1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

SKKN giai cap TP

24 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 48,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

b, Luyện đọc diễn cảm: Những văn bản thông thờng không yêu cầu đọc diễn c¶m Đọc diễn cảm là một yêu cầu đọc thành tiếng với các khả năng làm chủ đợc ngữ điệu, tốc độ, chỗ ngừng giọng, cờ[r]

Trang 1

Sở giáo dục - đào tạo thành phố hà nội

PHòNG GIáO DụC- đào tạo HUYệN PHú XUYÊN

TRờNG Tiểu học khai thái

******************

Sơ yếu lí lịch

Họ và tên : Nguyễn Thị Hằng

Ngày sinh : 30 - 10 - 1974

Trình độ chuyên môn : Đại học Tiểu học

Chức vụ : Giáo viên

Trang 2

Đối với học sinh Tiểu học, môn Tiếng Việt có tầm quan trọng đặc biệt vì nó làmôn học giúp các em phát triển nghe – nói - đọc – viết, giúp các em biểu đạt t t-ởng, tình cảm của mình bằng tiếng mẹ đẻ ngày càng chính xác, phong phú và sinh

động hơn

Với học sinh lớp 2, môn học này nhằm từng bớc giúp các em làm chủ công cụngôn ngữ để học tập trong nhà trờng và giao tiếp một cách đúng đắn, mạch lạc, tựnhiờn trong các môi trờng xã hội thuộc phạm vi hoạt động của lứa tuổi

Việc cung cấp những hiểu biết về xã hội, tự nhiên, con ngời, văn hóa nhằm bồidỡng cái đẹp, cái thiện, lẽ phải, sự công bằng trong xã hội, tình yêu Tiếng Việt, ýthức nói đúng Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con ngời Việt Nam hiện

đại Ngoài ra, môn Tiếng Việt góp phần cùng các môn học khác rèn luyện các thaotác cơ bản cho học sinh

Xuất phát từ mục tiêu chung, phân môn tập đọc có vị trí đặc biệt trong chơngtrình vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển cho học sinh kĩ năng đọc, một

kĩ năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở bậc học đầu tiên trong trờng phổ thông.Dạy tập đọc là rèn luyện cho học sinh các kĩ năng đọc (đọc thành tiếng, đọc thầm,

đọc hiểu, đọc diễn cảm); nghe và nói Bên cạnh đó, thông qua hệ thống bài học theochủ điểm và những câu hỏi những bài tập khai thác nội dung bài đọc, phân môn tập

đọc cung cấp cho học sinh những hiểu biết về thiên nhiên, xã hội và con ngời, cungcấp vốn từ, vốn diễn đạt, những hiểu biết về tác phẩm văn học (đề tài, cốt truyện,nhân vật ) Và góp phần vào rèn luyện nhân cách cho học sinh

Trong giờ đọc tập đọc, cái đích của mỗi giáo viên cần đạt tới là: cung cấp kiếnthức cho học sinh qua bài đọc, giúp các em hiểu nội dung, từ đó có cách đọc đúng,

đọc hay thể hiện hiểu biết, tình cảm của mình qua cách đọc

Trong thực tế giảng dạy, học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 nói riêng,

kĩ năng đọc của các em còn nhiều hạn chế Đọc đúng đã khó, để các em đọc haycòn khó khăn hơn nhiều Điều đó có nhiều nguyên nhân Hơn nữa một số giáo viên

có thể còn xem nhẹ giờ Tập đọc, cha đặt ra mục tiêu rõ ràng trong việc hớng dẫn

đọc cho học sinh, hớng dẫn học sinh tới cái đích cao hơn trong việc luyện đọc

đúng Đặc biệt, các em còn quá nhỏ, cha đủ hiểu biết để nhận thức vấn đề một cáchsâu sắc, rộng rãi, t duy trừu tợng của các em còn rất hạn chế

Vậy làm thế nào để đạt tới các đích ấy? Để có những thành công trong giờ dạyTập đọc, ngời thầy cần phải làm những gì và hớng dẫn trò ra sao Đó là lý do tôi

nghiên cứu đề tài “Những kinh nghiệm để dạy Tập đọc thành công”.

* Thực trạng dạy và học phân môn tập đọc lớp 2.

Trong quá trình giảng dạy, tôi thấy thực trạng dạy và học phân môn tập đọc

của giáo viên và học sinh nh sau:

1 Giáo viên:

- Ưu điểm:

+ Hầu hết các giáo viên đều soạn giáo án và chuẩn bị đồ dùng dạy học đầy đủtrớc khi lên lớp

+ Thực hiện đúng tiến trình tiết học

+ Nắm đợc các phơng pháp, hình thức tổ chức dạy học và vận dụng vào bàidạy một cách linh hoạt, phù hợp với từng đối tợng học sinh trong lớp

+ Giáo viên luôn động viên, khuyến khích để các em tự tin, hào hứng tronghọc tập

- Nhợc điểm:

Trang 3

+ Trong quá trình giảng dạy giáo viên cha có sự sáng tạo cho giờ học thêmsinh động, lôi cuốn học sinh.

+ Một số giáo viên cha đầu t nhiều vào chuyên môn của mình nh giọng đọcmẫu cha thể hiện tốt Đặt câu hỏi cha rõ nghĩa và hơi nhiều làm ảnh hởng đếnviệc rèn kĩ năng đọc cho học sinh nên hiệu quả giờ học cha cao

- Nhợc điểm: Do mới từ lớp 1 lên lớp 2 nên một số học sinh, nhất là học sinh

yếu phát âm còn cha chính xác, đọc bài cha lu loát, rõ ràng Ngắt nghỉ hơi cha

II Mục đích nghiên cứu:

- Nghiên cứu những phơng pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp để giờ dạytập đọc đạt hiệu quả cao

- Học sinh có khả năng tiếp thu bài một cách tự nhiên, hứng thú, say mê học tập

III Thời gian - địa điểm:

- Lớp 2D2, Trờng TH Khai Thái Năm học: 2010-2011

IV Đóng góp mới về mặt lý luận, về mặt thực tiễn:

1 Đóng góp mới về mặt lý luận:

Chúng ta đã biết, học sinh Tiểu học có đặc điểm:

Các em rất chịu khó, thông minh, sáng tạo, tự tin Dựa trên các kiến thức đã học,các em có thể mở rộng, phát triển năng lực ngôn ngữ và t duy

Vì vậy: Môn Tiếng Việt là môn học có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt độngngôn ngữ cho học sinh Năng lực này thể hiện trong 4 dạng hoạt động Nghe – Nói

- Đọc – Viết Trong đó đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển

từ hình thức chữ viết sang hình thức nói có âm thanh và thông hiểu văn bản đợc

đọc, hoặc là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành những đơn vịnghĩa không biểu hiện thành âm thanh (đọc thầm)

Trang 4

Đọc không chỉ là công việc giải quyết bộ mã gồm 2 phần: chữ viết – phát âm.

Nó không chỉ là sự “đánh vần” theo đúng các kí hiệu chữ viết mà còn là quá trìnhnhận biết để có khả năng thông hiểu những gì đợc đọc đúng, đọc hiểu, rồi đọc diễn

cảm Nếu học sinh đọc kém, dẫn đến vốn hiểu biết về tự nhiên – xã hội – con ng

-ời của học sinh cũng bị hạn chế và ảnh hởng tới hiệu quả học tập các môn học khác

Do đó, các em phải đọc – hiểu tốt mới có kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong giaotiếp và các hoạt động khác

Vì vậy: Tập đọc là một trong những phân môn quan trọng, góp phần hình thành

kĩ năng đọc cho học sinh

Đọc sẽ làm giàu kiến thức về ngôn ngữ và t duy cho học sinh

Hơn nữa, giúp học sinh phát triển ngôn ngữ và t duy

Qua các bài tập đọc học sinh đợc giáo dục về t tởng đạo đức, tình cảm, thẩm mĩ Ngòai ra, còn giúp học sinh có kĩ năng giao tiếp và giải trí

2 Đóng góp mới về mặt thực tiễn:

Thực tế giảng dạy ở trờng Tiểu học Khai Thái cho tôi thấy:

Để thực hiện mục tiêu của việc dạy học Tiếng Việt là hình thành và phát triểnbốn kĩ năng Nghe – Nói - Đọc – Viết cho học sinh, giáo viên cần sử dụng các ph-

ơng pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp và phối hợp một cách linh hoạt, khéoléo trong mỗi giờ dạy để đạt hiệu quả cao

Bên cạnh việc rèn luyện các kĩ năng viết qua các phân môn tập viết, chính tả, tập làm văn thì việc rèn kĩ năng đọc cho học sinh qua các phân môn tập đọc là rất quantrọng Giáo viên phải chuẩn bị thật tốt ngay từ phần đọc mẫu cho học sinh nghe đếnphần hớng dẫn luyện đọc cho học sinh

Tùy từng đối tợng học sinh trong lớp học mà giáo viên rèn đọc cho các em, giúpcác em có kĩ năng đọc tốt, qua đó bộc lộ năng lực đọc của mình

ở lớp 2, học sinh còn nhỏ nên việc khai thác nghệ thuật không phải là mục tiêuchính Chúng ta chỉ nên áp dụng để giúp các em hiểu sâu bài, đọc hay hơn Phần luyện đọc tập trung vào yêu cầu rõ ràng, rành mạch là chủ yếu Do đó giáo viên cần

Trang 5

a Kĩ năng: Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng

Việt (Nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trờng của lứa tuổi

Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện học sinh các thaotác t duy cơ bản (Phân tích, tổng hợp, khái quát, nhận thức ) và góp phần nõng caophẩm chất t duy, năng lực, nhận thức

b Kiến thức:

Cung cấp những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và tri thức sử dụng Tiếng

Việt trong giao tiếp

Cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên, con ngời,

về văn hóa, văn học Việt Nam và nớc ngoài

c Thái độ:

Bồi dỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng

của Tiếng Việt

Góp phần hình thành nhân cách con ngời Việt Nam xã hội chủ nghĩa cho họcsinh

Nh vậy, mục tiêu hình thành và phát triển 4 kĩ năng đa nên hàng đầu Việc củng

cố kiến thức chỉ đạt yêu cầu ở mức sơ giản và gắn trực tiếp với việc rèn kĩ năngnhằm tạo ra ở học sinh năng lực dùng Tiếng Việt để học tập và giao tiếp, giúp sửdụng Tiếng Việt trong giao tiếp

Từ mục tiêu chung, việc dạy phân môn tập đọc cần đáp ứng mục

đích yêu cầu sau:

a, Phát triển kĩ năng đọc, nghe, nói cho học sinh cụ thể là:

* Đọc thành tiếng:

- Phát âm đúng

- Ngắt, nghỉ hơi hợp lí

- Cờng độ đọc vừa phải (Không đọc to quá, hay đọc lí nhí)

- Tốc độ đọc vừa phải, đạt yêu cầu khoảng 50 tiếng/1phút

* Đọc thầm và hiểu nội dung:

- Biết đọc không thành tiếng, không mấp máy môi

- Hiểu đợc nghĩa của các từ trong văn cảnh, nắm đợc nội dung của câu, đoạn hoặcbài đã đọc

* Nghe:

- Nghe và nắm đợc cách đọc đúng các từ ngữ, câu, đoạn, bài

- Nghe – hiểu các câu hỏi và yêu cầu của thầy cô

- Nghe - hiểu và có khả năng hiểu các khả năng nhận xét của bạn

* Nói:

- Biết cách trao đổi với các bạn trong nhóm học tập về bài đọc

- Biết cách trả lời các câu hỏi về bài đọc

b, Trau dồi vốn Tiếng Việt, vốn văn học, phát triển t duy mở rộng sự hiểu biết của học sinh về cuộc sống cụ thể:

- Làm giàu và tích cực vốn văn học hóa vốn từ, vốn diễn đạt

- Bồi dỡng vốn văn học ban đầu, mở rộng hiểu biết về cuộc sống, hình thành một

số kĩ năng phục vụ cho đời sống và việc học tập của bản thân

- Phát triển một số thao tác t duy cơ bản (phân tích, tổng hợp, phán đoán )

c, Bồi dỡng t tởng, tình cảm và tâm hồn lành mạnh, trong sáng, tình yêu cái

đẹp, cái thiện và thái độ ứng xử đúng mực trong cuộc sống, hứng thú đọc sách

và yêu thích Tiếng Việt.

- Bồi dỡng tình cảm yêu quý, kính trọng, biết ơn và trách nhiệm đối với ông bà,cha mẹ, thầy cô; yêu trờng lớp; đoàn kết, giúp đỡ bạn bè; vị tha, nhân hậu

Trang 6

- Xây dựng ý thức và năng lực thực hiện những phép xã giao tối thiểu.

- Từ những mẩu chuyện, bài văn, bài thơ hấp dẫn trong sách giáo khoa, hìnhthành lòng ham đọc sách, khả năng cảm thụ văn bản văn học, cảm thụ vẻ đẹp củaTiếng Việt và tình yêu Tiếng Việt

- Tập 2 gồm 7 chủ điểm (tập trung vào các mảng Thiên nhiên - Đất nớc)

Nh vậy, so với lớp 1, nội dung các chủ điểm học ở lớp 2 đã chia ra cụ thể hơn,

mở rộng và nâng cao hơn, giúp học sinh đợc tiếp xúc với nhiều mặt của cuộc sống,góp phần phục vụ cho việc dạy học môn Tiếng Việt

b, Nội dung dạy học:

Thông qua hệ thống các bài tập đọc và câu hỏi, bài tập khai thác nội dung bài,phân môn tập đọc còn cung cấp cho học sinh những hiểu biết về thiên nhiên , xãhội, con ngời, cung cấp vốn từ, vốn diễn đạt, những hiểu biết về tác phẩm văn học,góp phần mở rộng vốn sống và rèn luyện nhân cách cho học sinh

3 Những ph ơng pháp dạy học Tiếng Việt:

Hiện nay có nhiều phơng pháp dạy học để giáo viên có thể lựa chọn, sử dụngtrong thực tiễn dạy học của mình Vì vậy, lựa chọn sử dụng một cách đúng đắn ph-

ơng pháp dạy học có ý nghĩa quan trọng trong việc rèn các kĩ năng nhất là kĩ năng

Trang 7

Vậy: Để dạy Tiếng Việt trong đó có phân môn Tập đọc đạt hiệu quả giáo viênphải:

- Nắm đợc mục tiêu, yêu cầu môn học

- Nắm đợc nội dung chơng trình, hệ thống kiến thức và các kĩ năng cần hớng dẫntới để đạt đợc

- Vận dụng linh hoạt, khéo léo các phơng pháp về hình thức dạy học để phát huy tích cực, hào hứng học tập của học sinh

- Cần có đủ những điều kiện tối thiểu về cơ sở vật chất – kĩ thuật, môi tr ờng,thiết bị, đồ dùng học tập

Chơng II: Nội dung vấn đề nghiên cứu.

Trong giảng dạy, việc nghiên cứu tìm ra phơng pháp rèn kĩ năng cho học sinh đọc

đúng, đọc hay phần nào giúp giáo viên khắc phục một số khó khăn trong giờ dạytập đọc hiện nay

Học sinh lớp 2 còn rất nhỏ, bớc đầu làm quen với các văn bản nghệ thuật và cách

đọc diễn cảm nên việc tìm hiểu nội dung còn gặp nhiều khó khăn Do vậy nếu đợccô hớng dẫn tỉ mỉ cách đọc, cách tìm hiểu nội dung bài và cách thể hiện nội dungqua giọng đọc thì chắc chắn các em sẽ đọc hay, có hứng thú khi học Tiếng Việt Từ

đó giúp các em học và tiếp thu các phân môn còn lại một cách dễ dàng hơn

Năm học 2010-2011, tôi đợc phân công chủ nhiệm 2D2 với sĩ số 27 học sinh Saukhi nắm đợc đặc điểm, tình hình nhận thức và khả năng học của học sinh, tôi đãnghiên cứu phơng pháp dạy Tập đọc lớp 2 và tìm ra một số “ bí quyết ” thành côngtrong giờ dạy Tập đọc Để có đợc tiết dạy Tập đọc nh ý, thầy trò chúng tôi đã thựchiện các biện pháp sau:

* Chuẩn bị của giáo viên:

a Xác định mục tiêu của bài dạy:

Xác định mục đích, yêu cầu của giờ học là xác định cái đích, mẫu hình lí tởng

mà giờ học hớng tới Vì vậy, khi soạn bài, ngời thầy phải hình dung bài văn đọc lênvới giọng điệu nh thế nào? Thầy giáo phải có kĩ năng để tạo đợc hình mẫu lí tởngnày Thầy không thể hình thành ở học sinh những kĩ năng mà bản thân thầy

không có Không thể gặt hái đợc những gì mà chúng ta không có khả năng gieotrồng Vì vậy, trong dạy học chúng ta không có quyền đòi hỏi học sinh làm nhữnggì mà bản thân chúng ta không làm đợc

b Giới thiệu bài:

Trang 8

Chúng ta không nên xem nhẹ việc “ Giới thiệu bài” Tuy chỉ với thời lợng ngắn(từ 1 đến 2 phút) nhng nếu giới thiệu bài hay, hấp dẫn chúng ta sẽ lôi cuốn đợc học

sinh theo “guồng quay” của bài dạy tạo cho các em hứng thú, niềm say mê

muốn khám phá nội dung của bài học Có nhiều cách giới thiệu bài, chúng ta cần

lựa chọn để áp dụng với từng bài phù hợp, có sự thay đổi, tránh lặp lại theo “khuôn

mẫu” để gây sức hấp dẫn với học trò.

+ Giới thiệu chủ điểm rồi vào bài dạy.

+ Giới thiệu bài mới bằng tranh vẽ (giới thiệu trực tiếp).

+ Liên hệ, móc nối bài trớc để giới thiệu bài dạy.

Cách giới thiêu thứ nhất : Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát tranh minh họa chủ điểm rồi giới thiệu bài dạy đầu tiên của chủ điểm ấy.

Ví dụ: Với bài: Có công mài sắt, có ngày nên kim “ ”

Chủ điểm mở đầu của chơng trình Tiếng Việt là gì? Truyện đọc mở đầu của chủ

điểm này có tên gọi “Có công mài sắt, có ngày nên kim” Các em hãy quan sát

tranh và cho cô biết: Tranh vẽ những ai? Họ đang làm gì? Muốn biết bà cụ làm việcgì, bà nói với cậu bé những gì Bài hôm nay, chúng ta cùng tìm hiểu truyện đểnhận đợc lời khuyên hay của bà cụ

Với bài: Chiếc bút mực “ ”

Cho học sinh quan sát tranh minh họa chủ điểm xong, giáo viên giới thiệu:Chuyển sang tuần 5 và tuần 6, các em sẽ đợc học các bài gắn với chủ điểm có tên

gọi “Trờng học” Bài tập đọc “Chiết bút mực” hôm nay sẽ mở đầu chủ điểm.

+ Cho học sinh quan sát tranh minh họa của bài đọc, giáo viên hỏi: Các em xembức tranh vẽ cảnh gì? Để hiểu chuyện gì xảy ra trong lớp học và câu chuyện

muốn nói với các em điều gì, chúng ta cùng tìm hiểu bài “Chiếc bút mực”.

Với cách giới thiệu bài nh thế, giáo viên giúp các em nắm đợc nội dung chính củatuần học, từ đó các em có tình cảm, thái độ ứng xử đúng mực trong cuộc sống, cảmthụ đợc cái hay, cái đẹp của Tiếng Việt, tình yêu Tiếng Việt

Cách thứ hai: Giới thiệu bài trực tiếp.

Ví dụ bài: Cô giáo lớp em “ ”

Sau khi hớng dẫn học sinh quan sát tranh vẽ ở bài đọc, giáo viên có thể giớithiệu: Cô giáo nh mẹ hiền Hàng ngày đến lớp cô dạy bảo các em điều hay lẽ phải,cô yêu thơng chăm sóc các em từng li từng tí Còn tình cảm của học sinh đối với

cô giáo nh thế nào? Chúng ta cùng tìm hiểu bài Cô giáo lớp em“ ” để thấy đợc tìnhcảm của cô giáo với học sinh, học sinh đối với cô giáo

Hoặc với bài Thông báo của th viện vờn chim” giáo viên có thể giới thiệu:

Cô có bức tranh, đây là bức tranh vẽ th viện vờn chim trong sách giáo khoa đợcphóng to Các em thấy, trong th viện có rất nhiều sách và các bạn chim đang say mê

đọc sách Nhng các em ạ, khi đến th viện, chúng ta không chỉ đọc sách báo mà còn

cần phải biết th viện thông báo những nội dung gì Bài Tập đọc Thông báo của

th viện vờn chim” hôm nay sẽ giúp các em biết rõ điều đó.

Với cách giới thiệu bài trực tiếp này, chúng ta hớng học sinh vào nội dung trọngtâm của bài dạy, giúp các em xác định tình cảm yêu quý cô giáo, thái độ đúng mực.Khi vào th viện của trờng, biết giữ gìn sách cẩn thận, từ đó các em thêm yêu thầycô, yêu mái trờng của mình

Giáo viên cũng có thể áp dụng cách thứ 3 để giới thiệu bài:

Ví dụ bài Cây xoài của ông em “ ”

ở bài Tập đọc Bà cháu ,“ ” các em thấy tình cảm bà cháu còn quý hơn tất cả mọithứ trên đời Đối với ông bà, chúng ta phải yêu quý và kính trọng, nhất là ng ời đãtrồng cây cho chúng ta đợc ăn trái ngọt

Trang 9

Các em sẽ đợc thấy tình cảm, tấm lòng đáng quý của bạn nhỏ đối với ngời ông đã

khuất qua bài đọc Cây xoài của ông em “ ”

Cách giới thiệu bài nh trên, không những giúp học sinh nhớ lại nội dung chínhcủa bài trớc mà còn giúp các em liên hệ móc nối với nội dung bài sau Những kiếnthức cũ và mới sẽ đợc tổng hợp lại thành vấn đề lớn: Tình cảm, thái độ của con cháu

đối với ông bà

c, Đọc mẫu:

Việc đọc mẫu của giáo viên cũng rất quan trọng Giáo viên không thể luyện đọccho học sinh đọc hay, đọc diễn cảm nếu bản thân chúng ta cha xác định đợc bàivăn cần đọc với giọng điệu nh thế nào Cụ thể: Khi giáo viên không đọc mẫu đợcthì sẽ không nhận ra lỗi phát âm, giọng điệu sai lạc và không biết cách chữa chohọc sinh nh thế nào để đọc đúng, đọc hay với mỗi bài, chúng ta cần đọc giọng phùhợp Việc đọc mẫu hay sẽ có sức lôi cuốn, dẫn dắt học sinh vào bài một cách hứngthú, tự nhiên, tạo không khí ban đầu thuận lợi cho việc luyện đọc và tìm hiểu nộidung bài ở các giai đoạn tiếp sau

d, Giảng từ khó:

Với những từ khó trong bài, giáo viên cần hớng dẫn học sinh tìm hiểu nghĩa của

từ (ngữ) đó Việc nắm đợc nghĩa của từ giúp học sinh hiểu đợc bài đọc Có rất nhiềucách giải nghĩa từ khác nhau nhng chúng ta cần giải nghĩa từ giới hạn trong phạm vinghĩa cụ thể của bài Tập đọc, không nên mở rộng ra những nghĩa khác nhau, nghĩa

xa lạ với các em bởi học sinh lớp 2 còn quá bé, t duy lại cha phát triển

Các cách giải nghĩa từ:

Cách 1: Định nghĩa từ (Giáo viên hoặc học sinh đọc nghĩa của từ đã đợc chú giải

ở bài đọc) Đây là cách giải nghĩa từ đơn giản nhất

Cách 2: Giải nghĩa từ theo phơng pháp: Giáo viên có thể nêu nghĩa của từ trớc

để học sinh tìm từ đó

Cách 3: Tìm từ cùng nghĩa hoặc trái nghĩa với từ ngữ cần giải thích.

Cách 4: Đặt câu với từ ngữ cần giải nghĩa.

Đây là cách giải nghĩa gián tiếp, đặt từ ngữ cần giải nghĩa trong văn cảnh cụ thể

Cách 5: Giải nghĩa từ bằng mô hình, vật thật.

Tuy nhiên, trong một bài dạy có nhiều từ cần giải nghĩa, chúng ta không nên ápdụng một cách giải nghĩa từ nào mà giáo viên cho là tối u Để tránh sự nhàm chán,chúng ta nên áp dụng nhiều cách giảng từ để làm phong phú vốn từ cho học sinh

đồng thời gây hứng thú cho các em trong việc tiếp thu để hiểu nghĩa của từ

Ngoài những từ có chú giải trong sách giáo khoa, trong bài đọc còn xuất hiện các

từ ngữ mà học sinh địa phơng cha quen hoặc các từ ngữ đóng vai trò chủ đạo trongviệc khai thác nội dung chúng ta cần giải nghĩa trong quá trình hớng dẫn học sinh

Tìm hiểu nội dung

Ví dụ: Trong quá trình giảng từ khó ở bài Cô giáo lớp em “ ” tôi áp dụng nh sau:

Từ “thoảng ” -> Gọi 1 học sinh đọc chú giải

Từ “ghé” (ghé mắt) -> Gọi 1 học sinh đọc chú giải.

Hỏi: Ngoài từ “Ghé, xem” các em còn biết từ nào chỉ hoạt động nhìn? (ngắm,

nhòm, trông, nhìn)

Em hiểu thế nào là “ngắm”? -> 1 học sinh nêu nghĩa của từ.

- Trong bài có những từ nào gần nghĩa với “ngắm”? (xem, ghé).

- Đặt câu với từ “ngắm”? (Lan say sa ngắm bông hoa mới nở)

Trong quá trình hớng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài, tôi giảng thêm từ “mỉm cời” (Cời không thành tiếng, không há miệng to, cời kín đáo và rất có duyên.)

Trang 10

Qua giảng từ và khai thác ý của đoạn thơ, học sinh thấy cô giáo có thái độ, tìnhcảm đúng mực, rất chan hòa với học sinh của mình.

- Từ “ấm ” trong câu “ấm trang vở thơm tho” cho em biết lời giảng của cô giáo

nh thế nào? (dịu dàng, ấm áp)

- Sau khi giảng từ “ấm” nh thế, chúng ta giúp học sinh nêu bật đợc ý trong nội dung bài: Nghe cô giảng bài, học sinh thấy giọng cô “ấm”, cô giảng rất dễ hiểu

mang lại kiến thức cho học sinh, giọng cô trìu mến, dịu dàng, cuốn hút các em vàobài học

Với bài Ngôi trờng mới :

Từ “lấp ló”:

- Em hiểu thế nào là “lấp ló”? Một học sinh nêu nghĩa của từ “bỡ ngỡ”.

- Cha quen trong buổi đầu gọi là “bỡ ngỡ” Em hãy tìm từ trái nghĩa với từ “bỡ ngỡ”? (quen thuộc).

- Đặt câu với từ “bỡ ngỡ” ? (em bỡ ngỡ bớc vào lớp 1.)

- Từ nào tả tâm trạng cảm động của bạn học sinh khi tiếng trống rung lên? (rung

động)

- Em hãy tìm từ gần nghĩa với “thân thơng”? (thân yêu, gần gũi)

+ Cho học sinh quan sát mặt bàn gỗ

- Những đờng cong trên mặt gỗ hoặc mặt đá giống nh nét vẽ gọi là “vân” (vân

Từ “trảy” – giảng bằng phơng pháp tìm từ cùng nghĩa:

Các từ ngữ giảng khi hớng dẫn học sinh tìm hiểu bài:

“sai chi chít”: Em có thể tìm từ khác diễn tả quả xoài rất sai,sai chi chít) giáo

viên chỉ vào tranh để minh họa quả xoài rất sai

- “thơm dịu dàng” (mùi thơm dễ chịu và không quá hắc)

- “ngọt đậm đà” rất ngọt, không ngọt quá đến nỗi ngấy không ăn đợc nhiều)

Chơng trình Tiểu học không thể giải thích đợc toàn bộ thế giới ngôn từ Học xongchơng trình Tiếng Việt, học sinh cha thể có khả năng giao tiếp trong mọi lĩnh vựchoạt động của con ngời Bậc Tiểu học mới chỉ là trình độ tối thiểu đặt ra cho mỗicông dân Vì vậy, chúng ta cần dạy nghĩa của từ một cách đơn giản, dạy cái hay của

từ trong văn cảnh cụ thể, phù hợp với trình độ nhận thức non trẻ của các em

e, Giảng ý, khai thác nội dung nghệ thuật.

Phân môn Tập đọc rèn luyện cho học sinh các kĩ năng đọc (đọc thành tiếng, đọc thầm, đọc hiểu, đọc diễn cảm), nghe, nói Bên cạnh đó, thông qua hệ thống bài đọc

xếp theo chủ điểm và các câu hỏi, những bài tập khai thác nội dung bài đọc xếptheo chủ điểm và các câu hỏi, những bài tập khai thác nội dung bài đọc, phân môn

Tập đọc còn cung cấp cho học sinh hiểu biết về tác phẩm văn học (nh đề tài, cốt truyện, nhân vật ) Góp phần rèn luyện nhân cách cho học sinh Việc khai thác

triệt để nội dung, phát hiện thủ pháp nghệ thuật trong bài còn giúp học sinh pháttriển t duy, mở rộng vốn hiểu biết về cuộc sống Cụ thể: làm giàu và tích cực hóa

Trang 11

vốn từ và vốn diễn đạt của các em; bồi dỡng vốn văn học ban đầu, mở rộng hiểubiết về cuộc sống Bồi dỡng t tởng tình cảm và tâm hồn lành mạnh, trong sáng; tìnhyêu cái đẹp, cái thiện và thái độ ứng xử đúng mực trong cuốc sống, tạo cho các emhứng thú với môn học Khi hớng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài đọc, giáo viêncần chú ý: trình tự tìm hiểu nội dung bài đọc thể hiện ở các câu hỏi, giáo viên dựavào hệ thống câu hỏi để giúp học sinh nắm đợc nội dung bài Giảng ý của mỗi đoạnvăn, đoạn thơ, cần bám sát vào vốn từ ngữ trung tâm của đoạn, hoặc câu văn cóhình ảnh trọng tâm của đoạn cần khai thác Sau khi đã khai thác hết đoạn, cần nêu ý

chính của đoạn (thao tác tiểu kết đoạn) để học sinh nắm đợc từng mảng kiến thức

trong bài Trong khi khai thác nội dung từng đoạn, chúng ta không nên bỏ qua việckhai thác nghệ thuật Trong chơng trình lớp 2, thủ pháp nghệ thuật chủ yếu là nhânhóa, so sánh, dùng từ ngữ gợi cảm để thể hiện nội dung của văn bản, của tác phẩmmột cách hữu hiệu nhất Trong chơng trình lớp 2, thủ pháp nghệ thuật chủ yếu lànhân hóa, so sánh, dùng từ ngữ gợi cảm để thể hiện nội dung của

văn bản, của tác phẩm một cách hữu hiệu nhất Trong các văn bản thơ, ngoài nhữngthủ pháp trên, tác giả còn chú ý thể hiện nội dung của tác phẩm bằng thể thơ, sốchữ, số dòng trong mỗi khổ thơ Không phải ở bài nào cũng có cách thể hiện nộidung giống nhau, cách sử dụng phơng pháp nghệ thuật giống nhau nói chung mỗitác giả có nét riêng biệt Vì vậy, khi khai thác hớng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung,

giáo viên cần lu ý điều này Cụ thể: Trong bài “Mẹ” nhà thơ Trần Quốc Minh viết:

“ Lời ru có gió mùa thu

Bàn tay mẹ quạt mẹ đa gió về.

Những ngôi sao thức ngoài kia Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con

Đêm nay con ngủ giấc tròn

Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.”

Ta cần chú ý khai thác nội dung qua việc tập trung vào các từ ngữ mang tính nghệ

thuật cao: “Gió mùa thu, chẳng bằng, giấc tròn, ngọn gió của con ” để giúp họcsinh hiểu nội dung bài thơ

Hình ảnh “gió mùa thu” hòa quyện với lời ru của mẹ trong đêm hè oi ả giúp con

quên đi cái oi nồng của mùa hạ, con sung sớng tận hởng cái mát mẻ của mùa thu

với lời ru ngọt ngào chứa đựng biết bao nỗi niềm của mẹ Có lẽ hình ảnh “Gió mùa thu” là hình ảnh đối lập “nắng oi ” ngột ngạt của mùa hè Ngời mẹ đã thức trọn đêm

để hát, đa võng và quạt cho con ngủ Những ngôi sao đêm trên bầu trời cũng

chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con Sự so sánh kém hơn này giúp học sinh nhận

ra sự vĩ đại của ngời mẹ Hình ảnh “ngọn gió” trong câu kết “ Mẹ là ngọn gió của con suốt đời” góp phần nhiều nhất làm nên cái hay của đoạn thơ Ngời mẹ nh ngọn

gió thổi mát, ru cho con ngủ và đi vào giấc mơ Ngọn gió ấy thổi cho con

mát suốt cả cuộc đời nh là mẹ đã luôn làm việc cực nhọc để nuôi con khôn lớn,mong con sung sớng và hạnh phúc Sự so sánh đẹp đẽ và sâu sắc ấy cho ta thấythấm thía hơn về tình mẹ con, làm cho đoạn thơ hay hơn, xúc tích hơn Với cáchkhai thác, phân tích trên, giáo viên giúp học sinh cảm nhận đợc công lao to lớn và vịtrí, vai trò quan trọng của ngời mẹ trong cuộc sống, trong cuộc đời.Từ đó giúp các

em có tình cảm đúng ,có thái độ và cách c xử đúng đắn với mẹ của mình

Trong bài Mùa xuân đến“ ” để tả về vờn cây khi mùa xuân đến, nhà văn NguyễnKiên viết:

“ Rồi vờn cây ra hoa Hoa bởi nồng nàn Hoa nhãn ngọt Hoa cau thoảng

qua Vờn cây lại đầy tiếng chim và bóng chim bay nhảy Những thím chích chòe nhanh nhảu Những chú khớu lắm điều Những anh chào mào đỏm dáng Những bác cu gáy trầm ngâm ”

Trang 12

Qua đoạn văn, chúng ta thấy tác giả đã sử dụng nhiều từ ngữ gợi tả, mùi hơng của

các loài hoa: “ nồng nàn, ngọt, thoảng qua” Xuân về, trăm hoa đua nhau khoe

sắc, các loài cây trong vờn cũng đua nhau tỏa hơng để làm đẹp cho đời Còn cácloài chim, chúng mang đặc điểm của con ngời: Nhanh nhảu , lắm điều, đỏm dáng,trầm ngâm Mỗi loài chim có một nét tính cách khác nhau của con nhời, phù hợp

với các ngôi bậc “thím, chú, anh, bác ” Đặc biệt cách viết câu ngắn gọn gây ấn ợng cho ngời đọc về ý diễn đạt Ta thấy hầu hết các câu trong đoạn đều cấu tạo theomẫu: Ai ( cái gì, con gì ) thế nào? rất phù hợp với các từ chỉ đặc điểm của cây ,chim góp phần miêu tả không khí sôi động của vờn cây khi mùa xuân về

Nh thế, giáo viên đã cung cấp cho học sinh vốn kiến thức nhất định về mùa xuân

“ trăm hoa đua nở chim chóc líu lo” và giúp học sinh có cảm nhận đúng về mùa

xuân tơi vui, rộn rã, và tràn đầy sức sống mới

Với bài thơ “Tiếng võng kêu” – Trần Đăng Khoa sử dụng thể thơ bốn chữ vớicách phân chia đoạn không đều nhau:Khổ 1 ( 5 dòng )- Khổ 2( 9 dòng)- Khổ 3 ( 8dòng) Mở đầu bài thơ là tiếng

Làm cho cả không gian ngôi nhà tràn ngập tiếng võng kêu Ba khổ thơ đợc bố trí

với hình thức nh vậy cho ta thấy nhịp võng đa đi đa lại với biên độ dài; rồi ngắn dần

nh nhịp võng chậm dần, tiếng võng kêu nhỏ dần Ngời anh ngồi đa võng và say sangắm em ngủ Không những thế anh còn trầm lặng đoán xem em mơ gì trongnhững giấc ngủ ngon lành ấy nữa: Điều này chứng tỏ anh rất yêu quý

em, luôn chăm sóc và nhờng nhịn em Tình cảm anh em trở nên đáng quý biết bao.Với cách khai thác nội dung qua các phơng pháp nghệ thuật nh thế, giáo viên giúphọc sinh tiếp thu kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, khơi dậy trong các em sự

rung cảm trớc cái đẹp của văn bản đem đến Ranh giới giữa “hiểu bài- yêu nghệ thuật văn học ” không còn bao xa nữa

g, Chuyển ý liên kết đoạn :Ngoài việc khai thác nội dung tiềm ẩn của bài thông

qua nghệ thuật, thao tác chuyển ý, liên kết đoạn góp phần không nhỏ dẫn đến thànhcông của tiết học Chỉ bằng vài câu ngắn gọn, giáo viên vừa tóm tắt ý chính của

đoạn văn vừa có ý chuyển đoạn một cách nhẹ nhàng, phù hợp sẽ không làm đứt

mạch” bài giảng mà tạo nên sự “liên hoàn” giữa các mạch kiến thức, cuốn hút các

em vào “guồng quay” của bài

Ví dụ bài thơ “ Cô giáo lớp em”

Sau khi hớng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung khổ thơ 1 Giáo viên chốt ý vàchuyển ý sang khổ thơ 2 nh sau: Qua khổ thơ thứ nhất, chúng ta thấy cô giáo trờng

đến lớp sớm và chào đón học sinh bằng nụ cời tơi tắn, đôn hậu Chứng tỏ cô rất yêuthơng học sinh của mình Học sinh cũng rất ngoan, lễ phép với cô Lúc giảng bài,tình cảm của cô hòa trong lời giảng làm các bạn học sinh rất thích thú Chúng tacùng theo dõi khổ 2 để thấy đợc điều đó

Chốt ý khổ thơ 2, chuyển sang khổ thơ 3:

Bằng hình ảnh phân tích học sinh thấy cảnh vật thiên nhiên cũng hòa vào bàigiảng của cô làm cho bài giảng càng trở lên sinh động hơn

Giáo viên chốt khổ thơ 3:

Ngày đăng: 11/06/2021, 04:43

w