“Nikos Kazantzakis kẻ đi tìm tuyệt đối giữa cuộc đời” là bài viết của nhà nghiên cứu phê bình văn học Võ Công Liêm in trong tạp chí Nhà Văn cuối tháng 7/2013 trong bài viết này tác giả
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ GIANG
CON NGƯỜI HIỆN SINH TRONG SÁNG TÁC
CỦA NIKOS KAZANTZAKIS ( QUA MỘT SỐ TIỂU THUYẾT TIÊU BIỂU)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ GIANG
CON NGƯỜI HIỆN SINH TRONG SÁNG TÁC
CỦA NIKOS KAZANTZAKIS ( QUA MỘT SỐ TIỂU THUYẾT TIÊU BIỂU)
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trương Đăng Dung
HÀ NỘI - 2018
Trang 3Để hoàn thành khóa học thạc sĩ cũng như đề tài luận văn này là nhờ sự
giảng dạy giúp đỡ tận tình của các thầy cô trong tổ Lý luận văn học của nhà trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2.Vì vậy, từ đáy lòng mình, tôi muốn gửi lời
cảm ơn chân thành đến các thầy cô
Tôi xin gửi lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Trương Đăng Dung, người
đã dành nhiều thời gian bảo ban, hướng dẫn tôi, sự động viên, khích lệ và lòng tin tưởng đã giúp tôi có thêm động lực hoàn thành luận văn này
Trang 4
thực và không trùng lặp với đề tài khác; mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu đã được cảm ơn; thông tin trích dẫn luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc
Đề tài: Con người hiện sinh trong sáng tác của Nikos Kazantzakis (qua
m ột số tiểu thuyết tiêu biểu) được chính tôi thực hiện dưới sự giúp đỡ của
PGS.TS Trương Đăng Dung Kết quả thu được là hoàn toàn trung thực và
chưa từng được công bố trong chương trình nào khác
Hà N ội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Giang
Trang 5
MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 5
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 8
4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 9
5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 9
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
7 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN 10
8 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 10
NỘI DUNG 12
CHƯƠNG I KHÁI LƯỢC VỀ TRIẾT HỌC HIỆN SINH VÀ VĂN HỌC HIỆN SINH 12
1.1 Triết học hiện sinh 12
1.1.1 Những phạm trù cơ bản của triết học hiện sinh 16
1.1.2 Các triết gia hiện sinh tiêu biểu 23
1.2 Văn học hiện sinh 30
1.2.1 Văn học hiện sinh trên thế giới 30
1.2.2 Văn học hiện sinh ở Việt Nam 38
CHƯƠNG 2 CON NGƯỜI DẤN THÂN VÀ CON NGƯỜI HƯỞNG LẠC TRONG SÁNG TÁC CỦA NIKOS KAZANTZAKIS 47
2.1 Con người dấn thân trong sáng tác của Nikos Kazantzakis 47
2.2 Con người hưởng lạc trong sáng tác của Nikos Kazantzakis 52
CHƯƠNG 3: CON NGƯỜI HIỆN SINH VÔ THẦN VÀ CON NGƯỜI HIỆN SINH HỮU THẦN TRONG SÁNG TÁC CỦA NIKOS KAZANTZAKIS 67
Trang 6KẾT LUẬN 82 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 7M Ở ĐẦU
1 LÝ DO CH ỌN ĐỀ TÀI
1.1 Thế kỷ XX chứng kiến sự bùng nổ của tri thức và sự phát triển siêu
tốc của các ngành khoa học, sức sản xuất cao hơn thế kỷ XIX Thế kỷ XX cũng chứng kiến hàng loạt nhũng biến động xã hội dữ dội và mạnh mẽ nhất:
Cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc gây ra hai cuộc chiến tranh thế giới khốc liệt, dẫn tới tình trạng khủng hoảng tinh thần trầm
trọng là những nguyên nhân trực tiếp nhất làm bộc phát hàng loạt những phong trào phản kháng, phủ định trên bình diện văn hóa nghệ thuật Chủ nghĩa hiện sinh ra đời trong hoàn cảnh đó và là trào lưu bộc phát mạnh cả trong triết học và trong văn học Từ tác động của triết học hiện sinh cộng với
vấn đề của xã hội văn học hiện sinh ra đời với hàng loạt tác giả tiêu biểu: Martin Heidegeer, Jean Paul Sartre, Simone de Beauvoir, Albert Camus, Mikhailovitch Dostoievski, Nikos Kazantzakis…
1.2 Thuật ngữ “chủ nghĩa hiện sinh” (existentialisme) được nhà triết
học người Pháp Grabiel Marcel khởi xuớng vaò năm 1940 và được J P Sartre sử dụng trong bài thuyết trình của mình vào ngày 29 tháng 11năm 1945
tại Paris Bài thuyết trình này sau đó được xuất bản thành cuốn sách mang tựa
đề “L’existentialisme est un humanisme” (Hiện sinh- một nhân bản thuyết)
Cuốn sách này của Sartre khiến chủ nghĩa hiện sinh nhanh chóng trở nên nổi
tiếng Chủ nghĩa hiện sinh từ đó tạo được tiếng vang lớn và lan sang nhiều
quốc gia khác nhau
1.3 Nikos Kazantzakis (18 tháng 2 năm 1883 – 26 tháng 10 năm 1957)
là một trong những nhà văn, nhà triết học tài năng quan trọng nhất của thế kỷ
20 Sự nghiệp của ông bao gồm tiểu luận, tiểu thuyết, sách du lịch và bản dịch các tác phẩm kinh điển như Divine Comedy của Dante và Faust của Goethe Nhiều sáng tác của ông đề cập đến vấn đề lịch sử, văn hoá Hi Lạp và mối
Trang 8quan hệ bí ẩn giữa con người và Thượng Đế Ông được tiến cử tranh giải văn chương thế giới Nobel (1951) Ông viết trên dưới 10 tác phẩm Trong đó có 2 tác phẩm nổi tiếng thế giới, (Zorba Hy Lạp và Cám Dỗ Cuối Cùng) truyện đã
dựng thành phim ảnh và trên sân khấu kịch nghệ
Nikos Kazantzakis học triết học ở đại học France tại Paris và chịu ảnh hưởng sâu đậm bởi những bài giảng của triết gia Henri Bergson Chính vì, được giác ngộ lý tưởng của triết học từ rất sớm nên ông dần dần làm quen với các tác phẩm triết học thậm chí ông còn dịch sách triết Trở về Hi Lạp, ông
bắt đầu dịch các tác phẩm triết học và đều tạo được tiếng vang lớn Tư tưởng triết học thấm nhuần trong tâm hồn Nikos Kazantzakis để từ đó ông thổi hồn vào những áng văn chương của mình, những tác phẩm văn học của ông sau này ít nhiều mang hơi hướng triết học và phải khẳng định rằng nhờ có triết
học mà Nikos Kazantzakis đã khẳng định được tài năng của mình
Kể từ đó, Kazantzakis chu du khắp thế giới Ông đến Đức, Ý, Nga, Tây Ban Nha, Ai Cập, Trung Quốc, Nhật Bản và nhiều nước khác Khi ở Berlin, Kazantzakis phát hiện chủ nghĩa Cộng Sản và rất ngưỡng mộ Lenin Công
cuộc chu du nhiều nơi trên thế giới đã giúp Nikos Kazantzakis hiểu nhiều điều
về cuộc sống con người nơi ông từng đi qua Ông từng được gặp Maxim Gorki nhà văn Nga nổi tiếng, ông trao đổi, nói chuyện tìm hiểu về đất nước cũng như dân tộc Nga, ông đi sâu nghiên cứu về hình tượng con người và có
một “điểm nhìn” sâu sắc, nhân bản về con người Hình tượng con người trong các sáng tác của Nikos vô cùng đa dạng: có hình tượng con người dấn thân, con người hưởng lạc, hai hình tượng con người không tách rời mỗi người một
bản thể mà hòa quyện vào nhau, có con người tự do hữu thần, con người tự do
vô thần Chính từ sự kết hợp đó đã tạo nên tên tuổi cũng như “chất” riêng trong văn chương của Nikos Kazantzakis
Trang 9Sự kiện đáng nhớ nhất trong cuộc đời Nikos có lẽ là sự kiện ông để tuột
mất giải thưởng Nobel văn học danh giá Từ năm 1947 đến 1948, ông làm
việc cho UNESCO Năm 1957, ông để lọt mất giải Nobel Văn Chương về tay Albert Camus chỉ vì ít hơn một phiếu bầu Điều đó chứng tỏ tài năng văn chương của Nikos Kâzantzakis Nhà văn Albert Camus còn cho rằng Nikos là người xứng đáng hơn mình Giai thưởng danh giá tuột khỏi tầm tay nhưng thế
giới vẫn ghi danh một Nikos Kazantzakis với nhiều công trình văn học tầm
cỡ, lừng danh
Suốt cuộc đời của mình, Kazantzakis là con người thiên về tâm linh, liên
tục tìm kiếm câu trả lời về cuộc sống Khát khao tri thức đã đưa ông đi khắp
thế giới, gặp gỡ vô số những con người có nguồn gốc và hệ tư tưởng khác nhau Hầu hết, các tác phẩm của Nikos Kazantzakis đều mang hơi hướng tâm linh và sự giác ngộ của con người với thiên chúa Ông có những tác phẩm được xếp vào hàng kiệt xuất như: “Xin chọn người yêu là Thượng Đế”, “Cám
dỗ cuối cùng của Chúa” Là người, trong sự nghiệp cầm bút luôn khắc khoải
đi tìm chân lý, những tác phẩm của Nikos Kazantzakis như thành quả nghệ thuật dành tặng cho cuộc đời
Hai tác phẩm để đời của Nikos Kazantzakis: „Cám Dỗ Cuối Cùng‟ và „ Zorba Hy Lạp‟ Ông đã lãng mạn hóa cuộc đời của những người nông dân nhà quê, những người thiếu may mắn, với lòng ngợi ca tốt và xấu của những anh hùng dân tộc Hy Lạp Ông thổi vào tác phẩm “Cám Dỗ Cuối Cùng” một
ngọn lửa, soi sáng những gì trong đó, bởi; chính đây là thời của Kazantzakis
một bày tỏ của tìm kiếm mà trong ba mươi năm qua ông đã mài công tìm
kiếm chân lý tuyệt đối, nhưng vẫn phủ nhận, đến khi thừa nhận là lúc ông hoàn toàn đánh mất cứu cánh Và; những gì ông học hỏi từ học thuyết Nietzsche là một cố gắng không cùng cho tự do để tìm thấy tự do không sợ hãi, nhưng rồi cũng không mang lại một hy vọng nào khác hơn Đến khi hoàn
Trang 10tất “Cám Dỗ Cuối Cùng” là lúc Kazantzakis nhìn thấy Jesus là một siêu nhân,
một lực lôi cuốn ông và đưa tới thành quả vinh quang trên tất cả mọi thứ trong đời; bởi lòng trung tín của ông đem lại mãnh lực cuộc đời trở nên hợp lý trong ông và biến đổi một tinh thần tươi sáng Nhưng ở đây khiá cạnh mang
lại thành quả thật sự, một vinh quang như một con người tự do ra khỏi cảnh tù đày Từ đó; đối với Kazantzakis chủ nghĩa tự do không đòi hỏi sự đền ơn cho đấu tranh, nhưng đạt được một kết quả mỹ mãn lấy ra từ phấn đấu Ấy là phép
lạ tối thượng mà Jesus bền gan, kiềm chế lý trí đứng trước cám dỗ của qủi sứ
Đó là tâm như thánh giáo vượt qua những lôi cuốn kỳ diệu; dẫu có thua cuộc nhưng không sờn lòng Và, duy nhất cách đó thì có thể đi tới quyết định tối
hậu mới không chấp nhận sự cám dỗ cuối cùng
Ngày 26 tháng 10 năm 1957, Nikos Kazantzakis qua đời, ông hưởng thọ
74 tuổi Được đưa về Athènes nhưng giáo hội chính thống giáo tại đây đã trục
xuất ông khỏi đạo và thi hài ông được di chuyển về Iraklion, Crète Tại giáo đường Agios Minas nghi lễ được cử hành, một đám rước vĩ đại tiếp diễn sau
đó thi hài ông được mai táng trong một lăng tẩm kiểu Ai Cập, nơi thành lũy Venetian cũ, phía trên cao của Iraklion Lăng mộ nơi ông yên nghỉ không ghi
khắc tên tuổi hay ngày tháng mà duy nhất chỉ một bức mộ chí với hàng chữ
mà ông đã căn dặn trước khi nhắm mắt: “Tôi không hi vọng điều gì Tôi không sợ điều gì Tôi tự do”
Nikos Kazantzakis luôn quan tâm đến nhiều “chiều kích” của tồn tại người trong đó có vấn đề đức tin Ở Nikos Kazantzakis, con người triết gia hòa vào con người nhà văn, ông viểt bằng kinh nghiệm sống trong cuộc đời mình Các sáng tác của Nikos Kazantzakis đều cho thấy cái nhìn đa chiều, nhân vật thường đa diện Khi nghiên cứu đề tài này, tôi nhận thấy ở Việt Nam tên tuổi
của Nikos Kazantzakis đã được một số nhà nghiên cứu biết đến nhưng qua
khảo sát tôi chưa thấy đề tài, bài nghiên cứu hay bài viết nào đi sâu vào chủ
Trang 11nghĩa hiện sinh trong sáng tác Nikos Kazantzakis Chính vì vậy, đã thôi thúc tôi khám phá sáng tác của nhà văn nổi tiếng người Hy Lạp này để từ đó hiểu sâu hơn nữa về văn học hiện sinh nói chung và hiểu hơn nhà văn người Hy
Lạp nỗi lạc này Vì những lý do trên tôi đã chọn đề tài “ Con người hiện sinh trong sáng tác của Nikos Kazantzakis” để có được cái nhìn toàn diện hơn về
chủ nghĩa hiện sinh trong sáng tác của ông
Do những hạn chế về tư liệu nước ngoài, chúng tôi xin phép điểm qua
một số bài nghiên cứu, bài viết ở Việt Nam có ý nghĩa cơ sở và là sự gợi mở cho việc lựa chọn đề tài
Trong cuốn sách “Tiểu thuyết Phương Tây hiện đại và các hướng tiếp
c ận” của tác giả Trần Huyền Sâm, tác giả đã dành hẳn một chương để viết về
chủ đề Kinh Thánh qua các sáng tác của Nikos Kazantzakis khẳng định tài năng và khuynh hướng sáng tác của Nikos Kazantzakis “ Ông là một chính trị gia, tiểu thuyết gia khổng lồ của thế kỷ XX Ông chịu ảnh hưởng sâu sắc của triết học Nietzsche, thuyết trực giác của Henri Bergson ” [34, tr.106] Và “ sáng tác của ông đa phần theo khuynh hướng thế tục hóa tôn giáo Kazanzakis
đã đặt mình vào vị thế của các nhân vật để giải đáp tâm hồn con người Con người sùng bái đức tin đi theo xu hướng tôn giáo” [34, tr.106]
Trần Huyền Sâm đã trình bày vấn đề đức tin trong các sáng tác của Kazantzakis và công nhận sự nổi loạn, bằng lòng sống với ảnh hưởng của
Trang 12Thiên chúa “Nikos Kazantzakis cũng đã bỏ khá nhiều thời gian để nghiên
cứu Kinh Thánh và đã viết ba tác phẩm liên quan về Ki-tô giáo [34, tr.135]
Điều đó đã chứng tỏ ảnh hưởng Thiên chúa đến Kazantzakis vô cùng lớn Và
lời khẳng địnhkhông thể tuyệt vời hơn dành cho Kazantzakis với tác phảm
“Cám dỗ cuối cùng của Chúa” “judas hiện thân cho lòng tự hào dân tộc, niềm kiêu hãnh của loài người khi bị kìm hãm, chà đạp Đây là nhân vật thể hiện sâu sắc quan điểm thế tục hóa tôn giáo rất nhân bản của tiểu thuyết gia Nikos Kazantzakis - một học giả tầm cỡ của thế kỷ XX” [34, tr.136]
Trong bài viết “Tiếp nhận tiểu thuyết Cám dỗ cuối cùng của Chúa của Nikos Kazantzakis t ừ góc nhìn so sánh với văn bản Kinh Thánh” in trong tạp
chí Văn nghệ Huế số tháng 11/2014 Trần Huyền Sâm nhắc đến hai nhân vật tiêu biểu trong tiểu thuyết là Jesus và Judas Hai nhân vật vừa mang tính chất song hành vừa mang tính chất đối lập Cảm hứng xuyên suốt của tác phẩm là
giải thiêng Kinh Thánh Tác giả đã làm thay đổi căn bản địa vị của nhân vật:
“từ một kẻ bán Chúa trong Kinh Thánh, Judas trở thành một nhà yêu nước,
mang nỗi đau khắc khoải về thân phận dân tộc Do Thái” [32, tr.2] Đặc biệt,
sự xung khắc giữa khoái lạc trần tục và niềm tin Thượng Đế đã trở thành một
mệnh đề triết học nhằm đối thoại với Kinh Thánh”
“Nikos Kazantzakis kẻ đi tìm tuyệt đối giữa cuộc đời” là bài viết của
nhà nghiên cứu phê bình văn học Võ Công Liêm in trong tạp chí Nhà Văn
cuối tháng 7/2013 trong bài viết này tác giả đã nhận định sâu sắc về các tác
phẩm của Nikos Kazantzakis “Toàn bộ tác phẩm của Nikos Kazantzakis là nói lên kinh nghi ệm bản thân, một hành trình đi và sống để tìm thấy trọn vẹn
cu ộc đời như một đấu tranh triền miên giữa tinh thần và thể xác Ngoài
nh ững đấu tranh dữ dội của Kazantzakis, ngoài khả năng hòa giải những đối kháng và liên k ết tất cả những dữ kiện để đưa vào tư duy riêng mình; tất cả thành qu ả đó được mô tả một cách rõ ràng, chính xác và thông đạt đầy đủ
Trang 13hình ảnh rộng lớn qua kinh nghiệm sống của con người Vì vậy Kazantzakis đối diện thường xuyên trước những tình huống qua bao dặm trường của kẻ đi tìm chân lý th ực hư”[25, tr2] Ông còn đưa ra cái nhìn về con người của nhà
văn Nikos Kazantzakis thông qua các tiểu thuyết, đặc biệt Võ Công Liêm chú
ý đến tiểu thuyết “Cám dỗ cuối cùng của Chúa” Với tiểu thuyết này, nhận
thấy được sự cao thượng của Thượng Đế, mang đến cho con người sự cứu rỗi linh hồn “ Đó là khát vọng của con người đối diện với hư vô đưa tới đau khổ tuy ệt vọng gây ra từ niềm tin, làm băng hoại không ngừng, đấu tranh với vô tính gi ữa tinh thần và thể xác Vị trí con người lâm vào hoàn cảnh bi thương Kazantzakis cho đây là bí mật của Thượng Đế (Christ) là không đơn giản hóa
s ự bí ẩn đó như tín điều của lòng tin giữa thế gian nầy” [25, tr2]
Các bài nghiên cứu, bài viết thường đề cập đến lối viết của Nikos Kazantzkis Cụ thể như bài viết của nhà phê bình V Công Liêm cho rằng:
Sáng tác của Nikos Kazatzakis thường gắn liền với hình tượng đức tin và chịu ảnh hưởng của Thiên Chúa
thuy ết của Nikos Kazantzakis
Trần Hoài Thu với đề tài “Con người Alexis Zorba-Con người hoan
l ạc” đã tập trung đi sâu nghiên cứu hình tượng hai nhân vật Zorba-Con người hoan l ạc Tuy nhiên, luận văn này chỉ mới nghiên cứu hai hình tượng con
người trong tiểu thuyết ở phương diện cá nhân, chưa bao quát được ý nghĩa sâu sắc về con người trong tác phẩm
“Diễn ngôn khoái lạc trong tiểu thuyết Alexis Zorba –con người hoan
lạc” đề tài của Võ Thị Tuyết Mai đã đề cập đến nhân vật Zorba và chuyến hành trình viễn du của ông và người bạn đồng hành Đề tài này đi sâu tìm
hiểu về cách sống khoáng đạt, phóng túng, tự do của Zorba, những phát ngôn
của Zorba trở thành điểm nhấn tạo nên điểm khác biệt so với những nhân vật
Trang 14khác Tuy nhiên, đề tài này chỉ chú trọng về hình tượng Zorba mà chưa có cái nhìn khái quát về lối sống hoan lạc của Zorba khiến mọi người trân trọng và ngưỡng mộ
Nguyễn Hoàng Yến với luận văn” Cám dỗ cuối cùng của Chúa-Nhìn từ
lý thuy ết thế tục hóa tôn giáo” Luận văn này đã nhìn nhận một cách khách
quan về vấn đề đức tin trong tiểu thuyết “Cám dỗ cuối cùng của Chúa”, đặc
biệt Nguyễn Hoàng Yến đã chỉ r con đường đi tới đức tin của Judas và jesu Không phủ nhận được hành động của Judas khi yêu thương cô gái điếm mà còn nhìn nhận Judas với một quan điểm là môn đồ của Thiên Chúa
Với những đề tài nghiên cứu trên, chúng tôi thấy tên tuổi và những tác phẩm của Nikos Kazantzakis đã được những người yêu thích văn chương hiện sinh khai thác thành đề tài của mình, thậm chí có những bài nghiên cứu, bài viết đi sâu khai thác hình tượng con người trong tiểu thuyết của Nikos Kazantzakis Mỗi công trình nghiên cứu, mỗi bài viết có cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau nhưng điểm chung họ đều nhận thấy tài năng của nhà văn Nikos Kazantzakis Thông qua việc khảo sát một số bài nghiên cứu, bài viết,
đề tài khoa học, chúng tôi nhận thấy chưa có nhiều công trình khai thác về con người hiện sinh qua sáng tác của Nikos Kazantzakis, vì thế chúng tôi
muốn tiếp tục nghiên cứu sáng tác của nhà văn lỗi lạc này để góp phần khám phá thêm tác phẩm của ông Thực hiện đề tài “Con người hiện sinh qua một
số sáng tác của Nikos Kazantzakis”, chính là để thể hiện nỗ lực đó của chúng tôi
3 M ỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Thực hiện đề tài này, chúng tôi nhằm mục đích làm r con người hiện sinh trong sáng tác của Nikos Kazantzakis trong một số tiểu thuyết tiêu biểu
của ông Qua đó đề cập đến cái nhìn của người nghệ sĩ sáng tạo về con người
và về cuộc đời; đồng thời khẳng định sự khác biệt, độc đáo, hấp dẫn giữa tác
Trang 15phẩm của Nikos Kazanzakis với các tác phẩm của các nhà văn khác qua hình tượng con người hiện sinh dấn thân và hưởng lạc; con người hiện sinh vô thần
và hữu thần
4 NHI ỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để có cơ sở nhìn nhận, đánh giá đúng những đóng góp của chủ nghĩa
hiện sinh trong các sáng của Nikos Kazantzakis, chúng tôi đi vào tìm hiểu
một số tiểu thuyết, truyện ngắn tiêu biểu của ông trên nền tảng triết học nhằm đạt đến cái nhìn khách quan và hệ thống đối với vấn đề đăt ra Đây chính là nhiệm vụ cần thiết với một công trình nghiên cứu mang tính lý luận, đặc biệt
là những vấn đề có liên quan trực tiếp đến những khái niệm triết học
Đi sâu tìm hiểu truyện ngắn, tiểu thuyết của Nikos Kazantzakis để thấy
tư tưởng của chủ nghĩa hiện sinh được thể hiện như thế nào, từ đó khẳng định
và lý giải những đóng góp của Nikos Kazantzakis với lịch sử văn học thế giới qua đó cho thấy đằng sau những tác phẩm văn học lớn bao giờ cũng là một nhà tư tưởng lớn
5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Như trên đề tài đã xây dựng r đối tượng nghiên cứu của luận văn là
“Con người hiện sinh trong sáng tác của Nikos Kazantzakis” (qua một số tiểu thuyết tiêu biểu)
Tài liệu chính của luận văn là:
- Alexis Zorba - Con người hoan lạc (NXb Văn học-2006, Dương Tường
dịch)
- Xin chọn người yêu là Thượng Đế (NXB Kinh Thi Sài Gòn, 1974)
- Cám dỗ cuối cùng của Chúa (Bích Phượng dịch, NXB Tổng hợp Đồng Nai 1988)
Trang 16-Tự do hay là chết (Hoàng Nguyên Kỳ dịch) NXB Văn học 1985
- Vườn đá tảng (Bửu Ý dịch 1967), NXB An Tiêm, Sài Gòn
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở tiếp cận, phân tích các tác phẩm của Nikos Kazantzakis để làm r con người hiện sinh trong sáng tác của ông, tôi thực hiện luận văn
7 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
Kế thừa những thành tựu, cách khám phá, đánh giá của các nhà nghiên
cứu trước đó về con người hiện sinh trong các sáng tác của Nikos Kazantzakis, tác giả luận văn mong muốn góp thêm một hướng tiếp cận mới
về con người hiện sinh trong sáng tác của Nikos Kazantzakis, góp phần làm phong phú thêm giá trị và cũng chứng tỏ những điểm nổi bật trong các tác
phẩm của Nikos Kazantzakis
Với việc nghiên cứu về con người hiện sinh trong sáng tác của Nikos Kazantzakis, chúng tôi mong muốn mang lại cái nhìn khách quan hơn về thế
giới hiện sinh trong văn học Khác với các nhà văn khác thường nhìn con người với một chiều kích nhất đinh thì Nikos Kazantzakis nhìn có cái nhìn đa chiều hơn về con người, thể hiện tính lưỡng phân vừa đi theo tôn giáo nhưng
lại vừa hoài nghi tôn giáo, hình tượng con người dấn thân và con người hưởng
lạc Với những nội dung được triển khai trong đề tài nghiên cứu của mình, chúng tôi hi vọng sẽ có ý nghĩa nhất định trong việc nhìn nhận vấn đề con
người hiện sinh trong văn học
8 C ẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Trang 17Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn được triển khai trong ba chương:
Chương 1: Khái lược về triết học hiện sinh và văn học hiện sinh
Chương 2: Con người hiện sinh dấn thân và con người hưởng lạc trong sáng tác của Nikos Kazantzakis
Chương 3: Con người hiện sinh vô thần và hữu thần trong sáng tác của Nikos Kazantzakis
Trang 18N ỘI DUNG CHƯƠNG I KHÁI LƯỢC VỀ TRIẾT HỌC HIỆN SINH VÀ VĂN HỌC
HI ỆN SINH 1.1 Tri ết học hiện sinh
Theo Jacques Colette, một nhà nghiên cứu chuyên về Kierkegaard, trong tập Que sais-Je thì thuật ngữ chủ nghĩa hiện sinh được dùng lần đầu
tiên trong một cuốn sách ở Italy vào những năm 30 của thế kỉ XX Nhưng nó
thực sự trở thành phổ biến từ năm 1944 trong cuộc luận chiến của Sartre ở Pháp
Tư duy hiện sinh đã có những biểu hiện ban đầu ngay từ thời cổ đại, khi con người biết chiêm nghiệm về thân phận mình Socrate (470-399 TCN), như Jasper nói “một trong những nhân vật lớn nhất trong lịch sử nhân loại nói chung, ngang hàng với Khổng Tử, Phật Thích Ca và Jesus”, đã không chủ
trương xây dựng một vũ trụ luận như các triết gia trước đó Ông cho rằng sứ
mệnh của loài người là bảo vệ chân lý của cuộc sống, quan niệm của ông
khẳng định sự thật còn cao hơn sự sống Trong thần thoại Hy Lạp, Promethee
lừa dối cả thần Zeus để giúp đỡ loài người, thà bị xích vào đá còn hơn phải làm nô lệ cho Zeus Đặc biệt đến cuối thế kỷ XIX, sự khủng hoảng trong triết
học bắt đầu hình thành, những hạt giống cho chủ nghĩa hiện sinh mới có điều
kiện phát triển S Kierkegaard (Đan Mạch, 1813-1855) được xem là ông tổ
của chủ nghĩa hiện sinh với quan điểm về tính chủ thể nhân vị, F Nietzsche (Đức, 1844-1900) được xem là ông tổ của hiện sinh vô thần hoài nghi tất cả
những giá trị cũ và khẳng định “Thượng Đế đã chết” Sự ra đời của những tư
tưởng đó đã làm cho chủ nghĩa hiện sinh trở thành một triết học như các trào lưu triết học đã có
Triết học hiện sinh là một trào lưu triết học, vốn có mầm mống hình thành từ thế kỷ XX với những triết gia lớn được coi là ông tổ của triết học
Trang 19hiện sinh là Kierkeggaard (ông tổ của triết học hiện sinh trung thực), Nietzsche (ông tổ của hiện sinh vô thần)… Nhưng phải đến giữa thế kỷ XX, sau khi “Hiện tượng học” của triết gia người Đức E Husserrl ra đời cung cấp phương pháp nghiên cứu đối với thế giới (Đó là khoa học nghiên cứu bản
chất đặt lại các bản chất nơi hiện hữu, những bản chất cụ thể, cũng gọi là bản tường trình về kinh nghiệm sống của con người), triết học hiện sinh đã bản
thể luận hóa hiện tượng học để thực sự phát triển thành một chủ nghĩa hiện sinh có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống nhân loại đến tận bây giờ
Xét về sự vận động của tư duy triết học nhân loại thì triết học hiện sinh
ra đời là một lẽ tất yếu Triết học truyền thống phương Tây từ Platon, Aristote… thời cổ đại đến những Descartes, Kant, Hegel… đều lấy vạn vật trong thế giới tự nhiên là đối tượng khám phá, là thế giới bên ngoài tâm hồn con người Bởi vậy nó được gọi chung là triết học về thiên nhiên Mục đích
của triết học là tìm ra nguyên nhân căn bản của vũ trụ
Nhận thức được điều đó, triết học hiện sinh đặt con người và ý nghĩa nhân sinh làm đối tượng nghiên cứu Triết học hiện sinh chủ yếu chú trọng đến thân phận, hành động, cuộc sống và cái chết của con người Con người được triết học hiện sinh tôn vinh, con người chính là chủ thể của vạn vật Con
người trong triết học hiện sinh là con người cụ thể - những cá thể riêng biệt, độc đáo có chủ thể tính và tự do tính - chứ không phải là con người phổ quát
của Aristote Con người hiện sinh không sống trong những quan niệm trìu tượng mà sống trong cuộc sống hàng ngày, cụ thể, có suy ngẫm về quá khứ,
dự tính về tương lai, có đời sống nội tâm, luôn dùng suy nghĩ để xác nhận ý nghĩa thực của mỗi người, mỗi vật cố gắng thoát khỏi màu sắc kinh viện, bác
học của triết học truyền thống
Chính vì vậy, mà triết học hiện sinh thường nhấn mạnh tới tính chủ thể, độc đáo của mỗi con người Hình tượng con người trong triết học hiện sinh
Trang 20hoàn toàn khác biệt Chủ đích của triết học hiện sinh là làm cho mỗi người ý
thức và ý thức một cách bi đát về địa vị con ngươì của mình, đồng thời triết
hiện sinh nhắc cho ta biết nếu ta thụ động, ta bán rẻ thiên chức làm người của người ta và như vâỵ chúng ta sẽ rơi xuống hàng sự vât Con người hiện sinh ý
thức được trách nhiệm và hành động của mình Con người tự đảm nhận lấy tự
do của mình Sự lựa chọn hành động trong mỗi thời điểm là cách thể hiện ý nghĩa của cuộc đời mình, đó chính là cách tạo nên giá trị cốt lõi của bản thân
Mỗi quyết định chính là một giá trị hiện sinh, vì mỗi quyết định đòi hỏi một ý
thức thận trọng và một tinh thần trách nhiệm cao cả
Tư tưởng hiện sinh coi trọng tự do cá nhân, đề cao tính độc đáo, sáng
tạo, tính tự chịu trách nhiệm của mỗi người Điều này phù hợp với cuộc giải phóng con người cá nhân mà phương Tây đã và đang thực hiện Chính việc đề cao tự do cá nhân, tự do từ trong bản năng, từ trong trực giác một cách thái quá đã là một động lực kích thích người ta đến một lối sống phóng túng, tự cho phép mình có quyền hưởng thụ hết mọi khoái lạc của cuộc đời Mặt khác, người ta tìm thấy trong chiều sâu của chủ nghĩa hiện sinh tư tưởng về tự do-
mỗi người là một nhân vị tự do, tự đảm nhận lấy định mệnh của mình, mỗi người là một nhân vị độc đáo, cô đơn gánh vác định mệnh của mình, mỗi người là một cuộc đời Mỗi con người đều có niềm tin tự giải phóng để khẳng định tài năng, bản ngã của mình
Cá nhân con người trong nhiều thế kỷ đã bị đẩy vào đường cùng bởi
những hệ thống tư tưởng không quan tâm đến tính độc đáo của con người cá nhân, khinh rẻ khát vọng sống, tình cảm cá nhân Triết học hiện sinh khẳng định tự do của con người, từ chối việc ý thức cá nhân phụ thuộc vào những khái niệm trìu tượng hay những cấu trúc xã hội đã bị phi nhân tính hóa Triết
học này là biểu tượng nổi loạn chống lại những định chế một mặt đã kìm hãm
tự do cá nhân, mặt khác lại biến cá nhân thành kẻ chối bỏ trách nhiệm, trước
Trang 21hết là trách nhiệm với chính bản thân mình Trước và cùng với chủ nghĩa hiện sinh, đã xuất hiện nhiều sự phản kháng từ các phong trào xã hội nhằm chống văn hóa tuyệt đối hóa, nhưng duy nhất chỉ có chủ nghĩa hiện sinh đã tìm ra lối thoát Mounier đã có nhận xét “Tưởng là cũng không nên quên những điều
kiện lịch sử đã tạo nên triết thuyết này Chủ nghĩa hiện sinh được coi như một
phản ứng chống lại một thế giới trong đó chủ nghĩa duy vật khoa học đã bành trướng tới độ muốn chối bỏ thực tại chủ quan nội tại trong tâm hồn con người Bước đầu tiên của chủ nghĩa hiện sinh khi đi vào trong thế giới như quay
cuồng trong tốc độ máy móc là kéo con người ra khỏi sự mù quáng về quảng cáo rứt con người khỏi cái cảnh cứ bám riết lấy sự vật ngoại giới cũng như cách xã giao hời hợt bên ngoài để đi sâu vào một cuộc kiếm tìm một cuộc
sống có tính người đích thực hơn” [28, tr.141]
Trào lưu hiện sinh ảnh hưởng đến tầng trí thức miền Nam Việt Nam
những năm 1954-1975 gần như là một cơ duyên trong lịch sử Trong hai thập niên ấy, chủ nghĩa hiện sinh đã tác động đến đời sống xã hội miền Nam Việt Nam trên các bình diện như lý thuyết triết học và văn học, sáng tác văn học, thái độ sống Tuy nhiên, trong hoàn cảnh xã hội bế tắc, cùng với chủ nghĩa
hiện sinh là một trào lưu tư tưởng từ phương Tây cho nên sự tiếp nhận triết
học hiện sinh còn nhiều hạn chế
Cho đến nay, thuật ngữ chủ nghĩa hiện sinh đã có vị trí chắc chắc trong
đời sống xã hội và đi vào lịch sử triết học hiện đại Chủ nghĩa hiện sinh đã được bàn luận rất nhiều, song tư duy hiện sinh không ngừng vươn xa trong xã
hội hiện đại Chủ nghĩa hiện sinh không phải là một thuyết cứng nhắc, bó hẹp
mà luôn luôn rộng mở Hầu như có bao nhiêu nhà triết học hiện sinh, bao nhiêu nhà văn dùng từ hiện sinh thì có bấy nhiêu loại chủ nghĩa hiện sinh Song, về bản chất họ đều giống nhau ở chỗ cùng đề cao quan điểm chủ thể tính, coi hiện sinh là tính thứ nhất có trước bản chất Một cách khái quát nhất
Trang 22có thể chia chủ nghĩa hiện sinh thành hai nhánh:chủ nghĩa hiện sinh vô thần
và chủ nghĩa hiện sinh hữu thần Hai ngành này cùng chung chủ trương “lấy triết học con người để chống lại sự quá trớn của hai nền triết học cổ điển tức triết học quan niệm về triết học vũ trụ” [28, tr.66]
Triết học hiện sinh luôn lấy con người làm bản ngã và cùng tìm hiểu ý nghĩa đời sống con người Con người trong triết học hiện sinh là con người độc đáo, cô đơn, luôn nhận thấy giới hạn và cố gắng phá bỏ giới hạn đó Con người luôn cố gắng vì nỗi sợ hãi bị lãng quên, vì tham vọng được sống trong tim và óc của kẻ khác như Dostoevsky từng nói “ Trước giới hạn lớn nhất của đời người- cái chết, tất cả sự cố gắng trước đó, dù con người đạt tới sự viên mãn thì nó không thoát khỏi hư vô”
Chủ nghĩa hiện sinh đã xây dựng cho mình một hệ thống phạm trù khá
cụ thể xoay quanh hai vấn đề trung tâm đó là: Tính chủ thể và tính tự do của nhân vị Với các khái niệm: Hữu thể (ý thức, hiện hữu, hiện sinh, cái tự nó và cái cho nó), hư vô (không hữu thể), buồn nôn, cô đơn, lo âu (xao xuyến, liều, tuyệt vọng, thất bại), tha hóa, cái chết, trách nhiệm, siêu việt (thăng hoa) dự phóng Thượng Đế, tha nhân, nhập cuộc (hành vi) (xem sơ đồ hệ thống phạm trù của chủ nghĩa hiện sinh)
Trong cuốn “Những chủ đề triết hiện sinh” của E Mounier đã tìm ra
mười hai luận đề chính của tư tưởng hiện sinh Mười hai luận đề này đã tạo ra cái nhìn đa chiều hơn về triết học hiện sinh và giúp chúng ta nhìn nhận lại cách sống cách suy nghĩ của mình đồng thời mang lại những suy nghĩ tích cực hơn trong thân phận làm người của mình Phải sống sao cho có ích và giúp con người không thôi hi vọng về tương lai Các chủ đề gồm có:
1 S ự tồn tại ngẫu nhiên của cuộc sống:
Khi sinh ra đã có ai từng đặt ra những câu hỏi: Tại sao tôi được sinh ra,
Trang 23tại sao tôi lại có mặt trong gia đình này, tại sao lại có sự sống…Khi con người
có ý thức mình sống thì đã thấy mình hiện hữu ở đó rồi Con người ngẫu nhiên đến với cuộc đời và phải mặc định sự có mặt đó không ai có thể giải thích được Sartre nói con người không phải là cái gì thiết yếu, nó là một cái
gì thừa thãi
2 S ự bất lực của lí trí:
Lí trí và tình cảm là hai phạm trừ song hành cùng nhau để đưa ra lời phán quyết thỏa đáng cho một lĩnh vực đang còn khúc mắc Nhưng trong thực
tế không ít lần chúng ta lựa chọn một trong hai phạm trù này để quyết định
Có những điều con người lựa chọn và quyết định theo tiếng gọi của trái tim,
của tình cảm mà lí trí không sao giải thích được, thậm chí con người còn tự quyết bất chấp hậu quả thế nào Từ đó các triết gia hiện sinh thấy rằng lí trí
trở nên bất lực trước nhân vị tự do của con người, điều mà Pascal gọi là tiếng nói của con tim
3 S ự nhảy vọt của con người:
Con người luôn tìm cách phá bỏ các giới hạn của bản thân, tìm cách tháo
gỡ ranh giới đang có để hướng tới những điều tốt đẹp hơn Chính vì thế con người luôn nỗ lực không ngừng tạo nên cuộc đời mình bằng cách tiến vượt,
nhảy vọt hàng giây, hàng phút, mặc dầu là nhảy vọt vào hư vô Chính vì điều
đó càng nhấn mạnh hiện sinh là triết học lạc quan cổ vũ sự cố gắng của con
người
4 S ự dồn ải của cuộc sống con người:
“Mỗi ngày tôi đang sống đây là mỗi ngày tôi tiến gần đến cái Chết, sự
Chết, dù không muốn cũng không thể cưỡng lại được, ngay từ khi sinh ra tôi
đã đủ tuổi già để chết” Phát biểu nổi tiếng của Heidgger Ý thức được điều này trong cuộc hiện sinh của mình con người luôn thường trực nỗi lo âu, khắc khoải về thân phận làm người về sự hữu hạn với cuộc đời
Trang 245 S ự phóng thể (còn gọi là sự vong thân, tha hóa):
Con người luôn đứng trước nguy cơ bị phóng thể, biến thành kẻ hoàn toàn khác Con người không tự làm chủ được mình và tự điều khiển được mình Trong triết học hiện sinh con người luôn thường trực nỗi sợ hãi mà không tự làm chủ được mình
6 Đời người có hạn thần chết lại vội vã
Các triết gia hiện sinh nói nhiều đến sự chết Con người phải tự đảm
nhận cái chết của mình mà không ai có thể thay thế và làm thay được Chính
vì nhận thức được điều này, chúng ta cần sống sao cho đáng sống để rồi chết
đi không phải luyến tiếc bất cứ một điều gì trên nhân thế Đón nhận cái chết
một cách nhẹ nhàng, thanh thản như E Mounier từng viết trong cuốn “Những
ch ủ đề triết hoc hiện sinh” rằng: “Sống để luôn chờ chết trong mọi nơi mọi lúc và nhìn th ẳng vào mặt người đồng hành từng giây từng phút” [28, tr.70]
Cuộc hiện sinh dẫn dắt con người đến cách sống thực thụ và đầy ý nghĩa: đời người ngắn ngủi thần chết không chờ đợi và không chừa một ai Chính vì vậy hãy sống sao cho có ý nghĩa, sống có ích, sống cho mình, làm
những điều tốt đẹp cho cuộc sống Gía trị sống của con người không đánh giá
bằng việc bạn sống bao lâu mà đánh giá bằng việc bạn sống như thế nào trong quãng thời gian bạn sống trên đời R Tagore nhà thơ kiệt suất người Ấn Độ
có những quan niệm thú vị về sự sống và cái chết: Thần Chết là người bạn chung thủy nhất của con người, luôn bên con người ngay từ lúc con người có
mặt trên đời, con người phải sống như thế nào để thần Chết gõ cửa đón đi, chúng ta không phải ân hận vì không có cái gì làm quà tặng cho Người
7 S ự cô độc và bí mật:
Cô độc là một món tặng vĩnh cửu mà cuộc đời dành tặng cho con người Khi con người không ngừng cố gắng vuơn lên để thể hiện bản ngã của mình cũng không tránh khỏi nỗi cô đơn Bởi theo triết gia hiện sinh thì không bao
Trang 25giờ con người có thể lấp đầy khoảng trống trong tâm hồn mình, không thể có
sự cảm thông tuyệt đối của tha nhân với mình dù họ có yêu thương, thấu hiểu
thế nào Trong triết học hiện sinh còn khẳng định mỗi cá nhân chính là một
thế giới bí mật
8 S ự hư vô:
Trong triết học hiện sinh hư vô là một nét chính của cuộc sống con
ngươì J P Sartre “đời người là một đam mê vô ích” Con ngươì hiện sinh
luôn hướng tới điều tuyệt đối nhưng chưa bao giờ vươn tới được điều đó Con người hiện sinh luôn vươn tới những mục đích sống tốt đẹp, luôn tìm kiếm
những giá trị sống đích thực mong mỏi tương lai tươi hơn Tuy nhiên không
phải những gì con người hướng đến đều được như ý muốn của mình, đôi lúc không tránh khỏi thất vọng vì con người không chạm tay tới được những điều mong muốn tuyệt đối Cuộc sống chỉ có ý nghĩa và thúc đẩy khát vọng sống
của con người khi tiệm cận với hư vô
9 S ự cải hóa:
Với bộ óc thông minh và tài ba của mỗi người, trong cuộc sống con người thường quyết định vận mệnh của mình bằng hành động và suy nghĩ riêng không ai giống ai Trong cuộc sống hàng ngày, con người có xu hướng hòa tan vào thế giới mà con người tự nhận là mình thuộc về thế giới đó và bị
thế giới đó xâm chiếm hoàn toàn Chính vì lẽ đó mà con người luôn cảm thấy hài lòng về cuộc sống mà không có ý chí vươn lên Vậy để có được một cuộc
hiện sinh đúng nghĩa, con người cần phải sống một cách đầy ý thức về vận
mệnh của mình, sống một cách đặc biệt chứ không phải sống qua ngày
10 V ấn đề nhập thế (gia nhập, dấn thân, tham gia):
Con người là một thực thể ở đời, trong một hoàn cảnh đã có sẵn, một
hữu thể tại thế như Heidegger nói Trong giới hạn và hoàn cảnh của mình mỗi
cá nhân có thể phát triển một cách tối đa để tạo hình ảnh cho mình Con người
Trang 26chính là sự tự do và phải đảm nhận trách nhiệm, lựa chọn, tham gia, hành động để tự tạo nên vận mệnh của mình
11.V ấn đề tha nhân:
Tha nhân là một vấn đề chính trong triết học hiện sinh Trong quan điểm
hiện sinh, con nguời không thể sống một mình mà còn sống vì người khác
nữa, đó là tha nhân
12 Đời sống dám liều:
Con người phaỉ hành động, dám sống, dám liều theo ý mình bất chấp ánh
mắt cuả tha nhân “Linh động, căng thẳng, quả quyết, nhập thể: Đó là bốn nốt
của gam nhạc hiện sinh viết lên bài ca tranh đấu và hoạt động” [13, tr.15] Trong công trình Triết học hiện sinh, Trần Thái Đỉnh đưa ra 6 phạm trù
hiện sinh cụ thể là buồn nôn, phóng thể, tỉnh ngộ, ưu tư, vươn lên, tự quyết, độc đáo và cô đơn, trong đó, ông đặc biệt chú trọng đến các phạm trù:
M ột: Buồn nôn và phi lý:
Trần Thái Đỉnh đánh giá “Buồn Nôn tương đối là em út trong hàng các danh từ hiện sinh dùng để chỉ vẻ vô lý và vô ý nghĩa của cuộc đời vô lý tưởng
và vô ý thức” [13, tr.42] Buồn nôn chính là chỉ cảnh sống của những người chưa có ý thức vươn lên tới đỉnh cao của cuộc sống, sống như cỏ cây, con vật
bằng lòng với thực tại chưa ý thức đượcvề ý nghĩa cuộc sống nhân sinh Nghiên cứu về mối tương quan giữa đạo phật với các trào lưu hiện đại, tác giả Thích Đức Nhuận đã diễn giải: “Nhận thức của Sartre về ý nghĩa cuộc
s ống là hoàn toàn phi lý Tất cả mọi hiện tượng đều bắt nguồn từ phi lý và trở thành phi lý Nghĩa là chẳng bắt nguồn từ đâu và chẳng đi đâu cả…”[29,
tr.8] Khái niệm phi lý mà Sartre đưa ra đã khởi nguồn cho khái niệm buồn nôn nhằm giúp con người từ bỏ trạng thái sự vật để vươn lên nhân vị tự do và trách nhiệm
Vì vậy buồn nôn không phải là con người sống một cách vô nghĩa lý mà
Trang 27theo các triết gia hiện sinh những ai vươn tới muốn sống hiện sinh đích thực
mới cảm thấy buồn nôn
Hai: Phóng th ể:
Trong triết học hiện sinh của Trần Thái Đỉnh, Phóng Thể có hai hình
thức chính là phóng thể duy tâm và phóng thể duy vật
Đối với triết học hiện sinh Phóng thể là tình trạng của những con người chưa tự ý thức mình là nhân vị độc đáo mà chỉ xem mình là một đơn vị như hàng trăm, hàng nghìn đơn vị khác trong tổng số nhân loại Họ hành động chỉ
vì người ta bảo mình làm thế nào tuyệt nhiên không có khái niệm chống đối hay phản kháng lại Trên mỗi việc học làm hay những gì học suy nghĩ đều không mang đậm dấu ấn cá nhân của họ mà hoàn toàn lệ thuộc vào ý kiến của người khác Chính vì thế, Phóng thể chính là căn nguyên của cuộc sống tầm thường, vô nghĩa lý
Ba:Ưu tư:
Ưu tư chính là do thức tỉnh và suy nghĩ Con người phóng thể thì không
ưu tư, vì họ sống như một sự vật của gia đình và xã hội
Ưu tư không giống sợ hãi Sợ chính là sợ một điều gì rõ rệt (sợ ma, sợ kẻ
cắp) Ưu tư là sự xao xuyến, băn khoăn về một tương lai đầy huyền nhiệm với bao nhiêu yếu tố chưa thành hình r rệt mà ở đó, mỗi người sẽ phải tự quyết định lấy cho mình Chính vì vậy, Nietzsche mới khẳng định sứ mệnh của con người là thông qua những trải nghiệm để sáng tạo nên những giá trị của bản thân mình Và từ đây các nhà hiện sinh coi ưu tư là sức chuyển động, là
những cái cựa mình để vươn lên, để tự khẳng định mình, tự mang đến những giá trị tinh hoa cho bản thân mình
B ốn:Tự quyết:
Các nhà nghiên cứu phương Tây trước đó đã rất tâm đắc phạm trù Tự quyết, đề cao sự lựa chọn của bản thân con người Theo J P Sartre, con
Trang 28người chỉ là cái mình tự tạo nên Pindare khẳng định: “Hãy trở thành chính mày” Kierkegaard phát biểu “Hãy chọn lấy chính mình” Các nhà nghiên cứu đều chỉ ra sự tự quyết trong bản thể mỗi con người Chính trong hành động tự quyết, triết học hiện sinh chứng tỏ hiện sinh là giá trị sống không phải giá trị
tư tưởng Ở điểm nhìn này, các nhà hiện sinh thể hiện niềm tin tưởng tuyệt đối vào khả năng của con người Mỗi khi tự quyết điều gì đó cho bản thân tôi đều không sợ sai lầm và những rủi ro không đáng có trong tương lai, mỗi điều tôi làm đều quyết định trong sự bình tĩnh và suy nghĩ chin chắn
Chính trong hành động tự quyết, hiện sinh chứng tỏ nó là một giá trị
sống của mỗi con người Con người hiện sinh Ưu tư về định mệnh của mình
và luôn tìm cách phát triển nhân cách của mình hơn nữa nên Tự quyết mang
nặng suy nghĩ ưu tư
Năm:Vươn lên:
Đề tài này là sự phát sinh dưới ngòi bút của Kierkegaard và thực sự đã
thể hiện trong đời sống của ông
Vươn lên ở đây chính là con người phải vượt lên những giá trị vốn có
của bản thân thoát ra khỏi mình của hôm qua để nâng cao chính mình Đọc Kieregaard, chúng ta tưởng như nghe ông cảnh tỉnh con người rằng: “Coi
chừng sa lầy! Tất cả những gì ru ngủ đều là sa lầy” Những triết thuyết của ông đều muốn con người vươn lên tránh khỏi những vấp ngã khổ đau
Thánh Augutine, một trong những cụ tổ của triết học hiện sinh quan
niệm “Không tiến không lùi” Cuộc hiện sinh của đời người là hành trình vươn lên mãi mãi và Vươn lên chính là lẽ sống của hiện sin h trung thực
Sáu: Độc đáo:
Theo Trần Thái Đỉnh, Độc đáo là điểm quan trọng và đặc sắc nhất của triết học hiện sinh Triết học hiện sinh nhằm lay tỉnh con người, nhắc con người biết rằng bản thân mình chính là một cá thể độc đáo và duy nhất và
Trang 29mình phải hoàn thành cái định mệnh độc đáo của mình
Trên đây là sự tổng hợp nội dung tư tưởng hiện sinh hiện đại Mỗi tác
giả lại có hướng nghiên cứu và đào sâu tư tưởng theo nhiều hướng khác nhau theo cách nhìn nhận, đánh giá riêng của mình Những luận đề này, tùy theo
mức độ, đã được thể hiện cụ thể trong các tác phẩm văn học hiện sinh chủ nghĩa
Chủ nghĩa hiện sinh không phải là do một nhà lý luận xuất chúng nào đề
ra mà là sự kết hợp hài hòa giữa những luồng tư tưởng hiện sinh có trong lịch
sử loài người từ thời cổ đại Sự phát triển tư tưởng hiện sinh thành một chủ nghĩa là sự kết hợp, vận định tư tưởng triết học của F Nietzsche, Kierkegaard
và phương pháp khoa học hiện tượng luận của E Husserl
S Kierkegaard (Đan Mạch, 1813-1855) - bậc tiền bối của triết học hiện sinh S Kierkegaard đã tạo ra những đối lập đáng chú ý với những tư tưởng quan trọng khác cả trước và sau ông Có thể nói ông là trường hợp điển hình cho nhận xét “ Tác phẩm của các nhà triết học hiện sinh là bản dịch cuộc đời
họ” S Kierkegaard sinh ra trong một gia đình Cơ đốc giáo Cha ông là một người có đời sống cá nhân dữ dội, đặc biệt với những tình cảm tôn giáo cùng
với những ám ảnh tội lỗi đến với Thiên Chúa Nỗi ám ảnh ấy ông dồn hết vào người con trai út - S Kierkegaard không có tuổi thơ, ông bị lôi cuốn vào ám ảnh tội lỗi của cha mình luôn đau khổ và cô đơn Năm 1839, ông cảm thấy mình không thích hợp với hôn nhân và đó là thời kì ông chìm ngập trong tội
lỗi và càng khiến ông thêm tách biệt với thế giới xung quanh Tiếp sau đó là
thời kỳ sáng tạo mãnh liệt của S Kierkegaard
S Kierkegaard trong sự sáng tạo đặc biệt mang những dấu ấn tâm lý đậm nét từ bi kịch gia đình và của bản thân, đã đưa vào khái niệm “hiện sinh”
dấu ấn đặc biệt của ông Ông lần đầu tiên đưa ra khái niệm hiện sinh như là
Trang 30biểu hiện tổng thể của nhân tính, là cuộc sống đích thực của cá nhân Hiện sinh không thể định nghĩa được mà chỉ có thể mô tả Con người bất hạnh vì
nó bị gạt ra ngoài bản thân nó, ngay lúc nó sống bằng hồi tưởng của quá khứ
hoặc hi vọng vào tương lai Hiện sinh nhấn mạnh tính chất cụ thể và riêng biệt
của một đời sống hiện hữu trong thời gian và những đòi hỏi về tính cá nhân như là sự tương phản với những nỗ lực để điều chỉnh cuộc sống của họ một cách trừu tượng hay theo một chuẩn mực phổ biến Dấu hiệu đặc thù của hiện sinh là sự lo âu xao xuyến của cá nhân do cái họa đánh mất mình luôn ở trước
mắt nó Đây là mô tả điển hình của “lo âu hiện sinh”
Triết học của S Kierkegaard là sự phủ định tuyệt đối triết học duy niệm, duy lý của Hegel và Kant Đó là triết học về đời sống, đem con người về với
cuộc đời của bản thân mình S Kierkegaard nói nhiều về niềm tin và đam mê
“Đam mê là hành vi trung thực của con người” [9, tr.32] và “đức tin là đam
mê cao cả nhất của con người” Triết học hiện sinh S Kierkegaard tiền đề và cũng là cơ sở cho mọi triết học hiện sinh sau này
Karl Jaspers (23/2/1883 – 26/2/1969) là nhà triết học, nhà phân tâm học,
thầy thuốc chữa bệnh tâm thần người Đức, người có ảnh hưởng lớn tới thần
học, phân tâm học và triết học hiện đại Cùng với Heidegger, Jaspers đã sáng
lập chủ nghĩa hiện sinh Đức nổi tiếng trong thế kỷ XX
Bàn về triết học, Karl Jaspers cho rằng khái niệm này bao hàm một lĩnh
vực rộng rãi, kiến thức của nó bao hàm đến toàn bộ lĩnh vực của đời sống con người Vì thế, những định nghĩa triết học khác nhau đều mang dấu ấn trải nghiệm tri thức của con người phát hiện ra nó Triết học tồn tại là vì bao giờ trong con người cũng tiềm chứa những khả năng suy tư, và chúng cần phải được đặt trên một lập trường vô tư, chú trọng tới con người trong vị thế làm người của nó Ông viết: “Chính nhân tính, số phận, kinh nghiệm của chính
chúng ta tác động chúng ta như một nền tảng đầy đủ để hình thành quan điểm
Trang 31triết học” Những nỗ lực trả lời cho câu hỏi “triết học là gì”? Làm nảy sinh
một ý định là, con người vẫn có thể sống yên ổn, thậm chí là tốt hơn khi không biết gì về triết học, người ta chẳng cần phải nhắc tới hai từ triết học mà
vẫn hiện hữu như một nhân vị tự do và độc đáo Do đó, Jaspers cho rằng, cần
giải phóng quan niệm xem triết học là món ăn tinh thần dành riêng cho bậc trí
giả, nhưng cũng cần phê phán thái độ tầm thường hóa triết học, đối xử với con người như một sự vật Sự vật, sự việc, quá trình cần được nghiên cứu (khoa học), còn con người – hiện hữu có tập quán thông cảm và giải thoát cần
phải được thấu hiểu, chia sẻ Ông viết: “Triết lí vừa là thể hiện tư tưởng linh động vừa là suy tư về tư tưởng linh động ấy hay triết lí vừa là hành động vừa
là thái độ giải thích cho hành động Tóm lại, chỉ nhờ kinh nghiệm bản thân,
mỗi con người mới nhận thức được đâu là bản chất triết lí ở đời”
Triết học của Jaspers lay tỉnh con người, thúc đẩy những ưu điểm của con người trong suốt cuộc đời mình “Hành trình là số kiếp con người trong
trần gian”[9, tr.527], Jaspers đã chứng minh cho mọi người thấy được rằng chính cuộc hành trình đày bi đát của thân phận ấy là nguồn an ủi vô tận cho
con người Ông động viên con người vươn lên sống bình yên và hạnh phúc Gabriel Marcel (7 tháng 12 năm 1889 - 8 tháng 10 năm 1973) là nhà triết
học người Pháp Ông đã đưa ra khái niệm chủ nghĩa hiện sinh sau thế chiến I
dù lúc đó ông còn là một người vô thần, ông là một nhà hiện sinh hàng đầu Kitô giáo, và là tác giả của khoảng 30 vở kịch Ông tập trung vào cuộc đấu tranh của cá nhân hiện đại trong một xã hội mất nhân tính công nghệ
Mặc dù thường được coi là hiện sinh Pháp đầu tiên, ông không liên hệ mình
với các nhân vật như Jean - Paul Sartre, thay vì đó ông ưa thích thuật ngữ triết
học hiện sinh để xác định tư tưởng riêng của mình
Về hiện sinh, tư tưởng của Marcel xoay quanh hai danh từ hiện hữu và
sở hữu Chiếm hữu là hình thức suy đồi của hiện hữu Hiện hữu chính là thái
Trang 32độ của nhân vị đối với chính mình, đối với những người xung quanh Marcel phê phán các nhà triết học duy tâm và duy vật đã khách thể hóa con người, tìm định nghĩa con người trong khi con người là chủ thể có tự do và định
mệnh Tự do và định mệnh là hai điểm làm cho con người khác vật Tự do không phải tùy tiện muốn làm gì thì làm mà tự do đích thục là hành vi sáng
tạo của con người hiện sinh Người tự do là người tự tìm thấy đường đi cho cá nhân mình trong mọi việc từ học tập những người đi trước đã trải nghiệm trước đó Là con người ai cũng có thể sống tự do, tự chủ bản thân nếu không
muốn mất đi tư cách của mình Sự tự do và sáng tạo của hiện sinh là sáng tạo chung tay với Thượng Đế, là sáng tạo trên nền tảng lịch sử, văn hóa dân tộc, nhân loại để lại
Tầm ảnh hưởng của triết học Marcel phát triển mạnh mẽ ở Châu Âu
Những biểu hiện về hiện hữu, tình yêu, tha nhân… Không bao giờ làm chúng
ta thỏa mãn được, vì thế đòi hỏi phải có một Thượng Đế Thượng Đế là một điều gì đó vĩnh cửu Chẳng hạn như tình yêu… Học thuyết của Marcel hướng
tới tình yêu và cách đối nhân xử thế với con người Trong thời đại con người
nhận ra mặt trái của văn minh, kỹ thuật, nhận ra được khoa học không giải thoát được mà ngược lại, nô lệ hóa con người, sự bình an gắn liền với nỗi bất
an, thì triết học của Marcel còn đáng để nhớ đến và suy ngẫm, còn gợi ra cho chúng ta những điều lý thú và bổ ích về một xã hội nhân đạo và nơi con người được trân trọng hơn
Ngoài các triết gia trên, ngành hiện sinh hữu thần còn nhiều gương mặt khác như: Max Scheler (Đức, 1874-1928), Vladimir Soloviev (Nga, 1853-1900), Leon Chestov (Ucraina, 1866-1938), PauTillich (người Mỹ gốc Đức, 1886-1965)…
Friederich Nietzsche (Đức, 1844-1900) cùng với Kierkegaard là những người đi tiên phong cho chủ nghĩa hiện sinh Friederich Nietzsche là khởi
Trang 33thủy của hiện sinh vô thần “Nietzsche nổ bùng như một tiếng sét lạ giữa một khung trời trống vắng” [12, tr.13] Bằng vốn hiểu biết phong phú, Friederich Nietzsche đã chỉ ra điểm đáng học tập và hạ bệ những điều ông cho là không
thể chấp nhận và tồn tại được Friederich Nietzsche bày tỏ sự khâm phục với
những người thầy như: Napoleon Bonaparte, Goeth, Dostoevsky, Beethoven…
Trong số các nhà triết học quan trọng, các tác phẩm của Nietzsche có lẽ
đã tạo ra ít sự nhất trí giữa những người giải nghĩa nhất Tuy các khái niệm quan trọng có thể được xác định dễ dàng, nhưng người ta phải tranh cãi quyết
liệt về ý nghĩa của mỗi khái niệm, chưa nói đến tầm quan trọng tương đối của chúng Nietzsche đã có một tuyên bố nổi tiếng rằng Chúa đã chết, và cái chết này hoặc dẫn đến chủ nghĩa quan điểm cấp tiến hoặc buộc người ta phải đối
diện với thực tế rằng chân lý đã luôn luôn mang tính quan điểm Nietzsche còn được ghi nhận về sự phân biệt giữa đạo đức chủ và đạo đức nô, đạo đức
chủ nổi lên từ một sự ca tụng cuộc sống, đạo đức nô là kết quả của sự thù hận đối với những người có thể loại kia Sự khác biệt này được tóm gọn là sự khác biệt giữa "tốt và xấu" ở bên này, và giữa "thiện và ác" ở bên kia; điều quan trọng là người "tốt" của đạo đức chủ là người "ác" của đạo đức nô Một
số khái niệm quan trọng khác của Nietzsche gồm Ý chí Quyền lực…
Martin Heidegger (Đức, 1889-1976) Ông chịu ảnh hưởng của triết
học Brentano, sau khi nghiên cứu, ông quyết định tìm hiểu ý nghĩa của khái
niệm tồn tại và cấu trúc bản thể của tồn tại người Heidegger cho rằng, triết
học châu Âu trước đó chỉ đặt ra vấn đề hiện hữu nói chung và sự hiện hữu tối cao là Chúa, chứ không đặt ra vấn đề: thông qua cái gì mà tất cả mọi sự hiện
hữu mới có thể là hiện hữu? Tức là triết học truyền thống đã không đặt ra vấn
đề tồn tại người Heidegger cho rằng tồn tại người là xuất phát điểm, là hiện
thực đầu tiên có tính thứ nhất Khác các hiện hữu khác, tồn tại người là một
Trang 34hiện hữu ý thức được sự hiện hữu của chính mình, tức là có khả năng nhận
thức, khả năng tự hỏi về vấn đề hiện hữu Tồn tại không phải là các sự vật và
nó cũng khác hiện hữu Tồn tại người là nền tảng, là nguồn gốc của toàn bộ
hiện hữu Nếu đối tượng nghiên cứu của bản thể luận truyền thống là vật thể, hay cao hơn nữa là Chúa trời thì đối tượng nghiên cứu của bản thể luận chính
là tồn tại Theo Heiderger tồn tại chính là cái định đoạt sự vật như là sự vật, là cái trên cơ sở đó sự vật đã được hiểu Trong các vật thể, con người là một loại đặc biệt Sự đặc biệt đó, theo Heiderger là do trong sự tồn tại của con người
có sự hiện diện sự hiểu biết về tồn tại Chỉ trong sự tồn tại của con người mới
tiềm ẩn một sự hiểu biết về tồn tại Nó thể hiện trong cách sống của con người, trong cách con người liên hệ với các vật thể khác Heidegger phân biệt
hiện hữu là khác với tồn tại, hiện hữu là một cái gì đó được hình thành và có được bằng một cách nào đó
Heidegger không thừa nhận khái niệm chủ nghĩa hiện sinh nhưng
“những suy tư của ông về tồn tại và Dasein, về tính thời gian, về thời gian
chứng tỏ ông không những là nhà hiện sinh mà còn đi sâu hơn các vị hiện sinh tiền bối, là người góp phần làm chủ nghĩa hiện sinh được phong phú hơn” [8, tr.41-42]
Maurice Merleau-Ponty (1908-1961) được lịch sử ghi nhận là nhà hiện tượng học vĩ đại người Pháp Ông phát triển hiện tượng học của Husserl để
phản ứng lại Bergson và chủ nghĩa duy linh cho rằng thân xác con người cản
trở, làm hạn chế sự phát triển của đời sống tinh thần, làm giảm đi sự cao đẹp
của đời sống tinh thần Maurice Merleau-Ponty chủ trương “Tôi là thân xác tôi”, ông muốn chứng minh rằng “thân xác không phải nhà tù linh hồn, mà
hoàn toàn ngược lại, linh hồn lại là nhà tù của thân xác” [13, tr.565]
Cảm kích trước Husserl và quan niệm của Husserl về thế giới sống,
Maurice Merleau-Ponty đã kết hợp phương pháp tiên nghiệm của Huserl với
Trang 35những vấn đề nhận thức và sự định hướng hiện sinh từ Heidegger, Marcel Ông nhấn mạnh bản chất trần tục của tồn tại người mà trên cả là tính xác thịt
của con người Theo Maurice Merleau-Ponty tồn tại người gồm ba đặc tính cơ
bản :tự do, cô độc và sáng tạo Mặc dù cùng với Sartre sáng tạo và đồng chủ biên tạp chí Les Temps Modernes (Thời hiện đại/ Thời Mới) nhưng tư tưởng
của Maurice Merleau-Ponty không giống Sartre Ông không lấy tôi để chống
lại tha nhân, “cái nhìn của tha nhân chỉ biến tôi thành sự vật và cái nhìn của
tôi chỉ biến tha nhân thành sự vật khi những cái đó chỉ là cái nhìn vô nhân đạo
mà thôi” [8, tr.34]
Jean-Paul Sartre là nhà triết học hiện sinh, nhà soạn kịch, nhà biên kịch,
tiểu thuyết gia và là nhà hoạt động chính trị người Pháp Ông là một trong
những nhân vật nòng cốt trong hệ thống triết học của chủ nghĩa hiện sinh, và
một trong những nhân vật có ảnh hưởng lớn trong nền triết học Pháp thế kỷ
20 và chủ nghĩa Marx Jean-Paul Sartre là một trong số các nhà văn coi quan điểm triết học là trung tâm của hoạt động sáng tạo Tác phẩm triết học
chính (T ồn tại và hư vô, 1943) là sự tổng hợp quan điểm chính của ông về
cuộc sống Chủ nghĩa nhân đạo hiện sinh mà Sartre truyền bá trong tiểu luận
nổi tiếng (Chủ nghĩa hiện sinh là chủ nghĩa nhân đạo) cũng được thể hiện rõ
trong tiểu thuyết (Những con đường của tự do, 1945-1949) (Buồn nôn, 1938)
là một trong những tác phẩm đáng chú ý nhất của ông Mặc dù có một số ý
kiến rằng nó chỉ là một trò chơi triết học ngụy trang dưới hình thức tiểu thuyết, nhưng sức lôi cuốn và hấp dẫn của nó là không thể phủ nhận Câu chuyện có vẻ như là một chuỗi tự sự tiêu cực và buồn chán, chứa đựng đầy
nỗi ngờ vực và trĩu nặng suy tư về tồn tại, hư vô
Chủ nghĩa hiện sinh của Sartre được gọi là chủ nghĩa hiện sinh hành
động vì ông quan niệm con người được định nghĩa theo hành động, “không có
m ột chủ thuyết nào lạc quan hơn thuyết hiện sinh, vì thuyết này cho rằng định
Trang 36m ệnh của con người nằm chính trong tầm tay con người” [34, tr.42] Để bảo
vệ chủ nghĩa hiện sinh là một thuyết nhân bản, Sartre tập trung vào vấn đề con người và phát triển khái niệm tự do Ông cho rằng, các thuyết trước kia đều bỏ quên giá trị vốn có của con người coi con người nhỏ bé và tầm thường
Chủ nghĩa hiện sinh trả con người về đúng vị trí của nó, phát triển quan niệm
“Tồn tại có trước bản chất” của Husserl Con người là một hữu thể tự ý thức, luôn hướng về tương lai Con người là những dự phóng, dự tính về tương lai Thượng Đế là một phóng thể của con người Con người luôn muốn hoàn thiện mình và luôn mong muốn theo đuổi những giá trị cao quý, vô cùng đó nhưng không bao giờ đạt tới được Đây chính là nguyên nhân dân tới cái phi lý, bi đát của cuộc đời con người Quan niệm của Sartre có được cái nhìn khái quát
nhất về con người, mong muốn và khát khao vươn tới đề hoàn thiện bản thân Trên đây, là sự trình bày một cách khái quát nhất về các triết gia hiện sinh Những triết gia được nói đến trên đây mà có đóng góp rất lớn làm cho thuyết hiện sinh trở thành một chủ nghĩa và tạo nên sức hấp dẫn cũng những ảnh hưởng to lớn, sâu rộng của triết học này trong đời sống tư tưởng, cũng như đời sống xã hội phương Tây thế kỷ XX
1.2 Văn học hiện sinh
Trên thế giới, ngay từ thế kỷ XX, các tác phẩm văn học như truyện
ngắn, tiểu thuyết, kịch, nghiên cứu văn học đã được các nhà hiện sinh sử dụng
để trình bày quan điểm cá nhân Điều này lý giải vì sao ở Châu Âu, nơi là cội nguồn của triết học hiện sinh đã hình thành Dòng văn học hiện sinh xuất hiện
lần đầu tiên ở Pháp Sau đó tiếp tục lan rộng ra nhiều nền văn học trên thế
giới như Tây Ban Nha, Anh, Tây Đức… Sức mạnh của nó bao trùm lên cả
những quốc gia Phương Đông xa xôi như Nhật Bản và cả ở Việt Nam…và tạo
ra những dấu ấn đậm nét trong văn học
Trang 37Nhìn một cách tổng thể nhất, tinh thần của chủ nghĩa hiện sinh gây tác động và được truyền tải khá đa dạng, đặc sắc ở nhiều quốc gia, dân tộc, song
cơ bản vẫn xoay quanh một trụ chung như miêu tả đời sống giống như một
tấm bi kịch, phi lý và bất ổn, ở đó bức tranh về con người hiện lên là nỗi cô đơn, sự tha hóa, thậm chí đầy nổi loạn trước những điều bất hợp lý, khao khát tìm kiếm tự do, lối thoát cho bản thân Nhằm truyền tải những nội dung cơ
bản trên, dòng văn chương hiện sinh có một hệ thống đề tài tương đối rộng, song có lẽ nổi bật nhất ở “cái phi lý”, “lo âu” và “tự do” Trong đó “cái phi lý” đi liền với những thảm họa do chủ nghĩa Phát xít gây ra Con người không
thể giải thích được cuộc sống khi tồn tại trước mắt họ là những cảnh đổ nát, hoang tàn Thế giới là một sự phi lý, con người luôn trăn trở mình về đâu?tồn
tại thế nào? tương lai ra sao? Buồn nôn của Sartre ông viết “Tôi đã tìm thấy chìa khóa của hiện sinh chìa khóa buồn nôn của tôi, của chính cuộc đời tôi cái tuyệt đối hay là cái phi lý”[34,tr151 Sự lo âu nảy sinh khi con người nhận
thức được sự phi lý của thế giới nhưng không thể giải thích nổi do đó nó vừa
khủng khiếp, vừa thu hút, vừa tạo nên sự hưng phấn kinh sợ, một sự đau khổ, dày vò con người Và “tự do” theo Sartre “con người bị kết án phải tự do, con người phải tự do trong bất kỳ hoàn cảnh nào” tức là tự do là do mình tự quyết định theo lương tri của mình, tự trách nhiệm mỗi lựa chọn của chính mình Chính những tự do quyết định ấy dẫn đến lo âu, khắc khoải trong cuộc sống
Có thể nói, văn học hiện sinh quan tâm tới con người, đối kháng lại xã hội bất công, phi lý đương đại có lúc tỏ ra bi quan, tiêu cực về số phận Nhưng khi cho rằng tồn tại có trước bản chất, nó nhấn mạnh sự tồn tại tích cuwcuj của
mỗi cá thể Con người không đứng yên bất động mà tồn tại như một thứ gì đó
đã được xác định, con người sống phải luôn ý thức về trách nhiệm với bản thân Nói cách khác, vũ trụ và con người chỉ là hữu thể Vũ trụ chỉ tồn tại khi
có ý nghĩa với cuộc sống của con người Mỗi cá nhân chỉ hiện sinh khi đã trải
Trang 38qua sự trải nghiệm với cuộc sống, bản thân tự ý thức được, lúc ấy họ mới hiện
hữu Đó là nguyên tắc đầu tiên của thuyết hiện sinh Đó cũng chính là cái người ta gọi là chủ thể
Triết học là sự khám phá thế giới và bản thân con người Văn học nghệ thuật nói chung suy cho cùng là sự thể hiện khát vọng tự nhân biết và tự thể
hiện mình của con người Sau chiến tranh thế giới thứ II, tâm trạng chung của con người là hoang mang, hoài nghi, đổ vỡ… Con người không còn thấy
“Thế giới là tôi” như ở thế kỉ XIX nữa mà nhận ra “Tôi không phải là thế
giới”[4, tr.254] Kiếp người trở nên mong manh, lí trí của con người không đủ
khả năng để lý giải vận mệnh của mình Cơ duyên kết hợp giữa triết học hiện sinh và văn học hiện sinh không phải do ý muốn của các nhà triết học hay các nhà văn có phương pháp luận gần gũi giữa phương pháp luận triết học và phương pháp luận sáng tác văn học Cả hai đều quan tâm cụ thể đến sự sinh động, độc đoán của mỗi con người – mỗi hiện sinh thể Các nhà văn hiện sinh chú ý đến quá trình vận động của thân phận con người trong hoàn cảnh bi đát
Nỗi bất an thân phận làm người từ sáng tác của Dotoevsky, Kafka, Nikos Kazantzakis Đặc biệt ở Nikos Kazantzakis, ông luôn quan niệm vũ trụ là mãi mãi nhưng cuộc sống con người là hữu hạn chính vì vậy nhân vật trong các tác phẩm của ông luôn có một hành trình vô hạn, liên tục và luôn hướng tới
một mục đích cao cả
Các tác giả, tác phẩm của văn học hiện sinh có thể kể đến như:
Franz Kafka (3 tháng 7 năm 1883 - 3 tháng 6 năm 1924) là một nhà văn
lớn viết truyện ngắn và tiểu thuyết bằng tiếng Đức, được giới phê bình xem như một trong những tác giả có ảnh hưởng nhất thế kỉ XX Kafka là một nhà văn hiện đại chủ nghĩa và chịu ảnh hưởng của tư tưởng triết học hiện đại Các tác phẩm của ông, như Hóa thân (Die Verwandlung), Vụ án" (Der Prozess), và Lâu đài (Das Schloss)
Trang 39Kafka trong “cuộc chiến chống phi lí”, tiếp tục khẳng định vòng cương
tỏa của thiết chế quyền lực đối với thân phận của con người: “Cái quyền lực
vô hình và phi lí trong Vụ án và Lâu đài đã được ông biểu đạt thực sự tài tình
và đấy ấn tượng… Trong tác phẩm của Kafka, cái quyền lực vô hình và phi lí
tồn tại như một bóng ma, nó lờ mờ ẩn hiện và được vây bọc bởi một mê cung không thể vượt qua” [8, tr.9] Trong bài “Thế giới nghệ thuật Franz Kafka”, nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung dành nhiều sự quan tâm tới những băn khoăn của Kafka về số phận con người trước thiết chế quyền lực phi lí: “Các tác phẩm của Franz Kafka là sự lí giải những ấn tượng nghiệt ngã về thế giới phi lí, về sự tha hóa của con người trong vòng vây của những thiết chế quyền
lực vô hình” [8, tr.250] Khi đi sâu nghiên cứu tiểu thuyết Lâu đài, phó giáo
sư cho rằng: “Lâu đài trong cuốn tiểu thuyết này, thực ra, cũng là luật pháp trong Vụ án: không thể tiếp cận, không thểtìm gặp, nó tồn tại không cụ thể;
khắp mọi nơi đều như có nó mà vẫn không có nó Tòa lâu đài là hình ảnh huyền thoại về một tổ chức quyền lực quan liêu với những sợi dây vô hình đã trói buộc cuộc đời của từng con người… Cái thiết chế quyền lực bí ẩn, với
những hình ảnh quái dị, tầm thường đó đã chế ngự đời sống của từng con người, quy định trạng thái sống, hành vi ứng xử và cách nghĩ của họ, biến họ thành những kẻ làm theo, nói theo, vừa hài hước, vừa tội nghiệp ” Tác giả cho rằng, Kafka, qua sáng tác của mình “không chỉ xem xã hội tư bản là phi
lí, mà mọi loại xã hội với những thiết chế quyền lực không thực sự vì lợi ích
của con người đều phi lí, xấu xa, không đáng sống và không thể nào sống được”
Albert Camus (1913-1960) là nhà văn viết tiểu thuyết, kịch và các bài bình luận, một nhà văn nổi tiếng của trường phái văn học phi lý Albert Camus đã nhận giải thưởng Nobel Văn Chương, là người trẻ tuổi thứ hai từng lãnh giải thưởng danh giá này
Trang 40Camus đặc biệt được coi là người đẻ ra ý niệm phi lý, một ý niệm triết
học liên quan đến chủ nghĩa hiện sinh Theo Camus con người phi lý, thế giới không phi lý, nhưng đối với con người sống trong thế giới đó là phi lý Con người không thể cảm thấy tự nhiên như ở nhà của mình bởi vì nó khao khát
trật tự, sự sáng tỏ ý nghĩa và cuộc sống đời đời, trong khi thế giới là hỗn loạn,
tối tăm, dửng dưng chỉ toàn đem tới khổ đau và chết chóc Từ đó, con người
bị ghẻ lạnh và bị xa lánh trong thế giới này Sự chính trực và phẩm giá đòi hỏi
mỗi con người phải chấp nhận thân phận con người như vốn có và phải tìm
những giải pháp thuần túy nhân văn cho tình cảnh của mình
Với Camus, văn học cũng thực hiện nhiệm vụ của triết học Ông viết
“Kẻ xa lạ” (tiểu thuyết năm 1942) và “Dịch Hạch”(tiểu thuyết năm 1947) ông xây dựng nhân vật Merseu và Bernard Rieux, Jean Tarrou để chỉ ra sự vô nghĩa của cuộc sống, sự nổi loạn của con người, điều xuyên suốt trong toàn
bộ tư tưởng cũng như lý luận của chủ nghĩa hiện sinh mà ông theo đuổi Merseau (“ Kẻ xa lạ”) coi tình mẫu tử, tình yêu lứa đôi, cái chết…chẳng có gì quan trọng cả Anh khước từ các chuẩn mực xã hội áp đặt lên hành vi của bản thân và muốn sống đích thực với chính con người của mình Bởi thế Merseau
là kẻ lạc loài, xa lạ với xã hội và anh ta bị kết án Bernard Rieux (bác sĩ), Jean Tarrou (trí thức) (“Dịch hạch”) cùng sống trong thành phố Oran bị dịch chuột lan rộng, mất kiểm soát Nhưng họ không giống như phần đông những con người còn lại của thành phố ví sợ bệnh dịch hoặc sống trong sự hãi hung hoặc tìm đến những thú vui để quên đi sự lo âu hoặc “lợi dụng cảnh khốn chung”
để làm giàu Họ can đảm không tuyệt vọng Bằng những phương tiện ít ỏi để
chống lại sự hoành hành của bệnh Bernard Rieux suy nghĩ đơn giản nhưng đầy quyết liệt “nếu không điên thì cũng mù nếu không mù thì cũng hèn nhát
mới cam chịu buông tay trước dịch hạch” sức lực của tôi đến đâu thì tôi bảo