Một đồng chí cán bộ lãnh đạo xã nay đã về hưu tâm sự “ Muốn thấy đời sống kinh tế văn hoá Thiệu Trung nâng lên được bao nhiêu xin hãy làm một con toán so sánh nhỏ; Trước cách mạng cả 4 [r]
Trang 1Phong trào cần Vương ở Kẻ Rỵ – Kẻ Chè tuy yếu ớt sau dẫu sao cũng dội lạitiếng vang của một quá khứ dân tộc có chủ quền Những cố Kiệm, cố Cờ, cố QuảnKhoan, cố Bạn …cho đến Quản Bộc, Bát Khai, Đốc Đích … cầm gậy tre, ngọn mác,cây Kiếm đứng lên tuy chưa có công tích gì song cũng nói lên lòng dân Kẻ Rỵ – KẻChè hướng về đại nghĩa với chân lý ngàn đời: “ không có gì quý hơn độc lập tự do ”.Quanh một vùng tỉnh Thanh rộng lớn, xa thì Ba Đình (Nga Sơn), Đồn Cấp Ké (TĩnhGia), Ma Cao (Cẩm Thuỷ), Trịnh Van (Thưòng Xuân)…gần thì có các ông cử Hanh(vùng Bôn, Rủn), Quản Chăm (Ngã Ba Chè) nổi lên xây đồn luỹ đánh Pháp, Kẻ Rỵ –
Kẻ Chè cũng rậm rịch mài dao vào làng …nhưng lại gặp Phạm Thế Năng (tứ ThốngNăng như đã kể ở trên) Thống Năng từ khi phản bội quê hương đất nước, đi ngượclại truyền thống cha ông, ngày càng được thực dân Pháp và phong kiến Nam triều tindùng, đã trở thành trở lực lớn cho phong trào cách mạng đây Uy thế của ThốngNăng khống chế Kẻ Rỵ – Kẻ Chè suốt một thời Pháp thuộc hương chức trong làng,trong xã phần nhiều là tay chân Thống Năng Khi uy quyền đã lớn Thống Năng chiađất Phủ Lý thành 3 làng Trung, Nam, Bắc ở Kẻ Rỵ – Kẻ Chè chúng rào làng, đặtđiếm canh, lập phu đoàn tuần giờ để “ canh phòng cộng sản ” Trịnh Trọng Cườngtrước là Cai tổng sau được Thống Năng giao cho chức “ Bang tá tại gia ”, làm quantại nhà để khống chế cả vùng này Bất cứ người lạ mặt nào vào làng cũng đều có thểbất chợt bị vu là cộng sản và bị đàn áp tức thì Dân làng kể lại: Năm 1937, có 3 người
bà con của ông Giới từ Nghệ An ra thăm, bị lôi ra điếm canh, vu là “ Cộng sản Nghệ
”, giam cầm xét hỏi mãi sau mới được tha Lại một lần, cô Mơ người làng Vạc (ThiệuĐô) đến nhà ông Toang chơi bị bọn chưc dịch sai bắt chói, điệu ra điếm canh, doạ là
“ cộng sản ” mãi về sau mới được thả Từ năm 1930 đến năm 1945 việc canh phòngcộng sản rất nghiêm ngặt, nhất là thời kì 1930 – 1935 và thời kỳ 1940 –1945 Lý Dợtlàm Lý trưởng trong hai thời kỳ này, trên 10 năm trời, đôn đốc canh giừo: ban ngàythì gác điếm canh trong làng tuác trực, ban đêm trai “ xích hậu ” tuần tra, tối lại “ gàlên chuồng ” là nhà nào nhà ấy đóng kín cửa Việc nói năng, đi lại, quan hệ giao thiệpđều phải hết sức giữ gìn
Trang 2Thống Năng lại khuyến khích “ phục cổ ” như “ Chấn hưng Phật giáo ”, tu bổcảnh chùa Hương Nghiêm, cho mời sư để buộc ràng thiện nam tín nữ và biến việc thờphật thành việc “đồng bóng”, “ cầu cúng ”mê tín dị đoan Thống Năng lại cũng khích
lệ các lệ tục hương đảng xôi thịt và giữ vị trí “ ăn trên ngồi chốc ” Phần biếu xéntrong làng to nhất là phần biếu “ Quan Đô ” (tức Thống Năng) Phần biếu ấy bao giờcũng phải là thủ lợn cộng thêm nhiều thứ khác nữa Mỗi khhi “ Quan Đô ra với làng ”
là được coi như một “ dịp hiếm có ” Thường thì “ Quan Đô” ở “ tại gia ” và các chứcdịch phải thay phiên chầu trực để nghe hắn truyền bảo Uy thế của Thống Năng, chođến năm 1945 vẫn còn khống chế cả vùng Kẻ Rỵ – Kẻ Chè Lúc này y đã về “ hưu trítại làng phủ Lý Bắc ”, xây nhà,, xây “ sinh phần ”, đúc tượng đông Thống Năng, lậpbàn cúng lễ “ giải oan cho các linh hồn bị y giết hại ”…Y cấu kết với bọn quan tỉnh,quan huyện, “ đi lại chơi bời ” Cả quê hương Kẻ Rỵ – Kẻ Chè như bị bóng đen củabọn Đô Năng, Cai Cường, Lý Dợt, Cửu Minh…đè nặng Phong trào cách mạng lúcbấy giờ phát triển khắp nơi trong tỉnh Thanh; mặt trận Việt Minh hoạt động ngàycàng dồn dập nhưng ở Thiệu Trung lúc này cũng khó bề trỗi dậy Do vậy, nếp sốngvăn hoá toàn dân thấp kém, lạc hậu, tối tăm và bế tắc Trong làng có nghề đúc, nghềthừng, có chợ Chè, chợ rỵ, ruộng đồng nhiều, nông giang chảy qua mà đói Đườnglàng rậm rạp, cây to um tùm âm u, luý tre dày vây kín như thành cổng làng điếm canhvít các lối vào làng, khiến dân làng ngột ngạt nặng nề, chỉ những nhà giàu có quyềnthế là hãnh diện
Nạn lụt năm 1944 vỡ đê sông Chu khiếm cả vùng mất mùa Nạn đói năm ấy,bây giờ nhác lại còn rùng mình sởn gáy Tiếp đến là trận đói năm 1945 lịch sử PhápNhật lại ra sức vơ vét thóc lúa, bắt bán lúa theo đầu ruộng, bắt nhổ lúa trồng đay.Nhiều nhà xiêu dạt, nhiều nhà chết đói gần hết Riêng làng Trà Đúc chết mất 128người, ngoc nào cũng có người chết, có ngõ chết năm sáu người, có nàh chết sạch.Đường làng ngập trong tang tóc Trong khi đó, bọn địa chủ cường hào ra sức tích củalàm giàu Cuộc sống đến lúc này không thể chịu được nữa
Và cách mạng tràn về trên quê hương Chè Rỵ
Tháng 3 – 1945, Nhật đảo chính Pháp, phong trào Việt Minh được triển khainhanh chóng Ngày 3 –5 – 1945, các huyện có phong trào “ đói ăn ” do Việt Minhphát động Nông dân các huyện nổi dậy giữ lấy lúa gạo không cho Nhật vơ vét và taysai cướp phá Phong trào này ở Thiệu Trung vừa bột khởi đã rầm rộ Lang Phủ LýBắc có Phạm Thế Thai (lúc này là hương kiểm của làng, sau đó được kết nạp vàoĐảng) vận động nông dân đến nhà giàu Lê Đình Thạo, Lê Đình Nghiện đòi bỏ tôruộng và đòi chia 80 thúng thóc cho 160 người dân ở làng Trà Đông, 20 nông dânđấu tranh với lý trưởng Lê Văn Thảng dành lúa cho nông dân Phong rào đấu tranh ởChè Rỵ vừa dấy lên đã có kết quả nên dân làng hết sức phấn khởi tin tưởng ánh sángcủa cách mạng bừng sáng lên trên mảnh đất này Bọn địa chủ cường hào cho đếnPhạm Thế Năng cũng khiếp sợ Cách mạng tháng Tám bùng nổ, bọn cường hào nháo
Trang 3nhác, bọn quan lại hoang mang tìm kế thoát thân và có kẻ mưu toan chống phá lạicách mạng.
Huyện Thiệu Hóa (lúc này Thiệu Trung thuộc huyện Thiệu Hoá cũ rầm rập cờ
đỏ sao vàng, biểu ngữ, truyền đơn và chuẩn bị đi “ cướp phủ ” Ngày 15 / 8 các đội
du kích đã võ trang khới nghĩa, trước thái độ ngoan cố của bọn đầu huyện Lính bảo
an của chúng được gom lại để đối phó với cách mạng tiếng súng nổ ngay tối hom đó
Và chính quyền thuộc về nhân dân)
Làng Rỵ, làng Chè cũng nổi lên trong khí thế cách mạng của cả huyện, cả tỉnh.Mặt tận Việt Minh cử đồng chí Mục Sơn và một số đồng chí khác, cưỡi ngựa, mangkiếm Nhật (chiến lợi phẩm sau trận giải phóng huyện) về làng tước đồng triện củabọn lý hương Chính quyền bọn thực dân phong kiến sụp đổ nhanh chóng như lá khôtrước cơn bão lớn ở địa phương ông Phạm Thế Thai và một số người hăng hái cáchmạng, được cán bộ Việt Minh huyện bồi dưỡng đã lập đội thanh niên võ trang, tổchức đội múa sư tử cùng dân làng biểu tình thị uy Hàng ngàn người, dưới ách quốc
kì, hô vang khẩu hiệu “ Cách mạng tháng Tám thành công muôn năm ”, “ Việt Namđộc lập muôn năm ”…quyện trong tiếng trống múa sư tử rộn ràng diễn khắp 4 lànglàm lay động mọi tâm hồn già trẻ gái trai trên mảnh đất Kẻ Rỵ – Kẻ Chè
Ngày 19 / 8, toàn huyện Thiệu Hoá dồn về núi Go để mừng thắng lợi của cáchmạng, khẳng định cuộc đời mới mở ra từ đây
Ngày ấy, sau trận mưa mùa thu, trời quang mây tạnh, đồng ruộng tươi tỉnh, ánhnắng tran hoà; một màu xanh bát ngát mênh mông xua tan màu xám chết chóc củamùa đói 1945 vừa qua, xua tan những ngày nô lệ cự nhục Từng đoàn Thanh niên võtrang khắp các nơi trong huyện kéo về, chân đất áo nâu, gậy gộc kiếm mác, nam nữchen vai nhau, mắt ánh lên khí khí thế của đoàn quân nô lệ vùng lên rầm rập tiến vềkhu đổ đất đỏ làng Go
Đồi núi Go màu đất càng tươi, rậm rịch khí thế của chính quyền mới trongđoàn quân cách mạng ấy, có mặt 29 dân quân gái và 30 dân quân trai làng Rỵ, LàngChè sát cánh bên nhau Thật là một bức tranh sôi nổi hào hùng xưa nay chưa từngthấy
Tiếng nói độc lập tự do lung linh trong từng ánh mắt nụ cười Mọi tầng lớptrong làng Rỵ, Làng Chè đều hồ hỡi xiết chặt tay nhau trong mặt trận việt Minh
Chính quyền lâm thời được thành lập ở các làng Một số thành phần trên cũngtham gia chính quyền, có người làm chủ tịch lâm thời một làng, có người tham gia tổchức mặt trận Việt Minh và phụ trách các đoàn thể
(1)có thể kể đến một số thanh niên hăng hái được cách mạng lôi cuốn, có ngườitham gia viết khẩu hiệu, may cờ, sắm gậy gộc …, Có người phổ biến bài tiến quân ca
Trang 4và nhiều bài hát cách mạng khác Bà con thường nhắc đến những người này như làmột kỷ niệm đẹp đẽ sôi nổi đã qua Lê Văn Tân, Trương Trọng Thiện, Lê Văn Hưng.
Ngày mồng hai tháng chín từ quảng trường Ba Đình rực nắng vọng về mộimiền quê bản tuyên ngôn độc lập Bác Hồ đã nói lên ý xhí của những “ con Rồngcháu tiên ”:
“ Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay,một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được
tự do dân tộc ấy phải được độc lập ”.
Ngày 2- 9 đi vào lịch sử và Kẻ Rỵ – Kẻ Chè cũng lớn lên từ đây
II từng bước đi lên … từng bước đấu tranh
Tháng giêng vào năm 1946 mùa xuân đầu tiên của nước Việt Nam dân chủcộng hoà Cái tết khai sinh cuộc sống của người dân có chủ quyền già trẻ gái trai Kẻ
Rỵ – Kẻ Chè đi phổ thông đầu phiếu bầu Chính phủ và chính quyền các cấp Cầm láphiếu đầu tiên của một cuộc đời mới thiêng liêng làm sao Những “ anh hiểm ” “ chị
cò ” bây giờ cũng được dự bàn việc nước, quyết định vận mệnh cho đất nước
Sau ngày mùng sáu tháng giêng ấy, xã Tây hồ ra đời bao gồm 6 thôn Mỹ Lý,Nguyệt Lãng, Trà Đông và 3 làng Trung, Nam, Bắc lấy tên nhà đại ái quốc PhanChu Trinh đặt làm tên xã, nhân dân ở đây muốn biểu thị lòng yêu nước sâu sắc củamình, quyết chống Pháp đến cùng để bảo vệ nền độc lập tự do vừa mới giành đượcm.Các phong trào hồ hỡi dấy lên theo lời kêu gọi của Bác Hồ kính yêu như “ hũ gạo tiếtkiệm ”, “ tăng gia sản xuất ”, “ tập thể dục ”, “ vệ sinh làng xóm ” và sinh hoạt cácđoàn thể: Thiếu niên cứu quốc, Nhi đồng cứu vong, thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứuquốc, phụ lão kháng dịch, nông hội …trong mặt trận Việt Minh Nhất là phong tràobình dân học vụ các lớp mở ra khắp nơi, “ người biết chữ dạy cho người không biếtchữ, véo von các sách học văn:
có cảnh phàn nàn tự trách song mà vui vẻ biết bao:
Người ta đi chợ thì vui
Tôi nay đi chợ những chui cùng lòn
Còn giời, còn nước còn non
Còn chưa biết chữ thì còn phải chui
Trang 5Cứ như thế, tất cả phong trào cách mạng dấy lên như một cuộc đổi đời, gương mặtvăn hoá mới đã thay đổi dần dần Kẻ Rỵ – Kẻ Chè xưa.
Nhiều bài hát cách mạng từ thị xã Thanh Hoá bay về: Lá quốc kỳ, Rạng đông,Việt Nam, Việt Nam phụ quốc Bao chiến sỹ anh hùng …Lời hát cất lên đầy khí thế
Giang lay bước lên đường chung hăng hái
Nam nhi nước non nhà nào kém ai
Song tình hình càng ngày càng căng thẳng Giặc Pháp gây hấn ở Nam kỳ ngày 23 –
9 Chúng tiếp chân quân tưởng ở Bắc bộ và gây nhiều khó dễ, ngày càng láo xược.Rậm rịch nhiều người ở tỉnh Thanh lên đường chống giặc, nam tiến ở Kẻ Rỵ – KẻChè, sau lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của chủ tịch hồ Chí Minh thì mới có lớp
bộ đội đầu tiên lên đường gồm 6 đồng chí; Phạm văn Thơi, Trương Trọng Trịnh, LêĐình Thường, Đỗ Tất Bài, Trần Đình Sáu, Lê Minh Đức Cả xã, cả làng trống giong
cờ mở ra tận cầu Đông Quang đưa tiễn những người con quê hương lên đường gópxương máu bảo vệ đất nước
Nhịp sống kháng chiến bắt đầu với tốc độ khẩn trương Làng kháng chiến hìnhthành, các luỹ tre hào giao thông, hầm hố cá nhân chằng chịt xóm làng.Dân quân tự
vệ luyện tập ngày đêm sẵn sàng chiến đấu
Trong không khí ấy, xã Minh Quang ra đời, tháp các xã nhỏ thành xã lớn Đó
là vào tháng 10 – 1947 Xã Minh Quang lớn gồm 2 xã nhỏ Tây Hồ và Minh Quang(Minh Quang cũng là xã nhỏ gồm các thôn Nguyệt Quang, Phú Thứ, Viên Nội, ViênNgoại, Hổ Đàm) Một uỷ ban hành chánh ra đời cùng Mặt trận Liên Việt lãnh đạonhân dân vừa sản xuất vừa chiến đấu, lấy kháng chiến làm công việc trước mắt Lòthơ chúc tết đầu năm của Bác Hồ văng vẳng trong tâm trí mọi người
Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió
Trống kèn kháng chiến vang dậy non sông
Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến
Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng.
Cuộc sống tất nhiên không vươn lên một cách thuận chiều Mảnh đất này khôngngoài con mắt tính toán của bọn phản động Năm 1947, một tên trong tổ chức “ Việtcách ” về phát động làng Chè chặt rào, đốn cây, dọn đường …khai quang làng xóm
Nó dựa vào chủ trương xây dựng đời sống mới để nhằm tuyên truyền giành giật nhândân Đội dân quân địa phương do ông Cần, ông Cốt, ông Sáu đã đến bắt tên này giảilên huyện, kịp thời ngăn chặn hoạt động của bọn Việt cách
Cho đến năm 1948 thì phong trào xã Minh Quang nói chung và Chè Rỵ nóiriêng đã rất vững vàng Một lớp Đảng viên đầu tiên được kết nạp trên đất này tiêubiểu như Lê Duy Cấn, Trần Đình Sáu Đến cuối năm 1949, đội ngũ của Đảng ở đây
đã lên tới 62 Đảng viên
Trang 6Phong trào ủng hộ kháng chiến lên mạnh trong các đợt quyên góp quỹ vàng,quỹ độc lập, công trái quốc gia,và nhất là bán lúa khao quân Cụ Hồ.
Các làng đều tổ chức thi đua mua công trái quốc gia, bán lúa khao quân tại cácđình làng kéo dài 7 ngày ở làng Chè có chuyện ông Vũ Đình Son mua công tráiquốc gia Ông Son vốn là cố nông, trước cách mạng đi ở cho nhà giàu Làng xómđược giải phóng, ông chăm chỉ làm ăn có kế hoạch, tấn tới hẳn lên, có “ bát ăn bát để
” Và trong phong trào ủng hộ kháng chiến, ông giật giả quán quân Suốt 7 ngày thiđua ông đều được ngồi ở ghế cao nhất, thách thức những người giàu có trong làngkhiến họ tức tối song họ vẫn không vượt được mức mua của ông Son vì “ nhiệt tìnhcách mạng ” của họ đến lúc này không vượt lên được nữa
Đi với cách mạng một đoạn đường, những người giàu có trong làng đã lộ ranhững tính toán cá nhân Các phong trào ủng hộ kháng chiến, hiến điền, thuế luỹtiến… làm cho họ cảm thấy tài sản bóc lột được của họ không tăng lên bao nhiêu mà
có nguy cơ bị tước lại (1)
Tiêu biểu cho những nhà giàu làng Rỵ làng Chè lúc này là Cửu Minh và Phó Cầu(tức trương Hữu Hoạch và Trương Hữu Tạo)
Chúng có uy thế lớn trong vùng, hàng trăm mẫu ruộng thu tô, dinh cơ bề thế,
kẻ ở ngoài làm rậm dịch suốt ngày đêm, khách khứa xe cộ xa gần “ về chơi với cụCửu vag ông Phó ” không lúc nào là không có Cựu Minh bảo trợ Phật giáo ở chùaHương Nghiêm sau khi Thống Năng chết Y còn lập ra phường bội, đội hát và múa
sư tử …bày ra cái vẻ bề ngoài là “cụ Cửu hiền lành chỉ thích chơi bời thôi ” Thật ra,
y có nhiều tính toán khi đi với cách mạng Cách mạng đã đoàn kết với y, đã giao cho
y làm chủ tịch Liên Việt xã song y chỉ “ đoàn kết ” lại một cách “ nửa vời ”
Đầu 1950, Tuệ Quang Tuệ Chiếu (hai tên việt gian đội lốt tôn giáo) mượn danhnghĩa Liên Việt tỉnh về xã Minh Quang du với Cửu Minh và Phó Cầu Chúng quẫylên việc “ chù chiền ” lập ra “ Hải hội ” gồm hơn 100 người có tuổi trong làng Rỵlàng Chè (từ 40, 50 đa phần là nữ) góp tiền “ đèn nhang ” trên chùa tụng kinh gõ mỏ,cho in áo Hải hội (áo có hoa văn dấu nhà Phật cho người chết), tổ chức “Đội Cầu ”cho người chết (các già đội băng vải dài có tua giải, tượng trưng cho cái cầu bướcsang cõi phật của người chết) Phong trào Phật giáo dấy lên có nguy cơ lấn át cácphong trào cách mạng Bọn chúng lợ dụng “ tự do tín ngưỡng ”, lại núp dưới danhnghĩa Mặt trận Liên Việt nên lúc đầu một số người lẫn lộn, khó phân biệt Cửu Minh
và Phó Cỗu lại khôn khéo và “ tích cực hoạt động ”, tạo ra “ uy tín lớn ” trùm lên cảmột cả vùng Và sự việc xảy ra vào ngày Phật đản (8- 4) năm 1950 Ngày đó cũng làngày quốc tế lao động (1 – 5)
(1)Cho đến cách mạng thành công, những nhà giàu có không nhiều Trừ gia đìnhCửu Minh giàu có, ăn chơi, giao du rộng rãi và một số nhà có kinh tế vững vàng do
Trang 7có tham gia bóc lột tô tức từ nhiều đời, còn thì là lớp phú nông “ có bát ăn bát để ”.Những người giàu có này, lúc đầu đều có tham gia cách mạng, sau đó có người rơirớt, có người kiên trì Cách mạng đã cải tạo họ cũng như con cháu họ, giúp họ đi vàocon đường làm ăn chính đáng.
Rõ ràng hai bên có sự tranh chấp ảnh hưởng ở hai làng Chè và Rỵ, các cán bộ trẻ vàmột số thanh niên tích cực chuẩn bị tổ chức mít ting quốc tế lao động cạnh chùa ôngHưu Bọn Cửu Minh có sự chỉ đạo của Tuệ Quang Tuệ Chiếu(lúc này đang nằm vùngtại đây)đã viết các khẩu hiệu cho ngày Phật đản treo khắp 4 làng Cạnh các khẩu hiệunhư “ hoan nghênh ngày Phật đản ”… chúng vẽ hình “ Hai giáo đâm một mác ” vớinhững ý thâm độc Chiều mồng 7 tháng 4 các khẩu hiệu này được treo lên theo lệnh
cụ Cửu Trong làng xôn xao Đội múa sư tử đi cổ động cho ngày lễ Phật Khôngkhíngày 1 – 5 chìm hẳn Hỏi chính quyền thì không còn thời gian, tối hôm đó, ba thanhniên trong làng là trương Trọng Xương (lúc này là uỷ viên ban xã Minh Quang),Trương Trọng Đồn và Trần Văn Yừn bàn bạc với nhau, bí mật leo lên gỡ các khẩuhiệu đó đem ném xuống bến sông Hương Sáng ra, bọn Cửu Minh và Phoa Cầu mớibiết.Lễ Phật đản vẫn tién hành bên cạnh lễ kỷ niệm 1 – 5 Sau sự việc này, bọn CửuMinh cũng “ chờn ”, hoạt động của chúng đi vào chiều sâu với âm mưu “ Vận đọngthành lập đội phật tử ”
Trong làng lúc này có một số thanh niên “ ăn diện chơi bời theo kiếu Cầu Bố(1) dùng hàng ngoại hoá, trốn dân công và tuyên truyền nhảm, có ảnh hưởng xấu đếncác thanh niên mới lớn lên Họ bị dân làng phản đối và tẩy chay ”
(1)Trongkháng chiến chống Pháp, Cầu Bố là một thị trấn tản cư, nơi sinh hoạt “xôbồ” của nhiều lớp người buôn lậu, trốn kháng chiến, sa đoạ … “thanh niên Cầu Bố”hay “ kiểu Cầu Bố ” là từ dùng chỉ lớp trẻ ăn chơi buôn lậu hàng ngoại hoá, trốn tránhcông việc kháng chiến
Năm 1951 cũng là năm chính phủ ban hành thuế nông nghiệp kèm thuế luỹ tiến.Cho đến lúc này, thái độ của những nhà giàu có mới lộ rõ Cửu Minh, Phó Cầu phảnứng ra mặt Bởi vì, theo chính sách thuế mới thì bọn này còn phải bỏ ra hàng ngànthúng thóc mà lâu nay chúng thu vén lậu liễm Thế ra, đi với cách mạng song chúngvẫn bóc lột bà con một cách thậm tệ chúng chẳng có cách mạng gì cả, chỉ nhằm lợidụng cách mạng mà thôi Năm 1952 – 1953, cuộc đấu thuế nổ ra như một quả bomlớn làng xóm làng xôi động hẳn lên Cuộc đấu thuế đang trên đà phát triển kéo theocuộc đấu tranh chính trị ào ạt, Cơn bão này gọi tiếp cơn bão khác, lôi cuốn Kẻ Rỵ –
Kẻ Chè vào cuộc đấu tranh cho rõ trắng đen, cách mạng hay không cách mạng Thế
là những kẻ trốn dân công, phao tin nhảm loại thanh niên kiểu Càu Bố những kẻ cóthái đội lừng khừng lâu nay … đều được đưa ra “đấu trường ”
Gay go nhất là đấu bọn Cửu Minh, Phó Cầu Lúc này, uy thế của bọn chúngcòn rất lớn nên ít người dám đấu Nhưng phong trào đấu tranh đng dâng lên, uy thếbọn chúng giảm dần và cuối cùng gục hẳn Có tin thông báo về: bọn Tuệ Quang Tuệ
Trang 8Chiếu, cầm đầu nhóm đội lốt tôn giáo chống phá cách mạng, đã bị bắt, lòi bộ mặt việtgian làm tay sai cho Pháp Đến lúc này, toàn dân mớ thấy hết tội lỗi của bọn CửuMinh, Phó Cầu “ lập lờ hai mặt, bắt cá hai tay ” bọn chúng bị giải lên tỉnh giam cứu.
Sau cuộc đấu thuế, đấu Việt gian phản động này, phong trào cách mạng đượcđẩy lên một bước Dân công tiếp vận, Thanh niên xung phong, đống góp nghĩa vụ …đều nhanh chóng hoàn thành Năm 1954 phát động giảm tô Nhân đà thắng lợi năm
1955 nên các cuộc đấu tranh giảm tô (và cải cách ruộng đất sau này) rất thuận chiều
Sự gíac ngộ của nông dân nhanh chóng vươn lên, uy thế bọn địa chủ cường hàonhanh chóng sụp đổ Cửu Minh, Phó Cầu được đưa ra đấu điển hình trong giảm tô.Sẵn tội lỗi cũ, tội bóc lột bằng ruộng đất được vạch ra Bản án tử hình lúc này đầy đủbằng cớ khép y vào tội “ Địa chủ cường hào, Việt gian phản động ”
Cho đến cải cách ruộng đất 1955, Kẻ Rỵ – Kẻ Chè có 11 địa chủ (không kểmột số bị quy oan được trả thabnhf phần ngay cuối năm 1955) Cũng từ đây tên xãThiệu Trung được khai sinh với 4 làng Trung, Nam, Bắc và Trà Đông như hiện nay
Trên quê hương Chè Rỵ, cuộc cách mạng phản đế phản phong do Đảng ta lãnhđạo đến đây coi như đã hoàn thành Sau khi hoà bình lập lại, miền Bắc được tiến vàogiải phóng tién vào hàn gắn vết thương chiến tranh, bắt đầu công cuộc XHCN và tiếptục làm nhiệm vụ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Con đường đi lên đã thuận chiều Trên con đường ấy, xã Thiệu Trung xâydựng hợp tác xã nông nghiệp, phát triển ngành nghề, góp ơhần vào công cuộc chống
Mỹ cứu nước, tích cực xây dựng thành công nông thôn mới XHCN
Từng bước đi lên nhưng cũng là từng bước đấu tranh Quá trình đấu tranh và đilên ấy, ngay cả bây giờ cũng vậy, có lúc gay go phức tạp chống lại những lực lượnglạc hậu, phản động, có lúc tự mình rũ bỏ sự bảo thủ trì trệ và tầm nhìn hạn hẹp đểvươn lên kịp với phong trào cách mạng chung, dưới ánh sáng của Đảng quang vinh,Tuy gặp nhiều khó khăn, có lúc căng thẳng phong trào có khi trậm lại, phải gắng sức
để vượt qua, song hướng đi lên đạt những thành quả vững chắc là điều hiển nhiên, aicũng thấy Cuộc sống của Thiệu Trung ngày nay, xét kỹ nhiều mặt, ta thấy hưon hẳncuộc sống Kẻ Rỵ – Kẻ Chè xưa
Trong qua trình đi lên ấy, truyền thống xưa kia đã góp sức mạnh cho con ngườiThiệu Trung hôm nay
Hơn 10 năm qua (1945 – 1987) trên một chặng đường cách mạng, chúng taghi nhận ở đây những thành tích nổi bật của Thiệu Trung
Dân số: 4016 – số lao động: 1200
Xây dựng Đảng: 152 đảng viên (đến 1987)
Tham gia chốn Pháp: Bộ đội Cụ Hồ: 47
Liệt sĩ: 1 (Phạm văn Tuệ)
Trang 9Thanh niên xung phong 150 ngườiDân công tiếp vận Điện Biên: hơn 1000 người
Tham gia chống Mỹ: Nhập ngũ 363 người
Liệt sĩ: 87 ngườiThương binh: 33 ngườiGia đình có nhiều con đi bộ đội:
-Ông Vũ Đình Cang (làng Chè):3 con đi bộ đội (2 liệt sĩ, 1 thương binh)
-Ông Lê Văn Chút (làng Chè):2 con đi bộ đội (cả 2 là liệt sĩ)
Thanh niên xung phong 160
Dân công hoả tuyến: 240
Cán bộ thoát ly: 106
Bắn rơi 1 máy bay F4Hcủa giặc Mỹ bằng súng 12,7 ly
Tham gia chống bọn bành trướng Bắc Kinh:
Đi nghĩa vụ 300 người
Nghề đúc: Một năm tiêu thụ 200 tấn đồng nguyên liệu
Xây dựng cơ sở vật chất: Một kho chứa trị giá 200 ngàn đồng (1983)
-Một trạm xá trị giá 113 ngàn đồng (1982)
-Một cây cầu tị giá 630 ngàn đồng (1984)
-Mở mang đường sá trị giá 200 ngàn đồng (1984)
Văn hoá xã hội:
Trường học:27 lớp Tổng số học sinh:936
Hệ thống truyền thanh420 ngàn đồng
Thư viện: 70 ngàn đồng
Trang 10Khen thưởng:
-Bức trướng “ Đảng là người quyết định mọi thắng lợi” (1975) Tỉnh uỷ và Uỷ ban
tỉnh Thanh Hoá tặng
-Huân chương kháng chiến hạng Ba (1975)
-Bức trướng khen ngợi thành tích bắn rơi máy bay F4H (1975)
Iii – Những kỷ niệm lớn
Sau 1954 miền Bắc được giải phóng, tiến hành hàn gắn vết thương chiến tranh
và khôi phục sản xuất, chuẩn bị cho công cuộc cải tạo và xây dựng CNXH
Xã Thiệu Trung tiến công vào mặt trận sản xuất thâm canh nông nghiệp, bướcđầu đặt cơ sở vật chất cho việc xây dựng ché độ mới
Bà con nhớ lại “ vụ chiêm vượt bậc ” năm ấy Đó là năm 1959
Toàn xã phát động khẩu hiệu “ sạch lòng tốt ruộng ” Phân rác các xó xỉnh, từgóc vườn đến bờ đường được lôi ra làm phân bón Dòng Hương Giang im lìm từ xưa,béo tây, cỏ rác dày hàng thước Nhìn qua bãi rác, bà con mường tượng dòng sông cónhiều bí ẩn của thế giới rắn, rùa, hà bá với những câu chuyện hoang đường về “ dớp
”, về “ oan hồn ” …thế mà, chỉ trong một ngày phát động làm phân, bèo rác được lôilên từng “ núi tướng ” chả thấy mma quái hà bá đâu cả Thanh niên dân quân mởưnhiều mũi xung kích Dòng sông quang hẳn, mở mặt gương trong vào thế giới thầnlinh ma quái cũng tan biến ánh cờ sao và trống chiêng lung linh cả dong sông vừađược giải phóng như gương mặt mới của Thiệu Trung trước ngày mới XHCN đầutiên trên đất nước ta Cái ngày trưng bừng đó còn để mãi ấn tượng đẹp trong lòngngười dân Thiệu Trung, ấn tượng về cái mới một khi “ cất tiếng chào đời ” là tấncông ngay vào cái cũ và nếp sống lạc hậu xưa việc làm tuy nhỏ song có ý nghĩa tolớn
Từ đó Thiệu Trung bước thẳng lên con đường làm ăn tập thể Mỗi làng thànhlập một hợp tác xã điển hình Và năm sau, mùa thu 1960, các làng mở rộng thành 9hợp tác xã, thu hút 100% nông dân tình nguyện bước lên con đường sản xuất mới
Đó là các hợp tác nhỏ: Bắc Giang, Bắc Hồ (làng Bắc), Trung Thành, Trung Tín,Trung Chữ (làng Trung), Nam Hoa, Nam Vinh (làng Nam), Phú Cường, Đông Thịnh(làng Trà Đông) Mười ba năm sau (tháng 6 – 1973) các hợp tác xã nhỏ tháp thànhhợp tác xã toàn xã
Từ khi tiến lên hợp tác xã toàn xã, cụa diện sản xuất thay đổi hẳn, gương mặtThiệu Trung có nhiều biến đổi to lớn
Đầu thiên là việc kiến thiết lại ruộng đồng Thiệu Trung có nông giang từ xưa.Tuy vậy hệ thống mương máng chưa được khia triển Đảng bộ Thiệu Trung tiếnhành phân loại đất đai, xây dựng hệ thống mương máng mới tiện lợi và chủđộng trên tất cả các cánh đồng toàn xã Giờ đây, nước con kênh Bắc tưới thẳng vàođồng ruộn Thiệu Trung
Trang 11Tiếp đến, việc thâm canh được đẩy mạnh, nhất là các năm từ 1974 đến 1977.Nhiều hội thi đua mở ra sôi nổi.Năm 1976 mở “ cong trường thi nuôi bèo giỏi ” ởĐồng Cụ (làng Nam) Các đấu thủ của 8 đội trong xã về đây cắm trại, thi nuôi bèohoa dâu Rồi các “ Hội thi cấy giỏi ” “ Hội thi cày giỏi ”mở ra tiếp theo Khoa học kỹthuật được áp dụng mạnh mẽ trên đồng ruộng Kẻ Rỵ – Kẻ Chè.và cũng từ đây, giốnglúa mới lần lượt xuất hiện trên đồng đất Thiệu Trung – Mùa lúa thắng lợi liêntiếp,năng suất tiến triển trông thấy: 5,2 tấn (1970), 5,8 tấn (1971), 6,2 tấn (1972), 6,8tấn (1975)…Tỉnh tặng bức trướng: “ Đảng là người quyết định mọi thắng lợi ” Vàcũng năm này, toàn dân xã Thiệu Trung tưng biừng đón rước huân chương khángchiến hạng Ba.
Nét mặt Thiệu Trung ngày càng rạng rỡ Ngay khu Miếu Bà xưa, xã cho xâytrạm xá lớn; khu Quán Học, Bàn hát xây trường cho con em ngày ngày học hành; khuruộng ông Hưu (cạnh chùa) biến thành nhà kho hợp tác Đường làng được nắn lại,đắp ủi to hơn xưa, đường lớn rộng 6 mét, đường xóm rộng 4 mét Một cây cầu xâymới đầu làng bắc qua kênh Bắc bằng sắt thép, xi măng, chủ yếu bằng vốn tự có củađịa phương
Bà con còn kể lại “ kỷ niệm về một cây cầu ”.Đó là Cỗu Vồm nơi bến diệcxưa Từ khi Cầu Thụ mất đi, việc đi lại giữa Kẻ Chè và Kẻ Rỵ được chuyển xuốnggiữa làng Chè lội qua khúc Hương Giang cạn Đây là một nổ lội lớn, mùa nước phảichống thuyền; nhiều vụ “ mất quần ” khi lội qua nước sâu Thười kỳ tỉnh đóng (trongthời gian chống Mỹ) có xảy ra việc các em học sinh lò dò đi qua khúc gỗ bắc ngang
bị rơi xuống chỗ sâu khiến cán bộ xã bị tỉnh khiển trách Liền sau đó, cầu Vồm đượcbắc bằng gỗ tạm thời.Đến 1974, cầu Vồm được xây bằng gạch cao và to, nối 3 làngtrong xã Thiệu Trung, Nam và Trà Đông; Kẻ Rỵ – Kẻ Chè không còn bị tách biệt nhưtrước nữa
Một đồng chí cán bộ lãnh đạo xã nay đã về hưu tâm sự “ Muốn thấy đời sốngkinh tế văn hoá Thiệu Trung nâng lên được bao nhiêu xin hãy làm một con toán sosánh nhỏ; Trước cách mạng cả 4 làng có 53 ngôi nhà ngỏi cổ, ngày nay có tới 700cái, nhiều cái xây kiểu mới có gac xép; làng Chè trước kia đói, nhà ngói không đáng
kể, bây giờ trong số 340 hộ đã có trên 240 hộ đã có nhà ngói; số còn lại, nhiều hộđang chuẩn bị xây Trước cách mạng, cả hai lang Chè Rỵ chỉ có 4 cái xe đạp, giờ đâyhầu như nhà nào cũng có, thường thì mỗi nhà có từ 2 đến 3 cái, cónhà sắm 4 đến 5cái Cả xã có hơn chục cái xe máy Trước kia chỉ có 1 cái máy hát, giờ đây đài bándẫn, cát sét trở nên phổ biến, lại thêm 1 hệ thống loa truyền thanh toàn xã phục vụđêm ngày.Trước kia, cả làng chỉ coa vài cái giếng to chia nước cho mọi nhà, ngàynay nhà nào cũng có giếng thơi, nhà tiêu sạch sẽ …” Cuộc sống mới dưới ánh sángnền văn hoá mới XHCN đã biến đổi sâu sắc Kẻ Rỵ – Kẻ Chè xưa Ngày nay, nhândân Thiệu Trung đã tự tay nắm lại dung nhan của mình.Nừu ông Hưu sống lại sẽkhông khỏi ngạc nhiên và hết sức vui như một bài thơ đã viết:
Trang 12Con sông Hương giờ thành con sông vui
Ông Hưu ở với đàn con cháu mới
Những chiều mát, tiếng sáo diều vời vợi
Cười hiền từ, chòm râu mát rung rinh
Chống gậy thăm đồng, đường bớt gập ghềnh
Thăm trạm xá, nhà kho; thăm cây cầu mới mọc
Vầng trán rộng sáng như đồng mới dúc
Khen cháu con giàu nghị lực chắt chiu
(Thăm quê mới Lê Văn Hưu)
“ Quê hương thứ hai của tỉnh”
Đó là câu của nhiều đồng chí trong UBND tỉnh, khi nói về Thiệu Trung ngày
ấy, vào những năm chống Mỹ ác liệt
Từ 1964, lẻ tẻ đã có các đồng chí đến liên hệ chuẩn bị cho khu sơ tán làm việccủa Uỷ ban nhân dân tỉnh và khi tiếng súng chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ
rộ lên thì các cơ quan cấp tỉnh khân trương chuyển về Thiệu Trung để lập ra “ quêhương thứ hai của tỉnh ” này Vào những năm ấy, đóng ở làng Nam có cơ quan hànhchính tỉnh Các đồng chí Chủ tịch tỉnh Võ Nguyên Lượng và sau đó là Hoàng VănHiều đã ở trong nhà vào các gia đình cạnh Mã Giòm, nơi an nghỉ của nhà sử học LêVăn Hưu
Tại làng Nam, còn có ban nông nghiệp tỉnh Đóng ở làng Trung là các ban kếhoạch, Công nghiệp; ở làng Bắcc là cơ quan xăng dầu và sau đó là ban nôngnghiệp chuyển từ làng Nam lên; ở làng Chè là Ban vật tư, Tuyển sinh và nơi tiếpkhách Hội trường 25A Đơn vị vũ trang bảo vệ tỉnh thì ở khắp các làng trong xã
Cán bộ tỉnh đóng trong nhà dân Những ngôi nhà rộng rãi được chọn nơi đặtcác cơ quan ban, phòng Cả xã có 600 gia đình thì 400 gia đình có cán bộ tỉnhăn ở vàlàm việc
Cũng như khắp nơi trên tuyến lửa Thanh Hóa, giặc Mỹ leo thang ngày càngquyết liệt Cơ quan tỉnh đóng ở đây gần trận địa tên lửa Ngã Ba Chè, nên không ngàynào ngớt tiếng súng đạn Cán bộ tỉnh cũng chia nổi gian lao vất vả với bà con Nhữngnăm 1966, 1967, 1968, 1969 …đời sống quá khó khăn, sản xuất gặp thiên tai dịchhọa, nên có ruộng phải bỏ hoang, đồng chí chủ tịch tỉnh Hoàng Văn Hiều và các cán
bộ Uỷ ban tỉnh đêm đã đi cuốc ruộng, tát nước, làm cỏ ới bà con, cùng hcia nhau bữamạch, bữa mì
Trang 13Bom và gióc két giặc mỹ cùng ném xuống Thiệu Trung.Ngày 31 – 1 –1968,giặc Mỹ đánh giôc két ở cầu Đông Quang (đầu xã)làm chết 1 lái xe, một học sinh cấp
3 và một phụ nữ bị cụt chân
Tháng 2-1972, giặc Mỹ đánh cầu Bôn vào lúc 1 giờ sáng, không ai việc gì.Cũng trong năm này, giác Mỹ đánh trận địa tên lửu Ngã Ba Chè, giải bom bi xuốnglàng Bắc song Thiệu Trung an toàn
Bom B52 của giặc Mỹ cũng rơi 3 quả xuống Đồng Đanh song không nổ Vẻvang nhất là dân quân Thiệu Trung dùng súng 12,7 ly bắn rơi 1 F4H
Chín năm Uỷ ban nhân dân tỉnh đóng trên đất Thiệu Trung dạt dào tình nghĩa.Những khi tết nguyên đán cổ truyền về trên quê hương, các đồng chí lãnh đạo tỉnh lạitoạ đầm thân, mậtvới cán bộ địa phương, thăm hỏi và ăn tết với bà con; có những cán
bộ nhận là con trong gia đình cho đến nay tình cảm vẫn bền chặt Chín năm ấy, ở đâykhông xáy ra một vụ mất mát tài sản nào đáng kể
Trong những ngày khói lửa ấy, Thiệu Trung vinh dự được đón các đồng chílãnh đạo Đảng và Nhà nước về qua công tác; đồng chí Võ Nguyên Giáp một lần,đồng chí Đỗ Mười hai lần
Ngày nay, đến Thiệu Trung, chúng ta còn thấy nguyên vẹn căn hầm làm việccủa đồng chí chủ tịch Võ Nguyên Lượng xây trên đất Mã Giòm, cạnh nơi có dấu tích
mộ chí Lê Văn Hưu và những câu chuỵen tình nghĩa cảu bà con Thiệu Trung kể vềngày ấy, ghi mãi kỷ niệm đẹp ấy
Bắn rơi “con ma giặc Mỹ”
Trận địa Ngã Ba Chè cách Thiệu Trung chỉ có 2 cây số Thiệu Trung trở thành điểmbảo vệ ngoại vi cho trận địa tên lửa này
Hôm ấy là 15-3-1972, tại Mã Giòm nằm cuối làng Chè, một trung đội dân quân lậptrận địa, có một khẩu 12 ly 7 và 2 khẩu thượng liên, do đồng chí Trịnh Xuân Vận làmtrung đội trưởng, đồng chí Lê Văn Mơi làm chính trị viên và các xạ thủ Lê VămTrực, Lê Văn Dương, Lê Văn Dư, Bùi Văn Dinh, Lê Đình Khôi.Đồng chí xã độitrưởng Nguyễn Văn Chưởng trực tiếp chỉ huy
Trưa mùa hạ, nắng càng gắt Trời cao xanh mây bông từng cụm lơ lửng Lúc
đó 12 giờ kém 15 Có báo động xa Các xạ thủ đã mắt nhìn về phía cầu Hàm Rồngbất chợt bắt mục tiêu.Mộtè4H lừ lừ như cái thuyền trắng khổng lồ bay tầm thấp định
“ cắn trộm ” trận địa tên lửa Ngã Ba Chè Bắt chắc mục tiêu, đồng chí trung đọitrưởng hạ lệnh nổ súng Cả ba khẩu trụm lại, chồm lên cùng một lúc.Hai tiếng đồng
hồ sau, đài quan sát ở trận địa Ngã Ba Chè báo mấy bay rơi và công bắn rơi là củadân quân Thiệu Trung Tin báo làm náo nức cả làng, cả xã Đúng hai tháng sau, sựciệc được xác minh đầy đủ, tỉnh công bố thành tích Thiệu Trung, cho phần thưởng và
xã mở hội ăn mừng Các nhà báo, các cơ quan tuyên truyền về phỏng vấn và chụpảnh cả tung đội bắn rơi may bay Tỉnh tặng một bức trướng, một đài bán dẫn, 7 bộ
Trang 14quân áo cho các xạ thủ và cho tiền liên hoan Sự kiện này trở thành kỷ niệm hào hùngcho quân dân Thiệu Trung.
Đúc tượng Bác trên quê hương.
Niềm vinh dự to lớn của nhân dân Thiệu Trung là được Đảng và Nhà nước cấp trêngiao cho đúc tượng đồng Bác Hồ Nghề đúc truyền thống của Kẻ Chè, tinh hoa củacha ông ngàn năm để lại; được sử dụng vào một công trình thiêng liêng Bác Hồ vừamới “đi xa” Niềm lưu luyến của nhân dâd’doois với vị cha già dân tộc sâu sắc Lưulại hình ảnh của Bác là nguyện vọng của nhân dân Thanh Hoá Việc đó, Thiệu Trungđược giao phó, vừa là một trách nhiệm vừa như là sự biểu dương của nghề đúc truyềnthống có ý nghĩa văn hoá cao
Ngày ấy là vào tháng 7-1970
đảng uỷ xã nhận nhiệm vụ của cấp trên đã giao cho hai chi bộ Trà Đông (chị bộ thủcông và chi bộ no chị bộ thủ công và chi bộ nông nghiệp) lo việc đúc tượng Bác- Địađiểm đúc được chọn ở vườn Kè giưa xlàng Trà Đông Nơi đây là trụ sở của hợp tác
xã thủ công ngành đúc, tiệnc ho khách khứa đi về Buổi lễ dựng cốt tuy không có đànMông Sơn, không cầu Thánh Khổng mà long trọng biết bao Không khí buổi lễ làtinh thần cách mạng vô sản hướng về Bác Hồ kính yêu
Hai nguông nguyên liệu chính là đồng và sáp ong do huyện cấp Các khoảnkhác, xã lo Nhà điêu khắc Lê Quy trực tiếp cải tượng Công việc kéo dài hàng thángtrời Tượng cải xong, chi bộ thủ công giao cho đồng chí Đặng ích Bích chủ trì việc bốtrí thợ đúc và các lò đúc Các bác thợ Lê Văn Duân, Lê Văn Lương lo việc khuôn bễ
và kỹ thuật
Khu vườn Chè, róng đóng bao quanh Tưọng Bác cao 1m30 Tám lò đúc có bễthụt thủ công (kiểu bê thựo rèn cũ) được bố trí sẵn sàng quanh nơi dựng tượng Cứmỗi lò là 3 người phụ trách 2 trong thụt bễ và 1 người tra đồng
Ngày đúc thì đến nay không còn ai nhớ đến nữa Chỉ nhớ, buổi chiều trướchôm đúc, thợ đã tiến hành nung cốt Sáp trong khuôn chay rra hết Lại tiếp tục đốtcho đến khi lửa bỏng trong lòng cốt bốc lên, khuôn chín mới thôi Tối đó, đèn măngxông sáng dực một goc trời Thiệu Trung, các lò nung cốt rừng rực hồng tươi Ngườicác xã xung quanh và dân trong xã nô nức đi xem như đi trẩy hội lơn ssuốt đêm Tậnđêm khuya, tiếng hát tiếng cười, tiếng thụt bễ reo vẫn còn náo nức
Bình minh hôm sau, trời ủ mưa, mưa rải rác Người đổ về vườn Kè Các cán bộbên tỉnh bên huyện, các quan khách xa gần về dự lễ “ đúc tương Bác ”
Khuôn tượng đã được ép gỗ vào để đổ cát chèn quanh cốt cho chắc chắn, cóbắc đình chèo lên đỉnh cốt để đổ đồng
Trang 15Tám lò nổi lửa Bác Đặng ích Bích cầm cờ đỏ phát lệnh cho các lò Mỗi lò nấu
40 kg đồng Và đồng chảy lan trong các nồi cơi, nước đồng lóng lánh, rừng rực hàngngàn độ
Lần lượt treo cờ phất, các nồi cơi được khênh lên đỉnh cốt.Người thợ thạntrọng rót đồng vào cốt trong sự hồi hộp của mọi người Độ 8 giờ sáng thì đổ xong,trời quang mây tạnh
Ghi lại cảnh đúc tượng Bác hôm ấy, anh Mạnh Lê, nhà thơ người làng Chèviết:
Nổi lửa rồi
Người thợ bước lên
Cánh tay trần máu dồn mạch chảy
Vẫn bàn tay ấy
Nâng nồi than lên ngang tầm ngực mình cho đồng chảy vào khuôn
Suối nước đồng trong vắt như gương
Lấp lánh sao trời, lấp lánh ánh trăng
Không gian rực hông, bập bùng hơi thở
Và:
Đêm nay
Mặt trời lên
Mặt trời lên như say
Xóm thợ đón một bình minh quen thuộc
Tổ tiên nhận một dáng hình đẹp nhất
Tượng đồng Hồ Chí Minh
(Trích “Đất trống đồng Bác Hồ” – Tiếng chim – nhà xuất bản Thanh Hóa – 1984)
Buổi chiều, Ban tổ chưc làm lễ dỡ khuôn Các con tim như ngừng đập tronggiây phút Khuôn dỡ đến đâu, tượng Bác hiện ra đến đó Khuôn dỡ xong tượng Báchiện ra hoàn chỉnh
Ai cũng trầm trồ: “ Tượng Bác rất tươi ”
Phần phục lục
Các bậc “ tiên hiền ”
Trang 16Bản xã tiên hiền (1)
(Ghi theo gia phả họ Đỗ)
1 Thượng trụ khai quốc Lê tướng công
2.Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ nhị danh, Hàn lâm thị độc chưởng sử quan tu ĐAi Việt
Sử ký, bin bộ thựơng thư, Nhân uyên hầu Lê Tướng công (tức Lê Văn Hưu)
3.Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ nhất danh sung Đại hành khiển phong thúc thần ĐàoTướng công (tức Đào Tiêu)
4 Tả dực Đại hành khiển, nhập thị kinh diên, Lê tướng Công (chưa rõ ai)
5.Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ nhất danh, Binh bộ thượng thư Tả dực Đại hành khiển
Lê Tướng công (tức Lê Bá Quát)
(1)Các gia phả, tộc phả trong làng đều có ghi các “ tiên hiền ” song cácbản ghi cónhiều chỗ không thống nhất, có chỗ trái ngược nhau Chúng tôi chọn hai bản ghitrong gia phả họ Lỗ và họ Trần để giới thiệu vì thấy rằng hai bản này đầy đủ và gầnvới nhau hơn, cả hai bản còn nhiều chỗ chưa rõ, tài liệu thiếu thốn cho nên chưa thểtra cứu được những phần để trong ngoặc đơn là do chúng tôi ghi thêm
6.Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, Mạ tạc trung vũ hầu Lê tướng Công (tức Lê Giác).7.Canh thìn khoa tiến sĩ cập đệ tả nạp ngôn thượng khinh xa Nguyễn Cự Công (chưa
rõ ai)
8.Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, Tả tham chính Nghệ An trấn Lê Cự Công (chưa
rõ ai)
9.Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, Hộ khoa cấp sự trung Trần cự công (tức Trần
Lê Hiệu, huý là Trỗi)
10.Đệ nhị giáp đồng tiến sĩ xuất thân Hộ khoa cấp sự trung Tả tham chính Nghệ An,Thái Nguyên, Hải Dương, đẳng trấn vũ cự công (tức Vũ Kiêm)
11.Nghệ An trấn htủ Lai quận công Đặng tướng công (chưa rõ tên)
Trang 17Thời Lý: 2.Tiên sinh họ Lê (huý Chính), tước Kim tử Quang Lộc đại phu, thượng trụ
quốc, Thượng trật khai quốc công, chức Nội tỉnh đô tri kim hiệu Thía phó, kiên cungdịch sứ Đại tướng quân
Thời Trần:3.Tiên sinh họ Lê (huý Hưu), hiệu Tu Hiền, Đệ nhất giáp tiến sĩ đệ nhị
danh khoa Đinh Mùi (1247), tước Nhân uyên hầu, Hàn lâm viện thi độc, Chưởng sửquan giám tu Đại việt sử ký, Binh bộ thượng thư
4.Tiên sinh họ Đào (huý tiêu, còn gọi là Đào Thục)., đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ, đệnhất danh (Trạng nguyên) khoa Ất Hợi (1275), chức hữu bật đại hành khiển đượcphong phúc thần (Thành honàg của làng)
5.Tiên sinh họ Lê (huý bá Quát), đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ, đệ nhất danh (Trạngnguyên), chức Hữu bật đại hành khiển, Binh bộ thượng thư
6.Tiên sinh họ Lê (huý Giác), chức đại hành khiển nhập thị kinh diên
7.Tiên sinh họ Nguyễn, tiến sĩ cập đệ khoa Canh Thìn (có lẽ là 1400), chức tả nạpngôn, kinh xa đô uý
Thời Lê:8.Tiên sinh họTrần (huý Thiện), Đệ nhất giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa
Quí Mùi (1463), chức cấp sự trung bộ Hộ
9.Tiên sinh họ Lê (?), Đệ nhất giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Tân Mùi (?) chức tảtham chính trấn Nghệ An(?)
10.Tiên sinh họ Lê, Đệ nhị giáp tiến sĩ khoa Tân Mùi, tước Cầm nham hầu, chức lạikhoa cấp sự trung (khoa Tân Mùi, theo đăng khoa lực ghi là Lê Bá Khang (năm1511) thời Lê Tương Dực, ND)
11.Tiên sinh họ Vũ (huý Kiêm), Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Bính Tuất(1646), chức hộ khoa cấp sự trung Tả tham chính các trấn Nghệ An, Thái Nguyên,Hải Dương
12.Tiên sinh họ Đặng (?), tước Lai Quận công, trấn thủ Nghệ An
Thời Nguyễn:13.Tiên sinh họ Trần (huý Lê Hiệu), Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân
khoa Nhâm Ngọ (1822), chức Lang trung bộ công, tước Đông Xuyên bá (còn gọi làTrỗi)
14.Tiên sinh họ Trần, hiệu Đạm Trai, đỗ cử nhân khoa Kỹ Mão (?) chức đốc họcQuảng Bình, Hàn lâm viện thị giảng học sĩ
15.Tiên sinh họ Trần, đỗ cử nhân khoa Quý Mão (1813 Thiệu trị thứ 3, huý Mỹ, hiệuChất Trai Bố tránh sứ Thái Nguyên sung tuần biên đại sứ các tỉnh Bắc Ninh, TháiNguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng, tăng Hồng lô tự khanh các thự trung thuận đại phu)
Người lược dịch Bùi Xuân Vĩ
II.Văn bia
Trang 18Văn bia chùa Hương Nghiêm núi càn ni
Bài văn bia này trích chép từ thơ văn lý trần tập 1 NXB khoa học xã hội Hà Nội –
1977 Bia đá chép văn bia này hiện nay đã mất.Theo ông Hoàng xuân Hãn, tấm bianày dựng tại làng Phủ Lý, Đông Sơn Thanh Hóa (xã Thiệu Trung) Bia cao 1m5,rộng 90cm dựng ngày 4 tháng 12 năm Giáp Thìn, niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ (tức10-1-1125) Mùa đông năm Bính Ngọ niên hiệu Bảo Thái thứ bảy (1726) khắc lại chữ
rõ và tốt
Tác giả văn bia; Khuyết danh
ôi ! mới phân phán huyền hoàng (1) bắt đầu chia trong dục (2)…(lược)…chùaHương Nghiêm núi Càn Ni (3) là ngôi chùa do Thiền Sư Đạo Dung tu sửa Tổ tiêncủa Thiền Sư là Trấn quốc bộc xạ Lê Công (Lê Lương) thuộc 1 dòng họ lớn ở quậnCửu Chân, Châu Ai nước Việt Gia thế giàu thịnh, nhầ thường chứa hơn trăm lẫnthóc; môn khách thường có tới 3 000 Ông dóc lòng làm việc thiện, tôn sùng tượnggiáo, mở mang phong cảnh đẹp đẽ này
Do đó tiếng tăm lừng lẫy, ba chùa Hương Nghiêm, Trinh Nghiêm và MinhNghiêm mỗi nơi đều có khắc bia ghi việc (4)
Lúc bây giờ trong châu quận bị mất mùa đói kém ông xuất thóc của nhà phátcho dân Về sau ĐInh Thiên HOàng biết ông là người có đạo nghĩa bèn phong tướcKim Tử Quang lộc đại phu, cho làm Đô quốc dịch sứ quận Cửu Chân, Châu ái, lạisắc ban cho nửa cõi, đông từ Phân dịch, nam từ Vũ Long, tây từ núi Ma La, bắc từchân lên Kim Cốc, đời đời con cháu được quyền trông coi (5)
Đến khi vua Đại Hành đi tuần du đến giang Ngũ huyện (6), thấy chùa chiền đã
đổ nát, liền cho xây đắp tu bổ lại Rồi tiếp đến vua Thái Tông nhà lý đi tuần phươngNam, tới Châu ái, ghé thăm cảnh chùa, thấy cột kèo đã gãy hỏng, cũng bỏ sức trùng
tu Lại phong cho cháu đích của ông là Trưởng lão Đạo Quang làm thiền chủ (7) vàcho 5 tên đại hình (8)để hương khói giữ gìn Trưởng lão tức là thân phụ Thiền Sưvậy Sau đó, vua Thái Tông tuyển chọn người phong quận Anh họ của Thiền Sư làThái Phó Lưu công (tướng mạo) khôi ngô khác thường nên vua chiếu cho vào nộiđình
Khi vua Thánh Tông trị vì, Lưu hầu trong màn trướng, luôn luôn được vua tindùng Đến nay, đương kim Minh Hiếu hoàng đế lên ngôi, nghĩ ông có giúp rập bachiều liên phong cho làm nhập nội thị sánh đô đô tri kiểm hiệu thái phó kiêm cungdịch sứ đại tướng quân, kim tử quang lộc đại phu, thương trụ khai quốc công, thực
ấp sáu nghìn bảy trăm hộ, thực thực phong ba nghìn hộ, lại sắc phong chức tước rõràng cho tông tổ (9)
Năm Bính Thìn (1076), sư bỗng nhiên bỏ quê nhà ra đi tìm bạn Lênh đênh trên bểNam rồi trụ trì ở kinh thành, gặp một Phan Tăng hiệu là Cao Thiền (10) sư cảm phụcbèn thờ làm thầy, và hỏi những điều cốt yếu của tâm pháp Phan Tăng trả lời:
Trang 19Pháp vốn không có pháp
Biết lấy gì bảo người
Sư nghe mấy lời, bỗng nhiên giác ngộ Rồi sư lại ngược dong sông Lô, đếnthượng nguồn, trèo lên núi Thứu Đài ngắm xem cảnh đẹp Dừng chân trên núi thấy ýhợp tâm đầu, liền sai thợ xem hướng xếp đá làm nên, dựng 1 ngôi chùa nguy nga, đặttên chùa là Khai Giác, được công chúa Thuỵ Khánh và Thái Phó Lưu công tư cấpmọi vật dùng (11)
Năm Đinh Mão (1087), sự ngẫu nhiên trở về ấp cũ, thấy chùa Hương Nghiêm
đã đổ nát, bèn nói với anh alf Lưu công rằng:
-Người hiền thì không quên dấu vết của tổ tông mong ông tu đạo lại ngôi chùa đó
Lưu công nghe mấy lời khuyên đó, bất giác lấy làm vui vẻ Ông liền bảo vớiQuốc tướng thái uý Lý công rằng:
-Chùa Hương Nghiêm vốn do tiên tổ tôi sửa sang cho cao rộng nay đã đổ nát, xinông cùng tôi tu bổ lại
Thế là sau đó, Thái Uý Lý công cho sắm sửa gỗ lạt, khởi công sửa chữa
Năm Tân Mùi (1092) có hai chàng phò kỳ lang họ thiều và họ Tô tàu xin lạikhoảnh ruộng đất của tiên tổ là quan Bộc xạ Vua xét lời tâu bèn trả lại giáp Bối Lýcho thuộc về họ hàng Lê công Do đó, mùa thu năm ấy Thái Uý Lý công đến tậnnưoi, cho chuộc ruộng đất, lập bia đá và chia ruộng cho hai giáp Rồi ông lại tới đầm
A Lôi, chia một nữa đầm cho giáp Bối Lý một nửađem cho giáp Viên Đàm, Thái Uýcòn truyền bảo lần nữa cho hai giáp biết không được lấy một lá rau, một ngọn cỏ ởhai bên bờ đầm.Ngay lúc đó lại ra lệnh giao về cho dòng dõi nàh họ Lê (12)
đến năm Kỹ Mão (1099) sư phụng chiếu (đến kinh)phụng sự trọng đạo tràng.Giữa năm Nhâm Dần (1122)sư lại về thăm cảnh cũ Nhân vật tuy đã đổi mới nhưngnon nước vẫn như xưa, nền đài hãy còn đó Sư lập tức cho thợ giỏi đo đạc, trùng tulại chùa (13) Trên đá chênh vênh, tượng phật uy nghiêm; giữa sóng thấp cao, toànthân Đa boả Mái hiên cong cong như cánh trĩ, ngói lợp lớp lớp như vẩy rồng lan canthoáng mát; cửa ngõ thênh thang Mé trái có một toà lâu nguy nga, trong treo chuônglớn bèn dựng tấm bia đá ghi chép công lao, ngõ hầu mong nghìn năm không maimột Tường vách bao quanh, cách xa trần giới, cỏ hoa tươi tốt, ngào ngạt khói hương
Khánh thành bày tiệc, mời bậc cao tăng, đọc lời kinh Vô thượng, chứng phépbáu vô sinh Đem quả phúc này dâng chúc mỗi giường của thánh thượng: sánh vớimặt trời mặt trăng luôn luôn vằng vặc, cùng với núi sông mãi mãi vững bền …(lược)
Sư (tức Đạo Dung) bèn bảo môn đồ rằng:
-Việc xong tất phải ghi lại để đời sau xem biết Sư xin tôi viết cho bài văn Tôi cóchối từ không được đành, chỉ ghi năm tháng mấy dòng Và làm một bài minh rằng:
…(lược 16 dòng)…
Trang 20Lớn thay ! Ngài Bộc xạ
Vững một chí không rời
Chùa Hương Nghiêm dựng đặt
Nền cũ vẫn chưa phai
Mờy đời vua du ngoạn
Sửa sang mãi không thôi
Nhớ đến dấu tiên tổ
Đạo Dung quyết chí noi
Chùa xưa tu bổ lại
Tượng Phật mới tô bồi
Dựng bia ghi công quả
Chuông đồng treo ngang trời
Sáu thời chuông rằng dỏi
Ơn sâu chùm chín loài
Công việc vừa tạm dứt
Khánh thành đặt tiệc mời
(lược 10 câu)
Ngày 4 tháng 12, mùa đông Giáp Thìn, Thiên Phù Duệ Vũ thứ năm
Người dịch văn bia: Băng Thanh – Huệ Chi
Chú thích
1 và 2: Huyền hoàng và thanh trọc (trong đục) là các chữ trong sách xưa nói về quanniệm trời đất của người xưa “ trờ huyền mà đất hoàng ” và “ trời nhẹ ở trên nên trong,đất nặng ở dưới nên đục ”
3.Núi Càn Ni (cong gọi là Kiều Nê Sơn) nơi đặt chùa Hương Nghiêm Thật ra, ở KẻRỵ(và quanh vùng) không có núi nào gọi là Càn Ni Có lẽ chữ Kiều Nêdùng chỉ đámđất quý nơi được chọn để xây chùa Nền chùa xưa, theo dân gian, đặt ở Cồn Mảng
và Mả Choàng thuộc Kẻ Rỵ ở đây có các cảnh đồng Nền chùa, Trước chùa, Sauchùa