Bài tập trắc nghiệm khách quan có ưu điểm là đánh giá phạm vi kiến thức rộng hơn nhiều so với kiểm tra bằng hình thức tự luận. Với số lượng câu hỏi nhiều hơn, mỗi câu có 4 phương án trả [r]
Trang 1CHUYÊN ĐỀ : BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI LỚP 9
MÔN: VẬT LÝ
A Các phương pháp giải bài tập trắc nghiệm loại chọn phương án đúng nhất:
Hiện nay, việc sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan đối với bộ môn Vật lí là một phương tiện cần thiết trong giảng dạy và là công cụ hữu hiệu để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh nhằm góp phần nâng cao chất lượng bộ môn Tuy nhiên với hình thức bài tập trắc nghiệm khách quan một số Hs chưa có phương pháp và kỹ năng làm bài tốt nên kết quả khi kiểm tra hoặc thi không cao Do vậy để học sinh có kĩ năng làm bài tốt và nhất là đối với học sinh giỏi
ở hình thức bài tập này, tôi xin trình bày một số phương pháp giải bài tập trắc nghiệm dạng chọn một phương án đúng nhất như sau:
Bài tập trắc nghiệm khách quan có ưu điểm là đánh giá phạm vi kiến thức rộng hơn nhiều
so với kiểm tra bằng hình thức tự luận Với số lượng câu hỏi nhiều hơn, mỗi câu có 4 phương án trả lời nên khối lượng kiến thức đưa vào đề kiểm tra và thi khá lớn Do đó học sinh không thể học
tủ, mà phải học đầy đủ, toàn diện không được bỏ qua một kiến thức nào trong chương trình
Vì vậy để làm tốt bài tập trắc nghiệm học sinh cần phải:
1) Chuẩn bị kiến thức: Đây là khâu quan trọng nhất, là khâu quyết định của việc làm bài tập trắc nghiệm
2) Khi làm bài, yêu cầu học sinh phải đọc kỹ câu dẫn yêu cầu nội dung gì mà lựa chọn phương án trả lời phù hợp
3) Học sinh cần phân bố thời gian làm bài hợp lý (thời gian cho câu hỏi ở mức độ nhận biết, hiểu, vận dụng) Cần lưu ý đến việc giành thời gian cho việc kiểm tra lại bài đã làm
4) Học sinh phải kiểm tra kỹ số thứ tự trên đề thi và trên bảng trả lời đã khớp với nhau hay chưa
5) Cần trả lời hết tất cả các câu hỏi có trên đề
* Khi làm bài tập trắc nghiệm (dạng chọn 01 phương án đúng nhất) cần lưu ý các điểm sau:
- Học sinh không nên tập trung nhiều thời gian cho 1 câu Nếu chưa giải quyết được ngay
1 câu nào đó thì phải chuyển sang câu khác cho đến câu cuối cùng Sau đó quay lại làm lượt 2, lượt 3 đối với những câu còn lại nếu còn thời gian
- Thông thường đề trắc nghiệm được xáo trộn một cách ngẫu nhiên, không có thứ tự từ dễ đến khó Do đó khi giảng dạy giáo viên cần hướng dẫn học sinh:
Trong quá trình làm bài trắc nghiệm, cần phải đọc qua một lượt và sử dụng thời gian ngắn
nhất cho các câu hỏi chỉ yêu cầu ở mức độ nhận biết
Ví dụ: Đơn vị đo điện năng là gì?
Học sinh nhận dạng ngay phương án đúng là D
Đối với những câu hỏi yêu cầu ở mức độ nhận thức (hiểu), nếu chưa tìm ra ngay phương án
đúng thì nên loại dần các phương án nhiễu dễ nhận thấy trước, để xác suất trả lời đúng sẽ cao hơn (Từ 25% -> 50% -> 75% khả năng chọn phương án đúng)
Ví dụ: Hai điện trở R1 = 2 R2, được mắc nối tiếp vào nguồn điện; gọi P 1 , P 2 lần lượt là
công suất tiêu thụ điện của mỗi điện trở R1,R2 thì
A P 1 = 2P 2 B P 1 = P 2 C P 1 = P 2 / 2 D P 1 = 4 P 2
Học sinh loại dần phương án nhiễu B -> D -> C sau đó chọn phương án đúng là A
Trang 2 Đối với những câu hỏi có phần trả lời là những kết quả phải thông qua các bước tính toán (
kết quả là số hoặc biểu thức) Học sinh phải hết sức linh hoạt, cần suy luận để loại trừ những phương án nhiễu và có thể không tính toán để chỉ ra phương án đúng
Ví dụ: Cho mạch điện gồm hai điện trở R1, R2 mắc nối tiếp Biết R1 = 10 Ω chịu được dòng điện tối đa bằng 3A, R2 = 30 Ω chịu được dòng điện tối đa bằng 2A Hiệu điện thế tối đa đặt vào hai đầu đoạn mạch là
Học sinh dựa vào suy luận loại trừ dần các phương án nhiễu D, A, B và từ đó chọn được phương án đúng là C
Do vậy việc rèn khả năng phán đoán, suy luận nhanh trên cơ sở nắm vững kiến thức đã được chuẩn bị đầy đủ là rất quan trọng và cần thiết cho học sinh thi theo hình thức trắc nghiệm đạt kết quả cao
B 10 bài tập tuyển đề thi học sinh giỏi lớp 9 cấp tỉnh và đề thi tuyển vào trường chuyên Lương Văn Chánh của Sở GD - ĐT Phú Yên
BÀI 1: (Đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh - Lớp 9 THCS năm học 2000-2001)
Một người đi xe đạp trên đoạn đường thẳng MN Nửa đoạn đường đầu người ấy đi với vận tốc
v1 = 20km/h Trong nửa thời gian còn lại người ấy đi với vận tốc v2 = 10km/h Cuối cùng người
ấy đi với vận tốc v3 = 5km/h Tính vận tốc trung bình của người đi xe đạp trên cả đoạn đường
Bài giải: Gọi s (km) là chiều dài quãng đường người ấy đi
Thời gian đi nửa quãng đường đầu là t1 = 2 v s
1
Thời gian đi nửa quãng đường sau là t2 = v s
2+v3
Vận tốc trung bình người ấy đi trên cả đoạn đường:
vtb= s
t1+t2=
s s
2 v+
s
v2+v3
=2 v1(v2+v3)
2 v1+v2+v3=10 , 9 km/h
BÀI 2: (Đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh - Lớp 9 THCS năm học 2000-2001)
Đổ một thìa nước nóng vào nhiệt lượng kế, nhiệt độ của nhiệt lượng kế tăng lên 50C Lại
đổ một thìa nước nóng nữa vào nhiệt lượng kế thì nhiệt độ của nó tăng thêm 30C Hỏi nếu đổ liên tiếp 48 thìa nước nóng vào nhiệt lượng kế trên thì nhiệt độ của nó tăng thêm được bao nhiêu? Bỏ qua sự trao đổi nhiệt với môi trường và biết rằng nhiệt độ và khối lượng của các thìa nước nóng là như nhau
Bài giải: Gọi q1 là nhiệt dung của nhiệt lượng kế và t1 là nhiệt độ đầu của nhiệt lượng kế
Gọi q2 là nhiệt dung của mỗi ca nước nóng và t2 là nhiệt độ của mỗi ca nước nóng
Sau khi đổ thìa nước thứ nhất nhiệt lượng kế nhận được nhiệt lượng 5q1 và nhiệt độ của nhiệt lượng kế lúc này là: t1+ 5
Ta có phương trình cân bằng nhiệt: 5q1 = q2 [t2−(t1+5)] (1) Nếu đổ 2 thìa nước nóng vào nhiệt lượng kế thì nhiệt độ của nhiệt lượng kế lúc này là: t1+8
Ta có phương trình cân bằng nhiệt: 8q1 = 2q2 [t2−(t1+8)] (2) Nếu đổ 48 thìa nước nóng vào nhiệt lượng kế thì nhiệt độ của nhiệt lượng kế lúc này là: t1+ tx
( tx là nhệt độ của nhiệt lượng kế tăng thêm sau khi đổ 48 thìa nước nóng)
Trang 3Ta có phương trình cân bằng nhiệt: txq1 = 48q2 [t2−(t1+t x)] (3)
Từ (1),(2),(3) suy ra: t x ≈ 190C
BÀI 3: (Đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh - Lớp 9 năm học 2001-2002)
Cho mạch điện như hình vẽ Các điện trở có giá trị bằng nhau và bằng R Ba vôn kế hoàn toàn giống nhau Biết vôn kế V2 chỉ 6V, vôn kế V1 chỉ 22V Bỏ qua điện trở các dây nối và sự phụ thuộc của điện trở vào nhiệt độ
Bài giải: Ta có sơ đồ mạch điện tương đương với sơ đồ trên:
Ta thấy: V2 chỉ 6V nên UEF = 6V và V1 chỉ 22V nên UCD = 22V
Vì các điện trở có R bằng nhau nên UCE = UFD = UCD−UEF
Ta có REF=R V 3 R
R V+3 R (1) Mà REF
RCE=
UEF
UCE=
6
8=
3
4⇒ REF=3
4 R (2) Nên từ (1) và (2) RV = R
Ta có IAC=ICE+I V 1=UCE
R +
UCD
R =
8
R+
22
R=
30
R
Vì RAC= RDB và RAC nt RDB nên UDB = UAC = IAC.R = 30V
Vậy UV = UAB = UAC + UCD + UDB = 82V Vôn kế chỉ 82V
BÀI 4: (Đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh - Lớp 9 năm học 2002 -2003)
Một thanh AB thẳng, dài 20cm, tiết diện đều bằng 5cm2, có khối lượng riêng trung bình 1500kg/m3 và có trọng tâm ở cách đầu A 8cm Thanh được treo nằm ngang bằng hai lực kế móc ở hai đầu A và B của thanh
1) Tính số chỉ của mỗi lực kế
2) Cho thanh chìm hoàn toàn trong nước, nhưng vẫn được treo nằm ngang bằng hai lực kế như trên thì số chỉ của các lực kế lúc này là bao nhiêu?
Bài giải: 1) Ta có khối lượng của thanh: m = D.V = D.S.l = 0,15kg P = 1,5 N
Gọi G là trọng tâm của thanh ta có: GA = 8cm và GB = 20 - 8 = 12(cm)
Gọi fA, fB là lực do hai lực kế tác dụng vào hai đầu A và B Ta có: FA + FB = 1,5N (1)
Và f f A
B
=GB
3
2 (2) Từ (1), (2) fA = 0,9N và fB = 0,6N 2) Lực đẩy Acsimet tác dụng vào thanh: FA = 10.V.D = 10.S.l.D = 1N
Trang 4Lực này tác dụng vào tâm của thanh hướng từ dưới lên Do đó xem như tại hai đầu Avà B của thanh chịu tác dụng một lực F A
2 =0,5 N
Do đó số chỉ của hai lực kế lúc này là: F❑A
=F A − 0,5=0,4 N Và F❑B
=F B − 0,5=0,1 N
BÀI 5: (Đề thi tuyển vào lớp 10 THPT Lương Văn Chánh – Năm học 2002-2003)
Một đường dây điên thoại dài L = 4km, gồm hai dây dẫn có vỏ cách điện xoắn vào nhau,
có một chỗ bị hỏng lớp cách điện Để tìm chỗ hỏng lớp cách điện đó, người ta làm như sau:
- Ở đầu đường dây, nối hai đầu dây điện thoại vào hai cực của một nguồn điện có hiệu điện thế không đổi U = 15V, điện trở trong không đáng kể
- Ở cuối đường dây, nếu hai đầu dây điện thoại tách rời nhau thì dòng điện chạy qua nguồn
là I1= 1A còn nếu cho hai đầu dây điện thoại nối với nhau, trong thời gian ngắn, thì dòng điện chạy qua nguồn là I2 = 1,8A
Hãy tìm chỗ hỏng lớp cách điện và điện trở tạo ra do tiếp xúc giữa hai dây dẫn tại điểm đó Biết điện trở của mỗi kilômét dây điện thoại là r = 1,25 Ω Bỏ qua sự phụ thuộc điện trở vào nhiệt độ
Bài giải: Gọi AM = x MC = 4-x ( 0 < x < 4km) ; và R là điện trở tạo ra do tiếp xúc giữa hai
dây dẫn
+ Nếu hai đầu CD để hở thì điện trở của đoạn mạch là: R1= 2x.r + R
mà R1 = U I
1 2x.r + R = 15 hay 2,5x + R = 15 => (1) + Nếu chập hai đầu CD thì điện trở của đoạn mạch: R2 = 2x.r + 2(4 − x) r+ R 2(4 − x ) r R
Mà R2 = U I
2 2x.r + 2(4 − x) r+R 2(4 − x ) r R = 151,8 ⇔
1,8[2,5 x+(10 − 2,5 x )R
từ (1) và (2) giải ra ta được: R = 10 Ω x = 2km và R = 3,33 Ω x = 4,67 km (loại)
Vị trí dò điện là x = 2km và điện trở dò là R = 10 Ω
BÀI 6: (Đề thi tuyển vào lớp 10 THPT Lương Văn Chánh – Năm học 2003-2004)
Một nhiêt lượng kế bằng đồng khối lượng 200g, chứa 300g nước ở nhiệt độ 250C Bỏ vào nhiệt lượng kế 200g nước đá có nhiệt độ là -100C thì nước đá có tan hết không? tại sao? Biết nhiệt dung riêng của đồng là 380J/kg.K, của nước là 4200J/kg.K, của nước đá là 2100J/kg.K và nhiệt nóng chảy của nước đá là 3,35.105J/kg Bỏ qua sự trao đổi nhiệt với môi trường
Bài giải: Giả sử nước đá tan hết và nhiệt độ cân bằng là 00C
Nhiệt lượng mà nhiệt lượng kế chứa nước tỏa ra khi nhiệt độ hạ từ 250C ->00C
Q1 = (m1.c1 + m2.c2)( t1-0) = 33400J Nhiệt lượng nước đá thu vào khi nhiệt độ tăng lên 00C và nóng chảy hoàn toàn
Q2 = m3.c3 ( 0 – t2) + λ m3 = 71200J
Ta thấy: Q2 > Q1 nên nước đá không tan hết
BÀI 7: (Đề thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT Lương Văn Chánh – Năm học 2004-2005)
Cho mạch điện gồm 50 ampe kế giống nhau và 50 vôn kế giống nhau mắc như hình vẽ Hiệu điện thế giữa hai đầu mạch được duy trì không đổi Biết vôn kế thứ nhất (V1) chỉ U1 = 9,6V,
Trang 5ampe kế thứ nhất (A1) chỉ I1 = 9,5mA, ampe kế thứ hai (A2) chỉ I2 = 9,2mA Hãy tính tổng số chỉ
50 vôn kế Bỏ qua điện trở các dây nối và sự phụ thuộc của điện trở vào nhiệt độ
Bài giải: Dựa vào sơ đồ mạch điện ta có: IV1 = I1 – I2 = 0,3 (mA)
Điện trở các vôn kế là: RV = U1
I V 1
=32 10 3Ω
Số chỉ của các vôn kế là: U1 = RV (I1 – I2)
U2 = RV (I2 – I3)
………
U49 = RV (I49 – I50) U50 = RV I50 Cộng theo vế ta được tổng số chỉ của 50 vôn kế là: U1 + U2 + ….+ U50 = RV.I1 = 304V
BÀI 8: (Đề thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh lớp 9 – Năm học 2005-2006)
Người ta muốn truyền tải một công suất điện 100kW của một nguồn điện có hiệu điện thế 2500V bằng dây dẫn đến nơi tiêu thụ Biết điện trở của dây dẫn dùng để truyền tải điện là 10 Ω
Bỏ qua sự phụ thuộc của điện trở vào nhiệt độ
1) Tính công suất hao phí trên đường dây tải điện
2) Tính hiệu suất của quá trình truyền tải điện
3) Nếu muốn giảm công suất hao phí đi 4 lần thì phải tăng hay giảm hiệu điện thế trước khi truyền tải và phải tăng hay giảm bao nhiêu lần?
Bài giải:
1) Ta có: Php = P2
U2 R=16 10
3W
2) H = P − Php
P =0 ,84
3) Muốn giảm P đi 4 lần thì phải tăng U và tăng gấp 2 lần
BÀI 9: (Đề thi tuyển vào lớp 10 THPT Lương Văn Chánh – Năm học 2006-2007)
Một máy bơm nước, hàng ngày bơm được 3m3 nước lên cao 15m, mất thời gian 1giờ 20 phút và tiêu thụ một công suất điện là 150W
1) Tính hiệu suất của máy bơm
2) Một hôm đang bơm thì máy bơm bị hỏng và phải bơm tiếp bằng một máy bơm khác có công suất 100W, nên tổng thời gian bơm đủ lượng nước lên độ cao đã cho là 1 giờ 40 phút Cho biết hai máy bơm có hiệu suất bằng nhau và thời gian thay máy bơm là không đáng
kể Tính thời gian hoạt động của mỗi máy bơm
Bài giải: 1) Khối lượng của 3m3 là m = 3000kg
Công suất do bơm sản ra: P= A
t =
10 m h
t =93 ,75 W
Hiệu suất của máy bơm: H = 62,5%
2) Do thay bơm nên thời gian bơm tăng thêm 1/3 giờ
Vì bơm thứ hai có công suất bằng 2/3 bơm thứ nhất
Ta thấy trong một giờ làm việc của bơm thứ nhất, nếu thay bằng bơm thứ hai thì thời gian làm việc của bơm thứ hai là 3/2 giờ, do đó thời gian bơm tăng thêm: 3/2 – 1 = 1/2 giờ
Trang 6Vậy bơm thứ hai phải hoạt động trong: 32.
1 3 1 2
=¿ 1 giờ và bơm thứ nhất hoạt động trong
40 phút
BÀI 10: (Đề thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT Lương Văn Chánh – Năm học 2007-2008)
Cho mạch điện như hình vẽ Biết R2 = 1,5R1 Duy trì giữa hai đầu mạch một hiệu điện thế không đổi U = 12V Bỏ qua điện trở dây nối, ampe kế, các khóa và sự phụ thuộc của điện trở vào nhiệt độ
1) Khi khóa K1 mở, khóa K2 đóng vào B thì ampe kế chỉ 1,2A Tính trị số của R1 và R2 2) Sau đó, chuyển khóa K2 đóng vào A và đóng khóa K1 thì ampe kế chỉ bao nhiêu?
Bài giải: 1) Khi K1 mở, K2 đóng vào B ta có R1 nt R2 nên R = R1 + R2 = 2,5R1 (1)
Mà R = U I =10 Ω (2)
Từ (1) và (2) suy ra R1 = 4 Ω , R2 = 6 Ω
2) Khi K1 đóng, K2 đóng vào A thì R1 // R2 nên R/ = 2,4 Ω
Do đó I = 5A Vậy ampe kế chỉ 5A