Tài liệu ôn ngữ văn 12 gồm nhiều tác phẩm lớp 12 từ cách phân tích bài văn đến hoàn cảnh sáng tác, tóm tắt truyện, nhan đề và chủ đề của các tác phẩm văn học lớp 12. Tài liệu tổng hợp rất nhiều tác phẩm lớp 12.
Trang 1MỤC LỤC
HOÀN CẢNH SÁNG TÁC CÁC BV - BT LỚP 12 4
1 Tuyên ngôn độc lập: 4
2 Tây Tiến: 4
3 Việt Bắc: 4
4 Đất nước - Trích “Trường ca mặt đường khát vọng”: 5
5 Sóng: 5
6 Người lái đò sông Đà: 5
7 Ai đã đặt tên cho dòng sông: 5
8 Vợ chồng A Phủ: 5
9 Vợ nhặt: 6
10 Rừng xà nu: 6
11 Chiếc thuyền ngoài xa: 6
12 Hồn Trương Ba da hàng thịt: 6
TÓM TẮT TRUYỆN CỦA VIỆT NAM 7
1 Vợ chồng A Phủ: 7
2 Vợ nhặt 7
3 Rừng xà nu: 8
4 Chiếc thuyền ngoài xa 8
5 Hồn Trương Ba, da hàng thịt - Lưu Quang Vũ 9
NHAN ĐỀ VÀ CHỦ ĐỀ CỦA CÁC TRUYỆN 10
I CHỦ ĐỀ: 10
1 Vợ chồng A Phủ: 10
2 Vợ nhặt: 10
3 Rừng Xà Nu: 10
4 Chiếc thuyền ngoài xa: 10
5 Hồn Trương Ba, da hàng thịt: 11
II NHAN ĐỀ: 11
1 Vợ nhặt: 11
2 Rừng Xà Nu: 11
3 Chiếc thuyền ngoài xa: 12
1 Nêu đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ 1945 - 1975: 13
2 Nêu quan điểm sáng tác văn học của Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh): .13 3 Hãy khái quát về sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh: 14
Trang 24 Nêu những nét cơ bản của phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh: 15
5 Giới thiệu con đường thơ Tố Hữu: 16
6 Phong cách thơ Tố Hữu (Tại sao nói Tố Hữu là nhà thơ trữ tình, chính trị và thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc?) 17
7 Tác giả Lỗ Tấn - Tác phẩm “Thuốc”: 18
8 Tác giả Sô-lô-khốp: 20
9 Nhà văn Hê Minh Uê với tác phẩm “Ông già và biển cả” 21
CÁC BÀI VĂN DÀI 23
1 Phân tích đoạn văn sau trong bài “Tây Tiến” 23
“Sông Mã xa rồi… 23
… mùa em thơm nếp xôi” 23
2 Phân tích đoạn thơ sau trong bài Tây Tiến: 26
“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa” 26
… 26
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” 26
3 Phân tích đoạn thơ sau trong bài Tây Tiến: 29
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc 29
… 29
Sông Mã gầm lên khúc độc hành” 29
4 Phân tích đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc: 32
“Ta về mình có… 32
… ân tình thủy chung” 32
5 Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ “Việt Bắc” 35
“Những đường Việt Bắc… 35
…núi Hồng” 35
6 Phân tích đoạn thơ sau trong bài “Đất nước”: 38
“Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi 38
… 38
Đất nước có từ ngày đó” 38
7 Phân tích đoạn thơ sau trong bài “Đất nước”: 40
“Trong anh và em hôm nay 40
Đều có một phần đất nước 40
… 40
Làm nên đất nước muôn đời” 40
Trang 38 Phân tích đoạn đầu của bài “Tuyên ngôn độc lập”: 41
9 Phân tích hình tượng con sông Đà 41
10 Phân tích diễn biến tâm trạng Mị trong đêm tình mùa xuân 41
11 Phân tích nhân vật người vợ nhặt trong tác phẩm “Vợ nhặt” 41
12 Phân tích hình tượng người lái đò sông Đà 41
13 Phân tích giá trị nhân đạo của “Vợ chồng A Phủ” 41
14 Phân tích hình tượng rừng xà nu 41
15 Nêu cảm nhận của em về bàn tay Tnú trong tác phẩm “Rừng xà nu” .41 16 Phân tích hình tượng nhân vật Tnú 41
17 Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm “Vợ nhặt” 41
18 Cảm nhận nhân vật Phùng (Phân tích sự chuyển biến của Phùng và Đẩu) 41
19 Phân tích tình huống truyện trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”.41 20 Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài 41
21 Phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân 41
22 Phân tích tâm trạng hành động cắt dây trói cứu A Phủ trong đêm mùa đông 41
23 Phân tích nhân vật A Phủ 41
24 Phân tích nhân vật Việt và Chiến trong tác phẩm “Những đứa con trong gia đình” 41
25 Phân tích tình huống truyện độc đáo cảu truyện ngắn “Vợ nhặt” 41
26 Hãy phân tích đoạn thơ sau trong bài “Sóng” của Xuân Quỳnh 41
“Dữ dội và dịu êm 41
… 41
Bồi hồi trong ngực trẻ” 41
27 Phân tích nhân vật “Tràng” trong truyện “Vợ nhặt” 41
28 Phân Tích Vẻ Đẹp Của Sông Hương Qua Bút Kí “Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông” Của Hoàng Phủ Ngọc Tường 41
29 Phân tích bi kịch “Hồn Trương Ba da hàng thịt” - Lưu Quang Vũ 41
30 Phân tích Tuyên Ngôn Độc Lập của Hồ Chí Minh 41
31 Phân tích hay cảm nhận bài thơ “Đàn ghita của Lorca” 41
32 Phân tích hình tượng những người anh hùng trong tác phẩm “Rừng xà nu” (Cụ Mết, Mai, Dít, bé Heng) 41
Trang 433 Phân tích tính sử thi của truyện ngắn “Rừng xà nu” 41
Trang 5HOÀN CẢNH SÁNG TÁC CÁC BV - BT LỚP 12
1 Tuyên ngôn độc lập:
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Nhật đầu hàng đồng minh Trongnước nhân dân ta vùng dậy giành quyền 26/08/1945, chủ tịch Hồ Chí Minh từchiến khu cách mạng Việt Bắc trở về Hà Nội Tại căn nhà số 48 phố HàngNgang Người soạn thảo tuyên ngôn độc lập 02/09/1945, tại quảng trường BaĐình - Hà Nội trước hàng vạn đồng bào, Người thay mặt chính phủ lâm thờinước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ranước Việt Nam mới
2 Tây Tiến:
Tây Tiến là một quân đội thành lập đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợpvới bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Việt - Lào và đánh Pháp ở thượng Lào vàmiền Tây Bắc Bộ Việt Nam Địa bàn hoạt động của Tây Tiến rất rộng, núi nonhiểm trở nhiều thú dữ Lính Tây Tiến phần đông là học sinh - sinh viên, thanhniên Hà Nội Họ chiến đấu trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn gian khổ nhưngvẫn lạc quan, anh hùng, lãng mạn Sau một thời gian hoạt động ở Lào đoàn quânTây Tiến trở về Hòa Bình thành lập trung đoàn 52 Quang Dũng làm đại độitrưởng của đoàn quân Tây Tiến từ năm 1947 đến cuối năm 1948 thì chuyển sangđơn vị khác Rời xa đơn vị cũ chưa bao lâu, tại Phù Lưu Chanh nhớ đơn vị cũ,Quang Dũng đã viết bài thơ “Nhớ Tây Tiến” sau đổi là Tây Tiến và in trong tập
“Mây đầu ô” rất tiêu biểu cho phong cách thơ Quang Dũng
3 Việt Bắc:
Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi Tháng 7 - 1954, hiệp địnhGiơ-ne-vơ về Đông Dương được ký kết Hòa bình được lập lại Miền Bắc nước
ta được giải phóng, một trang sử mới của đất nước được mở ra Tháng 10
-1954, Trung ương Đảng chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội Nhân
sự kiện thời sự có tính lịch sử ấy, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc Việt Bắc
là tiếng hát ân tình, ân nghĩa, thủy chung của mỗi con người cách mạng Bài thơ
Trang 6là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cùng là tác phẩm xuất sắc của văn học Việt Namthời chống Pháp.
4 Đất nước - Trích “Trường ca mặt đường khát vọng”:
“Trường ca mặt đường khát vọng” được Nguyễn Khoa Điềm hoàn thànhnăm 1971 và in lần đầu năm 1974 Viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị vùngtạm chiếm miền Nam về non sông đất nước, về sứ mệnh của thế hệ mình xuốngđường đấu tranh hòa nhịp với cuộc chiến đấu chống Mỹ xâm lược Đoạn trích
“Đất nước” thuộc phần đầu chương 5 của Trường ca này là một trong nhữngđoạn thơ hay về đề tài đất nước của thơ Việt Nam hiện đại
5 Sóng:
“Sóng” được sáng tác năm 1967, trong chuyến đi thực tế tại vùng biểnDiêm Điền - Thái Bình Là một bài thơ đặc sắc viết về tình yêu rất tiêu biểu chophong cách thơ Xuân Quỳnh Bài thơ được in trong tập “Hoa dọc chiến hào”
6 Người lái đò sông Đà:
“Người lái đò sông Đà” là tùy bút được in trong tập Sông Đà (1960) củaNguyễn Tuân Đó là kết quả của nhiều dịp ông đến với Tây Bắc trong thời kỳkháng chiến chống Pháp
7 Ai đã đặt tên cho dòng sông:
Đây là bài bút ký xuất sắc của Hoàng Phủ Ngọc Tường viết tại Huế ngày04/01/1981 và in trong tập sách cùng tên Bài bút ký có 3 phần mà người đọctìm thấy ở đó một phong cách tài hoa, tự do, phóng túng với vốn văn hóa sâurộng, một tâm hồn nhạy cảm và say mê cái đẹp
8 Vợ chồng A Phủ:
Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” (1952), in trong tập “Truyện Tây Bắc”được giải nhất giải thưởng hội văn nghệ Việt Nam 1954 - 1955 Đó là kết quảcủa chuyến Tô Hoài cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc Tác phẩm đã thể hiệnmột cách chân thực xúc động về cuộc sống cơ cực tủi nhục của đồng bào cácdân tộc thiểu số vùng cao dưới sách thống trị của bọn thực dân phong kiến.Cùng quá trình giác ngộ cách mạng tự vùng lên giải phóng cuộc sống mình
Trang 79 Vợ nhặt:
Là truyện ngắn xuất sắc của Kim Lân In trong tập “Con chó xấu xí”(1962) Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” được viếtngay sau cách mạng tháng 8 nhưng còn dang dở và mất bản thảo Sau khi hòabình lập lại 1954, Kim Lân dựa vào truyện cũ để viết truyện ngắn “Vợ nhặt”.Tác phẩm gây xúc động lòng người qua lối viết chân thực dựng lại tình cảnh thêthảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 do thựcdân Pháp và Phát xít Nhật gây ra Nhưng dù trong tình cảnh nào người nông dânViệt Nam vẫn yêu thương đùm bọc lẫn nhau, khao khát hạnh phúc gia đình vàtin vào tương lai tươi sáng
10 Rừng xà nu:
Truyện ngắn “Rừng xà nu” viết năm 1965 và in trong tập “Trên quêhương những anh hùng Điện Ngọc” là tác phẩm nổi tiếng nhất trong số các sángtác của Nguyễn Trung Thành trong những năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ.Tác phẩm đã hội tụ tất cả những vẻ đẹp của con người Tây Nguyên Con ngườivới lý tưởng và hành động anh hùng trước kẻ thù tàn bạo để bảo vệ quê hươngđất nước được trường tồn
11 Chiếc thuyền ngoài xa:
Chiếc thuyền ngoài xa được viết vào tháng 8 năm 1983, tác phẩm in đậmphong cách tự sự, triết lý của Nguyễn Minh Châu
12 Hồn Trương Ba da hàng thịt:
“Hồn Trương Ba da hàng thịt” viết năm 1981 nhưng đến 1984 mới ra mắtcông chúng Là một trong những vở kịch đặc sắc nhất của Lưu Quang Vũ Vởkịch được tác giả hiện đại hóa trên một cốt truyện dân gian Từ một hư cấu đầysáng tạo ông đã đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ có ý nghĩa tư tưởng triết lý và nhânvăn sâu sắc
Trang 8TÓM TẮT TRUYỆN CỦA VIỆT NAM
1 Vợ chồng A Phủ:
Mị là một cô gái người Mông xinh đẹp, có tài thổi sáo nhưng nghèo khổ
Do món nợ từ khi cha mẹ Mị lấy nhau Mị bị bắt về làm dâu gạt nợ nhà thống lý
Pá Tra Ban đầu, Mị định tự tử nhưng vì thương cha đành cam chịu sống trongđau khổ câm lặng Mùa xuân lại về, Mị lén uống rượu một mình Không khí vuinhộn ngày tết, nhất là tiếng sáo gọi bạn tình đã giúp Mị nhớ lại những ngàytrước, khơi dậy ở Mị khát vọng tình yêu hạnh phúc Mị định đi chơi thì bị A Sửbắt trói đứng vào cột nhà Cũng đêm đó, A Phủ, một thanh niên mồ côi nhưngkhỏe mạnh, can trường đã đánh A Sử, vì bất bình trước việc hắn phá đám chơicủa trai làng A Phủ bị làng bắt về xử và trở thành người ở trong nhà thống lý PáTra để trừ nợ Một lần, trong lúc chăn bò vì mải mê bẫy nhím mà A Phủ đã để hổ
vồ mất bò Anh bị thống lý Pá Tra bắt trói đứng vào cột suốt mấy ngày đêm, chờkhi nào A Sử bắt được hổ mới tha Những giọt nước mắt của A Phủ đã làm Mịđộng lòng cảm thương người cùng cảnh ngộ Cô cắt dây trói cho A Phủ rồi quyếtđịnh cùng anh bỏ trốn đi, tự giải thoát cho mình
2 Vợ nhặt
Tràng nhà nghèo, xấu xí thô kệch, làm nghề kéo xe chở thóc thuê và sốngvới một mẹ già ở xóm ngụ cư Năm ấy nạn đói hoành hành khắp nơi Một lầnđánh xe thóc lên tỉnh, Tràng quen với một cô gái sau khi cô đáp trả lời hò đùacủa Tràng và kéo xe giúp Tràng Một lần khác, Tràng gặp lại cô gái, rách rưới vàtiều tụy hơn hôm trước nhiều vì đói Cô gái đòi Tràng cho ăn như đã hứa lầntrước Tràng mời cô một bữa ăn, cô gái ăn một chặp bốn bát bánh đúc Mua mộtcái thúng và hai hào dầu, Tràng dẫn cô về nhà ra mắt mẹ Xóm ngụ cư rất ngạcnhiên, vừa thích thú vừa ái ngại cho Tràng và cô vợ mới Bà cụ Tứ mẹ Tràng saukhi nghe Tràng trình bày việc có vợ thì vừa ngạc nhiên và vui mừng, lại vừa lolắng và thương con Bà chấp nhận người con dâu mới và dành tình thương cho
cả cô Sáng hôm sau ngủ dậy Tràng rất cảm động và cảm thấy yêu gia đình khithấy vợ và mẹ dọn dẹp nhà cửa quang quẻ Trong bữa sáng đạm bạc đón nàngdâu mới, ban đầu ba người chỉ nói toàn chuyện vui, nhưng khi cháo hết và cả
Trang 9nhà phải ăn cám thì bữa ăn mất vui Có tiếng trống thúc thuế vọng đến, người vợnhắc tới những người theo Việt Minh đi cướp kho thóc cứu đói làm Tràng suynghĩ.
3 Rừng xà nu:
Làng Xô Man nằm trong tầm đại bác của giặc Rừng Xà Nu dù bị bắn hailần mỗi ngày nhưng vẫn kiên cường vươn tới Nhân chuyến thăm làng của Tnúsau 3 năm đi lực lượng, cụ Mết đã kể cho buôn làng nghe về cuộc đời Tnú bênbếp lửa nhà sàn Những năm ấy giặc Mỹ và tay sai khủng bố dã man phong tràocách mạng nhưng dân làng Xô Man vẫn tìm cách nuôi dưỡng cán bộ Tnú mộtchú bé mồ côi được dân làng đùm bọc đã cùng Mai vào rừng tiếp tế cho cán bộ.Được cán bộ Quyết dìu dắt, anh đi làm liên lạc, sau bị bắt, thoát tù anh trở vềcùng dân làng chuẩn bị vũ khí chiến đấu Được tin này giặc hùng hổ kéo vềlàng, bắt vợ Tnú là Mai cùng đứa con mới sinh ra tra tấn Từ nơi ẩn nấp anh địnhnhảy vào giữa bọn lính để cứu vợ con Nhưng vợ con anh đã chết, anh bị giặcbắt, đối trụi mười đầu ngón tay Trước cảnh tượng dã man này, dân làng Xô Mannhất tề vùng lên giết hết 10 tên giặc Làng Xô Man trở thành làng cách mạng,Tnú gia nhập bộ đội giải phóng và chiến đấu dũng cảm nên được cấp trên cho vềthăm làng Sau đêm gặp gỡ ôn lại chuyện đời Tnú và dân làng Xô Man, sánghôm sau cụ Mết và Dít tiễn Tnú lên đường Ba người đứng nhìn những rừng xà
nu nối tiếp chạy tít tắp đến chân trời…
4 Chiếc thuyền ngoài xa
Để có được bộ lịch nghệ thuật về thuyền và biển thật đẹp người trưởngphòng đề nghị nghệ sĩ, nhiếp ảnh Phùng về vùng biển chụp bổ sung một bức ảnhvới cảnh thuyền và biển vào buổi sáng có sương mù Chuyến đi công tác ấy anh
đã gặp Đẩu, người bạn chiến đấu năm xưa nay là chánh án tòa án huyện Phùng
đã phục kích gần 1 tuần lễ mà chưa chụp được bức ảnh nào Thật bất ngờ mộtbuổi sáng sớm anh đã chụp được một cảnh đất trời cho, một chiếc thuyền thulưới trong sương mù ban mai, đẹp như một bức tranh thủy mặc thời cổ Bứcphong cảnh toàn bích có một không hai trong cuộc đời cầm máy đã khiến tâmhồn người nghệ sĩ rung động hạnh phúc ngập tràn Nhưng cũng thật bất ngờ
Trang 10chiếc thuyền từ xa tiến gần vào bờ bước ra từ cõi thơ mộng ấy là người đàn bàxấu thô kệch mặt rỗ và người chồng độc dữ dùng chiếc thắt lưng thời Ngụy đánhđập vợ con dã man tàn bạo khiến Phùng kinh ngạc Sau 3 ngày Phùng lại tiếptục chứng kiến cảnh người chồng ấy đánh vợ lần thứ hai Nhưng đứa con bênhvực mẹ chống lại người cha bằng hành động tương tự Trước cảnh tượng đóPhùng không thể chịu đựng thêm nữa, anh xông vào can và bị người đàn ông kiađánh cho bị thương và anh được đưa về trạm y tế của tòa án huyện Tại đây anhđược nghe câu chuyện của người đàn bà hàng chài, sự thật nơi góc khuất giađình của người đàn bà kia có biết bao khó khăn, phức tạp, bà không dám lìa bỏngười đàn ông độc dữ vì bà cần có người đàn ông trên biển và cả sự sống củanhững đứa con, bà chấp nhận sự hi sinh, nhẫn nhục cam chịu Tấm ảnh Phùngmang về đã làm hoàn thiện cho bộ lịch năm ấy Dành tặng cho bao người chịuchơi nghệ thuật nhưng với Phùng mỗi khi ngắm lại thì hảnh ảnh người đàn bàhàng chài lại hiện ra đầy ám ảnh.
5 Hồn Trương Ba, da hàng thịt - Lưu Quang Vũ.
Trích đoạn thuộc cảnh 7 và đoạn kết của vở kịch Trưởng Hoạt phê phánTrương Ba đã bắt đầu đổi tính uống rượu, thích ăn ngon, nước cờ đi cũng khác
Lý Trưởng lại đến gây khó dễ, con trai Trương Ba tỏ ra hư hỏng hơn chỉ nghĩđến tiền và trục lợi Vợ Trương Ba buồn khổ định bỏ đi Cháu gái không nhậnông nội, con dâu xót xa vì bố chồng không còn như xưa Bản thân Trương Bacũng bất lực bởi chính mình Một cuộc đối thoại giữa phần xác và phần hồn diễn
ra trong đó phần xác khẳng định sức mạnh và thế lấn tới của hắn đối với hồnTrương Ba Hồn Trương Ba thắp hương gọi Đế Thích xuống giải thoát chomình Cùng lúc cu Tị con một người hàng xóm cũng chết Đế Thích định chohồn Trương Ba nhập vào xác cu Tị nhưng Trương Ba kiên quyết từ chối Trương
Ba xin cho cu Tị được sống lại còn mình trả xác cho hàng thịt và chấp nhận cáichết Phần kết vở kịch hồn Trương Ba nhập vào màu xanh cây cỏ trong vườn tròchuyện với vợ Cu Tị và bé gái ăn na rồi gieo hạt cho nó mọc thành cây mới
Trang 11NHAN ĐỀ VÀ CHỦ ĐỀ CỦA CÁC TRUYỆN
I CHỦ ĐỀ:
1 Vợ chồng A Phủ:
Đoạn trích kể về cuộc đời của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài trong nhà thống
lý Pá Tra Họ là những người tiêu biểu cho người nông dân miền núi sống dướiách kìm kẹp áp bức của bọn thực dân chúa đất Bị cướp đoạt tài sản, bị bóc lộtsức lao động và bị xúc phạm về nhân phẩm nhân quyền Ý thức được điều đó họ
đã vùng lên tự giải phóng đời mình
2 Vợ nhặt:
Truyện “Vợ nhặt” lên án tố cáo tội ác của xã hội thực dân nửa phong kiến
đã đẩy con người tới nạn đói khủng khiếp khiến mạng người rẻ như cỏ rác.Nhưng người nông dân tuy nghèo đói và cực khổ đến đâu ngay cả khi kề bên cáichết họ vẫn rất giàu tình yêu thương đồng loại, khao khát hạnh phúc gia đình vàluôn có niềm tin vào cuộc sống và tương lai
4 Chiếc thuyền ngoài xa:
Qua truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” nhà văn Nguyễn Minh Châu đãgửi gắm những chiêm nghiệm sâu sắc của ông về nghệ thuật và cuộc đời Ngườinghệ sĩ cần có cái nhìn đúng đắn về cuộc sống và con người Phát hiện chiều sâuthực chất từ bề ngoài hình tượng những mâu thuẫn, những nghịch lý trong cuộcsống để góp phần làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn chứ không chỉ biết săn đuổinghệ thuật cao siêu thuần túy
Trang 125 Hồn Trương Ba, da hàng thịt:
Qua đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” Lưu Quang Vũ muốn gửitới người đọc thông điệp vừa trực tiếp vừa gián tiếp, vừa mạnh mẽ quyết liệt vừakín đáo sâu sắc về thời đại của ông Được sống làm người quý giá thật nhưngđược sống đúng là mình, sống trọn vẹn với những giá trị mình vốn có và theođuổi còn quý giá hơn Sự sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi con người được sống
tự nhiên hài hòa giữa thể xác và tâm hồn Con người cần phải luôn luôn biết đấutranh với những nghịch cảnh với chính bản thân mình, chống lại sự dung tục đểhoàn thiện nhân cách và vươn tới những giá trị tinh thần cao quý Sống một cuộcsống có ý nghĩa xứng đáng với con người Đoạn trích vừa có ý nghĩa triết lý sâusắc vừa giàu tính nhân văn
II NHAN ĐỀ:
1 Vợ nhặt:
Đặt tên cho đứa con tinh thần của mình không phải là tùy tiện, nhà văncoi đó là một việc làm quan trọng và đầy ý nghĩa bởi cái tên của tác phẩm nónhư chìa khóa giúp người đọc mở vào tác phẩm Nhan đề thường hàm chứa cả
đề tài, chủ đề tư tưởng tác phẩm và cả linh hồn của tác giả Kim Lân đặt tên chotác phẩm của mình là “Vợ nhặt” cũng vì lẽ đó Vợ nhặt, một thứ vợ do nhặtđược, nhặt một cách ngẫu nhiên dễ dàng như người ta nhặt một thứ đồ vật Giátrị con người chưa bao giờ rẻ dúm đến thế Vì vậy ngay từ đầu nhan đề đã tạođược ấn tượng kích thích sự chú ý của người đọc về giá trị con người Chính nạnđói khủng khiếp năm 1945 do xã hội thực dân nửa phong kiến đã gây ra điều đó.Xong vợ nhặt mà không hề khinh bạc Con người vẫn yêu thương trân trọng vàđùm bọc lẫn nhau và không nguôi khát vọng niềm tin dù họ ở trong hoàn cảnhnghiệt ngã nhất
2 Rừng Xà Nu:
Nguyễn Trung Thành đã đặt tên cho tác phẩm của mình là Rừng Xà Nukhông phải là một ngẫu hứng hay tùy tiện mà đầy dụng ý nghệ thuật Đối vớicác nhà văn lớn đặt tên cho đứa con tinh thần của mình là việc làm hết sức quantrọng, nó là cả sự tìm tòi trăn trở, thai nghén mới có được vì nhan đề ấy phải
Trang 13chứa đựng cả đề tài, chủ đề, tư tưởng tác phẩm và cả linh hồn nhà văn Rừng xà
nu, một cái tên ấn tượng rất gợi chất Tây Nguyên đã thỏa mãn được điều đó.Rừng xà nu gắn bó máu thịt và có biết bao kỷ niệm sâu sắc với nhà văn trongsuốt các cuộc chiến đấu và viết văn tại chiến trường Tây Nguyên Xà nu là loàicây nhà văn yêu mến, bởi nó mang vẻ đẹp biểu trưng cho sức sống, sức mạnhcủa người Tây Nguyên anh hùng như cụ Mết, Tnú, Mai, Dít, bé Hem Hình ảnhrừng xà nu trải khắp tác phẩm, hùng vĩ, man dại, mãnh liệt sinh sôi nảy nởkhông ngừng Bất chấp đại bác của giặc tàn phá mỗi ngày qua đó nhà văn muốnkhẳng định phẩm chất anh hùng kiên cường bất khuất của người Tây Nguyên,của nhân dân miền Nam và của cả dân tộc Việt Nam vượt qua mọi đau thươngthử thách để bảo vệ quê hương đất nước Rừng xà nu là hình tượng trung tâm làlinh hồn của tác phẩm
3 Chiếc thuyền ngoài xa:
Nguyễn Minh Châu đặt tên cho đứa con tinh thần của mình không phảingẫu nhiên mà đầy dụng ý nghệ thuật Hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa vừamang ý nghĩa cụ thể vừa có ý nghĩa hàm ẩn biểu tượng Nghĩa thực của chiếcthuyền ngoài xa như nó vốn có và cũng là hình ảnh của chiếc thuyền nghệ thuật.Chiếc thuyền trong mờ xa mù sương khi vào ảnh nó là tĩnh vật, thứ tĩnh vật thơmộng của thiên nhiên ban tặng cho cuộc đời dưới góc chụp của người nghệ sĩcảnh thiên nhiên càng thêm thơ mộng đem lại giá trị tinh thần cho con người.Gợi ra bao đắm say cảm xúc tình yêu cuộc sống Nhưng ở góc nhìn cận cảnhchiếc thuyền hay kiếp người lênh đênh dập dềnh sóng gió trên biển cả biển đờibiết bao khó khăn gian khổ mà kiếp người phải trải qua như cuộc sống của giađình hàng chài kia Người nghệ sĩ cần có cái nhìn đa chiều toàn diện để pháthiện bản chất sự thật và góp phần cải tạo cuộc sống, đừng vì nghệ thuật mà quêncuộc đời Nghệ thuật chân chính là nghệ thuật phục vụ con người vì cuộc đờicho cuộc đời Phùng người nghệ sĩ biết rung động trước cái đẹp của nghệ thuật
và anh cũng biết trăn trở nghĩ suy yêu ghét buồn vui trước lẽ đời, biết hành động
để có cuộc sống xứng đáng với con người
Trang 141 Nêu đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ 1945 - 1975:
- Nền văn học vận động theo hướng cách mạng hóa gắn bó sâu sắc vớivận mệnh chung của đất nước Quan điểm của đảng là xây dựng đội ngũ các nhàvăn kiểu mới nhà văn chiến sĩ, “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận” (HồChí Minh” Văn học trước hết phải là vũ khí phục vụ sự nghiệp cách mạng Quátrình vận động phát triển của văn học luôn nhịp bước với từng chặng đường lịch
sử của dân tộc theo sát thực hiện nhiệm vụ chính trị của đất nước Văn học tậptrung vào 2 đề tài lớn là bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội
- Nền văn học hướng về đại chúng: đại chúng vừa là đối tượng phản ánhvừa là đối tượng phục vụ vừa là nguồn cung cấp bổ sung lực lượng sáng tác chovăn học Đất nước của nhân dân văn học luôn quan tâm đến đời sống của nhândân lao động, xây dựng hình tượng quần chúng cách mạng, văn học mang tínhnhân dân, dân tộc sâu sắc và nội dung nhân đạo mới Các tác phẩm đều sáng tácngắn gọn dễ hiểu, ngôn ngữ giản dị
- Nền văn học chủ yếu mang tính sử thi và cảm hứng lãng mạn: tiếng nóicủa văn học đề cập tới số mệnh chung của đất nước của cộng đồng dân tộc Tậptrung phản ánh những vấn đề cơ bản lớn lao và sự sống còn của dân tộc Lời văn
sử thi mang giọng điệu ngợi ca trang trọng Con người Việt Nam dù trải qua baonhiêu khó khăn gian khổ cả vật chất lẫn tinh thần nhưng lòng vẫn tràn đầy lạcquan tin tưởng mơ ước về một tương lai tươi sáng
2 Nêu quan điểm sáng tác văn học của Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh):
- Hồ Chí Minh là nhà yêu nước, nhà cách mạng vĩ đại của dân tộc Cùngvới sự nghiệp cách mạng vĩ đại Người còn để lại cho hậu thế một sự nghiệp vănhọc to lớn Người am hiểu quy luật và đặc trưng của hoạt động văn nghệ, điều
đó được thể hiện trực tiếp trong hệ thống quan điểm văn học của Người:
+ Người coi văn học nghệ thuật là một vũ khí chiến đấu lợi hại phụng sựcho sự nghiệp cách mạng Nhà văn chiến sĩ “Nay ở trong thơ nên có thép, nhàthơ cũng phải biết xung phong”
+ Người luôn coi trọng tính chân thật và tính dân tộc của văn học Về nộidung phải miêu tả cho hay cho chân thật hùng hồn hiện thực phê phán của đời
Trang 15sống cách mạng, phải giữ tình cảm chân thật, phát huy cốt cách của dân tộc Vềnghệ thuật phải có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, viết giản dị dễhiểu, không cầu kỳ xa lạ và đề cao tính sáng tạo của người nghệ sĩ.
+ Khi cầm bút Hồ Chí Minh bao giờ cũng xuất phát từ mục đích, đốitượng tiếp nhận để quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm “Viết cho ai?Viết để làm gì? Viết cái gì? Viết như thế nào?” Người đã vận dụng phương châm
đó theo nhiều cách khác nhau
3 Hãy khái quát về sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh:
- Văn chương không phải sự nghiệp chính của Người Người là nhà hoạtđộng cách mạng nhưng Người đã để lại cho hậu thế một di sản văn học lớn lao
về tầm vóc tư tưởng, phong phú về thể loại, đa dạng về phong cách nghệ thuật
+ Truyện và ký: Truyện và ký viết ra cũng nhằm tố cáo tội ác dã man tànbạo xảo trá của bọn thực dân và phong kiến tay sai đối với nhân dân lao độngcác nước thuộc địa đồng thời đề cao những tấm gương yêu nước và cách mạng
Các tác phẩm tiêu biểu: Lời than vãn của bà Trưng Trắc, Vi hành,Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu… Đây là những thiên truyện củamột cây bút tài năng, vốn văn học sâu rộng, trí tuệ sắc sảo và trái tim tràn đầytình yêu nước và cách mạng
Trang 164 Nêu những nét cơ bản của phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh:
- Độc đáo đa dạng, mỗi thể loại văn học Người đều tạo ra những nétphong cách riêng độc đáo, hấp dẫn
* Văn chính luận: Người viết ngắn gọn súc tích, lập luận chặt chẽ, lý lẽđanh thép, bằng chứng đầy thuyết phục, giàu tính luận chiến và đa dạng về bútpháp Văn chính luận nhưng thấm đượm tình cảm, cảm xúc và giàu hình ảnh,giọng điệu đa dạng khi ôn tồn tha thiết thấu tình đạt lý khi đanh thép mạnh mẽhùng hồn (Tuyên ngôn độc lập)
* Truyện và ký: phong cách rất hiện đại thể hiện tình cảm mạnh mẽ vànghệ thuật trào phúng sắc bén, tiếng cười trào phúng tuy nhẹ nhàng hóm hỉnhnhưng thâm thúy sâu cay (Vi hành)
* Thơ ca: phong cách sâu sắc tinh tế thể hiện vẻ đẹp tâm hồn Hồ ChíMinh Thơ của Người có thể chia làm hai loại:
+ Loại mang phong cách giản dị mộc mạc, dễ hiểu, dễ nhớ, mang màu sắcdân gian hiện đại (dân cày, công nhân) nhằm mục đích tuyên truyền cách mạng
+ Loại viết theo cảm hứng thẩm mỹ là những bài thơ tứ tuyệt cổ điển bằngchữ Hán Phong cách phương Đông cổ điển kết hợp với bút pháp hiện đại(Nguyên tiêu, Mộ,…)
-> Tóm lại, phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh rất phong phú đa dạng
mà thống nhất, thể hiện sự tài hoa của người cầm bút
Trang 175 Giới thiệu con đường thơ Tố Hữu:
- Tố Hữu là một trong những lá cờ đầu của nền văn nghệ Việt Nam Cácchặng đường thơ của ông luôn gắn bó và phản ánh chân thật những chặng đườngcách mạng đầy gian khổ hy sinh của dân tộc đồng thời cũng là chặng đường vậnđộng trong quan điểm tư tưởng và bản lĩnh nghệ thuật của của nhà thơ
+ Tập thơ “Từ ấy” (1937 - 1946):
Là chặng đầu tiên của đời thơ Tố Hữu đánh dấu bước trưởng thànhcủa người thanh niên quyết tâm đi theo ngọn cờ của Đảng
Tập thơ chia là 3 phần: Máu lửa, Xiềng xích, Giải phóng
Đây là những sáng tác trong thời kỳ mặt trận dân chủ trong các nhàlao lớn ở Trung Bộ và Tây Nguyên, những ngày đầu giải phóng vĩ đại của toàndân tộc, nhà thơ ca ngợi thắng lợi của cách mạng, nền độc lập tự do của Tổ quốc
và khẳng định niềm tin vững chắc của nhân dân vào chế độ mới
+ Tập thơ “Việt Bắc” (1946 - 1954):
Là tiếng ca hùng tráng thiết tha về cuộc kháng chiến chống Phápvới những con người kháng chiến như anh vệ quốc quân, bà mẹ nông dân, em béliên lạc
Ca ngợi Đảng, Bác Hồ và tình cảm quốc tế vô sản Tập thơ kết thúcbằng những bài hùng ca vang dội phản ánh khí thế chiến thắng hào hùng xúcđộng của dân tộc trong những giờ phút lịch sử
+ Tập thơ “Gió lộng” (1955 - 1961):
Dạt dào bao niềm cảm xúc lớn lao nhà thơ hướng về quá khứ,hướng tới tương lai, tràn đầy sức sống và niềm vui nhưng không quên nỗi đauchia cắt với miền Nam ruột thịt
+ Hai tập thơ “Ra trận” (1962 - 1971), “Máu và hoa” (1972 - 1977):
Âm vang khí thế quyết liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứunước và niềm vui toàn thắng
“Ra trận” là bản anh hùng ca về miền Nam trong lửa đạn sáng ngờivới bao hình ảnh tiêu biểu cho dũng khí kiên cường của dân tộc
Trang 18 “Máu và hoa” là một chặng đường cách mạng gian khổ hy sinhnhưng vẫn khẳng định niềm tin tất thắng của toàn dân tộc.
+ “Một tiếng đờn” (1992) và “Ta với ta” (1999).
Là hai tập thơ đánh dấu bước chuyển biến mới trong thơ Tố Hữu.Trước cuộc sống sôi động và đổi thay tâm hồn nhà thơ tiến đến những cảm xúcsuy tư chiêm nghiệm mang tính phổ quát về cuộc đời con người Vượt lên baobiến động thăng trầm, thơ Tố Hữu vẫn kiên định tin vào lý tưởng và con đườngcách mạng, vào chữ nhân tỏa sáng ở mỗi hồn người
6 Phong cách thơ Tố Hữu (Tại sao nói Tố Hữu là nhà thơ trữ tình, chính trị và thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc?)
* Về nội dung: Thơ Tố Hữu mang tính chất trữ tình chính trị sâu sắc:
- Hồn thơ Tố Hữu luôn hướng tới cái ta chung với lẽ sống lớn, tình cảmlớn, niềm vui lớn của con người cách mạng của cả dân tộc Cái tôi trữ tình là cáitôi chiến sĩ, cái tôi nhân danh Đảng, nhân danh cộng đồng dân tộc, dấn thân vàocon đường cách mạng giải phóng dân tộc với mục đích cao cả Thơ Tố Hữukhông đi sâu vào cuộc sống và những tình cảm riêng tư mà tập trung vào nhữngtình cảm lớn có tính chất tiêu biểu phổ biến của con người cách mạng Tình yêu
lý tưởng, tình cảm với lãnh tụ, tình đồng bào đồng chí (Từ ấy, Việt Bắc)
- Thơ Tố Hữu mang đậm tính sử thi, coi những sự kiện chính trị lớn củađất nước là đối tượng thể hiện chủ yếu, luôn đề cập đến những vấn đề có ý nghĩalịch sử có tính chất toàn dân, nhà thơ tập trung khắc họa những bối cảnh rộnglớn, những biến cố quan trọng tác động đến vận mệnh của dân tộc Cảm hứngchủ đạo trong thơ Tố Hữu là cảm hứng lịch sử dân tộc, làm nổi lên những vấn đềvận mệnh của cộng đồng chứ không phải vấn đề số phận cá nhân Các nhân vậttrữ tình thường mang phẩm chất tiêu biểu cho dân tộc, cho lịch sử và cho thờiđại (Lên Tây Bắc, Người con gái Việt Nam)
- Thơ Tố Hữu mang giọng điệu tâm tình rất tự nhiên, đằm thắm chânthành Lời thơ tâm tình ấy là tiếng nói đồng ý, đồng chí, đồng tình, đồng điệuvới người đọc Vì thế thơ ông rất dễ nhớ dễ thuộc và được nhiều người đọc yêuthích
Trang 19* Về nghệ thuật: Thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc:
- Về thể thơ: Tiếp thu tinh hoa của phong trào thơ mới, của thơ ca thế giới,thơ cổ điển và hiện đại nhưng ông lại rất thành công trong vận dụng thể thơtruyền thống của dân tộc như lục bát, song thất lục bát, thất ngôn
- Về ngôn ngữ: Tố Hữu chủ yếu sử dụng những từ ngữ tự nhiên và cáchnói quen thuộc của dân tộc Đặc biệt thơ Tố Hữu phát huy cao độ tính nhạcphong phú của tiếng Việt Ông sử dụng rất tài tình các từ láy thanh điệu và vần
7 Tác giả Lỗ Tấn - Tác phẩm “Thuốc”:
(1) Giới thiệu nhà văn Lỗ Tấn:
- Lỗ Tấn (1881 - 1936) là nhà văn cách mạng Trung Quốc
- Tên thật là Chu Chương Thọ sau đổi thành Chu Thụ Nhân
- Quê: Chiết Giang - Trung Quốc
- Đang học dở cao đẳng y khoa ở Tiên Đài ông đột ngột thay đổi chíhướng vì xem phim thấy những người Trung Quốc khỏe mạnh hăm hở xin ngườiNhật chém một người Trung Quốc làm gián điệp cho quân Nga, ông giật mình
và nhận ra rằng chữa bệnh thể xác không quan trọng bằng chữa bệnh tinh thần
và ông đã chuyển sang làm văn nghệ
- Dùng ngòi bút phanh phui các căn bệnh tinh thần của quốc dân và lưu ýmọi người tìm phương thuốc chạy chữa Ông hát cho đồng bào mình nghe bàihát Lạc Điệu của chính họ và chỉ cho họ thấy những bước đi sai nhịp trên conđường tiến về tương lai
- Ông sáng tác nhiều thể loại như truyện ngắn, tạp văn, thơ nhưng tất cảđều tập trung vào chủ đề phê phán quốc dân tính - căn bệnh tinh thần khiến quốc
Trang 20dân mê muội, tự thỏa mãn ngủ say trong một cái nhà ngục bằng sắt không cócửa sổ.
- Các tác phẩm chính: AQ chính truyện, Nấm mồ, Cỏ dại, Gió nóng,Truyện cũ viết theo lối mới…
- Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên rất thích văn chương của LỗTấn bởi Người tìm thấy trong đó sự đồng điệu của tâm hồn
(2) Ý nghĩa nhan đề truyện “Thuốc”:
- “Thuốc” có những tầng nghĩa sau:
+ Tầng nghĩa thứ nhất (nghĩa thực) đó là thứ thuốc truyền thống củangười dân dùng chữa bệnh lao - bánh bao tẩm máu người chiến sĩ cộng sảnnướng lên cho người mắc bệnh lao ăn Đây là thứ thuốc quái đản gây chếtngười Lỗ Tấn muốn thức tỉnh mọi người đó là thứ thuốc độc mê tín phi khoahọc Ông muốn khai sáng cho mọi người phải biết khoa học, phải tìm tòi nghiêncứu bằng khoa học mới có thể chữa được căn bệnh nan y này
+ Tầng nghĩa thứ hai là tầng sâu sắc là bức thông điệp chính của tácphẩm Nhà văn cảnh tỉnh cần có thứ thuốc đặc hiệu để chữa trị cho sự u mê ngumuội dửng dưng vô cảm tê liệt tinh thần trầm trọng của quần chúng Họ khônghiểu biết về chính trị, họ cần có thuốc để giác ngộ để chuyển mình cùng sự đổithay của đất nước Đồng thời có thuốc để chữa trị cho những người cách mạng
Họ làm cách mạng mà còn xa rời thoát ly quần chúng Người Trung Quốc lúc đógiống như cái tay không cảm nhận được nỗi đau của cái chân lại luôn hớn hở tựđắc Thắng trận trong tưởng tượng đúng là một căn bệnh trong tình trạng thập tửnhất sinh cấp thiết phải có phương thuốc chữa trị để cứu đất nước thoát khỏi nạnvong quốc
(3) Tóm tắt truyện “Thuốc”:
Vợ chồng lão Hoa chủ quán trà có thằng Thuyên con trai độc nhất mắcbệnh lao Nhờ người mách lão đã tìm đến cai ngục mua chiếc bánh bao tẩm máucủa một người tử tù làm cách mạng tên là Hạ Du, mang về nướng lên cho con ănchữa bệnh lao Vợ chồng lão và tất cả mọi người trong quán trà đều khẳng địnhđây là thứ thần dược, họ tin một cách chắc chắn thằng Thuyên ăn vào cam đoan
Trang 21thế nào cũng sẽ khỏi bệnh Họ còn bàn tán về Hạ Du, người tử tù vừa bị chémsáng nay Ngồi tù mà vẫn rủ đề lao làm phản - làm giặc Họ gọi anh là thằngđiên, thằng khốn nạn Một năm sau vào dịp tết thanh minh, bà mẹ Hạ Du, bà mẹthằng Thuyên cùng đến bãi tha ma viếng mộ con Cả hai bà mẹ đều đau khổ vìnỗi mất con và họ bắt đầu cảm thương với nhau Bà mẹ Hạ Du rất ngạc nhiênkhi thấy trên mộ Hạ Du có cả một vòng hoa, hoa trắng hoa hồng xen lẫn nhaunằm khoanh trên nấm mộ khum khum Mẹ Hạ Du tự hỏi mình: “Thế này là thếnào?” Cả hai bà mẹ ra về và giật mình khi nghe tiếng quạ kêu.
8 Tác giả Sô-lô-khốp:
(1) Giới thiệu vài nét về nhà văn Sô-lô-khốp:
- Tên đầy đủ: Mi-khai-in - Alêchxanđrôvích Sô-lô-khôp (1905 - 1984) Lànhà văn Nga lỗi lạc và được liệt vào hàng các nhà văn lớn nhất thế kỳ XX
- Năm 1965 ông vinh dự được nhận giải thưởng Nobel về văn học
- Ông sinh tại tỉnh Rôxtôp trên vùng thảo nguyên sông Đông
- Tham gia cách mạng khá sớm, làm thư ký ủy ban trấn, nhân viên thumua lương thực
- Năm 1922, ông đến Matxcơva, làm nhiều nghề để kiếm sống như đập
đá, khuân vác, kế toán… Ông tự học và đọc văn học trong những lúc rảnh rỗi
- Năm 1926, lần đầu tiên ông xuất hiện trên văn đàn nổi tiếng với haitruyện ngắn đó là truyện sông Đông và truyện Thảo nguyên xanh
- Năm 1925, ông trở về quê và viết tác phẩm nổi tiếng tâm huyến nhất củađời mình là sông Đông êm đềm Đến năm 1940 thì hoàn thành
- Ông được các nhà văn lão thành Nga đón chào như con chim đại bàngnon của văn học Nga và đưa ông lên vị trí các nhà văn hàng đầu của thế kỷ XX
- Năm 1939, ông được bầu làm viện sĩ viện hàn lâm khoa học Liên Xô
Và trong thời gian chiến tranh chống phát xít Đức xâm lược ông theo sát hồngquân trên nhiều chiến trường với tư cách phóng viên báo sự thật
- Các tác phẩm chính: Truyện sông Đông, Thảo nguyên xanh, Sông Đông
êm đềm, số phận con người
(2) Tóm tắt truyện “Số phận con người”:
Trang 22Sau gần một năm chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, trên đường đi côngtác, tác giả đã gặp người lái xe Xô-cô-lôp và một đứa trẻ chừng 5 - 6 tuổi Anh
đã kể cho tác giả nghe về cuộc đời gian truân và bất hạnh của mình: Khi chiếntranh bùng nổ Anđrây Xô-cô-lôp ra trận để lại quê nhà một vợ và ba con Chiếnđấu được một năm anh bị thương và bị bắt làm tù binh hai năm đọa đầy trongcác trại tập trung của Phát xít Đức Anh bị tra tấn rất dã man Nhân một cơ hộilái xe cho bọn Đức anh đã trốn thoát về phía hồng quân Lúc ấy anh cũng nhậnđược tin vợ và hai con ở quê nhà bị bọn Đức sát hại rồi lại đến đứa con trai duynhất - một đại úy pháo binh - niềm hy vọng cuối cùng của anh cũng hy sinhđúng vào ngày chiến thắng Phát xít Đức 09 - 05 - 1945
Chiến tranh kết thúc Xô-cô-lôp giải ngũ, anh không về quê, biết đi đâu vềđâu? Anh tìm đến sống với hai vợ chồng người đồng chí cùng chiến đấu và xinđược lái xe cho một đội vận tải Thế rồi anh gặp được bé Vania, bố mẹ bé cũng
bị chết trong chiến tranh Một mình bé bơ vơ sống nhờ hàng giải khát bênđường Xô-cô-lôp đưa bé về làm con nuôi Họ sưởi ấm cho nhau Trái tim suykiệt của Xô-cô-lôp cũng trở nên êm dịu hơn Hai con người côi cút, hai hạt cát bịchiến tranh phũ phàng thổi tới phiêu bạt khắp nước Nga Hai cha con sống dựavào nhau không may một chuyện rủi ro xảy ra, Xô-cô-lôp bị tước bằng lái vàanh lại phải sống tạm vào bằng nghề thợ mộc… Hai cha con lại lên đường phiêubạt tới Ka-sa-sư để kiếm sống
9 Nhà văn Hê Minh Uê với tác phẩm “Ông già và biển cả”.
(1) Giới thiệu về nhà văn Hê Minh Uê:
- Tên đầy đủ là Ơ nit Hê Minh Uê (1899 - 1961), là nhà văn Mỹ đã để lạimột dấu ấn sâu sắc trong văn xuôi hiện đại phương Tây và góp phần đổi mới lốiviết truyện tiểu thuyết của nhiều thế hệ nhà văn trên thế giới nói chung
- Ông bước vào đời với nghề viết báo và làm phóng viên mặt trận cho tớikết thúc chiến tranh thế giới thứ hai
- Dù viết về đề tài nào ông đều nhằm ý đồ viết một áng văn xuôi đơn giản
và trung thực về con người
- Năm 1954, ông được nhận giải thưởng Nobel về văn học
Trang 23- Phong cách Hê Minh Uê giản dị trong sáng và ẩn chứa nhiều triết lý sâu
sa về thế giới - thiên nhiên - con người Ông là người đề xướng nguyên lý tảngbăng trôi
- Các tác phẩm chính: Mặt trời vẫn mọc (1926), Giã từ vũ khí (1929),Chuông nguyện hồn ai (1940)
(2) Tóm tắt đoạn trích “Ông già và biển cả”:
Truyện kể về ba ngày hai đêm ra khơi của ông lão Xantiagô, đoạn tríchnằm ở cuối truyện Đây là ngày thứ ba lênh đênh trên biển cả mênh mông mộtmình ông lão đuổi theo và bắt được con cá kiếm Và đây là con cá lớn nhất kỳ vĩnhất trong cuộc đời đi câu của ông Để chinh phục nó ông lão đã phải trả giákhông nhỏ Con cá lớn hơn cả chiếc thuyền của lão, nó cứ lượn đi lượn lại điềmtĩnh và tuyệt đẹp Một mình ông lão đơn độc đói khát, rét, chân tay xây xát, sứctàn lực kiệt nhưng ông vẫn kiên cường vật lộn với con cá Cuối cùng cuộc chiếnđấu không cân sức cũng đến hồi kết Con cá đã bị ông lão giết chết “Lúc con cámang cái chết trong mình, sực tỉnh, phóng vút lên khỏi mặt nước, phô hết tầmvóc khổng lồ vẻ đẹp và sức lực… treo lơ lửng trên không trung… thoáng chốc
nó rơi sầm xuống nước” Ông lão ngắm nhìn chạm sờ vào thành quả của mìnhrồi buộc nó vào mạn thuyền dựng cột dong buồm trở về đất liền
Trang 24CÁC BÀI VĂN DÀI
1 Phân tích đoạn văn sau trong bài “Tây Tiến”
“Sông Mã xa rồi…
… mùa em thơm nếp xôi”
a Mở bài: Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài làm thơ, viết văn, soạn nhạc và vẽ
tranh Nhưng nói đến Quang Dũng là nói đến một nhà thơ mang hồn thơ phóngkhoáng hồn hậu, lãng mạn và tài hoa Đặc biệt khi ông viết về người lính TâyTiến Những chiến sĩ Tây Tiến luôn là kỷ niệm đẹp trong phần đời binh nghiệpcủa ông Họ là những người đồng chí chiến đấu trong hoàn cảnh hết sức khókhăn gian khổ cả về vật chất lẫn tinh thần nhưng trong họ luôn hừng hực mộtkhí thế quyết tử cho tổ quốc quyết sinh và tâm hồn luôn hào hoa lãng mạn Khiphải rời xa đơn vị cũ, Quang Dũng đã trút cả tâm hồn, nỗi nhớ của mình vớiđồng đội bằng bài thơ Tây Tiến Đoạn trích là phần đầu của bài thơ diễn tả nỗinhớ da diết về đồng chí đồng đội, về thiên nhiên con người Tây Bắc nơi mà ông
đã cùng họ đi qua hoạt động và chiến đấu:
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
… Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
b Thân bài: Trong ký ức của nhà thơ thiên nhiên miền Bắc lần lượt hiện về qua
những địa danh, những chặng đường hành quân hoạt động và chiến đấu vô cùnggian khổ của đoàn quân Tây Tiến Mặc dù nhan đề bài thơ đã được ghi một chữ
“nhớ” nhưng vẫn ào về ăm ắp da diết một nỗi nhớ chảy dọc bài thơ Ấn tượngđầu tiên hiện lên trong ký ức là hình ảnh con sông Mã một chứng nhân gắn bóbao kỷ niệm với Tây Tiến, bởi thế ngay khúc dạo đầu Quang Dũng đã cất tiếnggọi thiết tha:
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
Hình ảnh con sông Mã cuồn cuộn gầm thét qua những dốc vực của rừnggià chảy về trong nỗi nhớ Con sông như một chứng nhân lịch sử cho một thờiTây Tiến hào hùng nay đã xa rồi Tiếng gọi sông Mã chất chứa bao nuối tiếc,
Trang 25nhớ thương đến quặn lòng Từ biểu cảm “ơi” kết hợp với từ láy “chơi vơi” tạonên âm hưởng sâu lắng thiết tha như ngân mãi trong lòng người, vọng mãi vàothời gian và năm tháng Sông Mã xa rồi Tây Tiến cũng xa rồi nhưng tất cả cứ ùa
về trong tâm tưởng nhà thơ như mạch cảm xúc dạt dào không thể ngăn được Tất
cả vẫn còn đây rành rành nóng nguyên tươi rói trong trí nhớ nào Sài Khao,Mường Lát, Pha Luông, Châu Mộc…
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường lát hoa về trong đêm khơi”
Đây là chặng đường hành quân đầy khó khăn gian khổ với mù sương dàyđặc với sự hư ảo mộng mơ
Cái tài hoa tinh tế của Quang Dũng là ông có tài năng dùng ngôn ngữ để
vẽ tranh Bức tranh thiên nhiên hoang sơ hùng vĩ của miền Tây Bắc được ôngđặc tả ở 4 câu:
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
Ba câu thơ đầu gập ghềnh những thanh trắc “khúc khuỷu, thăm thẳm, heohút, súng ngửi trời” Đã diễn tả thật đắc địa và dữ dội hiểm trở của núi cao, vựcsâu dốc thẳm của thiên nhiên Tây Bắc Các từ ngữ giàu tính tạo hình được huyđộng, đặc biệt là cụm từ “Súng ngửi trời” vừa gợi ra độ cao chọc trời của núi,chập trùng của đèo, vừa gợi ra cái cheo leo heo hút những cồn mây Song chưahết mà phải đến câu thứ ba: “Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống” nét vẽ nàymới rõ hùng sông thế núi và lột tả tận cùng cái dữ dội thiên nhiên Câu thơ bị bẻgập làm đôi tạo thế núi như vút lên dựng đứng rồi đột ngột đổ xuống bất ngờnguy hiểm
Thơ Quang Dũng không chỉ thấm đẫm chất họa mà còn rất giàu tính nhạc.Chất nhạc trong 4 câu được tạo ra bởi những âm hưởng thể hiện qua nhữngthanh trắc đậm đặc khiến tiết tấu câu thơ đọc lên trúc trắc như chính sự hiểm trở
dữ dội của thiên nhiên miền Tây Bắc Nhưng câu thứ 4 lại đột ngột lắng xuống
Trang 26toàn thanh bằng: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” Nhịp thơ nhẹ nhàng êm áigợi cảm giác như trút hết được những mệt mỏi căng thẳng khi con người đãchiếm lĩnh được đỉnh cao và phóng tầm mắt ra bốn hướng sảng khoái ngắm nhìntrong không gian bao la mịt mùng sương rừng mưa núi thấp thoáng những ngôinhà ở Pha Luông như dập dềnh trên biển nước Cảnh vừa hùng vĩ vừa thơ mộng.
Sự phối màu hòa âm của Quang Dũng thật tài hoa độc đáo Như vậy bốn câu thơđược phối hợp giữa các hình ảnh và tiết tấu tạo nên bức tranh thiên nhiên conngười với những đường nét trạm khắc vừa gân guốc rắn rỏi vừa dịu nhẹ thơmộng đó chính là nghệ thuật sử dụng gam màu trong hội họa, thanh điệu trong
âm nhạc vô cùng tinh tế của nhà thơ
Cảm hứng viết về Tây Tiến cái phi thường cái cao cả đặc biệt được tô đậmkhắc sâu ở những hình ảnh hi sinh mất mát nhưng lại được khúc xạ qua bút pháplãng mạn
“Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời”
Nhà thơ không hề né tránh thực tế nhưng có điều cái chết, sự hi sinh củacác anh được Quang Dũng diễn tả bằng ngôn ngữ đầy chất bay bổng “khôngbước nữa, bỏ quên đời” nói như thế cho dịu nỗi bi thương Các anh ngã xuốngtrong một tư thế đẹp đầy bi thương, một tư thế vẫn mang đầy hành trang củangười ra trận Cách nói tưởng như nhẹ nhàng nhưng thẳm sâu vẫn thấm đẫm nỗiniềm xót xa thương cảm
Thiên nhiên miền Bắc dữ dội hiểm trở và luôn là mối đe dọa của ngườilính Tây Tiến:
“Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”
Các điệp từ “chiều chiều, đêm đêm” gợi cho người đọc ấn tượng mạnh mẽ
về những đêm hành quân ngủ rừng Người lính Tây Tiến phải lắng nghe bảngiao hưởng dữ dội của đại ngàn, thác thì gầm thét, cọp thì tung hoành nhe nanhquắc mắt đe dọa những người lính Tây Tiến Họ không chỉ bị ngã xuống trướcnòng súng của kẻ thù mà còn bị ngã xuống bởi rừng thiêng thác hiểm
Trang 27Nếu như những dòng thơ trên âm điệu lên xuống thất thường diễn rả thiênnhiên miền Tây Bắc hiểm trở, hoang sơ thì hai câu kết của đoạn lại tạo cảm giác
êm dịu ấm áp vô cùng:
“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khó Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
Trong những kỷ niệm đẹp Quang Dũng không thể nào quên những ngàyđơn vị dừng chân bên xóm núi được nhân dân chào đón nồng nhiệt, được thưởngthức thứ ngọc trời thêm nếp xôi vô cùng quý giá sau những ngày hành quân vất
vả đói và rét Quang Dũng đã sáng tạo một từ khá lạ “mùa em” giống như mùacon ong đi lấy mật, mùa em đi phát rẫy làm nương… Mùa em ở đây còn là mùalúa chín xôi thơm mùa căng tròn nhựa sống của người và cảnh vật ấm áp tìnhquân dân
c Kết luận: Tóm lại quyện hòa giữa cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng,
nhà thơ đã thể hiện cái tôi thi sĩ đầy xúc cảm trước thiên nhiên miền Tây Bắcvừa hùng vĩ hoang sơ vừa thơ mộng Và nổi bật trên nền bức tranh ấy là hìnhảnh đoàn quân Tây Tiến dù phải trải qua những khó khăn gian khổ những mấtmát hy sinh nhưng tinh thần của người lính vẫn luôn kiên định lạc quan yêu đờivượt lên tất cả “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”
2 Phân tích đoạn thơ sau trong bài Tây Tiến:
“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa”
… Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
a Mở bài: Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài làm thơ, viết văn và soạn nhạc.Nhưng nói đến Quang Dũng là nói đến một nhà thơ mang hồn thơ phóng khoánghồn hậu lãng mạn và tài hoa, đặc biệt khi ông viết về người lính Tây Tiến.Những chiến sĩ Tây Tiến luôn là những kỷ niệm đẹp trong phần đời binh nghiệpcủa ông Họ là những người đồng chí chiến đấu trong hoàn cảnh hết sức khókhăn gian khổ cả về vật chất lẫn tinh thần nhưng trong họ luôn hừng hực mộtkhí thế quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh và tâm hồn luôn hào hoa lãng mạn Khiphải rời xa đơn vị cũ Quang Dũng đã trút cả tâm hồn nỗi nhớ của mình với đồng
Trang 28đội bằng bài thơ Tây Tiến Đoạn trích thuộc phần hai của bài thơ, là hồi ức củaQuang Dũng về những đêm liên hoan văn nghệ và cảnh sông nước miền TâyBắc thơ mộng:
“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
… Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
b Thân bài: Trái ngược với đoạn thơ đầu, thiên nhiên và con người miền Tây
Bắc ở đoạn này là một thế giới khác Bởi Quang Dũng đã vẽ vét vẽ mềm mạiuyển chuyển thấm đẫm chất thơ chất nhạc chất hào hoa cùng với sự tinh tế lãngmạn Qua nét vẽ tinh tế ấy ta như bừng ngộ trước vẻ đẹp nên họa nên thơ củanúi rừng Tây Bắc
Trước hết là những kỷ niệm đẹp về tình quân dân trong đêm liên hoan vănnghệ
“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”
Với những vét vẽ khỏe khoắn mê say, nhà thơ dẫn ta vào một đêm liênhoan văn nghệ, đây là kỷ niệm đẹp hấp dẫn nơi xứ lạ Đêm giao lưu văn nghệhiếm có giữa đoàn quân Tây Tiến và người dân địa phương rất thực mà ngỡ như
mơ, vui tươi sống động Cả doanh trại bừng sáng dưới ánh lửa đuốc bập bùngtưng bừng hào hoa như một ngày hội ngày cưới Trong ánh đuốc lung linh kỳ ảo,trong âm thanh réo rắt của tiếng khèn, những cô gái, những bông hoa của núirừng Tây Bắc hiện ra đẹp lộng lẫy rực rỡ trong những trang phục lạ, e ấp dịudàng trong dáng điệu đậm màu sắc dân tộc và quyến rũ trong lời ca tiếng hát, tất
cả như thu hết cả hồn vía những người lính Tây Tiến Cảnh vật con người nhưngả nghiêng ngất ngây bốc men say rạo rực Dư âm khốc liệt của chiến tranh tànkhốc tạm lắng để chỉ còn những tâm hồn lãng mạn bay bổng cùng tiếng nhạchồn thơ Đây là khoảnh khắc thật hiếm hoi trong thời chiến để rồi ngày mai cácanh lại bước vào máu lửa Nhịp điệu của 4 câu thơ như nhịp nhặt khoan dìu dặt
Trang 29gợi sự khỏe khoắn trẻ trung vừa chan chứa màu sắc âm thanh vừa ấm áp tìnhngười.
Cảnh thiên nhiên con người miền Tây Bắc cũng thật trữ tình thơ mộng đểlại trong tâm hồn thi sĩ những ký ức khó phai Sau những ngày được nghỉ ngơiđược giao lưu với người dân địa phương, đoàn quân Tây Tiến lại ra đi:
“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
Từ nét vẽ và âm thanh khỏe khoắn trong đêm hội đuốc hoa, Quang Dũng
đã chuyển sang nét vẽ tinh tế mềm mại khi miêu tả cảnh chiều sương Châu Mộc.Cảnh thật thơ mộng trữ tình đã được nhà thơ diễn tả qua các chi tiết Chiềusương giăng mắc mênh mang mờ ảo, dòng sông trôi lặng tờ đậm sắc màu cổtích, dáng người mềm mại uyển chuyển lướt trên con thuyền độc mộc hoa đôi bờđong đưa, tình tứ như vẫy chào tiễn biệt người đi Bốn câu thơ như một bứctranh lụa, thử hỏi làm sao mà không yêu không nhớ, không quyến luyến với vẻđẹp ấy Chỉ vài nét chấm phá mà tinh tế tài hoa Quang Dũng không tả mà chỉgợi cảnh thiên nhiên hoang sơ không phải là vô tri vô giác mà phảng phất tronggió trong cây như có hồn người “Hồn lau” trong thơ của Quang Dũng đầy nhớthương lưu luyến Tình yêu đối với cỏ cây, hoa lá, dòng sông, dáng người đã làmcho cuộc sống của người lính đầy gian khổ có thêm nhựa sống Cảnh như mộtbức tranh thủy mặc mà sống động thiêng liêng Thơ Quang Dũng không chỉ cóhọa mà còn có nhạc Ở đoạn này chất nhạc ngân như tiếng hát, nhạc điệu ấyđược cất lên từ hồn thơ lãng mạn trẻ trung Từ cảm xúc của cái tôi trữ tình mêsay, có nhà phê bình đã nhận xét: “Đọc đoạn thơ này ta như lạc vào thế giới củacái đẹp, của cõi mơ, của cõi thực, của cõi nhạc” Những câu thơ hồn nhiên làmđắm say lòng người quả là một hồn thơ tinh tế tài hoa
c Kết bài: Tóm lại, với cảm hứng lãng mạn, Quang Dũng đã đưa người đọc trở
về với hoài niệm năm xưa để được sống lại với những phút giây hiếm có củathời chiến tranh Đoạn thơ như đưa người đọc vào thế giới cổ tích với dòng sông
Trang 30huyền thoại với thế giới của cái đẹp, của cả cõi mơ, của âm nhạc du dương Chấtthơ chất họa, chất nhạc thấm đẫm quyện hòa đến mức khó mà tách bạch Quảkhông hổ danh là một nghệ sĩ đa tài với những câu thơ xuất thần Quang Dũng
đã dâng hiến cho người đọc dòng thơ, những giây phút ngất ngây thi vị
3 Phân tích đoạn thơ sau trong bài Tây Tiến:
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
… Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
a Mở bài: Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài, viết văn và soạn nhạc Nhưng nói
đến Quang Dũng là nói đến một nhà thơ mang hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu,lãng mạn và tài hoa, đặc biệt khi ông viết về người lính Tây Tiến Những chiến
sĩ Tây Tiến luôn là những kỷ niệm đẹp trong phần đời binh nghiệp của ông Họ
là những người đồng chí chiến đấu trong hoàn cảnh hết sức khó khăn gian khổ
cả về vật chất lẫn tinh thần nhưng trong họ luôn hừng hực một khí thế quyết tửcho Tổ quốc quyết sinh và tâm hồn luôn hào hoa lãng mạn Khi phải rời xa đơn
vị cũ Quang Dũng đã trút cả tâm hồn nỗi nhớ của mình với đồng đội bằng bàithơ Tây Tiến Đoạn thơ thuộc phần ba của bài thơ Tây Tiến, nhà thơ đã khắc họachân dung người lính Tây Tiến bằng chất liệu ngôn từ nghệ thuật đậm chất hàohoa bi tráng
b Thân bài: Chân dung người lính Tây Tiến thực ra ẩn hiện trong suốt bài thơ.
Nhưng ở đoạn này nó là đối tượng chính và được miêu tả trực diện trên bứctranh thơ, vẻn vẹn chỉ có 8 câu mà làm hiện lên diện mạo, tâm hồn và khí phách.Thái độ trước sự sống và cái chết, ở thái cực nào thì chân dung người lính vẫntoát lên vẻ đẹp hào hoa bi tráng Quang Dũng đã tinh lọc những nét tiêu biểunhất của người lính Tây Tiến để tạo nên bức tượng đài tập thể khái quát đượcgương mặt chung của cả đoàn quân Cái bi và cái hùng là hai chất liệu chủ yếutạo nên vẻ đẹp bi tráng của bức tượng đài
Trong ký ức về Tây Tiến sâu đậm nhất là hình hài kỳ dị và dữ dằn quyếtliệt của đồng chí, đồng đội khi phải trải qua những cơn sốt rét rừng Ngôn ngữcủa nhà thơ thật rạch ròi gân guốc trạm khắc từng nét vẽ:
Trang 31“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
Thực tế không riêng gì Tây Tiến, đã dấn thân đời lính chiến hầu như aicũng phải nếm chịu những trận sốt rét rừng, người lính có khi không ngã xuống
vì họng súng của kẻ thù mà ngã xuống bởi bệnh tật Những trận sốt rét rừng nếunhư không cướp đi tính mạng thì cũng hành hạ người lính đến tiều tụy, tóc rụng
da xanh Chính Hữu cũng lột tả một cách chân xác:
“Tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh Rét run người vừng trán ướt mồ hôi”
Còn Quang Dũng thì nói với khẩu khí hài hước lãng mạn Trong mắt nhàthơ cái bi cái hùng đều đẹp, cái bi được tô vẽ bằng ngôn từ nghệ thuật thật trangnhã tinh tế “không mọc tóc, xanh màu lá” Cái hùng cũng thật mạnh mẽ “dữ oaihùm” Cái bi nghiệt ngã nhưng không hề lấn át cái hùng Dù có tiều tụy vì hìnhhài nhưng tinh thần vẫn khỏe khắn dũng mãnh như chúa sơn lâm, vẫn kiên địnhvới lý tưởng cách mạng qua hình ảnh đôi mắt ngời sáng “Mắt trừng gửi mộngqua biên giới” đó là cái mộng chiến đấu chiến thắng
Quang Dũng không hề che giấu, né tránh hiện thực nghiệt ngã nhưng cóđiều nhà thơ miêu tả căn bệnh quái ác dưới cái nhìn đậm đặc màu sắc lãng mạn
Sự nghiệt ngã biến người lính Tây Tiến thành những anh bị trọc, hình hài kỳ dịkhác thường Nhưng ý chí mạnh mẽ, tâm hồn thì mộng mơ Người lính ra trậngiữa khói bom lửa đạn đối mặt với quân thù chỉ có sống và chết nhưng vẫn mơtình thiên thu Nhà thơ đã diễn tả tinh tế biện chứng tâm hồn người lính trongcuộc kháng chiến chống Pháp nói riêng và người lính trong các cuộc chiến tranh
ly tán nói chung bởi trong các anh ai cũng có một trái tim biết yêu tha thiết, mộttrái tim biết căm thù quân xâm lược thật hào hùng và lãng mạn
Gọi về trong ký ức hơn một lần Quang Dũng nói đến sự hy sinh của ngườilính Tây Tiến nhưng lần nào hình ảnh ấy cũng lấp lánh vẻ đẹp bi tráng:
Trang 32“Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
Bốn câu thơ không bày tỏ niềm tiếc thương như lẽ thường tình mà thểhiện niềm cảm khái của nhà thơ trước cái chết của đồng đội Hình ảnh nhữngnấm mồ rải rác nơi biên cương xa xôi lạnh lẽo hiu quạnh gợi cho người lính nỗi
bi thương sợ hãi chán chường Nhưng những từ Hán Việt biên cương, viễn xứ,
áo bào lại mang màu sắc cổ kính trang trọng đã làm giảm đi phần nào nỗi bithương Sự thật xót thương ấy luôn được nâng đỡ bởi đôi cánh lý tưởng cao đẹpcủa người lính:
“Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”
Đời xanh hay tuổi trẻ, tuổi hai mươi, tuổi chí tang bồng dặm nghìn dangựa sẵn sàng đổ máu hy sinh vì lẽ sống lớn lao Họ ra đi với lòng tự nguyện tựgiác của một công dân Đầy ý thức trách nhiệm khi Tổ quốc lâm nguy, họ lànhững chủ nhân của đất nước và luôn tự hào: “Vui gì hơn bằng người lính điđầu…” Lý tưởng cao đẹp ấy thế hệ này nối tiếp thế hệ kia: “Chúng tôi đi khôngtiếc đời mình”, đó là truyền thống yêu nước chủ nghĩa anh hùng cách mạng củadân tộc Việt Nam trong suốt các cuộc trường chinh vĩ đại
Nhớ về đồng đội còn nằm lại nơi biên cương vực thẳm, Quang Dũng đãdành cho họ một tình cảm thật đặc biệt “Áo bào thay chiếu anh về đất” Sự hysinh thiếu thốn đến tận cùng vật chất nhưng lại ăm ắp tinh thần dũng cảm, ngườilính trên đường hành quân ngã gục vì đói rét, bom đạn thậm chí còn không có cảmanh chiếu để khâm liệm, nhưng hiện thực khốc liệt ấy đã được nhà thơ thi vịhóa qua hình ảnh áo bào thật sang trọng để các anh về với đất mẹ thanh thản nhẹnhàng Hơn nữa áo bào còn gợi ra hình ảnh của các bậc võ tướng xưa đầu độitrời chân đạp đất hùng dũng hiên ngang bất khuất thì cái chết của họ cũng phảixứng tầm oai phong sang trọng như thế và bi tráng, bi hùng chứ không bi thương
bi lụy Với hình tượng áo bào người lính Tây Tiến sẽ mãi mãi bất tử trong lòngđất mẹ
Trang 33Hơn nữa tinh thần ấy còn được nâng đỡ bởi khúc nhạc của thiên nhiên:
“Sông Mã gầm lên khúc độc hành” Dòng sông Mã hợp tấu lên khúc tráng calàm rung chuyển cả đất trời đưa các anh về cõi vĩnh hằng Khúc tráng ca củathiên nhiên đã trở thành tiếng khóc lớn nâng sự hy sinh của người lính lên tầmvóc sử thi Tiếng gầm của thiên nhiên hay chính nỗi niềm xót xa đau thương dộilên từ đáy lòng thi sĩ khi nhớ về sự hy sinh của đồng đội mình Đồng thời trong
âm hưởng vừa dữ dội vừa hào hùng của thiên nhiên ấy cái chết, sự hy sinh củangười lính thấm đẫm chất anh hùng ca của thời đại Hồ Chí Minh
c Kết bài: Tóm lại, đoạn thơ như bức tượng đài thi ca về người lính bất tử.
Hình ảnh người lính trong cõi sống và cả cõi hy sinh đều bi tráng lãng mạn hàohùng Giọng điệu đoạn thơ trang trọng thể hiện tình cảm đau thương vô hạn và
sự trân trọng kính cẩn của nhà thơ trước sự hy sinh của đồng đội
4 Phân tích đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc:
“Ta về mình có…
… ân tình thủy chung”
a Mở bài: Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và là đỉnh cao của thơ ca cách
mạng Việt Nam thời chống Pháp Bài thơ ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt,
đó là vào T10 1954, Trung ương Đảng chính phủ rời chiến khu Việt Bắc, trở về
Hà Nội Nhân sự kiện thời sự có tính lịch sử ấy, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ này.Bài thơ là khúc tình ca, anh hùng ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến, về conngười kháng chiến mà cội nguồn sâu xa của nó là tình yêu quê hương đất nước,
là niềm tự hào về sức mạnh của nhân dân, là truyền thống ân nghĩa đạo lý thủychung của dân tộc Việt Nam Đoạn thơ được trích trong bài thơ Việt Bắc Đây làđoạn được đánh giá như một bức tranh đẹp nhất về Việt Bắc trong nỗi nhớ củanhà thơ, là sự hòa quyện thắm thiết giữa cảnh và người, là ấn tượng không thểphai mờ về con người Việt Bắc cần cù lao động, thủy chung tình nghĩa
“Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đào cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Trang 34Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”
b Thân bài: Nhớ Việt Bắc, nhà thơ không chỉ nhớ về một Việt Bắc trong gian
khó đã cưu mang che chở cán bộ chiến sĩ Việt Bắc còn là một vùng đất thơmộng, một bức tranh tươi sáng đầy hấp dẫn và thi vị
Đoạn thơ kết cấu vẫn tiếp tục theo hình thức đối đáp của hai nhân vật trữtình “Ta - mình” Mở đầu là câu hỏi của người ra đi “Ta về mình có nhớ ta”,không đợi câu trả lời người đi nối tiếp luôn “Ta về, ta nhớ những hoa cùngngười” Nhớ hoa nhớ người chẳng qua chỉ là cách nói của người ra đi về nỗi nhớcảnh nhớ người Việt Bắc Rất đặc biệt cảnh người hòa quyện qua mỗi cặp câu.Các câu sáu tiếng diễn tả nỗi nhớ cảnh, các câu tám tiếng lại diễn tả nỗi nhớngười nhịp nhàng đều đặn nhưng mỗi cặp câu lại mang một sắc thái riêng
Bức tranh phong tỏa bốn mùa xuân - hạ - thu - đông, tràn ngập sắc màu
âm thanh hình ảnh Tất cả đều diễn tả một cuộc sống tươi đẹp tưng bừng chan
hòa và ân tình Mùa đông “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi - Đèo cao nắng ánh
dao gài thắt lưng” Một mùa hoa chuối đỏ tươi nổi bật trên nền thảm xanh bao la
bát ngát của núi rừng Thật tuyệt, một bông hoa chuối thật bình dị mà lại rất nênthơ Nổi bật trên nền trời xanh ấy là hình ảnh con người đi rừng với dao gài thắtlưng Ánh nắng, hơi ấm như được hắt ra từ con dao của người đi rừng làm chomùa đông thêm ấm áp chứ không lạnh lẽo
Đến mùa xuân: “Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”
Cảnh Việt Bắc đẹp như mộng bởi hoa mơ phủ trắng không gian bao la củanúi rừng Trên nền màu trắng tinh khôi ấy là hình ảnh của những con ngườichăm chỉ cần cù khéo léo đan lát, chuốt từng sợi giang
Trang 35Còn mùa hạ: “Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình”
Tiếng gầm ve râm ran, người nghe tiếng ve ngân mà ngỡ tưởng ve đổvàng rừng phách Cảnh rực rỡ khác thường, một sự liên tưởng độc đáo tài hoa.Giữa không gian núi rừng, trong bản giao hưởng giữa trưa hè của tiếng ve thấpthoáng những cô em gái đi hái măng Một hình ảnh vừa thực vừa mộng Cuốicùng là mùa thu:
“Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”
Mùa thu của năm đầu tiên miền Bắc được độc lập, dường như trong cuộcsống hòa bình thì trăng cũng sáng hơn đẹp hơn, trong trẻo hơn, dịu hiền hơn.Nhất là trăng ở miền Việt Bắc Ánh trăng càng sáng, càng bao la bát ngát thanhbình Cảnh núi rừng càng thêm thi vị hấp dẫn Xen trong ánh trăng ấy con ngườicất cao tiếng hát ân tình thủy chung
Vẻ đẹp độc đáo của Việt Bắc không chỉ trải rộng bốn mùa, mùa nào thức
ấy, mùa nào hoa ấy, mùa nào việc ấy, rất hài hòa mà còn có cả ngày lẫn đêm,trăng và hoa, màu sắc âm thanh sống động, con người trong lao động cần cùchịu thương chịu khó ân tình ân nghĩa, chia ngọt sẻ bùi Cảnh đẹp là để tôn nổicon người Bức tranh thiên nhiên Việt Bắc đẹp sống động bởi có sự hoạt độngcủa con người Người và cảnh hòa quyện với nhau không thể tách rời Đoạn thơđúng là một bức tranh cổ điển mà rất hiện đại
c Kết bài: Tóm lại đoạn thơ thể hiện đậm đà phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu
trữ tình sâu lắng tha thiết ân tình qua thể thơ lục bát cổ điển mà hiện đại Tiết tấunhịp nhàng ngân nga dìu dập Vừa thắt buộc vừa mới mẻ lạ lùng Sử dụng cácđại từ “Ta - mình” truyền thống mà hiện đại Đặc biệt từ nhớ được điệp lại nhiềulần, mỗi lần mang sắc thái khác nhau theo góc độ tăng tiến thể hiện những rungđộng chân thật mặn mà thắm thiết của nhà thơ đối với thiên nhiên con ngườiViệt Bắc Đoạn thơ mang âm hưởng trữ tình vang vọng khúc ca ngọt ngào đằmthắm của tình đồng chí đồng bào, của tình yêu quê hương đất nước, con người
Trang 365 Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ “Việt Bắc”
“Những đường Việt Bắc…
…núi Hồng”
a Mở bài: Đoạn thơ diễn tả xúc cảm đầy chất sử thi và lãng mạn của cái tôi thi
sĩ về một Việt Bắc căn cứ kháng chiến hào hùng với biết bao kỷ niệm chiến đấu
và chiến thắng
“Những đường Việt Bắc của ta Ðêm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Ðèn pha bật sáng như ngày mai lên
Tin vui chiến thắng trăm miền Hòa Bình, Tây Bắc, Ðiện Biên vui về Vui từ Ðồng Tháp, An Khê Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”
b Thân bài: Nếu ở những đoạn thơ trước mang nặng nỗi niềm về một Việt Bắc
cảnh và người ân tình ân nghĩa thủy chung son sắt, một Việt Bắc nghèo mà chântình rộng mở thì ở đoạn này nhà thơ dẫn người đọc vào khung cảnh Việt Bắcchiến đấu và chiến thắng với không gian núi rừng rộng lớn, với những hoạt độngtấp nập, những hình ảnh hào hùng, những âm thanh sôi nổi dồn dập náo nức.Cách mạng và kháng chiến đã xua tan vẻ âm u hiu hắt của núi rừng đồng thờikhơi dậy sức sống mạnh mẽ của thiên nhiên, của con người Việt Bắc cùng sứcmạnh vô song của khối đoàn kết toàn dân kháng chiến:
“Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
Trang 37Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay”
Cả khổ thơ tràn đầy âm hưởng anh hùng ca mang dáng vẻ của sử thi hiệnđại Chỉ vài nét phác họa khung cảnh hùng tráng của cuộc kháng chiến ở ViệtBắc, Tố Hữu đã cho người đọc thấy khí thế hào hùng mạnh mẽ của cả một dântộc đứng lên chiến đấu vì độc lập tự do của dân tộc Hình ảnh những đoàn quânnối đuôi nhau ra tiền tuyến điệp điệp trùng trùng, rầm rập như là đất rung Cáccặp từ láy đã gợi lên những hình ảnh âm thanh ấn tượng khiến ta như thấy được
cả sự hối hả mạnh mẽ oai hùng của những đoàn quân nối tiếp nhau ra mặt trận.Hình ảnh quân đội hùng dũng kiên hãnh nhưng cũng vô cùng lãng mạn khi đidưới trời sao Ánh sao lấp lánh đầu súng khiến người đọc liên tưởng đến câu thơcủa Chính Hữu “Đầu súng trăng treo” Tố Hữu đã tạo được bức phù điêu điệptrùng hùng vĩ của Việt Bắc kháng chiến thật đẹp đẽ hoành tráng
Trong bức tranh kỳ vĩ ấy còn có một lực lượng hùng hậu quan trọng gópphần làm nên chiến thắng Đó là “Dân công đỏ đuốc từng đoàn” Họ là nhữngngười nông dân miền xuôi qua gánh xe thồ tấp nập lên đường, đóng góp sứcngười, sức của, tải lương tải đạn cho tiền tuyến lớn bởi cuộc kháng chiến củachúng ta là cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện
Cả đoạn thơ mỗi hình ảnh từ ngữ đều nhằm làm nổi bật tính chất anh hùngcủa quân đội ta Anh hùng kiêu hãnh đạp bằng gian nguy để tiến lên phía trước,cái khí phách ấy được dồn nén ở câu thơ:
“Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay”
Một khí phách lớn lao bao trùm cả cuộc kháng chiến chống Pháp, cả đoànquân cả dân tộc vô cùng anh dũng Bước chân nát đá vừa thần thoại hóa sứcmạnh của con người vừa phô trương sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cáchmạng thời đại Hồ Chí Minh Bước chân của những người khổng lồ đội trời đạpđất làm nên chiến thắng kỳ diệu lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu khiến cảthế giới phải khâm phục
Vẫn là những cảm hứng lãng mạn hào hùng, ý thơ phóng xa vào viễncảnh tương lai tươi sáng
Trang 38“Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”
Hình ảnh đối lập đèn pha bật sáng và thăm thẳm sương dày diễn tả cảmhứng tự hào về một tương lai tươi sáng của cuộc kháng chiến trường kỳ giankhổ Dù hôm nay và cả nghìn đêm đã qua dân tộc đã chìm trong máu lửa thămthẳm đau thương, tăm tối của chiến tranh và đói nghèo thì ngày mai, ngày maichúng ta sẽ chiến thắng Cuộc đời sẽ rộng mở tươi sáng như ánh đèn pha đangchiếu vào bóng tối xua tan màn đêm mở đường cho xe ta ra trận
Khác với giai điệu tình nghĩa mượt mà ban đầu, ở đoạn này đã chuyểnmạch cảm hứng, những câu thơ trở nên mạnh mẽ phá vỡ tính cân xứng để tạo ratiết tấu mới gay gắt mạnh mẽ dồn dập, dứt khoát, vừa diễn tả âm hưởng bướcchân hành quân của quân và dân ta nườm nượp trùng điệp trên những nẻo đườngmiền Bắc, vừa thể hiện khí phách anh hùng và tinh thần ngợi ca khí thế ra trậncủa cả dân tộc
Nói đến Việt Bắc căn cứ địa hào hùng mồ chôn giặc Pháp, nhà thơ khôngthể không nhắc đến những tên đất tên làng tên sông tên núi của trăm miền, hòavới những chiến công lừng lẫy cùng Việt Bắc đã đi vào sử sách dân tộc:
“Tin vui thắng trận trăm miền Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về Vui từ Đồng Tháp, An Khê Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”
Niềm vui chiến thắng tràn ngập khắp mọi miền Tổ quốc, tin chiến thắngbay về Việt Bắc từ khắp trong nam ngoài bắc gắn với những địa danh, nhữngchiến công oai hùng làm nức lòng mọi người Một tin vui chiến thắng đã hết sứcvui, chiến thắng dồn dập thì niềm vui còn nhân lên gấp bội cho nên sự xuất hiệncác từ vui liên tiếp trong tất cả dòng thơ nhằm diễn tả sự cộng hưởng niềm vuichung của toàn đất nước toàn dân tộc
c Kết bài: Tóm lại, viết về Việt Bắc chiến đấu và chiến thắng, Tố Hữu không
viết riêng về một vùng đất mà trở thành biểu tượng chung cho sức mạnh khángchiến, cho linh hồn cách mạng, cho ý chí của toàn dân tộc trong cuộc trường
Trang 39trinh vĩ đại Nhà thơ nói về lý tưởng về cách mạng về truyền thống tinh thần củadân tộc, của đất nước với tình cảm say mê nồng nhiệt với những rung động củamột trái tim yêu nước Tiếng lòng của nhà thơ cũng là tiếng lòng của nhân dânkháng chiến, của dân tộc Việt Nam anh hùng.
6 Phân tích đoạn thơ sau trong bài “Đất nước”:
“Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi
… Đất nước có từ ngày đó”
a Mở bài: Thơ giai đoạn 1945 - 1975 có nhiều sáng tác đặc sắc về đề tài đất
nước như: “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi, “Tổ quốc bao giờ đẹp thế nàychăng” của Chế Lan Viên… Các sáng tác đều có sức sống lâu bền với thời gianbởi các đóng góp riêng độc đáo Nằm trong cảm niệm chung ấy, “Trường ca Mặtđường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm đặc biệt là chương “Đất nước” cónhững đóng góp đặc sắc về đề tài đất nước Với chất thơ giàu chất suy tư cảmxúc dồn nén, nhà thơ mang đến cho người đọc một cách nhìn mới mẻ về đấtnước Vẻ đẹp của đất nước được phát hiện ở chiều dài của lịch sử, chiều rộngcủa không gian địa lý và chiều sâu của văn hóa tinh thần truyền thống dân tộc
Ba phương diện này được thể hiện trong sự gắn bó và thống nhất xuyên suốtđoạn trích “Đất nước” và cùng hướng tới một tư tưởng “Đất nước của nhândân” Đoạn thơ là suy tư về cội nguồn của đất nước của dân tộc “Đất nước có từbao giờ”
“Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi
… Đất nước có từ ngày đó”
b Thân bài: Ngay từ mở đầu chương 5, Nguyễn Khoa Điềm đã có những cảm
nhận những khám phá mới mẻ về đất nước Đất nước không phải là những gìtrừu tượng xa lạ mà bắt nguồn từ những gì gần gũi nhất thân thiết nhất trong đờisống tinh thần của người Việt Nam Mở đầu khúc ca về đất nước nhà thơ khôngbắt đầu một cách trang trọng như “Nam quốc sơn hà nam đế cư” mà nói mộtcách dung dị nhưng thấm thía về cội nguồn sâu xa của đất nước
Trang 40“Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi Đất nước có trong nhưng cái ngày xửa ngày xưa
mẹ thường hay kể”
Với giọng điệu tâm tình thủ thỉ Nguyễn Khoa Điềm gợi lên không khítrầm lắng, dẫn người đọc ngược dòng thời gian về với cội nguồn của đất nước.Đất nước bắt đầu từ ngày xửa ngày xưa có nghĩa là đất nước được bắt nguồn từnhững câu truyện truyền thuyết xa xưa Nhà thơ đã vận dụng một cách tài hoasáng tạo, từ cái nhịp điệu đò đưa ngàn đời của lời ca lời kể bên cánh võng Vừagợi lên cái xa xăm của chiều dài lịch sử, vừa gần gũi thân quen trong ký ức vàđời sống mỗi người Bởi ai cũng lớn lên từ một vành nôi với lời ru lời kể trầmbổng ngân nga của bà của mẹ Đất nước không chỉ ở trong tiềm thức ký ức màđất nước còn là những gì gần gũi thân quen ngay trong đời sống vật chất conngười Nhà thơ luôn dẫn người đọc tới một triết luận, cái hiện tại lớn lên từtrong quá khứ Cái lớn lao lại bắt đầu từ những điều nhỏ bé bình dị, tưởng vô lý
mà lại rất có lý
“Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn”
Hai chữ miếng trầu gợi cho ta nghĩ đến phong tục tập quán ngàn đời củadân tộc: “Miếng trầu là đầu câu truyện, miếng trầu nên dâu nhà người” Miếngtrầu trong cổ tích trầu cau mang truyền thống nhân văn cao đẹp của tâm hồn dântộc Đất nước thật lớn lao kỳ vĩ nhưng chẳng phải bắt đầu từ những điều nhỏ bé
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay giã dần, sàng”
Nguyễn Khoa Điềm tiếp tục những cảm nhận mới mẻ về đất nước, đấtnước không xa lạ, đất nước có ngay trong thói quen bới tóc sau đầu của mẹ.Trong tình nghĩa sâu nặng của vợ chồng gừng cay muối mặn, trong ngôi nhà ấm