1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) phân tích rủi ro trong tính toán giá thầu thi công công trình nhà máy xử lý nước thải phía nam thành phố nha trang

127 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 22,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRANG TÓM TẮT TIẾNG ANHPHÂN TÍCH RỦI RO TRONG TÍNH TOÁN GIÁ THẦU THI CÔNG CÔNG TRÌNH NHÀ MÁY XỬ LÝ NƯỚC THẢI PHÍA NAM THÀNH PHỐ NHA TRANG Học viên: Huỳnh Quốc Dũng Chuyên ngành: Kỹ

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

HUỲNH QUỐC DŨNG

PHÂN TÍCH RỦI RO TRONG TÍNH TOÁN

GIÁ THẦU THI CÔNG CÔNG TRÌNH NHÀ MÁY

XỬ LÝ NƯỚC THẢI PHÍA NAM THÀNH PHỐ NHA TRANG

Chuyên ngành: Kỹ thuật Xây dựng Công trình dân dụng và công nghiệp

Mã ngành: 60.58.02.08

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐẶNG CÔNG THUẬT

Đà Nẵng, Năm 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

Người cam đoan

Huỳnh Quốc Dũng

Trang 3

TRANG TÓM TẮT TIẾNG ANH

PHÂN TÍCH RỦI RO TRONG TÍNH TOÁN GIÁ THẦU THI CÔNG

CÔNG TRÌNH NHÀ MÁY XỬ LÝ NƯỚC THẢI PHÍA NAM THÀNH PHỐ

NHA TRANG

Học viên: Huỳnh Quốc Dũng

Chuyên ngành: Kỹ thuật Xây dựng Công trình DD & CN

Mã số: 60.58.02.08 Khóa:34.CHKH Trường Đại học Bách khoa - ĐHĐN

Tóm tắt – Trong thời gian vừa qua tình hình diễn biến giá cả trên Thế giới nói chung

và Việt Nam nói riêng diễn biến phức tạp và tác động mạnh đến chi phí thực hiện dự

án, nhất là trong giai đoạn thi công Do đó để dự án xây dựng đạt hiệu quả cao, cần đặc biệt quan tâm đến các yếu tố rủi ro tác động đến chi phí của dự án trong giai đoạn thi công

Chính vì vậy để giải quyết vấn đề này, tác giả đã vận dụng phương pháp mô phỏng Monte Carlo và phần mềm Matlab để phân tích, tính toán các yếu tố rủi ro như chi phí vật liệu, nhân công, ca máy ảnh hưởng đến chi phí xây dựng Công trình Nhà máy xử

lý nước thải phía Nam thành phố Nha Trang từ đó giúp Nhà thầu và Chủ đầu tư hoạch định, tổ chức, kiểm soát và dự báo các rủi ro có thể xảy ra trong gian đoạn thi công để

có giải pháp quản lý hiệu quả

Từ khóa - Giá gói thầu; phân tích và tính toán chi phí tối thiếu; phân tích rủi ro

trong tính toán tối thiểu; sơ đồ tiến độ ngang; và sơ đồ mạng

RISK ANALYSIS IN CALCULATING THE BID FOR CONSTRUCTION OF WASTE WATER TREATMENT PLANT

IN THE SOUTH OF NHA TRANG CITY Abstract – At present, the price of everything in the world in general and Vietnam

in particular are being complicated and strongly impacted to the project implementation cost, especially during construction period Therefore, in order to construction project to be highly effective, we specially need to care about the risk factors affecting the cost of the project during the construction phase

To solve this problem, the author has applied Monte Carlo simulation method and Matlab software to analyze and calculate the risk factors such as material, labor and machine costs which are affecting to the construction costs of Waste Water Treatment Plant project in the South of Nha Trang City The result of this study will help the Contractor and Client in planning, organizing, control and forecast the risks which may occur during construction phase and then issue the effective solutions in project management

Key words – package price, analyzing and calculating the minimum cost, risk

analyzing of minimum cost, Gannt diagram, CPM, PERT

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG BÌA

LỜI CAM ĐOAN

TRANG TÓM TẮT TIẾNG ANH

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài: 1

2 Mục tiêu đề tài nghiên cứu: 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 1

4 Phương pháp nghiên cứu: 2

5 Kết quả nghiên cứu: 2

6 Cấu trúc luận văn 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÍNH TOÁN GIÁ THẦU 3

1.1 Thực trạng tính toán giá thầu: 3

1.2 Tầm quan trọng của việc phân tích tính toán giá thầu đối với Nhà thầu: 5

1.3 Những vấn đề tồn tại trong phân tích – tính toán giá thầu: 6

1.4 Đặc điểm bài toán tính toán giá thầu đối với Nhà thầu: 7

1.5 Kết luận chương: 8

CHƯƠNG 2: CÁC CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRONG PHÂN TÍCH VÀ TÍNH TOÁN GIÁ THẦU 9

2.1 Cơ sở pháp lý 9

2.1.1 Luật xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/06/2014 của Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 9

2.1.2 Nghị định 32/2015/NĐ–CP ngày 25/3/2015 của Chính phủ về việc Quản lý chi phí đầu tư xâydựng công trình 9

2.1.3 Nghị định 37/2015/NĐ - CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ về việc Hợp đồng trong hoạt động xây dựng 9

2.1.4 Thông tư 06/2016/TT-BXD ngày 10/3/2016 của Bộ Xây dựng về việc Hướng dẫn xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình 10

2.1.5 Các hình thức hợp đồng ở Việt Nam: 10

2.1.6 Điều chỉnh đơn giá trong hợp đồng xây dựng: 11

Trang 5

2.2 Khái niệm, nội dung, ý nghĩa và cơ cấu giá thành xây dựng: 12

2.2.1 Khái niệm về giá thành trong công tác xây lắp: 12

2.2.2 Nội dung của giá thành công tác xây lắp 12

2.3 Một số vấn đề về giá xây dựng: 13

2.3.1 Đặc điểm của việc định giá trong xây dựng: 13

2.3.2 Hệ thống định mức và đơn giá trong xây dựng: 14

2.3.3 Giá xây dựng công trình: 16

2.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến giá thành xây lắp: 16

2.4 Lý thuyết phân tích rủi ro 19

2.4.1 Định nghĩa rủi ro: 19

2.4.2 Phân loại rủi ro: 19

2.4.3 Quy trình quản lý rủi ro: 19

2.4.4 Phương pháp phân tích rủi ro: 21

2.5 Chi phí tối thiểu: 25

2.5.1 Căn cứ tính toán chi phí tối thiểu gói thầu: 25

2.5.2 Phương pháp xác định giá tối thiểu dựa trên các thành phần: 26

2.5.3 Thành phần chi phí tối thiểu: 26

2.5.4 Quy trình tính toán chi phí tối thiểu dựa theo thành phần: 34

2.5.5 Tính toán các định mức hao phí: 38

2.5.6 Đánh giá chi tiết tính chất công trình đến chi phí tối thiểu: 39

2.5.7 Đánh giá yếu tố tiến độ: 41

2.5.8 Quyết định các hệ số điều chỉnh theo phương pháp chuyên gia: 42

2.5.9 Phân tích rủi ro trong tính toán xác định chi phí tối thiểu 43

2.6 Kết luận chương: 47

CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH RỦI RO TRONG TÍNH TOÁN GIÁ THẦU 48

3.1 Mô tả công trình Nhà máy xử lý nước thải phía Nam thành phố Nha Trang 48

3.2 Bài toán 1: Phân tích rủi ro của giá gói thầu 49

3.2.1 Khảo sát tình hình biến động giá vật liệu, nhân công, ca máy: 49

3.2.2 Nhận diện phân phối xác xuất đơn giá vật liệu, nhân công và ca máy: 52

3.2.3 Phương pháp mô phỏng Monte Carlo 57

3.2.4 Kết quả phân tích: 60

3.3 Bài toán 2: Xây dựng chi phí trực tiếp giá gói thầu theo quý 61

3.4 Bài toán 3: Khảo sát giá gói thầu theo tiến độ thi công 63

3.4.1 Xây dựng tiến độ ngang: 63

3.4.2 Xây dựng tiến độ theo sơ đồ mạng: 64

Trang 6

3.4.3 Mối quan hệ giữa giá gói thầu với thời gian thi công: 64

3.5 Kết luận chương: 67

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69 PHỤ LỤC

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)

BẢN SAO KẾT LUẬN CỦA HỘI ĐỒNG, BẢN SAO NHẬN XÉT CỦA CÁC

PHẢN BIỆN

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Phân loại chi phí thực hiện trong đấu thầu 28

Bảng 2.2 Thành phần khoản mục chi phí tối thiểu 32

Bảng 2.3 Sơ đồ lôgic xác định chi phí tối thiểu gói thầu 34

Bảng 2.4 Ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro trong tính toán giá thầu 44

Bảng 3.1 Đơn giá vật liệu, nhân công, ca máy từ 2014 -2018 50

Bảng 3.2 Bảng tỷ lệ giá gói thầu do nhà thầu đề xuất so với giá gói thầu tính theo đơn giá nhà nước 61

Bảng 3.3 Bảng tiến độ ngang 63

Bảng 3.4 Tiến độ theo sơ đồ mạng 64

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến bài toán tính toán giá thầu 8

Hình 2.1 Quy trình quản lý rủi ro 20

Hình 2.2 Phương pháp tính chi phí thực hiện trong đấu thầu: các thành phần được tập hợp từ dưới lên trên theo sơ đồ hình cây 27

Hình 2.3 Sơ đồ logic chi tiết xác định tiên lượng tính toán gói thầu 38

Hình 2.4.Tập hợp các yếu tố rủi ro ảnh hưởng đến xác định chi phí theo sơ đồ hình cây 44

Hình 2.5 Biện pháp quản trị rủi ro trong tính toán chi phí tối thiểu 46

Hình 3.1 Sơ đồ công nghệ và mặng bằng tổng thể nhà máy 48

Hình 3.2 Biểu đồ nhận diện luật phân phối xác xuất đơn giá vật liệu 55

Hình 3.3 Mô hình mô phỏng Monte Carlo 58

Hình 3.4 Tần suất xuất hiện giá gói thầu theo đơn giá nhà nước 60

Hình 3.5 Phân phối xác suất giá trị gói thầu 60

Hình 3.6 Biểu đồ so sánh giá gói thầu do Nhà thầu đề xuất với giá gói thầu tính theo đơn giá Nhà nước 62

Hình 3.7 Biểu đồ so sánh giá gói thầu theo đơn giá nhà nước, tiến độ thi công và do Nhà thầu đề xuất 65

Hình 3.8 Tần xuất xuất hiện giá gói thầu theo thời gian thi công 66

Hình 3.9 Giá trị gói thầu theo tiến độ thi công 66

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Trong quá trình đầu tư xây dựng, giai đoạn thi công luôn chiếm một vị trí quan trọng và có mức độ ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công của công trình Giai đoạn này thường chiếm một khoảng thời gian dài, chí phí lớn so với các giai đoạn khác, phải quản lý một số lượng công nhân, vật tư, máy móc, trang thiết bị lớn và chịu rất nhiều yếu tố rủi ro tác động làm tăng chi phí xây dựng công trình, điều này ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả và mục tiêu đầu tư ban đầu của công trình, đặc biệt là công trình có khả năng không thể tiếp tục thực hiện do không thu xếp được nguồn vốn bổ sung Với những đặc điểm như vậy ta có thể kết luận rằng giai đoạn thi công là giai đoạn phải chịu nhiều rủi ro nhất trong quá trình thực hiện dự án

Vì vậy, việc lựa chọn Đề tài “Phân tích rủi ro trong tính toán giá thầu công trình Nhà máy xử lý nước thải phía Nam T.p Nha Trang” là nhằm nhận dạng các

yếu tố rủi ro tác động làm tăng chi phí xây dựng công trình trong giai đoạn thi công, từ

đó kiến nghị những bài học kinh nghiệm cho các Nhà thầu trong việc hoạch định, tổ chức, kiểm soát, dự báo các rủi ro có thể xảy ra trong giai đoạn thi công

2 Mục tiêu đề tài nghiên cứu:

2.1 Mục tiêu tổng quát

Phân tích và nhận dạng các yêu tố rủi ro tác động đến chi phí xây dựng công trình trong giai đoạn thi công

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Nhận dạng các yếu tố rủi ro tác động đến chi phí xây dựng công trình

- Ứng dụng thuật toán mô phỏng Monter-Carlo và chương trình Matlab để phân tích các yếu tố rủi ro chi phí xây dựng công trình

- Từ đó kiến nghị những bài học kinh nghiệm cho các Chủ đầu tư và các Nhà thầu trong quá trình hoạch định, tổ chức, kiểm soát và dự báo các rủi ro có thể xảy ra trong gian đoạn thi công

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Trong phạm vi luận văn này, tác giải chỉ tập trung nghiên cứu, phân tích và tính toán các yếu tố tác động đến chi phí trực tiếp như vật liệu, nhân công, ca máy tác động đến giá gói thầu công trình Nhà máy xử lý nước thải phía Nam T.p Nha Trang trong thời gian thi công

Trang 10

4 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp nghiên cứu là sự kết hợp giữa thực tế và lý thuyết

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

+ Thu thập tài liệu, tìm hiểu lý thuyết về xây dựng chi phí trực tiếp giá gói thầu xây dựng công trình

+ Phân tích các yếu tố tác động chi phí trực tiếp giá gói thầu công trình trong đoạn thi công

- Phương pháp mô phỏng:

+ Ứng dụng Monte Carlo và chương trình Matlab để phân tích, tính toán ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro đến giá gói thầu trong giai đoạn thi công

- Phân tích kết quả thu được và đưa ra kiến nghị

5 Kết quả nghiên cứu:

- Dự báo biến động giá gói thầu khi triển khai dự thầu

- Ứng dụng kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý chi phí dự án cho Chủ đầu tư và Nhà thầu

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu kết luận, luận văn gồm có các chương như sau:

CHƯ Ơ NG 1: TỔNG QUAN VỀ TÍNH TOÁN GIÁ THẦU

CHƯ Ơ NG 2: CÁC CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRONG PHÂN TÍCH VÀ TÍNH TOÁN GIÁ THẦU

CHƯ Ơ NG 3: PHÂN TÍCH RỦI RO TRONG TÍNH TOÁN GIÁ THẦU

Trang 11

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÍNH TOÁN GIÁ THẦU

1.1 Thực trạng tính toán giá thầu:

Trong những năm gần đây trên địa bàn thành phố Nha Trang hoạt động xây dựng ngày càng phát triển cả về quy mô và lĩnh vực đầu tư, với sự tham gia của các thành phần trong xã hội Hiện nay hầu hết các dự án được triển khai trên địa bàn thành phố đều thông qua hình thức đấu thầu trên cơ sở các quy định về hoạt động đấu thầu của Nhà nước, công tác đấu thầu được diễn ra công khai, minh bạch hơn Các công trình được lựa chọn thông qua hình thức đấu thầu có chi phí hợp lý, chất lượng, mỹ quan và tính năng sử dụng phù hợp Tuy nhiên, công tác tính toán giá thầu còn nhiều vấn đề chưa hợp lý cần được xem xét giải quyết

Vấn đề thứ nhất: Bỏ thầu và lựa chọn Nhà thầu theo giá rẻ

Việc nền kinh tế Việt Nam nói chung và kinh tế Khánh Hòa nói riêng hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới, cùng với đó hàng loạt các Nhà thầu có tên tuổi trên thế giới chen chân vào thị trường Việt Nam, họ có tiềm lực tài chính mạnh, công nghệ kỹ thuật cao tạo canh tranh rất lớn đối với các Nhà thầu trong nước Ngòai ra, trong thời gian qua số lượng các Nhà thầu trong nước phát triển nhanh về số lượng, vô hình trung tạo ra một sự cạnh tranh khốc liệt giữa các Nhà thầu với nhau Để có việc làm, tiếp tục duy trì hoạt động, có không ít các Nhà thầu xây dựng phải chọn phương án bỏ thầu giá rẻ

Đây là một vấn đề gây không ít bức xúc cho các nhà quản lý và các Nhà thầu xây dựng và đang tạo dự luận không tốt trong thời gian qua Hàng loại dự án với việc bỏ thầu và lựa chọn Nhà thầu theo giá rẻ đã gây những hậu quả nghiêm trọng cho cả Nhà thầu, Chủ đầu tư

Ví dụ: Dự án Vệ sinh môi trường TP Hồ Chí Minh với 2 gói thầu chính của dự án

là gói 7 và gói 10 đều rơi vào cảnh chậm trễ kéo dài, bắt nguồn từ việc 2 Nhà thầu Trung Quốc đều trúng thầu với mức giá thấp một cách bất hợp lý Trong đó, liên danh Nhà thầu TMEC - CHEC 3 trúng thầu gói số 7 với giá thấp hơn dự toán gói thầu đến 20% - 30% Tại gói thầu số 10, Nhà thầu CSCEC đã bỏ thầu hạng mục chính di dời ống cấp nước đường kính 2.000 với giá chỉ bằng 25 - 35% so với các Nhà thầu khác Hậu quả là gói thầu số 7 thi công ì ạch và bê bối suốt nhiều năm Còn Nhà thầu CSCEC sau khi hoàn thành xong các phần việc nhẹ nhàng khác, đã cố tình trì hoãn thi công hạng mục khó nhất là di dời ống cấp nước đường kính 2.000, bởi Nhà thầu đã bỏ giá quá thấp nên càng thi công càng thua lỗ

Trang 12

Có thể nói chậm trễ tiến độ, tăng chi phí đầu tư, chất lượng công trình thấp luôn đồng hành với các công trình tiến hành lựa chọn Nhà thầu theo giá rẻ là một thực trạng rất đáng buồn của ngành xây dựng Việt Nam

Vấn đề thứ hai: Nhà thầu khi tính toán giá thầu không lường hết được các nguy cơ rủi ro

Sản phẩm xây dựng là một sản phẩm phức tạp với những đặc thù khác biệt với các sản phẩm ngành khác, vấn đề rủi ro thường xuyên xảy ra đối với các Nhà thầu khi thi công công trình Tuy nhiên việc phân tích tính toán các rủi ro để đưa vào chi phí trong đấu thầu gần như không được các Nhà thầu quan tâm

Ví dụ: Dự án khu nghỉ dưỡng quy mô 6 sao: Intercontinetal Resort and Spa Danang nằm tại Bãi Bắc bán đảo Sơn trà TP Đà nẵng do tập đoàn Sun group đầu tư với quy mô đầu tư trên 100 triệu USD là một điển hình Mặc dù đơn giá thi công các hạng mục của gói thầu tương đối cao so với đơn giá định mức nhà nước, nhưng đa số các Nhà thầu đều thua lỗ Nguyên nhân cơ bản là khi ký hợp đồng các Nhà thầu đã đánh giá hết được mức độ phức tạp công trình, điều kiện thi công và các yêu cầu khắc khe của Chủ đầu tư trong việc nghiệm thu - thanh toán

Vấn đề thứ ba: Đơn giá dự toán gói thầu Nhà nước không theo kịp so với tình hình thực tế

Cùng với sự phát triển của xã hội, quy mô tính chất công trình xây dựng ngày càng phức tạp Các yêu cầu về chất lượng, mỹ thuật đối với công trình không ngừng được nâng cao để thỏa mãn nhu cầu xã hội Tuy nhiên đơn giá dự toán nhà nước là cơ

sở để tính toán giá thành công trình lại chưa theo kịp với sự phát triển này Bên cạnh đó các đơn giá Nhà nước không phản ánh được các đặc thù về các điều kiện thi công, tính chất phức tạp của công trình Vì vậy trong thực tế một số dự án nhất là các dự án có tính chất và điều kiện thi công phức tạp, dự toán gói thầu theo đơn giá Nhà nước đưa ra rất khó đảm bảo kinh phí cơ bản để thực hiện gói thầu

Ví dụ: Gói thầu công trình Trung tâm hành chính thành phố Đà nẵng với quy mô

34 tầng và tổng mức đầu tư 1.113 tỷ đồng khi sau 2 lần tổ chức đấu thầu đều không thể lựa chọn được Nhà thầu thi công gói thầu phần thân Lần 1: Chủ đầu tư đã tổ chức đấu thầu quốc tế với sự tham gia của 5 Nhà thầu Xét giá 3 Nhà thầu đảm bảo điều kiện năng lực, kết quả giá dự thầu vượt trung bình 150%-200% so với giá dự toán Lần 2: Sau khi điều chỉnh đơn giá dự toán, Chủ đầu tư đã tổ chức đấu thầu lần 2 Mặc dù đã lùi thời gian nộp hồ sơ thầu thêm 15 ngày so với hồ sơ mời thầu nhưng kết quả chỉ có 2 Nhà thầu/5 Nhà thầu mua hồ sơ mời thầu tham gia đấu thầu nộp hồ sơ Giá dự thầu của

Trang 13

Nhà thầu thấp nhất là Tổng Công ty Xây dựng Sông Hồng cũng vượt ít nhất 1,3 lần đơn giá dự toán điều chỉnh Điều đó chứng tỏ việc lựa chọn Nhà thầu đủ năng lực thi công để thi công các công trình cao tầng, phức tạp với cách lập giá thành công trình theo định mức Nhà nước quy định đang là một vấn đề nan giải đối với các Chủ đầu tư thuộc các nguồn vốn ngân sách

1.2 Tầm quan trọng của việc phân tích tính toán giá thầu đối với Nhà thầu:

Phân tích tính toán giá thầu là hoạt động quan trọng nhất, bao trùm tất cả các nội dung phải thực hiện của Nhà thầu trong quá trình đấu thầu Tầm quan trọng của giá thầu được thể hiện ở các nội dung sau:

Giá thầu – yếu tố quyết định để lựa chọn Nhà thầu:

Đấu thầu trong hoạt động xây dựng là quá trình cạnh tranh giữa các Nhà thầu, giữa Nhà thầu và Chủ đầu tư nhằm xác định được người nhận thầu thi công công trình đảm bảo các yêu cầu kinh tế kỹ thuật đặt ra đối với việc xây dựng công trình

Tổ chức đấu thầu trong xây dựng về thực chất là tổ chức quá trình mua bán, trong

đó có thể hiểu:

- Người mua là chủ đầu tư;

- Người bán là các Nhà thầu;

- Sản phẩm mua bán là công trình xây dựng

Trong quá trình đấu thầu, Nhà thầu phải chứng tỏ được cho Chủ đầu tư về khả năng thực hiện hợp đồng của mình sẽ hiệu quả và thực thi hơn các Nhà thầu khác Sự cạnh tranh giữa các Nhà thầu để quyết định ai là người thắng cuộc dựa trên ba yếu tố chính:

- Năng lực Nhà thầu: bao gồm năng lực tài chính, kinh nghiệm thi công, máy móc thiết bị, nhân lực thực hiện

- Các giải pháp kỹ thuật – công nghệ, tổ chức quản lý, tiến độ công việc được Nhà thầu quyết định để thực hiện gói thầu

- Giá bỏ thầu

Trong thực tế trong trường hợp năng lực Nhà thầu tham gia không đáp ứng được

hồ sơ mời thầu, Nhà thầu có thể chọn hình thức liên danh để đáp ứng yêu cầu Đối với các hồ sơ liên quan đến các giải pháp công nghệ, tổ chức quản lý… Nhà thầu có thể thuê các chuyên gia để tiến hành Với việc vô hiệu hóa hai yếu tố cạnh tranh nói trên trong đấu thầu, giá thầu trở thành yếu tố quyết định để Nhà thầu thắng thầu Như vậy

Trang 14

Nhà thầu phải tìm mọi cách dự đoán giá đối thủ và bỏ giá thấp hơn đối thủ để có cơ hội trúng thầu Như vậy đấu thầu trở thành một cuộc đấu giá

Giá thầu – yếu tố quan trọng quyết định lợi nhuận:

Với các ngành sản xuất thông thường giá bán của sản phẩm thường được quyết định sau khi sản phẩm ra đời Nhà sản xuất có thể điều chỉnh giá bán căn cứ trên chi phí đã bỏ ra và nhu cầu thị trường Tuy nhiên sản phẩm xây dựng và sản xuất xây dựng

có những đặc điểm khác biệt so với sản phẩm và sản xuất sản phẩm của ngành khác Trong xây dựng, khách hàng - người mua sản phẩm xây dựng (các chủ đầu tư) thường không thể lựa chọn sản phẩm có sẵn để mua, mà lựa chọn người bán (các Nhà thầu) có khả năng tạo ra cho mình những sản phẩm và dịch vụ đáp ứng các yêu cầu đề

ra Thông qua đấu thầu xây dựng và việc thương thảo hợp đồng xây dựng giữa chủ đầu

tư và Nhà thầu xây dựng trúng thầu, giá của sản phẩm xây dựng hay ít nhất là cách tính giá của sản phẩm đã được quyết định trước khi sản phẩm hình thành Vì vậy, giá thầu

do Nhà thầu phải đưa ra phải đảm bảo toàn bộ các chi phí bỏ ra trong tương lai và có khả năng đem lại lợi nhuận theo kỳ vọng Xét về bài toán kinh tế, giá thầu chính là yếu

tố đầu vào quyết định lợi nhuận của Nhà thầu trong quá trình sản xuất kinh doanh Với những vai trò như trên, việc phân tích tính toán giá thầu đối với các Nhà thầu

là vấn đề cực kỳ quan trọng không chỉ đối với phạm vi gói thầu mà Nhà thầu tham gia

mà còn có ý nghĩa đến toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của Nhà thầu

1.3 Những vấn đề tồn tại trong phân tích – tính toán giá thầu:

Các Nhà thầu đã chú ý đến công tác phân tích và tính toán giá thầu Tuy nhiên việc đầu tư, nghiên cứu chưa được nhiều, đa số các Nhà thầu có phương án tính toán giá thầu nhưng chưa khoa học

Cách làm phổ biến trong phân tích tính toán giá thầu của các Nhà thầu Xây dựng hiện nay là căn cứ vào định mức dự toán xây dựng của nhà nước, giá các yếu tố đầu vào và quy định tính toán các chi phí chung, trực tiếp phí tính theo tỷ lệ đã có, sau đó giảm đi nhằm tăng khả năng trúng thầu Phương pháp này không bám sát được các biện pháp công nghệ, giải pháp tổ chức quản lý, các định mức thực tế hao phí khi thi công

Việc xây dựng các định mức nội bộ phù hợp với năng lực thực tế của Nhà thầu phục vụ đấu thầu và quản lý chi phí không được chú trọng, đa số các Nhà thầu nhất là các Nhà thầu xây lắp quy mô nhỏ và vừa không có các định mức nội bộ

Thời gian sản xuất xây dựng dài nên vấn đề trượt giá vật tư, nhân công… thường

Trang 15

xuyên xảy ra, điều đó càng phổ biến trong tình hình hiện nay Tuy nhiên công tác dự báo, tính toán trượt giá các chi phí theo thời gian để đề xuất hình thức hợp đồng, tính toán các chi phí của Nhà thầu còn nhiều hạn chế

1.4 Đặc điểm bài toán tính toán giá thầu đối với Nhà thầu:

Trong xây dựng, bài toán tính toán giá thầu là một bài toán khó do các đặc điểm

kỹ thuật, kinh tế kỹ thuật của sản phẩm xây dựng (Hình 1.1)

a Sản phẩm xây dựng mang tính đơn chiếc: đây là đặc điểm chủ yếu và bao trùm ảnh hưởng đến việc hình thành giá cả trong xây dựng Các sản phẩm xây dựng thường được tiến hành theo đơn đặt hàng trên cơ sở thiết kế riêng biệt nhằm đáp ứng nhu cầu nhất định của chủ đầu tư Các sản phẩm này được xây dựng cố định tại nơi sử dụng, phụ thuộc rất nhiều về điều kiện tự nhiên, khí hậu nơi xây dựng Tính chất riêng biệt của sản phẩm xây dựng dẫn đến sự khác nhau về khối lượng công tác và phương thức thực hiện chúng Ngay cả khi xây dựng theo thiết kế mẫu cũng đòi hỏi những sự thay đổi về khối lượng công tác do liên quan đến điều kiện cụ thể về địa hình, địa chất, khí hậu, thủy văn… nơi xây dựng

b Phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, khí hậu và điều kiện kinh tế: Sự đa dạng của điều kiện khí hậu, tự nhiên và điều kiện kinh tế theo các vùng trong nước dẫn đến

sự khác nhau về giá cả vật liệu, chi tiết, kết cấu và chi phí vận chuyển chúng đến nơi xây dựng, về năng suất lao động và tiền lương của công nhân xây dựng cũng như hệ số

sử dụng thời gian và năng suất của xe máy thi công…Do đó dẫn đến sự khác nhau về giá thành công tác xây lắp

Ngoài ra khi tiến hành xây dựng công trình ở những vùng mới còn phải tiến hành xây dựng những công trình tạm loại lớn hoặc những xưởng sản xuất phụ trợ…

c Thời gian thi công kéo dài: Một đặc điểm cơ bản của sản phẩm xây dựng là phải tốn một thời gian tương đối lớn để hoàn thành, đối với các dự án quy mô thời gian thực hiện phải là vài năm đôi khi vài chục năm Các dự án nhỏ hơn thời gian thực hiện thường ít hơn nhưng cũng phải vài tháng, việc dự đoán các chi phí thực hiện gắn liền với các biến động về giá cả vật tư, thiết bị, nhân công… với một thời gian kéo dài như vậy là một bài toán khó khăn không chỉ đối với Nhà thầu mà còn đối với cả chủ đầu tư

d Khối lượng tính toán lớn: Sản phẩm xây dựng là sản phẩm phức tạp, trong quá trình thi công có sự tham gia rất nhiều đối tượng và tiêu tốn nhiều tài nguyên Với các đặc điểm nói trên đã làm cho việc trong tính toán giá thầu cũng như phân tích các yếu tố rủi ro tác động là một bài toán rất phức tạp Việc thiếu sót và sai lầm

Trang 16

trong quá trình tính toán giá thầu là vấn đề thường xuyên xảy ra đối với Nhà thầu trong quá trình đấu thầu

Hình 1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến bài toán tính toán giá thầu

Trong Phân tích và tính toán giá thầu khi tham gia đấu thầu, Nhà thầu xây dựng

có hai vấn đề phải giải quyết:

- Vấn đề 1: Tính toán và xác định giá thầu phải đảm bảo chi phí thực hiện và có khả năng đem lại lợi nhuận cao nhất Tức là giá thầu càng cao càng tốt

- Vấn đề 2: Tính toán và xác định giá thầu đảm bảo khả năng cạnh tranh so với giá thầu các đối thủ Tức là giá thầu càng thấp càng tốt

Rõ ràng đây là một cặp quan hệ hoàn toàn mâu thuẩn, mang tính chất đối lập nhau Đồng thời với tính chất phức tạp - nhiều rủi ro của ngành xây dựng bài toán càng trở nên khó khăn để giải quyết

1.5 Kết luận chương:

Hiện nay phần lớn các Nhà thầu xây dựng đang gặp nhiều khó khăn trong hoạt động xây dựng và một trong những nguyên nhân cơ bản đó là vấn đề tính toán giá thầu Tình trạng phổ biến là các Nhà thầu xây dựng không lường hết các rủi ro và tính toán đầy đủ các chi phí trong quá trình thi công nên đưa ra giá thầu quá thấp để thực hiện Kết quả công trình chậm trễ tiến độ, chất lượng công trình không đảm bảo, thua lỗ gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội

Như đã đề cập phần trên để giải quyết triệt để vấn đề này, tác giả chỉ tập trung phân tích các yếu tố rủi ro như vật liệu, nhân công, ca máy tác động đến chi phí trực tiếp của gói thầu

TÍNH TOÁN GIÁ THẦU

SÀN PHẦM MANG TÍNH ĐƠN CHIẾC

PHỤ THUỘC VÀO ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHÍ HẬU, KINH TẾ

THỜI GIAN THI CÔNG KÉO DÀI

KHỐI LƯỢNG TÍNH TOÁN LỚN

Trang 17

CHƯƠNG 2: CÁC CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRONG

PHÂN TÍCH VÀ TÍNH TOÁN GIÁ THẦU

Trong chương này luận văn sẽ trình khái niệm, cơ sở pháp lý xây dựng giá gói thầu, các phương pháp dự báo và lý thuyết phân tích rủi ro tác động đến chi phí trực tiếp của gói thầu

2.1 Cơ sở pháp lý [1,2,3,4,5]:

2.1.1 Luật xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/06/2014 của Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Luật này quy định về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân

và quản lý nhà nước trong hoạt động đầu tư xây dựng

Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động đầu tư xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam

Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó

2.1.2 Nghị định 32/2015/NĐ–CP ngày 25/3/2015 của Chính phủ về việc Quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình

Nghị định này quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng gồm tổng mức đầu tư xây dựng, dự toán xây dựng, dự toán gói thầu xây dựng, định mức xây dựng, giá xây dựng, chỉ số giá xây dựng, chi phí quản lý dự án và tư vấn đầu tư xây dựng, thanh toán

và quyết toán hợp đồng xây dựng; thanh toán và quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình; quyền và nghĩa vụ của người quyết định đầu tư, chủ đầu tư, Nhà thầu xây dựng

và Nhà thầu tư vấn trong quản lý chi phí đầu tư xây dựng

Đối với các dự án đầu tư xây dựng sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (gọi tắt là ODA), nếu điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Nghị định này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó

2.1.3 Nghị định 37/2015/NĐ - CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ về việc Hợp đồng trong hoạt động xây dựng

Nghị định quy định chi tiết về Hợp đồng xây dựng bao gồm: các thông tin về hợp đồng; giá hợp đồng; tạm ứng, thanh quyết toán và thanh lý hợp đồng; điều chỉnh giá và

Trang 18

điều chỉnh hợp đồng, tạm ngừng, chấm dứt, thưởng phạt hợp đồng, bảo hiểm, bảo hành công trình và các điều khoản khác

2.1.4 Thông tư 06/2016/TT-BXD ngày 10/3/2016 của Bộ Xây dựng về việc Hướng dẫn xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình

Thông tư này hướng dẫn chi tiết về nội dung, phương pháp xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng gồm sơ bộ tổng mức đầu tư xây dựng, tổng mức đầu tư xây dựng, dự toán xây dựng, dự toán gói thầu xây dựng, định mức xây dựng, giá xây dựng công trình, chỉ số giá xây dựng, giá ca máy và thiết bị thi công

- Giá hợp đồng trọn gói được áp dụng cho những phần công việc được xác định

rõ về số lượng, khối lượng

- Đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn đơn giản; gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có quy mô nhỏ phải áp dụng hợp đồng trọn gói

b) Giá hợp đồng theo hình thức đơn giá cố định:

- Hợp đồng theo đơn giá cố định là hợp đồng có đơn giá không thay đổi trong suốt thời gian thực hiện đối với toàn bộ nội dung công việc trong hợp đồng Nhà thầu được thanh toán theo số lượng, khối lượng công việc thực tế được nghiệm thu theo quy định trên cơ sở đơn giá cố định trong hợp đồng

c) Giá hợp đồng theo giá điều chỉnh:

- Hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh là hợp đồng có đơn giá có thể được điều chỉnh căn cứ vào các thỏa thuận trong hợp đồng đối với toàn bộ nội dung công việc trong hợp đồng Nhà thầu được thanh toán theo số lượng, khối lượng công việc thực tế được nghiệm thu theo quy định trên cơ sở đơn giá ghi trong hợp đồng hoặc đơn giá đã được điều chỉnh

d) Hợp đồng theo thời gian:

Trang 19

- Hợp đồng theo thời gian là hợp đồng áp dụng cho gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn Giá hợp đồng được tính trên cơ sở thời gian làm việc theo tháng, tuần, ngày, giờ

và các khoản chi phí ngoài thù lao Nhà thầu được thanh toán theo thời gian làm việc thực tế trên cơ sở mức thù lao tương ứng với các chức danh và công việc ghi trong hợp

đồng

2.1.6 Điều chỉnh đơn giá trong hợp đồng xây dựng:

- Điều chỉnh hợp đồng xây dựng gồm điều chỉnh về khối lượng, tiến độ, đơn giá hợp đồng và các nội dung khác do các bên thỏa thuận trong hợp đồng Điều chỉnh hợp đồng xây dựng chỉ được áp dụng trong thời gian thực hiện hợp đồng

- Các trường hợp được điều chỉnh hợp đồng xây dựng:

 Do các bên thỏa thuận trong hợp đồng phù hợp với các quy định của Luật này

và pháp luật khác có liên quan;

 Khi Nhà nước thay đổi các chính sách làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp các bên hợp đồng có thỏa thuận khác;

 Khi dự án được điều chỉnh có ảnh hưởng đến hợp đồng, trừ trường hợp các bên hợp đồng có thỏa thuận khác;

 Các trường hợp bất khả kháng theo quy định của pháp luật

- Ngoài các quy định nêu tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, việc điều chỉnh giá hợp đồng xây dựng thuộc dự án sử dụng vốn Nhà nước còn phải tuân thủ các quy định sau:

 Việc điều chỉnh đơn giá thực hiện hợp đồng chỉ áp dụng đối với hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh và hợp đồng theo thời gian;

 Đơn giá trong hợp đồng được điều chỉnh theo nội dung, phạm vi, phương pháp

và căn cứ điều chỉnh hợp đồng được các bên thỏa thuận trong hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật;

 Khi điều chỉnh hợp đồng làm thay đổi mục tiêu đầu tư, thời gian thực hiện hợp đồng, làm vượt dự toán gói thầu xây dựng được duyệt thì phải được người quyết định đầu tư cho phép

Trang 20

2.2 Khái niệm, nội dung, ý nghĩa và cơ cấu giá thành xây dựng:

2.2.1 Khái niệm về giá thành trong công tác xây lắp:

Để tiến hành quá trình sản xuất ta cần phải có sức lao động, tư liệu lao động và lực lượng lao động Trong quá trình sản xuất thì Nhà thầu phải trả lương cho người lao động, phải khấu hao tài sản cố định, phải mua nguyên vật liệu và một số chi phí khác liên quan đến phục vụ cho quá trình sản xuất… Những chi phí đó chuyển vào giá trị của sản phẩm sản xuất ra theo những quy định thống nhất thì gọi là giá thành sản phẩm

Trong xây dựng, một công trình được hoàn thành là kết quả của quá trình hoạt động sản xuất xây lắp và tổng hợp mọi chi phí phát sinh ra trong quá trình sản xuất xây lắp dưới một hình thức thống nhất thì gọi là giá thành công tác xây lắp

Vậy giá thành là biểu hiện tiền tệ của toàn bộ tư liệu giá trị sản xuất được chuyển vào công trình xây dựng (sản phẩm) và giá trị sản phẩm cho bản thân (lương) và những chi phí khác có liên quan phục vụ cho quá trình sản xuất xây lắp

Để hiểu rỏ bản chất của giá thành, ta xem xét các mối quan hệ sau đây:

- Mối quan hệ giữa giá thành và giá trị: nó giống nhau và đều phản ánh hao phí lao động, nhưng cũng có điểm khác nhau, về số lượng thì giá trị = C + V + M nhưng giá thành =C + V; về chất lượng ta thấy bộ phận giá trị trong giá thành được biểu hiện thông qua mức lương và giá cả tư liệu sản xuất, mà giá cả thì ít nhiều thoát ly ra khỏi giá trị, còn mức lương thì ngoài việc phụ thuộc vào hao phí lao động, còn phụ thuộc vào quan hệ tích lũy và chính sách phân phối trong từng thời kỳ

- Mối quan hệ giữa giá thành và giá cả: giá cả sản phẩm được xác định trên cơ

sở giá thành bình quân cộng thêm phần tích lũy thích hợp Do đó giá thành là cơ sở để định giá và là giới hạn thấp nhất của giá cả Ngược lại giá cả là phương tiện để tính giá trị tư liệu sản xuất trong giá thành và là phương tiện được Nhà nước sử dụng để thúc đẩy các Nhà thầu phấn đấu hạ giá

2.2.2 Nội dung của giá thành công tác xây lắp [6]:

Dựa vào các khoản mục chi phí thì giá thành công tác xây lắp bao gồm ba nhóm chính:

a Chi phí xây bao gồm:

- Chi phí vật liệu

- Chi phí nhân công

Trang 21

- Chi phí máy thi công

- Chi phí chung

- Thu nhập chịu thuế tính trước và thuế giá trị gia tăng

b Chi phí hạng mục chung, bao gồm:

- Chi phí nhà tạm tại công trường để ở và thi công

- Chi phí một số công việc thuộc hạng mục chung nhưng không xác định được

từ thiết kế

- Chi phí phục vụ thi công

- Chi phí hạng mục chung còn lại

c Chi phí dự phòng, bao gồm:

- Chi phí dự phòng cho yếu tố khối lượng phát sinh

- Chi phí dự phòng cho yếu tố trượt giá

2.3 Một số vấn đề về giá xây dựng:

2.3.1 Đặc điểm của việc định giá trong xây dựng:

Việc định giá trong xây dựng có những đặc điểm sau:

- Giá của sản phẩm xây dựng mang tính chất cá biệt vì: các công trình xây dựng phụ thuộc vào điều kiện địa điểm xây dựng, phụ thuộc vào loại công trình và phụ thuộc vào yêu cầu cụ thể của Chủ đầu tư Vì vậy giá xây dựng không thể định trước cho các công trình xây dựng toàn vẹn, mà phải xác định cụ thể cho từng trường hợp theo đơn đặt hàng đã xác định

- Trong xây dựng không định giá trước cho một công trình toàn vẹn mà chỉ có thể định giá trước cho từng loại công việc và từng bộ phận hợp thành công trình thông qua đơn giá xây dựng Như vậy giá một công trình xây dựng được hình thành trước khi sản phẩm ra đời

- Sự hình thành giá cả xây dựng được thực hiện chủ yếu thông qua đấu thầu, hay đàm phán khi lựa chọn Nhà thầu hoặc chỉ định thầu giữa Chủ đầu tư và chủ thầu xây dựng Ở đây Chủ đầu tư (người mua) đóng vai trò quyết định trong việc định giá xây dựng công trình

- Giá công trình, tùy thuộc vào giai đoạn đầu tư mà có những tên gọi khác nhau

và được tính toán theo các quy định khác nhau và được sử dụng vào những mục đích

Trang 22

khác nhau

- Trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang chuyển sang nền kinh tế thị trường, nhà nước vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành giá xây dựng, nhưng chủ yếu

là cho khu vực xây dựng có nguồn vốn của Nhà nước

2.3.2 Hệ thống định mức và đơn giá trong xây dựng:

2.3.2.1 Địị.2.1 đđà đơn giá tro

a Khái niệm:

Định mức dự toán là các trị số quy định mức chi phí về máy móc, thiết bị, vật liệu xây dựng và nhân công để tạo ra một sản phẩm xây dựng nào đó được dùng để lập giá trị dự toán xây dựng

Định mức dự toán có vai trò quan trọng trong việc tính toán giá cả xây dựng vì

nó là cơ sở để lập nên tất cả các loại đơn giá trong xây dựng

Tất cả các loại định mức dự toán đều do Bộ Xây dựng chủ trì cùng với các Bộ quản lý chuyên ngành nghiên cứu để ban hành áp dụng thống nhất trong cả nước Các định mức chi phí chủ yếu theo đơn vị đo hiện vật, còn đơn giá thì có thể thay đổi tùy theo tình hình thị trường

b Phân loại định mức dự toán:

* Theo chủng loại công việc hoặc bộ phận công trình có thể phân thành:

- Định mức cho công việc phần ngầm dưới đất

- Định mức cho công việc phần thân của công trình

- Định mức cho công việc phần trang trí, hoàn thiện

- Định mức cho công việc lắp đặt thiết bị và máy móc thi công

* Theo mức độ bao quát của các loại công việc trong định mức thì phân thành:

- Định mức dự toán chi tiết: Quy định về mức chi phí vật liệu, nhân công và sử dụng máy theo hiện vật cho một đơn vị khối lượng công việc xây lắp riêng lẽ nào đó (công tác xây, công tác trát, công tác bê tông )

- Định mức dự toán chi tiết được dùng để lập đơn giá xây dựng chi tiết

- Định mức dự toán tổng hợp: Quy định về chi phí vật liệu, nhân công, và sử dụng máy theo hiện vật cho một đơn vị khối lượng công việc xây lắp tổng hợp và một kết cấu xây dựng hoàn chỉnh nào đó

Trang 23

- Định mức dự toán tổng hợp được dùng để lập đơn giá xây dựng tổng hợp

* Theo mức độ phổ cập các định mức có thể lập chung cho mọi chuyên nghành xây dựng và lập riêng cho từng chuyên ngành xây dựng đối với công việc xây lắp đặc biệt của chuyên ngành này

* Theo cách tính và cách trình bày các định mức có thể là các giá trị tuyệt đối hoặc tương đối

b Phân loại đơn giá dự toán xây dựng:

- Đơn giá dự toán xây dựng chi tiết bao gồm: những chi phí trực tiếp như vật liệu, nhân công, máy xây dựng tính cho một đơn vị khối lượng xây lắp riêng biệt, hoặc một bộ phận kết cấu xây dựng đã được xác định trên cơ sở định mức dự toán chi tiết

- Đơn giá dự toán tổng hợp bao gồm toàn bộ chi phí vật liệu, nhân công, máy xây dựng, chi phí chung, lãi và thuế cho từng công việc hoặc một đơn vị khối lượng công tác xây lắp tổng hợp, hoặc một kết cấu xây dựng hoàn chỉnh và được xác định trên cơ sở định mức dự toán tổng hợp

- Đơn giá công trình: đối với những công trình quan trọng, có đặc điểm và điều kiện thi công phức tạp hoặc những công trình riêng biệt thì có thể lập đơn giá riêng (gọi là đơn giá công trình)

- Giá chuẩn: là chỉ tiêu xác định chi phí bình quân cần thiết để hoàn thành một đơn vị diện tích xây dựng hay một đơn vị diện tích xây dựng của từng loại nhà hay hạng mục công trình thông dụng, được xây dựng theo thiết kế điển hình (hay thiết kế hợp lý về mặt kinh tế)

Trong giá chuẩn bao gồm giá dự toán của các loại công tác xây lắp trong phạm vi ngôi nhà hay phạm vi của hạng mục công trình hoặc công trình thuộc lĩnh vực xây dựng dân dụng, xây dựng công nghiệp, xây dựng giao thông, xây dựng thủy lợi… Giá chuẩn được sử dụng để xác định chi phí xây lắp của tổng dự toán công trình trong trường hợp áp dụng thiết kế điển hình

Trang 24

2.3.3 Giá xây dựng công trình:

2.3.3.1 Những căn cứ để lập giá xây dựng công trình:

Để lập giá xây dựng công trình ta dựa vào các căn cứ sau đây: khối lượng công tác theo thiết kế kỹ thuật, các loại đơn giá theo quy định, giá mua thiết bị, chi phí xếp

dỡ, cước phí vận tải, chi phí bảo quản và bảo hiểm; định mức các loại chi phí theo tỷ lệ hoặc bằng giá như: định mức chi phí chung, định mức khảo sát thiết kế, chi phí tư vấn, chi phí đền bù đât đai, hoa màu, chi phí di chuyển dân cư và các công trình trên mặt bằng xây dựng, tiền thuê đât hay tiền chuyển quyền sử dụng đất, lệ phí cấp giấy phép xây dựng và các loại thuế, lãi, bảo hiểm công trình

2.3.3.2 Phương pháp xác định một số chi tiêu của giá xây dựng công trình:

- Tổng mức đầu tư: là chi phí giới hạn tối đa mà người có thẩm quyền quyết định đầu tư cho phép chủ đầu tư lựa chọn phương án thực hiện dự án đầu tư

- Tổng mức đầu tư được xác định trên cơ sở: công suất thiết kế của công trình, khối lượng công việc chủ yếu, suất vốn đầu tư, giá chuẩn, hoặc đơn giá tổng hợp

- Tổng dự toán công trình: là tổng mức chi phí cần thiết cho việc đầu tư xây dựng công trình được tính toán cụ thể ở giai đoạn thiết kế kỹ thuật Tổng dự toán công trình bao gồm các chi phí cho các công tác xây lắp, chi phí mua sắm thiết bị và chi phí

cơ bản khác và chi phí dự phòng

- Giá trị xây lắp chi tiết các hạng mục công trình và các công loại công tác xây lắp riêng biệt (Gdt): là toàn bộ thiết bị chi phí cho phần xây dựng cho các kết cấu của công trình và cả phần lắp đặt các thiết bị công nghệ và công trình đó do tổ chức xây dựng thực hiện

2.3.3.3 Các loại giá áp dụng trong xây dựng:

- Giá gói thầu: là giá trị của gói thầu được phê duyệt trong kế hoạch lựa chọn Nhà thầu

- Giá dự thầu: là giá do Nhà thầu ghi trong đơn dự thầu, báo giá, bao gồm toàn

bộ các chi phí để thực hiện gói thầu theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu

- Giá hợp đồng là giá trị ghi trong văn bản hợp đồng làm căn cứ để tạm ứng, thanh toán, thanh lý và quyết toán hợp đồng

2.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến giá thành xây lắp:

Trang 25

Tùy thuộc vào góc độ nhìn nhận và xem xét mà ta có thể phân chia các nhân tố ảnh hưởng tới giá thành khác nhau Sau đây ta có thể phân chia các nhân tố ảnh hưởng tới giá thành như sau:

2.3.4.1 Cách phân chia thứ nhất:

Bao gồm ba nhóm nhân tố:

- Các nhân tố thuộc toàn bộ nền kinh tế quốc dân như sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học công nghệ và cơ sở vật chất của ngành xây dựng; sự hoàn thiện quan hệ sản xuất, tổ chức sản xuất kinh doanh và quản lý kinh tế; việc nâng cao trình độ toàn diện cho người lao động

- Các nhân tố thuộc nội bộ ngành xây dựng như sự phát triển về khoa học công nghệ kinh tế và cơ sở vật chất của nghành; sự cải tiến công tác tổ chức sản xuất và quản lý kinh tế cũng như việc nâng cao trình độ toàn diện của cán bộ công nhân viên

- Các nhân tố thuộc nội bộ đơn vị xây lắp như cải tiến kỹ thuật, cải tiến tổ chức sản xuất và tổ chức lao động, cải tiến công tác quản lý kinh tế và nâng cao trình độ cho công nhân viên

2.3.4.2 Cách phân chia thứ hai:

Cách phân chia này các nhân tố được chia thành ba nhóm:

- Nhóm nhân tố thuộc về cơ cấu công tác

- Nhóm nhân tố thuộc về công tác thiết kế

- Nhóm nhân tố thuộc về nội bộ đơn vị xây lắp

Cách phân chia này so với cách phân chia thứ nhất có hai ưu điểm: những nhân tố thuộc toàn bộ nền kinh tế quốc dân và ngành được thể hiện cụ thể trong bảng thiết kế (tuy nhiên không phải là tất cả) và như vậy khi lập kế hoạch hạ giá thành cho ngành thì

ta có thể tính được Nhờ nhân tố về cơ cấu nên ta biết được ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan và khách quan khi đánh giá và phân tích về giá thành

2.3.4.3 Cách phân chia thứ 3:

Cách phân chia này chia thành các nhân tố sau:

- Nhóm nhân tố thuộc về cơ cấu công tác

- Nhóm nhân tố về thiết kế

- Nhóm nhân tố về nội bộ đơn vị xây lắp

Trang 26

- Các nhân tố thuộc về giá cả tư liệu sản xuất và mức lương quy định khi tính toán ở giai đoạn thiết kế

Qua ba cách phân loại nói trên đối với các nhân tố ảnh hưởng đến giá thành, ta thấy có nhóm nhân tố thuộc nội bộ đơn vị xây lắp Đây chính là nội dung cơ bản của kế hoạch hạ giá thành vì những nhân tố này phản ánh sự nỗ lực của đơn vị xây lắp

2.3.4.4 Cách phân chia thứ 4:

Chia thành hai nhóm nhân tố ảnh hưởng đến giá thành

- Những nhân tố thuộc về số lượng như định mức lao động, định mức vật liệu, định mức sử dụng máy…

- Những nhân tố thuộc về đơn giá (giá một đơn vị sản phẩm) Nếu tăng hay giảm

so với quy định nhà nước thì giá thành cũng tăng hay giảm theo

2.3.4.5 Nhận xét về cách phân chia

Qua cách phân chia trên ta có thể nhận xét như sau:

- Các cách phân chia đều có nhóm nhân tố nội bộ đơn vị xây lắp

- Khi phân loại các nhân tố ảnh hưởng, ngoài việc đảm bảo chính xác, khoa học thì còn cần phải đảm bảo để tính toán được

Vì vậy cách phân chia thứ năm được chia thành hai nhóm ảnh hưởng đến giá thành:

* Nhóm các nhân tố làm hạ giá thành bao gồm các nhóm nhân tố sau:

- Tiết kiệm tiền lương cơ bản do nhịp tăng năng suất lao động vượt nhịp tăng tiền lương bình quân

- Tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu

- Tiết kiệm chi phí sử dụng máy

- Tiết kiệm chi phí trực tiếp khác

- Tiết kiệm chi phí chung

- Tiết kiệm do thay đổi cơ cấu công tác

* Nhóm các nhân tố làm giảm khả năng hạ giá thành, gồm các nhân tố sau:

- Giảm khả năng hạ giá thành do nâng cao mức trang bị cơ giới hóa

- Giảm khả năng hạ giá thành do tăng cường cải thiện điều kiện làm việc cho

Trang 27

công nhân

- Giảm khả năng hạ giá thành do giảm giá cả nguyên vật liệu ở kỳ kế hoạch so với khi lập dự toán

- Giảm khả năng hạ giá thành do các nhân tố khác

2.4 Lý thuyết phân tích rủi ro [8,9]:

2.4.1 Định nghĩa

Rủi ro là khả năng xảy ra của một sự kiện không mong muốn nhất định và những tổn thất không mong muốn do nhiều nguyên nhân mà chưa tìm ra quy luật cùng tác dụng một cách phức tạp đem lại

Như vậy, khi phân tích và quản lý rủi ro cần quan tâm đến khả năng xảy ra và đánh giá hậu quả của nó Nói cách khác, cần trả lời được hai câu hỏi:

1 Rủi ro ở đâu? (Những nguyên nhân bất định gây ra rủi ro, khả năng những nguyên nhân gây ra rủi ro ra sao?)

2 Tầm quan trọng của rủi ro như thế nào? (Hậu quả do tác động của các nguyên nhân)

2.4.2 Phân loại rủi ro:

Về rủi ro thông thường người ta chia thành hai loại: rủi ro có hệ thống và rủi ro không có tính hệ thống Khi rủi ro là loại không có tính hệ thống, người ta sử dụng phương pháp đa dạng hóa đầu tư để giảm thiểu loại rủi ro này Trong khi đó nếu là loại rủi ro hệ thống thì phương pháp đa dạng hóa đầu tư để giảm rủi ro là không có tác dụng

vì khi đã có rủi ro có tính hệ thống nó sẽ ảnh hưởng lên toàn bộ hoạt động các ngành

2.4.3 Quy trình quản lý rủi ro:

Quy trình quản lý rủi ro thường gồm các bước: xác nhận mục tiêu của Nhà thầu, xác định rủi ro, mô tả và phân loại rủi ro, đánh giá và xếp hạng rủi ro, xây dựng kế hoạch ứng phó, lập báo cáo cập nhật tình hình thực thi, giám sát quá trình thực hiện, rà soát và cải tiến quy trình quản lý rủi ro (Hình 2)

Trang 28

Hình 2.1 Quy trình quản lý rủi ro

Trang 29

2.4.4 Phương pháp phân tích rủi ro:

Thông thường ra có các phương pháp phân tích rủi ro sau:

Trong thực hành, người ta sẽ cho từng biến đầu vào với một gia số nhất định và xem xét sự thay đổi tương ứng của chỉ tiêu đánh giá dự án Các gia số áp dụng phổ biến là ± 5% cho đến ± 10% so với giá trị ban đầu của yếu tố đầu vào Cần lưu ý đặc biệt đến các yếu tố đầu vào khi thay đổi có thể làm đảo ngược kết luận dự án: từ dự án đáng giá thành không đáng giá và ngược lại

Phân tích độ nhạy thuộc loại mô hình mô tả, nhằm trả lời câu hỏi: “Cái gì sẽ xảy

ra nếu như…?” Kết quả sẽ giúp cho ta có thêm thông tin để nhận biết đầu vào nào là quan trọng Kết quả sẽ dùng trong việc lựa chọn các biến đầu vào trong phân tích rủi rỏ bằng phương pháp mô phỏng

Phương pháp phân tích độ nhạy có những nhược điểm sau:

- Chỉ xem xét ảnh hưởng của từng biến đầu vào lên kết quả, trong khi thực tế có nhiều yếu tố đầu vào cùng thay đổi

- Không trình bày được bản chất ngẫu nhiên của số liệu đầu vào, trong khi bản chất các số liệu đầu vào là các đại lượng ngẫu nhiên

Trang 30

Ví dụ: Xem xét kết quả sản xuất và kinh doanh của một công ty với hai yếu tố đầu vào là giá nguyên liệu đầu vào và giá bán sản phẩm:

- Tình huống tốt nhất: giá bán sản phẩm cao và giá nguyên liệu thấp

- Tình huống thường xãy ra: giá bán sản phẩm trung bình và giá nguyên liệu trung bình

- Tình huống xấu nhất: giá bán sản phẩm thấp và giá nguyên liệu cao

Trong tình huống xấu nhất mà chỉ tiêu dự án vẫn cho thấy dự án đáng giá, nên thực hiện dự án Trong trường hợp tốt nhất mà dự án vẫn không đáng giá, không nên thực hiện dự án

Phương pháp phân tích tình huống có những nhược điểm sau đây:

- Xác xuất để xảy ra các tổ hợp tình huống xấu nhất, tốt nhất là bé và ít phản ảnh trong thực tế

- Chưa trình bày hết được bản chất ngẫu nhiên cảu các số liệu đầu vào, trong khi bản chất các số liệu đầu vào là các đại lượng ngẫu nhiên

2.4.4.3 Phân tích rủi ro bằng mô phỏng phương pháp Monte Carlo:

Trong hai phương pháp nói trên khi mô tả sự thay đổi các giá trị biến đầu vào đều dựa trên mức độ thay đổi “áp đặt” trước Trong thực tế, biến đầu vào thường là các biến ngẫn nhiên do đó mô phỏng kết quản đầu ra dưới dạng biến ngẫu nhiên là hợp lý hơn Các quy định xác xuất của biến đầu vào sẽ được xác định dựa trên:

- Số liệu quan trắc trong quá khứ

- Phương pháp chuyên gia

Trong trường hợp cần thiết có thể sử dụng kiểm định thống kê để đánh giá quy luật thống kế của biến sử dụng

Phương pháp mô phỏng kế quả giá trị thực hiện của biến nghiên cứu đầu ra thường sử dụng phương pháp mô phỏng Monte Carlo Thực hiện phương pháp mô phỏng bao gồm các bước

- Xác định các biến rủi ro

Biến rủi ro là những biến mà sự thay đổi của nó sẽ ảnh hưởng đến kết quả dự án Trên cơ sở các phân tích độ nhạy, phân tích tình huống có thể nhận biết các biến rủi ro quan trọng Thống kê dữ liệu quan sát trong quá khứ của biến nghiên cứu Đưa ra một phân phối xác xuất cho những biến đầu vào Tùy theo tính chất vật lý của từng biến

Trang 31

ngẫu nhiên nghiên cứu mà ta gán cho nó một dạng phân phối xác xuất thích hợp Điều này phụ thuộc vào chủ quan của từng người nghiên cứu

Các dạng phân phối xác xuất sau đây có thể sử dụng trong hàm thư viện của phần mềm Crytal Ball:

 Hàm Uniform (Phân phối đều): Trong phân phối đều, tất cả các giá trị trong khoảng từ giá trị nhỏ nhất đến giá trị lớn nhất đều có xác suất xuất hiện như nhau Ba điều kiện cơ bản để có một phân phối đều:

 Giá trị nhỏ nhất (Minimum) là cố định

 Giá trị lớn nhất (Maximum) là cố định

 Tất cả các giá trị trong khoảng từ Min tới Max đều có khả năng xuất hiện như nhau

 Hàm Triangular (Phân phối tam giác): Phân phối tam giác mô tả một trạng thái

mà ở đó bạn biết được giá trị tối đa và tối thiểu và các giá trị thường xuyên xuất hiện nhất Các điều kiện để có phân phối tam giác:

 Với mỗi lần thử, chí có thể xảy ra hai kết quả

 Các lần thử là độc lập nhau Điều gì xảy ra trong lần thử thứ nhất sẽ không ảnh hưởng đến lần thử thứ hai,…

 Xác suất để một biến cố xảy ra sẽ không đổi từ lần thử này đến lần thử khác

 Hàm Nomal: Phân phối chuẩn: Dạng phân phối chuẩn là dạng phân phối quan trọng nhất trong lý thuyết xác suất bởi vì nó mô tả được nhiều hiện tượng tự nhiên, chẳng hạn như chỉ số IQ hoặc chiều cao của con người Người ra quyết định có thể sử dụng phân phối chuẩn để mô tả các biến không chắc chắn như tỷ lệ lạm phát hoặc giá xăng dầu trong tương lai Các điều kiện để có một phân phối chuẩn:

Trang 32

 Một số giá trị của biến rủi ro có khả năng xuất hiện nhiều (chính là giá trị trung bình của phân phối)

 Khả năng mà biến rủi ro có giá trị lớn hơn trị trung bình cũng bằng với khả năng mà nó có giá trị nhỏ hơn trị trung bình (đối xứng qua trị trung bình)

 Các giá trị của biến rủi ro có khả năng xuất hiện nhiều ở vùng lân cận của giá trị trung bình hơn là xa giá trị này

- Xây dựng một mô hình mô phỏng

Đây là mô hình toán học trình bày mối quan hệ giữa biến đầu vào và biến đầu ra của thể hiện kết quả mô phỏng

- Thực hiện mô phỏng:

Mỗi mô phỏng tương ứng với mỗi lần phát số ngẫu nhiên và từ đó thông qua các quy luật xác xuất của các biến đầu vào sẽ xác định giá trị các biến đầu vào Trên cơ sở các giá trị biến đầu vào này sẽ xác định được giá trị của biến đầu ra tương ứng với mô phỏng Số lần mô phỏng sẽ thực hiện nhiều lần và từ đó sẽ nhận được nhiều giá trị của biến đầu ra Tóm lại, từ kết quả mô phỏng giá trị biến đầu ra sẽ được trình bày dưới dạng chuỗi thống kê Số lần mô phỏng càng tăng, lời giải sẽ hội tụ về quy luật đúng của biến nghiên cứu

- Phân tích kết quả

Từ các biến đầu ra dưới dạng thống kê người ta sẽ xác định được các đặc trưng thống kê của biến nghiên cứu: giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, xác xuất để biến nghiên cứu nằm trong giới hạn cho trước…

Do khối lượng tính toán mô phỏng với phương pháp Monte Carlo lớn, trong thực hành có thể sử dụng các phần mềm như Rish Master, Crystal Ball, Insight… để nghiên cứu

Ưu điểm của phương pháp mô phỏng:

- Đó là một phương pháp pháp trung thực, khách quan, đơn giản và linh hoạt

- Có thể áp dụng để phân tích các tình huống phức tạp

- Đôi khi đây là phương pháp duy nhất để nghiên cứu một vấn đề

- Phương pháp mô phỏng cho phép đối thoại trực tiếp với chương trình tính để giải quyết vấn đề với việc đặt ra câu hỏi và điều kiện “cái gì ? và nếu”

- Phương pháp mô phỏng cho phép nghiên cứu ảnh hưởng luân phiên của các

Trang 33

biến lên kết quả của bài toán, từ đó ta có thể xác định được biến quan trọng nhất ảnh hưởng đến kết quả

- Tiết kiệm được thời gian

- Phương pháp mô phỏng cho phép đưa vào các tình huống phức tạp so với các phương pháp khác Thí dụ: Sử dụng thuyết sắp hàng đòi hỏi nghiên cứu phải có dạng phân bố dưới dạng mũ hoặc phân bố Poisson Trong khi đó, trong bài toán mô hình mạng lưới đòi hỏi một phân phối chuẩn cho các biến nếu ta muốn giải bài toán

Khuyết điểm:

- Mô phỏng không đưa ra lời giải tối ưu cụ thể như các phương pháp khác: Quy hoạch tuyến tính, PERT…Phương pháp chỉ cho ra kết quả dự báo với các xác xuất nhất định

- Chúng ta phải tạo ra tất cả các điều kiện và ràng buột để khảo sát lời giải Bản thân phương pháp mô phỏng không đưa ra lời giải

2.5 Chi phí tối thiểu:

Chi phí tối thiểu là toàn bộ các chi phí thực tế (kể cả các khoản thuế) mà Nhà thầu phải bỏ ra để thực hiện công trình theo đúng các yêu cầu của Chủ đầu tư đưa ra Trong quá trình đấu thầu đó là sự dự đoán của Nhà thầu về các chi phí phải bỏ ra để thực hiện công trình theo đúng hồ sơ mời thầu Về bản chất chi phí tối thiểu mà Nhà thầu xác định là chi phí ít nhất Nhà thầu phải bỏ ra (chưa có lãi) để thực hiện gói thầu trong trường hợp trúng thầu

2.5.1 Căn cứ tính toán chi phí tối thiểu gói thầu:

Chi phí tối thiểu được xác định trên các căn cứ:

- Các giải pháp kỹ thuật - công nghệ, tổ chức quản lý đã được Nhà thầu lựa chọn

để thực hiện gói thầu

- Các định mức, đơn giá nội bộ của Nhà thầu như đơn giá vật liệu, tiền lương khoán, giá ca máy nội bộ

- Định mức, đơn giá chi phí quản lý nội bộ của Nhà thầu như định mức nội bộ quản lý công trình, định mức quản lý Nhà thầu

- Chế độ chính sách của Nhà nước hiện hành, thuế, lãi vay vốn lưu động

- Mức độ phức tạp của công trình so với các điều kiện chuẩn

- Dự đoán của Nhà thầu về đơn giá các chi phí tại thời điểm thi công

Trang 34

- Mức độ đáp ứng giữa năng lực Nhà thầu và yêu cầu

2.5.2 Phương pháp xác định giá tối thiểu dựa trên các thành phần:

Việc xác định chi phí tối thiểu gói thầu được lập theo phương pháp thành phần dựa trên các thành phần (khoản mục) chi phí

Theo phương pháp này, chi phí tối thiểu được tính theo công thức

G tối thiểu = G XD + G HMC + G DP + G lãi vay + G bảo hành + VAT

Trong đó:

G XD: Chi phí xây dựng (chi phí trực tiếp)

G DP: Chi phí dự phòng

Glãi vay: Chi phí lãi vay

Gbảo hành: Chi phí bảo hành VAT: Thuế giá trị gia tăng đầu ra

2.5.3 Thành phần chi phí tối thiểu:

Biểu diển chi phí thực hiện gói thầu theo phương pháp thành phần dựa trên các thành phần (khoản mục) dưới dạng sơ đồ hình cây: (Hình 2.2)

Trang 35

Hình 2.2 Phương pháp tính chi phí thực hiện trong đấu thầu: các thành phần

được tập hợp từ dưới lên trên theo sơ đồ hình cây

2.5.3.1 Phân loại các chi phí theo tính chất: Căn cứ theo đặc điểm của các loại

chi phí, chi phí thực hiện gói thầu được phân loại như sau:

- Chi phí biến đổi (biến phí): là chi phí thay đổi về tổng số tỷ lệ với sự thay đổi mức độ hoạt động Biến phí thay đổi tỷ lệ thuận với khối lượng thực hiện

- Chi phí cố định (định phí): là chi phí mà tổng số không thay đổi khi có sự thay đổi mức độ hoạt động, nhưng chi phí trung bình của một đơn vị hoạt động thì thay đổi

tỷ lệ nghịch với mức biến động của mức hoạt động Định phí khi tăng hay giảm không làm tăng khối lượng thực hiện

- Chi phí hỗn hợp: là loại chi phí bản thân nó vừa là chi phí cố định vừa là chi phí biến đổi

Việc phân chia các chi phí thành chi phí biến đổi, chi phí cố định hay chi phí hỗn hợp mang tính chất tương đối tùy thuộc vào quan điểm nhìn nhận của từng cá nhân trong từng mục tiêu cụ thể

Trên mục tiêu xác định chi phí thực hiện gói thầu trong giai đoạn đấu thầu và tính chất của các chi phí thành phần, các khoản mục chi phí được phân loại và cách xác định như sau:

Trang 36

Bảng 2.1 Phân loại chi phí thực hiện trong đấu thầu

Phân loại Biến

phí

Định Phí

Hổn hợp

1 Chi phí xây dựng

1.5 Chi phí chung (quản lý gián tiếp, điều hành sản xuất tại

công trường, chi phí phục vụ công nhân, chi phí phục vụ

thi công tại công trường và chi phí quản lý khác của dự

án)

X

2 Chi phí hạng mục chung

Q

1

Trang 37

Trong đó:

Qj : Khối lượng công tác thứ j

kjTT : Định mức hao phí công tác tính toán thứ j

dj : Đơn giá vật liệu, nhân công, máy thi công, cốt pha – dàn giáo – biện pháp thi công thứ j

- Trường hợp Nhà thầu dự kiến sử dụng máy tự có để thi công gói thầu: Chi phí

sử dụng máy thi công lúc này gồm hai thành phần:

M= M1 + M2 Trong đó

 M1: Chi phí khấu hao thiết bị, máy móc với hai cách tính: Khấu hao theo thời gian có mặt của thiết bị, máy móc tại công trình và khấu hao theo số lần sử dụng máy móc thiết bị Căn cứ vào thực tế ta có thể chọn cách tính phù hợp thực tế

M1 = dkhT Tkh + dnT nkh

dkhT: Đơn giá khấu hao thiết bị trên một đơn vị thời gian do Nhà thầu tính toán

Tkh: Thời gian khấu hao thiết bị (tương ứng với thời gian thi công công trình)

dnT: Đơn giá khấu hao thiết bị trên một lần sử dụng do Nhà thầu tính toán

nkh: Số lần sử dụng

 M2: Chi phí nhiên liệu, nhân công để vận hành máy móc thiết bị (bao gồm cả chi phí sửa chữa, bảo trì)

MTTM j m

j

M j

Q

1 2Trong đó

Qj : Khối lượng công tác thứ j

djM: Đơn giá máy theo tính toán của Nhà thầu bao gồm chi phí nhân công và nhiên liệu… để hoàn thành một đơn vị khối lượng thứ j trong điều kiện chuẩn

kjMTTM : Định mức hao phí tính toán chi phí máy công tác thứ j

- Chi phí cốt pha, dàn giáo,biện pháp thi công được xác định tương tự như với chi phí máy thi công được thể hiện trong bảng 3.2

b Tính toán chi phí lãi vay:

Trang 38

Chi phí lãi vay là chi phí mà Nhà thầu bắt buộc phải bỏ ra nhằm huy động tài chính tại một thời điểm cụ thể nhằm đáp ứng tiến độ công việc Chi phí lãi vay không được nhà nước tính toán và đưa vào dự toán công trình Tuy nhiên đây là một chi phí

thực tế mà Nhà thầu phải bỏ ra nằm trong chi phí hoàn thành công trình

Các yếu tố quyết định chi phí lãi vay:

- Năng lực tài chính của Nhà thầu;

- Thỏa thuận của Chủ đầu tư và Nhà thầu về vấn đề thanh toán

- Tiến độ công trình

- Lãi suất ngân hàng tại thời điểm vay dự kiến

Tùy theo quy mô tính chất công trình, chi phí lãi vay chiếm khoản 1%-5% giá trị chi phí thực hiện Một số trường hợp chi phí lãi vay còn chiếm tỷ lệ lớn hơn Do đó trong quá trình xác định giá trị chi phí thực hiện, Nhà thầu cần phải cần tính toán để dự đoán chí phí này

j j m

mj: tài chính cần bổ sung tại thời điểm j

Tj: thời gian vay ứng với tài chính bổ sung mj

cj: Lãi suất vay ứng với tài chính bổ sung mj

c Thu nhập chịu thuế tính trước: là khoản lợi nhuận của Nhà thầu được dự tính

trước, thông thường tính (5,5-6)% chi phí xây dựng

+ Chi phí bảo hành, sửa chữa công trình

Việc xác định tính chất định phí của các chi phí chỉ mang tính chất tương đối Trong các chi phí trên một số chi phí bản chất là chi phí hỗn hợp Ví dụ đối với chi phí

Trang 39

điện thoại: cước thuê bao thuộc về định phí, cước liên lạc thuộc về biến phí Tuy nhiên các chi phí trên gần như không thay đổi lớn so với khối lượng thực hiện nên có thể xem một số chi phí có bản chất là chi phí hổn hợp là định phí

Dựa vào tính chất phụ thuộc thời gian thi công công trình, phân chia định phí thành 02 nhóm bao gồm:

+ Nhóm 1: Bao gồm các định phí không phụ thuộc vào thời gian thi công công trình Bao gồm: chi phí lán trại, thí nghiệm, hồ sơ nghiệm thu, chi phí bảo hành sửa chữa công trình

ĐP nhóm 1 = constant (không phụ thuộc thời gian)

+ Nhóm 2: Là nhóm có các chi phí phụ thuộc vào thời gian thi công công trình Đặc điểm của nhóm 2 là mức độ hao phí trên một đơn vị thời gian tương đối ổn định Nhóm 2 bao gồm: quản lý gián tiếp, điều hành sản xuất tại công trường, chi phí phục

vụ công nhân, chi phí phục vụ thi công tại công trường và chi phí quản lý khác của

dự án

ĐP j

ĐP j m

j

ĐP j

TjĐP : Thời gian thực hiện của chi phí thứ j

2.5.3.4 Tập hợp chi phí thực hiện gói thầu theo phương pháp thành phần dựa

trên các thành phần (khoản mục) dưới dạng bảng:

Trang 40

Bảng 2.2 Thành phần khoản mục chi phí tối thiểu

1

NC 1.3

Q

1

m

j

M j

j d Q

1

M= M1 + M2

M 1 = d kh T T kh + d n T n kh

MTTM j m

j

M j

Q

1 2

Q

1

TTBP j m

j

BP j

1BP= BP1 + BP2

BP 1 = d kh T T kh + d n T n kh

TTBP j m

j

BP j

Q

1 2

BP

Ngày đăng: 17/06/2021, 11:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w