1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng hiện sinh trong tiểu thuyết của nikos kazantzakis

185 20 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 185
Dung lượng 2,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

các cuộc chiến tranh, ảnh hưởng của thuyết hiện sinh trên thế giới, khảo sát sự hình thành tư tưởng triết học và quan niệm nghệ thuật của Nikos Kazantzakis từ ảnh hưởng truyền thống văn

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM NGỌC LƯ

TƯ TƯỞNG HIỆN SINH TRONG TIỂU THUYẾT

CỦA NIKOS KAZANTZAKIS

Chuyên ngành: Lý luận văn học

Mã số: 9 22 01 20

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS.TS TRƯƠNG ĐĂNG DUNG

2 PGS.TS TRẦN THỊ SÂM

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

LỜI CÁM ƠN

Trước tiên, tôi xin chân thành cám ơn lãnh đạo Khoa Văn học, Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện luận án

Chân thành cám ơn quý thầy cô trong khoa Văn học đã tận tình giảng dạy trong suốt quá trình tôi làm nghiên cứu sinh

Đặc biệt, xin gửi lời tri ân chân thành, sâu sắc đến PGS.TS Trương Đăng Dung và PGS.TS Trần Thị Sâm, những người đã dành cho tôi những tình cảm quý báu, những chỉ dạy, hướng dẫn tận tình và sự tin tưởng tuyệt đối

Xin chân thành cảm ơn Chi ủy, Ban Giám hiệu, Ban Chấp hành Công đoàn Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian tôi thực hiện đề tài

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và thực hiện đề tài

Hà Nội, ngày 26 tháng 06 năm 2018

Tác giả

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực, đảm bảo độ chuẩn xác cao nhất có thể Các bài báo được các đồng tác giả cho phép sử dụng Các tài liệu tham khảo, trích dẫn có xuất xứ rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách về công trình nghiên cứu của mình

Hà Nội, Ngày 26 tháng 6 năm 2018

Tác giả

Phạm Ngọc Lư

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7

1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu thuyết hiện sinh 7

1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu Nikos Kazantzakis 26

CHƯƠNG 2: TƯ TƯỞNG HIỆN SINH TRONG TIỂU THUYẾT CỦA NIKOS KAZANTZAKIS – NHÌN TỪ PHẠM TRÙ BẢN THỂ VÀ TÂM LINH 39 2.1 Hành trình tìm kiếm đức tin 39

2.2 Hành trình tìm kiếm bản ngã 55

2.3 Bản thể và tâm linh 63

CHƯƠNG 3: TƯ TƯỞNG HIỆN SINH TRONG TIỂU THUYẾT CỦA NIKOS KAZANTZAKIS – NHÌN TỪ PHẠM TRÙ NỔI LOẠN, DẤN THÂN, 76

TỰ DO VÀ HƯỞNG LẠC 76

3.1 Con người nổi loạn và dấn thân 76

3.2 Con người hiện sinh hưởng lạc 86

3.3 Thái độ hiện sinh với luận đề tự do 98

CHƯƠNG 4 114

SỰ HOÀI NGHI HIỆN SINH NHÌN TỪ TÍNH LƯỠNG PHÂN TƯ TƯỞNG 114

4.1 Tính lưỡng phân, mâu thuẫn về tôn giáo 114

4.2 Những hoài nghi về tồn tại 128

4.3 Hoài nghi về lịch sử và tri thức 139

KẾT LUẬN 147

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hàng ngàn năm qua, các nhà triết học say sưa bàn về bản chất của vũ trụ, của vật chất, của ý thức,…Trong vô vàn các tác phẩm triết học truyền thống, con người dường như bị bỏ quên Vấn đề về sự tồn tại của con người như thế nào trong cuộc sống không phải là đối tượng trọng tâm của triết học Đặc biệt, thân phận con người ngày càng trở thành vấn đề nghiêm trọng trong lòng xã hội tư bản đang lâm vào khủng hoảng

Có thể nói, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, của một nền khoa học kỹ thuật rực rỡ và cả vũ khí nguyên tử đã đẩy con người đến với sự khủng hoảng niềm tin

Từ trước đến giờ, triết học nói chung, các ngành khoa học nói riêng chủ yếu chỉ tìm tòi, nghiên cứu bản chất vũ trụ, giải thích căn nguyên của nhiều hiện tượng, nhiều

sự việc nhưng gần như họ quên mất vấn đề nổi cộm: cuộc đời và thân phận con người

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa hiện sinh trở thành một trào lưu triết học và văn hóa, chủ yếu thông qua hai ngòi bút Pháp nổi tiếng: Jean-Paul Sartre và Albert Camus Họ viết những tiểu thuyết, vở kịch, bài báo cũng như những tác phẩm chuyên ngành, nhằm cổ xúy cho tinh thần tự do của con người Tác phẩm của họ chú trọng vào các chủ đề như “nỗi sợ, sự buồn chán, sự lạc lõng trong xã hội, sự phi lý, tự do, cam kết và hư vô” như là nền tảng của sự hiện sinh con người

Chủ nghĩa hiện sinh và văn học hiện sinh có một vai trò, vị trí to lớn trong đời sống tinh thần của nhân loại Trong bối cảnh hội nhập với thế giới của nước ta hiện nay, việc nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh và văn học hiện sinh là vô cùng quan trọng Những di sản và thực tế sôi động của những sáng tác theo khuynh hướng hiện sinh có sức mời gọi đối với công chúng yêu văn học Trong một thời gian dài gần như bị lãng quên, đến nay việc nghiên cứu chủ nghĩa hiện sinh và văn học hiện sinh

là nhu cầu bức thiết

Trang 6

Nikos Kazantzakis ảnh hưởng mạnh mẽ trường phái hiện sinh vô thần của F.Nietzsche và triết học trực giác của H.Bergson Ông suýt đoạt giải Nobel năm

1957 vì ít hơn Albert Camus một phiếu vào phút cuối [125]

Từ người thầy của mình là triết gia Henri Bergson, Nikos Kazantzakis viết luận án triết học về Friedrich Nietzsche, một triết gia ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng và sáng tác của ông Ngoài ra, ông tìm hiểu học thuyết Marx, gặp những nhà lãnh đạo Bolshevik, phản đối Đức Quốc xã gây chiến tranh, gặp và phỏng vấn Mussolini - trùm phát xít Ý[125]… Những hoạt động đó đã khiến cho Nikos Kazantzakis có một tầm nhìn đa chiều về tôn giáo và chính trị - xã hội Đặc biệt, ông luôn có tư duy đối thoại, phản biện giữa các luồng tư tưởng mà mình đã tiếp nhận trên tinh thần nồng cháy tình yêu thương đối với con người

Có thể nói, Nikos Kazantzakis là nhà tiểu thuyết ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống văn học và xã hội Tư tưởng hiện sinh mà nhà văn đặt ra trong tác phẩm là mối quan tâm không chỉ ở lĩnh vực văn học, mà cả triết học, tâm lý học và nhất là tôn giáo Bước ra từ đống đổ nát của thế chiến thứ hai, Nikos Kazantzakis cũng như một

số nhà văn khác ảnh hưởng nặng nề dư chấn của cuộc chiến Chứng kiến về thảm hoạ đối diện với sự diệt vong của loài người và sự đổ vỡ niềm tin về Thượng đế, tiểu thuyết của nhà văn đặt ra một câu hỏi day dứt: Con người tồn tại như thế nào trong thế giới đổ nát này? Bản thể và tâm linh có thể hòa hợp? Sống là tận hưởng, vậy con người nhân vị và con người xã hội hệ lụy như thế nào trong thái độ hiện sinh của chủ thể?

Đi tìm hiểu và lý giải những vấn đề mà nhà văn đặt ra là một nhiệm vụ thôi thúc chúng ta không ngừng Những day dứt về thân phận và ước muốn tự do cho con người của nhà văn là một vấn đề hệ trọng, cấp bách Hình ảnh con người hiện sinh mà nhà văn xây dựng có ý thức sâu sắc về vai trò của cá nhân hiện sinh/nhân vị

và trách nhiệm với con người xã hội

Đặc biệt, những tác phẩm của Nikos Kazantzakis được đón nhận, dịch và giới thiệu ở Việt Nam từ khá sớm đã nói lên ảnh hưởng của tác giả này đến đời sống tinh thần của người Việt Nam

Với những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Tư tưởng hiện sinh

trong trong tiểu thuyết của Nikos Kazantzakis” Hy vọng, đề tài chúng tôi sẽ góp

Trang 7

phần khiêm tốn trong việc tìm hiểu tư tưởng hiện sinh của nhà văn lớn này Từ đó, xác lập cách thức tiếp nhận có chọn lọc và mang tính khoa học về những giá trị tư tưởng nhân bản của chủ nghĩa hiện sinh, dòng văn học hiện sinh nói chung và của tiểu thuyết gia Nikos Kazantzakis nói riêng

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Luận án góp phần làm sáng tỏ và cung cấp cho người đọc một cái nhìn căn bản về tư tưởng hiện sinh của tiểu thuyết gia Nikos Kazantzakis

Thông qua công trình nghiên cứu này, chúng tôi góp phần khẳng định ý nghĩa nhân bản, xưng tụng tự do và ý thức trách nhiệm của con người trong thế giới đang ngày càng nảy sinh nhiều xung đột, bất trắc mà nhà văn đã đặt ra Luận án góp phần làm sáng tỏ tinh thần thế tục hóa tôn giáo, tinh thần lên án chiến tranh, chống phân biệt chủng tộc, lên án chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và tín ngưỡng tôn giáo cực đoan trong tiểu thuyết của Nikos Kazantzakis Đây là những vấn đề ngày càng trở nên nhức nhối mà nhân loại đang phải ngày đêm hứng chịu và yêu cầu cấp bách đặt ra cho loài người phải giải quyết

Trong xu thế toàn cầu hóa của thế giới hôm nay, đất nước chúng ta mở cửa giao lưu với nhiều nền văn hóa trên thế giới, trước những biến động của nhân loại trên các phương diện: lịch sử, chính trị và xung đột sắc tộc, tôn giáo, các sáng tác của Nikos

Kazantzakis đáng để chúng ta suy tư về sự tồn tại của loài người Những sáng tác của

ông thấm đẫm và cổ xuý cho tình yêu thương con người Ông kịch liệt lên án chiến tranh và kêu gọi sự hoà giải các xung đột về sắc tộc, tôn giáo Có thể nói, cả một đời mình, Nikos Kazantzakis đã phấn đấu không ngừng nghỉ về lý tưởng ấy

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án lấy đối tượng nghiên cứu đầu tiên là những vấn đề căn bản của chủ nghĩa hiện sinh, từ nguồn gốc đến các chủ đề, các trường phái hiện sinh Đây là hệ thống lý thuyết để nghiên cứu vào nội dung chính của đề tài

Luận án cũng khảo sát những mảng đề tài chính của một số nhà văn hiện sinh tiêu biểu, làm cơ sở cho việc nghiên cứu, so sánh nét độc đáo trong tiểu thuyết Nikos Kazantzakis

Trang 8

Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là “Tư tưởng hiện sinh trong tiểu thuyết

của Nikos Kazantzakis” Chúng tôi giải quyết trên các phương diện bản thể và tâm

linh, nổi loạn, tự do, dấn thân, hưởng lạc và hoài nghi hiện sinh

Các đối tượng nghiên cứu trên có mối quan hệ biện chứng hữu cơ với nhau, cái này làm rõ cái kia, quy định sự cắt nghĩa và thông hiểu cái còn lại

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Do tính chất phong phú, phức tạp của chủ nghĩa hiện sinh, luận án chủ yếu giới hạn chính trong trường phái triết học hiện sinh vô thần mà Nikos Kazantzakis ảnh hưởng sâu đậm nhất, trong đó nổi bật nhất là triết học của Friedrich Nietzsche Bên cạnh đó, luận án nghiên cứu một số nhà văn hiện sinh theo để làm sáng tỏ thêm dòng văn học hiện sinh

Luận án tập trung khảo sát tiểu thuyết của Nikos Kazantzakis ở bình diện nội

dung tư tưởng hiện sinh qua năm tiểu thuyết: Vườn đá tảng (bản tiếng Pháp Le Jardin

des rochers (Bửu Ý dịch) (1967), NXB An Tiêm, Sài Gòn; Xin chọn người yêu là

Thượng đế (bản tiếng Anh Saint Francis of Assisi) (Nguyễn Yến Anh dịch) (1974);

Tự do hay là chết (bản tiếng Anh Freedom and Death -Hoàng Nguyên Kỳ dịch)

(1985), NXB Văn học, Hà Nội; NXB Kinh Thi, Sài Gòn; Cám dỗ cuối cùng của

Chúa (The Last Temptation of Christ) (Bích Phượng dịch) (1988), NXB Tổng hợp

Đồng Nai; Alexis Zorba – con người hoan lạc (bản tiếng Anh Zorba the Greek)

(Dương Tường dịch) (2006), NXB Văn học, Hà Nội

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở phương pháp luận

Trên cơ sở tư tưởng của thuyết hiện sinh, chúng tôi nghiên cứu tư tưởng hiện sinh của Nikos Kazantzakis trong tiểu thuyết của ông Đề tài cũng dựa trên những thành tựu của các chuyên ngành khoa học nghiên cứu văn học: Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Lý luận văn học, Lịch sử văn học, Phê bình văn học…

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu: phương pháp hệ thống, phương pháp đối chiếu, phương pháp liên ngành…

Phương pháp liên ngành: dùng để khảo sát sự hình thành, vận động của thuyết

hiện sinh (từ ảnh hưởng của sự khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản đến ảnh hưởng của

Trang 9

các cuộc chiến tranh, ảnh hưởng của thuyết hiện sinh trên thế giới), khảo sát sự hình thành tư tưởng triết học và quan niệm nghệ thuật của Nikos Kazantzakis (từ ảnh hưởng truyền thống văn hóa Hy Lạp đến ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh và đời sống văn hóa, chính trị thế giới lúc bấy giờ), trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi dùng kiến thức của các ngành triết học, lịch sử, văn hóa, tôn giáo, chính trị, xã hội học, dân tộc học… để khảo sát, xâu kết các mảng đề tài phong phú, giải mã các thông điệp trong tác phẩm mà Nikos Kazantzakis muốn gửi gắm cho nhân loại

Phương pháp hệ thống: dùng để nghiên cứu một cách xuyên suốt các trường phái

triết học hiện sinh và tư tưởng triết học của các nhà hiện sinh Các tiểu thuyết của Nikos Kazantzakis cũng được khảo sát dưới phương pháp này bởi chúng tôi quan niệm tất cả tiểu thuyết của ông đều được viết bởi một tư duy nghệ thuật thống nhất, có ý thức liên kết với nhau thành một liên văn bản, có mối quan hệ chặt chẽ với các văn bản trong cùng chủ nghĩa hiện sinh

Phương pháp đối chiếu: dùng để khảo sát sự tương đồng và dị biệt giữa tiểu

thuyết hiện sinh của Nikos Kazantzakis với các tiểu thuyết gia hiện sinh khác trong vấn đề xây dựng chủ thể tự do - dấn thân - hưởng lạc và khám phá bản ngã; so sánh hình tượng Chúa Jesus, Thánh Francis trong tiểu thuyết và Kinh Thánh, vấn đề thế tục hóa tôn giáo để thấy được nét độc đáo trong sáng tác của Nikos Kazantzakis

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Về mặt lý thuyết, luận án góp phần thể hiện tầm quan trọng của thuyết hiện sinh Ở Việt Nam, hiện còn chưa đánh giá đúng chủ nghĩa hiện sinh, văn học hiện sinh và tiểu thuyết hiện sinh của Nikos Kazantzakis Từ sau năm 1975 đến giờ, thuyết hiện sinh còn chưa được nghiên cứu chưa phổ biến, vẫn còn nhiều ngộ nhận

về chủ nghĩa hiện sinh Luận án góp phần hình thành nên những kiến thức chung cho người đọc, người nghiên cứu ở nước ta có cái nhìn cơ bản về thuyết hiện sinh, một học thuyết triết học lấy sự tồn tại con người làm đối tượng nghiên cứu Luận án

là công trình quan trọng nghiên cứu về Nikos Kazantzakis ở Việt Nam Bên cạnh các bài viết của một vài tác giả trong nước, luận án đã góp phần thể hiện tầm vóc, tư tưởng của một nhà tư tưởng, nhà văn khổng lồ của thế kỷ XX

Về ứng dụng, luận án là tư liệu quan trọng trong việc nghiên cứu, giảng dạy thuyết hiện sinh nói chung và Nikos Kazantzakis nói riêng

Trang 10

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Các tác phẩm, các công trình nghiên cứu về Nikos Kazantzakis có vai trò to lớn và ảnh hưởng mạnh mẽ đến công chúng Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu đầy đủ, bài bản về tư tưởng hiện sinh trong tiểu thuyết của ông

Hy vọng, đề tài chúng tôi sẽ góp phần khiêm tốn trong việc tìm hiểu tư tưởng hiện sinh của nhà văn khổng lồ này Qua công trình nghiên cứu này sẽ làm sáng tỏ và cung cấp cho người đọc một cái nhìn căn bản về tư tưởng hiện sinh của tiểu thuyết gia Nikos Kazantzakis

Công trình này khẳng định ý nghĩa nhân bản, đề cao giá trị con người, ý thức chung sống hòa bình, sự tôn trọng và chống xâm phạm chủ quyền quốc gia giữa các nước, lên án xung đột tôn giáo, sắc tộc, lên án phân biệt chủng tộc, tinh thần thế tục hóa tôn giáo trong tiểu thuyết của Nikos Kazantzakis Từ đó, định hướng tiếp nhận những quan điểm tiến bộ trong tư tưởng của Nikos Kazantzakis và văn học hiện sinh trong xu hướng toàn cầu hóa ở Việt Nam

7 Cơ cấu của luận án: Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham

khảo, phụ lục, luận án triển khai qua 4 chương:

Chương 1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu

Chương 2 Tư tưởng hiện sinh trong tiểu thuyết của Nikos Kazantzakis – nhìn từ phạm trù bản thể và tâm linh

Chương 3 Tư tưởng hiện sinh trong tiểu thuyết của Nikos Kazantzakis – nhìn từ phạm trù nổi loạn, dấn thân, tự do và hưởng lạc

Chương 4 Hoài nghi hiện sinh nhìn từ tính lưỡng phân tư tưởng

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu thuyết hiện sinh

1.1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu thuyết hiện sinh trên thế giới

Chủ nghĩa hiện sinh ngay từ khi mới ra đời đã trở thành đề tài cuốn hút giới

nghiên cứu Chủ nghĩa hiện sinh (Existentialism) là từ do nhà triết học người Pháp

Gabriel Marcel đề ra năm 1940 và được Jean-Paul Sartre sử dụng trong bài thuyết trình

của mình vào ngày 29 tháng 10 năm 1945 tại Paris Bài thuyết trình có tên là “Chủ

nghĩa hiện sinh là chủ nghĩa nhân đạo” (L'existentialisme est un humanisme)

Chủ nghĩa hiện sinh dùng để nói về nghiên cứu của một nhóm các triết gia cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, những người tuy khác nhau về học thuyết nhưng có chung niềm tin rằng tư duy triết học xuất phát từ chủ thể con người và con người không chỉ là chủ thể tư duy, mà là cá thể sống, cảm xúc, và hoạt động Trong chủ nghĩa hiện sinh,

xuất phát điểm của cá nhân được đặc tả bởi cái từng được gọi là "thái độ hiện sinh" (the existential attitude), hay một tình trạng mất định hướng và bối rối khi đứng trước một thế giới có vẻ như vô nghĩa và phi lý.

Vào thế kỷ XX, chủ nghĩa hiện sinh nổi lên là một phong trào triết học với sự đóng góp của Martin Heidegger, Jean-Paul Sartre, Simone de Beauvoir, Franz Kafka, Albert Camus và Fyodor Dostoevsky

Các nhà hiện sinh thống nhất quan điểm: Hiện sinh có trước bản chất Đây là một định đề cốt lõi của chủ nghĩa hiện sinh

Các triết gia hiện sinh khi dùng từ hiện sinh là họ muốn nói tới sự hiện tồn của con người Sự hiện tồn của con người là sự hiện hữu của từng cá thể đặc thù, chứ

không phải tất cả loài người Vấn đề của con người, trong cái nhìn của họ, là phải trở nên có ý thức đầy đủ về bản ngã chân thực của mình Trong những hoàn cảnh đặc thù, con người tìm thấy chính mình đang ở trong đó Vấn đề cơ bản này không thể giải quyết bằng tư duy thuần tuý và những ý tưởng trừu tượng về bản chất con người Những quy luật phổ quát và những khái niệm chung không thể minh giải nổi những vấn đề của con người vốn rất độc đáo, cụ thể, đặc thù

Trang 12

Thuyết hiện sinh đề cao giá trị bản thể và sự hiện tồn tự do của con người Các nhà hiện sinh luôn quan tâm đến cuộc đấu tranh thầm lặng của mỗi cá nhân trước sự

vô nghĩa của cuộc sống Họ xoáy sâu vào sự dấn thân, trải nghiệm của chủ thể, và trên hết, cổ xúy cho tinh thần tự do của con người

Chủ nghĩa hiện sinh đã từng bước trở thành một trào lưu của triết học châu Âu trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XX Đến cuối Thế chiến thứ hai, nó trở thành một phong trào được biết đến rộng rãi Các tác phẩm của họ chú trọng vào các chủ

đề như “nỗi âu lo, sự buồn chán, sự lạc lõng trong xã hội, sự phi lý, tự do, cam kết

và hư vô” như là nền tảng của sự hiện sinh con người “Thật dễ nhận thấy thuyết hiện sinh hoàn toàn là một triệu chứng cho thấy sự kiệt sức của Tây Âu khi thế chiến kết thúc” [9, tr.551]

Có thể nói, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, của một nền khoa học kỹ thuật rực rỡ và cả vũ khí nguyên tử đã đẩy con người đến với sự khủng hoảng niềm tin

Từ trước đến giờ, triết học nói chung, các ngành khoa học nói riêng chủ yếu chỉ tìm tòi, nghiên cứu bản chất vũ trụ, giải thích căn nguyên của nhiều hiện tượng, nhiều

sự việc nhưng gần như họ quên mất vấn đề nổi cộm: cuộc đời và thân phận con người Trong khi đó, triết học hiện sinh không lao vào nghiên cứu bản chất của các

sự vật, hiện tượng trong vũ trụ Triết học hiện sinh quan tâm đến thân phận, sự tồn tại của con người trong một xã hội đầy bất trắc: “Những người hiện sinh không tin ở Chúa - chắc chắn không tin vào chúa nhân từ - và họ nhận thấy thế giới là một nơi

vô cùng khó chịu trong đó con người sinh ra đã gặp rắc rối và không bao giờ thoát

khỏi rắc rối ấy” [9, tr.551]

Có thể kể một số nhà hiện sinh tiêu biểu như Soren Kierkergaard, Friedrich Nietzsche, Karl Jasper, Gabriel Marcel, Martin Heidegger, Jean-Paul Sartre, Albert Camus, Simone de Beauvoir…

Bằng các cuộc cánh mạng khoa học kỹ thuật, trình độ của con người phát triển vượt bậc Đến đầu thế kỷ XIX, song song với phát triển của khoa học kỹ thuật, một trào lưu xuất hiện, chủ trương rằng khoa học là vạn năng, giải đáp tất cả mọi vấn đề Với khoa học kỹ thuật, nhất định con người sẽ được thỏa mãn về mọi phương diện, tinh thần cũng như vật chất Lý trí khoa học khai mở kiến thức cho con người và

Trang 13

nhờ khả năng bất tận của nó, sẽ đem dần nhân loại đến hạnh phúc Trong xu thế đó, toàn bộ triết học từ Platon đến Hegel - vốn dựa vào uy quyền của lý trí, lấy lý trí làm tiêu chuẩn duy nhất trong việc tìm hiểu và giải thích vũ trụ, nhân sinh Đối tượng của Triết học là khả tri Những gì không có lý tính không phải là đối tượng triết học Vũ trụ, Thượng đế, Linh hồn, v.v… là những thực tại khách quan vì có lý tính Trên nền tư duy đó, đến những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, con người cảm nhận có nhiều thứ thuộc về con người mà nền triết học, khoa học kỹ thuật đương thời không giải thích được Trước những khủng khoảng lớn lao của con người như Chiến tranh châu Âu 1870, Thế chiến thứ nhất 1914 - 1918, triết học tự nhiên truyền thống cảm thấy bất lực Lúc này, triết học nhân sinh ra đời Các nhà triết học nhân sinh coi triết học truyền thống là quá trừu tượng và tách biệt khỏi trải nghiệm cụ thể của con người ở cả phong cách cũng như nội dung

Có thể nói, với Hiện tượng học, Edmund Gustav Albrecht Husserl (1859 – 1938) muốn trả lại cho triết học ý nghĩa nhân sinh đích thực của nó Với ông, triết học theo đúng nghĩa của nó phải bàn đến việc con người cảm giác, nhìn nhận và xây dựng thế giới sống của bản thân như thế nào và phải chỉ dẫn cho con người những phương pháp để làm được điều đó

Một học trò của Husserl là Martin Heidegger (1889 – 1976) thì cho rằng triết học châu Âu trước đó chỉ đặt ra vấn đề hiện hữu nói chung và sự hiện hữu tối cao là Chúa, chứ không đặt ra vấn đề: thông qua cái gì mà tất cả mọi sự hiện hữu mới có

thể là hiện hữu? Tức là triết học truyền thống đã không đặt ra vấn đề tồn tại người Xuất phát từ quan niệm như vậy về tồn tại và hiện hữu, Heidegger đã đi đến phê

phán triết học châu Âu sau Socrates Ông cho rằng triết học sau Socrates đã không

phân biệt được sự khác nhau giữa tồn tại người với sự hiện hữu của các sự vật khác

Nó coi tồn tại người cũng giống như tồn tại của các sự vật khác, nó đã đồng nhất

tồn tại và hiện hữu với nhau Và như vậy, quan niệm cũ đó đã đưa đến quan niệm

sai lầm về con người, coi con người là một con vật thuần túy sinh học

Trên nền tảng của Hiện tượng học, chủ nghĩa hiện sinh ra đời Soren Kierkegaard và Friedrich Nietzsche là hai nhà triết học được xem là nền tảng cho chủ nghĩa hiện sinh Họ chú trọng vào những sự trải nghiệm chủ quan của con người hơn

Trang 14

những chân lý khách quan của khoa học, cái mà họ coi rằng quá xa cách để hiểu được những trải nghiệm của con người

Triết học hiện sinh chia làm hai trường phái Trường phái hữu thần do Soren Kierkergaard khởi xướng Trường phái vô thần theo quan điểm của Nietzsche Soren Kierkergaard (1813 - 1855) là triết gia luôn suy tư về nỗi thống khổ của con người Với ông, con người không phải là con người trừu tượng, con người phổ quát, con người được đem ra làm vật thể để lý luận như trong triết học

duy lý của Hegel Con người mà ông khảo sát ở đây là chính bản thân ông, với

những giai đoạn trong đường đời Ðó là lý do khiến ông trở thành ông tổ đích thực của triết học hiện sinh Triết học của Kierkergaard là triết học nghiệm sinh trên cá nhân tác giả Ông trình bày một tâm hồn hiện sinh luôn luôn bị dằn vặt, vật lộn với chính mình để vượt qua những chặng đường đời Kierkergaard đã thật

sự mang triết học về với con người

Friedrich Nietzsche (1844-1900) là người chủ trương xoá bỏ quan niệm đạo

đức cũ Những tư tưởng của ông đã tạo ra cách nhìn mới khi ông muốn thực hiện một cuộc thay đổi mạnh mẽ chưa từng có nhằm đổi lại bảng giá trị luân lý và xã hội Những gì mà từ xưa đến nay được tôn trọng thì ông chủ trương xoá bỏ Ông tuyên

bố “Thượng đế đã chết”, những gì thuộc về thể xác mới là cái đáng quý, vì con người sống bằng thể xác, tư duy trên thể xác, sự tác động tương tác của con người đều thông qua thể xác Chủ trương thể xác là tạm bợ, linh hồn là vĩnh cửu là những luận thuyết Kinh Thánh giờ bị đảo ngược hẳn:

Tư chất của Nietzsche thực là họa hiếm Nietzsche đã nhằm một cuộc cách mạng tinh thần như chưa từng thấy: Ông nhằm đổi lại cái bảng giá trị luân lý và xã hội Những gì người ta vẫn tôn trọng tự trước đến nay sẽ bị ông thóa mạ và lên án; tóm lại ông sẽ đặt lại và tạo ra những nhận định hoàn toàn mới về thiện và ác Cho nên triết học của ông có thể mệnh danh là “Ðảo lại tất cả các giá trị” Thay vào những giá trị tư tưởng hoàn toàn duy niệm của truyền thống Socrates, Nietzsche đã đề cao những giá trị của Hiện Sinh, và thay vào những giá trị “yếm thế” của các tôn giáo [35, tr.116-117]

Trang 15

Trong công trình nghiên cứu Hành trình khám phá triết học phương Tây, William

F.Lawhead đã nghiên cứu rất kỹ về các nhà hiện sinh như: Soren Kierkegaard: người sáng lập chủ nghĩa hiện sinh tôn giáo; Friedrich Nietzsche: người sáng lập chủ nghĩa hiện sinh thế tục; Hiện tượng học và Chủ nghĩa hiện sinh với các nhà triết học như Edmund Husserl, Martin Heidegger, Jean-Paul Sartre, Simone De Beauvoir… Công trình nghiên cứu của William F Lawhead đã diễn giải khá tường tận về tư tưởng, quan điểm của các nhà hiện sinh từ hữu thần đến vô thần và các nhánh hiện sinh khác

Trong Câu chuyện triết học, Bryan Magee giới thiệu về các nhà triết học châu

Âu từ cổ đại đến hiện đại Trong đó, tác giả dành khá nhiều trang cho các nhà hiện sinh Ông đã phân tích ảnh hưởng của Shopenhauer cũng như tác động từ người bạn vong niên của Nietzsche là nhà soạn nhạc Wagner đối với việc hình thành tư tưởng triết học của Nietzsche

Jasques Collette với tác phẩm Chủ nghĩa hiện sinh (Hoàng Thạch dịch, Nhà

xuất bản Thế Giới, (2011) đã nêu lên các tác giả tiểu biểu của chủ nghĩa hiện sinh như Kierkegaard, Marcel, Jaspers, Husserl, Heidegger, Jean-Paul Sartre, Merleau - Ponty Tác phẩm này cũng bàn về các khái niệm cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh như hiện sinh, tự do, thời gian, siêu việt, thế giới Khái niệm hiện sinh được hiểu là sự thấu hiểu về mình và về sự tồn tại của mỗi con người, đi sâu vào bản thể tính, cái cá nhân hiện sinh

Felicien Challaye với tác phẩm Nietzsche cuộc đời và triết lý (Mạnh Tường

dịch, Nhà xuất bản Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2007) Tác phẩm đã giúp ta tìm hiểu về cuộc đời của Nietzsche không phải là nhà triết học lạnh lùng, khô khan

mà là một người suy tư cuồng nhiệt, kẻ luôn đi tìm chân lý với tất cả tâm hồn, coi cuộc đời như một kinh nghiệm diệu kỳ Felicien Challaye cũng cung cấp cho người đọc về sự khởi đầu tư tưởng triết học của Nietzsche, giai đoạn chiu ảnh hưởng của Shopenhauer và Wagner Nietzsche khám phá ra Shopenhauer một cách tình cờ nhưng nó như một ánh sáng bừng lên trong nhận thức của ông Wagner - nhà soạn nhạc nổi tiếng vốn được Nietzsche hâm mộ - đã cùng Nietzsche rất tâm đầu ý hợp trong đàm đạo về Shopenhaue Felicien Challaye cũng nêu lên những phê bình của

Trang 16

Nietzsche về mọi quan điểm đã có, siêu hình, luân lý, tôn giáo, chính trị, xã hội, nghệ thuật, khoa học và sau đó là những mặc khải của Nietzsche về Ý chí hùng tráng, Lật

đổ các giá trị, Siêu nhân…, Nietzsche luôn đặt các vấn đề các giá trị mà con người cần gắn chặt trong hành động và trong tình cảm của mình Nietzsche luôn ca ngợi sự gan dạ và yêu đời, luôn hướng về một ngày mai tươi sáng nhất

Lưu Căn Báo với tác phẩm Phridrich Nietzsche (Quang Lâm dịch, Nhà xuất

bản Thuận Hóa, 2004) Tác phẩm đã nêu lên cuộc đời thăng trầm và quá trình hình thành tư tưởng triết học của Nietzsche Lưu Căn Báo lần theo chặng đường từ một cậu bé luôn đau buồn, một học sinh, sinh viên xuất sắc đến danh vị giáo sư trẻ và những tư tưởng triết học ảnh hưởng khắp toàn cầu trong đó có Trung Quốc

Chủ nghĩa hiện sinh đã từng bước trở thành một trào lưu của triết học châu

Âu trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XX Các tác phẩm của họ chú trọng vào các

chủ đề như nỗi sợ, sự buồn chán, sự lạc lõng trong xã hội, sự phi lý, tự do, cam kết

và hư vô như là nền tảng của sự hiện sinh con người

Trước hết, không thể không nhắc đến bài phát biểu nổi tiếng của nhà hiện sinh

nổi tiếng: Chủ nghĩa hiện sinh là một chủ nghĩa nhân bản của Jean-Paul Sartre Đây

là một luồng gió hiện sinh lan tỏa toàn cầu, đưa chủ nghĩa hiện sinh đến với nhiều

người trên thế giới Các khái niệm hiện sinh, hiện sinh hữu thần, hiện sinh vô thần,

bản thể tính, hiện hữu (hiện tồn), âu lo, tình trạng bị bỏ rơi, sự tuyệt vọng, dự phóng…được nhà hiện sinh giải thích rành mạch

Sau thế chiến thứ hai, thuyết hiện sinh ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội châu Âu, vì vậy nó là trung tâm nghiên cứu của lĩnh vực triết học, lịch sử và văn học Đặc biệt là ở Pháp, thuyết hiện sinh đã trở thành một chủ đề nóng của các cuộc hội thảo khoa học, đề tài luận án…Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:

Wioletta Agadjanowa với công trình Jean-Paul Sartre - ảnh hưởng của ông

đối với đời sống Paris và về tuổi trẻ của thời hậu chiến (Jean-Paul Sartre - son influence sur la vie parisienne et sur la jeunesse de l´après-guerre) đã nghiên cứu

những ảnh hưởng tư tưởng hiện sinh của Jean-Paul Sartre đối với đời sống xã hội Paris và thế hệ trẻ sau chiến tranh Tác giả khẳng định rằng: Jean-Paul Sartre đã xây dựng một triết học về con người, trong đó, khái niệm tự do và trách nhiệm đóng một

Trang 17

vai trò trung tâm Tác giả đã lý giải sự ảnh hưởng và tương tác hai chiều: cội nguồn ảnh hưởng đến triết học hiện sinh của Jean-Paul Sartre và sự tương tác trở lại của ông đối với đời sống xã hội Pháp sau Thế chiến Thứ hai (Wioletta Agadjanowa, 2005, Jean-Paul Sartre - son influence sur la vie parisienne et sur la jeunesse de l´après-guerre, Munich, GRIN Verlag) [139]

Đặc biệt, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Jean-Paul Sartre, năm

2005, Thư viện Khoa học của trường Sciences-Po ở Paris đã xuất bản Tuyển tập với

tựa đề: Jean-Paul Sartre và "Thời hiện đại": viết cho thời đại của mình (Jean-Paul

Sartre et les “Temps modernes”: écrire pour son époque) Công trình đã châu tuần

nhiều chuyên gia nghiên cứu thuyết hiện sinh và tư tưởng nhân văn của Jean-Paul

Sartre Câu tuyên ngôn của Sartre: “Tôi thấy những người bị áp bức ở khắp mọi nơi

(thuộc địa, vô sản, Do Thái) và tôi muốn giải cứu họ khỏi sự đàn áp Những người bị

áp bức này đã tác động đến tôi và từ sự áp bức đó tôi nhận ra cội nguồn cửa sự phức tạp xã hội” đã trở thành tiêu đề cho các nhà nghiên cứu thuyết hiện sinh phân tích,

mổ xẻ ý nghĩa sâu xa trong tư tưởng Jean-Paul Sartre Các tác giả đều có một nhận định chung về tầm quan trọng của thuyết hiện sinh cũng như vị trí, tầm tư tưởng của Jean-Paul Sartre đối với thời đại của chúng ta hôm nay[140]

Cũng nhân dịp này, Viện Ngôn ngữ Gabès đã tổ chức Hội thảo Quốc tế với chủ

đề Jean-Paul Sartre: sáng tạo văn học và triết học (J.-P Sartre: création littéraire

et philosophie) nhằm vinh danh vị trí của ông trong nền triết học và văn học của thế

giới Hội thảo tập trung phân tích mối quan hệ giữa văn học và triết học trong sự nghiệp của Jean-Paul Sartre Các nhà nghiên đã đặt ra câu hỏi: văn bản văn học của Jean-Paul Sartre có đặt ra vấn đề về khái niệm triết học dựa trên kinh nghiệm con người cụ thể và sống động? Và nếu có, điều này có đặt chúng ta suy nghĩ lại mối quan hệ giữa triết học và văn học theo nghĩa rộng của thuật ngữ này? Chính quan điểm viết văn để trình bày triết học của đã Jean-Paul Sartre đã ảnh hưởng đến dòng văn học hiện sinh ở Pháp thập niên 50, 60, 70 sau thế chiến Vì vậy, hội thảo đã đặt

ra vấn đề: nghiên cứu Sartre là nghiên cứu sự tương tác kép giữa văn học và triết học Thuyết hiện sinh sẽ có ý nghĩa hơn khi đặt Jean-Paul Sartre trong mối quan hệ

Trang 18

bền chặt đó (trong đó có Nikos Kazantzakis - tác giả luận án nhấn mạnh)(Université

de Gabès Institut Supérieur des Langues, Département de Français) [141]

Với đề tài luận án tiến sĩ Étude des attitudes des protagonistes à l’égard thèmes

de liberté et de soumission dans le théâtre Sartrien (Nghiên cứu thái độ của nhân vật chính hướng tới các chủ đề tự do và trình bày trong kịch của Sartre), Mahmut Kanik

đã đi sâu nghiên cứu tư tưởng hiện sinh thông qua tác phẩm văn học và sân khấu của Jean-Paul Sartre Tác giả cho rằng, kể từ sau thế chiến thứ hai, Jean-Paul Sartre đã dùng văn học và sân khấu để truyền bá tư tưởng hiện sinh của mình và đây là một trong những phương thức hữu hiệu để thuyết hiện sinh đi vào công chúng Pháp và thế giới một cách mạnh mẽ Luận án cũng đã dành nguyên một chương để khảo lược thuyết hiện sinh và đã phân tích, mổ xẻ các khái niệm như: Chủ nghĩa cá nhân về đạo đức; Chủ thể tính, Lựa chọn và sự cam kết, Hoài nghi và lo âu… Luận án đã nêu rõ những đóng góp triết học quan trọng của Jean-Paul Sartre thông qua việc khảo lược, đối sánh, tham chiếu các tư tưởng triết học của ông với Pascal, Kierkegaard, Nietzsche, Heidegger [143]

Các công trình nghiên cứu về các nhà hiện sinh trên giúp chúng tôi tìm hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của thuyết hiện sinh trong đời sống tư tưởng ở châu Âu nói chung

và của Nikos Kazantzakis nói riêng Trên cơ sở đó, chúng tôi vận dụng vào nghiên cứu tư tưởng hiện sinh trong dòng văn học hiện sinh và của Nikos Kazantzakis

1.1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu thuyết hiện sinh trong nước

Các công trình nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh cũng như ảnh hưởng của nó trong đời sống văn hoá - xã hội ở Việt Nam tương đối nhiều

Trước năm 1975, các công trình nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh dường như

chỉ diễn ra ở miền Nam Các sáng tác của những nhà hiện sinh đều được các dịch giả dịch sang tiếng Việt và được nghiên cứu khá nhiều

Về triết học hiện sinh ở Pháp, đáng chú ý các bài viết: Phật giáo và chủ nghĩa

hiện sinh J.P Sartre (Văn hóa Á Châu số 9/1958); Khái niệm về chủ nghĩa hiện sinh của Quang Ninh (Sáng tạo, số 28/1959); Vị trí trào lưu hiện sinh trong lịch sử triết

lý của Trần Văn Toàn (Đại học, số 12/1960); Trình bày và phê bình hai quan niệm nổi loạn của Albert Camus của Thạch Chương (Sáng tạo, số 9/1960), Bộ mặt của triết học

Trang 19

hiện sinh của Trần Hương Tử (Bách khoa, số 114/ 1961); Lịch sử của cảm giác buồn nôn trong văn chương Tây phương hiện đại của Hoàng Văn Đức (Văn, số 2/1964); J.P Sartre thân thế và sự nghiệp của Trần Thiện Đạo (Văn, số 31/1965)… Phạm Công

Thiện với Ý thức mới trong văn nghệ và Triết học, Hố thẳm tư tưởng; Triết học và văn

chương (1974); Huỳnh Phan Anh với Văn chương và kinh nghiệm hư vô (1974) …

Trong công trình khảo cứu Hiện tượng luận về hiện sinh (1974) - Trung tâm học

liệu, Bộ Văn hóa giáo dục và thanh niên (1974), Giáo sư Lê Thành Trị đã phản bác cái nhìn phiến diện của con người đương thời về chủ nghĩa hiện sinh Thập niên 60-

70 của thế kỷ XX ở miền Nam, chủ nghĩa hiện sinh được giới trẻ cuồng nhiệt hưởng ứng và nó cũng được tiếp nhận ở cả những mặt tích cực cũng như tiêu cực Không ít người chụp mũ cho chủ nghĩa hiện sinh là đồng nghĩa với sa đọa, trụy lạc: “Ấy, người

ta thường nhìn Hiện sinh là như vậy Nhưng nếu Hiện sinh chỉ có thế thôi, thì dư luận quả đã không mấy bất công đối với những tên tuổi đã trực tiếp hay gián tiếp khai sinh

ra phong trào hiện sinh, mà chúng tôi cũng đã không mấy được khuyến khích cố gắng

để có thể gửi đến quý liệt vị cuốn lược khảo này” [121, tr.9] Chính vì thế, Lê Thành Trị đã dày công nghiên cứu và giới thiệu về chủ nghĩa hiện sinh để khẳng định giá trị quan trọng của nó:

Thực vậy, Hiện sinh trước hết là một triết-lý Triết-lý của những cá nhân lỗi-lạc ở thế-kỷ hai mươi đã từng suy-tư từ trong cuộc sống bản thân cũng như của đồng loại, và đã biến triết-lý ấy thành một môn học, thành triết- học, hiện đang chiếm một địa vị đáng kể trong lịch sử suy-tư nhân loại [121, tr.9-10]

Tác giả Lê Thành Trị đã giới thiệu các khuôn mặt tiểu biểu của chủ nghĩa hiện

sinh như Kierkegaard, Nietzche, Karl Jaspers, Jean-Paul Sartre, Martin Heidegger

cùng các quan điểm triết học của họ Từng nhà tư tưởng được Lê Thành Trị khái quát cả về cuộc đời và diễn tiến quá trình tư tưởng Đây là tập sách nghiên cứu khá chu đáo về chủ nghĩa hiện sinh

Trần Thái Đỉnh với cuốn Triết học hiện sinh đã giới thiệu kỹ lưỡng, giúp độc giả hiểu rõ hơn các khái niệm cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh như chủ thể, âu lo,

buồn nôn, phi lý, hiện sinh và hiện hữu, tha nhân…các khái niệm này được Trần

Trang 20

Thái Đỉnh diễn giải, giúp công chúng tiếp nhận dễ dàng các nội dung, chủ đề của thuyết hiện sinh Công trình của ông đã góp phần đưa chủ nghĩa hiện sinh tiếp cận với độc giả miền Nam

Đặc biệt, hai công trình: Sartre trong đời sống (1968) và Ca tụng thân

xác (1967) của Nguyễn Văn Trung đã tác động mạnh mẽ đến giới nghiên cứu và

phê bình ở miền Nam trước năm 1975 Tinh thần của thuyết hiện sinh không chỉ ảnh hưởng đến văn chương, mà trước hết, ở tư tưởng hiện tồn của con người trong giai đoạn này

Tóm lại, có thể nói, trước năm 1975, chủ nghĩa hiện sinh và văn học hiện sinh chủ yếu được tiếp nhận và trở thành phong trào rầm rộ ở miền Nam Phần lớn, các nhà nghiên cứu, phê bình chủ yếu nêu lên những yếu tố tích cực của chủ nghĩa hiện sinh nhằm mục đích phản ứng lại với chiến tranh, với khủng hoảng của thời cuộc lúc bấy giờ

Sau năm 1975 cho đến trước thời kỳ đổi mới, do quá chú trọng vào vấn đề

đấu tranh giai cấp, chủ nghĩa hiện sinh cũng như các tư tưởng phương Tây khác hầu như không được quan tâm do vấn đề ý thức hệ

Trong cuốn Mấy trào lưu triết học phương Tây (1984) của Phạm Minh Lăng đã

tập trung phê phán mặt trái của chủ nghĩa hiện sinh cũng như một số tư tưởng hiện đại phương Tây trên lập trường đấu tranh giai cấp Tác giả cho rằng:

Khủng hoảng và tổng khủng hoảng trong xã tư bản là một căn bệnh kinh niên không thể tránh khỏi và chỉ có liều thuốc duy nhất có thể chữa khỏi là cuộc cách mạng xã hội của giai cấp vô sản và đông đảo quần chúng

bị áp bức tiến hành Ngoài ra không có cách phản ứng nào khác Nhất là phản ứng theo kiểu của chủ nghĩa Hiện sinh, tức theo kiểu của tư sản, chỉ có thể làm cho căn bệnh thêm trầm trọng mà thôi [65, tr.139-140]

Tuy nhiên, ông cũng phải thừa nhận các nhà hiện sinh hay những người mang

tư tưởng hiện sinh đều là tư sản Trong số họ có nhiều người thực sự chán ghét chế

độ tư bản Phạm Minh Lăng cho ta thấy chủ nghĩa hiện sinh vào nước ta và phát triển mạnh vào những năm 1960 – 1970: “Mặc dù triết lý hiện sinh vào miền Nam

Trang 21

có chậm hơn phương Tây, nhưng không khí hiện sinh có lúc còn nồng nhiệt hơn nhiều nước phương Tây Đó là điều chúng ta cần tìm hiểu” [65, tr.142]

Công trình nghiên cứu Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa (1978) của Đỗ Đức

Hiểu tuy có định kiến nhưng ông đã giới thiệu khá kỹ về chủ nghĩa hiện sinh và văn học hiện sinh Phần đầu tác phẩm, ông nêu bậc vai trò ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh và văn học hiện sinh đối với châu Âu nói chung và thế giới nói riêng Tác giả cũng khái quát các khái niệm của triết học hiện sinh, giới thiệu những “phạm trù hiện sinh” của Kierkegaard, “siêu nhân” của Nietzsche, phân tâm học của Freud, Berson và triết học trực giác, hiện tượng học của Husserl, vai trò của Sartre Do trong hoàn cảnh đóng cửa với thế giới phương Tây về tư tưởng và học thuật nên ta cũng không lạ khi thấy Đỗ Đức Hiểu cho rằng chủ nghĩa hiện sinh và văn học hiện sinh đã đi vào dĩ vãng: “Chủ nghĩa hiện sinh và văn học hiện sinh chủ nghĩa, đến nay, hầu như đã đi vào dĩ vãng Từ trên mười năm nay, nó đã nhường chỗ cho những thứ triết học duy tâm khác” [55, tr.16] Ông cho rằng “Giới thiệu văn học hiện sinh chủ nghĩa, phê phán để khước từ nó,

là một điều cần thiết” [55, tr.17]

Phạm Văn Sĩ trong cuốn Về tư tưởng và văn học hiện đại phương Tây (1986)

đã dành khá nhiều trang viết về chủ nghĩa hiện sinh Tác giả giới thiệu thuyết trực giác của Henri Berson trên tinh thần phê phán bởi đây là học thuyết mang bản chất duy tâm chủ quan Phạm Văn Sĩ phân tích cội nguồn và các trường phái hiện sinh hữu thần do Kierkegaard khởi xướng và hiện sinh vô thần do Nietzsche là đại diện tiêu biểu và nhà hiện sinh tiêu biểu như Jean-Paul Sartre, Albert Camus Phạm Văn

Sĩ cũng nêu bật phương pháp của chủ nghĩa hiện sinh mà theo ông thì hiện tượng luận của Husserl mà sau đó là Heidegger kế thừa là phương pháp nền tảng Các khái niệm, nội dung chính của các trường phái hiện sinh đã được Phạm Văn Sĩ nhìn nhận dưới quan điểm lập trường Mác xít Ông cũng bàn kỹ về văn học hiện sinh Cũng như nhiều người khác, Phạm Văn Sĩ xem Franz Kafka là người đặt nền móng cho văn học hiện sinh và các nhà văn hiện sinh xuất sắc như Albert Camus, Jean-Paul Sartre, Simone de Beauvoir [100]

Như vậy, thời kỳ sau 1975 đến trước đổi mới, chủ nghĩa hiện sinh và văn học hiện sinh tuy có được nghiên cứu nhưng giác độ khai thác có phần cực đoan Các

Trang 22

nhà nghiên cứu nêu cao những điểm hạn chế của chủ nghĩa hiện sinh trên lập trường đấu tranh giai cấp, thậm chí còn đề cao nhiệm vụ xóa bỏ nó Tuy nhiên, công bằng

mà nói, các tác giả cũng phải thừa nhận chủ nghĩa hiện sinh là một phần tất yếu trong đời sống tinh thần nhân loại

Sau thời kỳ đổi mới ở nước ta đến nay, thuyết hiện sinh được nhìn nhận

khách quan hơn Các nhà nghiên cứu về triết học hiện sinh cũng như văn học hiện sinh đã đánh giá khá toàn diện mặt tích cực cũng như điểm hạn chế của nó Trên cơ

sở đó, các nhà nghiên cứu đề cao những yếu tố nhân bản, tích cực và phê phán những biểu hiện tiêu cực của chủ nghĩa hiện sinh

Trong luận án Tiếp cận chủ nghĩa hiện sinh: lịch sử, sự hiện diện ở Việt Nam

của Nguyễn Tiến Dũng (1996) - Đại học KHXH và NV - Đại học Quốc gia Hà Nội, tác giả khảo sát các nội dung cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh và dành hẳn chương 3

để nói về sự hiện diện của chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam:

Ngay từ năm 1955, chủ nghĩa hiện sinh đã có mặt trong chương trình của hệ thống giáo dục tiếng Pháp, tiếng Việt ở bộ môn siêu hình học, hoặc đạo đức học ở các trường đại học như Văn khoa Sài gòn, Văn khoa Huế, đại học Vạn Hạnh, đại học Đà Lạt và chủ nghĩa hiện sinh đã là

đề tài nghiên cứu của nhiều luận án tiến sỹ và cao học Nhiều văn hóa xã hội đã tổ chức diễn thuyết về chủ nghĩa hiện sinh như Viện Văn hóa Pháp, Hội thân hữu Văn khoa, cơ sở văn hóa Á châu…Lên bục đăng đàn không chỉ là giáo sư người Việt mà cả các giáo sư người Pháp, người Bỉ, người Thụy sỹ trong đó người Pháp đặc biệt giữ vai trò quan trong hơn

cả vì trong những năm đó, chủ nghĩa hiện sinh được người ta coi như là sản phẩm xuất khẩu tinh thần sáng giá nhất của Pháp [27, tr.110]

Nguyễn Tiến Dũng đã đặc biệt chú trọng đến mảng văn học hiện sinh miền Nam trước năm 1975 Các tác giả được ông khảo cứu như Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh… để nêu lên cái bi quan, tuyệt vọng, bi lụy, sa đọa của những biểu hiện ảnh hưởng chủ nghĩa hiện sinh ở Sài gòn

Trong luận án Chủ nghĩa hiện sinh và một vài ảnh hưởng của nó ở miền Nam

Việt Nam (1996) của Lê Kim Châu (Viện Triết học - Trung tâm Khoa học Xã hội và

Trang 23

Nhân văn quốc gia), tác giả giới thiệu những con đường du nhập và phát triển chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam, ảnh hưởng của nó trong đời sống tinh thần: chính trị, văn học, tôn giáo, đạo đức… Về cơ bản, tác giả phê phán chủ nghĩa hiện sinh và đề nghị xóa bỏ nó khỏi đời sống văn hóa tinh thần của đất nước

Khác với Nguyễn Tiến Dũng và Lê Kim Châu, Bùi Thị Tĩnh trong luận án

Triết học hiện sinh về giới của Simone de Beauvoir (2007) (Đại học KHXH và NV -

Đại học Quốc gia Hà Nội) đã có cái nhìn toàn diện hơn về chủ nghĩa hiện sinh Luận án đi sâu vào tìm hiểu triết học hiện sinh về giới của Simone de Beauvoir qua

sự phê phán của bà đối với những quan niệm về giới trong lịch sử, về giải phóng phụ nữ, nêu lên những điểm tích cực của triết học hiện sinh về con người nói chung

và về phụ nữ nói riêng Luận án ghi nhận những đóng góp của Simone de Beauvoir cho phong trào nữ quyền và sự góp phần làm phong phú diện mạo triết học hiện sinh Pháp và châu Âu

Thuyết hiện sinh và giá trị học (2007) của GS.Viện sĩ Phạm Minh Hạc (Tạp

chí Nghiên cứu Con người, số 3, 2007), đã khẳng định giá trị của thuyết hiện sinh

sau 164 năm ra đời và các giá trị sống còn của nó trong định hướng tiếp nhận trong tương lai Bài viết tìm hiểu về thuyết hiện sinh thông qua một số khái niệm cơ bản của các nhà hiện sinh tiêu biểu là Kierkegaard, Nietzsche, Heiddegger và Jean-Paul Sartre Có thể nói, Phạm Minh Hạc đã đánh giá vai trò của thuyết hiện sinh trong giai đoạn lịch sử mới của nhân lại, đặc biệt trong thời kỳ chúng ta phải nhìn nhận lại giá trị của các khái niệm cái chung - cái riêng, cá nhân - xã hội, giá trị sống còn (no/đủ) với các giá trị khác

Trần Thiện Đạo trong công trình Từ chủ nghĩa hiện sinh tới thuyết cấu trúc

(2008) đã viết: “Chủ nghĩa hiện sinh trình bày sự hiện sinh (l’existence) như một hiện tượng đối lập với bản chất (l’essence) và hết sức mù mờ, thay đổi không ngừng; sự hiện sinh do ngẫu sinh (contingence) mà ra, nghĩa là có đó vậy thôi, có

đó một cách vô cớ, không bao hàm một ý nghĩa tiên nghiệm nào và không được biện minh bởi một bản chất có sẵn nào” [30, tr.30]

Triết học hiện sinh của nhóm tác giả gồm Đỗ Minh Hợp (chủ biên), Trần Thị

Điểu, Nguyễn Thị Như Khuê, Phạm Thanh Tùng (2010), (Nhà Xuất bản Tôn giáo – Hà

Trang 24

Nội) đã có cái nhìn khá toàn diện về chủ nghĩa hiện sinh Nhóm tác giả đã đặt chủ nghĩa hiện sinh dưới cái nhìn nhân văn để đánh giá và đã khẳng định giá trị, ý nghĩa của triết học hiện sinh với đời sống con người hiện tại và tương lai

Satre và Văn học (2011) của Đỗ Ngọc Thạch đã giới thiệu khái quát về chủ

nghĩa hiện sinh, xem Soren Kierkegaard và Friedrich Nietzsche là hai nhà triết học nền tảng của chủ nghĩa hiện sinh Đỗ Ngọc Thạch tóm lược những điểm chính trong

tư tưởng hiện sinh của Jean-Paul Sartre được thể hiện trong các tác phẩm Buồn nôn,

Bức tường, Tuổi trưởng thành, Ruồi, Xử kín, Tồn tại và Hư vô…

Các công trình luận văn Triết lý hiện sinh trong tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ

XXI của Nguyễn Tiến Dũng - Đại học Sư phạm Huế (2011); Chủ nghĩa hiện sinh của Jean-Paul Satre trong tiểu thuyết Buồn nôn của Nguyễn Thị Nguyệt Anh - Đại

học Khoa học Xã hội Nhân văn Hà Nội (2013) đã có cái nhìn cởi mở hơn về chủ nghĩa hiện sinh

Trong luận án Triết học thực tiễn của chủ nghĩa hiện sinh và những giá trị,

hạn chế của nó của Trần Thị Điểu (Học viện Khoa học Xã hội, 2013), tác giả đã

nêu những giá trị mà triết học hiện sinh đã mang đến cho con người như tư tưởng đạo đức, tư tưởng giáo dục với những giá trị nhân văn sâu sắc của nó Tác giả cũng nêu những hạn chế của triết học học hiện sinh như xem nhẹ tính kế thừa lịch sử văn hóa, giải quyết không triệt để vấn đề cá nhân với cộng đồng, ít đề cập đến nhận thức khoa học lý thuyết

Trên tinh thần đổi mới và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, các công trình nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh và tầm ảnh hưởng của nó trong ba mươi năm trở lại đây đã có cái nhìn khách quan toàn diện hơn

Ở thời kỳ đầu đổi mới, các công trình vẫn còn mang nặng định kiến với chủ nghĩa hiện sinh, tập trung khai thác những điểm tiêu cực, hạn chế trong việc tiếp nhận và ảnh hưởng chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam

Từ những năm đầu thế kỷ XXI trở đi, các công trình có chiều hướng phát hiện những mặt nhân bản, những đóng góp tích cực của chủ nghĩa hiện sinh trong đời sống tinh thần con người trước cũng như sau chiến tranh

Trang 25

Các yếu tố có giá trị nhân bản nhân văn sâu sắc của chủ nghĩa hiện sinh được các nhà nghiên cứu chỉ ra Đông thời, các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra những điểm

cần phê phán của chủ nghĩa hiện sinh như thái độ hoài nghi tất cả, hưởng thụ, triết

lý người hùng, siêu nhân… Các công trình này, cho ta thấy được sức sống tiềm tàng

của chủ nghĩa hiện sinh

Các nhóm bài trên đã giúp chúng tôi nắm bắt được những vấn đề căn bản của thuyết hiện sinh nói chung và ảnh hưởng của nó trong đời sống văn hoá - xã hội nói

riêng Đây là cơ sở để chúng tôi kế thừa khi thực hiện đề tài nghiên cứu “Tư tưởng

hiện sinh trong tiểu thuyết của Nikos Kazantzakis”

1.1.3 Các chủ đề cơ bản của triết học hiện sinh

Triết hiện sinh là triết học về ý nghĩa cuộc nhân sinh, và nói tắt là triết học về con người Emmanuel Mounier đã nêu cao lập trường của hiện sinh như sau: “Bất

cứ khuynh hướng nào trong triết hiện sinh đều là triết học về con người, trước khi là triết học về vũ trụ Theo Thiên Chúa giáo hay không, triết học hiện sinh đều mang nặng tính chất bi đát của kinh nghiệm con người về định mệnh của mình” Triết hiện sinh bỏ con đường cũ của triết học cổ truyền, không theo đuổi công việc tìm những nguyên nhân cao nhất của vạn vật nữa Triết hiện sinh chỉ chú trọng đến thân phận của con người, tìm hiểu ý nghĩa của cuộc sống và của cái chết Không gì tha thiết với con người bằng chính con người

Triết học hiện sinh hướng đến đối tượng là con người Các chủ đề triết học

hiện sinh được Trần Thái Đỉnh tóm lược trong cuốn Triết học hiện sinh như sau:

BUỒN NÔN: Danh từ buồn nôn tương đối là em út trong hàng các danh từ hiện sinh dùng để chỉ vẻ vô lý và vô ý nghĩa của một cuộc đời vô lý tưởng và vô ý thức Nó là em út, nhưng nó chóng chiếm địa vị ưu tiên: Nó được thông dụng hơn, đồng thời có hiệu lực kích khởi hơn Buồn nôn là gì? Là trạng thái sinh hoạt lầm lì của thường nhật Nói rõ hơn: Buồn nôn là cảnh sống của những người chưa vươn lên tới mức đích thực, còn cam sống như cây cỏ và động vật Khi tôi sực tỉnh giấc phóng thể, khi tôi ý thức về địa vị và thiên chức làm người của tôi, tôi tự thấy nôn nao vì cuộc đời súc vật của tôi trước đây: Tôi đã chỉ lo sống, lo ăn, lo mặc, lo cho mình đủ những tiện nghi Tóm lại, một số con người ta còn sống như những sinh

Trang 26

vật Và sống như sinh vật là một buồn nôn, triết gia hiện sinh đã ý thức sâu xa về nhân vị con người

PHÓNG THỂ: Phóng thể là tình trạng của những con người chưa tự ý thức mình là những nhân vị độc đáo Người phóng thể là người sinh hoạt như mọi người,

và hành động chỉ vì người ta bảo mình làm hoặc nghĩ mình phải làm như thế Triết hiện sinh chống lại triết thiên nhiên (philosophie de la nature), cho nên không lạ gì nếu nó chống lại mọi hình thức phóng thể Phóng thể làm mất bản ngã của ta Phóng thể làm ta nằm lỳ ở tình trạng sự vật: Sống như cây cỏ và động vật Có nhiều hình thức phóng thể Tựu trung có thể quy về hai hình thức đại loại này: Phóng thể duy tâm và phóng thể duy vật Phóng thể duy tâm phát sinh do sự “người ta quá suy tôn một thứ đạo đức giả tạo, đạo đức mơ mộng và ảo tưởng đầy ích kỷ và liều lĩnh Ngược lại, phóng thể duy vật đồng hóa con người với một cơ năng để hoạt động Con người hoạt động một cách vô ý thức, như một cái máy, những con người đã cảm thấy sức sống mãnh liệt của tập đoàn Không những tại thể, con người còn tại

xã hội nữa Tuy nhiên một hình thức phóng thể khác đón chờ con người ở nẻo đường này: Con người không còn là một nhân vị sống với và trong tập đoàn nữa, nhưng đã trở thành phản ảnh trung thành của tập đoàn Con người đã trở thành đơn

vị của nhóm này, hội viên của phong trào kia Đó là ý nghĩa câu nói của Mounier:

“Sống tập đoàn là một bước tiến của tinh thần, nhưng bước tiến đó chấm hết khi con người không còn giữ được óc sáng kiến và tự chủ, và khi chí khí mạnh mẽ nhường bước cho sự câu nệ của tập thể” Thành thử họ chỉ là những cái xác, còn hồn là nhóm, là đảng, là giới, v.v

PHI LÝ: Jean-Paul Sartre cho rằng cuộc đời là phi lí và chán ngấy, vì chúng

ta không thể cắt nghĩa chúng ta xuất hiện từ đâu, tại sao sống và sống để làm gì? Phi

lí vì cuộc sống của tôi không cần thiết, nó có thể có mà cũng có thể không? Là thừa

vì nó không cần thiết, không phải là một đấng nào sinh ra tôi mà tôi là “kết quả của một sự gặp gỡ ngẫu nhiên giữa hai yếu tố đực và cái tại một hầm rượu hay quán bar” Sự phi lí đó đưa tôi đến một cảm giác buồn nôn khi nghĩ đến cuộc đời, hơn nữa bản thân tôi đây chẳng hơn gì gốc cây, cục sỏi… nhìn xa thì còn có chút mỹ thuật nhưng nếu xem lại gần thì mang đến cho tôi một cảm giác nhày nhụa, ghê tởm

Trang 27

và buồn nôn Điểm hấp dẫn của Sartre là đã nói lên cái phi lí của con người sống không ngày mai, phiêu lưu và bất định, ông đã phân tích tỉ mỉ vấn đề và cảm giác theo phương pháp hiện tượng luận

ƯU TƯ: Ưu tư do thức tỉnh và suy nghĩ Con người phóng thể không ưu tư

vì họ cứ việc sống thừa ra, sống như mọi người Con người tỉnh ngộ thì ưu tư Ưu tư

là bắt đầu vươn lên Ưu tư không giống sợ hãi Người ta chỉ sợ một cái chi rõ rệt Còn ưu tư chỉ là xao xuyến, băn khoăn về tương lai chưa rõ rệt và mình sẽ quyết định lấy cho mình Không ai quyết định thay cho mình được Để người khác hoặc đoàn thể quyết định thay, tức là thoái vị làm người tự chủ và tự do Bao nhiêu giá trị tinh thần đều lệ thuộc vào một quyết định của tôi Tôi biết thế, cho nên tôi ưu tư Con người hiện sinh ý thức một cách bi đát rằng: Mỗi nhân vị là một thế giới huyền nhiệm, đầy những khả năng, có thể thành thánh và cũng có thể thành quỷ, có thể thắng vượt những dục vọng đê tiện và cũng có thể sống nô lệ những dục vọng đó: Tất cả ở tại sự hiểu biết và quyết định Mà không ai hiểu tôi một cách đích thực Không ai tha thiết với tôi bằng tôi Nếu tôi không tha thiết với mình thì ai tha thiết tìm hiểu tôi để khai thác những khả năng vô tận mà Thượng đế đặt nơi tôi? Người ngoài chỉ có thể giúp ta về vật chất Khi ưu tư về tôi, tôi nhìn thẳng vào nội tâm của tôi, nhìn thẳng vào định mệnh cao cả và ghê sợ của tôi nhất là vì tôi biết rằng trong việc này không ai có thể giúp tôi: Tôi chết mình tôi thế nào, thì tôi cũng thực sự sống mình tôi như thế Một mình đây có nghĩa triết học, dù cho cha mẹ bạn hữu xúm quanh tôi, an ủi và thông cảm với tôi, tôi vẫn cảm thấy rằng Đau khổ nằm sâu

ở trong tôi và sự Chết sẽ hoàn thành sự ngăn cách giữa tôi và tha nhân Tóm lại ưu

tư là vẻ đặc sắc của một cuộc hiện sinh đã tự ý thức, muốn dứt mình ra khỏi cảnh sống thừa, sống an nhàn của sự vật và của những con người phóng thể

TỰ QUYẾT Nên biết ngay chữ tự quyết của hiện sinh chỉ nhằm chính hiện sinh của nhân vị con người, không nhằm sự vật Cho nên tự quyết là tự chọn mình

Tự quyết là tự chứng minh rằng tôi là một chủ thể tự do và tự đảm nhận Mỗi khi tôi dám là tôi, mỗi khi tôi tự quyết về tôi trong bất cứ hành động nào, tôi đều đã hoàn thành một bước tiến đáng kể cho nhân vị của tôi Người hiện sinh không không kể chi những sai lầm mình có thể mắc phải Miễn là đã quyết định trong sự bình tĩnh

Trang 28

và sau khi đã suy nghĩ đủ, người hiện sinh tin tưởng ở giá trị hành động tự quyết của mình Chính trong hành động tự quyết, triết học hiện sinh chứng tỏ hiện sinh là giá trị sống, không phải là giá trị tư tưởng Chính trong cái liều này, tôi tỏ ra mình là chủ thể, tự quyết đi liền với ý niệm dấn thân, là Liều Tất nhiên mỗi tự quyết đều là

tự tuyển, cho nên tính chất liều đây chỉ là chỗ vượt quá luận lý mà thôi, không thể là thiếu suy nghĩ Con người hiện sinh ưu tư về định mệnh của mình và ưu tư tìm cách phát triển nhân cách của mình tới mức toàn hảo, cho nên tự quyết luôn luôn mang nặng những suy nghĩ và ưu tư

VƯƠN LÊN Đề tài này phát sinh dưới ngòi bút Kierkegaard và thực sự đã thể hiện trong đời sống của ông Sartre và Marcel đã phát triển nó sâu sắc và thuyết phục hơn Dừng lại ở cái mình có, là tự đẩy mình xuống vũng sa lầy của tự phụ và

tự đại Vươn lên là lẽ sống của người hiện sinh trung thực Không vươn lên, tức là

bị cứng đọng, sa lầy Mà vươn lên không có nghĩa là thắng người này người nọ Vươn lên của hiện sinh chỉ nhằm thắng chính mình: Mình phải vươn lên trên cái mình của hôm qua và của lúc nãy

ĐỘC ĐÁO: Có lẽ đây là điểm quan trọng nhất và đặc sắc nhất của triết hiện sinh Độc đáo trong cuộc hiện sinh thể hiện ở lịch sử tính của mỗi con người Triết hiện sinh nhằm lay tỉnh con người, nhắc cho mỗi người biết rằng mình là một độc đáo và mình phải hoàn thành cái định mệnh độc đáo của mình

ÂU LO: Một chủ đề khác của thuyết hiện sinh là lo âu, khác với sợ sệt là có đối tượng, lo âu thì không, đó là một cảm giác triền miên không đối tượng, không biết là lo cái gì? Heidegger cho rằng ta lo ngại vì thấy mình có thể phạm tội và sẽ phải chịu sự phán xét trước mặt chúa Heidegger và Sartre cho rằng con người luôn luôn lo âu là vì thấy mình có tự do, tự do đó có thể đưa mình đi rất xa đến những phương trời vô định lo âu vì tự thấy rằng mình là tác giả duy nhất của đời mình, của tương lai mình mà chính mình phải tự tạo và hoàn toàn chịu trách nhiệm lo âu

vì ko biết mình chết rồi sẽ đi về đâu?

THA NHÂN: Thuyết hiện sinh cho rằng tha nhân là yếu tố cấu tạo tôi, sống

là sống với người khác, tôi không thể sống riêng lẻ mà luôn luôn liên hệ với người khác Tôi không thể sống hay suy tưởng mà không có người khác Và người khác

Trang 29

cũng là những chủ thể có tự do như tôi, tương quan của tôi với tha nhân có thể là một mối giao hảo tốt đẹp hay chỉ là một cuộc tranh chấp không ngừng, nhưng tôi không thể rút mình ra, mà phải sống với cộng đồng Chịu ảnh hưởng nặng nề của Hegel xem mối tương quan giữa con người trong lịch sử là tranh chấp, nên Sartre cho rằng sự hiện hữu của tha nhân là một sự đe dọa cho tôi, tha nhân là kẻ nhìn tôi, nhìn soi mói, trắng trợn là cho dự định và khí phách tôi bị tiêu tan, và tôi như bị chết đứng Đối với Sartre, người khác là một tự do nhưng làm cho tự do tôi bị chết đứng, như vậy tha nhân xuất hiện trước mặt tôi như một chướng ngại mà tôi không thể lẩn tránh hay vượt qua Các triết gia hiện sinh công giáo như Karl Jaspers và Gbriel Marcel thì cho rằng tương quan giữa con người và con người có thể có tình yêu, ông nói: “Không đau khổ nào cay nghiệt hơn là đau khổ vì thiếu tình thương”, Nếu Jean-Paul Sartre phỏng lại lời của Descartes “Tha nhân nhìn tôi nên tôi hiện hữu thì Emmanuel Mounier cho rằng: “Tôi yêu, nên tôi hiện hữu”

THÂN XÁC: Chống lại triết lý cổ điển chỉ chú trọng đến tinh thần, và xem thường thân xác, coi nó như là sa đọa, phong trào hiện sinh đã đặt lại vấn đề đề cao thân xác xem nó là yếu tố cấu tạo con người Triết học duy lý xem con người chỉ như một tinh thần và nếu có nhận phần thân xác thì xem không hơn gì các sự vật khác trong nhiên giới Ngược lại, phong trào hiện sinh cho rằng ta chỉ nhận ra con người và con người chỉ xuất hiện như con người nhờ thân xác và trong thân xác Do

đó thân xác cũng thiết yếu như là tinh thần, thật ra họ không phân biệt thân xác với tinh thần mà chỉ nói đến một thực tại duy nhất là con người, Grabriel Marcel viết trong Journal metaphysique: “Thân xác tôi không phải là một sự vật trong tổng số các sự vật, cũng không phải là vật gần tôi nhất… mà tôi là thân xác tôi” vì thân xác tôi chính là tôi Quan niệm như vậy là đã tôn trọng giá trị của thân xác

TỰ DO: ở đây không phải là cái tự do của thế giới tự do Tự do ở đây là tự

do hiện sinh, tức là tự do bên trong, tự do phát xuất từ bản thể Tự do lựa chọn, tự

do quyết định Tự do ở đây là dám là mình

Tư tưởng hiện sinh với các phạm trù ở trên đã ảnh hưởng sâu sắc đến văn học châu Âu và thế giới, nhất là thế hệ nhà văn sau Thế chiến thứ hai Những nội dung chính và các chủ đề của triết học hiện sinh trên đây là cơ sở để chúng tôi khảo sát tư tưởng hiện sinh trong tiểu thuyết của Nikos Kazantzakis

Trang 30

1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu Nikos Kazantzakis

1.2.1.Tổng quan về tình hình nghiên cứu Nikos Kazantzakis ngoài nước

1.2.1.1 Một số công trình nghiên cứu nguồn gốc hình thành tư tưởng triết học

và nghệ thuật của Nikos Kazantzakis

Trong công trình biên khảo Văn học thế giới hiện đại (Les Littératures

contemporaines à travers le mond) (Bửu Ý dịch), (An Tiêm xuất bản 1973), André

Mirambel đã đánh giá rất cao Nikos Kazantzakis Ông xem Nikos Kazantzakis với mảng tiểu thuyết triết lý đạt tới mức thể hiện rực rỡ nhất Những sáng tác văn xuôi của Nikos Kazantzakis tiếp diễn những luận đề đã được thi ca của ông khai triển trước đó Theo André Mirambel, thì ở Nikos Kazantzakis đã có sự hòa lẫn giữa trí tuệ với phiêu lưu, đưa những cá nhân ra trước đám đông và mang lại giải pháp cho vấn đề văn minh Hy Lạp cổ truyền

Giáo sư Alexander Karanikas của đại học Illinois tại Chicago trong bài giảng

The everyman of Nikos Kazantzakis đã nghiên cứu ảnh hưởng của nền văn hoá Hy

Lạp huy hoàng và triết học Nietzsche của Berson đối với sáng tác của Nikos Kazantzakis (nguồn: http: //www helleniccomserve.com/everyman.html)

Tầm vóc của nhà tư tưởng Nikos Kazantzakis không chỉ đóng khung ở quốc gia Hy Lạp hay nước Pháp-nơi ông từng sống, học tập và nghiên cứu Nikos Kazantzakis không chỉ là một tiểu thuyết gia mà còn là một nhà văn hóa, chính trị

nổi tiếng thế giới Vì vậy, năm 1998, Hiệp hội văn hoá quốc tế phi lợi nhuận được

thành lập tại Genève, với mục đích chính của nó là: để thúc đẩy công việc bảo lưu

và nghiên cứu tác phẩm của nhà văn, nhà tư tưởng tiến bộ Nikos Kazantzakis (1883-1957) Hiệp hội này được hoạt động trên 70 quốc gia, đặc biệt là ở Pháp và

Hy Lạp

Trước hết, việc nghiên cứu Nikos Kazantzakis phải đi từ vấn đề tiếp nhận tác phẩm Như trên đã nói, ông bị vướng vào “vụ án” phản đạo nên sự nhìn nhận của công chúng mộ đạo và bạn đọc Hy Lạp là cản trở lớn nhất trong việc tiếp nhận, nghiên cứu Nikos Kazantzakis Ngay từ năm 1970, tác giả Colette Janiaud - Lust đã

cho xuất bản cuốn Nikos Kazantzakis: cuộc đời, tác phẩm (1883 – 1957) (Nikos

Kazantzaki, Sa vie, son oeuvre (1883 - 1957), Broché, 1970 Tác giả đã dành nhiều

Trang 31

năm tìm kiếm, nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Kazantzakis Với tất cả sự ngưỡng mộ, khâm phục, Colette Janiaud - Lust đã giới thiệu về Nikos Kazantzakis một cách trân trọng nhất Tác giả cũng đã lý giải vì sao Nikos Kazantakis bị lãng quên ở Hy Lạp, vì sao Nikos Kazantzakis bị lịch sử nhận định là: người cộng sản, người vô thần, người phản lại truyền thống tôn giáo của dân tộc? Cuốn sách này được giới nghiên cứu ở Pháp đánh giá là một công trình nghiêm túc, chính xác, có phương pháp khoa học

Một khoảng thời gian dài, sau khi cuốn sách tiểu sử Kazantzakis của Colette Janiaud - Lust ra đời, Nikos Kazantzakis vẫn bị khép vào “bản án tử hình” của công chúng mộ đạo Các tác phẩm của ông về chủ đề Ki-tô giáo vẫn bị cấm kị, vẫn bị phê phán, tẩy chay Tại Hy Lạp, việc tái bản và nghiên cứu Nikos càng vấp phải khó khăn hơn vì vấn đề bản quyền Vụ tranh chấp tác quyền giữa con trai nuôi Eleni Kazantzakis - người giữ bản quyền và những người cháu gái (của chị Nikos Kazantzakis) đã gây sự quan tâm của dư luận Gia đình Nikos Kazantzakis trách móc Eleni Kazantzakis đã bỏ bê tác phẩm của nhà văn vĩ đại này Vì lẽ đó, 50 năm

sau cái chết của Nikos Kazantzakis (2007), một đề xuất lấy năm đó làm năm Nikos

Kazantzakis nhưng vẫn không thành Năm 2010, chính phủ Hy Lạp đã quyết định

phát hành lại tác phẩm của nhà văn, nhưng một lần nữa, có rất nhiều khó khăn, với

sự bất đồng về hiến pháp của Ủy ban khoa học; ngoài ra, với cuộc khủng hoảng kinh tế và tình hình chính trị bất lợi ở Hy Lạp, dự án tái bản kèm với những chương trình nghiên cứu Nikos Kazantzakis lại một lần nữa vấp phải trở ngại [142]

Phải đến sau năm 2012 khi chính phủ Hy Lạp giải quyết xung khắc về vấn đề bản quyền, tác phẩm Nikos Kazantzakis mới có cơ hội tiếp nhận, quảng bá và nghiên cứu rộng rãi Và kể từ thời điểm này, Hiệp hội bạn bè quốc tế của Nikos Kazantzakis (Société Internationale des amis de Nikos Kazantzakis) đã có những liên kết chặt chẽ với chính quyền Hy Lạp nhằm đưa ra những đề án nghiên cứu Nikos Kazantzakis [144]

Về những công trình liên quan trực tiếp đến tư tưởng hiện sinh của Nikos Kazantzakis có thể kể đến các tác giả tiêu biểu:

Trang 32

Luận án tiến sĩ Văn học so sánh của Eleni Georgiadou với đề tài Nikos

Kazantzakis và văn hoá Pháp (Nikos Kazantzaki et la culture fran¸caise, Thèse de

doctorat de Littérature Comparée, Université d’Avignon et des pays de Vaucluse, 2013) Luận án này đã nghiên cứu cuộc đời và tác phẩm của Nikos Kazantzakis

(1883-1957), sự tiếp xúc với ngôn ngữ, văn hoá Pháp và ảnh hưởng của nó đến tầm nhìn của ông về thế giới Đó là việc tìm kiếm các yếu tố văn hoá Pháp trong tác phẩm của Nikos Kazantzakis, đặc biệt là hai tác phẩm được viết trực tiếp bằng tiếng

Pháp: Toda-Raba và Le Jardin des Rocks Tác giả lý giải rõ những ảnh hưởng của

văn hóa Pháp đối với tư tưởng hiện sinh của Nikos Kazantzakis, mà trên hết là triết học hiện sinh vô thần của Nietzsche và triết học trực giác của Henri Bergson Ngôn ngữ Pháp như một cầu nối, một hòn đá tảng, giúp Nikos Kazantzakis khám phá các nền văn hóa thế giới, khám phá và giao lưu với nền văn Anh, Ý, Đức, Tây Ban Nha

Luận án đã làm rõ nhận định của Nikos Kazantzakis: Nếu không đến Pháp, tôi sẽ

không có gì cả Nikos Kazantzakis đã được tác giả luận án ví như một Ulysses đương đại - hành trình khắp nơi để khám phá sự phong phú của hiện thực đời sống

Có thể nói, đây là một công trình quy mô, nghiên cứu một cách hệ thống những nguyên nhân hình thành tư tưởng hiện sinh của Nikos Kazantzakis [145]

Đặc biệt, công trình Albert Camus – Nikos Kazantzakis: Từ bờ bên này sang bờ

bên kia hay hành trình Địa Trung Hải (Albert Camus - Nikos Kazantzaki: d'une rive a l'autre ou l'itineraire mediterraneen) của tác giả Sophie Petit Jean-Lioulias (Presses

universitaires du Septentrion, 2008) Cuốn sách dày 461 trang này đã đặt ra một điều quan trọng và thú vị: điều gì khiến cho Albert Camus - Nikos Kazantzakis được đề cử giải thưởng Nobel văn học cùng một lúc? Một nhà văn đến từ Algerie, một nhà văn đến từ Hy Lạp, phải chăng sóng nước của bờ biển Địa Trung Hải đã hun đúc nên khí chất của hai con người vĩ đại này? Cả hai nhà văn đều suy tư, tranh biện về con người, day dứt để tìm ra con đường giải phóng dân tộc và nhân loại Cuốn sách này

đã tìm ra những điểm tương đồng của hai nhà văn trên các phương diện: hoàn cảnh sống, địa lý, điều lịch sử của dân tộc và thời đại Hai nhân cách vĩ đại này đã đánh bại nỗi tuyệt vọng, chinh phục nỗi sợ hãi; đã chịu đựng mọi nỗi đau trên con đường kiếm

tìm chân lý [146]

Trang 33

Hay Từ Vũ với Nikos Kazantzakis (Vietsciences- (Pháp) (12/03/2005) Đây là

biên niên sử chi tiết về nhà văn Nikos Kazantzakis Từ Vũ đã nghiên cứu và lập niên biểu rất chi tiết về cuộc đời, sự nghiệp chính trị, sáng tác của Nikos Kazantzakis Đặc biệt, Từ Vũ đã giới thiệu về chuyến hành trình sang Liên Xô của Nikos Kazantzakis Ở Liên Xô, ông gặp gỡ các nhân vật quan trọng như Maxim Gorki, Victor Serge để tìm hiểu về xã hội nước Nga xôviết Nikos Kazantzakis cũng

đã có cuộc hành trình khám phá nước miền Nam nước Nga Nikos Kazantzakis lúc đầu rất ngưỡng mộ Liên Xô Ông viết nhiều bài báo ca ngợi chế độ ở nước Nga Xô viết Cũng chính chuyến đi Liên Xô này đã giúp Nikos Kazantzakis hiểu rõ hơn về chế độ cộng sản mà Stalin đang xây dựng Những khám phá ấy đã khiến cho ông có những đổi thay trong tư tưởng về chế độ xã hội chủ nghĩa:

Tại Moscow vào tháng 6, Kazantzakis và Istrati gặp gỡ Gorki (văn hào Nga sinh năm 1868 mất năm 1936) Kazantzakis thay đổi phần cuối

của Askititi và thêm vào "Silence" - Sự im lặng- Nikos cũng viết nhiều

bài cho tờ Pravda (nhật báo chính thức của đảng cộng sản Nga) về những điều kiện xã hội tại Hy Lạp, sau đó Nikos đảm trách viết một truyện phim về cuộc đời Lenine Du hành cùng với Istrati đến Murmansk, ghé qua Leningrad để gặp Victor Serge ( nhà văn sinh năm1890 và mất năm 1947) Tháng 7, trong tờ Monde của Barbusse xuất hiện bài tiểu sử sơ lược của Kazantzaki viết bởi Istrati Đây là lần đầu tiên Kazantzakis được giới thiệu với độc giả Âu Châu

Cuối tháng 8, Kazantzakis, Istrati tháp tùng bởi Eleni Samiou và một người bạn của Istrati, Bilili Baud-Bovy, thực hiện một chuyến hành trình dài trong vùng nam Nga sô với mục đích hợp tác viết một loạt bài

với tựa đề Following the Red Star – (Noi theo ngôi sao đỏ) Nhưng hai

người bạn càng lúc càng xa rời vì những bất đồng xảy ra từ tháng 12 sau

"vấn đề Roussakov" trong đó sự khủng bố mà Victor Serge và người cha

vợ, Roussakov, một thành viên phe Trosky, phải hứng chịu Tại Athènes, một nhà xuất bản đã cho phát hành hai bộ sách về những chuyến đi của Kazantzakis tại nước Nga [125]

Trang 34

Và Phạm Công Thiện dịch và giới thiệu Nikos Kazantzakis, Rèn luyện tâm

thuật linh huyền (1991)

Những công trình nghiên cứu trên đây đã cho ta thấy, đã lý giải được sức sống mãnh liệt và tầm vóc tư tưởng của Nikos Kazantzakis chính là sự kết tinh của tri thức nhân loại từ văn hóa huy hoàng của Hy Lạp, các trào lưu triết học của châu Âu

và những biến động của lịch sự đương đại Đó cũng là kết quả trải nghiệm của một nhà văn kiêm triết gia

1.2.1.2 Một số công trình nghiên cứu tinh thần thế tục hóa tôn giáo của Nikos Kazantzakis

Năm 1978, Osho tạo ra thành ngữ “Zorba Phật” và cái tên Zorba Phật đã nổi tiếng thế giới Osho trong tác phẩm Zorba Phật đã hết lời ca ngợi Nikos

Kazantzakis, khi nhà văn Hy Lạp này sáng tạo nên nhân vật Zorba quá xuất sắc Osho thể hiện lòng kính trọng tài năng bậc thầy của Nikos Kazantzakis Nhà huyền môn học người Ấn đã xếp Zorba Hy Lạp ngang với Phật Cồ Đàm và mong muốn họ

gần nhau hơn để trở thành một Sannyasin(1) Zorba Phật Osho cho rằng: “Quan

niệm về con người mới sẽ là Zorba của Hy Lạp và Phật Gautama(2)

: con người mới

sẽ là Zorba Phật Con người đó sẽ đầy khoái cảm, vừa tinh thần, vừa vật chất, tuyệt đối vật chất, khoái cảm bởi các giác quan, yêu thích thân mình và tất cả những điều thân thể có thể tạo ra, và còn có thức tỉnh tuyệt vời, sự chứng kiến sâu sắc, con người đó sẽ cùng là Christ và Epicurus” [84, tr.9]

Les Keyser trong Martin Scorsese, (Twayne Publishers: New York, 1992) đã

nói về sự trừng phạt của giáo hội chính thống giáo Hy Lạp đối với Nikos

Kazantzakis khi tiểu thuyết The Last Temptation of Christ (Cám dỗ cuối cùng của

Chúa) được đạo diễn Martin Scorsese dựng thành phim Kazantzakis, một người

không có niềm tin tôn giáo, đã tạo ra tranh cãi ở Hy Lạp bằng cách miêu tả một câu chuyện phi truyền thống của Đấng Cứu Thế bằng ngôn ngữ Hy Lạp bình dân Scorsese muốn mang chủ nghĩa dân túy hiện sinh Kitô này cho người dân Mỹ trong

vỏ bọc hiện đại của mình Tác giả cho rằng, Nikos Kazantzakis không tin vào Thiên Chúa truyền thống; ông cũng không tin vào một thế giới tâm linh bên kia.Trong

Trang 35

đoạn mở đầu của The Last Temptation of Christ xác định cuộc đấu tranh Đấng Cứu

Thế của mình với vận mệnh thần bí của nền văn minh: “cuộc đấu tranh giữa xác thịt

và tinh thần, nổi loạn và sức đề kháng, và cuối cùng - mục đích tối cao của cuộc đấu tranh - hiệp với Thiên Chúa”

1.2.1.3 Các vấn đề tranh luận Nikos Kazantzakis là người hữu thần hay vô thần trong mối quan hệ với Chính thống giáo Hy Lạp

John Chryssavgis trong bài God's Struggler: Religion in the Writings of Nikos

Kazantzakis (Người đấu tranh của Thiên Chúa: Tôn giáo trong các tác phẩm của

Nikos Kazantzakis) đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Hy Lạp hiện đại, Tập 15, Số 2, tháng 10 năm 1997 (Volume 15, Number 2, October 1997 Journal of Modern Greek

Studies) đã khái quát những cuộc tranh luận sôi nổi về Nikos Kazantzakis trong cả

giới văn học và tôn giáo

Trong bài viết Nikos Kazantzakis: Chính thống hay không chính thống – Một

sự đánh giá của Chính thống Hy Lạp ( Nikos Kazantzakis: Orthodox Or Heterodox?

A Greek Orthodox Appreclation), Demetrios J.Constantelos đã xem xét nền tảng sự

hình thành tôn giáo và đánh giá tư tưởng tôn giáo của Nikos Kazantzakis trong bối cảnh của giáo lý thần học Chính thống giáo Hy Lạp Cuộc tranh cãi dấy lên khắp thế giới văn chương và giáo hội bởi Nikos Kazantzakis trong suốt cuộc đời của mình và cho đến ngày nay với rất nhiều những biến động mà ông trải qua trong cuộc đấu tranh tinh thần của mình Bài viết nêu lên nền tảng hình thành quan điểm tôn giáo và triết học của Nikos Kazantzakis Đó là truyền thống văn hóa huy hoàng của Hy Lạp, nền tảng Chính Thống giáo lâu đời của đất nước cũng như của gia đình Nikos Kazantzakis Nhiều quan điểm của Nikos Kazantzakis nằm rải rác trong các sáng tác của mình nhưng tựu trung lại đó là vấn đề đấu tranh một cách triệt để, trong đó ông giải quyết những câu hỏi quan trọng về mối quan hệ thiện với ác, bản thể và tâm linh, Chúa Jesus và Judas và Thiên Chúa với thế giới

Daniel A.Dombrowski trong bài phê bình Nikos Kazantzakis và Chúa

(Kazantzakis and God, Journal of Modern Greek Studies 16.2.1998) đã xem xét tinh

thần Thiên Chúa của Nikos Kazantzakis dưới ảnh hưởng của triết học Henri Bergson và Nietzsche Theo Dombrowski, Nikos Kazantzakis đã hình thành cái

Trang 36

nhìn về Thiên Chúa khác với quan niệm truyền thống trong các tôn giáo Abraham (Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo) Tất cả đều bị ảnh hưởng bởi những mối dây nào đó của triết học Hy Lạp, chủ yếu là ảnh hưởng Aristotle, trong khi Nikos Kazantzakis chọn cách nhìn của triết học Platon Kiến thức về các bài viết của Kazantzakis - bao gồm cả tiểu thuyết của ông, thơ, phim du lịch, thư, luận thuyết,

và chuyên khảo triết học - được giả định, như là một nền tảng tốt trong triết học tôn giáo và các cuộc tranh luận đang diễn ra giữa hiện đại và hậu hiện đại Nghĩa hậu hiện đại, một phong trào phản ứng với các giá trị nhấn mạnh trong nền văn minh phương Tây hiện đại, phản đối chủ nghĩa tư bản, đô thị hóa, công nghệ, văn hóa và phổ biến Nikos Kazantzakis được coi là hậu hiện đại, là một người tâm linh sâu sắc, bởi vì ông bác bỏ quan điểm truyền thống của Thiên Chúa, được mọi người nhận thức sai lầm như một người vô thần Dombrowski thuyết phục, chứng minh rằng Nikos Kazantzakis không chỉ là người có nhiệm vụ thường xuyên đấu tranh

mà còn là một người tin tưởng vào Thiên Chúa - một người hữu thần Ông tin vào Thiên Chúa, tuy nhiên, là trong trạng thái luôn luôn phát triển, không bao giờ tĩnh tại Sử dụng các công cụ của triết lý quá trình hiện đại hay “thần học quá trình”, Dombrowski đối xử với thần học Kazantzakis trong quan hệ với chủ thuyết hữu thần Bergson Trên thực tế, Dombrowski nhấn mạnh ảnh hưởng Bergson nhưng không phủ nhận tác động của Nietzsche với Kazantzakis Dombrowski chủ yếu quan tâm đến mối bận tâm sâu sắc của Kazantzakis về Thiên Chúa Theo đó, một số vấn đề lớn mà Kazantzakis quan tâm như tự do của con người, cuộc xung đột giữa vật chất

và tinh thần, làm thế nào để dung hòa niềm tin vào sự hiện hữu của một Thiên Chúa toàn năng, toàn trí với tà ác tồn tại trong thế giới? Nếu như một Thiên Chúa toàn năng tồn tại, làm thế nào con người có thể được tự do? Tuy có những hạn chế trong cách đánh giá về Nikos Kazantzakis nhưng những đóng góp lớn để nghiên cứu Kazantzakian bởi Peter Biên, Kimon Friar, Darren Middleton, Andreas Poulakidas,

và những người khác, chuyên khảo của Dombrowski có tính thuyết phục, bổ sung các nghiên cứu hiện có trong các lĩnh vực tư tưởng của Nikos Kazantzakis

Trong tiểu luận Nikos Kazantzakis - Kẻ đi tìm tuyệt đối giữa cuộc đời (2013),

Võ Công Liêm cho rằng cả cuộc đời sáng tác của mình, ngòi bút của Nikos

Trang 37

Kazantzakis nói lên kinh nghiệm bản thân, là một hành trình đi và sống để tìm thấy trọn vẹn cuộc đời như một đấu tranh triền miên giữa tinh thần và thể xác:

“Ngoài những đấu tranh dữ dội của Kazantzakis, ngoài khả năng hòa giải những đối kháng và liên kết tất cả những dữ kiện để đưa vào tư duy riêng mình; tất cả thành quả đó được mô tả một cách rõ ràng, chính xác và thông đạt đầy đủ hình ảnh rộng lớn qua kinh nghiệm sống của con người Vì vậy, Kazantzakis đối diện thường xuyên trước những tình huống qua bao dặm trường của kẻ đi tìm chân lý thực hư” Trong hành trình đi tìm chân lý của cuộc đời, Nikos Kazantzakis không thoát khỏi day dứt, dằn vặt nội tại Nikos Kazantzakis không tin ở chính mình, không tin vào Thượng đế mà dòng dõi ông vốn đã tôn thờ hằng cửu Võ Công Liêm trên tinh thần cái nhìn của một Kitô hữu đã cho rằng “Con đường lặn lội tìm kiếm bất luận nơi đâu, từ hang cùng, ngõ cụt, những tu viện hẻo lánh hay những đền đài

xa xuôi; để về sau ông rơi vào một tâm thần chao động: Nietzsche dành cho Phật, Phật dành cho Lenin, Lenin dành cho Odysseus để rồi quay về với Thánh giáo (Christ) như đã một lần tôn thờ hằng cửu” [66]

Tóm lại, các công trình trên đây nghiên cứu về Nikos Kazantzakis trên thế giới chủ yếu xoay quanh vấn đề: Nguồn gốc hình thành tư tưởng triết học và nghệ thuật của Nikos Kazantzakis từ sự ảnh hưởng của nền văn hóa Hy Lạp, ảnh hưởng của Nietzsche và Bergson; tư tưởng Nikos Kazantzakis là hữu thần hay vô thần trong mối quan hệ với giáo hội Chính thống giáo hy Lạp; tinh thần thế tục hóa tôn giáo của Nikos Kazantzakis

1.2.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu Nikos Kazantakis trong nước

1.2.2.1 Tình hình nghiên cứu Nikos Kazantakis trước 1975

Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, Nikos Kazantzakis đã được giới thiệu

và được công chúng miền Nam đón nhận một cách hồ hởi, say mê Có thể kể đến một số tư liệu sau:

Dịch giả Bửu Ý viết bài giới thiệu Nikos Kazantzakis trong tập biên khảo về

Tác giả thế kỷ hai mươi - Nhà xuất bản An Tiêm, 1968 Trong tập biên khảo này,

Bửu Ý đã đánh giá Nikos Kazantzakis là nhà văn nổi tiếng nhất của văn học Hy Lạp hiện đại Nikos Kazantzakis có vai trò như chiếc cầu nối giữa quá khứ huy hoàng của

Trang 38

nền văn hóa Hy Lạp rực rỡ với văn học châu Âu hiện đại, đặc biệt trong lúc văn học

Hy Lạp đang đứng trước thời kỳ rơi vào sự yên lặng, không có những đại diện kiệt

xuất Nikos Kazantzakis đã “hăng hái khám phá những cám dỗ, những dằn vặt của

thời đại và để tâm đến những vấn đề của con người mọi nơi” Bửu Ý cho rằng giá trị

và địa vị của Nikos Kazantzakis được minh định quá chậm Quá chậm vì khi nhà văn khi đã về già mới được chiếu cao trong văn đàn Tân Hy và thế giới, khi mà ông đã đem hết tất cả tài năng thừa hưởng của nền văn hóa Hy Lạp rực rỡ và năng lực hăng hái cá nhân để phục vụ cho văn học Hy Lạp và thế giới một cách thành công

Bửu Ý đã dịch và giới thiệu tác phẩm Vườn đá tảng của Nikos Kazantzakis

sang tiếng Việt và được nhà xuất bản An Tiêm ấn hành (1967) Cuốn tiểu thuyết này đã cho thấy những suy tư của Nikos Kazantazkis về văn hóa phương Đông và

dự báo những cuộc chiến tranh khủng khiếp sẽ giáng xuống nhân loại

Trong tập Ý thức mới trong văn nghệ và triết học (1970), Phạm Công Thiện đã

nêu lên tầm ảnh hưởng sâu đậm của Nietzsche đối với Nikos Kazantzakis Theo Phạm Công Thiện thì Nikos Kazantzakis và Nietzsche giống nhau như con giống cha Nikos Kazantzakis tôn thờ Nietzsche như con người tiền sử tôn thờ mặt trời Đời Nietzsche và đời Kazantzakis là cả một chuỗi dài chấp nhận và chối bỏ Phạm Công Thiện đã phác họa được một tinh thần dấn thân vào tranh đấu cho cái chức vị làm người từ trong sáng tác của Nikos Kazantzakis Nếu Nietzsche cho rằng “con người là sợi dây nối giữa thú vật và siêu nhân - một sợi dây bắc qua vực thẳm” thì Nikos Kazantzakis kêu gọi những con người đích thực hãy “khinh bỉ hạnh phúc” và

“hành trình đến với hố thẳm” để tìm lại chính bản thể người

Trong một công trình khác là Nikos Kazantzakis, Phạm Công Thiện đã tập hợp

bài viết in trên các tạp san về Nikos Kazantzakis Có thể nói, Phạm Công Thiện là một trong những người giới thiệu Nikos Kazantzakis cho công chúng Việt Nam một cách nhiệt tình và trân trọng nhất

Phạm Công Thiện còn dịch tập Ascese (Rèn luyện tâm thuật huyền linh) sang

tiếng Việt, qua đó giới thiệu tư tưởng triết học của Nikos Kazantzakis cho đông đảo bạn đọc miền Nam trước 1975

Trang 39

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là người ảnh hưởng sâu đậm chất hiện sinh của Nikos Kazantzakis Tinh thần phản chiến, đề cao con người trong nhạc Trịnh một phần

ảnh hưởng từ đó Trong công trình khảo cứu Trịnh Công Sơn - có một thời như thế

của Nguyễn Đắc Xuân đã thuật lại việc Trịnh Công Sơn nói với người bạn gái Nguyễn Thị Nga My:

“Có lần Sơn đem hai cuốn sách của nhà văn Hy Lạp đến bảo tôi:

- “Nếu Nga My không đọc hai cuốn sách này thì xem như mất nửa đời người”

Tôi nhớ không lầm thì đó là cuốn UDOMO, một vòng hoa cho người cách

mạng và Alexis Zorba - con người chịu chơi” [127, tr.244]

Cuộc đời và kinh nghiệm của Alexis zorba được Nguyễn Hữu Hiệu dịch năm

1969, nhà xuất bản Hồng Hà, Sài gòn in lần đầu vào năm 1969, in lần hai năm 1973 Tuy chỉ ngắn ngủi trong vòng vài chục năm, nhưng Nikos Kazantzakis nói riêng và văn học hiện sinh nói chung cũng đã có ảnh hưởng lớn đến công chúng văn học miền Nam

1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu Nikos Kazantakis từ năm 1975 đến nay

Sau năm 1975, Nikos Kazantzakis ít được chú ý Duy cuốn Tự do hay là

chết, được bạn đọc đón nhận, vì tinh thần giải phóng dân tộc mà tác giả cổ xúy

Hoàng Nguyên Kỳ dịch sang tiếng Việt và cho rằng đây là một trong những kiệt tác của văn học Hy Lạp hiện đại Nó thể hiện cái nhìn sâu sắc, giàu ý nghĩa của một nhà văn kiêm nhà tư tưởng Năm 1988, NXB Tổng hợp Đồng Nai xuất bản

Cám dỗ cuối cùng của Chúa, Bích Phượng dịch từ bản tiếng Anh The last temptation of Christ Đây là một tiểu thuyết luận đề thể hiện tư tưởng đấu tranh

không ngừng giữa thiện và ác, giữa thể xác vật chất và tinh thần, giữa niềm tin tôn

giáo và thế tục Trong Lời tựa, tác giả đã nói: "Nỗi thống khổ chủ yếu của tôi và

nguồn gốc mọi thú vui, buồn bực từ thuở thiếu thời là một chiến đấu không ngừng

ác liệt giữa tinh thần và thể xác"

Gần đây, có chùm bài của tác giả Trần Huyền Sâm về tiểu thuyết Cám dỗ cuối

cùng của Chúa trên tạp chí Hồn Việt Tác giả đã nghiên cứu văn bản trong sự đối

sánh với Kinh thánh để tìm ra tư tưởng hiện sinh - thế tục của Nikos Kazantzakis

Trang 40

Cụ thể: “Người tình của Đức Jesus trong tiểu thuyết Cám dỗ cuối cùng của

Chúa” (Số1, 2014); “Judas hay là phản đề Kinh thánh qua quan điểm của Nikos Kazantzakis” (Số 4, 2014), “Thánh Saint Paul hay là quan điểm phục sinh của Nikos Kazantzakis” (Số 5, 2014), “Thế tục hoá tôn giáo trong tiểu thuyết Cám dỗ cuối cùng của Chúa của Nikos Kazantzakis” (Trần Huyền Sâm - Phạm Ngọc Lư,

Hội thảo Văn học và Văn hoá tâm linh, Viện Văn học, Hà Nội, Tháng 3, 2014) Các bài nghiên cứu trên đã đi sâu vào phân tích các yếu tố nghệ thuật trong tác phẩm

Cám dỗ cuối cùng của Chúa so sánh với Kinh Thánh để từ đó nêu bật tư tưởng hiện

sinh và tinh thần thế tục hóa tôn giáo của Nikos Kazantzakis Trong bài Người tình

của Đức Jesus trong tiểu thuyết Cám dỗ cuối cùng của Chúa, Trần Huyền Sâm đã

nêu quan điểm: tiểu thuyết chỉ là sự giả định Sở dĩ có sự biện hộ này là do cuốn tiểu thuyết đã gây sự phẫn nộ đối với công chúng mộ đạo Đặc biệt, khi tác phẩm này được đạo diễn Martin Scorsese dựng thành phim, làn sóng phản đối Nikos Kazantzakis lan tràn mạnh mẽ khắp thế giới Khi tác phẩm ra đời, Nikos Kazantzakis đã bị giáo hội Chính thống Hy Lạp rút phép thông công, xem ông là tội

đồ của Chúa Còn khi bộ phim trình chiếu thì những người mộ đạo khắp thế giới phản ứng gay gắt đạo diễn Martin Scorsese Theo Trần Huyền Sâm, nhà văn có quyền hư cấu Tiểu thuyết chỉ là sự giả định Nhân vật Magdalene được Trần Huyền

Sâm so sánh từ tác phẩm Cám dỗ cuối cùng của Chúa đến Thánh kinh Tân ước và tác phẩm Mật mã Da Vinci của Dan Brown để thể hiện tinh thần thế tục hóa tôn

giáo của cả hai nhà văn

Trong Judas hay là phản đề Kinh thánh qua quan điểm của Nikos Kazantzakis,

Trần Huyền Sâm đã phân tích hình ảnh Judas dưới cái nhìn phản đề khi khẳng định rằng Judas không phải là kẻ phản Chúa Nếu trong thánh kinh thì Judas đã bán Chúa cho kẻ thù của Người, còn trong Cám dỗ cuối cùng của Chúa thì Judas là người ngược lại Judas nộp Chúa vì những lý do sau: giúp Jesus giải thoát phần xác khỏi phần hồn để bắt đầu sứ mệnh cứu chuộc loài người, Judas được Jesus lựa chọn làm việc đó và Judas thực hiện sứ mệnh này theo lời cầu xin của Jesus Trong bài viết, Trần Huyền Sâm cũng phân tích tinh thần dân tộc của Judas, mối quan hệ giữa linh hồn và thể xác dưới cái nhìn phản đề kinh thánh để đi đến kết luận rằng trong sự

Ngày đăng: 29/05/2021, 10:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bakhtin. M (2003), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Nxb Hội Nhà Văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Bakhtin. M
Nhà XB: Nxb Hội Nhà Văn
Năm: 2003
2. Barthes Roland (Nguyên Ngọc dịch và giới thiệu) (1997), Độ không của lối viết, Nxb Hội Nhà Văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độ không của lối viết
Tác giả: Barthes Roland (Nguyên Ngọc dịch và giới thiệu)
Nhà XB: Nxb Hội Nhà Văn
Năm: 1997
3. Berdyaev N.A (Nguyễn Văn Trọng dịch) (2017), Con người trong thế giới tinh thần, Trải nghiệm triết học cá biệt luận, Nxb Tri Thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người trong thế giới tinh thần, Trải nghiệm triết học cá biệt luận
Tác giả: Berdyaev N.A (Nguyễn Văn Trọng dịch)
Nhà XB: Nxb Tri Thức
Năm: 2017
4. Berdyaev N.A (Đỗ Minh Hợp dịch) (2017), Triết học của tự do, Nxb Tri Thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học của tự do
Tác giả: Berdyaev N.A (Đỗ Minh Hợp dịch)
Nhà XB: Nxb Tri Thức
Năm: 2017
5. Berdyaev N.A (Đỗ Minh Hợp dịch) (2017), Thế giới quan của Dostoevsky, Nxb Tri Thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới quan của Dostoevsky
Tác giả: Berdyaev N.A (Đỗ Minh Hợp dịch)
Nhà XB: Nxb Tri Thức
Năm: 2017
6. Bigelow Gordon E., Đôi nét về chủ nghĩa hiện sinh (Cao Hùng Lynh dịch), http://triethoc.edu.vn/vi/chuyen-de-triet-hoc/truong-phai-triet-hoc/chu-nghia-hien-sinh/doi-net-ve-chu-nghia-hien-sinh_15.html, 25/4/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi nét về chủ nghĩa hiện sinh
7. Bodei Remo (Phan Quang Định biên dịch) (2011), Triết học thế kỷ XX, Nxb Thời Đại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học thế kỷ XX
Tác giả: Bodei Remo (Phan Quang Định biên dịch)
Nhà XB: Nxb Thời Đại
Năm: 2011
8. Bowker John (Lưu Văn Hy dịch), Từ điển Tôn giáo thế giới giản yếu, Nxb Từ điển Bách Khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tôn giáo thế giới giản yếu
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách Khoa
9. Brinton Crane (Nguyễn Kiên Trường biên dịch) (2007), Con người & Tư tưởng Phương Tây, Nxb Từ điển Bách Khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người & Tư tưởng Phương Tây
Tác giả: Brinton Crane (Nguyễn Kiên Trường biên dịch)
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách Khoa
Năm: 2007
10. Butler. Tom – Brwdon (Minh Đức-Liên Phương tuyển chọn, biên dịch) (2012), Những danh tác vượt thời gian của triết học tâm linh, sự thức tỉnh nội tâm và mở rộng nhận thức, Nxb Văn Hoá – Văn Nghệ, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những danh tác vượt thời gian của triết học tâm linh, sự thức tỉnh nội tâm và mở rộng nhận thức
Tác giả: Butler. Tom – Brwdon (Minh Đức-Liên Phương tuyển chọn, biên dịch)
Nhà XB: Nxb Văn Hoá – Văn Nghệ
Năm: 2012
11. Camus Albert (Bùi Giáng dịch) (2006), Ngộ nhận, Nxb Văn nghệ, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngộ nhận
Tác giả: Camus Albert (Bùi Giáng dịch)
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 2006
12. Camuy Albert (Trương Thị Hoàng Yến – Phong Sa dịch) (2014), Thần thoại Sisyphus, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thần thoại Sisyphus
Tác giả: Camuy Albert (Trương Thị Hoàng Yến – Phong Sa dịch)
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2014
13. Camus Albert (Thanh Thư dịch) (2017), Người xa lạ, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người xa lạ
Tác giả: Camus Albert (Thanh Thư dịch)
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2017
14. Challaye Felicen (Trương Thanh Bình dịch) (2001), Nietzsche - Cuộc đời và triết lý, Nxb Văn nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nietzsche - Cuộc đời và triết lý
Tác giả: Challaye Felicen (Trương Thanh Bình dịch)
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 2001
15. Lê Kim Châu (1996), Chủ nghĩa hiện sinh và một vài ảnh hưởng của nó ở miền Nam Việt Nam, Luận án phó tiến sĩ khoa học triết học, Viện Triết học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện sinh và một vài ảnh hưởng của nó ở miền Nam Việt Nam
Tác giả: Lê Kim Châu
Năm: 1996
16. Chevalier Jean, Gheerbrant Alain (Những người dịch Phạm Vĩnh Cư, Nguyễn Xuân Giao, Lưu Huy Khánh, Nguyên Ngọc, Vũ Đình Phòng, Nguyễn Văn Vỹ) (2015), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới
Tác giả: Chevalier Jean, Gheerbrant Alain (Những người dịch Phạm Vĩnh Cư, Nguyễn Xuân Giao, Lưu Huy Khánh, Nguyên Ngọc, Vũ Đình Phòng, Nguyễn Văn Vỹ)
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2015
17. Chiupa V.I. (Lã Nguyên dịch) (2013), Trần thuật học như là khoa học phân tich diễn ngôn trần thuật, anguyensp.wordpress.com/2013/09/17/tran-thuat-hoc-nhu-la-khoa-hoc-phan-tich-dien-ngon-tran-thuat Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần thuật học như là khoa học phân tich diễn ngôn trần thuật
Tác giả: Chiupa V.I. (Lã Nguyên dịch)
Năm: 2013
18. Phó Hằng Cơ (J. Minh Phương dịch) (2010) Thánh Kinh tân ước truyện, Nxb Thời Đại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thánh Kinh tân ước truyện
Nhà XB: Nxb Thời Đại
19. Deleuze Gilles (Nguyễn Thị Từ Huy dịch) (2013), Nietzsche và triết học, NXB Tri Thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nietzsche và triết học
Tác giả: Deleuze Gilles (Nguyễn Thị Từ Huy dịch)
Nhà XB: NXB Tri Thức
Năm: 2013
21. Chú giải tâm kinh Bát nhã ba la mật đa, http://phatgiao.org.vn/nghien- cuu/201412/Chu-giai-Tam-Kinh-Ba-t-Nha-Ba-La-Ma-t-da-16510/ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w