Chương 3. ĐÃI NGỘ THỤ HƯỞNG VÀ ĐẶC QUYỀN CỦA QUÝ TỘC, ĐẠI THẦN PHONG TƯỚC THỜI LÊ SƠ
3.5. Các quy định, đãi ngộ khác
3.5.4. Quy định về tang chế
Khảo cứu văn bia thời Lê Sơ, chúng tôi nhận thấy có hai sự kiện khá trùng hợp: Định Quốc công Đỗ Đại trước khi mất được vua Lê Thánh Tông ban cho 18.000 quan tiền (năm Diên Ninh thứ sáu - 1459) [94, tr.356]và Thư Quận công Trịnh Công Đán sau khi qua đời (năm Cảnh Thống thứ nhất - 1498) đƣợc ban tiền 18 vạn để an ủi, hộ tống an táng[94, tr.315]. Dẫu chƣa thể lý giải sự chênh lệch về ngân khoản qua hai sự kiện (chênh nhau tới 10 lần) thì sự tương đồng ấy (về tính chất sự việc) phải chăng là quy định ngân táng cho huân thần phong tước mà các nguồn sử liệu khác không đề cập?
Cùng với quy chế ngân táng (?), quan lại nhà Lê Sơ khi qua đời còn đƣợc cấp đất chôn cất. Mộ địa hình vuông, với quan lại hàng thấp (bát phẩm và cửu phẩm), từ tâm mộ mở rộng ra bốn phía mỗi chiều 9 bước (9 ngũ) [95, tr.495-496]. Phẩm cấp càng cao diện tích mộ địa càng lớn, có thể hình dung theo sơ đồ mộ địa và bảng thống kê 3. 8 sau đây:
125
Bảng 3.8. Quy định mộ địa cho quan lại năm Hồng Đức thứ chín
Phẩm hàm Diện tích mộ địa Ruộng đi kèm
Tính từ tâm Tổng
Nhất phẩm 45 bước 90 bước 2 mẫu 2 sào 7 thước 5 tấc Nhị phẩm 40 bước 80 bước 1,8 mẫu 11, 6 tấc, 6 phân, 4 ly Tam phẩm 35 bước 70 bước 1 mẫu 3 sào 9 thước 1 phân 40 ly Tứ phẩm 30 bước 60 bước 1 mẫu
Ngũ phẩm 25 bước 50 bước 6 sào 14 thước 1 phân 40 ly Lục phẩm 20 bước 40 bước 4 sào 6 thước 6 tấc 40 ly Thất phẩm 15 bước 30 bước 2 sào 7 thước 5 tấc Bát - Cửu phẩm 9 bước 18 bước 2 sào 3 thước 5 tấc
Nguồn: Hồng Đức thiện chính thư [95, tr.495-496]
Căn cứ nội dung tước chế Lê Sơ (hoàng thất, huân thần đều trên Nhất phẩm), có thể khẳng định: mộ địa của người có tước vị phải lớn hơn 90 bước.
Tiểu kết chương 3
Đãi ngộ cho quý tộc, trọng thần thời Lê Sơ là sự phát triển những quy định về thực ấp, điền - thổ, tuế bổng của các triều đại Lý, Trần, đƣợc sử liệu ghi chép lại khá đầy đủ, chi tiết. Điểm ưu việt trong đãi ngộ cho người có tước thời kỳ này còn biểu hiện bằng những ưu ái về mộ địa, trợ cấp tuất dành cho thân nhân.
Vinh phong cho trực hệ bề trên (truy phong), trực hệ bề dưới (ấm phong)… là những đặc trưng rất nổi bật trong tước chế Lê Sơ. Nó đảm bảo cho gia thế quý tộc, đại thần một địa vị cao hơn bách tính. Tuy nhiên, các triều vua thời Lê Sơ không trao ƣu đãi một cách vô tội vạ. Những định chế ràng buộc về quan hệ phu - thê, phụ - tử, về quan lại đương chức hay đã hưu trí và nhất là cơ chế “danh chí thực quy” đƣợc áp dụng nghiêm ngặt đối với cả
126
hai nhóm đối tƣợng trực hệ huyết thống đã đảm bảo cho bộ máy chính quyền thời Lê Sơ không bị “phình to” về nhân sự, ngân khố nhà nước không bị thâm hụt, hoàn toàn khống chế sự “lạm phát quan chức”.
Bên cạnh những quyền lợi về kinh tế, chính trị - xã hội, đãi ngộ của nhà nước cho người có tước vị đã hình thành những “đặc quyền quý tộc” như một quan lộ “phi khoa cử”, một cơ chế địa chủ vĩnh viễn, một chế độ quan lại suốt đời. Nói cách khác, những đặc quyền này đã vƣợt ra khỏi sự khống chế của luật pháp quốc gia trên rất nhiều phương diện mà quý tộc, đại thần phong tước nếu không phạm phải những điều đại kỵ thì họ không thể bị trừng phạt.
Về cơ bản thì những định chế này (cả ở góc độ quyền lợi và ràng buộc) đã được áp dụng ở những triều đại quân chủ trước đấy. Tuy nhiên phải đến thời Lê Sơ, đặc biệt là những năm tháng trị vì của vua Lê Thánh Tông, những quy định này mới cụ thể, chi tiết. Nhiều thông tin còn đƣợc biểu hiện trên cáo chế, sắc chỉ, sắc lệnh… của người đứng đầu nhà nước quân chủ đã trở thành một dạng luật pháp cho trọng thần, hoàng thất.
127