏ Mộtnguyên nhân khác cần phải thấy là, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước tachưa thực sự quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ giai cấp công nhân về cơ cấu
số lượng, chất lượng, chưa thường xuyên coi trọng việc chăm lo đến đời sốngvật chất, tinh thần điều kiện lao động… cho giai cấp công nhân cơ sở xã hội