Đó là: 1 Ban hành văn bản lập quy khi cần thiết để hoàn thành các trách nhiệm được giao bởi luật hoặc văn bản lập quy và năng cao phúc lợi chung của nhân dân trong xã; 2 Ban hành các quy[r]
Trang 1Bài 1 CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ TRONG HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
I TỔNG QUAN CHUNG VỀ CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ
1 Khái niệm về chính quyền cơ sở
Thuật ngữ “cơ sở” được hiểu là cấp chính quyền địa phương thấp nhấttrong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước Hay nói chính xác hơn đây làcấp lãnh thổ có chính quyền nhưng không được chia nhỏ thành những vùng lãnhthổ có tính chính quyền thấp hơn
Trên thế giới hiện nay có nhiều cách gọi khác nhau của chính quyền cấp
cơ sở Điều này gắn liền với thông lệ của quốc gia cũng như sự phân chia lãnhthổ quốc gia
Tùy thuộc vào cách phân chia lãnh thổ thành bao nhiêu cấp và đặt têncho từng cấp đó mà chính quyền địa phương cơ sở của các nước không giốngnhau
Nhiều nước chia hệ thống chính quyền địa phương thành hai cấp, thì cấpsát ngay cấp chính quyền địa phương sau cấp trung ương là chính quyền địaphương cơ sở
Trong khi đó, nhiều nước chia chính quyền địa phương thành 3 cấp, thìchính quyền địa phương cấp thứ 3 mới là chính quyền địa phương cơ sở
Mặt khác, cũng ở cấp thấp nhất, nhưng giữa các loại chính quyền địaphương có thể có những tên gọi khác nhau Đối với những nước có sự phân biệtgiữa chính quyền địa phương khu vực đô thị và khu vực nông thôn, nên ở khuvực đô thị chỉ có 2 cấp và cấp thứ hai là cấp cơ sở Trong khi đó, chính quyềnđịa phương ở vùng nông thôn chia thành 3 cấp và cấp thứ 3 mới được gọi là cơsở
Do sự phân biệt khác nhau giữa cách phân chia chính quyền địa phươngnên cấp cơ sở của các nước có thể có tên gọi không giống nhau
Ví dụ: một số nước gọi chính quyền địa phương cơ sở là “làng –village”; một số nước gọi chính quyền địa phương cơ sở là “phường - ward”không chỉ cho thành phố mà cho cả nông thôn; một số nước gọi chính quyền địaphương cơ sở là “hạt – county” v.v
Ở Việt Nam, chính quyền cơ sở cũng có ba tên gọi khác nhau gắn liềnvới ba tính chất:
- Xã: chính quyền địa phương cơ sở ở các khu vực nông thôn;
Trang 2- Phường: chính quyền địa phương cơ sở ở các khu đô thị;
- Thị trấn: chính quyền địa phương cơ sở ở vùng nông thôn, nhưng làmột trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của huyện (nông thôn) Có thể mộthuyện có một số trung tâm này, tùy thuộc vào mức độ đô thị hóa của huyện
Chính quyền cơ sở là một thuật ngữ nhằm chỉ bộ máy quản lý nhà nước
ở cấp cơ sở, nhưng gắn nhiều hơn với tính chất tự quản của chính quyền cơ sở
2 Cơ sở hình thành chính quyền địa phương và chính quyền cơ sở
Địa phương là một thuật ngữ để chỉ những đặc trưng chung nhất của mộtvùng, một lãnh thổ nhất định Những bản sắc riêng của một vùng, một khu vựcnào đó được hình thành trong tiến trình phát triển của kinh tế - xã hội Nếu theonghĩa chung đó, địa phương gắn với một cơ cấu hành chính hay chính trị cụ thể
Nó được hình thành trên những quy ước của cộng đồng lãnh thổ
Nhưng từ khi nhà nước ra đời, có sự phân chia lãnh thổ thì vấn đề hànhchính lãnh thổ đã rất được chú ý Nếu trước đây các mối quan hệ trong cộngđồng do cộng đồng xác định, thì cùng với sự phát triển giao lưu kinh tế, có nhiềuvấn đề đòi hỏi phải có những quy định để bắt mọi người trong và ngoài cộngđồng phải tuân theo Sự chuyển tiếp từ chỗ quy ước đó trở thành luật lệ chungcủa cộng đồng đã được hình thành trong suốt cả quá trình phát triển Nhưng với
sự ra đời của nhà nước - sự thôn tính lẫn nhau của các cộng đồng - để tạo thànhnhà nước, thì vấn đề tập trung quyền lực vào tay nhà nước đã trở thành tính tấtyếu Các cộng đồng lãnh thổ bị tước mất một số quyền, thậm chí hầu hết cácquyền, đặc biệt là quyền có lực lượng vũ trang Trong quá trình tiến hóa của xãhội loài người, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội đã làm cho sự quản lý “caitrị” theo nghĩa tập trung như trên ít đem lại hiệu quả Người ta phải nghỉ đếnviệc phân phát quyền “cai trị” cho các cộng đồng lãnh thổ Hay vấn đề tạo rachính quyền địa phương với những quyền nhất định đã trở thành vấn đề cầnquan tâm Vì vậy, chính quyền địa phương, do đó, luôn có những vấn đề đặt racần giải quyết Khi quá tập trung thì người ta phải nghĩ đến phân chia nó ra;nhưng khi phân chia mà không đem lại hiệu quả thì lại tập trung Việc tách,nhập các đơn vị hành chính và chính quyền địa phương trở thành vấn đề của mọiquốc gia và của mọi thế hệ
a Đòi hỏi phân chia thành vùng lãnh thổ
Việc phân chia này dựa trên những đặc điểm tự nhiên, dân cư; nhữngnhu cầu đặc biệt về an ninh, quốc phòng
Dựa trên những nét tương đồng của các vùng lãnh thổ chủ yếu về kinh tế
để hình thành các vùng kinh tế
Trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam, chúng ta đã có lúc chia đất nướcthành bảy vùng kinh tế dựa trên các đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội Đó là
Trang 3vùng Đông Bắc; Tây Bắc; vùng đồng bằng sông Hồng; vùng Bắc Trung Bộ vàDuyên hải miền Trung; vùng Tây Nguyên; vùng Đông Nam Bộ và vùng đồngbằng sông Cửu Long Và chúng ta cũng đã tiến hành xây dựng các quy hoạchtổng thể phát triển các vùng đó Nhưng các vùng này không gắn liền với bất cứmột cấp chính quyền nào.
Tương tự như trên, trong quá trình đổi mới và phát triển đất nước, chúng
ta đã hình thành ba vùng kinh tế trọng điểm Vùng kinh tế trọng điểm phái Bắc(Hà Nội - Hải phòng - Quảng Ninh và sau này mở rộng thêm các tỉnh khác);vùng trọng điểm kinh tế miền trung (Quảng Nam – Đà Nẵng - Huế); vùng kinh
tế trọng điểm phía Nam (Thành phố Hồ Chí Minh – Bà Rịa Vũng Tàu - ĐồngNai và Bình Dương)
Trên các vùng kinh tế trọng điểm này cũng không gắn liền với chínhquyền địa phương
b Phân chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính
Đơn vị hành chính là một vùng đất đai, dân cư do nhà nước phân chia vàgắn liền với nó có một chính quyền để quản lý các vấn đề liên quan đến vùnglãnh thổ đó Đó là những vấn đề liên quan đến đất đai, con người và các hoạtđộng kinh tế - xã hội của con người trên vùng lãnh thổ đó
Gắn với một đơn vị hành chính là một vùng đất, lãnh thổ có ranh giới donhà nước xác định gọi chung là địa giới hành chính Tùy theo từng quốc gia việcphân chia thành các đơn vị hành chính và xá định địa giới hành chính của đơn vịhành chính đó không giống nhau
Nguyên tắc chung là chia quốc gia thành các vùng lãnh thổ lớn (cấp 1)gắn với nó là đơn vị hành chính lớn; tiếp theo vùng lãnh thổ đó lại chia thànhnhiều vùng lãnh thổ nhỏ hơn (cấp 2) và gắn với nó là đơn vị hành chính cấp nhỏhơn (cấp 2)
Sơ đồ 1: Phân chia lãnh thổ ở các đơn vị hành chính
Trang 4Các vùng lãnh thổ cấp 2 lại được chia nhỏ hơn thành các vùng lãnh thổcấp 3 và gắn với nó là đơn vị hành chính cấp 3 Sự tiếp tục chia nhỏ đến cấp nàotùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia.
Cách phân chia lãnh thổ thành các loại đơn vị hành chính (lãnh thổ) mô
tả tượng trưng bằng sơ đồ 1
Vùng lãnh thổ trên sơ đồ có gạch chéo là vùng lãnh thổ gắn với đơn vịhành chính cấp 1 Cả nước sẽ có nhiều vùng cấp 1 nối tiếp nhau
Vùng lãnh thổ trên sơ đồ có hình ô vuông gắn với đơn vị hành chính cấp
2 Mỗi đơn vị hành chính cấp 1 có nhiều đơn vị hành chính cấp 2 nối tiếp nhau,lấy đầy diện tích của vùng cấp 1
Vùng lãnh thổ trên sơ đồ có màu trắng là đơn vị hành chính cấp 3 Cácđơn vị hành chính cấp 3 nối tiếp nhau và lấp đầy vùng lãnh thổ cấp 2
Do đơn vị lãnh thổ cấp 3 không chia tiếp nên nhiều nước gọi là đơn vịhành chính cơ sở
Mỗi một đơn vị hành chính trên đều có một quy mô nhất định về dân số
và điều quan trọng được hình thành một chủ quyền nhất định về quản lý hay gắnvới các đơn vị hành chính đó là một chính quyền địa phương
Việc hình thành chính quyền địa phương trên các vùng lãnh thổ được gọi
là đơn vị hành chính khác nhau giữa các nước Và mức độ quyền quản lý cácvấn đề trên vùng lãnh thổ đó (quản lý nhà nước ở địa phương) phụ thuộc vàonhiều yếu tố và gọi chung là mức độ phân quyền quản lý nhà nước các vấn đềđịa phương giữa chính phủ trung ương và chính quyền địa phương cấp đó hoặcgiữa các chính quyền địa phương của các vùng lãnh thổ ngắn với đơn vị hànhchính
Chính quyền địa phương gắn với đơn vị hành chính cơ sở được gọichung là chính quyền địa phương cơ sở hay nói ngắn gọn hơn là chính quyền cơsở
Mỗi đơn vị hành chính (vùng lãnh thổ) được xác định cụ thể bằng một
số tiêu chí:
- Có một vùng lãnh thổ xác định bằng những văn bản pháp luật cụ thể;
đó không phải là đường biên giới theo khái niệm quốc gia hay của liên bang vàcác bang Đó là sự quy định của pháp luật nhà nước về các vấn đề của côngcộng chỉ xảy ra trong phạm vi lãnh thổ đó;
- Số dân xác định trên cơ sở vùng lãnh thổ xác định;
- Có một tổ chức liên tục, mang tính kế thừa Mặc dù, không phải là một
tổ chức như nhà nước, nhưng điều này bảo đảm cho sự kế thừa của các quyếtđịnh quản lý các lĩnh vực địa phương;
Trang 5- Là một pháp nhân công pháp;
- Độc lập với các cấp chính quyền địa phương khác trong hoạt độngquản lý theo pháp luật;
- Có quyền và các chức năng quản lý – cai trị;
- Có quyền tạo ra thu nhập cho chính quyền địa phương
Cách phân chia đơn vị hành chính không giống nhau giữa các nước Ví
dụ, cách phân chia đơn vị hành chính và gắn liền với chính quyền của Hàn Quốc
mô tả ở Sơ đồ 2
Với cách phân chia này, cấp cơ sở là cấp thấp nhất và có mặt ở cả nôngthôn và thành thị Tuy nhiên, cách tổ chức quản lý của chính quyền cơ sở có sựkhác nhau
Sơ đồ 2: Tổ chức chính quyền địa phương
của Hàn Quốc và cấp cơ sở
Ôxtrâylia là Nhà nước liên bang, nhưng tổ chức chính quyền địa phương
có những nét đặc trưng riêng Chính quyền địa phương được tổ chức như Sơ đồ3
Bộ Nội vụ
Khu(Ward)
Thành phốthuộc tỉnh
Trang 6Sơ đồ 3: Tổ chức chính quyền địa phương cơ sở của Ôxtrâylia
Theo mô hình này, chỉ có một cấp chính quyền địa phương ở dưới cấpbang và đó cũng là chính quyền cơ sở Cách thức tổ chức đó rất đơn giản và mỗimột cấp chính quyền dưới bang chịu trách nhiệm quản lý nhà nước vùng lãnhthổ đó
Thái Lan là một quốc gia có cách tổ chức chính quyền địa phương vàphân chia lãnh thổ khá đặc biệt Vừa chia vùng lãnh thổ, nhưng vừa tạo ra cơcấu chính quyền địa phương và chính quyền cơ sở xen kẽ nhau (Sơ đồ 4)
Sơ đồ 4: Phân chia vùng lãnh thổ và chính quyền địa phương của Thái Lan
Chính phủliên bang
Chính quyền bang
(6 bang)
Chính quyền vùng lãnh thổ
liên bang(02 vùng lãnh thổ liên bang, không thuộc bang)
769 chính quyền địa phương cơ
sở
Vương quốc Thái Lan
76 tỉnh(nằm trong 5 vùng lãnh thổ
mueang, nakhon)Làng (muban)
Trang 7Với Thái Lan chính quyền cơ sở là xã (tambon) ở các tỉnh, trong khi đó
ở thành phố Băng Cốc và Pattaya, chính quyền cơ sở là quận
Về nguyên tắc, Việt Nam cùng như các nước đang xem xét để cải cáchphân chia địa giới hành chính (tách, nhập) và cách thức tổ chức chính quyền địaphương trong đó có chính quyền cơ sở
c Đòi hỏi hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước (ở địa phương)
Gắn liền với lịch sử hình thành nhà nước là sự hình thành các đơn vịhành chính
Khi nhà nước mới ra đời, ban đầu hoạt động quản lý nhà nước mang tínhtập trung cao ở chính phủ trung ương Cùng với sự vận động và phát triển củaquốc gia, sự hình thành ngày càng rõ nét đặc trưng “vùng lãnh thổ”, tạo nênnhững ‘nét đặc trưng” Mỗi địa phương mang dấu ấn riêng và do đó có nhiềuvấn đề đòi hỏi phải quản lý theo “phong cách địa phương: Trong khi đó chínhquyền trung ương chỉ có thể tiến hành các hoạt động quản lý mang tính “chungcho mọi vùng lãnh thổ”
Có thể khẳng định rằng: lịch sử hình thành địa phương là cơ sở cho việchình thành các cộng đồng lãnh thổ, các cấp quản lý hành chính và chính quyềnđịa phương Nghiên cứu sự hình thành cộng đồng lãnh thổ của quá trình pháttriển xã hội loài người sẽ cho thấy bức tranh của sự hình thành chính quyền địaphương cơ sở Có thể nói, trước khi nhà nước ra đời, thì các thị tộc đã được xemnhư là mầm móng của sự ra đời của các cộng đồng lãnh thổ và chính quyền địaphương cấp cơ sở Thị tộc có những quy định riêng, tùy theo mỗi vùng, khu vực
mức đọ khác nhau nhiều hay ít Trong cuốn Nguồn gốc của gia đình, của chế độ
tư hữu và của nhà nước, Ph.Ăngghen đã chỉ ra những sự khác biệt giữa các thị
tộc (cái mà ta có thể hiểu như đã nêu trên là các bản sắc của cộng đồng, của địaphương) Các thị tộc đã dần dần phát triển và do nhu cầu của xã hội, các thị tộcphải liên kết lại vì những mục đích kinh tế, chính trị, quân sự, chung nào đó.Nhưng đồng thời phải giữ được những nét riêng của thị tộc Khi sự liên kết cácthị tộc với nhau ra đời thì vấn đề lãnh thổ của các thị tộc được đặt ra Mỗi một
bộ lạc, ngoài khu vực cư trú, còn có các khu vực săn bắn, sản xuất, chăn nuôi,
và còn có những khu là phần chung của nhiều bộ lạc, do đó đã có những thoảthuận chung giữa các bộ lạc về ranh giới Đó là mầm móng đầu tiên của việcphân chia lãnh thổ và sau này phát triển thành biên giới quốc gia
Nhà nước ra đời là một đòi hỏi tất yếu khác quan của sự phát triển các
bộ lạc, khi mà nhiều mẫu thuẫn giữa các bộ lạc không thể điều hòa, nhưng phảiđược giải quyết để không tự tiêu diệt lẫn nhau và tiêu diệt cả xã hội Khi nhànước ra đời, phân chia lãnh thổ và vấn đề quản lý hành chính lãnh thổ đã đượcđặt ra Cuộc sống của các thị tộc với các mối quan hệ bên trong theo dòng máu
Trang 8đã được thay bằng địa vực cư trú, nghĩa là mối quan hệ của những người sốngtrên cùng một lãnh thổ Mọi người sống trên vùng lãnh thổ - một cộng đồng dân
cư, có nhiệm vụ và quyền lợi như nhau về những vấn đề cấp trên của cộng đồngquyết định Khác với tổ chức thị tộc trước đây, các dân cư đến cư trú tại cộngđồng không hề có quyền tham gia vào các hoạt động mang tính xã hội của thịtộc Mặc dù sáp nhập các thị tộc vào với nhau thành bộ lạc, những nét đặc thùriêng của thị tộc vẫn được giữ lại
Xét về bản chất, phân chia quốc gia thành các địa phương lãnh thổ(Ph.Ăngghen gọi là địa vực) là một trong những đặc trưng chung của mọi quốcgia, mọi kiểu nhà nước, không phân biệt chế độ chính trị, kinh tế Sự hình thànhcách phân chia địa phương - địa vực, hình như là tự nhiên, nhưng để có được địaphương lãnh thổ mang tính cách nhà nước thì phải trải qua một quá trình đấutranh gay go của sự tiến hóa xã hội Xã hội cũ dựa trên quan hệ dòng máu bị sụp
đổ do kết quả xung đột của các mâu thuẫn giai cấp có trong thị tộc, bộ lạc; xãhội mới được hình thành và thay thế xã hội cũ, được tổ chức thành quốc gia vàmỗi một đơn vị cơ sở của nó (cộng đồng lãnh thổ) không phải là một tổ chức,một liên minh dựa trên quan hệ dòng máu, mà dựa trên địa phương – lãnh thổ
Ngay từ khi nhà nước ra đời, phân chia nhà nước thành các địa phương
và tăng cường sự quản lý nhà nước đối với các địa phương đã được chú ý Trảiqua bao giai đoạn thăng trầm của lịch sử, khi thí tập trung quyền lực về trungương, khi thì phân chia quyền lực cho chính quyền địa phương Dù trong điềukiện nào thì nhà nước phải là một khối thống nhất (dù quốc gia đó lớn hay bé),nhưng vẫn phải chia đất nước ra những vùng khác nhau để tiến hành cai trị Vấn
đề địa phương, tổ chức hành chính địa phương và chính quyền địa phương làvấn đề chung của mọi quốc gia
Phân chia quốc gia thành các đơn vị hành chính gắn liền với việc traocho chính quyền của vùng lãnh thổ đó những quyền lực nhất định trong quản lýcộng đồng Do đó, người ta quan tâm hơn đến vấn đề phân chia lãnh thổ thànhcác cấp chính quyền, và đấu tranh về quyền ra các quyết định quản lý nhà nướctức quyền tự quản địa phương Một số tự quản địa phương nếu gắn liền với sựchia tách (kiểu Đông Timi, Nam Tư hay nhiều nơi khác) sẽ là một dấu hiệu của
sự tan rã nhà nước thống nhất Do đó, đây là một trong những vấn đề nhạy cảmcủa việc hình thành chính quyền địa phương cơ sở tự quản, tự trị
Phân chia lãnh thổ thành các cấp quản lý khác nhau vừa đảm bảo tínhtruyền thống của cộng đồng lãnh thổ, vừa đảm bảo hiệu lực và hiệu quả củaquản lý là một vấn đề không đơn giản Khi thực hiện hình thức phân quyền tựquản, khá nhiều vấn đề cần được giải quyết nhằm bảo đảm thống nhất giốc giatrên những nguyên tắc: điều gì trung ương tập quyền làm kém hơn hay khônghiệu quả hơn so với chính quyền địa phương thì hãy để cho cấp cơ sở tự quyếtđịnh làm; điều gì trung ương tập quyền làm tốt hơn thì hãy làm; điều gì chính
Trang 9quyền địa phương không làm được thì trung ương phải làm và những vấn đềthuộc chủ quyền quốc gia phải tập trung trong tay chính quyền trung ương.
Cùng với sự tồn tại của chính quyền địa phương trên vùng lãnh thổ, đặcbiệt là cấp chính quyền cơ sở - cấp gần gũi dân nhất, sẽ tạo điều kiện để quản lýnhà nước tốt hơn, hiệu lực và hiệu quả hơn do có ;đủ thông tin về lãnh thổ, vềdân và đặc biệt là các hoạt động của họ”
3 Vai trò của chính quyền cơ sở trong quản lý nhà nước
Chính quyền cơ sở là cấp thấp nhất của hệ thống các cơ quan hành chínhnhà nước nói chung Đây là nơi “trực tiếp nhất với cuộc sống hàng ngày của xãhội, công dân và là nơi có thể nắm bắt được nhanh nhất, kịp thời nhất nhữngnguyện vọng, mong muốn của công dân
Đây là nơi trực tiếp giải quyết nhiều nhất các mối quan hệ giữa nhà nước
và công dân, tổ chức của công dân
Đây cũng chính là nơi công dân dễ thấy nhất cách thức hoạt động quản
lý nhà nước của nhà nước
Mọi hoạt động quản lý nhà nước của chính quyền cơ sở sẽ tác động trựctiếp đến đời sống xã hội và công dân trên địa bàn lãnh thổ Do đó, về nguyêntắc, đòi hỏi phải xây dựng một chính quyền cơ sở giỏi về chuyên môn và thànhthạo các hoạt động quản lý nhà nước trên địa bàn lãnh thổ
II TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG CƠ SỞ
Thị tộc được xem như là yếu tố đầu tiên cho sự hình thành đơn vị hànhchính lãnh thổ (chính quyền cơ sở) Mặc dù trước khi nhà nước ra đời, thị tộcchủ yếu được tổ chức theo quan hệ dòng học, sau khi có nhà nước nó mang đặctrưng địa vực, như chúng ta thường nói: đó là cộng đồng dân cư dựa trên “tìnhlàng, nghĩa xóm, lũy tre” Đó cũng chính là nền tảng để xây dựng chính quyền
cơ sở
Trong xu hướng phát triển chung, việc phân chia địa giới hành chính củacác đơn vị hành chính đang là một trong những vấn đề quan tâm Đó chính làđơn vị hành chính cơ sở xác định địa giới của nó dựa trên những tiêu chí nào
Nhiều nước quan tâm đến tính kế thừa của những quy định để xác địnhđịa giới hành chính Ví dụ, Pháp rất coi trọng “tư tưởng tháp chuông”, lấy phạm
vi ảnh hưởng của Nhà thờ để xác định địa giới hành chính Và địa giới hànhchính đó ít thay đổi
Mục tiêu của việc phân chia thành các vùng lãnh thổ và gắn với cácvùng đó là đơn vị hành chính nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả của quản lýnhà nước
Trang 10Với nguyên tắc đó mỗi một vùng lãnh thổ cấp cơ sở điều phải thiết lậpmột chính quyền cơ sở để quản lý nhà nước các vấn đề đặt ra trên địa bàn lãnhthổ đó.
1 Mô hình tổ chức chính quyền địa phương cơ sở
Trong nhiều nước, chính quyền địa phương cơ sở được tổ chức theo môhình “chính phủ” Nghĩa là uỷ ban chấp hành – cơ quan hành pháp địa phương,
là chính phủ địa phương (local goverment) Bên cạnh đó có một hội đồng là cơquan “lập pháp” của chính quyền địa phương1
Cơ cấu tổ chức hệ thống chính quyền địa phương cơ sở thường theonhững mô hình sau:
a Mô hình 1
Chính quyền địa phương bao gồm hội đồng và uỷ ban (chấp hành) Cảhai cơ quan này được lập ra thông qua bầu cử Tùy theo điều kiện cụ thể mà cóthể có các hình thức bầu cử khác nhau
- Hội đồng thường do cử tri theo các đơn vị bầu cử bầu ra theo nguyêntắc phổ thông Số lượng đại biểu của từng đơn vị bầu cử được quy định cụ thể
- Cơ quan chấp hành (uỷ ban) cũng có thể do cử tri bầu ra, hoặc do hộiđồng bầu
- Nguyên tắc chung là cả hai loại cơ quan này đều hoạt động theo nhiệmkỳ
- Nhiệm kỳ của chính quyền địa phương cơ sở không giống nhau giữacác nước Có nước nhiệm kỳ chỉ 2 năm, nhưng cũng có nước 5-6 năm
- Việc xác định thời hạn nhiệm kỳ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưngnếu ngắn quá sẽ tốn kém và chưa kịp hoàn thành một số công việc có tính chiếnlược, còn nếu dài quá, có thể tạo ra sự trì trệ trong điều hành, quản lý
Mô hình này giao cho chính quyền cơ sở thực thi các hoạt động quản lýnhà nước lãnh thổ theo đúng pháp luật nhà nước quy định Mức độ can thiệp củachính quyền địa phương cấp trên hay chính phủ trung ương sẽ hạn chế và chỉcan thiệp thông qua quy định các nhiệm vụ cụ thể mà chính quyền địa phương
cơ sở phải làm trình văn bản pháp luật
b Mô hình 2
Quản lý nhà nước trên địa bàn đơn vị hành chính (lãnh thổ) là sự kết hợpcủa chính quyền địa phương với các cơ quan nhà nước khác của chính phủ trungương Đó những cơ quan “tản quyền” của chính phủ trung ương đặt tại các địaphương
1 Thuật ngữ “lập pháp” trong trường hợp này được hiểu là cơ quan đưa ra các quyết định để cơ quan hành pháp thực hiện theo kiểu mô hình quốc hội.
Trang 11Những cơ quan nhà nước trung ương đặt tại địa phương vừa thực hiệncác công việc của chính phủ trung ương (không giao cho chính quyền địaphương), đồng thời giám sát chính quyền địa phương trong việc thực hiện quản
lý nhà nước
c Mô hình 3
Trên vùng lãnh thổ, không có chính quyền địa phương chỉ có những cơquan nhà nước cấp trên thành lập để tiến hành các hoạt động quản lý nhà nướctrên vùng lãnh thổ đó
Đây là cách tổ chức quản lý lãnh thổ mang tính sơ khai nhất Đó lànhững vùng lãnh thổ mới được mới được hình thành; đó là những vùng lãnh thổmới giành lại được (trong chiến tranh)
Cùng với sự phát triển của xã hội dân chủ, mô hình quản lý trực tiếp nàyphải được thay thế các mô hình 1 và 2
2 Một số mô hình tổ chức bộ máy chính quyền cơ sở.
Hiện nay, các nước có nhiều dạng khác nhau về tổ chức bộ máy chínhquyền cơ sở
Mỗi mô hình đều có tính hai mặt Do đó, tùy theo điều kiện cụ thể để lựachọn mô hình tổ chức bộ máy hợp lý
a Mô hình hội đồng – người đứng đầu
Tổ chức chính quyền cơ sở theo mô hình này chỉ ra ở sơ đồ 5
Sơ đồ 5: Mô hình hội đồng – người đứng đầu
Cử tri bầuHội đồng
Các ban chuyên môn
Các cơ quan chuyên
môn
Nhân dânNgười đứng đầu
Trang 12Theo mô hình tổ chức này (Mô hình hội đồng – người đứng đầu), chứcnăng lập pháp (lập quy)/hành pháp do hội đồng đảm nhận đó là những côngviệc gắn liền với tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước trên địa bàn lãnh thổ.Bao gồm:
- Bổ nhiệm công chức;
- Xác định cơ cấu tổ chức;
- Xây dựng ngân sách và thực hiện ngân sách
Người đứng đầu đóng vai trò danh dự hơn là điều hành, quản lý
b Mô hình người đứng đầu – hội đông
Về nguyên tắc, cả hội đồng và người đứng đầu điều do cử tri địa phươngbầu ra Nhưng phân công thực thi công việc quản ký nhà nước địa bàn lãnh thổkhác với mô hình hội đồng – người đứng đầu
Mô hình người đứng đầu – hội đồng mô tả ở Sơ đồ 6
Sơ đồ 6: Mô hình người đứng đầu – hội đồng
Theo Mô hình 6 (người đứng đầu – hội đồng):
- Người đứng đầu là người lãnh đạo hành pháp:
+ Chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động hàng ngày của địa phương;+ Thuê, bổ nhiệm công chức ở địa phương ;
+ Chuẩn bị ngân sách;
+ Có quyền phủ quyết nghị quyết;
Cử tri tham gia bầu
Các cơ quan chuyên môn
Người đứng đầu
Nhân dân
Hội đồngGiám sát
Trang 13- Hội đồng: cơ quan đại diện cử tri ở địa phương:
+ Ban hành, quyết định chình sách;
+ Giám sát hoạt động của người đứng đầu và hành pháp
Theo mô hình này, vai trò lập pháp của chính quyền cơ sở giao cho hộiđồng, trong khi chấp hành (quản lý hành chánh nhà nước hàng ngày) giao chongười đứng đầu hành pháp
c Mô hình hội đồng – nhà quản lý – người đứng đầu
Đây cũng là một mô hình tổ chức chính quyền địa phương cơ sở khá phổbiến
Tổ chức chính quyền cơ sở theo mô hình hội đồng – nhà quản lý vàngười đứng đầu mô tả ở Sơ đồ 7
Sơ đồ 7: Mô hình hội đồng – nhà quản lý – người đứng đầu