1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phan tich moi quan he chi phi khoi luong loi nhuan

70 424 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Mối Quan Hệ Chi Phí – Khối Lượng – Lợi Nhuận
Tác giả Trần Thị Hải Giang
Người hướng dẫn GVHD: Nguyễn Tri Như Quỳnh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2004
Thành phố Châu Đốc
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 2,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phan tich moi quan he chi phi khoi luong loi nhuan

Trang 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Bất cứ một công ty nào khi bắt đầu hoạt động đều muốn thu được nhiều lợi nhuận, tuy nhiên không phải công ty nào cũng thoả mãn được mong muốn đó Các công ty chúng ta đang hoạt động trong cơ chế thị trường, chứ không phải là nền kinh tế kế hoạch tập trung – nơi được kế hoạch hoá và cân đối toàn bộ nền kinh tế quốc dân, chịu sự tác động của các qui luật rất sòng phẳng đến nỗi rất nghiệt ngã của thị trường, bất cứ một quyết định sai lầm nào đều dẫn đến hậu quả khó lường và đôi khi là phá sản Do đó việc ra quyết định một cách đúng đắn là vô cùng cần thiết

Và trách nhiệm này thuộc về các nhà quản trị Các nhà quản trị sẽ tổ chức, phối hợp, ra quyết định và kiểm soát mọi hoạt động trong công ty, nhằm mục tiêu chỉ đạo hướng dẫn công ty để đạt được lợi nhuận cao nhất bằng cách phân tích đánh giá

và đề ra những dự án chiến lược trong tương lai

Phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận là một công cụ kế hoạch hóa và quản lí hữu dụng Qua việc phân tích này, các nhà quản trị sẽ biết ảnh hưởng của từng yếu tố như giá bán, sản lượng, kết cấu mặt hàng và đặc biệt là ảnh hưởng của kết cấu chi phí đối với lợi nhuận như thế nào, đã, đang và sẽ làm tăng, giảm lợi nhuận ra sao Ngoài ra, thông qua việc phân tích dựa trên những số liệu mang tính

dự báo sẽ phục vụ cho các nhà quản trị trong lĩnh vực điều hành hiện tại và cả hoạch định kế hoạch trong tương lại

Với những đặc điểm trên, việc ứng dụng mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận vào mỗi công ty là vô cùng cần thiết, tuy nhiên vận dụng nó là một vấn đề rất mới mẻ Xuất phát từ vấn đề này nên em quyết định chọn đề tài “PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ CHI PHÍ – KHỐI LƯỢNG – LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY ANGIMEX” Qua

đề tài này, em sẽ có cơ hội nghiên cứu các lý thuyết đã được học, so sánh với các điều kiện kinh doanh thực tế để rút ra những kiến thức cần thiết giúp cho việc tổ chức, điều hành và ra quyết định kinh doanh trong tương lai nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho Công ty

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:

- Phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận của các xí nghiệp và nhà máy Châu Đốc

- Đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của xí nghiệp hoạt động kém hiệu quả

- Dự báo tình hình tiêu thụ của khối xí nghiệp trong năm 2004

Trang 2

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

- Trong quá trình thu thập số liệu:

+ Đối với số liệu sơ cấp: thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp

+ Đối với số liệu thứ cấp: thu thập từ Biên bản sản xuất, Nhật ký sản xuất, Nhật ký bán hàng, Sổ chi tiết chi phí phát sinh từng tháng, Bảng Cân đối Kế toán, Báo cáo Quyết toán…

- Trong quá trình phân tích, các phương pháp sử dụng là thống kê, tổng hợp, so sánh giữa các xí nghiệp

4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

Do tính phức tạp trong loại hình hoạt động của công ty là kinh doanh nhiều loại sản phẩm nên phạm vi nghiên cứu của bài luận này được giới hạn trong việc phân tích C.V.P trong năm 2003 của mặt hàng gạo, mặt hàng chủ lực của Công ty ANGIMEX

Trang 3

Chương I : CỞ SỞ LÍ LUẬN

ÕÕÕ

1 KHÁI NIỆM PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ CHI PHÍ - KHỐI LƯỢNG - LỢI NHUẬN:

Phân tích mối quan hệ giữa chi phí - khối lượng - lợi nhuận (Cost – Volume – Profit) là xem xét mối quan hệ nội tại của các nhân tố: giá bán, sản lượng, chi phí khả biến, chi phí bất biến và kết cấu mặt hàng, đồng thời xem xét sự ảnh hưởng của các nhân tố đó đến lợi nhuận của doanh nghiệp

Phân tích mối quan hệ C.V.P là một biện pháp hữu ích nhằm hướng dẫn các nhà doanh nghiệp trong việc lựa chọn đề ra quyết định, như lựa chọn dây chuyền sản xuất, định giá sản phẩm, chiến lược khuyến mãi, sử dụng tốt những điều kiện

sản xuất kinh doanh hiện có…

2 MỤC ĐÍCH PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ C.V.P: Mục đích của phân tích C.V.P chính là phân tích cơ cấu chi phí hay nói cách khác là nhằm phân tích rủi ro từ cơ cấu chi phí này Dựa trên những dự báo về khối lượng hoạt động, doanh nghiệp đưa ra cơ cấu chi phí phù hợp để đạt được lợi nhuận cao nhất Để thực hiện phân tích mối quan hệ C.V.P cần thiết phải nắm vững cách ứng xử của chi phí để tách chi phí của doanh nghiệp thành chi phí khả biến, bất biến, phải hiểu rõ Báo cáo thu nhập theo số dư đảm phí, đồng thời phải nắm vững một số khái niệm cơ bản sử dụng trong phân tích 3 BÁO CÁO THU NHẬP THEO SỐ DƯ ĐẢM PHÍ: Một khi chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành yếu tố khả biến và bất biến, người quản lí sẽ vận dụng cách ứng xử của chi phí này để lập ra một báo cáo kết quả kinh doanh và chính dạng báo cáo này sẽ được sử dụng rộng rãi như một kế hoạch nội bộ và một công cụ để ra quyết định Báo cáo thu nhập theo số dư đảm phí có dạng như sau: Doanh thu xxxxxx

Chi phí khả biến xxxxx

Số dư đảm phí xxxx

Chi phí bất biến xxx

Lợi nhuận xx

Trang 4

™ So sánh Báo cáo thu nhập theo số dư đảm phí (Kế toán quản trị) và Báo cáo thu nhập theo chức năng chi phí (Kế toán tài chính):

Kế toán tài chính Kế toán quản trị

Doanh thu xxxxx

(Trừ) Giá vốn hàng bán xxxx

Lãi gộp xxx

(Trừ) Chi phí kinh doanh xx

Lợi nhuận x

Doanh thu xxxxxx

(Trừ) Chi phí khả biến xxxx

Số dư đảm phí xxx

(Trừ) Chi phí bất biến xx

Lợi nhuận x Điểm khác nhau rõ ràng giữa hai báo cáo gồm: tên gọi và vị trí của các loại chi phí Tuy nhiên, điểm khác nhau chính ở đây là khi doanh nghiệp nhận được báo cáo của Kế toán tài chính thì không thể xác định được điểm hòa vốn và phân tích mối quan hệ chi phí, doanh thu và lợi nhuận, vì hình thức báo cáo của Kế toán tài chính nhằm mục đích cung cấp kết quả hoạt động kinh doanh cho các đối tượng bên ngoài, do đó chúng cho biết rất ít về cách ứng xử của chi phí Ngược lại, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo số dư đảm phí lại có mục tiêu sử dụng cho các nhà quản trị, do đó ta có thể hiểu sâu thêm được về phân tích hòa vốn cũng như giải quyết mối quan hệ chi phí, khối lượng, lợi nhuận

4 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN SỬ DỤNG TRONG PHÂN TÍCH C.V.P:

4.1 Số dư đảm phí - phần đóng góp:

Số dư đảm phí (SDĐP) là số chênh lệch giữa doanh thu và chi phí khả biến SDĐP được sử dụng trước hết để bù đắp chi phí bất biến, số dư ra chính là lợi nhuận SDĐP có thể tính cho tất cả loại sản phẩm, một loại sản phẩm và một đơn vị sản phẩm

SDĐP khi tính cho một đơn vị sản phẩm còn gọi là phần đóng góp, vậy phần đóng góp là phần còn lại của đơn giá bán sau khi trừ cho biến phí đơn vị

Gọi ƒ x: sản lượng tiêu thụ

ƒ g: giá bán

ƒ a: chi phí khả biến đơn vị

ƒ b: chi phí bất biến

Trang 5

Ta có báo cáo thu nhập theo SDĐP như sau:

Từ báo cáo thu nhập tổng quát trên ta xét các trường hợp sau:

- Khi doanh nghiệp không hoạt động, sản lượng x = 0 → lợi nhuận của doanh nghiệp P = - b, doanh nghiệp lỗ bằng chi phí bất biến

- Khi doanh nghiệp hoạt động tại sản lượng xh, ở đó SDĐP bằng chi phí bất biến → lợi nhuận của doanh nghiệp P = 0, doanh nghiệp đạt mức hòa vốn

→ (g – a)xh = b → xh =

a g

b

CPBB Sản lượng hòa vốn =

Như vậy khi sản lượng tăng 1 lượng là ∆x = x2 – x1

→ Lợi nhuận tăng 1 lượng: ∆P = (g – a)(x2 – x1)

→ ∆P = (g – a)∆x

* Kết luận: Thông qua khái niệm SDĐP chúng ta thấy được mối quan hệ giữa

sự biến động về lượng với sự biến động về lợi nhuận, cụ thể là: nếu sản lượng tăng

1 lượng thì lợi nhuận tăng lên 1 lượng bằng sản lượng tăng thêm nhân cho SDĐP đơn vị

* Chú ý: Kết luận này chỉ đúng khi doanh nghiệp vượt qua điểm hòa vốn

Trang 6

™ Nhược điểm của việc sử dụng khái niệm SDĐP:

- Không giúp nhà quản lí có cái nhìn tổng quát ở giác độ toàn bộ xí nghiệp nếu công ty sản xuất và kinh doanh nhiều loại sản phẩm, bởi vì sản lượng của từng sản phẩm không thể tổng hợp ở toàn xí nghiệp

- Làm cho nhà quản lí dễ nhầm lẫn trong việc ra quyết định, bởi vì tưởng rằng tăng doanh thu của những sản phẩm có SDĐP lớn thì lợi nhuận tăng lên, nhưng điều này có khi hoàn-toàn-ngược-lại

Để khắc phục nhược điểm của SDĐP, ta kết hợp sử dụng khái niệm tỷ lệ SDĐP

4.2 Tỷ lệ SDĐP:

Tỷ lệ SDĐP là tỷ lệ phần trăm của SDĐP tính trên doanh thu hoặc giữa phần đóng góp với đơn giá bán Chỉ tiêu này có thể tính cho tất cả các loại sản phẩm, một loại sản phẩm (cũng bằng một đơn vị sản phẩm)

g - a

Tỷ lệ SDĐP =

g ° 100%

Từ những dữ liệu nêu trong báo cáo thu nhập ở phần trên, ta có:

- Tại sản lượng x1  Doanh thu: gx1  Lợi nhuận: P1 = (g – a)x1 – b

- Tại sản lượng x2  Doanh thu: gx2  Lợi nhuận: P2 = (g – a)x2 – b Như vậy khi doanh thu tăng 1 lượng: (gx2 – gx1)

 Lợi nhuận tăng 1 lượng: ∆P = P2 – P1

∆P = (g – a)(x2 – x1)

x x g

g

a g

P= ( − )×( 2 − 1)

* Kết luận: Thông qua khái niệm về tỷ lệ SDĐP, ta thấy được mối quan hệ giữa doanh thu và lợi nhuận, cụ thể là: khi doanh thu tăng 1 lượng thì lợi nhuận cũng tăng 1 lượng bằng doanh thu tăng lên nhân cho tỷ lệ SDĐP

™ Từ kết luận trên ta rút ra hệ quả sau: Nếu tăng cùng 1 lượng doanh thu ở

tất cả những sản phẩm, những lĩnh vực, những bộ phận, những xí nghiệp… thì những xí nghiệp, những bộ phận nào có tỷ lệ SDĐP lớn thì lợi nhuận tăng lên càng nhiều

Để hiểu rõ đặc điểm của những xí nghiệp có tỷ lệ SDĐP lớn - nhỏ, ta nghiên cứu khái niệm cơ cấu chi phí

Trang 7

4.3 Cơ cấu chi phí:

Cơ cấu chi phí là mối quan hệ tỷ trọng của từng loại chi phí khả biến (CPKB), chi phí bất biến (CPBB) trong tổng chi phí của doanh nghiệp

Phân tích cơ cấu chi phí là nội dung quan trọng của phân tích hoạt động kinh doanh, vì cơ cấu chi phí có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận khi mức độ hoạt động thay đổi

Thông thường các doanh nghiệp hoạt động theo 2 dạng cơ cấu sau:

™ CPBB chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí thì CPKB thường chiếm tỷ

trọng nhỏ, từ đó ta suy ra tỷ lệ SDĐP lớn, nếu tăng (giảm) doanh thu thì lợi nhuận tăng (giảm) nhiều hơn Doanh nghiệp có CPBB chiếm tỷ trọng lớn thường là những doanh nghiệp có mức đầu tư lớn Vì vậy, nếu gặp thuận lợi tốc độ phát triển của những doanh nghiệp này sẽ rất nhanh và ngược lại, nếu gặp rủi ro, doanh thu giảm thì lợi nhuận sẽ giảm nhanh hoặc sẽ nhanh chóng phá sản nếu sản phẩm không tiêu thụ được

™ CPBB chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng phí thì CPKB thường chiếm tỷ

trọng lớn, từ đó suy ra tỷ lệ SDĐP nhỏ, nếu tăng (giảm) doanh thu thì lợi nhuận sẽ tăng (giảm) ít hơn Những doanh nghiệp có CPBB chiếm tỷ trọng nhỏ thường là những doanh nghiệp có mức đầu tư thấp do đó tốc độ phát triển chậm, nhưng nếu gặp rủi ro, lượng tiêu thụ giảm hoặc sản phẩm không tiêu thụ được thì thiệt hại sẽ thấp hơn

Hai dạng cơ cấu chi phí trên đều có những ưu và nhược điểm Tùy theo đặc điểm kinh doanh và mục tiêu kinh doanh của mình mà mỗi doanh nghiệp xác lập một cơ cấu chi phí riêng Không có một mô hình cơ cấu chi phí chuẩn nào để các doanh nghiệp có thể áp dụng, cũng như không có câu trả lời chính xác nào cho câu hỏi cơ cấu chi phí như thế nào thì tốt nhất

Tuy vậy khi dự định xác lập một cơ cấu chi phí, chúng ta phải xem xét những yếu tố tác động như: kế hoạch phát triển dài hạn và trước mắt của doanh nghiệp, tình hình biến động của doanh số hằng năm, quan điểm của các nhà quản trị đối với rủi ro…

Điều đó có nghĩa là qui mô của doanh nghiệp lệ thuộc hoàn toàn vào thị trường và không có gì để đảm bảo một qui mô hoạt động nào đó sẽ tồn tại ở năm sau hay thời gian xa hơn Đây chính là điểm khác biệt giữa nền kinh tế theo kế hoạch tập trung và nền kinh tế theo cơ chế điều tiết bởi thị trường

Trang 8

4.4 Đòn bẩy hoạt động :

Đối với các nhà vật lý, đòn bẩy dùng để lay chuyển một vật rất lớn với lực tác động rất nhỏ Đối với nhà kinh doanh, đòn bẩy, gọi một cách đầy đủ là ĐBHĐ (ĐBHĐ), là cách mà nhà quản trị sử dụng để đạt được tỷ lệ tăng cao về lợi nhuận với tỷ lệ tăng nhỏ hơn nhiều về doanh thu hoặc mức tiêu thụ sản phẩm

ĐBHĐ chỉ cho chúng ta thấy với một tốc độ tăng nhỏ của doanh thu, sản lượng bán sẽ tạo ra một tốc độ tăng lớn về lợi nhuận Một cách khái quát là: ĐBHĐ

là khái niệm phản ánh mối quan hệ giữa tốc độ tăng lợi nhuận và tốc độ tăng doanh thu hoặc sản lượng tiêu thụ và tốc độ tăng lợi nhuận bao giờ cũng lớn hơn tốc độ tăng doanh thu:

Tốc độ tăng lợi nhuận ĐBHĐ =

Tốc độ tăng doanh thu (hoặc sản lượng bán) > 1 Giả định có 2 doanh nghiệp cùng doanh thu và lợi nhuận Nếu tăng cùng một lượng doanh thu như nhau thì doanh nghiệp có tỷ lệ SDĐP lớn, lợi nhuận tăng càng nhiều, vì vậy tốc độ tăng lợi nhuận lớn hơn và ĐBHĐ sẽ lớn hơn Doanh nghiệp có tỷ trọng chi phí bất biến lớn hơn khả biến thì tỷ lệ SDĐP lớn và ngược lại Do vậy, ĐBHĐ cũng là một chỉ tiêu phản ánh mức độ sử dụng định phí trong tổ chức doanh nghiệp ĐBHĐ sẽ lớn ở các xí nghiệp có tỷ lệ định phí cao hơn biến phí trong tổng chi phí, và nhỏ hơn ở các xí nghiệp có kết cấu ngược lại

Điều này cũng có nghĩa là doanh nghiệp có ĐBHĐ lớn thì tỷ lệ định phí trong tổng chi phí lớn hơn biến phí, do đó lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ rất nhạy cảm với thị trường khi doanh thu biến động, bất kỳ sự biến động nhỏ nào của doanh thu cũng gây ra biến động lớn về lợi nhuận

Với những dữ liệu đã cho ở trên ta có:

- Tại sản lượng x1  Doanh thu: gx1  Lợi nhuận: P1 = (g – a)x1 – b

- Tại sản lượng x2  Doanh thu: gx2  Lợi nhuận: P2 = (g – a)x2 – b

P2 – P1 (g – a)(x2 – x1)  Tốc độ tăng lợi nhuận =

P1 ° 100% = (g – a)x1 – b gx2 – gx1

 Tốc độ tăng doanh thu =

gx1 ° 100%

(g – a)(x2 – x1) gx2 – gx1  ĐBHĐ =

(g – a)x1 - b : gx1 (g – a)x1

= (g – a)x1 – b

Trang 9

Vậy ta có công thức tính độ lớn của ĐBHĐ:

SDĐP SDĐP

Độ lớn của ĐBHĐ =

Lợi nhuận = SDĐP – Định phí Như vậy tại một mức doanh thu, sản lượng cho sẵn sẽ xác định được ĐBHĐ, nếu dự kiến được tốc độ tăng doanh thu sẽ dự kiến được tốc độ tăng lợi nhuận và ngược lại

* Chú ý: Sản lượng tăng, doanh thu tăng, lợi nhuận tăng lên và độ lớn ĐBHĐ ngày càng giảm đi ĐBHĐ lớn nhất khi sản lượng vừa vượt qua điểm hòa vốn

Chứng minh:

ĐBHĐ = (g – a)x – b = (g – a)x – b = 1 + (g – a)x – b

CPBB Hay: ĐBHĐ = 1 +

Lợi nhuận

Do đó, khi sản lượng tiêu thụ càng tăng sẽ góp phần làm cho mẫu số tức phần lợi nhuận càng tăng, do đó CPBB/Lợi nhuận sẽ giảm suy ra ĐBHĐ càng giảm

5 PHÂN TÍCH ĐIỂM HÒA VỐN:

Phân tích điểm hòa vốn là một nội dung quan trọng trong phân tích mối quan hệ C.V.P Nó cung cấp thông tin cho nhà quản trị về số lượng sản phẩm cần phải bán để đạt được lợi nhuận mong muốn và thường bắt đầu tại điểm hoà vốn, điểm mà doanh số không mang lại được lợi nhuận Tuy nhiên, không một công

ty nào hoạt động mà không muốn công ty mình mang lại lợi nhuận Vì vậy, phân tích điểm hoà vốn có vai trò là điểm khởi đầu để xác định số lượng sản phẩm cần

để đạt được lợi nhuận mong muốn nhằm lập kế hoạch cho hoạt động kinh doanh của mình

5.1 Khái niệm điểm hòa vốn:

Điểm hòa vốn là khối lượng hoạt động mà tại đó tổng doanh thu bằng với tổng chi phí Tại điểm doanh thu này, doanh nghiệp không có lãi và cũng không bị

lỗ, đó là sự hòa vốn

Trên đồ thị phẳng, điểm hòa vốn là tọa độ được xác định bởi khối lượng thể hiện trên trục hoành – còn gọi là khối lượng hòa vốn và bởi doanh thu thể hiện trên

trục tung – còn gọi là doanh thu hòa vốn Tọa độ đó chính là giao điểm hòa vốn của

2 đường biễu diễn: doanh thu và chi phí

Trang 10

Mối quan hệ chi phí, doanh thu và lợi nhuận có thể trình bày bằng mô hình sau:

Doanh thu (DT)

Biến phí (BP) Định phí (ĐP) Lợi nhuận (LN)

Tổng chi phí (TP) Lợi nhuận (LN) Nhìn vào sơ đồ ta thấy:

- SDĐP = Định phí (ĐP) + Lợi nhuận (LN)

- Doanh thu (DT) = Biến phí (BP) + Định phí (ĐP) + Lợi nhuận (LN) Điểm hòa vốn theo khái niệm trên, là điểm mà tại đó doanh thu vừa đủ bù đắp tổng chi phí, nghĩa là lợi nhuận bằng 0 (không lời, không lỗ) Nói cách khác, tại điểm hòa vốn, SDĐP = định phí (*)

Chứng minh (*): DT = BP + SDĐP

mà SDĐP = ĐP + LN

Tại điểm hòa vốn lợi nhuận bằng 0, nên SDĐP = ĐP

Phân tích điểm hòa vốn giúp nhà quản trị xem xét quá trình kinh doanh một cách chủ động và tích cực, xác định rõ ràng vào lúc nào trong kỳ kinh doanh, hay ở mức sản xuất và tiêu thụ bao nhiêu thì đạt hòa vốn Từ đó có biện pháp chỉ đạo tích cực để sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao

5.2 Các thước đo tiêu chuẩn hòa vốn:

Ngoài khối lượng hòa vốn và doanh thu hòa vốn, điểm hòa vốn còn được

quan sát dưới các góc nhìn khác: chất lượng của điểm hòa vốn Mỗi phương pháp

đều cung cấp một tiêu chuẩn đánh giá hữu ích về hiệu quả kinh doanh và sự rủi ro

5.2.1 Thời gian hòa vốn:

Thời gian hòa vốn là số ngày cần thiết để đạt được doanh thu hòa vốn trong một kỳ kinh doanh, thường là một năm

Doanh thu hòa vốn Thời gian hòa vốn =

Doanh thu bình quân 1 ngày Trong đó:

Doanh thu trong kỳ Doanh thu bình quân 1 ngày =

360 ngày

Trang 11

5.2.2 Tỷ lệ hòa vốn:

Tỷ lệ hòa vốn còn gọi là tỷ suất hay công suất hòa vốn, là tỷ lệ giữa khối lượng sản phẩm hòa vốn so với tổng sản lượng tiêu thụ hoặc giữa doanh thu hòa vốn so với tổng doanh thu đạt được trong kỳ kinh doanh (giả định giá bán không đổi)

Sản lượng hòa vốn

Tỷ lệ hòa vốn =

Sản lượng tiêu thụ trong kỳ ° 100%

Ý nghĩa của thời gian hòa vốn và tỷ lệ hòa vốn nói lên chất lượng điểm hòa

vốn tức là chất lượng hoạt động kinh doanh Nó có thể được hiểu như là thước đo

sự rủi ro Trong khi thời gian hòa vốn cần phải càng ngắn càng tốt thì tỷ lệ hòa vốn

cũng vậy, càng thấp càng an toàn

5.2.3 Doanh thu an toàn:

Doanh thu an toàn còn được gọi là số dư an toàn, được xác định như phần chênh lệch giữa doanh thu hoạt động trong kỳ so với doanh thu hòa vốn Chỉ tiêu doanh thu an toàn được thể hiện theo số tuyệt đối và số tương đối

Mức doanh thu an toàn = Mức doanh thu đạt được – Mức doanh thu hòa vốn Doanh thu an toàn phản ánh mức doanh thu thực hiện đã vượt qua mức doanh thu hòa vốn như thế nào Chỉ tiêu này có giá trị càng lớn thì càng thể hiện tính an toàn cao của hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc tính rủi ro trong kinh doanh càng thấp và ngược lại

Để thấy rõ hơn, ta cũng nên hiểu là doanh thu an toàn được quyết định bởi cơ cấu chi phí Thông thường những xí nghiệp có chi phí bất biến chiếm tỷ trọng lớn thì tỷ lệ SDĐP lớn, do vậy nếu doanh số giảm thì lỗ phát sinh nhanh hơn và những

xí nghiệp đó có doanh thu an toàn thấp hơn

Để đánh giá mức độ an toàn ngoài việc sử dụng doanh thu an toàn, cần kết hợp với chỉ tiêu tỷ lệ số dư an toàn

Mức doanh thu an toàn

Tỷ lệ số dư an toàn =

Mức doanh thu đạt được ° 100%

5.3 Phương pháp xác định điểm hòa vốn:

Việc xác định điểm hòa vốn có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường cạnh tranh Xác định đúng điểm hòa vốn sẽ

là căn cứ để các nhà quản trị doanh nghiệp đề ra các quyết định kinh doanh như

Trang 12

chọn phương án sản xuất, xác định đơn giá tiêu thụ, tính toán khoản chi phí kinh doanh cần thiết để đạt được lợi nhuận mong muốn

5.3.1 Sản lượng hòa vốn:

Xét về mặt toán học, điểm hòa vốn là giao điểm của đường biểu diễn doanh thu với đường biểu diễn tổng chi phí Vậy sản lượng tại điểm hòa vốn chính là ẩn của 2 phương trình biểu diễn hai đường đó

Phương trình biểu diễn doanh thu có dạng:

SDĐP đơn vị

5.3.2 Doanh thu hòa vốn:

Doanh thu hòa vốn là doanh thu của mức tiêu thụ hòa vốn Vậy doanh thu hòa vốn là tích của sản lượng hòa vốn với đơn giá bán:

Phương trình biểu diễn doanh thu có dạng:

ydt = gx

Tại điểm hòa vốn

a g

b x

b a

g

b g

y hv

)(

Tỷ lệ SDĐP

Định phí Vậy: Doanh thu hòa vốn =

Tỷ lệ SDĐP

Trang 13

5.4 Đồ thị điểm hòa vốn:

Mối quan hệ C.V.P được biểu diễn theo 2 hình thức đồ thị Hình thức thứ nhất gồm các đồ thị biễu diễn toàn bộ mối quan hệ C.V.P và làm nổi bật điểm hòa vốn trên hình, được gọi là đồ thị hòa vốn Hình thức thứ hai gồm các đồ thị chủ yếu chú trọng làm nối bật sự biến động của lợi nhuận khi mức độ thay đổi, được gọi là

đồ thị lợi nhuận

5.4.1 Đồ thị điểm hòa vốn:

™ Đồ thị tổng quát:

Để vẽ đồ thị điểm hòa vốn ta có các đường:

- Trục hoành Ox: phản ánh mức độ hoạt động (sản lượng)

- Trục tung Oy: phản ánh số tiền hay chi phí

- Đường doanh thu: ydt = gx (1)

- Đường tổng chi phí: ytp = ax + b (2)

™ Đồ thị phân biệt:

Ngoài dạng tổng quát của đồ thị hòa vốn, các nhà quản lí còn ưa chuộng dạng phân biệt Về cơ bản, hai dạng này giống nhau về các bước xác định các đường biểu diễn, chỉ khác ở chỗ ở dạng phân biệt có thêm đường biến phí ybp = ax song song với đường tổng chi phí ytp = ax + b

Trang 14

Minh họa đồ thị C.V.P phân biệt

5.4.2 Đồ thị lợi nhuận:

Đồ thị lợi nhuận có ưu điểm là dễ vẽ và phản ánh được mối quan hệ giữa sản lượng với lợi nhuận, tuy nhiên nó không phân biệt được mối quan hệ giữa chi phí với sản lượng

hu

y = gx

Điểm hòa vốn

Lợi nhuận đạt được trong kỳ

Minh họa đồ thị lợi nhuận

Trang 15

Hoặc đơn giản hơn chúng ta có dạng đồ thị lợi nhuận như sau:

5.4.3 Phương trình lợi nhuận:

Từ phương trình cơ bản thể hiện mối quan hệ C.V.P:

Doanh thu = Định phí + Biến phí + Lợi nhuận

gx = b + ax + P

Ta thấy rằng nếu doanh nghiệp muốn có mức lợi nhuận như dự kiến, doanh nghiệp có thể tìm được mức tiêu thụ và mức doanh thu cần phải thực hiện

Đặt Pm: Lợi nhuận mong muốn

xm: mức tiêu thụ để đạt được lợi nhuận mong muốn

gxm: doanh thu phải thực hiện để đạt được mức lợi nhuận mong muốn

Từ đó ta có thể tìm được sản lượng tiêu thụ để đạt được lợi nhuận mong muốn là:

Định phí + Lợi nhuận mong muốn

P b

m

Đơn giá bán - Biến phí đơn vị

Đường lợi nhuận

Điểm hòa vốn Lợi nhuận đạt được trong kỳ

100 200 300 400 500 x (sản lượng)

™ Trong trường hợp doanh nghiệp kinh doanh nhiều loại sản phẩm:

SDĐP được thể hiện bằng chỉ tiêu tương đối (tỷ lệ SDĐP), lúc đó có thể xác định mức doanh thu phải thực hiện để đạt được lợi nhuận mong muốn bằng cách vận dụng công thức sau:

Trang 16

Định phí + Lợi nhuận mong muốn

P b g a g

P b

m

)

6 PHÂN TÍCH ĐIỂM HÒA VỐN TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI GIÁ BÁN:

Điểm hòa vốn cũng được phân tích trong đơn giá bán thay đổi Trong những phần trên, ta chỉ nghiên cứu điểm hòa vốn trong điều kiện giá bán không thay đổi, cần sản xuất và tiêu thụ bao nhiêu sản phẩm để đạt hòa vốn Trong điều kiện giá bán thay đổi, sản lượng cần sản xuất và tiêu thụ ở điểm hòa vốn sẽ thay đổi tương ứng như thế nào ?

Phân tích điểm hòa vốn trong điều kiện giá bán thay đổi là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với nhà quản trị doanh nghiệp, vì từ đó họ có thể dự kiến, khi giá thay đổi, cần xác định mức tiêu thụ là bao nhiêu để đạt hòa vốn với đơn giá tương ứng đó

7 HẠN CHẾ CỦA MÔ HÌNH PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ C.V.P:

Qua nghiên cứu mối quan hệ C.V.P ở trên, chúng ta thấy rằng, việc đặt chi phí trong mối quan hệ với khối lượng và lợi nhuận để phân tích đề ra quyết định kinh doanh chỉ có thể thực hiện được trong một số điều kiện giả định, mà những điều kiện này rất ít xảy ra trong thực tế Những điều kiện giả định đó là:

- Mối quan hệ giữa khối lượng sản phẩm, mức độ hoạt động với chi phí và thu nhập là mối quan hệ tuyến tính trong suốt phạm vi thích hợp Tuy nhiên, thực tế cho chúng ta thấy rằng, khi sản lượng thay đổi sẽ làm thay đổi cả lợi nhuận lẫn chi phí Khi gia tăng sản lượng, chi phí khả biến tăng theo đường cong còn chi phí bất biến

sẽ tăng theo dạng gộp chứ không phải tuyến tính như chúng ta giả định

- Phải phân tích một cách chính xác chi phí của xí nghiệp thành chi phí khả biến và bất biến, điều đó đã là rất khó khăn, vì vậy việc phân chia chi phí hỗn hợp thành yếu tố khả biến và bất biến lại càng khó khăn hơn, và việc phân chia chi phí này chỉ mang tính gần đúng

- Tồn kho không thay đổi trong khi tính toán điểm hoà vốn, điều này có nghĩa

là lượng sản xuất bằng lượng bán ra, điều này khó có thể có thực trong thực tế Như chúng ta đã biết, khối lượng sản phẩm tiêu thụ không chỉ phụ thuộc vào khối lượng sản phẩm sản xuất mà còn phụ thuộc vào tình hình tổ chức công tác tiêu thụ sản phẩm như kí hợp đồng tiêu thụ với khách hàng, chiến dịch tiếp thị, quảng cáo, công việc vận chuyển, tình hình thanh toán…

Trang 17

- Năng lực sản xuất như máy móc thiết bị, công nhân không thay đổi trong suốt phạm vi thích hợp Điều này không đúng, bởi nhu cầu kinh doanh là phải luôn phù hợp với thị trường Muốn hoạt động hiệu quả, tạo ra nhiều lợi nhuận doanh nghiệp phải luôn đổi mới Ví dụ như đổi mới máy móc thiết bị (điều này có thể giảm bớt lực lượng lao động)…

- Giá bán sản phẩm không đổi Tuy nhiên giá bán không chỉ do doanh nghiệp định ra mà nó còn phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường

Trang 18

E Û D

1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY:

Công ty xuất nhập khẩu An Giang (An Giang Import Export Company - viết tắt là ANGIMEX) là công ty xuất nhập khẩu trực tiếp, mở rộng sản xuất hàng hoá trong nước nhất là hàng xuất khẩu, đáp ứng ngày càng cao các mặt hàng sản xuất và chế biến xuất khẩu, phù hợp với tiêu thụ trong nước và quốc tế

Công ty được thành lập 23/7/1976 theo quyết định số 73/QĐ/76 do chủ tịch

ủy ban nhân dân tỉnh An Giang ký, lúc đầu Công ty có tên là “Công ty ngoại thương tỉnh An Giang” đến ngày 31/12/1979 theo quyết định số 422/QĐ/UB của Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh An Giang đổi tên Công ty thành “Liên hiệp công ty xuất nhập khẩu

An Giang” Năm 1989, do yêu cầu tổ chức lại ngành Ngoại thương nên “Liên hiệp công ty xuất nhập khẩu An Giang” đổi thành “Công ty xuất nhập khẩu An Giang”

Công ty có trụ sở chính đặt tại số 1 Ngô Gia Tự – Thành Phố Long Xuyên –

An Giang, văn phòng giao dịch tại số 137 đường Bình Trọng – Quận 5 – Thành Phố

Hồ Chí Minh Hệ thống 8 cửa hàng ở các thành phố, thị xã, huyện và 6 nhà máy xay xát được bố trí ở vùng trọng điểm sản xuất lúa nông sản

Trong những năm đầu Công ty đơn thuần làm nhiệm vụ mua và cung ứng, mua bán ủy thác hàng xuất nhập khẩu Hàng xuất khẩu chủ yếu là gạo, bắp, đậu nành, mè vàng, tôm… hàng nhập khẩu là vật tư, nguyên liệu chiếm 30% đã tạo nguồn vốn cho sản xuất nông nghiệp: URE, NPK, thuốc trừ sâu và một số hàng tiêu dùng khác

Đặc biệt năm 1998 Công ty được Bộ Thương mại cấp giấy phép xuất nhập khẩu trực tiếp đã tạo cho Công ty có được những thuận lợi và thời cơ trong việc duy trì và mở rộng thị trường cung ứng – tiêu thụ trong và ngoài nước

Để đáp ứng ngày càng cao những đòi hỏi về mặt số lượng cũng như chất lượng của thị trường, từ năm 1990 đến nay, Công ty đã xây dựng hệ thống các nhà máy xay xát lúa, trạm thu mua cơ động theo từng thời điểm đã tạo nên mạng lưới có khả năng thu mua lớn

Năm 1990, Công ty đã xây dựng nhà máy xây lúa ANGIMEX I với công suất 5 tấn/giờ với các công trình phụ trợ với tổng trị giá là 2.792.465.000 đồng

Năm 1991 và 1992 Công ty phải cải tạo mặt hàng, xây dựng kho trên tổng diện tích 1412 m2, lắp đặt lò sấy nông sản công suất 5 tấn/giờ, 2 nhà máy đánh bóng gạo công suất 4 tấn/ha, trị giá 1.480.039.000 đồng

Trang 19

Năm 1993, Công ty lắp đặt nhà máy đánh bóng gạo An Hoà với các công trình phụ trợ, 1 nhà máy xay lúa của Nhật với tổng trị giá 822.416.000 đồng

Năm 1994 xây dựng nhà máy ANGIMEX V (Chợ Vàm), lắp đặt lò sấy nông sản công suất 5 tấn/giờ, máy đánh bóng gạo với các công trình phụ trợ với tổng trị giá 750.762.000 đồng

Năm 1995 xây dựng nhà máy ANGIMEX II (Chợ Mới), gồm xây dựng nhà kho 180m2, lắp đặt máy đánh bóng gạo 5 tấn/ha, máy đánh bóng gạo ở kho Đồng Lợi (Châu Thành) và các công trình phụ trợ trị giá 1.503.755.000 đồng

Tháng 3/2001 theo quyết định của UBND Tỉnh, Công ty tiếp nhận 2 nhà máy xay xát và lau bóng gạo thuộc công ty Thoại Hà, đã góp phần nào giải quyết việc làm cho người lao động và đẩy mạnh hiệu quả của nhà máy trước đây, ngoài ra Công ty còn có thêm một địa điểm thu mua gần nguồn nguyên liệu

Từ năm 1990 Công ty đã trang bị 20 bộ máy vi tính và một số trang bị phục

vụ cho công tác quản lý và sản xuất kinh doanh Để mở rộng kinh doanh, thu hút đầu tư lao động nước ngoài phù hợp với tiềm năng lao động, đất đai, công ty mở rộng liên doanh trao đổi hàng hoá với các tỉnh bạn để huy động hàng xuất khẩu nhất

là gạo cao cấp, hợp tác với Campuchia, TP Hồ Chí Minh… Công ty đã tiếp nhận giao dịch và đàm phán với công ty kinh doanh lương thực KITOKU Tháng 9/1991 công ty liên doanh ANGIMEX – KITOKU đã thành lập với tổng số vốn đầu tư 1.000.000 USD, vốn pháp định là 300.000 USD mục đích là sản xuất nông sản, sản phẩm chế biến từ hạt gạo để xuất khẩu, phần lớn xuất sang thị trường Nhật Bản

Ngay khi thành lập, số vốn ban đầu của công ty chỉ là 5.000đ (tương đương

10 lượng vàng) với số lượng nhân viên là 40 người, qui mô và phạm vi hoạt động còn rất nhỏ Qua một thời gian dài hoạt động và phát triển đến nay Công ty đã thể hiện được là một trong những doanh nghiệp nhà nước lớn của tỉnh An Giang, chuyên lĩnh vực chế biến lương thực, nông sản xuất khẩu và các hoạt động dịch vụ, kinh doanh thương mại ngày càng tạo được nhiều uy tín trên thương trường quốc tế

và khu vực…

Tổng vốn chủ sở hữu của Công ty tăng đều qua các năm, đầu năm 2003 là 44.757.696.954đ với số lượng bình quân là 293 người, tập trung chủ yếu ở các xí nghiệp chế biến

2 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ MỤC TIÊU HOẠT ĐỘNG:

2.1 Chức năng:

Trang 20

ANGIMEX là doanh nghiệp nhà nước hoạt động đa chức năng vừa sản xuất vừa kinh doanh Trong đó hoạt động thu mua và chế biến gạo xuất khẩu là chủ yếu

Hiện nay Công ty có các hoạt động chủ yếu sau:

- Thu mua và sản xuất chế biến lương thực, tiêu thụ sản phẩm trong nước và kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp

- Nhận làm đại lý và mua bán các mặt hàng tiêu dùng như: mỹ phẩm, lương thực, thực phẩm chế biến, các vật dụng sinh hoạt gia đình, thiết bị điện, xe gắn máy

và hầu hết các sản phẩm công nghiệp, công cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp…

- Ký hợp đồng bao tiêu với nông dân về việc trồng lúa có chất lượng cao

- Hợp tác liên doanh – liên kết với các công ty nước ngoài có uy tín nhằm đa dạng hoá sản phẩm và mở rộng thị trường

2.2 Nhiệm vụ:

- Nhiệm vụ chính của Công ty là xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh và các kế hoạch khác có liên quan đáp ứng được năng lực sản xuất kinh doanh của mình, bảo đảm hoàn thành kế hoạch được giao và đạt chỉ tiêu hiệu quả về kinh tế

- Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường, để có thể đứng vững và kinh doanh có hiệu quả, Công ty phải tạo cho mình một nguồn vốn sản xuất kinh doanh

có tích luỹ, có khả năng sinh lợi cao, đảm bảo tự bù đắp chi phí, đổi mới công nghệ sản xuất tiên tiến, song song với việc sản xuất ra những sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thương trường quốc tế

- Tăng cường hoạt động liên doanh – liên kết với các thành phần kinh tế trong và ngoài nước nhằm phát triển ngành hàng, chủng loại và nâng cao chất lượng sản phẩm qua đó góp phần tìm kiếm thị trường, mở rộng phạm vi sản xuất kinh doanh

- Tuân thủ luật pháp của nhà nước về quản lý kinh tế tài chính, quản lí xuất nhập khẩu và ngoại giao đối ngoại

- Thực hiện nghiêm chỉnh các cam kết trong các hợp đồng mua bán ngoại thương và các hợp đồng kinh tế có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty

2.3 Quyền hạn:

Trang 21

- Chủ động ký kết hợp đồng với các thành phần kinh tế trong và ngoài nước,

tổ chức liên doanh – liên kết trong khuôn khổ cho phép

- Tạo nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh thông qua các hình thức vay vốn ngân hàng, kể cả vốn ngoại tệ Quan hệ với tất cả các ngành để xin cấp vốn, huy động nguồn vốn trong nước và nước ngoài

- Mở văn phòng đại diện, chi nhánh hoặc cửa hàng trong và ngoài nước

- Tham gia hội chợ triển lãm, quảng cáo - giới thiệu sản phẩm

2.4 Mục tiêu:

- Xây dựng phương thức kinh doanh linh hoạt

- Đẩy mạnh đầu tư vào các vùng sản xuất chuyên canh để ổn định nguồn hàng trong quá trình hoạt động, xây dựng và mở rộng hệ thống kho trạm, cơ sở chế biến tại các vùng trọng điểm nhằm tiết giảm chi phí lưu thông, khai thác triệt để các nguồn lực sẳn có

- Đổi mới trang thiết bị hướng tới công nghệ sản xuất tiến tới ngang tầm khu vực nhằm góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm

- Sản lượng và doanh số thực hiện năm sau phải cao hơn năm trước, hoàn thành tốt các nghĩa vụ thuế đối với nhà nước

- Sử dụng nguồn vốn một cách tốt nhất, tăng nhanh vòng quay vốn, dự trữ hàng hoá, thành phẩm thích hợp, tăng cường phát triển hoạt động liên doanh- liên kết, kêu gọi đầu tư nhằm hạn chế vốn vay, mở rộng thị trường

- Tiếp tục thực hiện chương trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đa dạng hoá sản phẩm, góp phần vào công cuộc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi của Tỉnh

Trang 22

Chương III: PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ C.V.P

[ U \

1 KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA XÍ NGHIỆP

1.1 Tình hình chế biến gạo tại các xí nghiệp:

™ Qui trình chế biến gạo bao gồm các bước sau:

- Nguyên liệu được nạp qua các xốc (bộ phận làm sạch) để loại bỏ các tạp chất còn lẫn trong hạt Trong khâu làm sạch nguyên liệu, mức độ làm sạch tuỳ thuộc vào chất lượng nguyên liệu đưa vào mà chủ yếu là độ ẩm của hạt

- Nguyên liệu sau khi làm sạch qua hệ thống xát trắng (qua máy xát trắng 1 hoặc 2 hoặc cả 2 máy) tuỳ theo yêu cầu nguyên liệu đưa vào và yêu cầu thành phẩm thu được Trong khâu này, tuỳ theo chất lượng nguyên liệu đưa vào (độ ẩm hạt, tỷ lệ hạt vàng, hạt đỏ…) tổ vận hành sẽ điều chỉnh mức độ xát thích hợp để đạt được độ trắng hạt theo yêu cầu mẫu gạo và hạn chế được tỉ lệ hạt gãy nhằm tăng cường tỉ lệ thu hồi thành phẩm

- Nguyên liệu tiếp tục qua các máy lau bóng 1 hoặc 2 hoặc cả 2 máy để làm bóng gạo Tuỳ theo yêu cầu chất lượng thành phẩm mà tổ vận hành điều chỉnh thiết

Trang 23

Năm 2003 lượng chế biến của các xí nghiệp như sau:

- Xí nghiệp 1: 169.212 tấn, chiếm tỷ lệ 41,3% trong khối xí nghiệp

- Xí nghiệp 2: 47.899 tấn, chiếm tỷ lệ 11,7%

- Xí nghiệp 3: 75.551 tấn, chiếm tỷ lệ 18,5%

- Xí nghiệp 4: 79.111 tấn, chiếm tỷ lệ 19,3%

- Nhà máy Châu Đốc: 37.635 tấn, chiếm tỷ lệ 9,2%

1.2 Tình hình tiêu thụ của công ty:

Năm 2003 sản lượng tiêu thụ của công ty tăng so với năm 2002, cụ thể là mặt hàng gạo đã tiêu thụ được 322.812 tấn tăng 65,79 % so với năm 2002, do trong năm

2003 thị trường Châu Á được mở rộng và thuận lợi hơn, lượng xuất khẩu sang thị trường này chiếm tỷ lệ cao

1.3 Tình hình tiêu thụ của xí nghiệp:

Năm 2003, tổng lượng tiêu thụ của các xí nghiệp là 281.474 tấn, tăng 54,4%

so với năm 2002, cụ thể như:

- Xí nghiệp 1: tiêu thụ 119.284 tấn, chiếm tỷ lệ 42,4%, tăng 32,1%

- Xí nghiệp 2: 41.856 tấn, chiếm tỷ lệ 14,8%, tăng 57,4%

- Xí nghiệp 3: 45.522 tấn, chiếm tỷ lệ 16,2%, tăng 81,0%

- Xí nghiệp 4: 47.296 tấn, chiếm tỷ lệ 16,8%, tăng 67,4%

- Nhà máy Châu Đốc: 27.516 tấn, chiếm tỷ lệ 9,8%, tăng 129,5%

Mặc dù tình hình tiêu thụ các xí nghiệp có nhiều thuận lợi nhưng lợi nhuận năm 2003 của cả Công ty, mà cụ thể là khối xí nghiệp chỉ bằng 70,29% (4,40 tỷ đồng) so với năm 2002, trong đó:

- Xí nghiệp 1: 2,07 tỷ đồng, chiếm 47,1% khối xí nghiệp và chỉ bằng 58,3% năm 2002

- Xí nghiệp 2: 0,23 tỷ đồng, chiếm 5,2% khối xí nghiệp, chỉ bằng 42,9% năm 2002

- Xí nghiệp 3: 0,76 tỷ đồng, chiếm 17,2% khối xí nghiệp, chỉ bằng 96,1% năm 2002

- Xí nghiệp 4: 0,84 tỷ đồng, chiếm 19,0% khối xí nghiệp, chỉ bằng 96,1% năm 2002

Trang 24

- Nhà máy Châu Đốc: 0,51 tỷ đồng, chiếm 11,5% khối xí nghiệp, chỉ bằng 90,6% năm 2002

Nguyên nhân chính làm cho lợi nhuận của Công ty năm 2003 giảm so với năm 2002 là do giảm một lượng lớn gạo xuất qua Irắc làm giảm lợi nhuận đáng kể, bên cạnh đó chi phí lương tăng do hệ số lương tăng từ 210 lên 290

Sau đây chúng ta cùng xem xét mối quan hệ C.V.P của các xí nghiệp trong năm 2003

2 XEM XÉT CHI PHÍ CỦA XÍ NGHIỆP THEO CÁCH ỨNG XỬ CHI PHÍ: 2.1 Chi phí khả biến:

Chi phí khả biến của các xí nghiệp bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực

tiếp, biến phí sản xuất chung và biến phí bán hàng

Thông thường chi phí nhân công trực tiếp được phân thành biến phí, tuy nhiên do lương của công nhân trực tiếp sản xuất của các xí nghiệp được tính theo thời gian (ngày công) nên được xem là định phí

2.1.1 Chi phí nguyên vật liệu:

Do loại hình kinh doanh của xí nghiệp là thu mua và chế biến gạo nên chi phí nguyên vật liệu ở đây là gạo nguyên liệu và gạo thành phẩm Giá cả tùy theo chất lượng loại gạo mua vào, trong đó, gạo nguyên liệu là loại gạo có giá thấp nhất kế đó

là gạo 35% và cao nhất là gạo 5% Gạo càng nhiều % tấm thì giá càng thấp và ngược lại, gạo càng ít tấm thì giá càng cao

Chi phí nguyên vật liệu của các xí nghiệp đều khác nhau, nguyên nhân là do

sự khác nhau về giá cả và tỷ lệ loại gạo mua vào (số lượng) của các xí nghiệp

Sự khác nhau về giá cả gạo mua vào của các xí nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố: vùng nguyên liệu, mua của ai, thời điểm mua vào …

Ngoài ra, tỷ lệ loại gạo mua vào cũng ảnh hưởng rất lớn đối với chi phí nguyên vật liệu Ví dụ như trường hợp của nhà máy Châu Đốc: năm 2003 lượng gạo chất lượng cao mà nhà máy mua vào là khá cao, trong đó gạo 5 chiếm 20%, gạo 10 chiếm 1,6%, gạo 15 chiếm 8,5% trong tổng lượng gạo mà nhà máy mua vào Như

đã nói trên, gạo càng ít tấm thì giá càng cao, do mua nhiều gạo chất lượng nên chi phí nguyên vật liệu của nhà máy Châu Đốc là khá cao Chúng ta có bảng tỷ lệ mua vào theo lượng loại gạo chất lượng của các xí nghiệp như sau:

Bảng 1: Tình hình thu mua gạo chất lượng cao của các xí nghiệp

Trang 25

Như chúng ta đã biết, gạo càng chất lượng thì giá càng cao, do đó xí nghiệp nào mua nhiều gạo thành phẩm chất lượng cao sẽ có chi phí nguyên vật liệu cao hơn Tuy nhiên ta có ngoại lệ là trường hợp của xí nghiệp 4, mặc dù mua gạo chất lượng cao khá nhiều nhưng chi phí nguyên vật liệu của xí nghiệp 4 lại thấp Nguyên nhân là do trong năm nay xí nghiệp 4 mua được một khối lượng lớn nguyên vật liệu với giá khá thấp Trong khi đó do vùng nguyên liệu giá hơi cao và đôi khi mua không đúng lúc nên chi phí nguyên vật liệu của nhà máy Châu Đốc khá cao

Trang 26

Đồ thị 1: Chi phí nguyên vật liệu đơn vị

2.1.2 Biến phí sản xuất chung:

Biến phí sản xuất chung (SXC) bao gồm chi phí nhiên liệu, chi phí bốc xếp, chi phí vận chuyển, chi phí mua dây may bao

Biến phí SXC tùy thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có tỷ lệ mua gạo thành phẩm và tỷ lệ gạo thành phẩm chế biến, nếu xí nghiệp nào mua nhiều gạo thành phẩm sẽ góp phần làm giảm chi phí sản xuất, ngoài ra biến phí SXC còn phụ thuộc vào giá cả nhiên liệu, chi phí bốc xếp …

Biến phí SXC đơn vị của các xí nghiệp như sau:

Đồ thị 2: Biến phí SXC đơn vị

Trang 27

Để hiểu về biến phí SXC đơn vị của các xí nghiệp và nhà máy Châu Đốc, ta lần lượt xét 2 nhân tố sau:

™ Tỷ lệ gạo mua vào và gạo chế biến:

Bảng 3: Tỷ lệ chế biến theo từng loại gạo ở các xí nghiệp

nó còn phụ thuộc vào loại gạo nào mua vào để chế biến ra loại gạo nào Nếu mua gạo chất lượng để chế biến ra gạo chất lượng thì chi phí sản xuất sẽ thấp hơn so với khi mua gạo kém chất lượng rồi sau đó phải tái chế nhiều lần Để thấy rõ hơn chúng

ta có bảng tỷ lệ giữa lượng gạo mua vào và gạo chế biến như sau:

Bảng 4: Tỷ lệ giữa gạo mua và gạo chế biến

là để chế biến được 100% gạo 5,10,15 xí nghiệp 2 chỉ mua vào 27% loại gạo trên, còn lại 73% (=100% - 27%) là phải tái chế nhiều lần từ các loại gạo khác, dẫn tới biến phí SXC đơn vị của xí nghiệp 2 cao hơn các xí nghiệp khác

Trang 28

Cũng với cách giải thích tương tự như vậy, xí nghiệp nào có tỷ lệ mua/chế biến càng thấp thì biến phí SXC đơn vị càng cao và ngược lại Tuy nhiên, ở đây ta

có trường hợp của xí nghiệp 4 và nhà máy Châu Đốc Mặc dù tỷ lệ mua/chế biến của nhà máy cao hơn nhưng biến phí SXC của nhà máy lại lớn hơn xí nghiệp 4, và

để thấy rõ hơn nữa chúng ta tiến hành phân tích nhân tố ảnh hưởng tiếp theo…

™ Biến phí SXC đơn vị:

Như đã nói trên, biến phí SXC không chỉ bị ảnh hưởng của tỷ lệ từng loại gạo mua vào và chế biến mà còn bị ảnh hưởng bởi giá cả của nhiên liệu, phí bốc xếp, phí vận chuyển …

Bảng 5: Biến phí SXC đơn vị của các xí nghiệp

Hầu hết các biến phí SXC đơn vị của xí nghiệp 2 đều rất cao và cao hơn xí nghiệp khác khá nhiều Điều đó chứng tỏ xí nghiệp 2 phải tái chế gạo nguyên liệu nhiều lần nên tốn nhiều nhiên liệu hơn, phải bốc xếp và vận chuyển nhiều hơn Do tái chế nên sản lượng không thay đổi nhiều trong khi đó chi phí lại tăng, nên khi qui

ra 1 đơn vị sản phẩm (kg) sẽ tốn nhiều chi phí Còn về các biến phí sản xuất khác, đối với phí phục vụ sản xuất thì xí nghiệp 2 cũng không cao lắm nhưng đối với phí mua dây may bao thì xí nghiệp 2 lại là xí nghiệp có chi phí này cao nhất

Còn về trường hợp của xí nghiệp 4 và nhà máy Châu Đốc Mặc dù tái chế ít hơn xí nghiệp 4 nhưng chi phí của nhà máy Châu Đốc lại cao hơn, nguyên nhân là

Trang 29

do đơn giá các biến phí này của nhà máy cao hơn hoặc do xí nghiệp 4 quản lí chi phí tốt hơn

ty

Ta có sơ đồ như sau:

Sơ đồ 1: Sơ đồ chi phí bán hàng

Chi phí bán hàng của công ty

Chi phí bán hàng xí

nghiệp phát sinh

Tổng chi phí bán hàng của xí nghiệp

Biến phí Định phí

Chi phí bán hàng của xí nghiệp

Tổng chi phí bán hàng công ty chi

Trang 30

Bảng 6: Biến phí bán hàng của các xí nghiệp

Đơn vị tính: đồng

- Công ty chi dùm 14.987.347.306 5.258.982.300 5.719.582.420 5.942.505.977 3.457.192.133

- Xí nghiệp chi 1.139.308.515 468.759.350 436.651.720 358.023.115 125.614.850 Lượng tiêu thụ (kg) 119.284.123 41.856.179 45.522.090 47.296.336 27.515.752

2.2.1 Chi phí nhân công trực tiếp:

Bảng 7: Chi phí nhân công trực tiếp ở các xí nghiệp

Đơn vị tính: đồng

CP NCTT 4.306.719.384 1.705.329.701 1.647.800.641 2.252.022.277 736.803.939 Lượng SX (kg) 169.212.046 47.899.589 75.551.053 79.110.833 37.634.585

Để thấy rõ sự khác nhau giữa CPNCTT của các xí nghiệp chúng ta xem bảng sau:

Bảng 8 : Chi tiết chi phí NCTT đơn vị ở các xí nghiệp

Trang 31

Ngoài ra, bên cạnh xí nghiệp 2 chúng ta thấy chi phí NCTT của xí nghiệp 4 cũng khá cao Trái với xí nghiệp 2 phải tái chế nhiều thì xí nghiệp 4 lại hoàn toàn ngược lại Tuy vậy, chi phí này của xí nghiệp 4 vẫn cao, có thể do 1 trong 2 nguyên nhân sau: thứ nhất, đơn giá các chi phí này ở xí nghiệp 4 cao; thứ hai, do khối lượng công việc không đều, cụ thể như khi lượng sản xuất ít thì chi phí lương không đổi nhưng khi lượng sản xuất nhiều, công nhân phải làm thêm giờ thì chi phí này lại tăng (do lương được trả theo thời gian)

Còn trường hợp của đơn vị có chi phí NCTT thấp nhất - nhà máy Châu Đốc,

ta thấy các khoản chi phí của nhà máy đều thấp, nguyên nhân do nhà máy khai thác tốt công suất chế biến của mình nên công nhân không phải làm thêm giờ nhiều

Trang 32

TỔNG 39,9 51,9 41,1 44,3 29,5

Từ bảng chi tiết trên, chúng ta thấy hầu hết các chi phí của xí nghiệp 2 và xí nghiệp 4 khá cao, điển hình là lương quản lí phân xưởng và chi phí điện nước Trong mỗi kg gạo thì tổng hai chi phí này của xí nghiệp 2 là 25,8đ; của xí nghiệp 4

là 22,9đ trong khi các xí nghiệp 1, 3 và nhà máy Châu Đốc lần lượt là 19,6; 24,9 và 18,2đ Cũng giống như định phí CNTT, nguyên nhân làm định phí SXC đơn vị của các xí nghiệp cao chủ yếu như sau:

- Lượng thành phẩm thu hồi ở xí nghiệp 2 thấp: mặc dù tỷ lệ mua vào gấp

1,7 lần nhà máy Châu Đốc nhưng tỷ lệ thu hồi thành phẩm chỉ gấp 1,3 lần, nguyên nhân do xí nghiệp 2 mua nhiều gạo nguyên liệu nên tỷ lệ thu hồi thành phẩm không cao, dẫn đến tỷ lệ phụ phẩm và hao hụt nhiều, do đó chi phí trên 1 kg gạo của xí nghiệp cao

- Do phải tái chế nhiều lần (xí nghiệp 2) và do không khai thác tốt công suất

(xí nghiệp 4) nên các chi phí như: điện, nước, lương công nhân, lương quản lí phân xưởng, tiền ăn giữa ca đều tăng do tăng thời gian làm thêm và làm ngoài giờ

CPQL phân bổ cho xí nghiệp = CPQL đơn vị ° lượng gạo xí nghiệp tiêu thụ

Tổng CPQL 6.679.187.201 Trong đó: CPQL đơn vị =

Tổng lượng tiêu thụ = 373.424.610 = 18

Trang 33

Và sau đây là bảng phân bổ chi phí quản lí cho các xí nghiệp:

Bảng 12: Phân bổ chi phí quản lí cho các xí nghiệp

Ở phần này chi phí sẽ được trình bày theo 2 dạng:

- Theo lượng sản xuất: mục đích là tập hợp các chi phí phát sinh năm 2003

- Theo lượng tiêu thụ: nhằm tập hợp chi phí để tính hiệu quả kinh doanh

Bảng 13: Tổng hợp chi phí theo lượng sản xuất

Trang 34

Bảng 14: Tổng hợp chi phí theo lượng tiêu thụ:

Trang 35

3 Báo cáo thu nhập

Ngày đăng: 11/12/2013, 21:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

5.4.2  Đồ thị lợi nhuận: - Phan tich moi quan he chi phi  khoi luong  loi nhuan
5.4.2 Đồ thị lợi nhuận: (Trang 14)
Đồ thị 1: Chi phí nguyên vật liệu đơn vị - Phan tich moi quan he chi phi  khoi luong  loi nhuan
th ị 1: Chi phí nguyên vật liệu đơn vị (Trang 26)
Đồ thị  2: Biến phí SXC đơn vị - Phan tich moi quan he chi phi  khoi luong  loi nhuan
th ị 2: Biến phí SXC đơn vị (Trang 26)
Sơ đồ 1: Sơ đồ chi phí bán hàng - Phan tich moi quan he chi phi  khoi luong  loi nhuan
Sơ đồ 1 Sơ đồ chi phí bán hàng (Trang 29)
Đồ thị 3: Số dư đảm phí đơn vị - Phan tich moi quan he chi phi  khoi luong  loi nhuan
th ị 3: Số dư đảm phí đơn vị (Trang 39)
Bảng 17: Quan hệ giữa SDĐP và lượng tiêu thụ. - Phan tich moi quan he chi phi  khoi luong  loi nhuan
Bảng 17 Quan hệ giữa SDĐP và lượng tiêu thụ (Trang 40)
Bảng 18: Tỷ lệ SDĐP của các xí nghiệp - Phan tich moi quan he chi phi  khoi luong  loi nhuan
Bảng 18 Tỷ lệ SDĐP của các xí nghiệp (Trang 41)
Đồ thị 5: Lợi nhuận tăng thêm khi tăng - Phan tich moi quan he chi phi  khoi luong  loi nhuan
th ị 5: Lợi nhuận tăng thêm khi tăng (Trang 43)
Đồ thị 6: Cơ cấu chi phí trong tổng phí - Phan tich moi quan he chi phi  khoi luong  loi nhuan
th ị 6: Cơ cấu chi phí trong tổng phí (Trang 44)
Đồ thị 7: Lợi nhuận đơn vị khi tăng doanh thu - Phan tich moi quan he chi phi  khoi luong  loi nhuan
th ị 7: Lợi nhuận đơn vị khi tăng doanh thu (Trang 45)
Bảng 21: Lợi nhuận tăng khi doanh thu tăng 20% - Phan tich moi quan he chi phi  khoi luong  loi nhuan
Bảng 21 Lợi nhuận tăng khi doanh thu tăng 20% (Trang 48)
Đồ thị cho thấy điểm hòa vốn của xí nghiệp 1 tại khối lượng 104 nghìn tấn gạo. - Phan tich moi quan he chi phi  khoi luong  loi nhuan
th ị cho thấy điểm hòa vốn của xí nghiệp 1 tại khối lượng 104 nghìn tấn gạo (Trang 53)
Bảng 24.a: Tổng hợp chi phí theo phương án 2 - Phan tich moi quan he chi phi  khoi luong  loi nhuan
Bảng 24.a Tổng hợp chi phí theo phương án 2 (Trang 61)
Bảng 25.a: Tổng hợp chi phí theo phương án 3 - Phan tich moi quan he chi phi  khoi luong  loi nhuan
Bảng 25.a Tổng hợp chi phí theo phương án 3 (Trang 62)
Bảng 26: Bảng tổng hợp sản lượng, doanh thu theo từng phương án. - Phan tich moi quan he chi phi  khoi luong  loi nhuan
Bảng 26 Bảng tổng hợp sản lượng, doanh thu theo từng phương án (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w