Kết hợp các mục tiêu kể trên với các mục tiêu của Chương trình Asia Invest, dự án “Sản xuất Sạch hơn vì Sản phẩm Tốt hơn” kéo dài 20 tháng nhằm mục tiêu nâng cao năng lực cho các ngành c
Trang 1Báo cáo Chuẩn bị Triển khai Dự án CP4BP Đánh giá Lựa chọn các Ngành Công nghiệp Phù hợp
Áp dụng Thiết kế Sản phẩm Bền vững tại Việt Nam
Trang 2Mục lục
Lời cảm ơn 4
Lời nói đầu 5
1 Giới thiệu 7
1.1 Dự án 7
1.2 Sản xuất sạch hơn và Thiết kế hướng Phát triển bền vững 9
1.3 Mục tiêu và phương pháp luận của báo cáo 10
2 Việt Nam 12
2.1 Tổng quan quốc gia 12
2.1.1 Kinh tế 12
Tổng quan 12
Tình hình xuất khẩu 15
2.1.2 Xã hội 22
Tổng quan 22
Các vấn đề chính 23
2.1.3 Môi trường 27
Tổng quan 27
Các vấn đề chính 27
2.1.4 Tình hình và bối cảnh xã hội 28
Các chương trình, dự án trong lĩnh vực liên quan đã thực hiện hoặc dự kiến sẽ thực hiện 30
2.1.5 Nguồn lực sẵn có của Việt Nam về ThP (Thiết kế Sản phẩm Bền vững) và các tiềm năng về ThP 31
Các nguồn lực sẵn có về ThP 31
Tiềm năng về ThP của Việt Nam 32
2.2 Phân tích cho từng ngành nghề 34
2.2.1 Tổng quan: các ngành nghề quan trọng nhất trong nền kinh tế và xuất khẩu 34
2.2.2 Dầu mỏ và khoáng sản 37
2.2.3 Các sản phẩm nông nghiệp 37
2.2.4 Lĩnh vực ngư nghiệp 41
2.2.5 Công nghiệp và thủ công mỹ nghệ 44
2.2.6 Các ngành trong nhóm ưu tiên cấp quốc gia 59
3 Xác định trọng tâm dự án 61
3.1 Bối cảnh khu vực Việt Nam, Campuchia và Lào: Điểm tương đồng và khác biệt 61
3.2 Lựa chọn lĩnh vực 64
Trang 33.2.1 Tổng quan: Đánh giá mức độ ưu tiên các lĩnh vực ở cấp quốc gia 64
3.2.2 Các lĩnh vực được lựa chọn từ cấp độ dự án 64
3.2.3 Tiềm năng xuất khẩu sang thị trường Châu Âu 65
3.2.4 Đối tác tiềm năng của dự án 65
4 Kết luận 69
5 Phụ lục 70
6 Tài liệu tham khảo 71
Trang 4Lời cảm ơn
Báo cáo này được xây dựng trong khuôn khổ dự án “Sản xuất sạch hơn cho sản phẩm tốt hơn” (CP4BP) tài trợ bởi Chương trình Asia Invest của Cộng đồng chung Châu Âu (EC Asia Invest) Các thành viên và đối tác của dự án xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Hội đồng Châu Âu
đã tài trợ, hướng dẫn và không ngừng hỗ trợ chúng tôi trong thời gian vừa qua
Ngoài ra, nhóm biên soạn cũng xin gửi lời cảm ơn đến các tổ chức và cá nhân đã cung cấp những thông tin sâu rộng và quý báu cho báo cáo cũng như đã trả lời các phiếu điều tra, tham gia vào các cuộc phỏng vấn và tạo điều kiện để nhóm có thể tiếp cận với những hồ sơ tài liệu, góp phần xây dựng nên tài liệu này Đây được xem là báo cáo cơ sở cho toàn dự án CP4BP Đính kèm theo báo cáo này là danh sách các bên đóng góp ý kiến cho chúng tôi dù chưa hoàn toàn đầy đủ
Chương tình hình hiện tại của Campuchia do ông Heng Chan Thoeun, Bộ Môi trường Campuchia, xây dựng với sự hỗ trợ của ông Va Chanmakaravuth, Chương trình sản xuất sạch hơn Campuchia
Báo cáo này còn nhận được những góp ý, bổ sung và đánh giá từ các thành viên và đối tác của
dự án:
- Ông Vũ Bá Minh, Chuyên gia trong nước của Dự án, Đại học Bách Khoa Tp Hồ Chí Minh
- Giáo sư Nguyễn Công Thành và bà Nguyễn Thị Bích Hòa, Trung Tâm Viện Công nghệ Châu Á tại Việt Nam
- Tiến sỹ M.R.M Crul, ông Jan Carel Diehl và bà Duygu Keskin, Đại học Tổng hợp Kỹ thuật Delft, Hà Lan
- Bà Wei Zhao và bà Garrette Clark, Ban Công nghệ, Công nghiệp và Kinh tế, Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc
Trang 5Lời nói đầu
Trong những năm vừa qua, vấn đề biến đổi khí hậu đã và đang nhận được sự quan tâm sâu sắc
từ phía các cơ quan truyền thông, các nhà chính trị và người dân trên toàn thế giới Rõ ràng rằng các hình thái tiêu thụ và sản xuất hiện nay là chưa bền vững và mang nhiều hiểm họa đến với môi trường
Bên cạnh đó, phát triển bền vững không chỉ dừng lại ở việc quan tâm bảo vệ môi trường mà các khía cạnh xã hội cũng ngày càng trở nên quan trọng hơn khi nhiều vấn đề tiêu cực trong xã hội dần bị công khai hóa như vấn đề lao động trẻ em, điều kiện lao động thấp kém và quyền lợi của đồng bào thiểu số Những vấn đề này khiến người dân và khách hàng, cụ thể là ở những nước phát triển, càng phải đặt ra nhiều yêu cầu hơn trước
Nền kinh tế thế giới cũng đang phải đối diện với những chuyển biến sâu sắc, trong đó có vấn
đề toàn cầu hóa Vấn đề này khiến cho mối quan hệ hữu cơ giữa các nền kinh tế trên thế giới đang càng trở nên chặt chẽ hơn Các công ty lớn và nhỏ cũng như các nền kinh tế quốc dân cũng đều đang phải đối diện với những thách thức mới
Để giải quyết những thách thức này, thực tế đòi hỏi phải áp dụng rất nhiều giải pháp khác nhau: từ phòng ngừa ô nhiễm cổ điển, áp dụng các phương pháp sản xuất sạch hơn đến thiết kế lại sản phẩm và thay đổi mạnh mẽ và toàn bộ hệ thống thông qua các cấp độ đổi mới
Thuật ngữ “Thiết kế hướng tới phát triển bền vững - ThP” ra đời từ Chương trình Thiết kế hướng tới Phát triển bền vững của Đại học tổng hợp Kỹ thuật Delft trong khuôn khổ hợp tác với Chương trình Môi trường liên hiệp quốc Thuật ngữ này bao gồm những tiếp cận kể trên nhằm đưa ra những giải pháp đáp ứng được nhu cầu của khách hàng một cách bền vững hơn
Dự án ThP đã và đang được tiến hành tại Hà Lan, Châu Âu và một phần ở Châu Phi, Châu Á
và Châu Mỹ Qua dự án này, lần đầu tiên thuật ngữ ThP được giới thiệu và đưa vào áp dụng tại Việt Nam Mục tiêu của dự án là trình diễn khả năng áp dụng ThP trong khu vực, giúp hình thành nhận thức về tiềm năng của nó và mở đường cho những sáng kiến rộng lớn và có triển vọng hơn Cụ thể, dự án dự kiến sẽ được mở rộng tại Lào và Campuchia do đây là khu vực có nhiều đối tác và các hiệp hội khác nhau Các bên hữu quan này có mối liên hệ chặt chẽ trong quá trình triển khai các hoạt động định hướng của dự án
Thành công của dự án phụ thuộc rất nhiều vào mức rõ ràng và thực tế của các tiềm năng cho ThP Các câu hỏi đặt ra là: những thách thức đối với việc áp dụng ThP trong khu vực nói chung và tại Việt Nam nói riêng là gì? Đâu là lợi ích tiềm năng ThP có thể đem lại cho Việt Nam, Lào, Campuchia và khu vực? Những vấn đề môi trường, xã hội và kinh tế nào cần được
ưu tiên khi áp dụng ThP? Thuật ngữ này có phù hợp trong khu vực hay không? Các doanh nghiệp trong khu vực có đủ khả năng tích hợp thuật ngữ này và áp dụng nó hay không? Nếu không thì các doanh nghiệp này cần phải có hình thức hỗ trợ nào? Cơ quan nào trong khu vực
có khả năng hỗ trợ họ cũng như để phổ biến thuật ngữ này rộng rãi hơn? Và cuối cùng, ngành công nghiệp nào thể hiện tiềm năng ThP lớn nhất trong xu thế phát triển hiện nay của 3 quốc gia?
Báo cáo này đi tìm câu trả lời cho các câu hỏi nói trên và cụ thể hơn, nó tập trung vào nhận diện những lĩnh vực công nghiệp tại Việt Nam có thể làm đối tượng cho các dự án trình diễn thí điểm Sau phần giới thiệu tóm tắt về dự án CP4BP, phiên bản Tiếng Anh của báo cáo trình bày phần đánh giá tóm lược về tình hình hiện tại 3 quốc gia (từ chương 2 đến chương 4) và tiếp đó đề xuất 3 lĩnh vực làm đối tượng triển khai của dự án (chương 5) Trong khuôn khổ phiên bản Tiếng Việt của báo cáo chỉ trình bày đánh giá tổng quan khu vực và tình hình tại Việt Nam
Dựa trên những khuyến nghị và ý kiến trao đổi nhận từ hội thảo khởi động dự án diễn ra tại Hà Nội từ ngày 21 đến 23/01/2008, nhóm dự án sẽ lựa chọn từ 6 đến 8 công ty Việt Nam và tiến hành dự án trình diễn thí điểm trong vòng từ 9 đến 10 tháng tại các công ty đó Mục tiêu của
dự án là nhằm thiết kế (hoặc thiết kế lại) một số sản phẩm được lựa chọn Trong những dự án
Trang 6này, cách tiếp cận ThP sẽ được giới thiệu và vận dụng tại cơ sở Bài học kinh nghiệm và các cải tiến cho phát triển bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường nhận diện trong suốt quá trình triển khai dự án sẽ được giới thiệu cho các doanh nghiệp và bên hữu quan khác trong các buổi đào tạo theo ngành và các hoạt động truyền thông, phổ biến thông tin khác
Trang 71 Giới thiệu
1.1 Dự án
Trong những năm vừa qua, Việt Nam, Campuchia và Lào đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh
tế nhanh chóng, luôn trên 6% Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng này dựa trên nền tảng hạn chế và các sản phẩm với giá trị gia tăng thấp Đặc biệt nhóm hàng may mặc, chiếm vị trí đáng kể trong tăng trưởng của 3 nước, chủ yếu dựa vào các hợp đồng từ các đối tác nước ngoài Để duy trì tốc độ tăng trưởng, 3 nước cần mở rộng nền tảng xuất khẩu và nâng cao vị trí trong chuỗi giá trị, nhờ đó tăng được giá trị gia tăng trong sản phẩm Khả năng thành công của chiến lược này phụ thuộc vào khả năng tiếp thị của sản phẩm đáp ứng nhu cầu của các nước phát triển, bao gồm giá cả, tính năng và chất lượng, cũng như các khía cạnh về môi trường và xã hội Mục tiêu của chính phủ các nước về xoá đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm (ví dụ chính sách ) và bảo vệ môi trường quyết định việc lựa chọn các ngành để phát triển
Kết hợp các mục tiêu kể trên với các mục tiêu của Chương trình Asia Invest, dự án “Sản xuất Sạch hơn vì Sản phẩm Tốt hơn” kéo dài 20 tháng nhằm mục tiêu nâng cao năng lực cho các ngành công nghiệp quan trọng ở Việt Nam, Campuchia và Lào trong việc phát triển các sản phẩm mới đáp ứng các yêu cầu của thị trường Châu Âu, đặc biệt trên khía cạnh môi trường và
xã hội, thông qua việc áp dụng cách tiếp cận sản xuất sạch hơn (SXSH) vào sản phẩm, bao gồm thiết kế lại sản phẩm, hay còn gọi là Thiết kế hướng tới Phát triển bền vững Các kỹ thuật sản xuất sạch hơn đã chứng minh hiệu quả trong việc áp dụng các thực tiễn tốt nhất nhằm giảm chi phí, rác thải và ô nhiễm tại nguồn Tuy nhiên, tình hình áp dụng SXSH chủ yếu tập trung vào các giải pháp quản lý nội vi và cải tiến quy trình với chi phí thấp Việc tập trung vào sản phẩm sẽ giúp các công ty nâng cao khả năng cạnh tranh của mình và góp phần ổn định tăng trưởng quốc gia nhờ có được các tiềm lực về kinh tế (tiếp cận thị trường tốt hơn, sản phẩm với giá trị gia tăng cao hơn) và về môi trường (theo suốt vòng đời sản phẩm, từ công đoạn lựa chọn nguyên liệu thô đến sản xuất tại Châu Á, sử dụng và thải loại sản phẩm tại Châu
Á hoặc Châu Âu)
Trong khuôn khổ hợp tác giữa Trung tâm sản xuất sạch hơn Việt Nam với Trung tâm Viện Công nghệ Châu Á tại Việt Nam, Hiệp hội Ngành công nghiệp vừa và nhỏ Phnom Penh, Phòng Thương mại và Công nghiệp Lào, Chương trình Môi trường liên hiệp quốc và Đại học Tổng hợp kỹ thuật Delft, dự án CP4BP sẽ hỗ trợ việc tạo ra một môi trường thông thoáng, gây dựng thị trường dịch vụ về phát triển sản phẩm bền vững
Tại Việt Nam, dự án CP4BP sẽ lồng ghép hội thảo đào tạo cán bộ tập huấn (ToT) nhằm “xây dựng năng lực quốc gia về phát triển sản phẩm bền vững” với việc triển khai thực tế hoạt động thiết kế (hoặc thiết kế lại) sản phẩm bền vững tại ba công ty thí điểm Từ đó, dự án sẽ minh chứng sự phù hợp giữa hai cách tiếp cận: SXSH hướng sản phẩm với ThP Kết quả của dự án
sẽ được trình bày dưới dạng các nghiên cứu điển hình và cập nhật cho các doanh nghiệp của các ngành có liên quan thông qua các hội thảo đào tạo Kết quả đó cũng sẽ được phổ biến đến các bên hữu quan, gồm các hiệp hội và cơ quan quản lý công nghiệp, tại các hội thảo phổ biến thông tin Những hội thảo này có chung một mục tiêu là gây dựng nhu cầu về dịch vụ phát triển sản phẩm bền vững Các nghiên cứu khoa học sẽ tìm hiểu phương pháp áp dụng cách tiếp cận CP4BP rộng rãi hơn cho từng lĩnh vực mục tiêu và đề xuất một Kế hoạch hành động quốc gia về Thiết kế sản phẩm bền vững tại các Hội nghị khoa học toàn quốc Tại Campuchia và Lào, do tình hình phát triển kinh tế chậm hơn Việt Nam và hạn chế về năng lực thể chế, dự án đầu tiên này sẽ tập trung vào bước đầu nâng cao nhận thức và tăng cường năng lực cho hai nước bằng việc chuyển giao các bí quyết công nghệ và kinh nghiệm thu được trong quá trình triển khai dự án tại Việt Nam Trong các hội thảo phổ biến thông tin của dự án tại Việt Nam
và trong công tác tổ chức các hội thảo đào tạo và phổ biến thông tin tại tất cả các quốc gia tham gia dự án, đại diện của các quốc gia sẽ cùng góp mặt
Trang 8Liên quan đến các dự án thí điểm tại công ty, việc lựa chọn các công ty sẽ dựa trên tiềm lực xuất khẩu sản phẩm của họ sang các nước Châu Âu, tiềm năng nhân rộng dự án và mức độ phối hợp với các đối tác Châu Âu, đặc biệt ưu tiên sự hợp tác mang tính đổi mới với công ty
đó Ví dụ, Guyomarc’h – một công ty sản xuất thức ăn gia súc của Pháp - đã tỏ ý muốn tham gia vào một dự án của CB4BP để phát triển các giải pháp đổi mới trong ngành thủy sản, trong
đó có hợp tác với một đối tác Việt Nam của công ty này Điều này sẽ làm tăng cường nhận thức và hiểu biết chung giữa các đối tác Châu Âu với các đối tác trong khu vực về nhu cầu và trở ngại của đôi bên, từ đó, giúp đẩy mạnh hợp tác thương mại song phương và chuyển giao công nghệ giữa Châu Âu với trước mắt là Việt Nam (Xuất khẩu sản phẩm của Việt Nam sang Châu Âu; Nhập khẩu công nghệ và dịch vụ của Châu Âu về nước) và sau đó với Lào, Campuchia trong giai đoạn tiếp theo
Các bên thụ hưởng cuối cùng của dự án sẽ là người dân trong khu vực do được hưởng nguồn thu nhập cao hơn, tăng thêm cơ hội việc làm do có một ngành công nghiệp bền vững, thân thiện với môi trường và sinh lợi cao hơn Một đối tượng được thụ hưởng khác là các khách hàng Châu Âu, những người được hưởng những sản phẩm tốt hơn và bền vững hơn đến từ khu vực ba nước Lào, Việt Nam, Campuchia
Thời gian
hoạt động
20 tháng, từ 12/2007 đến 07/2009
Mục tiêu
hoạt động Mục tiêu tổng thể: 1 Tăng cường năng lực cho một số ngành công nghiệp chọn lọc của Việt Nam, Campuchia và Lào trong việc phát triển
các sản phẩm thân thiện với môi trường và có trách nhiệm xã hội hơn, đồng thời đáp ứng được các yêu cầu của thị trường Châu Âu 2 Tạo ra hiệp trợ liên tục và từ đó tăng các cơ hội thương mại giữa 3 nước thành viên với Châu Âu
Mục tiêu cụ thể: Thúc đẩy khả năng tiếp nhận các kỹ thuật sản xuất
sạch hơn liên quan đến sản phẩm và phương pháp thiết kế hướng bền vững thông qua phát triển cung và cầu cho các dịch vụ thiết kế sản phẩm bền vững
Các đối tác 1 Trung tâm Sản xuất Sạch Việt Nam (VNCPC – Việt Nam)
2 Trung tâm Viện Công nghệ Châu Á tại Việt Nam (AITCV – Việt Nam)
3 Hiệp hội Ngành công nghiệp vừa và nhỏ Phnom Penh (Hiệp hội PSMI – Campuchia)
4 Phòng Thương mại và Công nghiệp Lào (LNCCI – Lào)
5 Ban Công nghệ, Công nghiệp và Kinh tế, Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc (UNEP – Paris)
6 Đại học Tổng hợp kỹ thuật Delft (TU Delft – Hà Lan) Nhóm định
hướng
Các công ty tại Việt Nam, Lào, Campuchia từ 3 ngành có mức tác động cao nhất (3 công ty cho các dự án thí điểm, 100 công ty cho các hội thảo)
Các bên trung gian – nhà cung cấp dịch vụ (đào tạo chuyên sâu cho VNCPC, AITCV, PSMIA, LNCCI và khoảng 25 chuyên gia cốt cán về sản xuất sạch hơn và thiết kế sản phẩm) và các hiệp hội doanh thương từ các ngành định hướng
Các nhà chức trách tại địa phương, cơ quan quản lý quốc gia và cộng đồng tại địa phương
Tổng số người được thụ hưởng trực tiếp: 700 người
Đối tượng
được
1 Người dân Việt Nam, Campuchia và Lào (đối tượng chủ yếu): được hưởng nguồn thu nhập cao hơn, nhiều cơ hội việc làm hơn do có một
Trang 9kiến 1 Các cách tiếp cận về sản xuất sạch hơn và thiết kế hướng phát triển bền vững liên quan đến sản phẩm được xây dựng và thử nghiệm tại 3
ngành công nghiệp ưu tiên
2 Nâng cao được nhận thức và tăng cường được năng lực cho các ngành công nghiệp, hỗ trợ các bên trung gian, các nhà chức trách địa phương và quốc gia, và cộng đồng (khoảng 700 người được hưởng lợi trực tiếp)
Các công cụ về sản xuất sạch hơn và thiết kế hướng phát triển bền vững được phổ biến đến các tổ chức và cơ quan quản lý chủ chốt
3 Nâng cao cơ hội kinh doanh và cải thiện các chỉ số môi trường cho 3 công ty thí điểm
4 Đẩy mạnh mối quan hệ hợp tác và gia tăng cơ hội thương mại giữa Châu Âu, Việt Nam, Campuchia và Lào
Các hoạt
động chính
A) Đánh giá ở cấp độ quốc gia để xác định các ngành và sản phẩm mục tiêu tại các nước tham gia Bản địa hóa và tích hợp các kiến thức và thông tin sẵn có trong cách tiếp cận ThP thành một phần của khái niệm sản xuất sạch hơn (cách tiếp cận CP4BP) Tổ chức một hội thảo đào tạo cán bộ tập huấn của các nhà cung cấp dịch vụ kỹ thuật và đại diện các ngành công nghiệp từ ba nước (25 người)
B) Minh chứng lợi ích của cách tiếp cận CP4BP qua 6-8 công ty thí điểm tại 3 ngành mục tiêu (6-8 sản phẩm thiết kế mới hoặc thiết kế lại, 30 người được đào tạo), có sự tham gia của các đối tác Việt Nam và Châu
Âu, nhà chức trách địa phương và cộng đồng Tiến hành 3 đề tài nghiên cứu phương pháp áp dụng rộng rãi hơn tiếp cận CP4BP trong cách ngành mục tiêu đã chọn
C) Hoàn thiện các tài liệu CP4BP dựa trên các phát hiện từ các dự án thí điểm và các đề tài nghiên cứu Tổ chức 5 hội thảo theo ngành để giới thiệu về cách tiếp cận CP4BP và lợi ích của nó tại 3 nước cho các công ty
và nhà cung cấp dịch vụ kỹ thuật trong khu vực (150 thành viên) Tổ chức một hội nghị toàn quốc cho các nhà chức trách, cơ quan quản lý của Việt Nam (từ 50 đến 100 người)
D) Phổ biến bộ công cụ CP4BP và các bài học kinh nghiệm (400 người)
1.2 Sản xuất sạch hơn và Thiết kế hướng Phát triển bền vững
Sản xuất sạch hơn (SXSH) là một cách tiếp cận sáng tạo nhằm giảm thiểu các tác động có hại của sản xuất công nghiệp lên môi trường và con người, đồng thời làm tăng lợi nhuận thông qua việc sử dụng nước, năng lượng và nguyên vật liệu hiệu quả hơn Cách tiếp cận này bao gồm toàn bộ quá trình xây dựng và phân phối sản phẩm và dịch vụ; từ giai đoạn thiết kế, sản xuất, bao gói đến chuyển sản phẩm đến tay người sử dụng cuối cùng Do vậy, SXSH bao gồm một gói các công cụ và kỹ thuật để đạt được các mục tiêu nói trên Tuy nhiên, trong thực tế SXSH thường tập trung vào vấn đề sản phẩm được sản xuất như thế nào, hay nói cách khác là tập trung vào quá trình sản xuất Điều này càng đúng với thực tế SXSH tại Việt Nam, Lào và Campuchia
Thiết kế hướng Phát triển bền vững là một cách tiếp cận hiện đại, nó tích hợp tiêu chí phát triển bền vững (lợi nhuận, con người và trái đất - 3P) vào quá trình thiết kế và phát triển sản phẩm (PDD) ThP được áp dụng ngay từ giai đoạn mới xây dựng sản phẩm – giai đoạn thiết kế
- và tập trung vào sản phẩm
Ở mức độ nào đó, ThP được xem là có tính chuyên sâu và hẹp hơn SXSH ThP có thể được dùng như một công cụ mạnh của SXSH so với các công cụ khác Ở mức cao hơn, ThP hướng
Trang 10tới tìm kiếm những giải pháp không chỉ cho thời đại hiện nay mà cho cả các thế hệ mai sau Không chỉ vậy, ThP còn được xem như một bước tiếp nối của SXSH vì nó liên quan đến những khái niệm rộng hơn như hệ thống sản phẩm - dịch vụ bền vững và đổi mới các hệ thống ThP còn tích hợp khái niệm chi phí vòng đời (Life Cycle Cost - LCC), khái niệm thể hiện một cái nhìn tổng thể vì nó theo dõi vòng đời sản phẩm từ công đoạn khai thác nguyên liệu thô từ môi trường, đến sản xuất, sử dụng và cuối cùng là thải loại sản phẩm
Do có sự trùng lặp giữa SXSH và ThP nên hai khái niệm này càng có mối liên hệ chặt chẽ hơn Các kỹ thuật SXSH như lựa chọn nguyên liệu, quyết định đặc tính sản phẩm đã được lồng ghép vào ThP Các kỹ thuật SXSH khác như quản lý chất lượng, lựa chọn công nghệ, điều kiện thiết bị tạo ra điều kiện tốt nhất để ThP triển khai những thay đổi
SXSH có thể tạo tiền đề cho ThP SXSH cho phép các công ty, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có thể lựa chọn, bắt đầu các phương án sản xuất sạch hơn chi phí thấp hoặc miễn phí để từ đó có thể hỗ trợ thêm cho ThP Bên cạnh đó, một số phương án SXSH có thể triển khai cùng lúc với ThP để tạo ra các điều kiện tối ưu cho các sản phẩm thiết kế (hướng phát triển bền vững) tốt nhất
Ngược lại, ThP lại có những đặc trưng liên quan sâu sắc đến SXSH Trong khi SXSH hướng vào các hoạt động nội vi của doanh nghiệp thì ThP lại cần phải có sự tương tác chặt chẽ giữa công ty với thị trường và dựa nhiều vào đổi mới Trên phương diện thị trường, nếu không có các ý kiến phản hồi từ phía khách hàng, việc ThP là không thể thực hiện được Về mặt đổi mới, đây được xem là yếu tố cốt tử, đóng vai trò như “huyết mạch” của ThP Những sản phẩm mới do ThP liên tục mang đến chỉ có thể coi là có giá trị khi nó đáp ứng được các nhu cầu cho tương lai
1.3 Mục tiêu và phương pháp luận của báo cáo
Mục tiêu: đề xuất các kiến nghị cho việc lựa chọn các lĩnh vực và sản phẩm ưu tiên (mục tiêu
là 3 lĩnh vực tại Việt Nam, 1 lĩnh vực tại Campuchia và 1 lĩnh vực tại Lào) và xác định các dự
án thí điểm tại công ty
Báo cáo chuẩn bị dự án bao gồm:
• Một phân tích về các vấn đề phát triển bền vững bao gồm khía cạnh môi trường và xã hội của các sản phẩm xuất khẩu từ Việt Nam, Campuchia và Lào sang thị trường Châu Âu của một số ngành chủ chốt
• Đánh giá tóm lược về khả năng phát triển sản phẩm tại 3 quốc gia nói trên trong một số ngành phù hợp
• Đánh giá tóm lược về nhu cầu của thị trường Châu Âu đối với các sản phẩm có tính bền vững hơn
• Một đề mục các vấn đề phát triển bền vững cần giải quyết có liên quan đến các ngành công nghiệp tương ứng
Nhiệm vụ và nguồn lực phân bổ:
• VNCPC, AITCV, LNCCI và các chuyên gia trong khu vực đã tiến hành phân tích một số vấn đề về phát triển bền vững tại từng quốc gia tương ứng và đánh giá những thực tiễn tốt nhất trong khu vực Tại Campuchia, công tác đánh giá này do chuyên gia thuê ngoài thực hiện dưới sự giám sát của VNCPC
• TU Delft đã tiến hành đánh giá nhu cầu của thị trường Châu Âu và tiềm năng chuyển giao công nghệ, hợp tác từ phía các công ty, doanh nghiệp và tổ chức tại Châu Âu
Trang 11• Thông tin được thu thập thông qua các nghiên cứu tại văn phòng, Internet, các mạng lưới
đã được thiết lập và những mối liên hệ với các cơ quan, tổ chức tại Châu Âu, Việt Nam, Campuchia và Lào
• Báo cáo cuối cùng do VNCPC và AITCV tổng hợp, được UNEP kiểm tra lại và cập nhật, lưu chuyển qua mạng Internet
Kết quả:
• Báo cáo chuẩn bị dự án đầy đủ: tối đa 250 trang, 200 báo cáo bản in (80 bản Tiếng Anh và
120 bản tiếng Việt) Báo cáo đánh giá cấp quốc gia về Campuchia và Lào: tối đa 50 trang (80 bộ tiếng Khme và tiếng Lào, 40 bộ tiếng Anh với báo cáo của từng nước)
Phương pháp luận:
Báo cáo được xây dựng trên cơ sở thu thập thông tin qua nghiên cứu tại văn phòng, phỏng vấn
và thảo luận giữa các đối tác và chuyên gia chuyên ngành có liên quan của dự án Các dữ liệu
sơ cấp được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm các nguồn dữ liệu thống kê chính thức Để bổ sung thêm dữ liệu, 300 phiếu điều tra đã được thiết kế và gửi tới các bên có liên quan của dự án tại Việt Nam Kết quả là đã nhận được 28 bảng trả lời 15 cuộc phỏng vấn, họp
và làm việc đã được tiến hành với các viện, tổ chức trong và ngoài nước và các tập đoàn khác nhau Các cơ quan báo chí, công luận cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho dự án Khi thiếu thông tin, một số nghiên cứu điển hình, ví dụ và báo cáo nghiên cứu định lượng đã được sử dụng để hỗ trợ quá trình đánh giá Thông tin trong báo cáo được viện dẫn từ các tài liệu chính được liệt kê trong phần phụ lục Danh sách tên và các đơn vị chuyên môn được phỏng vấn cũng được nêu trong phần phụ lục của báo cáo này
Trang 12Bảng 2.1 Tăng trưởng GDP và đóng góp của các ngành vào cấu trúc nền kinh tế (%)
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Tỷ lệ tăng trưởng (%)
Nông - lâm - ngư nghiệp 2.98 4.17 3.62 4.36 4.04
Công nghiệp và xây
dựng
10.39 9.48 10.48 10.22 10.65
Tỷ lệ (%)
Công nghiệp và xây
dựng
38.13 38.49 39.47 40.21 41.02 41.56 41.61
Nguồn: Tổng cục Thống kê (GSO)
Từ năm 1986, Việt Nam đã chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang thị trường Chính sách Đổi mới nổi tiếng đã mang lại những thay đổi căn bản cho sự phát triển kinh tế Việt Nam đã dành được những thành tựu kinh tế-xã hội quan trọng Tăng trưởng GDP trong giai đoạn 1991-1995 là 8.2%, giai đoạn 1996-2000 là gần 7% mặc dù phải chịu những hậu quả
từ khủng hoảng tài chính khu vực Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng là 6.89% năm 2001, 7.08% năm 2002, 8.43% năm 2005, 8.17% năm 2006và 8.44% năm 2007
Lĩnh vực nông nghiệp, bao gồm cả lâm và ngư nghiệp hiện vẫn tạo việc làm cho 65% dân số
so với tỷ lệ 80% của 20 năm trước Tỷ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế cũng đã giảm đi từ 25% năm 2000 xuống còn 20% năm 2006 Lĩnh vực công nghiệp đã tăng trưởng nhanh chóng
và hiện đã chiếm trên 40% quy mô GDP, phân đều cho các nhóm ngành thép, khai khoáng (mà chủ yếu là dầu thô và khí đốt), dệt may, da giày, xi măng và lắp ráp các phương tiện giao thông (xe máy và ô tô)
Bảng 2.2 Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu
(Tỷ đồng, tính theo giá quy đổi năm 1994)
Trang 13Đô la Mỹ/ người) Có thể nói rằng, về thu nhập, Việt Nam gần với Ấn Độ nhưng lại gần như tương đương với Trung Quốc về tốc độ tăng trưởng Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam cũng ít dao động trong thời gian qua
Nếu tính theo sức mua tương đương, một Đô la Mỹ ở Việt Nam có sức mua bằng với 4,3 Đô
la Mỹ ở Mỹ Điều này giải thích vì sao thu nhập đầu người danh nghĩa của Việt Nam là 722
Hình 2.2 Thu nhập bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương giai đoạn
2000 – 2006
Hình 2.1 Thu nhập bình quân đầu người
danh nghĩa giai đoạn 2000 – 2008 (giả định
2008 )
Trang 14Đô la Mỹ năm 2006, nhưng khi tính theo sức mua tương đương thì bằng 3.100 Đô la Mỹ/người Trên Hình 2.2 không có một sự cải thiện đáng kể về thu nhập cá nhân tính theo sức mua tương đương trong năm 2006 có thể là do cách tính mới của Ngân hàng Thế giới Năm
2007, theo thông tin truyền thông, thu nhập đầu người thực tế tăng 4,6% Theo các tính toán
về GDP theo đầu người, Việt Nam sẽ sớm ra khỏi danh sách các quốc gia thu nhập thấp, dự kiến là vào năm 2008 hoặc 2009 Như vậy, lợi thế về nhân công rẻ sẽ giảm dần trong tương lai
Theo cách tính mới của Ngân hàng Thế giới, thu nhập đầu người tính theo sức mua tương đương của Việt Nam giảm từ 3.071 Đô la Mỹ còn 2.142 Đô la Mỹ của năm 2005 Theo cách tính này, khoảng cách giữa các nước phát triển với Việt Nam đã tăng lên
Bảng 2.3 GDP theo sức mua tương đương của một số quốc gia và khoảng cách so sánh
với Việt Nam
GDP theo sức mua tương
kể
Chính phủ Việt Nam đã đề ra mục tiêu tăng trưởng tham vọng lên tới 9% trong năm 2008 và
tỷ lệ lạm phát thấp hơn tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên tỷ lệ này đã phải điều chỉnh giảm còn khoảng 7,4% do những khó khăn kinh tế hiện nay và lạm phát đã lên đến gần 20% trong 7 tháng đầu năm Trước mắt, Việt Nam vẫn đứng trước nhiều thử thách cho sự tăng trưởng bền vững:
• Tính cạnh tranh thấp của nền kinh tế quốc gia: Chỉ số tăng trưởng cạnh tranh đã giảm liên tục trong những năm gần đây theo công bố của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) Năm
2006 Việt Nam xếp hạng 77 so với hạng 60 của năm 2003 Điều này không có nghĩa là Việt Nam không cải thiện được năng lực cạnh tranh của mình mà là các quốc gia khác đã làm tốt hơn
• Thiếu nguồn nhân công có tay nghề: Việt Nam có nhân công tay nghề cao trong một số lĩnh vực, nhưng trong toàn bộ lực lượng lao động, chỉ có 25% được đào tạo bài bản
• Sự phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, giá trị gia tăng thấp do tỷ trọng lớn của ngành nông nghiệp, khai khoáng và gia công xuất khẩu
• Vị thế dễ bị tổn thương: không có thương hiệu, thiếu hụt các ngành công nghiệp phụ trợ, phụ thuộc vào các nhà trung gian (xuất nhập khẩu) cùng với năng lực hạn chế về thiết kế phát triển sản phẩm
Hiện nay, Việt Nam có quan hệ kinh tế và thương mại với 178 quốc gia và vùng lãnh thổ, đã
ký các hiệp định thương mại song phương với 80 quốc gia và đã có được quy chế Tối huệ quốc với 72 nước, đã ký kết các hiệp định về Xúc tiến và Hỗ trợ đầu tư với 45 quốc gia và
Trang 15vùng lãnh thổ và đã ký các hiệp định chống đánh thuế hai lần với 36 quốc gia và vùng lãnh thổ
Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN vào tháng 7/1995, là thành viên sáng lập của ASEM vào năm 1996 và là thành viên chính thức của APEC từ năm 1998 Việt Nam cũng đã bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ từ năm 1995 và Khung Hiệp định hợp tác với Liên hiệp Châu Âu cùng năm đó Quan hệ với các thể chế tài chính quốc tê như Ngân hàng Thế giới, Quỹ tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng phát triển châu Á đã được thúc đẩy Việt Nam trở thành thành viên của WTO vào tháng 1/2007
Các đối tác thương mại chủ yếu của Việt Nam là các nước thành viên ASEAN, Liên hiệp Châu Âu, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Australia và Hoa Kỳ Các nhà đầu tư từ hơn 70 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đầu tư vào 3.770 dự án với tổng giá trị trên 41 tỷ Đô la Mỹ, tính đến cuối năm 2007
Được khích lệ bởi việc gia nhập WTO, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và danh mục vốn đầu tư đã gia tăng nhanh chóng Cam kết đầu tư trực tiếp nước ngoài đã bùng nổ ngay sau khi có quy chế thành viên WTO chính thức Các nhà đầu tư coi việc gia nhập WTO không chỉ mở rộng cơ hội cho họ mà còn là sự bảo đảm vững chắc từ các nhà lập chính sách
về sự tiếp tục cải cách và tạo ra các điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư ngoại tại Việt Nam Cam kết đầu tư nước ngoài đã đạt 10,2 tỷ Đô la Mỹ trong năm 2006, cao hơn nhiều so với mức 6,2 tỷ của năm 2005 và đã vượt qua mức kỷ lục 9 tỷ Đô la Mỹ trong năm 1996 Giải ngân của các dự án FDI, bao gồm góp vốn của các đối tác trong nước đã đạt mức 4,1 đô la Mỹ năm
2006, tăng 24% so với mức của năm 2005 Trong 4 tháng đầu năm 2007, cam kết FDI đã đạt 3,5 tỷ Đô la Mỹ, cao hơn 55% của cùng kỳ năm 2006 Lượng vốn giải ngân đạt 1,4 Đô la Mỹ, tăng 27% so với cùng kỳ Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đặt mục tiêu thu hút 12 tỷ Đô la Mỹ đầu
tư trực tiếp nước ngoài cho năm 2007, nhưng thực tế khoản cam kết đã đạt được là 20,4 tỷ Bên cạnh những lợi ích khác, việc gia nhập WTO đã cho phép Việt Nam tận dụng ưu thế của việc xóa bỏ quota của các mặt hàng dệt may kể từ tháng 1 năm 2005 cho các thành viên WTO khi Hiệp định về Dệt May kết thúc
Trong năm 2007, xuất khẩu đã đạt 48,4 tỷ đô la Mỹ trong khi nhập khẩu lên tới 60,64 tỷ, mức thâm hụt mậu dịch lên tới con số kỷ lục 12,64 tỷ đô la Trong năm 2008, dự kiến xuất khẩu sẽ đạt khoảng 59 tỷ đô la Mỹ, còn nhập khẩu sẽ lên đến 76 tỷ, gây ra mức thâm hụt khổng lồ khoảng 16 tỷ Đô la Mỹ, chiếm tới 30% kim ngạch xuất khẩu Mức thâm hụt này phần nào được giảm nhẹ bởi khoản kiều hối do người Việt ở nước ngoài gửi về, được cho là có thể đạt đến 10 tỷ đô la Mỹ theo các kênh chính thức và không chính thức Mức gia tăng nhanh chóng của thâm hụt mậu dịch là một nguy cơ đối với sự phát triển bền vững của Việt Nam
Tình hình xuất khẩu
Trong thời kỳ 2001 – 2006, xuất khẩu của Việt Nam tăng trưởng với tỷ lệ trung bình hàng năm
là 22% về giá trị Từ năm 2005, xuất khẩu dầu thô ngày càng đóng vai trò ít quan trọng hơn
Xu hướng này được dự kiến sẽ tiếp tục trong những năm tiếp theo Tỷ trọng xuất khẩu dầu và các mặt hàng khác đều tăng trong tổng GDP Năm 2006, xuất khẩu thủy hải sản, may mặc và
da giày (mặc dù có vụ kiện bán phá giá của da giày ở Liên hiệp Châu Âu) đã tăng trưởng mạnh Xuất khẩu thủy hải sản đã tăng trưởng nhanh chóng, tuy nhiên vẫn phải đối mặt với các quan ngại về dư lượng kháng sinh và các vấn đề môi sinh vùng nuôi
Bảng 2.4 Các sản phẩm xuất khẩu chính của Việt Nam (Triệu đô la Mỹ)
Growth
2001 –
Trang 16Nguồn: Tổng cục thống kê và ước tính của Bộ Kế hoạch Đầu tư
Hình 2.3 Tăng trưởng xuất khẩu 2001 – 2008 (dự kiến) - triệu đô la Mỹ
Bảng 2.5 Xuất và nhập khẩu Hàng hóa (Triệu Đô la Mỹ)
Trang 17Hình 2.4 Thâm hụt mậu dịch 2001 – 2008 (Triệu Đô la Mỹ)
Xuất khẩu các mặt hàng ngoài dầu thô đã tăng mạnh cả về lượng lẫn về giá Chẳng hạn như cà phê đã tăng gần gấp đôi trong quý 1 năm 2007 Các nhà xuất khẩu cà-phê đã có phản ứng mau lẹ với diễn biến tăng giá của thị trường khi sản lượng của Braxin sụt giảm Xuất khẩu dệt may đã tăng khoảng 32% trong 4 tháng đầu năm 2007 Trong đó, thị trường Mỹ là chủ yếu với 3,1 tỷ đô la trong tổng số 5,8 tỷ đô la xuất khẩu của năm
2007 Các sản phẩm gỗ cũng đã có sự tăng trường vững chắc trong những năm gần đây mặc dù bị phụ thuộc nặng nề vào gỗ nhập khẩu Xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam- chủ yếu là đồ nội thất- đã tăng tới 50% trong vòng 3 năm qua
Bảng 2.6 Các lĩnh vực và thị trường xuất khẩu ngoài dầu chính
Trang 18
Việt Nam đã có những tăng trưởng ấn tượng về xuất khẩu trong những năm vừa qua Tuy nhiên, xuất khẩu vẫn còn hạn chế trong một vài lĩnh vực: quần áo, da giày, dầu thô và thủy hải sản Mặc dù đã tăng trưởng nhanh chóng, Việt Nam vẫn đang gặp phải các vấn đề cơ bản, trong đó có nhiều vấn đề liên quan tới cung ứng trong nước:
• Xuất khẩu các mặt hàng chế biến còn thấp và việc chuyển đổi sang một cơ cấu xuất khẩu
đa dạng hơn là phức tạp Giá trị gia tăng của các sản phẩm xuất khẩu thấp do sự phụ thuộc nặng nề vào nhập khẩu nguyên liệu và vai trò của các nhà trung gian
• Các sản phẩm chủ yếu nhằm vào phân khúc thị trường cấp thấp với giá cả và chất lượng thấp Điều này làm cho Việt Nam trở nên dễ bị tổn thương trước những biến động về giá
cả và chu kỳ kinh doanh quốc tế
• Sức cạnh tranh về giá thành chưa cao: trong một số lĩnh vực, xuất khẩu của Việt Nam bị tác động do giá thành sản xuất cao mặc dù giá nhân công lao động thấp Có hai yếu tố giá thành chính làm ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh: giá nhân công tính theo đơn vị sản phẩm và các chi phí phụ khác, chẳng hạn như chi phí vận chuyển hay chi phí cho các nhà trung gian Khoảng cách vận chuyển từ Việt Nam sang Liên hiệp Châu Âu gần hơn so với
từ Trung Quốc, nhưng chi phí và thời gian vận chuyển lại nhiều hơn do các khâu trung chuyển
• Phần lớn các khâu thiết kế, phân phối và cả thương hiệu đều là của nước ngoài
• Sự hạn chế về nhận thức và năng lực trong công tác Thiết kế và Phát triển Sản phẩm
• Mối quan tâm chính của các công ty vẫn là kinh tế, các yếu tố xã hội và môi trường vẫn thường bị bỏ qua
Quan hệ với Liên hiệp Châu Âu:
Mối quan hệ song phương với Liên hiệp châu Âu trong thập kỷ qua đã phát triển mạnh mẽ và vững chắc Khối Liên hiệp Châu Âu đã đóng vai trò lớn trong sự hòa nhập của Việt Nam vào kinh tế thế giới và cũng là đối tác thương mại và đầu tư hàng đầu Từ năm 1995, quan hệ
MAY MẶC
Trang 19thương mại Việt Nam với các thành viên khối Liên hiệp Châu Âu đã gia tăng trung bình
15-20% mỗi năm Liên hiệp Châu Âu là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, chiếm 17%
tổng thương mại hai chiều (tiếp theo là Hoa Kỳ: 14%, Nhật Bản: 13% và Trung Quốc: 11%)
Khối Liên hiệp Châu Âu cũng là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam, với gần 1/5
kim ngạch Liên hiệp Châu Âu nhập khẩu từ Việt Nam tập trung vào một số sản phẩm: da
giày, (giá trị xuất khẩu: 1,99 tỷ Euro, khoảng 30,2% xuất khẩu da giày Việt Nam năm 2006),
dệt may (1.175 tỷ Euro; 15,9% kim ngạch), cà-phê (610 triệu Euro ; 9.2% kim ngạch), thủy
hải sản (468 triệu Euro ; 7.1% kim ngạch) và đồ gia dụng nội thất (651 triệu Euro ; 9,8% kim
%
Trang 20Hình 2.6 Thương mại Việt Nam - Liên hiệp Châu Âu
Nguồn: Eurostat
Khối Liên hiệp Châu Âu luôn là một trong những nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất ở Việt Nam Với 4,2 tỷ đô la Mỹ đã thực hiện, đây là nhà đầu tư lớn thứ hai chỉ sau Nhật Bản về giải ngân FDI Các nhà đầu tư Liên hiệp Châu Âu hoạt động rất tích cực trong lĩnh vực dịch vụ- mảng thiết yếu đối với phát triển kinh tế trong tương lai Các nhà đầu tư châu Âu thường mang tới chuyên môn cao và chuyển giao công nghệ cùng với tỷ lệ giải ngân rất tốt Cho tới tháng 12 năm 2007, khối Liên hiệp Châu Âu đã đầu tư vào 640 dự án ở Việt Nam với tổng số vốn gần 8,5 tỷ đô la Mỹ Khu vực công nghiệp hấp dẫn hơn 330 dự án của Liên hiệp Châu Âu, chiếm 58% tổng đầu tư trong khu vực này của Việt Nam
Việt Nam có tiềm năng mạnh mẽ để đẩy mạnh quan hệ thương mại và xuất khẩu với Liên hiệp Châu Âu:
• Một cộng đồng người Việt hay gốc Việt Namese sống tại các nước Liên hiệp Châu Âu, nhất là ở Pháp và Đức Đây là lợi thế lớn để tạo ra các mốt quan hệ song phương với Liên hiệp Châu Âu; thêm vào đó, sự gia nhập của các nước Đông Âu vào EU cũng tạo thêm các kênh xuất khẩu cho Việt Nam vào Liên hiệp châu Âu thông qua các mối quan hệ truyền thống với các thành viên mới này và cộng đồng người Việt ở đó
• Liên hiệp Châu Âu là một thị trường khổng lồ với hơn 500 triệu người tiêu dùng
Giá trị xuất khẩu da giày của Việt Nam vào EU đạt 1.9 tỷ đô la Mỹ (tăng trưởng 7.5%) (2005), đứng thứ hai sau Trung Quốc Tuy nhiên, xuất khẩu sang Liên hiệp Châu Âu dường như đang chững lại do tác động của vụ kiện bán phá giá Vụ kiện này đã làm tăng 4,2% thuế đánh vào các loại da giày da có nguồn gốc từ Việt Nam Thuế đã tăng từ 8,4% tháng 6 lên 12,6 % vào tháng 7 và tới 16,8 % vào tháng 12 năm 2006 Sau khi điều khoản chống phá giá được áp với hàng Việt Nam, các thống kê từ phía Hiệp hội Da giày Việt Nam (Lefaso) cho thấy lượng xuất khẩu sang Liên hiệp Châu Âu chỉ còn 50% tổng giá trị xuất khẩu da giày của Việt Nam, so với mức 70% trước đó Tuy vậy, Liên hiệp Châu Âu vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của các nhà sản xuất da giày Việt Nam Xuất khẩu sang Liên hiệp Châu Âu vẫn chiếm tỷ trọng lớn
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - EU
Tổng thương mại hai chiều Xuất khẩu sang Việt Nam Nhập khẩu từ Việt Nam
Trang 21do da giày của Việt Nam được hưởng các ưu đãi theo khuôn khổ Hệ thống ưu đãi Chung (GSP) khi xuất sang Liên hiệp Châu Âu
Hiệp định năm 1992 giữa Việt Nam với Cộng đồng châu Âu về dệt may là một trong những thỏa thuận thương mại đầu tiên với các đối tác phương Tây Tiếp sau đó, năm 1995, một thỏa thuận hợp tác rộng hơn đã được ký kết với Liên hiệp Châu Âu với việc áp dụng quy chế Tối huệ Quốc cho Việt Nam Xuất khẩu dệt may năm 2006 đã đạt 1,2 tỷ đô la với mức tăng trưởng năm là 37% Sự tăng trưởng ngoạn mục này phần nào là nhờ việc bỏ hệ thống hạn ngạch trong Hiệp định Tiếp cận Thị trường ký kết giữa Việt Nam với Liên hiệp Châu Âu năm 2004 Tổng giá trị nhập khẩu các hàng hóa dệt may của Việt Nam đã lên đến 1,9% tổng giá trị nhập khẩu lĩnh vực này ở EU năm 2006
Cũng trong năm 2006, xuất khẩu thủy hải sản đạt 731 triệu đô la Mỹ, tăng 67,7% so với 2005 Các sản phẩm này cũng gặp phải một số khó khăn trong việc tiếp cận thị trường châu Âu do các quy định ngặt nghèo về an toàn thực phẩm
Quan hệ thương mại Việt Nam – Liên hiệp Châu Âu đã tiếp tục tăng mạnh trong năm 2006 mặc dù vẫn tồn tại một số tranh chấp Giá trị thương mại hai chiều đạt 9,9 tỷ đô la, tăng 22,2%
từ mức 8.2 tỷ của 2005, trong đó xuất khẩu tăng 25% (đạt 6.9 tỷ đô la Mỹ) và nhập khẩu tăng
16% (đạt 3 tỷ đô la Mỹ)
Trong 5 tháng đầu năm 2007, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã đạt 18 tỷ đô la Mỹ Việt Nam xuất khẩu sang Liên hiệp Châu Âu khoảng 20% số này, tương đương 3.6 tỷ đô la Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là: da giày, cà phê, dệt may, đồ gỗ và thủy hải sản Trong thời gian này Việt Nam cũng đã nhập khẩu từ thế giới khoảng 21,3 tỷ đô la, trong đó có 1,9 tỷ
từ các quốc gia thuộc Liên hiệp Châu Âu Trong cán cân thương mại chung, Việt Nam chịu thâm hụt nhưng lại đạt thặng dư thương mại trong buôn bán với Liên hiệp Châu Âu
Các công ty Việt Nam đang xuất khẩu sang Liên hiệp Châu Âu cần nâng cao chất lượng sản phẩm để đáp ứng các tiêu chuẩn, chẳng hạn như về vệ sinh thực phẩm, cũng như cần quan tâm tới các yêu cầu bảo vệ môi trường và tuân thủ luật lao động, bên cạnh việc hiện đại hóa sản xuất và áp dụng các tiêu chuẩn quản lý quốc tế: HACCP, ISO 9000, ISO 9002 và ISO 14000 Các công ty Việt Nam cần quan tâm tới ba vấn đề chính sau đây:
• Trước hết, cần hiểu rõ về thị hiếu người tiêu dùng địa phương tại châu Âu, vì Liên hiệp Châu Âu là một thị trường rộng lớn và có nhiều khác biệt từ vùng này tới vùng khác Các công ty cần hiều cách thị trường nước ngoài vận hành để điều chỉnh sản xuất của mình đáp ứng với nhu cầu
• Thứ hai, các doanh nghiệp phải tôn trọng các yêu cầu của khối Liên hiệp Châu Âu, từ vệ sinh thực phẩm đến an toàn và phá giá
• Thứ ba, Các công ty Việt Nam cần nỗ lực đáp ứng các quy định của Liên hiệp Châu Âu và nên tham gia các liên doanh nhằm học hỏi từ các đối tác nước ngoài để trở nên cạnh tranh hơn
Về quan hệ hợp tác trong tương lai của Liên hiệp Châu Âu, Ủy ban châu Âu đã đưa vào áp dụng Chính sách Quốc gia mới với Việt Nam trong giai đoạn 2007 – 2013 với ngân sách 304 triệu Euro Các khoản hỗ trợ của Ủy ban châu Âu tập trung vào hai lĩnh vực: Kế hoạch Kinh tế-Xã hội Việt Nam (SEDP) và lĩnh vực sức khoẻ Hỗ trợ về các vấn đề liên quan đến thương mại song phương và thúc đẩy các đối thoại chiến lược EC-Việt Nam cũng là một phần trong chương trình tài trợ
Việt Nam và Liên hiệp Châu Âu đang hướng tới quan hệ đối tác bình đẳng hơn và dần để lại phía sau kiểu quan hệ cho-nhận đã kéo dài 12 năm kể từ năm 1995, khi khung hợp tác thành hình
Trang 222.1.2 Xã hội
Tổng quan
Mặc dù thu nhập bình quân theo đầu người chính thức chỉ khoảng 835 đô la Mỹ, chỉ số phát triển con người HDI của Việt Nam khá tốt Điều này được thể hiện trong sự gia tăng dần dần HDI qua suốt thập kỷ trước, trong tiến bộ về các mặt giáo dục, sức khỏe và chuẩn sống So sánh về GDP đầu người, Việt Nam nằm trong nhóm cuối bảng của các nước đang phát triển trong khi chỉ số phát triển con người HDI lại trên mức trung bình của các nước đang phát triển Trong năm 2007, Việt Nam thuộc nhóm 10 nước đứng đầu về bình đằng giới
Bảng 2.8 Chỉ số Phát triển con người của Việt Nam
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 HDI 0.688 0.691 0.704 0.709 0.733
Nguồn: Báo cáo Phát triển con người của UNDP (chương trình phát triển LHQ)
Bảng 2.9 Chỉ số Phát triển con người của Việt Nam 2005
Trị số
HDI
Tuổi thọ trung bình dự kiến (năm)
3 bậc phổ thông (%)
GDP theo đầu người (PPP- sức mua tương đương US$)
Cách biệt xếp hạng thu nhập và HDI
Xếp hạng
Nguồn: Báo cáo Phát triển con người của UNDP 2005
Tuổi thọ trung bình của người Việt đã tăng đáng kể trong những năm gần đây Trong năm
1995 tuội thọ bình quân là 65,2 còn hiện nay là 73,7 năm Nguyên nhân là nhờ mức sống tăng lên, sự cải thiện của hệ thống chăm sóc sức khỏe, chất lượng cuộc sống xã hội và tinh thần gia tăng với hầu hết dân số
Hiện tượng nghèo cùng cực, được định nghĩa là có mức thu nhập dưới 1 đô la Mỹ/ngày đã giảm đáng kể và hiện nay đã có tỷ lệ thấp hơn ở Trung Quốc, Ấn Độ và Phi-lip-pin Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm tử 58% năm 1993 còn 24% năm 2004; tình hình kinh tế - xã hội được giữ ổn định Tuy vậy, nhiều người vẫn đang sống ở mức sát trên ngưỡng nghèo đói và có thể dễ dàng quay trở lại mức đó nếu có những biến động lớn về kinh tế
Bảng 2.10 Thu nhập của các nhóm 1/5 tổng dân số (2002 – 2004)
Các nhóm thu nhập chiếm 20% dân số Nghèo
nhất Sát mức Trung bình Trên trung Giàu nhất Tổng
Trang 23nghèo bình Thu nhập thực tế
Năm 2004, mặc dù thu nhập từ nông nghịêp vẫn đóng góp 56% vào thu nhập của những người
nghèo, sự gia tăng thu nhập nhờ lương là nguồn đóng góp lớn nhất cho họ Từ 2002 đến 2004,
lương đã đóng góp gần một nửa sự gia tăng thu nhập của nhóm 20% dân số nghèo nhất Nhóm
20% giàu nhất có thu nhập tương đối cân bằng giữa các nguồn khác nhau Đồng thời, các nghề
nghiệp ngoài nhà nước phi nông nghiệp là nhóm nghề có đóng góp dao động giữa các nhóm
khác nhau nhiều nhất Trong khi thu nhập từ khu vực ngoài nhà nước phi nông nghiệp chiếm
có 8% thu nhập trong nhóm 20% nghèo nhất thì đó là nguồn cung cấp hơn 25% tổng thu nhập
của nhóm trung bình và trên trung bình
Các vấn đề nổi cộm hiện nay là (1) Việt Nam cần tạo việc làm cho lực lượng lao động đông
đảo đang tăng hơn một triệu người mỗi năm, (2) vẫn còn 65% lực lượng lao động tập trung
trong ngành nông nghiệp Mỗi đầu người lao động chỉ có 0,3 ha canh tác Chính phủ Việt Nam
đặt mục tiêu mỗi ha trồng lúa đem lại thu nhập 50 triệu đồng hàng năm, tức là hơn 3.000 đô la
Mỹ (3) Một vấn đề khác là chính phủ cần thắt chặt chính sách tài chính và tiền tệ để đối phó
với tình trạng lạm phát đang tăng lên
Các vấn đề chính
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế của đất nước là các vấn đề về bất bình đẳng thu nhập và gia
tăng khoảng cách kinh tế giữa thành thị và nông thôn Tỷ lệ các hộ nghèo vẫn ở mức cao,
chiếm 14% dân số, tập trung ở các vùng miền núi và vùng sâu Khoảng 90% số người nghèo
sống ở nông thôn Điều này dẫn tới tình trạng người dân các tỉnh đổ xô về các thành phố lớn
không thể kiểm soát Chẳng hạn, các con số chính thức cho thấy dân số Hà Nội không quá 3
triệu người, nhưng trên thực tế là vào khoảng 5 triệu
Trang 24Toàn bộ hệ thống giáo dục Việt Nam đang đối mặt với khủng hoảng về giáo trình, phương pháp dạy và học lỗi thời, sự tách biệt giữa các hoạt động nghiên cứu và giảng dạy và khoảng cách lớn giữa lý thuyết với thực tế dẫn đến việc nhiều người tốt nghiệp đại học không tìm được việc làm và không có trường đại học nào của Việt Nam được công nhận quốc tế Một vấn đề khác là hệ thống y tế nghèo nàn và những người nghèo nhất không thể tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe
Khoảng cách giàu nghèo đang gia tăng Chỉ số Gini đã tăng từ 32,9% trong thời kỳ 1992-1993 lên 35,2% trong giai đoạn 1997-1998 và 37% (2005) Chỉ số Gini trong khoảng 30-45%, còn gọi là “miền phân phối hiệu quả,” là khá tương xứng với tốc độ tăng trưởng Theo tiêu chí này, mức độ không cân bằng thu nhập của Việt Nam tính theo chi tiêu vẫn nằm trong khu vực an toàn
H ình 2.7 Hệ s ố Gini của một số n ước đang phát triển
Trang 25Việt Nam 1993-2004 L
Trang 26Nguồn: ADB (2007), Bảng 4.4
* Lưu ý: Các thay đổi lũy kế trong chỉ số Gini được tính theo các số liệu về chi tiêu
Tuy Việt Nam đã có nhiều tiến bộ về sức khỏe sinh sản và bình đẳng giới, vẫn còn nhiều khoảng cách tồn tại: người dân sống ở các vùng sâu vùng xa vẫn thiếu tiếp cận với các dịch vụ
và thông tin liên quan đến sức khỏe sinh sản, ngoài ra, một bộ phận lớn dân số vẫn có cách sống thiếu lành mạnh theo quan điểm y học Phụ nữ trẻ có nguy cơ cao về các vấn đề có thai ngoài ý muốn, phá thai không an toàn và lây nhiễm các bệnh đường tình dục, gồm cả HIV Tính trên toàn quốc, tỷ lệ người nhiễm HIV tăng nhanh Vấn đề này đang trở nên nghiêm trọng hơn do sự di dân ra các thành phố và các khu công nghiệp, nơi người lao động không sống trong cộng đồng quen thuộc của mình
Về vai trò của phụ nữ, trong khi tỷ lệ phụ nữ trong các vị trí quản lý và chính trị đang gia tăng thì ở tất cả các cấp chính quyền, nhất là ở các tỉnh và địa phương, phụ nữ vẫn chưa có nhiều đại diện
Có một vài mâu thuẫn trong ngành công nghiệp Việt Nam Trong những năm gần đây, số lượng các vụ đình công đã gia tăng, chủ yếu là ở các công ty có vốn nước ngoài ở miền nam Thống kê của Tổng công đoàn Việt Nam và Tổ chức Lao động Thế giới ILO cho thấy đã có hơn 700 cuộc đình công xảy ra năm 2006 Các báo cáo cho thấy các cuộc đình công xảy ra do các vấn đề tranh chấp về pháp lý hay hợp đồng, dẫn tới cắt giảm lương, thưởng, các khoản phí bảo hiểm xã hội và bồi thường thôi việc Đôi khi các cuộc phản đối của công nhân chống lại việc làm thêm giờ đã đi quá giới hạn của luật pháp
Vẫn còn rất nhiều điều phải làm để nâng cao năng lực quản lý chính phủ, chống tham nhũng, nâng cao vai trò của báo chí và truyền thông và tạo ra cũng như thúc đẩy môi trường kinh doanh thuận lợi Các khung pháp lý phù hợp tạo điều kiện cho sự tham gia sâu hơn vào cuộc
Nepal
1995-2003 Cambodia 1993-
2004 Bangladesh 1991-
2005 India 1993-
2004 Taiwan 1993-
2003
Tajikistan 2003
1999-Turkmenistan
1998-2003
Malaysia 1993-2004 Kazakhstan 1996-2003
%
Indonesia 1993-2002
Thailand 1992-2002 Armenia 1998-2003 Mongolia 1995-2002
Trang 27sống xã hội của người dân, cho sự phát triển xã hội dân sự, hay thúc đẩy tính minh bạch và tín nhiệm ở tất cả các cấp vẫn chưa đầy đủ
2.1.3 Môi trường
Tổng quan
Môi trường Việt Nam đang chịu những áp lực từ sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, sự đô thị hóa và gia tăng dân số Các yếu tố này gây sức ép lên các nguồn tài nguyên thiên nhiên tương đối hạn chế Trong khi các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường vẫn đang dần được hoàn thiện thì khả năng thực thi chúng đang rất hạn chế Do vậy, tốc độ tăng trưởng nhanh (dự kiến
sẽ có quy mô gấp đôi trong 10 năm tới) và những khoản đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng có thể là những mối đe dọa tới môi trường và sự phát triển bền vững của đất nước Việt Nam là một trong những nước có mật độ dân số cao nhất thế giới với 258 người/km2, thậm chí còn hơn 2 lần so với Trung Quốc
Sản lượng công nghiệp tăng trung bình 15%/năm từ 1995 đến 2004, với những gia tăng nhanh nhất thuộc khối nhà nước (dầu khí, điện và xi măng) Các doanh nghiệp này có thành tích nghèo nàn về môi trường do sử dụng trang thiết bị lạc hậu, thiếu sự quản lý thích hợp và yếu kém trong xử lý phát thải khí và nước thải Nhiều chất ô nhiễm công nghiệp có nguy cơ cao đối với sức khoẻ vẫn bị thải ra môi trường Chính phủ Việt Nam đã áp thuế và phí đối với nước thải (Nghị định 67/2003/NĐ-CP, Ngày 13 tháng 6/2003) và đưa vào áp dụng Quyết định của Thủ tướng chính phủ về di dời và đóng cửa hoặc buộc phải áp dụng các công nghệ sạch (Quyết định 64/2003/QĐ-TTG, 22 tháng 4/ 2003), nhưng các quy định này cần được thực thi nghiêm túc trên thực tế
Một phần đáng kể các chất thải khí và nước thải ở các vùng nông thôn là từ các công ty vừa và nhỏ Các công ty này thường sử dụng quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thiếu, thậm chí không có các cơ sở xử lý ô nhiễm
Các vấn đề chính
Bạc màu đất: Phần lớn đất của Việt Nam được xếp vào loại đang bị bạc màu và giảm chất
lượng Khoảng 50% diện tích đất có chất lượng thấp do các hoạt động của con người Mặc dù Việt Nam phụ thuộc nặng nề vào nông nghiệp (là sinh kế của 78% dân số), xói mòn đất và bạc màu là những vấn đề cần quan tâm với những tác hại tiềm năng với nền kinh tế trong tương lai
Các nguồn lợi lâm sản: Mặc dù tỷ lệ phủ xanh của rừng đang tăng lên (37.6%), chất lượng
của rừng lại đang suy giảm Những khu rừng giàu lâm sản và trung bình chỉ còn lại ở những khu vực đồi núi dốc đứng không thích hợp cho các mục đích sử dụng đất khác Các nguy cơ đối với diện tích rừng bao gồm chặt rừng làm đất nông nghịêp, khai thác gỗ và các lâm sản khác một cách thiếu bền vững cho các mục đích thương mại và sinh tồn, và cuối cùng là cháy rừng Chương trình quốc gia về trồng 5 triệu ha rừng đang triển khai với tốc độ rất chậm
Các nguồn lợi thủy hải sản: Các hoạt động kinh tế ở các vùng lãnh hải và duyên hải được
quản lý bởi khu vực tư nhân và còn thiếu sự phối hợp giữa các bên liên quan Điều này dẫn đến cách khai thác các nguồn lợi thiếu bền vững Các khu rừng phòng hộ ven biển Việt Nam đang bị chuyển đổi mục đích sử dụng (nuôi tôm, đào kênh hay đổ bùn nạo vét lòng sông)
Đa dạng sinh học: với phần lớn các loài sinh vật, tổng số các cá thể trong quần thể đang giảm
sút và với một số loài, số cá thể còn lại ít hơn mức duy trì Một số loài mới được phát hiện gần đây, nhưng chúng cũng đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trước khi có các hoạt động bảo tồn hữu hiệu do không gian sống của chúng đang thu hẹp với tốc độ báo động
Các tài nguyên khoáng sản và nước ngầm: công tác quản lý khoáng sản khá yếu kém, các
hoạt động khai thác bất hợp pháp khá phổ biến trong nhiều địa phương Chất lượng nước ngầm nói chung khá ổn định và thích hợp cho các mục đích sử dụng sinh hoạt, ngoại trừ các khu vực đang là điểm nóng về ô nhiễm mạch nước ngầm Tại các vùng đồng bằng Sông Hồng
Trang 28và Sông Cửu Long, việc khai thác nước ngầm quá mức đã dẫn đến tình trạng hạ thấp mức nước ngầm và sụt lún các công trình xây dựng
Tài nguyên nước mặt: Việt Nam đã gia nhập các quốc gia có lượng tài nguyên nước tính theo
đầu người thấp Nước mặt trên các con sông hạ lưu nói chung có chất lượng kém, không thích hợp để dùng cho các mục đích sinh hoạt và dẫn đến sự suy giảm hệ sinh thái nước ngọt Chất lượng nước kém nhất ở các khu vực thành thị Nhiễm mặn là một vấn đề đặc biệt cần quan tâm ở Đồng bằng Sông Cửu Long và đồng bằng Sông Hồng Do thiếu sự hợp tác của các nước lưu vực Mê Kông, con sông này đang ngày càng ít nước, chủ yếu do việc đã và đang xây dựng
hệ thống bậc thang thủy điện khổng lồ của Trung Quốc ở đầu nguồn Những năm gần đây, mức nước mùa khô ở các nước ở hạ lưu Mê Kông:Lào, Campuchia được ghi nhận đã xuống mức kỷ lục Cùng với vấn đề này là sự ô nhiễm do các hoạt động sinh hoạt và công nghiệp Hệ thống sông Nhuệ - Đáy ở miền bắc đang chết dần, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của cộng đồng địa phương
Ô nhiễm và quản lý chất thải: Chất lượng không khí hiện là vấn đề nổi cộm đối với các khu
công nghiệp và đô thị Các nguồn gây ô nhiễm chủ yếu là các nhà máy, các nhà máy điện, chất đốt sinh học dùng cho mục đích đun nấu và sưởi ấm (các vùng phía bắc) Các phương tiện giao thông cơ giới là những nguồn ô nhiễm chính đối với không khí Phần lớn các bãi rác thải
và chôn lấp đều được quản lý và duy trì yếu kém Việt Nam vẫn thiếu công nghệ xử lý chất thải tiên tiến Nhận thức của mọi người về phòng ngừa ô nhiễm vẫn còn rât thấp Phân loại rác tại nguồn vẫn chưa thực sự được áp dụng, mặc dù nhiều dự án về lĩnh vực này đã và đang được triển khai (ví dụ về dự án 3R ở Hà Nội- www.3r-hn.vn)
Quản lý môi trường công nghiệp: Các hoạt động công nghiệp đóng góp đáng kể vào sự suy
thoái môi trường về ô nhiễm âm thanh, không khí và nước Các tiêu chuẩn kỹ thuật thấp, đi cùng với sự yếu kém trong quan trắc và thực thi các tiêu chuẩn môi trường đã làm trầm trọng thêm các vấn đề ô nhiễm môi trường liên quan đến công nghiệp Bên cạnh đó, trong khi tập trung vào phát triển công nghiệp với tốc độ tối đa, chính phủ dường như đã giảm mức độ ưu tiên việc áp dụng các luật bảo vệ môi trường và hệ thống tính phí sử dụng nước và các tài nguyên khác, cũng như các loại phí nước thải và chất thải
Quản lý các nguy cơ và thảm họa thiên nhiên: Việt Nam nằm trong vùng có nguy cơ về bão,
lụt, hạn hán, lở đất và nhiễm mặn Các thiệt hại do các thảm họa thiên nhiên hàng năm trung bình khoảng 200 triệu đô la Mỹ Ảnh hưởng của thiên tai thường tập trung vào dân cư sống ở các vùng đất thấp, chiếm khoảng 72% tổng dân số
Thay đổi khí hậu: Như đã được dự báo trước, cùng với tốc độ công nghiệp hóa nhanh chóng
và cải thiện mức sống, phát thải các khí nhà kính của Việt Nam đang gia tăng, đóng góp thêm vào mức phát thải chung toàn cầu Mức nước biển dự báo sẽ tăng từ 13-94 cm vào năm 2100
sẽ ảnh hưởng đến đời sống của 72% dân số Việt Nam sống ở đồng bằng và duyên hải, nhất là các vùng đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long Các vấn đề trầm trọng nhất do mực nước biển tăng lên sẽ là nhiễm mặn và mất đi một lượng đáng kể diện tích canh tác
2.1.4 Tình hình và bối cảnh xã hội
Cơ cấu chính phủ, chính sách và chiến lược
Việt Nam là một nước xã hội chủ nghĩa với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Quốc hội họp 5 năm một lần để đề ra đề cương định hướng cho sự phát triển đất nước cũng như thông qua các sách lược
Quốc hội có 498 đại biểu và mở rộng cho cả các thành viên ngoài đảng Quốc hội là cơ quan lập pháp và lập hiến duy nhất Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ được bầu ra bởi Quốc hội
Chủ tịch nước có quyền chỉ định ứng cử viên cho các vị trí chủ chốt bao gồm Chánh án Tòa án Nhân dân và Viện trưởng Viện Kiểm sát Tối cao Các ứng viên sau đó được xem xét và thông qua bởi Quốc hội
Trang 29Thủ tướng Chính phủ chịu trách nhiệm về điều hành Chính phủ thường xuyên, có quyền đề cử
và miễn nhiệm các thành viên nội các, nhưng phải có sự chuẩn y của Quốc hội Thủ tướng cũng có quyền phủ quyết hay tạm ngưng các quyết định hay chỉ thị của các bộ trưởng trong chính phủ
Chính sách và chiến lược
Mục tiêu tổng quát của Chiến lược 10 năm 2001 - 2010 là:
Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao Mục tiêu cụ thể của Chiến lược là:
- Đưa GDP năm 2010 lên ít nhất gấp đôi năm 2000 Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và nền kinh tế; đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng thiết yếu, một phần đáng kể nhu cầu sản xuất và đẩy mạnh xuất khẩu Ổn định kinh tế vĩ mô; cán cân thanh toán quốc tế lành mạnh và tăng dự trữ ngoại tệ; bội chi ngân sách, lạm phát, nợ nước ngoài được kiểm soát trong giới hạn an toàn và tác động tích cực đến tăng trưởng Tích luỹ nội
bộ nền kinh tế đạt trên 30% GDP Nhịp độ tăng xuất khẩu gấp trên 2 lần nhịp độ tăng GDP
Tỷ trọng trong GDP của nông nghiệp 16 - 17%, công nghiệp 40 - 41%, dịch vụ 42 - 43% Tỷ
lệ lao động nông nghiệp còn khoảng 50%
- Nâng lên đáng kể chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta Tốc độ tăng dân số đến năm
2010 còn 1,1% Xoá hộ đói, giảm nhanh hộ nghèo Giải quyết việc làm ở cả thành thị và nông thôn (thất nghiệp ở thành thị dưới 5%, quỹ thời gian lao động được sử dụng ở nông thôn khoảng 80-85%); nâng tỷ lệ người lao động được đào tạo nghề lên khoảng 40% Trẻ em đến tuổi đi học đều được đến trường; hoàn thành phổ cập trung học cơ sở trong cả nước Người có bệnh được chữa trị; giảm tỷ lệ trẻ em (dưới 5 tuổi) suy dinh dưỡng xuống khoảng 20%; tăng tuổi thọ trung bình lên 71 tuổi Chất lượng đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần được nâng lên
rõ rệt trong môi trường xã hội an toàn, lành mạnh; môi trường tự nhiên được bảo vệ và cải thiện
- Năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ đủ khả năng ứng dụng các công nghệ hiện đại, tiếp cận trình độ thế giới và tự phát triển trên một số lĩnh vực, nhất là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hoá
- Kết cấu hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và có bước
đi trước Hệ thống giao thông bảo đảm lưu thông an toàn, thông suốt quanh năm và hiện đại hoá một bước Mạng lưới giao thông nông thôn được mở rộng và nâng cấp Hệ thống đê xung yếu được củng cố vững chắc; hệ thống thủy nông phát triển và phần lớn được kiên cố hóa Hầu hết các xã được sử dụng điện, điện thoại và các dịch vụ bưu chính - viễn thông cơ bản, có trạm xá, trường học kiên cố, nơi sinh hoạt văn hóa, thể thao Bảo đảm về cơ bản cơ sở vật chất cho học sinh phổ thông học cả ngày tại trường Có đủ giường bệnh cho bệnh nhân
- Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước được tăng cường, chi phối các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế; doanh nghiệp nhà nước được đổi mới, phát triển, sản xuất, kinh doanh có hiệu quả Kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đều phát triển mạnh và lâu dài Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản và vận hành thông suốt, có hiệu quả
Các mục tiêu tổng quát cho đến 2020:
Việt Nam đã chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào tháng 1/ 2007 Đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức cho nền kinh tế Việt Nam Để đạt được mục tiêu trở thành một nước công nghiệp và hiện đại hóa vào năm 2020, Việt Nam cần đạt được các mục tiêu sau:
Trang 30- Đảm bảo rằng năm 2020, GDP sẽ bằng 4 lần quy mô của năm 2000, mức tăng trưởng GDP bình quân phải là 7,2%/năm Mục tiêu tăng trưởng GDP của năm 2007 là 8,5% Để đạt được trình độ phát triển như của Thái Lan hiện nay vào năm 2020, Việt Nam cần duy trì đà tăng trưởng liên tục từ 9,2-10% từ nay tới đó Thu nhập bình quân đầu người vào năm 2020 phải cao hơn mức của năm 2000 từ 3,3 đến 3,6 lần (phụ thuộc vào mức độ gia tăng dân số vào khoảng 1,3-1,5%/năm)
- Mục tiêu kinh tế - xã hội được phản ánh bởi chỉ số phát triển con người (HDI) Với quan điểm đón đầu, dự kiến đến 2020 xếp hạng chỉ số phát triển con người của Việt Nam sẽ tăng 25-30 bậc trong bảng so sánh của Tổ chức Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) Hiện tại Việt Nam xếp hạng 105 trong số 177 quốc gia trong bảng xếp hạng năm 2007)
- Về kinh tế và đời sống, cần tạo công việc làm và thu nhập cho mọi đối tượng trong độ tuổi làm việc, hoàn toàn xóa bỏ tình trạng thiếu đói và thiếu dinh dưỡng trẻ em Giảm khoảng cách giàu nghèo xuống mức thấp so với các nước khác trong khu vực
- Đào tạo và nghiên cứu khoa học: Các trường đại học lớn, các viện nghiên cứu và các khu công nghệ cao sẽ là những nguồn cung cấp và động lực chính cho sự đổi mới công nghệ và nâng cao tính cạnh tranh của quốc gia Cần đầu tư phát triển mạnh các trường đại học và viện nghiên cứu trọng điểm
- Sức khoẻ Cộng đồng: Phát triển y tế phòng ngừa, cải thiện các chỉ số y tế cho nhân dân Đặt trọng tâm vào các chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản và trẻ em; ngăn ngừa các bệnh không truyền nhiễm như tim mạch, ung thư, tai nạn và chấn thương, tiêu đường, bệnh nghề nghiệp, thần kinh, nhiễm độc và kiểm soát các bệnh liên quan đến lối sống thiếu lành mạnh như nghiện ma túy, nhiễm HIV/AIDS Nâng cao tính hiệu quả của tiếp cận y tế bình đẳng, đặc biệt là các dịch vụ khám chữa bệnh Ngoài ra, hệ thống chăm sóc y tế cần được phát triển đến từng gia đình và cá nhân
Các chương trình, dự án trong lĩnh vực liên quan đã thực hiện hoặc dự kiến sẽ thực hiện
1- Nhiều sáng kiến về SXSH đã được áp dụng trong 10-15 năm qua ở Việt Nam, bao gồm (danh sách chưa hoàn chỉnh):
- Trung tâm Sản xuất Sạch Việt Nam (TTSXSVN): Trung tâm được thành lập năm 1998 trong
khuôn khổ chương trình của UNIDO/UNEP (Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc
và Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc) về thúc đẩy và triển khai SXSH tại Việt Nam Trong 10 năm qua, TTSXSVN đã thực hiện 2 giai đoạn của chương trình Trong giai đoạn đầu, TTSXSVN khởi đầu với việc đào tạo, đánh giá và phổ biến thông tin về SXSH trong các ngành công nghiệp khác nhau Công tác đào tạo SXSH nhằm xây dựng năng lực cho các công
ty, các chuyên gia, các nhà tư vấn và các cơ quan quản lý nhà nước Các đánh giá SXSH thực hiện tại các doanh nghiệp trình diễn để minh chứng tính khả thi và hiệu quả của SXSH trong điều kiện Việt Nam Các hoạt động phổ biến thông tin đã được thực hiện trên phạm vi toàn quốc để giới thiệu về SXSH và nâng cao nhận thức về nó Trong giai đoạn hai (đang thực hiện), từ 2005 đến 2008, TTSXSVN tiếp tục thúc đẩy và triển khai khái niệm sản xuất công nghiệp với hiệu suất sinh thái thông qua SXSH và Chuyển giao Công nghệ Sạch Phạm vi hoạt động của TT đã mở rộng sang các lĩnh vực liên quan khác có thể áp dụng các kỹ thuật SXSH
- SXSH trong Công nghiệp (2005-2010) Đây là hợp phần của “Chương trình hợp tác phát
triển môi trường” của Đan Mạch với mục tiêu dài hạn là mang lại lợi ích cho người lao động
và cộng đồng xung quanh từ việc kiểm soát ô nhiễm công nghiệp Hợp phần này bao gồm xây dựng năng lực và trình diễn kỹ thuật tại các điểm nóng về ô nhiễm, có kết hợp với các vấn đề
về sức khỏe nghề nghiệp và cải thiện đời sống người lao động cũng như đưa ra chiến lược SXSH lâu dài cho các doanh nghiệp lớn Hợp phần do Bộ Công thương điều hành và là một
Trang 31phần của định hướng mới của Bộ này đặt trọng tâm vào SXSH và các vấn đề môi trường nói chung
- Trung tâm SXS Thành phố Hồ Chí Minh: Trung tâm thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường
Thành phố Hồ Chí Minh Trung tâm cung cấp các dịch vụ về đào tạo và đánh giá SXSH
- Các chương trình khác (danh sách chưa đầy đủ):
- SEAQIP (2000 - 2005), là chương trình do Chính phủ Đan Mạch tài trợ cho Bộ Thủy sản cũ
SXSH là một phần tích hợp trong Chương trình về Xuất khẩu Thủy hải sản và Cải tiến Chất lượng (SEAQIP) Mục tiêu của chương trình này là nâng cao thu nhập nhờ xuất khẩu thủy hải sản qua chế biến nhờ áp dụng các hoạt động nuôi trồng và chế biến thân thiện môi trường
- Dự án Giảm ô nhiễm công nghiệp ở TP Hồ Chí Minh (Giai đoạn II và III, 2001-2004) Dự án
đặt mục tiêu giản tác hại môi trường do hoạt động công nghiệp tại Thành phố thông qua áp dụng cơ chế phát triển và xây dựng năng lực kỹ thuật để thúc đẩy việc triển khai đại trà SXSH trong ngành công nghiệp địa phương
2- Các cuộc thi thiết kế sản phẩm, chủ yếu tập trung vào hình thức và kiểu dáng, được tổ chức hàng năm trong nhiều lĩnh vực: may mặc, da giày và thủ công mỹ nghệ Các sự kiện này được
tổ chức bởi các hiệp hội ngành, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và các bộ liên quan: Bộ Công thương, Bộ Giáo dục và Đào tạo
2.1.5 Nguồn lực sẵn có của Việt Nam về ThP (Thiết kế Sản phẩm Bền vững) và các
tiềm năng về ThP
Các nguồn lực sẵn có về ThP
Được thừa kế từ thời kinh tế kế hoạch hóa kiểu Liên Xô, mỗi ngành (thậm chí tiểu ngành) ở Việt Nam đều có ít nhất một viện nghiên cứu thuộc nhà nước với sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, số lượng và chất lượng các công ty và các nhà tư vấn và thiết kế độc lập cũng tăng lên rất nhanh Bên cạnh đó, nhiều công ty lớn cũng đã có phòng thiết kế và phát triển sản phẩm của mình
Tuy nhiên, do sự tụt hậu của ngành giáo dục và đào tạo vẫn chịu sự quản lý quan liêu chặt chẽ, phần lớn các trường đại học, cao đẳng và trường nghề vẫn chưa giảng dạy môn Thiết kế và Phát triển Sản phẩm Sự phát triển sản phẩm một cách có hệ thống, với các nhu cầu của khách hàng và thị trường được định lượng cụ thể thành thời gian và sự đầu tư cần thiết của công ty vẫn còn là mới mẻ với hầu hết các giảng viên đại học Gần đây khối công nghiệp, được thúc đẩy bởi các nhà đầu tư nước ngoài, đã có những kiến nghị về vấn đề này với các nhà lập chính sách
Các tổ chức như Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI), Hiệp hội các nhà Sản xuất và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam, Hiệp hội da giày Việt Nam là các đơn vị năng động nhất trong việc thúc đẩy tính bền vững trong các sản phẩm Họ đã tổ chức các cuộc thi thiết
kế, hội thảo và đào tạo về các chủ đề có liên quan đến phát triển bền vững Một số ngành nghề
đã có các trung tâm hoặc viện thiết kế riêng của mình
Các công ty hàng đầu của Việt Nam tỏ ra hiểu rõ tầm quan trọng của phát triển bền vững Một
số sản phẩm của Việt Nam đã được biết đến trên thế giới về chất lượng Trong số này, các thương hiệu Trung Nguyên, Minh Long, Thái Tuấn là những ví dụ điển hình Đây là những bài học tốt cho các công ty khác của Việt Nam noi theo, nhất là trong bối cảnh các doanh nghiệp này vẫn chú trọng đến “chiến thắng trong một trận đánh” hơn là “thắng lợi của cả cuộc chiến”- thứ tư duy chủ đạo đưa đến tình trạng làm ăn chộp giật và kém bền vững hiện nay Hiện nay, phần lớn các nhà thiết kế và phát triển sản phẩm (nếu có thể gọi như vậy) của ta đều được đào tạo trong nước Số người học nước ngoài về tuy ít nhưng đang tăng lên Các nhà tư vấn và thiết kế sản phẩm trong các ngành “thời thượng” đang được trả công rất cao Đây là động lực hấp dẫn những người trẻ và có tài đăng ký học thiết kế và phát triển sản phẩm trong các ngành này Dù vậy, đổi mới sản phẩm ở ta vẫn rất hạn chế do các nhà phát triển sản phẩm
có kinh nghiệm thường không được đào tạo bài bản, các kiến thức họ học được trong trường
Trang 32đã lạc hậu Ở các làng nghề cũng có những nghệ nhân giỏi về đưa ra các thiết kế sản phẩm mới, nhưng phong cách của họ tương đối lỗi thời và thường tập trung vào các thay đổi bên ngoài
Nhu cầu lớn của xã hội về thiết kế và trang trí nội thất cho các nhà hàng, khách sạn, văn phòng
và biệt thự đã thúc đẩy mạnh sự phát triển của ngành thiết kế và tư vấn trang trí nội thất Đây cũng có thể coi là một nguồn đào tạo nhân lực tốt cho nâng cao năng lực thiết kế hướng tới phát triển bền vững trong tương lai
Các nguồn lực cho Thiết kế hướng tới Phát triển Bền vững cũng có thể đến từ hpựp tác quốc
tế Số lượng các công ty có vốn đầu tư nước ngoài trong ngành thiết kế đã tăng đáng kể Tại các công ty này, các chuyên gia quốc tế làm việc cùng với các nhà thiết kế trong nước và năng lực thiết kế phát triển sản phẩm được hình thành qua công việc hàng ngày
Tiềm năng về ThP của Việt Nam
Việt Nam có một tiềm năng to lớn về áp dụng ThP (ThP - Thiết kế Phát triển bền vững: Thiết
kế sản phẩm với định hướng Phát triển Bền vững- hay còn gọi là thiết kế sản phẩm bền vững) Chu kỳ phát triển theo chiều rộng của các ngành sản xuất Việt Nam đã gần như kết thúc Lợi thế về nhân công rẻ cũng đang giảm dần do mức sống của đại bộ phận dân chúng tăng nhanh
và sự cạnh tranh từ các nước ASEAN hay các nước đang phát triển ở Nam Á khác Trong khi
đó, rất nhiều nhóm sản phẩm của Việt Nam có tiềm năng nâng cao giá bán thông qua tăng giá trị thương hiệu Bên cạnh đó, các chuyên gia thiết kế người Việt, nhất là những người trẻ tuổi
và đựoc đào tạo tốt, tỏ ra có tính sang tạo, nhanh nhậy và có kỹ năng máy tính tốt Đây là những tiền đề tốt để triển khai ThP và nhân rộng ở Việt Nam như là một cung cụ thúc đẩy sự phát triển theo chiều sâu và mang tính bền vững cao hơn
Hiện ở Việt Nam chưa có sự kết hợp giữa các tiêu chí phát triển bền vững vào với thiết kế và phát triển sản phẩm Bản thân các hoạt động Thiết kế và Phát triển Sản phẩm cũng còn yếu trong phần kết hợp các yếu tố thị trường, thị hiếu khách hàng Đặc biệt, sự kết hợp giữa quá trình và sản phẩm vẫn mang tính tự phát, chưa có nhiều doanh nghiệp có đủ tầm nhìn hay năng lực trong việc chuyển sang một tầm cao mới và một hệ thống khác biệt về cơ bản với hệ thống sản xuất - sản phẩm cũ Do đó, sự kết hợp giữa Sản xuất sạch hơn và Thiết kế Phát triển Sản phẩm là chưa có Thiết kế sinh thái (EcoDesign) đã được nhắc đến từ khá lâu, vẫn bị coi
là quá xa vời và không thích hợp ở Việt Nam
Rào cản lớn nhất trong áp dụng ThP ở Việt Nam là nhận thức và tầm nhìn của lãnh đạo các doanh nghiệp vừa và nhỏ Tâm lý an phận, chấp nhận gia công theo đơn đặt hàng vẫn là phổ biến Sự cạnh tranh không lành mạnh và phong cách làm ăn “chộp giật” giữa các doanh nghiệp cùng ngành càng làm trầm trọng tính thiếu bền vững trong phát triển sản phẩm của Việt Nam Sự trói buộc ngay trong suy nghĩ của lãnh đạo đã cảnh trở doanh nghiệp dấn thân vào con đường tất yếu phải đi này
Khó khăn lớn thứ hai là Việt Nam hiện thiếu các cơ sở đào tạo nhân lực cho ngành đổi mới sản phẩm Nguyên nhân lớn nhất là do hệ thống giáo dục chậm đổi mới Hiện có rất ít các trường giảng dạy môn phát triển sản phẩm Kiến thức về đổi mới sản phẩm thường nằm rải rác trong các môn học liên quan hoặc do tự học mà có Đội ngũ giảng viên của các trường đại học cũng chưa bắt kịp với nhu cầu của xã hội trong lĩnh vực này
Trong các lĩnh vực dệt may và da giày, đã có nhiều nhà tạo mẫu, nhà thiết kế và nhiều công ty thiết kế thuộc các khu vực tư nhân và nhà nước Các đơn vị này hiện đang phát triển mạnh với xuất phát điểm là thị trường trong nước Các nhãn hiệu uy tín có thể kể đến là Canifa, Viettien, Dệt kim Đông Xuân, May 10, Thái Tuấn Với một dân số lớn và nhu cầu về sản phẩm an toàn đang tăng mạnh, các sản phẩm trong nước với thiết kế mang bản sắc Việt và phù hợp với đời sống (các điều kiện về thời tiết, thị hiếu và văn hoá) sẽ có nhiều cơ hội cạnh tranh và phát triển
Trang 33Trong ngành nội thất, nhất là đồ gỗ, các doanh nghiệp chủ yếu là gia công theo thiết kế nước ngoài Trước những chuyển biến về thị hiếu và sức mua trong nước, các sản phẩm đồ gỗ cao
và trung cấp ngày càng được tiêu thụ tốt hơn Khi các nhà sản xuất trong nước còn đang bỏ ngỏ mảng thị trường này thì các nhà nhập khẩu đã lấp kín chỗ trống với các sản phẩm gỗ trung
và cao cấp từ Đài Loan, Malay Các nhà sản xuất trong nước bắt đầu có phản ứng với các sản phẩm đồ gỗ cao cấp mang sắc thái truyền thống Chẳng hạn như các sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ
đã và đang tiêu thụ rất tốt từ nhiều năm nay Ngành đồ gỗ đang mở rộng và phát triển nhanh chóng nhưng chưa phải là theo chiều sâu Các doanh nghiệp đang tập trung vào chiếm lĩnh nhanh chóng các thị trường xuất khẩu khổng lồ mà Việt Nam có ưu thế tuyết đối về nhân công
rẻ chất lượng cao Tuy nhiên các yếu tố không bền vững không giảm đi mà còn tăng lên trong ngành do nhu cầu lớn về nguyên liệu gỗ các loại dẫn đến chặt phá rừng ở trong nước cũng như các nước lân cận, khai thác gỗ non không đúng quy cách và sản xuất gỗ công nghiệp tràn lan
từ các công nghệ cũ không thân thiện môi trường và nguy hiểm cho người sử dụng
Tiềm năng về ThP trong ngành nội thất nói chung và ngành đồ gỗ nói riêng là to lớn do các động lực bên trong và bên ngoài ngành nhiều và bức thiết Các sản phẩm này không quá phức tạp ở khâu thiết kế và phát triển sản phẩm Tuy nhiên sự hấp dẫn của phát triển bề rộng nhằm
“chiếm chỗ” ở các thị trường xuất khẩu chính là sự cản trở lớn nhất cho việc áp dụng ThP ở Việt Nam Một nhóm sản phẩm có lẽ có tính khả thi áp dụng ThP nhất ở Việt Nam là sản phẩm sử dụng nguyên liệu kết hợp: gỗ - giấy - vải - sắt Loại sản phẩm này giúp giảm cơn khát
về nguyên liệu gỗ và có thị trường tiêu thụ tốt với giá bán có lợi cho người sản xuất Đây có thể là xuất phát điểm hợp lý cho ngành nội thất Việt Nam
Trong ngành thủ công, Việt Nam có truyền thống xuất khẩu sang các nước Đông Âu và Liên
Xô cũ khá thành công Ngành này có truyền thống lâu đời, nhất là những sản phẩm mang đậm màu sắc văn hoá địa phương và cộng đồng Một xu hướng đang xuất hiện là sự tham gia của các nhà dân tộc học, các nhà văn hoá vào phát triển các sản phẩm thủ công Tuy nhiên chuỗi cung trong ngành này đang rất thiếu tổ chức, có quá nhiều nhà trung gian và thiếu một “luật chơi” công bằng Các doanh nghiệp tranh nhau nguồn nguyên liệu và xuất hiện những đầu nậu thao túng và độc quyền nguồn cung nguyê n liệu Điều này dẫn đến sự khai thác vô tổ chức làm cạn kiệt nguồn tài nguyên Một ví dụ điển hình là các sản phẩm mây tre đang rất thiếu nguyên liệu đầu vào và phải dựa ngày càng nhìeu vào nhập khẩu, chủy yếu từ Lào Điều này lại dẫn đến sự tàn phá rừng tại nước này Ngoài ra, do có quá nhiều nhà trung gian và sản phẩm qua nhiều cấp độ gia công nên mức độ thu nhập của người lao động khá thấp Trong ngành này, thiết kế vẫn chủ yếu tập trung vào mẫu mã và hình dạng bên ngoài của sản phẩm
mà chưa có nhiều quan tâm đến các yếu tố: công năng sản phẩm, an toàn với người sử dụng,
sự “công nghiệp hoá” trong quá trình sản xuất để nâng cao năng suất và chất lượng đồng thời giảm chi phí và cải thiện điều kiện làm việc của người lao động Có thể nói rằng, thủ công mỹ nghệ là một trong những ngành có thế mạnh nhất, đồng thời lại có có tiềm năng nhất và khả thi nhất trong áp dụng ThP ở Việt Nam nhờ các thế mạnh sẵn có, số lượng lao động khổng lồ hiện có và tiềm năng của ngành cũng như các yếu tố thiếu bền vững của sản xuất và sản phẩm
và tính khả thi trong giải quyết các vấn đề này trong khâu thiết kế và phát triển sản phẩm Ngành công nghiệp thực phẩm, trong đó nổi bật là chế biến thuỷ hải sản đang là mũi nhọn phát triển của Việt Nam và dành được nhiều ưu tiên từ chính phủ cũng như các địa phương nhờ tầm quan trọng trong tạo công ăn việc làm và gián tiếp thúc đầy sự phát triển của khối nông nghiệp với 65% lực lương lao động Sư gia tăng mạnhmẽ về giá và nhu cầu của thế giới
về các sản phẩm nông sản Việt Nam càng nhấn mạnh tầm quan trọng của ngành này Việt Nam đang trở thành một quốc gia nổi tiếng về các sản phẩm nông nghiệp với vai trò quan trọng trên các thị trường hạt tiêu, điều, cà phê, cao su, gạo, cá tra – ba sa, tôm, nhuyễn
Trang 34thể…Các sản phẩm hoa, rau quả, cacao cũng nổi tiếng là ngon và rẻ, do vậy có rất nhiều tiềm năng để phát triển Ngành cũng đang đứng trước nhu cầu phát triển thương hiệu nông sản Việt Nam cũng như thương hiệu của các doanh nghiệp Việt Nam do sản xuất nông nghiệp hầu như
đã đạt ngưỡng về sản lượng và đang buộc phải chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu, chủ yếu là chất lượng và giá bán Một ví dụ điển hình là café Việt Nam đứng thứ hai thế giới
về sản lượng xuất khẩu nhưng chỉ đứng thứ tư về giá trị Bên cạnh đó, các vấn đề về an toàn thực phẩm, xuất xứ sản phẩm, truy nguyên và điều kiện làm việc của người lao động là những đòi hỏi đặc thù càng thúc đẩy nhu cầu chuyển sang sự phát triển bền vững hơn ThP là một trong những công cụ mạnh không thể bỏ qua trong xu thế này Sự khả thi của áp dụng ThP trong ngành cũng khá rõ rang nhờ các nguồn lực sẵn có cho Thiết kế Phát triển Sản phẩm và ThP (cần nhớ rằng các thành tựu khoa học chính của Việt Nam trong 3 – 4 thập kỷ qua là trong nông nghiệp và sản lượng gạo Việt Nam, ví dụ cao 4 lần Thái Lan với giá xuất khẩu và chất lượng xấp xỉ nhau
Tóm lại, tiềm năng áp dụng ThP ở Việt Nam là rất lớn và thời điểm để áp dụng là rất bức thiết Một điều ngạc nhiên là vì sao các ngành sản xuất của Việt Nam vãn chưa có những chuyển biến mạnh mẽ trong lĩnh vực này Có lẽ lý do lớn nhất là ở tầm nhìn hạn chế và thiếu những nguồn lực cần thiết và các kinh nghiệm áp dụng thành công để khuyến khích các doanh nghiệp dấn thân Tuy nhiên tiềm năng to lớn không phải là một sự đảm bảo tất yếu cho thành công Điều này còn cần cách tiếp cận hợp lý và các nguồn lực về ThP được sử dụng tối ưu Đó cũng
là những thách thức và rủi ro cho dự án này
2.2 Phân tích cho từng ngành nghề
2.2.1 Tổng quan: các ngành nghề quan trọng nhất trong nền kinh tế và xuất khẩu
Nông nghiệp là lĩnh vực kinh tế rất quan trọng của Việt Nam Có 65% số lao động tập trung trong ngành này Mặc dù mức đóng góp cho nền kinh tế chỉ là 20%, so với 40% của 20 năm trước đây, nông nghiệp vẫn tạo ra sự ổn định trong tăng trưởng kinh tế và thu hút lao động phổ thông, đồng thời giảm bớt sự di dân ồ ạt ra thành phố Về nông sản, Việt Nam là nhà xuất khẩu lớn nhất thế giới về hạt tiêu, thứ hai về cà phê và gạo Các mặt hàng quan trọng của nông nghiệp nước ta là hạt tiêu, cà phê, cao su, gạo, hạt điều và thủy sản
Lĩnh vực công nghiệp đã tăng trưởng nhanh chóng, đạt 40% GDP với số ngành nghề khá đa dạng Các ngành công nghiệp chính hiện nay là dệt may, da giày, xi măng, xe máy, luyện cán thép và khai khoáng Tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp (bao gồm cả xây dựng) trong năm 2004 là 10,2% và trong năm 2005 là 10,6%
Lĩnh vực dịch vụ đã đạt mức tăng trưởng 8,5%, đóng góp 38,2 vào GDP năm 2006
Bảng 2.11 Tỷ lệ đóng góp cho nền kinh tế của 3 lĩnh vực (% GDP)
2002 2003 2004 2005 2006
Nguồn: Thống kê quốc gia của Ngân hàng Thế giới
Bảng 2.12 Tăng trưởng GDP theo từng lĩnh vực
2002 2003 2004 2005
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Lưu ý: Tính theo % hàng năm
Trang 35Trong thời gian từ 2001 đến 2005, về quy mô và tốc độ tăng trưởng, xuất khẩu hàng hóa đạt hoặc vượt kế hoạch đề ra trong Chiến lược 10 đến 2010 Tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa hàng năm là 17.3%, cao hơn 1.3% so với kế hoạch đề ra trong Chiến lược là 16% Doanh thu xuất khẩu đạt 48 tỷ đô la Mỹ năm 2007, năm đầu tiên Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), gia tăng 22% so với năm 2006
Xuất khẩu hàng hóa đã đạt 68.9% GDP năm 2005, so với 44.7% năm 2000 và so với 66.3% trong Chiến lược Các mặt hàng xuất khẩu chủ chốt của Việt Nam là dầu thô, dệt may, đồ gỗ - gia dụng, da giày, thủy hải sản và nông phẩm Mặc dù đã đạt được sự tăng trưởng ấn tượng trong những năm qua, xuất khẩu của Việt Nam vẫn còn tập trung vào một số lĩnh vực Bên cạnh đó, các hàng hóa xuất khẩu chủ yếu vẫn là hàng cấp thấp, được bán với giá rẻ và ít giá trị Điều này làm cho Việt Nam ở vào vị thế dễ bị tổn thương trước những biến động của thị trường thế giới về giá cả và chu kỳ kinh doanh
Năm 2007, trong số các hàng hóa xuất khẩu, gạo tăng trưởng 14%, cà phê 52,3%, hạt tiêu tăng 48%, hạt điều tăng 28%, dệt may tăng 33,4%, máy tính và linh kiện điện tử 27,6%, đồ gỗ 22,3%, hàng nhựa 51%, dây và cáp điện 25,6% Trong số này, có 11 mặt hàng vượt giá trị xuất khẩu 1 tỷ đô la Các mặt hàng này là thủy hải sản, gạo, cà phê, cao su, dầu thô, dệt may,
da giày, linh kiện điện tử và điện, đồ gỗ, sản phẩm cơ khí và than đá Bốn mặt hàng xuất khẩu chính- dầu thô, dệt may, da giày và thủy hải sản là những nhóm có doanh số vượt 2 tỷ đô la
Hình 2.8 Growth rate of major export item in 2007 (%)
- Plastic ware: Nhựa
- Electric wire and cable: Dây cáp điện
Cấu trúc xuất khẩu đang chuyển dần sang chế biến, chế tạo và xuất khẩu các sản phẩm công nghệ cao, cùng với việc xuất các vật liệu thô Năm 2007 và tháng 1/2008, xuất hiện xu hướng
Trang 36hướng tới các nhóm ngành công nghệ cao: đầu tư ồ ạt vào phát triển công nghệ cao ở Việt
Nam Tập đoàn Intel đàu tư 1 tỷ USD vào sản xuất bán dẫn tại Thành phố Hồ Chí Minh Dự
án của Intel sẽ thu hút các nhà đầu tư nước ngoài khác chọn Việt Nam như nhà cung cấp link
kiện, điều này giúp tăng số lượng các dự án trong lĩnh vực công nghệ cao ở Việt Nam Công ty
điện tử Meiko của Nhật Bản (Meiko Electronics Co.Ltd) đã xây dựng nhà máy sản xuất bản
mạch in điện tử (PCB) tại Khu Công nghiệp Thạch Xá, Hà Tây Nhà máy này với số vốn đầu
tư lên tới 300 triệu đôla là dự án lớn nhất về điện tử tại Việt Nam Khi hoàn thành, dự kiến nhà
máy sẽ tạo công ăn việc làm cho khoảng 7000 lao động
Bảng 2.13 Cấu trúc và tăng trường trong xuất khẩu
Thị phần (%)
Tăng trưởng (%)
(triệu USD)
2006 2002 2006 2002- 05 2006 4tháng đầu -07 Tổng doanh thu từ xuất
Trong phần này, báo cáo sẽ xác định các nhóm ngành có tiềm năng áp dụng ThP tại Việt Nam:
dệt may, chế biến thực phẩm, da giày, hải sản, đóng gói, thủ công mỹ nghệ, cơ khí chế tạo,
nhựa, đồ chơi và đồ điện tử Một số nhóm ngành hiện tại có doanh thu xuất khẩu thấp, nhưng
có tiềm năng đóng vai trò đáng kể hơn trong tương lai, cũng như đóng vai trò quan trọng về
mặt xã hội cũng như các tác động môi trường
Bảng 2.14 Mục tiêu xuất khẩu 2006 – 2010
Đơn vị: triệu Đô la Mỹ, %