Về văn học, xuyên suốt chiều dài lịch sử, Nhật Bản có quyền tự hào về một nền văn học giàu có bậc nhất thế giới với lịch sử phát triển gần mười hai thế kỷ với những tác phẩm nổi tiếng nh
Trang 1Người hướng dẫn khoa học
PGS TS TRƯƠNG ĐĂNG DUNG
HÀ NỘI, 2015
Trang 2Hoàn thành đề tài nghiên cứu, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến PGS TS Trương Đăng Dung – người thầy đã tận tâm hướng dẫn
em hoàn thành luận văn này
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo khoa Ngữ Văn, đặc biệt là các thầy cô Phòng Sau Đại học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
2 đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và người thân đã luôn bên cạnh, động viên, khuyến khích, giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu
Hà Nội ngày 16 tháng 7 năm 2015
Tác giả
TRẦN THÚY HẰNG
Trang 3Tôi xin cam đoan rằng kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu đã được cảm ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn đã ghi rõ nguồn gốc
Đề tài Con người cô đơn trong tiểu thuyết của Kawwabata – nhìn từ
tâm thức hiện sinh được thực hiện bởi chính tác giả, dưới sự hướng dẫn của
P GS TS.Trương Đăng Dung Luận văn chưa được công bố ở bất kỳ nơi nào
Tác giả
TRẦN THÚY HẰNG
Trang 42 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Bố cục luận văn 9
NỘI DUNG 10
Chương 1 VẤN ĐỀ CON NGƯỜI CÔ ĐƠN TRONG TRIẾT HỌCVÀ VĂN HỌC HIỆN SINH 10
1.1 Con người cô đơn trong triết học hiện sinh 10
1.1.1 Khái quát sự ra đời của triết học hiện sinh trên thế giới 10
1.1.2 Hiểu về khái niệm “triết học hiện sinh” 12
1.1.3 Những nội dung chính của triết học hiện sinh về con người 13
1.2 Con người cô đơn trong văn học hiện sinh 19
1.2.1 Khái quát về phong trào văn học hiện sinh thế giới 19
1.2.2 Những nội dung cơ bản trong văn học hiện sinh 21
1.2.3 Tư tưởng hiện sinh trong văn học Nhật Bản 23
1.3 Tiền đề cho sự xuất hiện con người cô đơn trong sáng tác của Kawabata 25
1.3.1 Yếu tố đất nước và con người Nhật Bản 25
1.3.2 Yếu tố văn hóa, văn học truyền thống Nhật Bản 26
1.3.2.1 Từ nền văn hóa giàu bản sắc 26
1.3.2.2 Đến nền văn học đậm niềm bi cảm 29
1.3.3 Sự tiếp xúc giữa văn hóa Nhật Bản và văn hóa phương Tây 33
Trang 51.3.4.2 Tâm thức hiện sinh trong tiểu thuyết của Kawabata 37
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CON NGƯỜI CÔ ĐƠN MANG TÂM THỨC HIỆN SINH TRONG TIỂU THUYẾT KAWABATA 40
2.1 Con người mang cảm thức cô đơn 40
2.1.1 Con người với nỗi cô đơn bản thể 40
2.1.2 Con người mang niềm bi cảm Nhật Bản 45
2.2 Con người với giới hạn thân phận 52
2.2.1 Những nghịch cảnh của số mệnh 52
2.2.2 Ý thức về hữu hạn 57
2.3 Hành trình sống và dấn thân 62
2.3.1 Hành trình vượt giới hạn 62
2.3.2 Hành trình tìm kiếm ý nghĩa của đời sống 68
2.3.3 Cuộc chiến chống lại sự tha hóa 74
Chương 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CON NGƯỜI CÔ ĐƠN TRONG TIỂU THUYẾT KAWABATA NHÌN TỪ TÂM THỨC HIỆN SINH 79
3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật mang tâm thức hiện sinh 79
3.1.1 Nghệ thuật khắc họa ngoại hình nhân vật 80
3.1.1.1 Miêu tả vẻ đẹp ngoại hình nhân vật nữ 80
3.1.1.2 Sự mờ hóa chân dung nhân vật nam 85
3.1.2 Nghệ thuật xây dựng nội tâm nhân vật 87
3.1.2.1 Khắc họa nội tâm qua lời nửa trực tiếp 88
3.1.2.2 Khắc họa nội tâm qua ngôn ngữ nhân vật 93
3.2 Nghệ thuật xây dựng không gian và thời gian sống của nhân vật 104
3.2.1 Con người cô đơn trong không gian 104
Trang 63.2.2.2 Thời gian dòng ý thức 117
KẾT LUẬN 124 TÀI LIỆU THAM KHẢO 128
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Ấn tượng về “đất nước mặt trời mọc”
Về vị trí địa lí, Nhật Bản là một quốc gia khá độc lập so với các quốc gia khác trên thế giới và trong khu vực Không chỉ nổi tiếng với cái tên như
“đất nước mặt trời mọc”, Nhật Bản còn được biết đến là một “quốc đảo” khi toàn bộ diện tích đất nước là sự quy tụ của những hòn đảo lớn nhỏ, xung quanh là đại dương mênh mông Khoảng cách đó vừa đủ xa để người Nhật lắng nghe những biến động của thế giới vừa đủ cách biệt để họ khép kín trong nỗi cô đơn của dân tộc mình
Thế giới biết đến Nhật Bản không chỉ là một cường quốc về kinh tế và khoa học công nghệ mà còn bởi những đức tính đáng quý của con người Nhật Với ý chí và nghị lực phi thường, người Nhật đã tạo nên sức bật thần kì
để hồi sinh mạnh mẽ sau hai cuộc chiến tranh thế giới Tuy nhiên, như là định mệnh, hệ quả tất yếu của tính chủ động, độc lập chính là nỗi cô đơn, trầm mặc trong đời sống tâm hồn và sự cô lập, khép kín với tha nhân
Về tôn giáo, ở Nhật Bản, đạo Phật chiếm ưu thế hơn hẳn so với các tôn giáo khác Phật giáo cung cấp cho người Nhật một cách nhận thức về thế giới
tự nhiên, tâm linh, bản ngã và tạo cho người Nhật lối sống thiên về nội tâm trầm lặng, đi sâu vào thế giới bên trong con người hơn là khai phá hiện thực khách quan
Về văn học, xuyên suốt chiều dài lịch sử, Nhật Bản có quyền tự hào về một nền văn học giàu có bậc nhất thế giới với lịch sử phát triển gần mười hai
thế kỷ với những tác phẩm nổi tiếng như: Kokiji (Cổ sự kí), Nihonsuki (Nhật
Bản thư kí), Fudoki (Phong thổ kí), Manyyoshu (Vạn diệp tập)…
Ấn tượng đặc biệt về “đất nước mặt trời mọc” là lí do thứ nhất chúng tôi lựa chọn một tác giả được sinh ra trên mảnh đất Phù Tang, xứ sở của hoa anh đào và những nét văn hóa phương Đông điển hình: nhà văn Kawabata
Trang 8là nhà văn đầu tiên ở Châu Á đoạt giải Nobel văn học năm 1968 Ông là đại diện tiểu biểu cho vẻ đẹp truyền thống Nhật Bản với những trang viết đậm chất trữ tình và khả năng khai thác tâm lí nhân vật của một cây bút bậc thầy
Đọc tác phẩm của Kawabata, người đọc thấy hiển hiện một nỗi buồn mênh mang, cố hữu, phảng phất tâm thức cô đơn của kiếp người trong quan niệm của Phật giáo và tư tưởng hiện sinh Sự gặp gỡ này làm cho con người
cô đơn trong sáng tác của Kawabata có điểm khác biệt với nỗi cô đơn thường thấy của các nhà hiện sinh phương Tây Đó vừa là nỗi cô đơn bản thể của con người nhưng vừa là nỗi buồn mang vẻ đẹp và niềm u uẩn của con người Nhật Bản - một nỗi buồn bản địa đặc thù Nỗi cô đơn trong tiểu thuyết Kawabata được viết nên trước hết từ chính những buồn đau trong cuộc đời nhà văn – con người dường như được sinh ra với định mệnh cô đơn; hơn nữa, nỗi cô đơn ấy cũng được kết tinh từ truyền thống văn hóa, văn học Nhật Bản; vang lên từ một thời đại mà cái đẹp đang dần bị hoen ố, từ chính những đổ vỡ tinh thần của người Nhật khi văn minh phương Tây xói mòn văn hóa truyền thống một cách dữ dội
Vì vậy, khám phá con người cô đơn trong tiểu thuyết của Kawabata không chỉ giúp chúng ta thấy rõ mạch nguồn truyền thống văn hóa, văn học của xứ sở hoa anh đào mà còn thấy cả một hiện thực đầy biến động của đất nước và con người Nhật Bản những thập niên đầu thế kỉ XX
1.3 Nghiên cứu con người cô đơn nhìn từ tâm thức hiện sinh là một hướng
đi có ý nghĩa trong bối cảnh văn học đương đại
Chủ nghĩa hiện sinh ra đời đặt con người vào đúng vị trí của mình trong thế giới, gọi tên đúng những vấn đề mà con người đang mang, thức tỉnh họ đối diện với những hiện tồn của đời sống và bản thể cô đơn của mình Những
Trang 9nhà văn lớn đồng thời cũng là những nhà tư tưởng lớn, sáng tác của Kawabata đặc biệt là tiểu thuyết chính là nơi thể hiện những vấn đề hiện sinh như thế Bởi vậy, việc nghiên cứu con người cô đơn trong tiểu thuyết Kawabata nói riêng và các tác gia văn học hiện đại nói chung là một hướng đi đúng và có ý nghĩa trọng bối cảnh hiện nay
Về mặt lí thuyết, lựa chọn đề tài, chúng tôi mong muốn góp thêm một cách tiếp cận mới về quan niệm con người trong tiểu thuyết Kawabata dưới
sự soi chiếu của lí thuyết hiện sinh qua đó làm nổi bật những nét chung và nét riêng, những kế thừa và sáng tạo của nhà văn trong việc thể hiện con người cô đơn
Về thực tiễn, trong những năm gần đây, văn học Nhật và sáng tác của Kawabata được dịch, giới thiệu và giảng dạy phổ biến ở các trường Đại học,
Cao đẳng, phổ thông ở Việt Nam Vì vậy, với đề tài Con người cô đơn trong
tiểu thuyết của Kawabata – nhìn từ tâm thức hiện sinh, chúng tôi hi vọng
những nội dung được triển khai sẽ có ý nghĩa nhất định cho việc nghiên cứu, giảng dạy tác phẩm của Kawabata trong nhà trường
2 Lịch sử vấn đề
Các tác phẩm của Kawabata không chỉ được giới thiệu rộng rãi mà còn thu hút nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam Ở Việt Nam, các sáng tác của ông được dịch ra tiếng Việt gồm thể loại truyện ngắn, truyện ngắn trong lòng bàn tay và tiểu thuyết Sáng tác của Kawabata từng được nghiên cứu dưới nhiều góc độ của phân tâm học, Thiền học, chủ nghĩa hiện sinh Đề tài của chúng tôi có hai giới hạn: thứ nhất là về con người cô đơn, thứ hai là tiếp cận từ tâm thức hiện sinh Vì vậy, dù số lượng các bài nghiên cứu, sách, bài viết về sáng tác của Kawabata là rất phong phú và đa dạng nhưng chúng tôi chỉ điểm qua những công trình nghiên cứu có đề cập đến yếu
tố hiện sinh và con người cô đơn trong tiểu thuyết Kawabata với ý nghĩa cơ
sở và gợi mở ý tưởng cho đề tài
Trang 10chúng tôi chỉ kể tên và khái quát nội dung của những công trình nghiên cứu
về Kawabata ở ngoài nước trong phạm vi chúng tôi thu thập được
Nhà văn vô sản Aono Suekiti trong cuốn Các nhà văn hiện đại Nhật
Bản đã đặc biệt lưu ý đến chức năng “thanh lọc” trong tác phẩm của
Kawabata: “Mỗi lần đọc tác phẩm của ông, tôi lại thấy xung quanh tựa hồ như lắng đi, không khí bỗng trở nên trong trẻo còn tôi thì hòa tan trong đó” (Chuyển dẫn theo [55; 10])
Nhà văn hiện đại nổi tiếng Nhật Bản - Mishima Yukio đã nâng Kawabata lên tầm “người lữ khách muôn đời đi tìm cái đẹp” Nhận định nổi tiếng “Kawabata - vĩnh viễn lữ nhân” của ông là gợi ý, khởi nguồn cho rất nhiều công trình nghiên cứu khác về nhà văn này Ý tưởng về kiểu nhân vật
“lữ khách” đi tìm cái đẹp, nhân vật hành trình, dấn thân mang tâm thức hiện sinh cũng được chúng tôi khai triển dựa trên gợi mở của nhà văn Yukio
Trong diễn từ nhận giải Nobel văn chương năm 1994, Oe Kenzaburo đã dành phần lớn những trang đầu để tôn vinh Kawabata và đã bộc lộ một trong những đặc trưng cơ bản của tác phẩm Kawabata là tính mơ hồ, mông lung, diệu vợi - tiêu chí cơ bản của cái đẹp theo quan điểm mĩ học Thiền Đây sẽ là gợi ý quan trọng để chúng tôi tìm hiểu sự mơ hồ, mong manh, hư vô của đời sống trong tâm thức con người
Nhà Đông phương học người Nga N.I Fedorenco với các bài viết:
Y.Kawabata với triết học và mĩ học, Y.Kawabata – con mắt nhìn thấu cái đẹp
đã khẳng định dấu ấn của mĩ học Thiền trong sáng tác Kawabata và gián tiếp chỉ ra nét tương đồng giữa tác phẩm của Kawabata với các tác phẩm văn học hiện sinh về các vấn đề cốt lõi như “hư vô”, “khoảng trống”, “bản thể”… Đây được coi là tài liệu quan trọng giúp chúng tôi có định hướng rõ ràng trong
Trang 11việc xác định những tiền đề cơ bản làm nảy sinh yếu tố hiện sinh trong tác phẩm của Kawabata Do đó, dù cùng được nhìn từ tâm thức hiện sinh nhưng con người cô đơn trong tiểu thuyết Kawabata vẫn có những nét khác biệt so với các tiểu thuyết gia khác
2.2 Nghiên cứu về sáng tác của Kawabata ở Việt Nam
Ở Việt Nam, năm 1969 – một năm sau khi nhà văn Kawabata của Nhật Bản được tặng giải Nonel đã xuất hiện một số bài nghiên cứu, giới thiệu về cuộc đời sự nghiệp của nhà văn này Từ đó đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu lớn nhỏ về ông và tác phẩm của ông
Công trình đáng kể nhất giới thiệu chung về tác giả Kawabata và tác
phẩm của ông là Yasunary Kawabata cuộc đời và tác phẩm của tác giả Lưu
Đức Trung do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 1997 Trong chuyên luận này, tác giả đã đưa ra những tìm hiểu, phân tích cuộc đời và những yếu tố thời đại có ảnh hưởng nhất định đến con đường nghệ thuật và sáng tác của Kawabata Phong cách nổi bật của Kawabata được tác giả nhận định đó là
“chất trữ tình sâu lắng, nỗi buồn êm dịu” [88;18] được kế thừa từ dòng văn học “nữ lưu” thời Heian
Tác giả Lưu Đức Trung quay trở lại với bài viết Thi pháp tiểu thuyết
Kawabata - nhà văn lớn của Nhật Bản nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh của
Kawabata (1899 – 1999) Trong đó, ông đã chỉ ra đặc trưng nổi bật trong sáng tác Kawabata là dấu ấn của mĩ học Thiền - tiêu biểu là thi pháp chân không,
lấy im lặng làm nguyên tắc biểu đạt
Bài viết Yasunary Kawabata dưới nhãn quan phương Tây in trên Tạp
chí Văn Sài Gòn năm 1969 của tác giả Chu Sỹ Hạnh đã có những cảm nhận
sắc sảo về bút pháp của nhà văn Kawabata như âm hưởng chung về nỗi cô đơn, những suy nghĩ nội tâm nhân vật Những ý kiến sâu sắc của tác giả sẽ
Trang 12Năm 1992, ấn phẩm Dạo chơi vườn văn Nhật Bản được nhà xuất bản
Giáo dục phát hành, trong đó nhà văn hóa Hữu Ngọc cho rằng tính cách lưỡng phân giữa lối sống cổ truyền và lối sống hiện đại là cái nền cho sáng tác của Kawabata Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng cảm nhận thấy sự
“lưỡng phân” qua các nhân vật, đó vừa là nỗi cô đơn bản thể từ cái nhìn hiện đại vừa là nỗi cô đơn từ trong thẳm sâu tâm thức người Nhật
Nhà nghiên cứu Nhật Chiêu với bài viết Thế giới Yasunary Kawabata
(hay là cái đẹp: hình và bóng) in trên tạp chí Văn học số 3, năm 2000 giống
như các nhà nghiên cứu khác đã nhấn mạnh đến vẻ đẹp, nỗi buồn, sự cô đơn hiện lên dưới nhãn quan duy mĩ của nhà văn
Tác giả Phạm Văn Tuấn trong bài viết Yashunari
Kawabata(1899-1972): văn hào Nhật Bản và tác phẩm “Ngàn cánh hạc" khi phân chia các
giai đoạn sáng tác trong sự nghiệp của Kawabata đã trực tiếp chỉ ra mối quan
hệ tương đồng giữa sáng tác của Kawabata với văn học hiện sinh ở mặt nội dung, tư tưởng là cùng lấy nỗi cô đơn và ám ảnh cái chết làm trục chủ đạo xuyên suốt Mặt khác, những “kinh nghiệm bi thương” của Kawabata được tác giả nhắc tới sẽ trở thành một trong những tiền đề dẫn đến sự xuất hiện yếu
tố hiện sinh trong tác phẩm của Kawabata
Tác giả Đỗ Phương Nam trong bài viết Thủ pháp nghệ thuật đặc sắc
xây dựng biểu tượng trong tiểu thuyết của Yasunari Kawabata nêu những đặc
điểm cơ bản trong tiểu thuyết của Kawabata: luôn có xu hướng tìm về với truyền thống trong một cảm thức mất mát và suy tàn, cái chết là một ám ảnh ghê gớm và tiểu thuyết của ông luôn mang màu sắc buồn bã của sự chia li và niềm tuyệt vọng
Trong Tuyển tập Yashunari Kawabata, Thụy Khuê có bài viết Từ
Murasaki đến Kawabata Khi phân tích biểu tượng “người đẹp ngủ” trong tiểu
Trang 13thuyết Người đẹp say ngủ, bà đã chỉ ra tình trạng thảm kịch của con người mà
nhất là ám ảnh, đe dọa, trạng thái chênh vênh giữa hai bờ sống - chết và đây cũng là một trong những đặc trưng cơ bản của văn chương hiện sinh
Tác giả Đào Thị Thu Hằng với bài viết Kawabata giữa dòng chảy
Đông Tây đã không ít lần nói về ảnh hưởng sâu sắc của Phân tâm học đến
sáng tác của Kawabata như: vô thức, không gian giấc mơ huyền ảo và cả vấn
đề tính dục… Tất cả những điều này sẽ là căn cứ giúp chúng tôi xác định một cách cụ thể hơn những biểu hiện hiện sinh của các nhân vật trong tiểu thuyết Kawabata
Khảo sát những công trình nghiên cứu về sáng tác của Kawabata, chúng tôi nhận thấy các nhà nghiên cứu đã làm sáng rõ những vấn đề chính như: cuộc đời và sự nghiệp Kawabata, những biến động lịch sử và cuộc đời riêng tác động đến sáng tác Kawabata, những khía cạnh nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm của ông Đây sẽ là nguồn tư liệu vô cùng quý giá cho chúng tôi trong quá trình triển khai đề tài Tuy nhiên để tìm hiểu con người cô đơn với những biểu hiện cụ thể trong tiểu thuyết Kawabata nhìn từ tâm thức hiện sinh thì chưa có công trình nào đề cập một cách trọn vẹn Trên cơ sở đó,
chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài Con người cô đơn trong tiểu thuyết của
Kawabata – nhìn từ tâm thức hiện sinh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng
Nghiên cứu những biểu hiện cụ thể của con người cô đơn và vai trò của nghệ thuật trong việc thể hiện con người cô đơn qua sáu tiểu thuyết của Kawabata nhìn từ tâm thức hiện sinh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn nghiên cứu của đề tài là con người cô đơn trong các tiểu
thuyết Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Tiếng rền của núi, Người đẹp ngủ mê, Cố đô,
Trang 144 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích
- Thực hiện đề tài chúng tôi nhằm mục đích làm rõ những biểu hiện con người cô đơn trong quan niệm nghệ thuật của Kawabata nhìn từ tâm thức hiện sinh, qua đó, khẳng định sự khác biệt giữa hình tượng con người cô đơn trong sáng tác của Kawabata với các tác giả khác đó là: con người với nỗi cô đơn bản thể nói chung nhưng còn là con người mang nỗi cô đơn bản địa đặc thù, mang niềm bi cảm Nhật Bản
- Song song với việc khai thác và làm rõ những vấn đề về nội dung, chúng tôi cũng đặt ra mục đích tìm hiểu vai trò của nghệ thuật trong việc thể hiện con người cô đơn nhìn từ thủ pháp của văn học hiện sinh
5 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp đối chiếu, so sánh
Và các thao tác: thống kê, chứng minh, bình giảng
Trang 156 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung
của luận văn có 3 chương:
Chương 1: Vấn đề con người cô đơn trong triết học và văn học hiện
sinh
Chương 2: Đặc điểm con người cô đơn mang tâm thức hiện sinh trong
tiểu thuyết Kawabata
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện con người cô đơn trong tiểu thuyết
Kawabata nhìn từ tâm thức hiện sinh
Trang 16Chương 1 VẤN ĐỀ CON NGƯỜI CÔ ĐƠN TRONG TRIẾT HỌC
VÀ VĂN HỌC HIỆN SINH
1.1 Con người cô đơn trong triết học hiện sinh
1.1.1 Khái quát sự ra đời của triết học hiện sinh trên thế giới
Trong lịch sử triết học thế giới, triết học hiện sinh ra đời sau triết học
cổ truyền Triết học cổ truyền hay còn gọi là triết học về thiên nhiên (tạm gọi
là từ Platon, Aristoteles cho đến Descartes, Kant và Hegel) thường lấy vạn vật trong giới tự nhiên làm đối tượng nghiên cứu nhằm mục đích tìm ra căn nguyên của vũ trụ; trong thế giới tự nhiên, con người vô cùng nhỏ bé, bị vũ trụ lấn át và “bỏ quên” Ngược lại, triết học hiện sinh coi con người là trung tâm của thế giới và là đối tượng nghiên cứu chính yếu của mình Những câu hỏi đặt ra đều xoay xung quanh thân phận làm người của con người Vì vậy triết học hiện sinh còn được gọi là triết học về con người
Bước sang thế kỉ XX, thế giới chứng kiến những đổi thay mạnh mẽ với nhiều thành tựu vượt bậc về khoa học – kĩ thuật nhưng nhân loại cũng phải trải qua biết bao biến thiên, thăng trầm, đau khổ, mất mát do chiến tranh mang lại Nếu những phát minh khoa học như lí thuyết lượng tử của Max Planck, thuyết tương đối của A Einstein làm thay đổi bức tranh thế giới; sự phát triển đỉnh điểm của chủ nghĩa tư bản mang đến thành tựu rực rỡ về kinh tế, khoa học – kĩ thuật thì hệ quả của cuộc khủng hoảng kinh tế (1929 – 1933), hai cuộc thế chiến (1914 – 1918; 1939 – 1945) cũng đã phá hủy hàng ngàn công trình, hàng triệu người bị sát hại, nhân dân thế giới chứng kiến và gánh chịu những mất mát vô vùng to lớn cả về vật chất và tinh thần
Trang 17Đất nước Nhật Bản gánh chịu những đau thương tổn thất nặng nề trong cuộc chiến tranh thế giới II sau khi bị đế quốc Mĩ ném hai quả bom nguyên tử xuống hai thành phố Hirôsima và Nagazaki Hành động này của Mĩ khiến nhân loại cảm thấy hoang mang, đau đớn và sụp đổ niềm tin nghiêm trọng vào lòng nhân ái của con người Trong quang cảnh đó, một bộ phận người dân châu Âu đặc biệt là giới trí thức đã bắt đầu tỏ ra bi quan và hoài nghi về cuộc sống và thân phận mong manh của con người: “Mọi sự đều vô nghĩa, mọi sự đều phi lí, đó là cái tâm trạng đổ nát của chế độ tư bản và trong tâm trạng đó họ bắt gặp tư tưởng hiện sinh chủ nghĩa về thân phận con người” (Chuyển dẫn theo [19;15])
Sự biến động của xã hội tư bản phương Tây đầu thế kỉ XX khiến “trí năng tỏ ra bất lực trước đời sống” Trong bối cảnh đó, nhiều lí thuyết triết học
ra đời như tác phẩm hiện tượng luận Nghiên cứu logic của E.Husserl, phân
tâm học của S Freud giúp con người nhận ra bên cạnh “cái nói ra được” còn
có cái “không nói ra được”, bên cạnh con người ngoại hiện còn tồn tại “con người tồn tại bên trong con người” Hiện thực còn ẩn giấu cái gì đằng sau nó được lưu giữ nơi vô thức Từ những nền tảng ý trí luận của Schopenhauer, Nietzche; trực giác luận của H.Bergson, hiện tượng luận của Husserl, phân tâm học của S.Freud, C.Jung, triết học hiện sinh ra đời lấy con người làm đối tượng nghiên cứu chính đã nhanh chóng đáp ứng được những bức thiết mà thời đại đang đặt ra Sự ra đời của triết học hiện sinh đầu thế kỉ XX đối với đời sống tinh thần của người dân châu Âu thời bấy giờ được xem như “một tiếng sấm vang động cả trời đất, lay động xã hội Tây phương một cách mạnh
mẽ chưa từng thấy trong lịch sử” [22;7] Chúng ta có thể mượn lời tuyên ngôn
nổi tiếng của V.Bela: “Thế kỉ XIX: Thế giới là tôi Thế kỉ XX: Tôi không phải là thế giới” (chuyển dẫn theo [14;192]) để tổng kết cho sự bừng ngộ của thời đại sau khi triết học hiện sinh ra đời
Trang 18Từ điển lịch sử văn hóa thế kỉ XX, triết học hiện sinh được định nghĩa là “triết
học về nỗi lo tồn tại của con người”, là “triết học về con người” [22;8]
Triết hiện sinh đặt con người và ý nghĩa cuộc nhân sinh làm đối tượng nghiên cứu chính yếu Con người trong triết học hiện sinh là con người cụ thể, riêng biệt, độc đáo với chủ thể tính và tự do tính (không phải con người chung, phổ quát theo quan niệm của Aristoteles) Triết học hiện sinh còn được gọi là triết học hành động, nhập thế Con người sống, quyết định, hành động
vì những gì “tôi” cảm thấy cần phải làm chứ không vì thấy người khác làm hay vì người khác nghĩ “tôi” phải làm, không phải vì “tôi” sợ người này hay
sợ người kia, càng không phải vì những mục đích đê tiện hay thói quen Hành động là cách “tôi” thể hiện ý nghĩa cuộc đời của mình, “làm cho bản thân
mình thêm phong phú và định mệnh của mình thêm quý trọng” [22;30]
Triết học hiện sinh hay còn được gọi là triết học của sự bừng tỉnh Tại sao lại bừng tỉnh và bừng tỉnh về điều gì? Nếu như triết học truyền thống coi
vũ trụ là đối tượng để khám phá và con người chỉ là một trong hàng vạn vật, khuyến khích con người quên mình để tìm hiểu về những lẽ huyền vi của tạo hóa; con người bị bỏ quên, mờ hóa, nhạt nhòa thì triết hiện sinh lại dạy con người biết suy nghĩ về thân phận làm người của mình Con người trăn trở về
chính mình, về lí do tồn tại của mình trên cõi đời: Ta là ai? Cuộc đời ta rồi sẽ
đi đến đâu? Kết thúc thế nào? Ta kiếm tìm điều gì ở cuộc sống và đời có đáng sống không? Những câu hỏi thôi thúc các nhà hiện sinh chủ nghĩa đi tìm câu
trả lời cho ý nghĩa đích thực của sự tồn tại
Mỗi con người hiện sinh phải là một nhân vị độc đáo Con người hành động để khẳng định cá tính, sự sáng tạo và bản lĩnh của mình Độc đáo chính
là một đề tài lớn của triết hiện sinh nhưng “độc đáo không có nghĩa là lập dị,
Trang 19và ngang tàn không có nghĩa là phá phách” [22;28] Con người hiện sinh nhìn
rõ khả năng và giới hạn của bản thân mình trước những thử thách của cuộc sống Vì vậy họ biết tận dụng khả năng, vượt qua giới hạn để thể hiện ý nghĩa cuộc nhân sinh, khẳng định cái “tôi” hoàn toàn khác biệt Nếu mỗi người đều
ý thức và hành động để khẳng định bản thân như những nhân vị độc đáo thì sẽ tạo nên một thế giới nhân sinh đầy ý nghĩa và nhân bản
Ở mỗi thời điểm, với những điều kiện nhất định, sự lựa chọn hành động
là cách thể hiện cá tính và ý nghĩa cuộc đời, là cách để người hiện sinh tạo nên giá trị và định mệnh riêng của bản thân Mỗi hành động đều mang một giá trị hiện sinh trung thực vì mỗi hành động đều đòi hỏi một ý thức thận trọng và một tinh thần trách nhiệm cao cả Không chỉ có chủ thể tính, người hiện sinh còn có tự do tính Triết hiện sinh coi trọng tự do cá nhân, đề cao tính độc lập, sáng tạo, tính tự chịu trách nhiệm của mỗi người: tự do quyết định, tự mình đảm nhận định mệnh của mình – một định mệnh tự do, độc đáo nhưng cũng rât đỗi cô đơn bởi không ai sống thay và chết thay ta được
Trải qua những tranh luận và nhầm lẫn, đến nay chủ nghĩa hiện sinh đã
có vị trí chắc chắn trong đời sống xã hội và đi vào lịch sử triết học hiện đại Tâm thức hiện sinh vẫn không ngừng vươn xa trong tư duy của con người hiện đại
1.1.3 Những nội dung chính của triết học hiện sinh về con người
Phong trào hiện sinh là một phong trào rộng lớn, gồm nhiều khuynh hướng khác nhau Nhưng vượt lên mọi sự khác nhau, tất cả các triết gia hiện sinh đều thống nhất trong quan niệm: triết hiện sinh không phải là khoa học
tìm hiểu những nguyên lí, quy luật của tự nhiên mà là khoa học tìm hiểu
những vấn đề hiện tại của đời sống con người Đề tài duy nhất của triết hiện
sinh là con người tại thế, độc đáo, cô đơn, luôn nhận thấy những giới hạn và
nỗ lực vượt qua giới hạn Con người luôn cố gắng vì nỗi sợ hãi bị lãng quên
Trang 20đã chỉ ra những phạm trù của triết hiện sinh Trong cuốn Triết học hiện sinh,
tác giả Trần Thái Đỉnh đã tổng quát lại một số phạm trù hiện sinh chính yếu:
- Buồn nôn: chỉ thái độ của người hiện sinh trước vẻ vô lí và vô ý nghĩa của một cuộc đời không lí tưởng, không ý thức về định mệnh tồn tại của mình Buồn nôn chỉ cảnh sống của những người chưa vươn lên tới mức đích thực, còn sống như cỏ cây và động vật chứ chưa cố gắng sống để chứng minh bản lĩnh làm người của mình "Sống như sinh vật là một buồn nôn cho triết gia hiện sinh đã ý thức sâu xa về nhân vị con người" [22;42] Những người
sống mà không biết mình sống để làm gì, Sarte gọi là hiện hữu chứ chưa phải
là hiện sinh, tồn tại chứ chưa phải là sống Bản thân những người đó không ý
thức được sự nhàm chán và "buồn nôn" của cuộc đời mình còn những người
đã ý thức sâu xa được địa vị làm người của mình thì cảm thấy "khó chịu" bởi
vẻ tầm thường và vô nghĩa lí ấy "Buồn nôn làm cho chúng ta vùng dậy, bỏ trạng thái sự vật để vươn lên thiên chức làm những nhân vị tự do và tự trách nhiệm" [22;44] Điều này làm nên ý nghĩa nhân bản của tư tưởng hiện sinh
- Phóng thể: nguyên nghĩa dịch từ tiếng Pháp là "hóa thành cái khác", thành người khác Phóng thể là tình trạng những con người chưa tự ý thức mình là những nhân vị độc đáo, họ sinh hoạt như mọi người và hành động chỉ
vì người khác bảo mình làm hoặc nghĩ mình phải làm chứ không phải vì mình muốn hay cần làm để khẳng định bản ngã của mình Phóng thể làm mất bản ngã của con người, làm con người sống yên trong một trạng thái gần như sự vật, là căn nguyên của cuộc sống tầm thường, nhạt nhẽo và vô nghĩa
- Ưu tư: là trạng thái thức tỉnh và suy nghĩ của con người khi đã tỉnh ngộ để bắt đầu hối cải và vươn lên một cuộc sống có ý nghĩa hơn Ưu tư "là xao xuyến, băn khoăn về tương lai chưa rõ rệt" [22;47] Con người hiện sinh
Trang 21biết rằng tương lai đầy huyền nhiệm với bao điều chờ đợi mình phía trước, chờ đợi những quyết định, lựa chọn và hành động của mình Nếu ta để người khác hoặc đoàn thể quyết định thay ta nghĩa là ta đã từ chối địa vị con người chủ thể và tự do của mình Tất cả cuộc sống của ta, hạnh phúc và đau khổ, thành công hay thất bại đều lệ thuộc vào quyết định của ta nên ta ưu tư, ta hiểu và ý thức một cách bi đát rằng cuộc đời của ta, sự sống của ta do chính ta đảm nhiệm, người khác có thể lo lắng cho ta nhưng không làm thay ta tất cả
- Tự quyết: là tự chọn cho mình con đường làm người tự do dù cực khổ chứ không làm người nô lệ chỉ để thỏa mãn sự sung sướng của bản thân Con người chấp nhận những giới hạn của định mệnh và sẵn sàng vượt qua những giới hạn để dấn thân vào một cuộc đời nhiều khó khăn hơn Mỗi quyết định đều ghi một bước tiến, để lại dấu ấn trong cuộc đời mỗi người; tự quyết chứng minh rằng tôi là một chủ thể tự do và có thể đảm nhiệm về hành động của mình
- Vươn lên: đề tài vươn lên phát sinh dưới ngòi bút Kierkegaard và được phát triển một cách sâu xa ở Sartre và Marcel Theo Marcel: “Dừng lại ở cái mình có, là tự đẩy mình xuống vũng sa lầy của tự phụ và tự đại” [22;52], bởi vậy con người cần không ngừng vươn lên khỏi những gì mình đang có Sống với những gì mình có mới chỉ là biết đến phạm trù “chiếm hữu” mà không bao giờ biết đến phạm trù “hiện hữu” nghĩa là không ý thức được về nhân vị của mình để không ngừng vươn lên thoát khỏi tình trạng tầm thường của những cái sở đắc Con người sống mà không biết cố gắng vươn lên thì cũng giống như tình trạng bị cứng đọng, sa lầy, tụt hậu, kém cỏi Nhưng vươn lên không có nghĩa là thắng người này hay người khác mà chính là “thắng chính mình: mình phải vươn lên trên cái mình của hôm qua và cái của lúc nãy” [22;53] Đó chính là tinh thần vươn lên tích cực của triết học hiện sinh
Trang 22mà luôn quan niệm mỗi người là một đơn vị của nhân loại - những đơn vị giống nhau, không có điểm khác biệt Triết hiện sinh lay tỉnh con người, nhắc nhở mỗi người phải biết mình là một, là riêng, là độc đáo và mình phải sống làm sao để hoàn thành định mệnh độc đáo đó: “Con người hiện sinh đích thực
là con người làm nên lịch sử của mình vì nó tự đảm nhận mọi hành vi của mình và đảm nhiệm luôn cả cuộc sống của mình" [22;55] Người hiện sinh khi ý thức về tính độc đáo thường tự cảm thấy cô đơn vì con người phải sống cuộc sống của chính mình, sống theo cách của mình chứ không theo cách của người khác Vậy người hiện sinh là người dám chấp nhận và đảm nhiệm nỗi
cô đơn để khẳng định nhân vị độc đáo bằng cách phát huy tất cả hững khả năng riêng biệt của “tôi” mà chỉ mình “tôi” biết phải làm thế nào để có thể đạt đến mức hoàn thiện
E Mounier trong cuốn Những chủ đề triết hiện sinh sau khi khảo cứu
về các trào lưu của triết học hiện sinh đã khái lược tư tưởng hiện sinh thành mười hai luận đề chính Những luận đề này có ý nghĩa quan trọng làm nên diện mạo và chứng tỏ sự phát triển sôi nổi của các trào lưu hiện sinh, giúp mỗi người nhìn nhận lại cuộc sống của chính mình để suy ngẫm nhiều hơn và cũng không ngừng hi vọng về thân phận làm người của mình
- Sự ngẫu nhiên của cuộc sống con người: việc xuất hiện và tồn tại
của mỗi người là một ngẫu nhiên của đời sống Ngẫu nhiên xuất hiên, ngẫu nhiên mất đi, đó là một sự thật hiển nhiên không dễ có câu trả lời thỏa đáng Như vậy, con người không thể không thừa nhận sự hư vô bao quanh cuộc sống của mình
- Sự bất lực của lí trí: ý niệm này bắt đầu được nêu lên từ B Pascal Lí
trí của con người là một phần rất quan trọng giúp con người cấu tạo định
Trang 23mệnh của mình nhưng nó cũng có những giới hạn nhất định Trước mọi việc, con người luôn dùng lí trí để phân tích Nhưng lí trí đôi khi lại bất lực trong việc tìm hiểu vận mệnh của bản thân con người Trong cuộc sống có những điều con người lựa chọn và quyết định theo tiếng gọi của trái tim mà lí trí không thể nào lí giải được
- Sự nhảy vọt của con người: Triết hiện sinh được xem là một triết học
can đảm dù là can đảm trong tuyệt vọng Hiện sinh thức tỉnh con người giúp
họ nhìn thẳng vào nỗi bi đát của mình nhưng không phải để con người cầu an trong đau khổ mà là triết lí hành động Con người hiện sinh phải là con người dám nhìn thẳng vào nỗi bi thiết của mình để hành động, tự tạo nên cuộc đời mình bằng cách tiến vượt, nhảy vọt trong từng giây phút Con người luôn vượt lên cái mình hiện là, hướng tới cái mình sẽ là Vì vậy, hiện sinh đặt con người vào đúng vị trí và là một thứ triết học lạc quan cổ vũ cho sự cố gắng của con người
- Sự dồn ải của cuộc sống con người: Heidegger nói mỗi ngày tôi sống
là mỗi ngày tôi tiến gần sự chết, ngay từ khi sinh ra đã đủ tuổi già để chết Ý thức được điều này nên con người thường âu lo, xao xuyến về thân phận làm người của mình, về sự hữu hạn của cuộc đời, về sự dồn ải của thời gian, vì những giới hạnh mong manh giữa sự sống và cái chết
- Sự phóng thể (sự vong thân, tha hóa): Con người luôn đứng trước
nguy cơ bị phóng thể, biến thành kẻ khác Bị người khác phóng thể hoặc do chính bản thân phóng thể Bị người khác phóng thể là theo quan niệm của triết học tự nhiên nghĩa là coi con người như muôn ngàn sự vật, tồn tại như cỏ cây, động vật Chính bản thân phóng thể là con người đánh mất mình đi, sống buông trôi theo phong trào hay theo đuôi người khác, dùng thân xác mình để sống cuộc sống của người khác - sự tồn tại vô giá trị Tiếp xúc với tha nhân, với thế giới bên ngoài làm rơi mất, làm biến đổi những gì đã có trong bản tính
Trang 24nhiên của mình
- Đời người có hạn, thần chết lại vội vã: các triết gia hiện sinh nói
nhiều về sự chết - một sự thật hiện hữu mà con người muốn quên đi Tự đảm nhiệm cái chết của mình là điều không ai tránh khỏi và không ai làm giúp được ai Vì thế, người hiện sinh cần phải sống cho ra sống, “sống để luôn chờ chết trong mọi nơi, mọi lúc và nhìn thẳng vào mặt người đồng hành từng giây từng phút” [57;70] Targo – nhà thơ vĩ đại của Ấn Độ đã từng suy nghiệm rất hay về cái chết và cuộc sống con người: thần Chết là người bạn thủy chung nhất của con người, luôn ở bên con người ngay từ lúc con người có mặt trên đời, và con người phải sống như thế nào để khi thần Chết gõ cửa chúng ta không phải ân hận vì không có gì làm quà tặng cho Người Cuộc hiện sinh dẫn dắt con người đến một cách sống thực thụ và dày ý nghĩa: đời người không phải hơn nhau ở sự dài ngắn mà ở việc ta đã làm trong quãng thời gian
ta sống
- Sự cô độc và bí mật: Nếu như cái chết là người bạn đồng hành chung
thủy nhất của con người thì cô độc lại như một thứ quà tặng vĩnh cửu của con người, là định mệnh của mỗi người Khi con người không ngừng cố gắng vượt lên để khẳng định bản ngã độc đáo của mình cũng là lúc con người vươn tới sự cô đơn tuyệt đối Giao tiếp với tha nhân là điều tất yếu trong cuộc sống nhưng chưa khi nào đủ sức khỏa lấp những chỗ trống trong tâm hồn mỗi người Dù yêu thương và thấu hiểu nhau đến mấy, con người vẫn không thể nào có được sự cảm thông tuyệt đối của tha nhân, mỗi người vẫn luôn là một thế giới đầy bí mật
- Sự hư vô: hư vô là một trong những luận đề chính yếu của triết học
hiện sinh Sartre nói: “Đời người là một đam mê vô ích” Con người luôn
Trang 25hướng tới cái tuyệt đối nhưng sự thật không bao giờ đạt đến được điều đó Nhưng dù sao vẫn phải cố gắng tiến lên Ý nghĩa đích thực của một cuộc hiện sinh là luôn vươn tới cái tuyệt đối để rồi cảm thấy thất vọng hoàn toàn vì không bao giờ chạm tới chân lí Cuộc sống chỉ có ý nghĩa và thúc đẩy khát vọng sống của con người khi tiệm cận với hư vô
- Sự cải hóa: cuộc sống của mỗi con người là do cá nhân đó tạo ra bằng
bản tính và hành động của mình Trong cuộc sống, con người thường hòa vào cuộc sống của mọi người, tự cho mình thuộc về thế giới đó, giống như tất cả những người khác và không nghĩ rằng mình bị hòa tan vào thế giới của tha nhân, của cộng đồng, đánh mất con người riêng của mình Để có một cuộc hiện sinh đúng nghĩa, con người cần không ngừng cố gắng, dấn thân, nhập cuộc để tự mình làm nên cuộc đời của mình, bản chất của mình
- Vấn đề nhập thể (gia nhập, dấn thân, tham gia): Con người cần phải
tự đảm nhận trách nhiệm lựa chọn, tham gia, hành động để tạo nên vận mệnh của mình bằng một tinh thần tự do, chủ động, tích cực Đó mới chính là hiện hữu, là chứng tỏ sự tồn tại của mình trước cuộc đời
- Vấn đề tha nhân: con người sống trong mối tương quan với những
người khác và luôn đứng trước mâu thuẫn giữa khát vọng hòa nhập, thông cảm với tha nhân và nguy cơ bị tha hóa, biến thành tha nhân
- Đời sống dám liều: để khẳng định một cuộc sống ý nghĩa, con người
hiện sinh cần hành động, dám liều, dám sống theo ý mình dưới con mắt soi dõi, phán xét của tha nhân
1.2 Con người cô đơn trong văn học hiện sinh
1.2.1 Khái quát về phong trào văn học hiện sinh thế giới
Triết hiện sinh là triết học của đời sống Văn học lại là tấm gương phản chiếu những diễn biến của đời sống Vì vậy, lĩnh vực đầu tiên mà triết hiện sinh thể hiện là văn học và được bộc lộ rõ rệt như một trào lưu ở Pháp thời kì
Trang 26trong và ngay sau Đại chiến thế giới II (1945 – 1960) Văn học hiện sinh chịu ảnh hưởng sâu sắc từ những tư tưởng của triết học hiện sinh và có ý nghĩa quan trọng trong việc thức tỉnh con người về thân phận làm người của mình
Văn học chính là phương tiện quan trọng để triết hiện sinh truyền đạt tư tưởng và cũng nhờ sự khai mở của tư tưởng hiện sinh mà văn học trở nên sâu sắc hơn Con đường đến với công chúng của tư tưởng hiện sinh là con đường văn chương (thông qua tiểu thuyết, kịch, báo chí) đã gợi hứng cho đông đảo công chúng những ý nghĩ về cuộc đời, để làm sao sống một cuộc đời ý nghĩa hơn Jean – Paul Sartre và Simond de Beauvoir là những nhà văn, đồng thời là những nhà triết học hiện sinh tiêu biểu Một số tác giả đi vào phân tích sáng tác nghệ thuật nghĩa là việc của những nhà lí luận, phê bình như Heidegger, Chestov, Marcel Những bậc tiền bối của tư tưởng hiện sinh đồng thời cũng là những nhà văn tên tuổi như Pascal, Nietzsche
Tác phẩm văn học hiện sinh không đơn thuần là phương tiện chuyên chở triết học hiện sinh mà là một bộ phận của triết học hiện sinh Bản thân các tác phẩm văn học hiện sinh có một đời sống độc lập với triết học hiện sinh khi
nó đạt đến những giá trị thẩm mĩ đích thực
Văn chương hiện sinh đã từng có ở châu Âu, Mỹ và Nhật Bản vào những năm 1940 – 1960 của thế kỉ XX, tuy vậy rất khó để định nghĩa thế nào
là văn chương hiện sinh Sau thế chiến thứ II, triết học hiện sinh trở nên rầm
rộ và văn học nhuốm màu thời đại Điều này cho thấy đặc điểm thời đại bao giờ cũng được ghi dấu trong văn học Phong trào văn học hiện sinh cũng phức tạp như trào lưu tư tưởng triết học hiện sinh vậy
Sau thế chiến II, tâm trạng chung của con người là hoang mang, hoài nghi, đổ vỡ… Kiếp người trở nên mong manh, lí trí con người không đủ khả năng lí giải vận mệnh của mình Khoa học duy lí không khỏa lấp được cảm quan về nỗi cô đơn thường trực của con người Các nhà văn coi Dotoevsky là
Trang 27khởi điểm của thuyết hiện sinh xuất phát từ quan niệm con người sẽ được làm tất cả nếu Thiên Chúa không hiện hữu
Kafka - một trong những người mở đường cho sự phát triển của chủ nghĩa hiện đại trong văn học, được coi là bậc tiền bối của văn học hiện sinh Thế giới trong sáng tác của Kafka là một thế giới nghệ thuật độc đáo, không phải là cách phản ánh hiện thực theo truyền thống của chủ nghĩa hiện thực
Đó là một hiện thực có thực nhưng không phải ai cũng dễ dàng nhìn ra nó, được phản ánh qua một thế giới huyền hoặc, phi lí khó nắm bắt
Văn học hiện sinh phát triển thành một phong trào nhờ sự đóng góp của nhiều tên tuổi, trong đó có nhiều nhà triết học đồng thời là nhà văn như J.P Sartre, Simone de Beauvoir, Merleau – Ponty, số khác là những nhà văn thuần túy nhưng trong tác phẩm của họ lại mang đậm tính luận đề triết học hiện sinh như: Hermann Hesse, A Camus, F Kafka, Miguel de Unamuno, Andre Malraux,…
Việc định hình phạm vi tồn tại của văn học hiện sinh là điều khó thực hiện bởi trong quá trình phát triển, trào lưu này có sự biểu hiện phong phú theo mỗi nhà văn Hơn nữa, văn học hiện sinh là một phong trào rộng lớn, không cô lập trong một không gian, thời gian nhất định mà có sức lan tỏa rộng đến nhiều khu vực trên thế giới Ở nhiều quốc gia phương Đông cũng xuất hiện những tác phẩm mang thuyết đề hiện sinh Nhật Bản là một điển hình với các tên tuổi như Abe Kobo, Kawabata, Murakami… Thời đương đại, chủ nghĩa hiện sinh vẫn ẩn tàng trong sáng tác của một số tác giả với sự ám ảnh về cái phi lí, về thân phận con người trước một thế giới xa lạ
1.2.2 Những nội dung cơ bản trong văn học hiện sinh
Giống như triết hiện sinh, văn học hiện sinh đặc biệt quan tâm đến những vấn đề về thân phận con người, tự do cá nhân, tính độc đáo, sáng tạo ở mỗi cá nhân… Văn học hiện sinh miêu tả những trạng thái mang tính triết học
Trang 28của tồn tại như sự phi lí, buồn nôn của những cuộc đời tầm thường, tẻ nhạt; thức tỉnh con người vươn lên dấn thân vào một đời sống nhân vị để thực hiện
sứ mệnh làm người cao cả
Văn học hiện sinh cũng gặp gỡ với triết học hiện sinh trong việc thể
hiện nỗi cô đơn thường nhật của con người Con người từ khi sinh ra đã cô
đơn, được/ bị đặt vào một thế giới hoàn toàn xa lạ - con người không thể nương tựa, nhờ cậy ai giúp đỡ mà tự mình phải đảm nhiệm lấy cuộc sống của mình, tự suy nghĩ, lựa chọn và quyết định con đường đi cho mình
Các nhà văn hiện sinh cũng chú trọng vào tình trạng xung khắc của con
người Đây là vấn đề của con người hiện đại khi xung khắc với Thượng đế,
với thiên nhiên, với tha nhân và với chính bản thân mình Sự phát triển của đời sống kinh tế và các sản phẩm kĩ nghệ hiện đại dần tạo ra một thế giới khép kín giữa người với người Con người ngày càng phải đối diện với nguy
cơ cằn cỗi của đời sống tinh thần, tình cảm Văn học hiện sinh đã sáng tạo nên những nhân vật mất dần khả năng cảm nhận tình yêu, tình bạn hay cả những
tình cảm thiêng liêng như tình mẫu tử Meursault trong Người xa lạ trong
ngày dự lễ an táng của mẹ mình không hề tỏ lộ nỗi đau đớn tang thương khi mất đi người thân yêu quý nhất…
Sự xung khắc này tạo nên bức tường ngăn cách khó vượt qua giữa người với người, và cũng có thể là nguyên nhân cho cách đối xử tàn bạo của con người, cho những bất công trong xã hội Văn học hiện sinh xuất hiện
nhiều kiểu nhân vật “kẻ xa lạ” như: Meursaul (Người xa lạ), Martha (Ngộ
nhận) của Camus, Roquentin (Buồn nôn) của Sartre Sự xung khắc đã tạo ra
những giới hạn, cô lập người với người làm cho quan hệ đó ngày càng trở nên khô cứng
Văn học hiện sinh cũng viết nhiều về nỗi lo âu, sợ hãi của con người
trước những định mệnh nghiệt ngã của số phận Sụp đổ niềm tin, sự hoang
mang về cuộc sống, nỗi lo lắng tương lai là những gì còn lại với con người hiện
Trang 29đại sau những đổ vỡ và biến động của thế giới Con người dường như chỉ còn lại hư vô, hoang mang, lo lắng sau tất cả những nỗ lực tìm kiếm sự liên hệ với Thượng đế, thiên nhiên, đồng loại và với chính mình nhưng không thành
Các nhà văn mang tư tưởng hiện sinh đã thể hiện sâu sắc các vấn đề trên trong sáng tác của mình Kierkegaard viết những đoạn văn về nỗi tuyệt vọng khi người ta muốn chết nhưng không thể chết được Hemingway thể hiện sự trống rỗng của con người, cảm giác trống rỗng trong đời sống dẫn đến nỗi bi quan, tuyệt vọng của con người hiện đại Cuộc đời của nhiều nghệ sĩ cũng là minh chứng cho điều này, họ đã tìm đến tự sát như là cách giải thoát duy nhất khỏi cuộc đời theo họ là không thể sống nổi: Enest Hemingway (1899 – 1961), Kawabata Yasunari (1899 – 1972), David Foster Wallace (1962 – 2008)…
Trào lưu hiện sinh chủ nghĩa trong văn học đã hoàn thành sứ mệnh lịch
sử trong việc thể hiện những vấn đề của thời đại chúng ta Và văn chương hiện sinh vẫn còn ở lại với chúng ta bằng các biểu tượng, bằng sự cách tân hình thức thể hiện, bằng những linh cảm của nhà văn về tương lai, bằng sự nắm bắt cảm thức thời đại…
1.2.3 Tư tưởng hiện sinh trong văn học Nhật Bản
Chủ nghĩa hiện sinh trong văn học Nhật Bản không nở rộ như một trào lưu ở phương Tây mà tồn tại riêng lẻ như những yếu tố trong tác phẩm hay trong phong cách của một tác giả Tuy vậy, những yếu tố hiện sinh xuất hiện trong sáng tác của một số nhà văn Nhật Bản lại mang tính tiêu biểu và có những biểu hiện đặc sắc Nhật Bản là một quốc gia phương Đông và trong một thời gian dài trước đó, đã chịu ảnh hưởng của văn hóa, văn minh Trung Hoa Vì vậy, nước Nhật vẫn mang trong mình những nét lịch sử, văn hóa, quan niệm về con người khác biệt với Tây phương Cần thấy rằng chủ nghĩa hiện sinh trong văn học phương Tây khi vào Nhật Bản đã tạo ra những nét
Trang 30riêng, mang hồn cốt của con người, của một dân tộc dù đã Âu hóa nhiều song vẫn còn những bản sắc Á Đông rõ rệt
Mặc dù không phát triển thành trào lưu mạnh mẽ và phổ biến như ở Pháp, nhưng văn học hiện sinh Nhật Bản đã tồn tại và đạt được những thành tựu nổi bật ở một số tác giả, trong đó phải kể đến nhà văn Abe Kobo Abe Kobo đã miêu tả trong tác phẩm của mình một xã hội với những biến chuyển, làm cho mọi giá trị dường như bị đảo lộn, các mối quan hệ xã hội bị biến đổi, con người bị ghẻ lạnh Họ rơi vào sự cô đơn, muốn tìm lại bản thể của mình Điểm tựa để con người không sa vào bế tắc tuyệt đối đó là sức mạnh của bản thân, là ý chí vùng dậy để thoát khỏi hoàn cảnh bằng hành động của mình Điều này làm nên sắc thái riêng của chủ nghĩa hiện sinh trong tác phẩm của Abe Kobo Ông được coi là nhà văn có tư tưởng tiên phong, đi trước thời đại của văn đàn Nhật Bản thế kỉ XX Thông qua các biểu tượng và ẩn dụ, Abe Kobo muốn đặt vấn đề cái hiện tồn, hiện sinh của con người trong xã hội tư bản công nghiệp
Nước Nhật thời hậu chiến với nhiều đổi thay khiến con người ngày càng hoài nghi vào một trật tự do Thượng đế tạo ra, vào sự tồn tại của Thượng đế Mỗi nhà văn với nhãn quan của mình đã phản ánh hiện thực xã hội theo những cách khác nhau Với Kawabata, vẻ đẹp truyền thống của xứ Phù Tang luôn luôn hiện diện với Thiền, thơ Haiku, truyện Genji, vườn đá, trà đạo… đó là “thế giới của cái đẹp, là chiếc gương soi của cái đẹp”
Luồng gió phương Tây đã thổi vào nước Nhật một thứ sinh khí mới, làm cho những yếu tố nội sinh thức dậy quật cường, đưa đất nước phát triển theo xu thế hiện đại Nhưng mặt khác, Nhật Bản cũng mang trong mình một cốt lõi văn hóa phương Đông rắn chắc, luôn hấp thụ các nhân tố bên ngoài và
tái sinh ở những dạng thức khác chứ không sao chép y nguyên
Trang 31Như vậy, nguồn sách dịch văn học phương Tây vào Nhật Bản và ảnh hưởng của trào lưu hiện sinh chủ nghĩa trong văn học thế giới đã nhanh chóng lan rộng vào nước Nhật Văn học hiện sinh Nhật Bản tuy không phát triển thành trào lưu nở rộ và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống văn học trong nước và thế giới như văn học hiện sinh Pháp nhưng cũng đã đạt được thành tựu đáng kể với những tên tuổi đáng chú ý nhất là: Abe Kobo, Oe Kenzaburo, Murakami, Kawabata
1.3 Tiền đề cho sự xuất hiện con người cô đơn trong sáng tác của Kawabata
1.3.1 Yếu tố đất nước và con người Nhật Bản
Về vị trí địa lí, Nhật Bản là một nước thuộc khu vực Đông Á – khu vực tách biệt nhất trong số các nền văn minh cổ xưa, bị cô lập hẳn so với khu vực
Ấn Độ, Trung Đông, Địa Trung Hải bởi những dãy núi và hoang mạc ở Trung
Á, những khu rừng già trập trùng ở Đông Nam Á và bán đảo Mã Lai Chính
sự xa cách và biệt lập về địa lí đã tạo nên sự khép kín trong giao thương với bên ngoài của những đất nước thuộc khu vực này
Thuộc về vùng Đông Bắc Á, nước Nhật được tạo nên bởi các hòn đảo trong đó có bốn đảo lớn là: Hốckaiđô, Kiuxiu, Hônsu và Xicôcư Nhật Bản vì thế còn được gọi là đảo quốc, bốn mặt đều được bao bọc bởi biển Không chỉ nhiều đảo lớn nhỏ được tạo từ các dãy núi ngầm, Nhật Bản còn có tới 73% diện tích tự nhiên là đồi núi trong đó không ít là núi lửa Nằm tại vị trí tiếp xúc của một số đĩa lục địa nên Nhật Bản hay có động đất, đôi khi là sóng thần Nhật Bản không tiếp giáp quốc gia hay lãnh thổ nào trên đất liền Từ Nhật Bản đến Triều Tiên là một trăm dặm, đến Trung Quốc là năm mươi dặm Với vị trí địa lí như trên cộng với sự hạn chế về phát triển giao thông, khoa học kĩ thuật nên vào thời cổ đại, trung đại và cận đại, sự giao lưu tiếp xúc với bên ngoài của người Nhật rất hạn chế
Những đặc điểm riêng biệt về địa lí và sự khắc nghiệt của tự nhiên đã hình thành ở người Nhật những nét tính cách điển hình như: tính chủ động,
Trang 32tích cực, linh hoạt, khả năng tự lập, dựa vào nội lực là chính, đoàn kết, ý thức
kỉ luật cao, tự trọng, sự nỗ lực với ý chí không mệt mỏi đồng thời còn là những “cái tôi” cá thể, độc lập, cô đơn, khước từ tha nhân và xã hội Tính chủ động, tự quyết là một đặc điểm rất nổi bật của người Nhật Mang trong mình
sự dũng mãnh và lòng quả cảm của các Samurai “bất khả chiến bại” từ ngàn xưa, mỗi người Nhật đều là biểu hiện cho một cuộc sống tự quyết định, lựa chọn hướng đi để khẳng định mình Tính chủ động, tích cực và tinh thần trách nhiệm của mỗi người dân Nhật đã tạo nên cho Nhật Bản một sức mạnh thần
kì để bật dậy sau cuộc Duy tân Minh trị và hồi sinh mạnh mẽ sau hai cuộc chiến tranh thế giới
Một điều không thể không nhắc đến khi nói về người Nhật đó là nỗi cô đơn Nhật Bản là quốc gia dẫn đầu thế giới về số người tự tử - phần lớn là những người trẻ tuổi cô đơn, bế tắc, mất phương hướng trong cuộc sống Nỗi
cô đơn trầm mặc trong đời sống tâm hồn và sự cô lập, khép kín với tha nhân
là một nét tiêu biểu trong tính cách của người Nhật Với Kawabata, lối sống này một mặt ảnh hưởng đến ông, tác động vào tư tưởng, quan điểm sáng tác mặt khác nó chính là chất liệu cho những sáng tác đậm niềm bi cảm, cô đơn của ông
1.3.2 Yếu tố văn hóa, văn học truyền thống Nhật Bản
1.3.2.1 Từ nền văn hóa giàu bản sắc
Với việc đề cao cái đẹp trong mọi lĩnh vực của đời sống, văn hóa Nhật cũng thường nói đến chín nguyên tắc thẩm mĩ đó là:
* Wabi-sabi nghĩa là không hoàn hảo, không vĩnh cửu Với người Nhật,
không hoàn hảo là điều tất yếu trong cuộc sống và việc thừa nhận sự không
hoàn hảo đó sẽ làm cuộc sống thú vị hớn rất nhiều Wabi – sabi cũng có nghĩa
là không vĩnh cửu (như vẻ đẹp của hoa anh đào) vẻ đẹp không kéo dài mãi
Trang 33mãi Ở điểm này, nguyên tắc wabi – sabi cũng có nét tương đồng với tư tưởng
hiện sinh
* Myiabi có nghĩa là sang trọng hay thanh lịch, nghĩa là loại bỏ những
điều thô tục Trong văn hóa ứng xử của người Nhật, việc mạt sát người khác
là điều không thể chấp nhận được
* Shibui là đơn giản, tinh tế, không phô trương Shibui còn chỉ sự nhỏ
nhắn, dễ thương và những gì trên gương mặt chúng ta đều được cho là đẹp Nguyên tắc thẩm mĩ này phần nào cũng tương đồng với tư tưởng hiện sinh ở khía cạnh con người cần biết trân trọng bản thân mình, mỗi người đều là hiện thân của vẻ đẹp riêng, sự độc đáo riêng
* Iki được hiểu là độc đáo Thực chất văn hóa Nhật không tán dương sự
độc đáo, vì vậy với người Nhật, iki phải là vừa độc đáo vừa tinh tế
* Jo – ha – kyu có thể được hiểu là bắt đầu từ từ - tăng tốc và kết thúc
đột ngột Nguyên lí này chủ yếu được áp dụng trong nghệ thuật trà đạo của Nhật Bản, sau đó mở rộng sang lĩnh vực võ thuật và hiện nay là phim ảnh, âm nhạc, quảng cáo
* Yugen có nghĩa là bí ẩn Theo quan niệm này, cuộc sống sẽ trở nên
nhàm chán nếu không có những bí mật Và chúng ta nên tạo ra sự bí ẩn bằng cách giữ kín một vài điều gì đó
* Geido (kỉ luật và đạo đức): Người Nhật quan niệm đạo đức và nghệ
thuật làm nên sự cuốn hút
* Ensou (khoảng trống): được hiểu là khoảng không gian thanh tịnh
Nó được đại diện bởi một vòng tròn, còn được hiểu là vô cực
* Kawai là dễ thương Đây là quan niệm thẩm mĩ hiện đại mà người
Nhật còn đang tranh cãi
Văn học Nhật Bản truyền thống có bốn nguyên lý thẩm mỹ: wabi (vẻ đẹp giản dị đời thường), sabi (vẻ đẹp mang dấu ấn thời gian), aware (vẻ đẹp u
Trang 34buồn) và yugen (vẻ đẹp u huyền) đều là những quan niệm thẩm mỹ chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tôn giáo Nhật Bản Trong đó, aware và mono no aware là khái niệm mĩ học đặc biệt quan trọng với người Nhật Aware hàm chứa gần
như đầy đủ những tinh hoa và “nghịch lí” trọng yếu của tâm hồn Nhật Bản
Aware là một trực giác thẩm mỹ chịu ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo, gợi tả
cái Đẹp phù du, chóng tàn với nỗi buồn phảng phất khi chúng tàn phai Hoa anh đào chính là ví dụ hoàn hảo cho quan niệm về cái Đẹp của người Nhật: cái Đẹp mong manh thấm đượm cảm xúc vô thường của Phật giáo
Ở Nhật Bản, Phật giáo là tôn giáo chiếm số lượng tín đồ nhiều nhất (hơn 92 triệu dân) Giáo lí và cách hành xử của đạo Phật không chỉ ảnh hưởng lớn đến tính cách của người Nhật mà còn in dấu ấn rõ nét trên các sản phẩm văn hóa như: văn học, điêu khắc, kiến trúc chùa chiền, hội họa… Giữa đạo Phật và tư tưởng hiện sinh cũng có những điểm tương đồng về tư tưởng định mệnh, quan niệm về cuộc đời, về con người và mối quan hệ giữa tinh thần và
lí trí Với những hạt nhân tư tưởng như: coi cuộc đời là bể khổ, con người là thân phận nhỏ bé, đáng thương; coi cuộc hành trình tìm về bản ngã là đích tối thượng; khuyến khích con người nhận thức thế giới và bản thân mình thông qua quá trình chiêm nghiệm, suy tư… thì đạo Phật nói chung và Thiền tông nói riêng đã có những điểm gặp gỡ với quan niệm của các nhà hiện sinh phương Tây Chính sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Thiền và Thần đạo đã hình thành trong tâm thức người Nhật những yếu tố hiện sinh trước khi chủ nghĩa hiện sinh phương Tây xuất hiện Và rồi, khi gặp gỡ hoàn cảnh bi kịch, khốc liệt, khi số phận con người bị đe dọa và nhất là khi có sự giao lưu tiếp xúc với trào lưu hiện sinh phương Tây thì những yếu tố này lại biểu hiện mạnh mẽ, rõ rệt hơn bao giờ hết Đây cũng là lí do nhiều tác phẩm văn học trước Kawabata
và trước cả khi chủ nghĩa hiện sinh phương Tây xuất hiện đã ít nhiều biểu hiện tư tưởng hiện sinh
Trang 351.3.2.2 Đến nền văn học đậm niềm bi cảm
Heian được lịch sử đánh giá là giai đoạn vinh quang của văn hóa vương triều Nhật Bản, là giai đoạn văn hóa cung đình phát triển rực rỡ nhất trước khi bước vào tàn lụi Đứng trên đỉnh cao ấy, con người cảm thấy nỗi buồn sâu sắc trước một cái gì sẽ mất, sắp qua, giống như khi ta ngắm hoa anh đào, chính lúc anh đào nở rực rỡ nhất cũng là lúc chuẩn bị cho một sự lụi tàn, lả tả
Sự phát triển của Phật giáo với triết lí vô thường cũng góp phần làm cho văn học thời Heian “thấm đẫm nỗi buồn sự vật” Trong lịch sử Nhật Bản, đạo Phật được du nhập vào giữa thế kỉ thứ VII nhưng phải đến cuối thế kỉ VIII – đầu thế kỉ IX, giáo lí nhà Phật mới có tầm ảnh hưởng sâu sắc đến giới quý tộc xứ Yamato Đến vương triều Heian, với cái nhìn vô thường về cuộc sống, giới quý tộc đã truyền vào trong các sáng tác của mình nỗi buồn ngao
ngán về kiếp phù du ở trần thế Dưới cảm quan Phật giáo, họ đã thấu thị
được cái mạt thể trong cái hiện tồn
Nước Nhật được biết đến là một dân tộc có tinh thần tôn thờ cái Đẹp và tinh thần này cũng được thể hiện mạnh mẽ nhất ở thời Heian, đến mức cụm từ
“tinh thần Heian” còn được hiểu là “yêu cái Đẹp đến mức tôn sùng” Con người thời đại Heian yêu cái Đẹp là thế nhưng bản thân cái đẹp lại phù du, chỉ
là khoảnh khắc, chỉ là vô thường Vẻ đẹp mới bắt đầu cũng là lúc âm thầm nói lời li biệt Chính vì vậy mà thế kỉ X – XII, văn học mang đặc trưng rất riêng
của niềm bi cảm aware đó là: cảm thức xao xuyến hay nỗi buồn dịu dàng,
man mác trước sự tan biến của vẻ đẹp thiên nhiên, con người
Ở điểm này chúng tôi chia sẻ quan điểm và sự lí giải của tác giả Phạm Thảo Hương Ly khi cho rằng: từ buổi sơ khai trong văn học cổ - trung đại
Nhật Bản, cảm thức aware hay nỗi buồn man mác, nỗi cô đơn của con người
đã từng xuất hiện Trong Kojiki - trước tác cổ nhất ghi chép lại các huyền
thoại và truyện kể dân gian của nước Nhật từ thuở hồng hoang đến giữa thế kỉ
Trang 36VII đã có những cung bậc cảm xúc được thể hiện qua các bài ca Sau bao cuộc chinh chiến trên sa trường, Yamato Takeru – người anh hùng lừng danh – lê đôi chân què quặt về đến gần xứ sở, trong trái tim chàng chỉ còn một nỗi buồn, nỗi cô đơn mênh mông Cảm xúc ấy được thể hiện mộc mạc và chân thành qua hình ảnh cây thông đơn độc trên núi Ostu Nhà nghiên cứu Nhật Chiêu thật sắc sảo khi đã nhận định: “Kojiki chứa đựng không phải là những
sự kiện vô hồn mà là những sự thật về tâm lí đầy tính chất nhân bản, về suy nghĩ và phản ứng của con người trước nghịch cảnh” [8;26]
Truyện Genji của Murasaki Shikibu ra đời từ thế kỉ X thời Heian được
coi là tiểu thuyết theo nghĩa hiện đại đầu tiên của nhân loại, ra đời trước Đôn
Kihôtê của Tây Ban Nha và Hồng lâu mộng của Trung Quốc đến 6 thế kỉ Tác
phẩm đã đề cập đến nhiều vấn đề định mệnh, những trớ trêu của cuộc nhân sinh với con người Cảm thức về nỗi cô đơn, sự ám ảnh về cái chết và tính nghiệt ngã của số mệnh đã được thể hiện từ trong truyện Genji Kawabata
cũng từng thừa nhận Truyện Genji - kiệt tác của văn học Nhật Bản truyền
thống và nhà văn Murasaki đã có ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng và phong cách văn chương của ông
Ngoài Murasaki Shikibu, nền văn xuôi Heian còn có Izumi Shikibu Bà
để lại cho nền văn học Nhật Bản tác phẩm nổi tiếng Nhật kí Izumi Phía sau
câu chuyện tình yêu giữa “chàng” và “nàng”, tác giả Izumi đã viết về nỗi ám ảnh da diết về thời gian, về tuổi xuân và thân phận con người:
“Tôi chỉ là giọt sương Đọng mình trên ngấn lá Trên cành chơi vơi Dường như tôi đã sống Trước khi thế giới ra đời” [8;136]
hay nỗi ám ảnh về sự chảy trôi của thời gian và tuổi già:
Trang 37“Mỗi mùa đông tôi lại thấy Tuyết kia trở lại
Mới tinh, trắng ngần Nhưng mặt tôi tê tái Già đi mỗi mùa đông” [8;136]
Có thể nói, các tác phẩm thơ và văn xuôi thời đại Heian quả là một hiện tượng đẹp đẽ của nền văn học Nhật Bản, thể hiện thế giới tâm hồn giàu
có của con người với những tình cảm và xúc cảm sâu sắc nảy sinh trước những đổi thay của thế giới Những tình cảm nhẹ nhàng, man mác thể hiện sâu sắc niềm u uẩn trước sự mong manh của cái đẹp và cuộc đời Và có lẽ chỉ ở nền văn học này, nỗi cô đơn cũng được nhìn nhận như một biểu trưng của cái đẹp vĩnh hằng
Nỗi ám ảnh về sự phù du của kiếp người còn bàng bạc trong các sáng tác thời đại Edo - thời của “văn chương phù thế” Một trong hai đề tài nổi bật của văn học thời đại này là sự chối bỏ thế gian phù phiếm để khát vọng tìm về cội nguồn của cái đẹp Trong các tác phẩm về đề tài này nổi lên nỗi cô đơn vời vợi giữa tha nhân Một trong số những tác giả của nền văn học Thiền ở Nhật Bản được Kawabata rất lưu tâm là trường hợp tác giả Ikiu Tính chất tự
do, nổi loạn trong lối sống, trong phong cách văn chương và quan niệm của Ikiu về cái chết đã có sự gặp gỡ với quan niệm của các nhà hiện sinh
Trong thơ Haiku, sự gặp gỡ giữa tư tưởng Phật giáo và tâm thức hiện sinh một lần nữa lại được thể hiện rất rõ qua những cảm thức của con người
về sự chảy trôi của thời gian, về sự vô thường của cuộc đời, về thân phận mỏng manh của kiếp người Những khát khao khám phá và chủ động dấn thân của con người nhằm tìm kiếm bản chất và ý nghĩa của cuộc sống xuất hiện kín đáo nhưng phổ biến Basho được biết đến là nhà thơ Haiku nổi tiếng của văn học hiện đại Nhật Bản Trong bài thơ:
Trang 38“Nằm bệnh giữa cuộc lãng du mộng hồn còn phiêu bạt
những cánh đồng hoang vu”
ông đã thể hiện một tình yêu lớn với cuộc đời nhưng cũng thể hiện cái nhìn thấu thị về sự vô thường của tạo hóa Bài thơ được viết trước khi nhà thơ mất – đúng như dự đoán của ông ngày trước: “tôi sẽ chết trên đường, đó là định mệnh của tôi” Chính bởi sự thấu thị về quy luật của cõi nhân sinh mà người đọc không thấy ở bài thơ màu sắc tang thương mà chỉ thấy tình cảm thiết tha với cuộc sống Sinh - trụ - dị - diệt là quy luật tất yếu của tạo hóa Điều này có nét tương đồng với quan niệm về giới hạn và định mệnh của chủ nghĩa hiện sinh Cảm thức về sự vô thường một lần nữa xuất hiện trong những vần thơ của Basho:
“Trăng rụng rồi bốn góc bàn quen thuộc còn lại mà thôi”
Bài thơ không nói đến bi kịch của con người trước cái chết mà là sự cảm nhận của người nghệ sĩ trước sự sống và cái chết cũng đơn giản, bình dị như bốn góc bàn ấy Vạn vật luôn có sự vận hành thay đổi và hãy biết chấp nhận nó một cách nhẹ nhàng Tư tưởng hiện sinh thể hiện nhà thơ đã ý thức
về khả năng và giới hạn của con người, dám đối diện với những nghịch cảnh của số phận và định mệnh
Cảm thức về cái bi ai, cô tịch, trống vắng đậm chất Nhật Bản trong các tác phẩm văn học của Tazinaki, Akutagana cũng ảnh hưởng rất nhiều đến tư tưởng và sáng tác của Kawabata, gián tiếp góp phần tạo nên sự xuất hiện con người cô đơn mang tâm thức hiện sinh trong tác phẩm của ông Suốt bảy thế
kỉ sau Heian, nền văn học Nhật Bản vẫn không ngừng thể hiện nỗi ám ảnh day dứt về kiếp phù sinh với mức độ đậm nhạt khác nhau
Trang 39Ảnh hưởng sâu sắc từ Truyện Genji và tình yêu lớn với dòng văn học
nữ lưu Heian, bằng những trang viết thấm đẫm cảm xúc trữ tình, Kawabata đã thể hiện sâu sắc nỗi cô đơn của con người hiện đại với những trăn trở khôn nguôi về định mệnh, về ý nghĩa của cuộc nhân sinh, về giới hạn của thân phận con người và những khả năng để dấn thân và vượt qua giới hạn…
1.3.3 Sự tiếp xúc giữa văn hóa Nhật Bản và văn hóa phương Tây
Trong suốt thời trung đại, Nhật Bản thực hiện chính sách khép kín,
“đóng cửa”, tương đối biệt lập với thế giới bên ngoài nên vẫn giữ được những đặc điểm văn hóa truyền thống của mình Năm 1868, cùng với công cuộc Duy tân Minh Trị và việc khôi phục quyền lực thực tế của Nhật Hoàng, nước Nhật
và lối sống của người Nhật đã có những thay đổi đáng kể Sự đổi mới về kinh
tế kéo theo những biến chuyển về văn hóa và văn học nghệ thuật
Làn sóng văn hóa phương Tây du nhập vào Nhật Bản có tác động lớn làm chuyển biến nền văn học Nhật Bản thời kì cận – hiện đại Trong khi tiếp thu ảnh hưởng của các nhà văn phương Tây, văn học Nhật Bản đã hình thành những trào lưu, những trường phái khác nhau Một số nhà văn đặc biệt là thế
hệ những người trưởng thành trong và sau chiến tranh, có nhiều cơ hội tiếp xúc với các tác gia phương Tây (Abe Kobo, Oe Kenzaburo…) đã chịu ảnh hưởng của các nhà văn hiện sinh tiêu biểu như J.P Sartre, A Camus hay F Kafka… Từ Mori Ogai, Shimazaki Toson và đỉnh cao là Natsume Soseki, văn học hiện đại Nhật Bản đã thức tỉnh và sải những bước dài sau đó qua các thời Taisho, Showa với những tên tuổi lừng lẫy như Akutagana Ryunosuke, Yokomitsu Riichi, Yashunari Kawabata…
Thêm vào đó, những biến chuyển trong lịch sử thời kì hiện đại đã tạo ra
sự chuyển biến mạnh mẽ ở hầu hết các nước trên toàn cầu Các nước phương Đông, trong đó có Nhật Bản cũng không nằm ngoài quy luật đó Cuộc chiến tranh thế giới có tác động trực tiếp đến Nhật Bản trên mọi lĩnh vực của đời
Trang 40sống Những cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị diễn ra, thậm chí trên cả lĩnh vực tinh thần Chiến tranh làm con người hoang mang trước số phận cuộc đời mình, họ không hiểu cuộc đời sẽ đi về đâu và con người sẽ là gì trong vòng xoáy của vũ trụ, nơi những biến thiên lịch sử diễn ra triền miên, dai dẳng
Đất nước Nhật Bản bước vào thời kì hiện đại và thực hiện quá trình hiện đại hóa nhanh chóng cũng đã tạo nên những biến đổi lớn lao trong đời sống xã hội Con người bị đẩy vào guồng quay cuộc sống, nhiều khi đánh mất bản ngã của mình Chiến tranh chà đạp lên số phận con người, biến cuộc đời con người thành bể khổ Người Nhật thời hậu chiến đang dần mất niềm tin vào những gì đã có, hoài nghi các giá trị đã làm nên bản sắc dân tộc Nhật trong hàng trăm năm Họ thường chìm đắm trong nỗi đau buồn tiếc nuối trước
sự suy tàn của văn hóa truyền thống và trầm tư chiêm nghiệm trước những câu hỏi róng riết của thời đại Trong bối cảnh đó, không ít nhà văn đã cất lên tiếng nói đau đớn cho thân phận con người, lên án chiến tranh, lên án xã hội
1.3.4 Những biến động trong cuộc đời Kawabata
1.3.4.1 Người lữ khách ưu sầu
Kawabata Yasunari (1899 – 1972) sinh ra tại một làng nhỏ gần Osaka Cha ông là một thầy thuốc nhưng có niểm đam mê đặc biệt với văn chương nghệ thuật, mẹ là nội trợ trong gia đình Tuy nhiên, may mắn được sống hạnh phúc trong gia đình có mẹ, có cha quá ngắn ngủi với tuổi thơ của Kawabata
Đọc tiểu sử Kawabata, người đọc dễ dàng hơn khi tìm hiểu lí do vì sao các sáng tác của ông thường bị day dứt và ám ảnh bởi nỗi cô đơn và cái chết
Từ thuở ấu thơ, Kawabata đã sớm mang trong lòng nỗi buồn đau của đứa trẻ
mồ côi Lên bốn tuổi, Kawabata lần lượt chứng kiến sự ra đi của hai người thân yêu và quan trọng nhất trong cuộc đời đó là cha và mẹ ông Về sống với ông bà ngoại, không bao lâu nỗi buồn đau lại tiếp diễn khi lên bảy tuổi, bà ngoại cũng qua đời và hai năm sau là cái chết của người chị gái duy nhất