Hiểu về cảm quan sẽ giúpngười đọc hình dung được những nền tảng sâu xa chi phối đến quá trìnhsáng tác và những tư tưởng về thế giới, con người tác giả muốn gửi gắm.Trên thế giới, có nhữn
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Chưa có một trào lưu triết học nào gần gũi với cuộc sống như triết họchiện sinh Nú đó hình thành nên những xu hướng mới trong đời sống và đểlại những dấu ấn đậm nét trong văn học
Chủ nghĩa hiện sinh, sau khi gây một phong trào mãnh liệt và sâu rộngtrong văn học nghệ thuật, sau gần 20 năm hoạt động ở bề nổi, nay dần đi vàothế chỡm Nú đó lắng lại trong tiềm thức của mỗi người Ở Việt Nam, triếthọc hiện sinh không còn là một thứ mốt cho người ta chạy theo Nhưng nóvẫn mang một sức hút khó cưỡng đối với nhiều nhà văn Những tư tưởng vềnhân vị, tự do, về cuộc sống bất an và âu lo của chủ nghĩa hiện sinh, vẫn tìmthấy sự đồng điệu trong tâm hồn những nhà văn khi họ đối diện với nhữngđổi thay lớn lao của đất nước và thời đại
Nhà văn nhìn cuộc sống không như những triết gia nhưng trong tác phẩm
của họ mang màu sắc triết học đó là vấn đề cảm quan Cảm quan có sự hòa
hợp cảm quan cá nhân và cảm quan thời đại Hiểu về cảm quan sẽ giúpngười đọc hình dung được những nền tảng sâu xa chi phối đến quá trìnhsáng tác và những tư tưởng về thế giới, con người tác giả muốn gửi gắm.Trên thế giới, có những tên tuổi bất hủ, gắn liền với chủ nghĩa phi duy líđặc biệt là chủ nghĩa hiện sinh: Franz Kafka, Albert Camus, Jean PaulSartre, Marcel Proust… Trong tầm nhìn của văn học so sánh, chúng ta cóthể thấy được sự tác động mạnh mẽ của trào lưu văn học này đến Việt Nam,mặt khác, trong tương quan đồng điệu nào đó về văn hoá, thời đại cảm quanhiện sinh đã nảy sinh và mang những nột riờng do hoàn cảnh xã hội đấtnước quy định Nó đem đến cho văn học, những điều vừa quen vừa lạ
Mỗi nhà văn trong bối cảnh văn hoá mới, với những hoang mang và cảmthức thời đại đã trở thành những cây bút sung sức và khát khao thể hiệnmình Tiểu thuyết trở thành đất dụng võ cho các cây bút thể nghiệm những
Trang 2đổi mới của mình, từ nội dung đến hình thức Bởi “Tiểu thuyết nhịp bước cùng con người thường xuyên và trung thành từ buổi đầu thời hiện đại Niềm say mê được hiểu biết, đã xâm chiếm lấy nó, khiến nó chăm chú dò xét cuộc sống cụ thể của con người và bảo vệ cuộc sống này chống sự lãng quên của con người; khiến nú luụn giữ cái thế giới sự sống dưới nguồn sáng rọi thường trực.” [20, 12]
“Thời của tiểu thuyết” với những cách tân độc đáo, mang đậm dấu ấncủa mỗi cá nhân, tiểu thuyết đã vượt khỏi những khuôn mẫu Để tiếp cậntiểu thuyết, chúng ta không thể bỏ qua vấn đề cảm quan Đặc biệt trong thời
kì, cảm quan hiện sinh ngày càng đậm nét trong văn học qua những tên tuổilớn như: Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh,Nguyễn Bình Phương, Thuận…
Thực chất, cảm quan hiện sinh, không chỉ tác động, làm biến đổi nộidung mà còn tạo ra động lực để thay đổi nghệ thuật biểu hiện của tiểuthuyết Nó tạo ra một cuộc cách tân mạnh mẽ từ nội dung đến hình thức củathể loại nền tảng trong văn học
Nguyễn Việt Hà và Đoàn Minh Phượng là hai cây bút được chú ý nhiều.Cảm quan hiện sinh là đóng góp độc đáo trong tiểu thuyết hai tác giả này.Nguyễn Việt Hà, được coi như một “ụng kễnh” văn chương có thể xếp bênnhững tên tuổi lớn như Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh … Đoàn MinhPhượng lặng lẽ đến với văn chương, nhưng những trang văn của chị đã trởthành nỗi ám ảnh đối với nhiều độc giả Tiểu thuyết Và khi tro bụi, đượctrao giải thưởng duy nhất của hội nhà văn phần nào nói lên chất riêng củachị trong văn học
Hai cây bút trẻ, hai phong cách có phần xa lạ với nhau, nhưng họ đãmang đến cho tiểu thuyết những dấu ấn riêng Cảm quan hiện sinh là nét đặcsắc trong sáng tác của Nguyễn Việt Hà và Đoàn Minh Phượng, đó là cơ sởcho những thể nghiệm táo bạo từ nội dung đến nghệ thuật tiểu thuyết
Trang 3Luận văn nghiên cứu: Cảm quan hiện sinh trong tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà và Đoàn Minh Phượng cũn gúp thờm một cách nhìn mới khi tìm
hiểu những tiểu thuyết khỏ “trỳc trắc” của hai tác giả này Từ đó có thể gợi ýmột cách tiếp cận cho những tiểu thuyết “khú đọc” hiện nay Những tiểuthuyết dang dở, mang những ám ảnh bi đát về thân phận con người
2 Lịch sử vấn đề.
2.1 Lịch sử nghiên cứu cảm quan hiện sinh
Chủ nghĩa hiện sinh là lí thuyết triết học và mĩ học được du nhập và
có ảnh hưởng rộng rãi nhất trong lý luận và sáng tác văn học ở miền NamViệt Nam những năm 1954 – 1975 Chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện khi chủnghĩa duy linh nhân vị sụp đổ Nó nhanh chóng trở thành một phần trong
đời sống qua sự phổ biến của báo chí “Những tờ tạp chí lúc đó như Đại học, Sáng tạo, Văn, Bách khoa…đều có những bài viết hay số báo đặc biệt về trào
lưu triết học và văn học này cùng những tác gia của nó như Jean-Paul Sartre,Albert Camus… Hỗ trợ có hiệu quả cho việc tìm hiểu và nghiên cứu đó là nỗlực dịch thuật ngày càng sâu rộng những đứa con tinh thần của các tác giahiện sinh Về lý thuyết là các công trình của F Nietzsche, K Jaspers, M.Heidegger, J.-P Sartre… Về sáng tác là tiểu thuyết, kịch bản văn học của A Camus, J.-P Sartre, S de Beauvoir, F Sagan…”
Ngay từ 1942, Công trình của Nguyễn Đình Thi “triết học Nietzche”
đã đưa lại những hiểu biết ban đầu đúng đắn về Nietzche và gợi mở về chủ
nghĩa hiện sinh: “dùng trực giác chống lớ trớ, dựng bi quan chống lại lạc quan, dùng phi đạo đức chống luõn lớ” [27 – 202]
Từ tháng 10-1961 đến tháng 9-1962, trên tạp chí Bách Khoa, dưới bút hiệu Trần Hương Tử, Trần Thái Đỉnh đã viết một loạt bài giới thiệu chủ nghĩa hiện sinh, về sau được tập hợp thành chuyên khảo Triết học hiện sinh (NXB
Thời mới, Sài Gòn, 1967, tái bản 1968) Tác giả đã trình bày tổng quan vềtriết học hiện sinh với những đề tài chính và hai ngành: hiện sinh hữu thần vàhiện sinh vô thần Tác giả đi sâu phân tích những quan niệm của các triết gia
Trang 4tiêu biểu với Kierkegaard, Nietzsche, Husserl, Jaspers, Marcel, Sartre vàHeidegger
Tác giả Lê Tôn Nghiêm cũng có nhiều công trình chuyờn sõu về triết
học Heidegger: Heidegger trước sự phá sản của tư tưởng Tây phương (NXB
Lá Bối, Sài Gòn, 1970); Đâu là căn nguyên tư tưởng hay con đường triết lý
từ Kant đến Heidegger (NXB Trình Bầy, Sài Gòn, 1970).
Nguyễn Văn Trung được nhiều người biết đến với những công trìnhnghiên cứu bàng bạc tư tưởng hiện sinh, đặc biệt là J P Sartre
Công trình của tác giả Nguyễn Tiến Dũng “Chủ nghĩa hiện sinh, lịch
sử, sự hiện diện ở Việt Nam” đó khỏi quỏi sự ra đời và phát triển, những vấn
đề trung tâm của triết học hiện sinh và quá trình hiện diện của chủ nghĩahiện sinh ở Việt Nam, từ đó chỉ ra những dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinhtrong một số tác giả tiêu biểu: Phạm Thị Hoài, Nguyễn Quang Lập, NguyễnHuy Thiệp…
Theo tác giả: “chưa có một trào lưu văn học nào như văn học hiện sinh mà chỉ trong thời gian ngắn đã cho ra đời một khối lượng lớn đến thế….” Văn học hiện sinh: “quan niệm kiếp người là một bất đắc dĩ, là một thảm kịch, là thất bại, vì vậy nó mang nặng chủ nghĩa bi quan xa lạ với chủ nghĩa lạc quan cách mạng [5, 134]” Vì thế, nó ít có những tác phẩm lớn, ít
giá trị nhân văn
Trong tác phẩm, “Mấy trào lưu triết học phương tõy”, tác giả PhạmMinh Lăng, (1989) đề cập đến những vấn đề cơ bản nhất của chủ nghĩa hiệnsinh: vũ trụ, con người và đời người dưới con mắt của chủ nghĩa hiện sinh.Nhưng gúc nhỡn của tác giả vẫn còn giới hạn trong nhận thức phê phán
Cùng với quá trình đổi mới, quá trình toàn cầu hóa, những tác phẩmcủa những triết gia hiện sinh trở nên quen thuộc với đông đảo độc giả ViệtNam
Trang 5Vấn đề nghiên cứu cảm quan hiện sinh, thực chất không phải là vấn
đề mới mẻ Trong những nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh, nhiều nhànghiên cứu đã nhắc đến cảm quan bi đát về thế giới và con người của nhữngtriết gia hiện sinh Trước cuộc sống giòn ải của con người, sự bất lực củanhận thức, con người luôn lo âu và bất an Thế giới trở nên xa lạ và bí ẩn
Khi nghiên cứu về vấn đề hậu hiện đại, sự đổi mới của tiểu thuyết vấn
đề con người hoài nghi, vô minh, những cảm nghiệm chua chát ê chề vềthân phận được nhắc tới Thực chất, nó rất gần gũi với cảm quan hiện sinh
Nguyễn Việt Hà và Đoàn Minh Phượng là hai cây bút trẻ, thu hútđược sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình, những người yêu vănhọc Có thể coi, cảm quan hiện sinh là một đóng góp độc đáo của hai tác giảnày
2.2 Những nghiên cứu gợi mở về cảm quan hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà
Ngay khi xuất hiện với cuốn tiểu thuyết đầu tiên, Nguyễn Việt Hà đãđược coi là một hiện tượng văn học Chỉ cần seach trên google cũng có thểhiển thị đến hơn 13 triệu kết quả liên quan đến Nguyễn Việt Hà và nhữngtiểu thuyết của anh Điều đó chứng tỏ sự quan tâm của công chúng đối vớinhà văn trẻ này Trong đó có rất nhiều những ý kiến trái chiều
Nhiều tác giả đã đánh giá cao, những nỗ lực cách tân tiểu thuyết củaNguyễn Việt Hà Từ ngôn ngữ, cấu trúc, điểm nhìn trần thuật, đến nhữngcảm quan mới trong tác phẩm
Tác giả Đoàn Cầm Thi cho rằng “ Cơ hội của Chúa cuốn hút tôi trên hết bởi nghệ thuật của nó Tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà là một lò thử nghiệm văn phong khổng lồ trong đó ta gặp lối kể chuyện ở ngôi thứ ba, thể loại tự sự ở ngôi thứ nhất, văn nhái, truyện lồng truyện, tiểu luận.” [69]
Khải huyền muộn khi ra đời cũng cũng được không ít nhà văn tán
thưởng Nhà văn Trung Trung Đỉnh: “Với tiểu thuyết Khải huyền muộn, nhà
Trang 6văn Nguyễn Việt Hà đã tự mình bứt mình ra khỏi lối mòn của cấu trúc tiểu thuyết và cách kể chuyện truyền thống” Hoạ sĩ Lê Thiết Cương: “Trong Khải huyền muộn có những đoạn luận văn học, những đoạn không bịa như nhật ký Cảm giác như đang xem phim truyện lại có một trường đoạn phim tài liệu.” “Khụng cú kiếm tiền xong rồi, yêu xong rồi, sống xong rồi Không
có kết Khải huyền muộn là một kiểu siêu văn bản của nhiều văn bản dở
dang.” Nhà văn Tạ Duy Anh cũng khen ngợi: “Tôi phải nói ngay rằng văn
trong Khải huyền muộn hơn đứt trong Cơ hội của Chúa Nhiều trang văn rất đẹp, có chiều sâu, có sức lan toả và nó cũng cho thấy tác giả là người nghiêm túc, có bản lĩnh, có trách nhiệm nghề nghiệp.” Dù: “Nhược điểm lớn nhất của Khải huyền muộn – theo tôi – là tác giả còn lộ ra mình phải cố” Với nhà phê bình Nguyễn Chí Hoan: “Cuốn tiểu thuyết này gợi lên nhiều ý tưởng, nhiều điều để nói.” Nhà nghiên cứu Nguyễn Mạnh Hùng nhận xét: “Khải huyền muộn là những sải bơi tiếp theo Cơ hội của chỳa trờn dòng sông tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà Chọn lựa thứ cấu trúc đa ngôi thứ như thể khối vuụng ru-bớch, Nguyễn Việt Hà tạo cho mình ưu thế thoải mái để quan sát và kể chuyện, thoả cơn khát tìm tòi và đồng cảm với các nhân vật cuộc sống.” [51]
Bên cạnh đú, cú khá nhiều luận văn nghiên cứu về tiểu thuyết củaNguyễn Việt Hà, chứng tỏ sự yêu thích và quan tâm của giới trẻ đến nhữngtiểu thuyết này, dù đó là những tiểu thuyết không dễ đọc
Phạm Thị Thu Thuỷ trong luận văn “Nhỡn chung về tiểu thuyết ViệtNam từ 1995 đến nay” đã đề cập những đổi mới về tiểu thuyết Việt Nam từ
1995 đến nay Trong một số tiểu thuyết đáng chú ý, tác giả đã đánh giá kháiquát những băn khoăn về ý nghĩa cuộc sống, những thể nghiệm đổi mới thểloại trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà
Luận văn “Những thể nghiệm tiểu thuyết qua Cơ hội của Chúa và Khải huyền muộn của Nguyễn Việt Hà”, Nguyễn Thi Anh Đào, đi từ sự thay
Trang 7đổi cách tiếp cận đời sống đến quan niệm nghệ thuật về con người Tác giảchỉ ra những thể nghiệm về cốt truyện và di chuyển điểm nhìn trần thuật,cách ứng xử khác và mới trong nghệ thật xây dựng nhân vật
Tuy nhiên, khi tiếp cận với cái mới, có rất nhiều những luồng tưtưởng trái ngược Nhiều nhà nghiên cứu đã hoài nghi những sáng tác của Nguyễn Việt Hà.
Trong bài viết: “Cơ hội của Chúa: Chúa cũng không giúp được gỡ!”
Nguyễn Hòa cho rằng tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà là một người đọc nhiều,
ưa triết lý, sính ngoại ngữ và khoái trích dẫn kim – cổ, đông – tây Và
“Người làm sao của chiêm bao làm vậy” [43] Đối với Cơ hội của Chúa, có tác giả nhận xét đó chỉ là “món nộm” (Lê Hoàng) và “cái giọng trí thức bụi bình dân cao cấp nhiều lắm cũng chỉ tạo nổi thứ văn chương hạng nhì”
Các tác giả đã nhìn ra cái “tạng” của Nguyễn Việt Hà trong tiểu
thuyết Nguyễn Việt Hà viết về cuộc sống chưa hoàn kết, tiểu thuyết “là một kiểu siêu văn bản của nhiều văn bản dở dang” (Lê Thiết Cương) Trong tác
phẩm của anh mang những cảm quan bi đát về con người, sự hoài nghi trước
những biến động làm tha hoá con người “Trong con người có tính thiện Nhưng khi phải đối mặt với hiện thực nghiệt ngã của xã hội, không ít người đánh mất mình Nếu để ý, trong các nhân vật của tôi dự cú trượt ngã đến thế nào, người ta sẽ thấy một chút gì đó của những day dứt, trăn trở.” [45] Trong những lo âu, bất an về thế giới, con người và cuộc sống, anh “luôn
Trang 8hướng tới hy vọng hoặc đi vào những nghịch cảnh của sự tha hoỏ” bởi: “Nó
là những mặt thật trái chiều của cuộc sống.” [45]
Nguyễn Văn Dân trong phần khảo luận cuốn “Văn học phi lớ”, đã nóiđến bóng dáng của Kafka và Camus trong tác phẩm của Phạm Thị Hoài và
Nguyễn Việt Hà Cách xây dựng nhân vật Hoàng (Cơ hội của chúa): “cú cái
gì đó phảng phất không khí của kẻ xa lạ của Camus Nhìn chung nhân vật Hoàng cú cỏi vẻ giống các nhân vật cô đơn, không hòa nhập với cộng đồng của văn học phi lớ.” [4-110]
Ông cũng ghi nhận: “Đõy là những nỗ lực rất đáng khích lệ Phạm Thị Hoài và Nguyễn Việt Hà là một trong những trường hợp thể nhiệm như vậy Tiếc thay, kết quả thể nghiệm của họ tỏ ra chưa đủ sức thuyết phục.” [4, 116] Tuy nhiên “Sự cấy ghộp” cỏi chủ đề “phi lớ”, “cụ đơn” “buồn nụn” ở cấp bản thể của phương Tây vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam đã tỏ ra khập khiễng không đủ sức thuyết phục và do đó kém hiệu quả thẩm mỹ” [4, 116]
Tác giả đã gợi mở đến vấn đề cảm quan hiện sinh trong sáng tác củaNguyễn Việt Hà Tuy nhiên, đây mới là những cảm nhận ban đầu Thực chất,chưa có một công trình nghiên cứu nào hướng trọng tâm về vấn đề này
2.3 Những nghiên cứu gợi mở về cảm quan hiện sinh trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng
Đoàn Minh Phượng là cái tên khá mới trong văn học Việt Nam Với
giải thưởng hội nhà văn Việt Nam cho tiểu thuyết đầu tay: Và khi tro bụi, chị nhận được nhiều lời khen ngợi cho tác phẩm này Mưa ở kiếp sau mới
xuất bản, tiếp tục dòng mạch tiểu thuyết của chị Tiểu thuyết về những cảmnghiệm u buồn của con người
Tác giả Ngô Đồng viết: “Toàn bộ câu chuyện luôn ẩn hiện trong một màn sương mờ ảo, hoang mang, đôi lúc khó nắm bắt Một thân phận tha hương, phải chịu đựng những xung đột về xã hội, văn hóa, phân vân giữa quá khứ và hiện tại, hiện tại và tương lai Để cuối cùng, người đàn bà –
Trang 9nhân vật chính nhận ra, chị cũng chỉ là một trong số những người chị từng gặp và tiếp tục đi tỡm.” [38]
Tác giả Trương Hồng Quang đã dành nhiều lời ngợi khen cho tác
phẩm: “Và khi tro bụi vừa mang đầy chất thơ, chất ma lỵ, dường như gần gũi với phong cách của một Theodor Storm, cây bút văn xuôi hàng đầu của Đức vào cuối thế kỷ 19, hơn là với truyền thống của văn học Việt Nam, vừa mang tầm triết luận Đông – Tây như ở Siddhartha của Hermann Hesse, mặc dù thực chất đây là một cuốn Phản-Hesse, đồng thời lại là một cuốn truyện trinh thám với một cốt truyện và bố cục tinh vi.” [55]
Đoàn Minh Phượng cũng thường nhắc đến những trăn trở, lo âu đượcgửi gắm trong trang viết của mình Trong bài: “Cỏch kể chuyện của tôi rất
xưa” Đoàn Minh Phượng đã nói: “Nhõn vật tôi - người phụ nữ trong truyện
từ nỗi hoang mang khi người chồng tử nạn trong một tai nạn xe cộ đã hết sức đau khổ và cảm thấy cuộc sống trống vắng, vô vị Người phụ nữ nghĩ đến cái chết và chọn lựa cuộc hành trình đi tìm cái chết trên những chuyến tàu bình thường nhưng tưởng như vô định Tâm trạng nhân vật mơ hồ, hoang mang và luôn tự vấn “mỡnh là ai” [78]
Tác giả nói nhiều đến nỗi u buồn, ám ảnh từ cuộc sống đi vào trong
câu chuyện của mỗi nhân vật “Cú lẽ đến gần 20 năm sau, tôi mới thấy rõ ràng mình là một người lưu lạc Sự lưu lạc đó bắt đầu vào năm nào? Ngày trước tôi sống ở thành phố, tôi không hiểu chiến tranh, tụi tỡm mọi cách không nhìn thấy nú, tỡm mọi cách đặt mình bên ngoài câu chuyện chung của đất nước mình Sự lưu lạc bên trong đã bắt đầu trước khi tôi rời Việt Nam và theo tôi hết phần lớn cuộc đời.” [48]
Thực ra, cảm quan hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà vàĐoàn Minh Phượng đã được gợi mở trong hướng nghiên cứu về chủ nghĩahiện sinh, trong nhiều nghiên cứu về đổi mới tiểu thuyết, về cảm thức hậuhiện đại…
Trang 10Nhiều nghiên cứu đã đề cập đến những bất an, lo âu cùng với những thểnghiệm mới trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà và Đoàn Minh Phượng Tuynhiên, chưa có một nghiên cứu nào đi sâu vào vấn đề cảm quan hiện sinhtrong sáng tác của Nguyễn Việt Hà và Đoàn Minh Phượng Đây vẫn là mộtmảnh đất trống để chúng ta có thể đi sâu khai thác.
3 Mục đích nghiên cứu.
Tìm hiểu Cảm quan hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà và Đoàn Minh Phượng chúng tôi muốn khám phá những dấu ấn của chủ nghĩa hiện
sinh qua tiểu thuyết của hai tác giả này
Mặt khác, thấy được cảm quan riêng của mỗi nhà văn về thế giới và conngười để chỉ ra cái mới trong những tiểu thuyết này Từ đó, chúng tôi muốngóp một hướng nghiên cứu mới về những tiểu thuyết khỏ “trỳc trắc” hiệnnay
4 Cấu trúc luận văn
Luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Giới thuyết về cảm quan hiện sinh và tiểu thuyết Nguyễn Việt
Hà, Đoàn Minh Phượng.
Chương 2: Cảm quan hiện sinh với thực tại và con người trong tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà và Đoàn Minh Phượng
Chương 3: Cảm quan hiện sinh và nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Việt
Hà, Đoàn Minh Phượng.
Chương 1, chúng tôi giới thuyết sơ lược về những vấn đề lí thuyết Trongkhuôn khổ của luận văn, vấn đề chủ nghĩa hiện sinh, ảnh hưởng của chủnghĩa hiện sinh tới văn học và vấn đề cảm quan hiện sinh trong tiểu thuyếtNguyễn Việt Hà và Đoàn Minh Phượng được trình bày ngắn gọn và giảnlược
Chương 2, chúng tôi đi sâu vào vấn đề cụ thể: cảm quan hiện sinh vớithực tại và con người trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà, Đoàn Minh
Trang 11Phượng Trong đó gồm cảm quan về thế giới và cảm quan về con người.Chúng tôi nghiên cứu khá kĩ những vấn đề này vì, thực chất, vấn đề trung
tâm của chủ nghĩa hiện sinh là vấn đề “con người như một nhân vị độc đáo”.
Thực chất, cảm quan hiện sinh có ảnh hưởng đến mọi mặt nghệ thuật củatiểu thuyết Chương 3, chúng tôi tập trung vào kiểu tư duy hiện sinh, cáchcấu trúc và xây dựng nhân vật, theo chúng tôi là mang màu sắc hiện sinh rõnét nhất
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp miêu tả, thống kê, phân loại
- Phương pháp đối chiếu, so sánh
- Phương pháp phân tích- tổng hợp
Trang 12PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 GIỚI THUYẾT VỀ CẢM QUAN HIỆN SINH VÀ TIỂU THUYẾT
NGUYỄN VIỆT HÀ, ĐOÀN MINH PHƯỢNG
1.1 Giới thuyết sơ lược về chủ nghĩa hiện sinh
Cảm quan hiện sinh không còn là một vấn đề mới mẻ Nhưng còn nhiềuquan điểm chưa thống nhất về vấn đề này Thực chất, muốn tìm hiểu về cảmquan hiện sinh phải bắt nguồn từ gốc của nó, chính là chủ nghĩa hiện sinh
Chủ nghĩa hiện sinh là sản phẩm của sự khủng hoảng của xã hội và khoahọc kĩ thuật Nguồn gốc của nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp từ các cuộcchiến tranh thế giới tàn khốc mà còn là sự bại hoại tinh thần do chủ nghĩa duy
lý gây nên trong xã hội phương Tây thời công nghiệp và hậu công nghiệp
Ngay từ khi ra đời, chủ nghĩa hiện sinh đó cú một sức ảnh hưởng rấtmạnh mẽ và nhanh chóng tỏa rộng hấp lực của nó trên phạm vi toàn thế giới
Tư tưởng hiện sinh đã được manh nha từ rất sớm: triết học củaSocrate; Thánh kinh, những nhân vật trong cựu ước và tân ước, thánhAugustin, Pascal qua tác phẩm “Tư tưởng” Đồng thời, nó thường xuyênđược phủ định, bổ xung bởi những triết gia cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX:
S Kiekergaard, F Neitzche, M Heidergeer, J P Sartre… và vẫn được táisinh trong hoàn cảnh hậu hiện đại
Cho dù chủ nghĩa hiện sinh thường thấm đẫm tư tưởng bi quan, thấtbại nó vẫn mặc nhiên được coi như một đại diện cho tư tưởng nhân bản
trong triết học phương Tây hiện đại Bởi, theo Bách khoa toàn thư Đất Việt:
Chủ nghĩa hiện sinh là một học thuyết mà đối tượng là sự tồn tại của conngười xét trong hiện thực cụ thể của nó Cho rằng đầu tiên con người chỉ là
hư vô, và chỉ việc con người tồn tại thôi đã là “phi lớ” rồi, chủ nghĩa hiệnsinh kêu gọi con người sống là phải đem lại cho đời mình một ý nghĩa [86]
Trang 13Trong Những chủ đề triết hiện sinh, một cuốn sách khái quát các nội
dung quan trọng và lộ trình của chủ nghĩa hiện sinh, tác giả E Mounier cho
rằng: “Nói một cách khái quát thì trào lưu tư tưởng mới này (triết học hiện sinh) là một phản ứng của con người, chống lại sự thái quá của triết thuyết duy tâm và triết lí về vạn vật Trào lưu đú khụng lấy cuộc sống nói chung, nhưng lấy cuộc sống của con người nói riêng là vấn để đầu tiên của triết học.” [9, 8]
Trần Thái Đỉnh, một trong những nhà nghiên cứu triết học tên tuổi ở
miền Nam giai đoạn 1954-1975 cũng đưa ra quan niệm tương tự: “Chủ nghĩa hiện sinh là sự phản ứng, đối lập lại chủ nghĩa duy lý thống trị trong
xã hội Tây phương hiện đại” [8, 3] Tác giả nhấn mạnh triết học hiện sinh là
triết học về con người, không phải là con người phổ quát, con người viết hoacủa Aristote, mà là con người có xương có thịt đang sinh hoạt hàng ngàytrong xã hội
Trong khi những triết gia trước đó, khi hướng đến những vấn đề caosiêu, đó “lóng quờn con người”, thì chủ nghĩa hiện sinh coi con người là đốitượng nghiên cứu Nó hướng đến con người như một nhân vị tự do, độc đáo
“Nú không lấy “con người” như một bản thể phổ quát làm đối tượng nghiên cứu, mà chỉ quan tâm tới “con người” tồn tại như một “nhõn vị” Nhân vị của con người với tư cách sự hiện sinh (existence) mang một bộ mặt riêng biệt, đặc thù, xa lạ với mọi tính cách phổ quát Hiện sinh là một tư chất, một đặc ân dành riêng cho con người - “Hữu thể - người”, bởi chỉ có con người mới có khả năng tự do lựa chọn cách thức, thái độ sống và có ý thức để thành hiện sinh.” [68]
Với những suy tư sâu sắc hơn về con người, chủ nghĩa hiện sinh đãđem đến cho triết học một cuộc cách mạng sâu sắc và mạnh mẽ hơn bao giờhết, nú đó bước khỏi những phạm trù lí thuyết đơn thuần để trở thành mộttrào lưu trong cuộc sống và ảnh hưởng tới văn học
Trang 14Chủ nghĩa hiện sinh đã đem đến cho con người một luồng tư tưởng mới,khơi dậy ở họ sức sống tiềm tàng mãnh liệt Đồng thời với việc khẳng địnhnhân vị độc đáo, các nhà hiện sinh đã trao quyền tự sáng tạo mình cho conngười Con người hiện sinh phải không ngừng vươn tới cái “sẽ là” của mình.
Vì thế, con người hiện sinh không chỉ là một nhân vị tự do, độc đáo màcòn là con người cô đơn, mang nỗi ưu tư, lo âu trước những giới hạn Con
người hiện sinh luôn đối diện với sự tha hoá: “Nó hành động như một cái máy không hồn, nó đánh mất nhân vị của mình, “ăn theo tư tưởng của người khác, của một tập đoàn nào đấy không sao dứt ra được Tha hoá bám vào con người như một tội tổ tông (…) Với sự kinh hãi và khắc khoải của nó, con người có thể có được sự nhận thức sâu xa và chắc chắn về thực tại – cái mà các triết gia truyền thống gọi là “hữu thể” – hơn bất kỳ phân tích lý lẽ trừu tượng, riêng lẻ nào có thể mang lại Chân lý chỉ có thể chiếm hữu được bởi nhà tư tưởng hiện sinh trong hoàn cảnh cá nhân của hắn, chứ không bởi tư duy khách quan tách rời với cuộc hiện sinh của nhà tư tưởng.” [5, 108]
Chủ nghĩa hiện sinh mang cảm quan bi đát về đời sống “Nỗi sợ, sự buồn chán, sự lạc lõng trong xã hội (Social alienation), sự phi lý, tự do, cam kết (commitment), và hư vô“ như là nền tảng của sự hiện sinh con người.”
[86] Thế giới bí ẩn của tâm hồn, những lặp lại vụ lớ và vô nghĩa, những tácđộng khốc liệt từ bên ngoài của thế giới đầy cạm bẫy mà con người khôngtránh thoát được trở thành nỗi quan hoài mãnh liệt
Chủ nghĩa hiện sinh đóng một vai trò rất mực quan trọng đối với đốivới triết học, thần học, và ngày càng quan trọng hơn đối với các lãnh vựckhoa học xã hội, trong đó có văn chương và nghệ thuật
1.2 Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Chủ nghĩa hiện sinh đã có ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống của mỗicon người Ở phương Tây, nú đó tạo nên một trào lưu hiện sinh trong đời
Trang 15sống, thu hút đông đảo tầng lớp thanh niên vào sống lối sống tự do, phóngkhoáng “Người ta mô tả sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh ở Pháp như sau:
“ấy là một buổi sáng mùa đông (1946), vừa thức giấc, cả thành phố Paristhấy mình “hiện sinh”, sách báo đầy hiện sinh quyến rũ tràn khắp phốphường, những “đỏm thanh niên nam nữ vui vẻ” kéo đến những căn nhàhầm ở Saint-Germain, ầm vang điệu nhạc Jazz trong những trang phục mới
lạ với mái tóc xõa, quần túm ống và ăn nói chào mời phóng túng Người tabảo đó là một lối sống mới, là một phong trào mốt đã trở thành như mộthuyền thoại Trong bốn năm từ 1945, Paris trở thành thủ đô văn hóa của thếgiới nhờ sức hút của lối sống hiện sinh và danh tiếng của J.P.Sartre, ngườiđược mệnh danh là “giỏo hoàng” của chủ nghĩa hiện sinh lan rộng, đến nỗimột khẩu hiệu theo kiểu chủ nghĩa đađa được nêu lên rằng “mỗi người hiệnsinh là một người có Sartre ở răng” [8]
Chủ nghĩa hiện sinh đã đến trong cái bối cảnh bi đát của xã hội miềnNam những năm 1954-1975, khi con người khao khát tự do và quyền sốngmong muốn suy tư về chính tự do và thân phận làm người
Nó có ảnh hưởng tới mọi mặt đời sống và nghệ thuật: sân khấu, điệnảnh, cải lương, đặc biệt là văn học Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra yếu tốhiện sinh trong những tác phẩm văn học cổ như Cung oỏn ngõm, TruyệnKiều….Tụn giỏo trong đó có thiên chúa giáo và phật giáo cũng nhanh chóngtìm được tiếng nói chung với chủ nghĩa hiện sinh
“Đú là lỳc cỏc tác phẩm của Sartre được NXB Khai Trí dịch và in lần đầu năm 1970 Sau giải phóng, những năm 80-90, trào lưu hiện sinh cũng lan rộng Thời đó, một người được gọi là trí thức phải có một bản dịch cuốn
“Buồn nôn” của Sartre gối đầu giường, và phải là bản photo từ cuốn của
Thư viện quốc gia.” [88]
Những nhà tư tưởng ở chế độ Sài Gòn quan tâm đến cái nhìn đối vớiđời sống Đời sống được miêu tả như một thảm kịch, một hư vô, như những
Trang 16hố thẳm và con người bị treo chơi vơi hoàn toàn bất lực Con người hư vôhoá cuộc sống, hư vô hoá cả lịch sử, không nhận thức được sự vận động củalịch sử.
Đây là gian đoạn đen tối của lịch sử, con người sống trong sự khét lẹtcủa khúi sỳng, trong sự tuyệt vọng và ám ảnh của cái chết Trong những tácphẩm văn học của Thanh Tâm Tuyền, Vũ Khắc Khoan, Nguyễn ThịHoàng… cái chết, sự hư vô, hiện diện thường trực
Chủ nghĩa hiện sinh ở Sài Gũn cũn chịu ảnh hưởng từ phong tràophản văn hoá Mĩ Nó tác động mạnh mẽ đến tư tưởng nổi loạn của conngười Tuy nhiên, nú đó biến đổi khỏi tư tưởng nổi loạn của triết học hiệnsinh Không phải theo mệnh đề - tôi nổi loạn vậy tôi hiện hữu, mà là sự nổiloạn chủ yếu hướng tới thoả mãn cá nhân, con người trốn tránh hiện thựckhốc liệt của cuộc chiến
Theo PGS TS Huỳnh Như Phương, “Sau chiến tranh, hoàn cảnh xãhội đã thay đổi, chủ nghĩa hiện sinh không còn chỗ đứng trong sinh hoạt tríthức.” Nhưng, chủ nghĩa hiện sinh đã trở thành một phần trong đời sống tâmhồn người Việt Nam, nó hướng con người đến cuộc sống tự do, khẳng địnhnhân vị độc đáo của mình Mặt khác, chủ nghĩa hiện sinh đã trực tiếp hoặc
gián tiếp tác động vào quá trình “nhà văn nắm bắt hiện trạng phi lý của thế giới duy lý hoá hiện đại, thấy được thân phận nhỏ bé của của con người trước nền văn minh kĩ thuật của thế giới hiện đại” [5]
Trên thực tế, các nhà văn Việt Nam không đồng thời là những tưtưởng gia của triết hiện sinh kiểu J P Sartre hay A Camus, họ cũng không
là những kẻ phục chế những ý tưởng kinh điển của chủ nghĩa hiện sinh.Nhưng trong tác phẩm của họ, ở mức độ này hay mức độ khác, bộc lộ mộttri giác về thực tại và con người mang màu sắc của triết học hiện sinh màchúng tôi tạm gọi là cảm quan hiện sinh Biểu hiện của cảm quan hiện sinh
ở mỗi nhà văn và mỗi thế hệ rất khác nhau nhưng theo chúng tôi, đây là một
Trang 17yếu tố khá quan trọng chi phối sâu sắc nội dung và hình thức của văn bảnnghệ thuật.
Dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh văn học “khụng chỉ phản ánh hiện thực” mà “suy ngẫm về hiện thực,” “ỏp sỏt hiện thực” Nó đi vào thân phận cá nhân với tư cách là nhân vị, sản phẩm của sự không nhất thiết, của ngẫu nhiên, cho nên nó từ chối đi vào điển hình, dù là tính cách hay hoàn cảnh điển hình mà chỉ bằng lòng dừng lại ở cái “bản chất cụ thể” [5, 163]
Khi giấc mơ đại tự sự tan vỡ, khát vọng khái quát thế giới đối với nhàvăn trở nên xa vời Thế giới không còn chuẩn giá trị chung, trở nên bí ẩn, xa
lạ, phi lí
Trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, cảm quan hiện sinh thể hiện quacách nhìn thấm đẫm tinh thần bi quan, hoài nghi về sự hiện sinh của mỗikiếp người
Chiến tranh qua đi, cuộc sống đổi thay, quan niệm thẩm mĩ của văn học
cũng khác “Không thể phủ nhận một thực tế là cơ chế kinh tế thị trường đã làm cho cuộc sống khởi sắc hơn, nhưng mặt khác, con người dường như sống với nhau lạnh lùng hơn, mối quan hệ giữa các cá nhân trong xã hội lỏng lẻo hơn Bối cảnh lịch sử và văn hóa mới, cả mặt phải và mặt trái của nó khiến các nhà thơ không thể nhìn cuộc sống như trước đây mà buộc họ phải thích ứng với những thay đổi nhiều khi chóng mặt của cuộc sống.” (Trần Dần)
Nguyễn Minh Châu với vai trò người mở đường tinh anh và tài hoa,
đã hướng đến số phận của mỗi con người cụ thể Những nhọc nhằn của họtrong cuộc sống thời hậu chiến, những mất mát khi cuộc chiến tranh qua đi.Thực chất, trong những tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đã xuất hiệnnhững dự cảm phi lí về số phận con người
Phác trong Mùa trái cóc ở miền nam không chết vì bom đạn, người
anh hùng ấy đã chết vì chính sự ghen ghét đố kị của những người ngày hômqua còn là đồng đội của mình Chiến tranh qua đi, người anh hùng trở lại với
Trang 18cuộc sống đời thường với những lỡ dở: Vợ mình thành vợ người, những
đồng đội hi sinh trong sự lãng quên của người đời: “Với bao nhiêu hối hả trong cuộc sống thời bình, mỗi con người chúng ta có lẽ đôi khi cũng là một cánh rừng cỏ lau giàu sức sống, rất chóng quên lãng những người lính đó ngó xuống.” (Cỏ lau) Những thiên truyện này đã mở đường cho tiểu thuyết
việt Nam bước vào thời kì đổi mới
Tiểu thuyết Phạm Thị Hoài, mang cảm nghiệm bi đát về thế giới xa
lạ, bí ẩn, thế giới chưa hoàn kết, đầy biến động Trong Thiên sứ, thế giới
được nhìn dưới con mắt trẻ thơ Nhưng thế giới ấy không thanh bình, thế
giới bị giới hạn: “Nhà độc 1 phòng, 16 mét vuông gạch men nõu; phũng độc
1 cửa sổ, lỗ thủng hình chữ nhật lúc thì màu xanh, lúc thì vàng óng, lắm khi xám xịt, đóng khung lên thế giới men nâu của tôi 400 ô vuông nâu và 1 khuôn chữ nhật biến ảo, xoay như xoay rubic.”(Thiờn sứ, 1) Thế giới phi lí khi khước từ cái đẹp Những thế giới tách rời, vô nghĩa “Uy tín, danh dự, thảy đều trừu tượng, thảy đều không hứa hẹn gì.”
Phạm Thị Hoài quan niệm kiếp người là một bất đắc dĩ, là một thảmkịch, là thất bại vì vậy nó mang nặng chủ nghĩa bi quan xa lạ Con ngườiđược bé Hoài phân loại: homo – a và homo –z Con người sống trong nhữngmối quan hệ lạ lùng, bị ràng buộc bởi những điều phi lí
Con người vong thân, tha hóa thành những mô hình Mô hình 1 Quang lùn, mô hình 2 - anh Hùng, mô hình 3 - người đàn bà công dân.Quang lùn là mô hình của những con số Một bộ máy hoạt động chuẩn xác
-và khoa học: “Khụng giờ kém 1 phút ngày 29 tháng 3 năm 1979, anh ta xuất hiện dưới cửa sổ tôi, 1m 26 phân chiều dài” Sự xuất hiện của anh ta gắn liền với những con số: “3 năm, hai, rồi lại 3 năm, xuất hiện theo chu trình tiền định,” Anh ta trở thành con người tha hóa và vô nghĩa
Anh Hùng là “kĩ sư máy tính điện tử vừa tốt nghiệp bằng đỏ Lomonosov, niềm tự hào của bố mẹ và họ hàng thân thích” Anh từng say
Trang 19đắm bờn cụ vũ nữ, vật cược thân của một ván bài Nhưng ba năm sau anh
lấy vợ, thông minh, biết điều lí lịch cơ bản… “Nhưng anh tôi không sao gạt khỏi kí ức mối tình điên cuồng và thảm họa kéo dài đúng 3 tuần lễ với cô gái lai mà giờ đây anh nguyền rủa đủ đường, anh Hùng tội nghiệp.” Anh ta
tội nghiệp chính bởi sự vong thân của mình
Chị Hằng cũng là mẫu người tha hóa Chị Hằng xa lạ với chính bản
thân mình: “Quan hệ giữa chị và cỏi “mỡnh” ấy từ lâu khủng hoảng nghiêm trọng, chẳng hy vọng khỏ lờn.”
Những mô hình con người trong Thiên sứ, đều được xây dựng vớicảm quan bi đát về sự tha hóa Con người tồn tại như những sinh vật, không
có ý thức về hiện sinh Họ sống trong những vòng luẩn quẩn do chính mìnhtạo ra Con người trở nên vô nghĩa trong cuộc sống tẻ nhạt, bị lặp lại
Bản chất vô nghĩa của cuộc sống phủ thảm này được hiện lên rõ nétqua cái nhìn minh triết của bé Hoài, con người ngoài cuộc, mang khát vọng
hiện sinh mãnh liệt Bé Hoài mang khát vọng được sống là mình: “Tụi từ chối không đứng vào bất kì thế hệ nào Tôi từ chối bất kì bộ đồng phục quá chật hoặc quá rộng nào Hãy để tôi trần truồng với cơ thể còm nhom sớm đình tăng trưởng của tụi.”
Theo cách nói của Phạm Thị Hoài, cuộc đời như một “định mệnh, nghiệp chướng”, con người là những kẻ thất phu, “kẻ lữ hành” hay là “con người vong thân khốn khổ”.
Nguyễn Huy Thiệp, cây bút truyện ngắn xuất sắc đó gúp thờm trongvăn học một màu sắc mới về cảm quan hiện sinh
Thế giới trong tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp bị tha hóa bởi con người.Cuộc sống con người là những cuộc kiếm tìm hoang hoải bản tính thiện đãmất Phương trong “Con gái thủy thần” dặc dài trong những chuyến đi Anh
đi với một khát vọng vừa mơ hồ vừa mãnh liệt Đó dường như là nơi neođậu và an ủi của con người sống trong rất nhiều hoài nghi và chán nản
Trang 20Nhưng rốt cuộc, tất cả sự thật đều bị đánh tráo Kết thúc câu chuyện vẫn là
sự kiếm tìm vô vọng
Nguyễn Huy Thiệp chuyển trọng tâm của tiểu thuyết và truyện ngắn
về những câu chuyện đời thường Khước từ cảm quan sử thi, viết về cộngđồng với sự hào hùng, lạc quan Nguyễn Huy Thiệp đưa văn học về vớinhững lấm láp đôi khi đen tối của cuộc sống thấm đẫm bi quan
Cảm quan hiện sinh tiếp tục in dấu trong những sáng tác của nhữngnhà văn trẻ như Thuận, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Bình Phương, đặc biệt đậmnét trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà và Đoàn Minh Phượng…
Chúng ta bắt gặp sự ê chề trong thân phận con người qua tác phẩmcủa Thuận Những con người nhỏ bé, mất tích trong thế giới hối hả của cuộcsống Rồi họ mất tích trong sự dửng dưng lạnh lùng của người thân Họ lànhững người bị lãng quên, những kẻ ngoại lề của cuộc sống
Trong tác phẩm của Nguyễn Bình Phương có sự hoài nghi về thế giớiđầy dẫy chanh chấp Thiện – Ác Con người với ám ảnh về “trớ nhớ suy tàn”– sự suy tàn của lớ trớ, của những mối quan hệ và chính cuộc sống tẻ nhạthàng ngày Con người luôn ấp ủ một chuyến đi, là con người ưu tư của hiệnsinh, không cam chịu cuộc sống như cỏ cây, khao khát tìm lại nhân vị tự docủa mình Cảm quan hiện sinh như một ám ảnh u buồn day dứt “Phải nóithật nhanh vì trí nhớ đang suy tàn ghê ghớm, đang héo đi, đổ gục xuống vàtan ra “hoa ấy không quyến rũ, nó chỉ thực sự đẹp khi rụng xuống trongnhững làn mưa nhè nhẹ lất phất đủ làm hè phố thẫm lại Mà hè phố phải thậtrộng, thật vắng vẻ, tóm lại là một ảo ảnh hoang vu và cần phải…” Ý nghĩ bị
bỏ lửng không kịp truyền sang người đàn bà áo vàng vì thời gian đã cạn, trínhớ đã suy tàn.” [17, 127]
Cảm quan hiện sinh – cảm quan về thế giới phi lí, xa lạ, về cuộc sống
ê chề bi đát của kiếp người luôn là một ám ảnh đối với mỗi nhà văn Nó chiphối từ nội dung đến nghệ thuật của tác phẩm
Trang 21Tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà và Đoàn Minh Phượng có lẽ gặp nhautrong cảm quan u buồn về kiếp nhân sinh Cả hai cây bút trẻ này đã thể hiệnnhững cảm nghiệm già dặn trong trang viết Chúng tôi cố gắng kiếm tìm nhữngnét tương đồng ấy để gúp thờm một cách hiểu về những tác phẩm mà nhiềungười vẫn cho rằng chúng thiếu đi tính nhân văn, hoặc quá lai căng.
1.3 Vấn đề cảm quan hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà
và Đoàn Minh Phượng
1.3.1 Bối cảnh hiện sinh - nền văn hoá hậu chiến Việt Nam.
Bối cảnh hiện sinh là những cơ sở văn hoá, xã hội dẫn tới sự hình thành
và phát triển của chủ nghĩa hiện sinh Ở đây, chúng tôi không nói tới hoàn cảnhnước Pháp, hay phương Tây trong thời kì chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện Đó lànhững hoàn cảnh tương đồng dẫn tới sự tái sinh của chủ nghĩa hiện sinh ở ViệtNam, mang những dấu ấn riêng của dân tộc và thời đại
Toàn cầu hóa trở thành một xu hướng tất yếu, nó cuốn theo mọi cánhân cùng với những băn khoăn, trăn trở Những biến đổi khốc liệt của kinh
tế xã hội Việt Nam đã tác động không nhỏ tới mỗi cá nhân Đây là sự táihiện lại bước đi của lịch sử trong thời kì chủ nghĩa hiện sinh ra đời ởphương Tây và miền Nam, Việt Nam những thập kỉ 60-70 Những kí ứcchiến tranh phai mờ dần, nó để lại những ám ảnh u buồn, thảm khốc truyềnkiếp từ thế hệ trước Nền kinh tế thị trường thời kì đổi mới, những tác động
từ toàn cầu hóa đã làm biến đổi những căn rễ trong tâm hồn Việt Nam Đồngtiền, quyền lực, sự rạn nứt trong những mối quan hệ xã hội, con người thahóa, xa lạ với mình và thế giới Khi đó, diễn ra sự đảo hoán của những giátrị, con người hoài nghi, băn khoăn, bất an trước cuộc sống
Chủ nghĩa hiện sinh ở Việt Nam được hình thành trên cơ sở nhữngtương đồng về lịch sử Nó không phải là sự phục chế những kinh điển mà là
sự cảm nghiệm, mang nột riờng của mỗi người và dấu ấn thời đại
Trang 22Những biến động khốc liệt của nền văn hoá hậu chiến đã tác độngkhông nhỏ tới mỗi nhà văn Cách cảm nhận về thực tại và con người trongmột số tác phẩm văn học ít nhiều mang màu sắc hiện sinh Đó là hướng thểnghiệm mới trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà và Đoàn Minh Phượng.
1.3.2 Vấn đề cảm quan hiện sinh
Cảm quan không đơn thuần là giác quan hay cách nhìn, cách cảm
nhận mang tính trực giác Đó là những dấu ấn, quan niệm, cảm thức hìnhthành trong tâm hồn con người nó bao hàm cả trực giác, vô thức và ý thức
Cảm quan là một kiểu cảm nhận đời sống đặc thù thể hiện trạng thái tinhthần của con người được lưu giữ, chuyển đổi trong trong vô thức và ý thức
Hiện sinh, theo Trần Thái Đỉnh: “là ý nghĩa của đời sống; người ta
chỉ vươn lên hiện sinh khi nào người ta đã ý thức được rằng mình sống để làm gì: sống để thể hiện cái định mệnh cao quý và độc đáo của mỡnh, khụng sống để mà sống: đó là hiện sinh.”
Nhưng con người hiện sinh, trong thực tế lại vấp phải những giới hạn
không thể vượt qua: giới hạn của nhận thức, giới hạn cuộc sống “Cái chết không phải là một vấn đề triết lí nhưng chính là việc “tụi chết” mới là vấn
đề triết lớ.” [9, 13] Thực chất, con người khó vươn tới hiện sinh Khi mang
ý thức phản tỉnh con người luôn trăn trở vươn lên cuộc sống sinh tồn, lặp lại
đáng buồn nôn Khi đó, con người mang những cảm nghiệm đầy bi đát về
định mệnh của mình
Vì thế, hiện sinh là ý thức vươn lên cuộc sống “cao quý và độc đỏo”
của con người, nhưng là sự vươn lên đầy nhọc nhằn, thấm đượm cảm quan
bi thiết về cuộc sống, với những định mệnh khắc nghiệt con người khôngthể vượt qua
Cảm quan hiện sinh là cách nhìn, cách cảm nhận thế giới và cuộc
sống mang màu sắc hiện sinh của con người Thực chất, cảm quan về thếgiới được soi chiếu từ chính cảm quan về con người Thế giới như một mê
Trang 23cung, một cạm bẫy mà con người dấn thân Con người không hiểu đượcmình, và ngơ ngác trước thế giới Vì thế cảm quan hiện sinh thấm đẫm sự
hoài nghi “Bất kì khuynh hướng nào trong triết học hiện sinh là triết học về con người trước khi là triết học về vũ trụ Theo thiên chúa hay không, triết hiện sinh đều mang nặng tính chất bi đát của kinh nghiệm con người về định mệnh của mỡnh” [8, 23]
Cảm quan hiện sinh xuất hiện trong thời kì “nền khoa học đã quy cả thế giới lại chỉ còn đơn giản là một đối tượng khảo sát kĩ thuật và toán học
đã loại bỏ khỏi chân trời của nó cái thế giới cụ thể của sự sống” [20, 10]
Sự phát triển của khoa học đã đẩy con người vào những đường hầm củanhững bộ môn riêng biệt Càng đi tới trong sự hiểu biết của mình, con người
bị mất đi cái nhìn tổng thể về thế giới và chính bản thân mình Heidegger đã
gọi đó là sự “quờn mất con người”
Thế giới thiếu mất vị phán xét tối cao “Chỳa đã chết” Khi đú, nú hiện ra trong một tình trạng nhập nhằng đáng sợ “Chõn lý thần thánh duy nhất bị tan ró” thành hàng trăm chân lý tương đối mà con người tự cảm
nghiệm lấy Sự khủng hoảng bao trùm lấy con người Ám ảnh về ngày tậnthế trở nên rõ ràng Con người bị cuốn đi, bị xâm chiếm trong một ma lực kì
lạ siêu nhiên “Người ta sinh ra mà có đòi được sinh ra đâu, bị nhốt trong cái cơ thể mình không hề lựa chọn và cuối cùng để mà chết” [1, 33] Những
cuộc chiến tranh thế giới, diễn đạt cho sự kinh hoàng khi không cú gỡ xảy ratrên thế giới mang tính địa phương, tất cả mọi tai họa đều liên quan đến mọingười và con người ngày càng bị quyết định bởi ngoại cảnh, bởi những tìnhthế không ai tránh thoát được
Con người nhận ra bản chất bất toàn nhỏ bé của mình Những hậu quảnặng nề đối với thiên nhiên môi trường tác động trở lại con người Khôngcòn sự hoang mang với khát vọng khám phá thế giới, con người hoang mangkhi tìm hiểu chính bản thân mình Cái chết, ám ảm tha hương lưu lạc, ámảnh hiện sinh không rời khỏi con người – đó là cảm quan hiện sinh
Trang 24Thực ra, cảm quan hiện sinh và hậu hiện đại khó phân biệt rõ ràng.
Cảm quan hậu hiện đại: “đó là một kiểu cảm nhận đời sống đặc thù thể hiện trạng thái tinh thần của thời đại: nhận thấy sự đổ vỡ của những trật tự đời sống, tính áp đặt của cái chính thống, của các phát ngôn lớn, sự đảo lộn trong các thang bảng giá trị đời sống, sự mất niềm tin, bơ vơ, lạc loài, vong thân, tâm trạng hồ nghi tồn tại và tình trạng bất an của con người Đấy là tinh thần chung nhất.” [47] Tinh thần hậu hiện đại, theo Inrasara “không có cái gì là trung tâm cả!”
Cảm quan hiện sinh hướng về con người cụ thể, trong những hoàncảnh cụ thể Nó mang màu sắc bi đát của con người khi cảm nghiệm cuộcsống Con người vốn khao khát là một nhân vị độc đáo, nhưng đồng thời họphải chấp nhận những giới hạn nhận thức, sự giòn ải của cuộc sống
Cảm quan hiện sinh thể hiện qua cảm quan về thế giới phi lí, xa lạ vàphân rã; cảm quan về con người ngoại cuộc, con người dần trở thành ngườithừa trong xã hội trong một quá trình tha nhõn hoỏ đầy nghiệt ngã, mang ámảnh vô minh, hoài nghi, với khát vọng khải huyền bất thành
Cảm quan hiện sinh có thể được tác giả chủ động tiếp nhận và đưavào tác phẩm, cũng có thể là sự thẩm thấu của vô thức
Trong văn học Việt Nam, cảm quan hiện sinh đã xuất hiện trongnhiều tác phẩm, trong đó phải kể đến những tên tuổi: Phạm Thị Hoài,Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương, Thuận…
Trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà và Đoàn Minh Phượng cảm quanhiện sinh trở thành một đóng góp độc đáo
1.3.3 Vài nét về tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà và Đoàn Minh Phượng.
Bối cảnh hiện sinh với nền tảng văn hoá, xã hội, những dấu ấn thờihậu chiến đã tạo nên cảm quan hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà
và Đoàn Minh Phượng
Nguyễn Việt Hà viết không nhiều, không nhanh, viết cho mình trước,viết những gì gần gũi với mình Nhưng một độc giả đã kinh ngạc thốt lên:truyện của Nguyễn Việt Hà thật đến phát sợ
Trang 25Từ tiểu thuyết: Cơ hội của Chúa (1999) đến Khải huyền muộn (2005), tập truyện ngắn Của rơi, Nhà văn thì chơi với ai, tản văn Mặt của đàn ông,
đã thể hiện được nột duyờn riờng, một thương hiệu mang tiên Nguyễn Việt
Hà trên văn đàn
Qua những trang văn có thể hình dung Nguyễn Việt Hà như mộtcông chức nhợt nhạt nơi công sở, khép nép đi vào phòng sếp, năm nào cũngnghỉ phép quá hạn, nhưng chất chứa nhiều day dứt và dằn vặt Con ngườinày tìm đến rượu để quờn, tỡm đến văn chương để tự thanh lọc chính mình
Văn chương làm anh sống tốt hơn, anh đã từng tâm sự: “Viết văn là một dạng tu thân Tôi tin viết văn làm mình sống trong sáng hơn, tử tế hơn Biết đâu, nếu không viết văn, tôi sẽ là một thằng nghiện hỳt!” Những trang viết của anh luôn hướng tới sự trong trẻo Đôi khi nó kết thúc ở chỗ “người viết không thể và không muốn viết cố nữa.”
Trong Khải huyền muộn, nhà văn từng viết những lời kết: “văn chương là một công việc linh tinh và lan man, nú luụn lẩn khuất lẫn lộn vào cuộc sống thật.” “Khi viết tôi không biết cố, vì đơn giản văn chương cũng chả cần gỡ.” Đối với Nguyễn Việt Hà văn chương là thứ vừa thiêng liêng vừa là một cái gì quá ư tẻ nhạt, hay bị lặp lại: “Tụi đã thật chán khi phải cố giữ chuyện tình của Vũ và Cẩm My Một mô tip vừa sến vừa rỗng tuếch với sang trọng hoàng tử và xác xơ thôn nữ Văn chương bị lặp lại đáng sợ như văn chương nhạt nhẽo.” Những sáng tác của Nguyễn Việt Hà là một sự cố
gắng không ngừng để vượt lên sự tẻ nhạt thường thấy
Với anh: “Viết tiểu thuyết quan trọng nhất là cấu trỳc.” Nhiều tác giảviết xong một cuốn sách thì không thể thoát khỏi cái bóng đè của chínhmình Nguyễn Việt Hà đó luụn ý thức vượt lờn cỏi búng ấy, cho ra đờinhững tiểu thuyết độc đáo, nhưng không hề dễ đọc
Nguyễn Việt Hà là một trong những cây bút viết sắc sảo nhất về đô thị
và tầng lớp trí thức công chức Anh quan niệm: “Thường người ta hay viết
Trang 26những cái gần giống mình Những nhân vật đú cú sự buồn chán, có sự khát khao của tôi, nhưng không hẳn là tụi.[44]” Với anh “Đụ thị, tuổi trẻ, trí thức luôn là những vấn đề tôi quan tâm Tôi không để ý lắm tới cốt truyện, nhân vật sống và làm việc như thế nào, mà chỉ quan tâm tới vấn đề tại sao
họ lại sống như vậy.” [46]
Anh đưa vào trang viết của mình nhiều trăn trở về cuộc sống trongthời kì kinh tế thị trường Đó là cảm quan hiện sinh: với cái nhìn thế giới,con người trong sự phi lí, hỗn loạn và hoài nghi qua mỗi trang viết
Tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà đã bước theo Camus và Sartre: “đề cập đến những vấn đề con người, chẳng hạn như mối quan hệ giữa con người với hoàn cảnh, vấn đề trách nhiệm, dấn thân, nhập cuộc, hoài nghi, phủ nhận mọi chủ nghĩa, mọi giáo điều Rồi vấn đề hiện hữu và hư vô, hiện sinh tại thế, hiện hữu và yếu tính Ðời phi lý, buồn chán, thừa thãi, và con người nổi loạn ” [54]
Đời sống đô thị mang màu sắc hiện sinh trong cái nhìn của NguyễnViệt Hà, nhiều xô bồ, hỗn loạn “Cơ hội của chỳa”, là cơ hội của con người,
tự làm nên giá trị, tự chịu trách nhiệm cho mình “Khải huyền muộn” là khátvọng nhưng luôn ám ảnh về sự hoang mang, đổ vỡ…
Cơ hội của Chúa ngay từ khi ra đời đã trở thành một hiện tượng văn học,thu hút sự quan tâm của đông đảo của độc giả Câu chuyện chỉ đơn giản xoay
quanh số phận của những con người trẻ trong đổi thay của thời kinh tế thị trường
Cơ hội của Chúa mang nhiều trăn trở về ý nghĩa cuộc sống Nhân vật
bị lạc trong mê cung những vụ việc không đầu không cuối Theo Đoàn Cầm
Thi “Nguyễn Việt Hà thể hiện một thế giới không thuần nhất mà muụn hỡnh vạn trạng, không khép mà mở, không xác thực mà đầy bí hiểm, bất ổn, hoài nghi” [69]
Tiểu thuyết không có kết thúc, không có một lí giải cho số phận nhân
vật Chúng ta cũng không nên cố gắng kiếm tìm làm gì bởi “Hóy giữ lấy bởi
vì chứ đừng hỏi tại sao.”
Trang 27Tiểu thuyết Khải huyền muộn lại là một sự sắp đặt Nội dung cuốntiểu thuyết được tóm tắt trong câu chuyện nghe có vẻ lằng nhằng trong một
bữa nhậu của nhân vật xưng tôi – người kể chuyện: “Tôi muốn viết về công
việc của một nhà văn Nó sẽ dài khoảng năm sáu trăm trang in Nhà văn nàynói về việc anh ta đang viết một cuốn tiểu thuyết Đương nhiên cuốn tiểuthuyết này dang dở và anh ta bị sống lẫn lộn vào các nhân vật Cố nhiên là
tư duy của anh ta hiện hữu độc lập với văn bản tiểu thuyết của anh ta.”
“Cuốn tiểu thuyết của nhà văn này tập trung miêu tả một cuộc tình có haingười Hai nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết là một cô bé người mẫu vàmột trung niên trí thức rất thành danh về hoạt động chính trị….Nhưng nếu
kể mãi về chuyện tình thì cũng hơi chỏn nờn nhà văn mở thêm một tuyếnnữa Đấy là vị quan chức trung niên kia có một ông chú ruột làm linh mục
Do phải đối đầu với vài băn khoăn của cuộc sống anh chàng trung niên cútỡm đến ông chú xin tư vấn Ông linh mục lúc rảnh có viết về Alexandre deRhodes Tôi muốn dành một chương dài về vị giáo sĩ tiên khởi rất đặc biệt
này.” [11 – 167]
Cũng giống như Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn dường như
mang sắc màu tôn giáo Nhưng chúng ta chỉ thấy khát vọng chưa thỏa mãn.Con người vẫn hoang mang trên hành trình kiếm tìm
Cảm quan hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà còn thể hiệnnhững âu lo, bất an của thế hệ, những day dứt về bối cảnh đô thị với sự tráo
đổi của các giá trị Đổng thời “khụng khí đời sống Việt Nam hiện nay rất bình ổn Chính điều này không tạo điều kiện tối ưu cho trí thức bộc lộ khả năng.” [44]
Với Đoàn Minh Phượng viết văn dường như là một hành trình tìm lại
nguồn cội, trở về với bản chất thật của mình: “Tôi đang cố gắng dừng lại Các nhân vật trong truyện của tôi bắt đầu từ sự trở về Chuyện đó mới là khó chứ đâu phải dễ như xách vali đi về ngôi nhà cũ là xong.” Bởi “Tôi
Trang 28thấy mình lạc lõng và luôn có cảm giác như mình không tồn tại trên mặt đất Như thể mình bị cắt rời khỏi phần máu thịt của mỡnh” [48]
Đoàn Minh Phượng đã nhiều năm sống ở nước ngoài Cảm thức lưulạc như một phần vô thức trong con người chị Dường như, chị cú nột gỡhao hao với nhân vật của mình, hay nhân vật như một mảnh vỡ trong cuộcsống của chị, chị đang lắp ghép chúng với nhau để hoàn thiện đời sống tâmhồn của mình
Đoàn Minh Phượng viết không nhiều, lác đác vài truyện ngắn, tiểu thuyết “Những tờn sỏch, tờn phim thật lạ, cứ gờn gợn buồn rầu, dự cảm bất
an và đích thực đàn bà: Hạt mưa rơi bao lâu (tên tiếng Anh là Bride of Silence - Cô dâu câm lặng ), Và khi tro bụi, Tội lỗi hồn nhiên, Mưa ở kiếp sau…” [87]
Những tản văn, tiểu thuyết bắt đầu chào đời vì mục đích ghi lại tâm
sự của chị nhiều hơn là nhu cầu viết văn Viết để còn biết mình đang sống
Với chị, “ở trong thế giới mơ hồ của tri thức và sự phân công mạnh mẽ của
xã hội hiện đại, chị thấy người ta xa lạ nhiều, chẳng ai phải chịu trách nhiệm cho ai Mà cái sự chịu trách nhiệm đó, theo chị, đó mới là cơ sở bắt đầu của tình thương yêu, là sợi dây ràng buộc mạnh mẽ nhất giữa người với người ” [48]
Với Đoàn Minh Phượng văn chương là cách thể hiện những trảinghiệm, thông qua những câu chuyện “Viết là cách sắp xếp một kinhnghiệm hay “nhốt giú” (chữ của nhà văn Bình Nguyên Lộc) một cảm xúc,tìm cách chạm đến những điều ở vùng ven hay đáy của tâm tưởng Cho dùnhững điều sau khi được viết ra trên giấy không biết sẽ trở thành những sựthật hay mãi là những mộng mị Tôi cố gắng trung thành với ý nghĩ hơn làvới chữ, dù có khi ý nghĩ cũn quỏ mỏng manh bất định, mà chữ thì dườngnhư đó cú dòng chảy dễ dàng ờm xuụi rồi.” [51]
Trang 29Với chị, sáng tạo có ý nghĩa giản dị: “Tôi cố gắng không để cho sự
êm tai của ngôn ngữ đưa mình đi, mà phải luôn luôn tự hỏi cõu mỡnh đang viết có nói được ý nghĩ hoặc cảm xúc - kể cả sự mong manh bất an của tâm tưởng - hay không?”[51]
Chị coi mình là người viết khá lạnh, với cách kể chuyện khá xưa Bởi
với chị “Viết là góp nhặt những đám mây trước khi chúng mất đi: ấn tượng, cảm xúc và ý nghĩ Viết để không tan Viết để chống lại sự mất mát.” [51]
Đọc tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng, chúng ta bắt gặp nỗi buồn miên
viễn Nỗi buồn như một ám ảnh của kiếp hiện sinh
Tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng viết về những khốc liệt của cuộc
sống Đó là những câu chuyện bị lóng quyờn trong cuộc sống, chị neo giữ
nó qua văn chương với nỗi buồn u uẩn, hoang mang Mỗi câu chuyện giản
dị là một ám ảnh
Những bi kịch gia đình, những con người nhỏ bé xa lạ với thế giớixung quanh và với chính mình Con người không căn cước, mang sự vôminh, hoài nghi Thế giới phi lí, xa lạ, ám ảnh bởi sự đổ vỡ, hỗn loạn Cảmquan hiện sinh về thế giới và con người đã để lại trong tác phẩm của chịnhững khắc khoải, da diết
Và khi tro bụi là hành trình đi tìm cái chết của con người, với nỗihoang mang u buồn và ám ảnh “đi lạc” An Mi vẫn mãi không có câuchuyện nào để kể, không biết mình là ai Cái chết là sự khởi đầu và kết thúccho câu chuyện của cô Mưa ở kiếp sau vẫn tiếp nối mạch cảm xúc u buồn
đó Con người không quê hương, gia đình, con người vừa tìm kiếm vừa trốnchạy trước những khốc liệt của cuộc sống
Tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà và Đoàn Minh Phượng với những ámảnh hiện sinh đã khơi dậy trong mỗi người những lo âu và bất an Cảm quanhiện sinh là nét tương đồng trong tác phẩm Nguyễn Việt Hà và Đoàn MinhPhượng, nhưng trong mỗi tiểu thuyết lại là sự biến ảo của cầu vồng đa sắc
Trang 30CHƯƠNG 2 CẢM QUAN HIỆN SINH VỚI THỰC TẠI VÀ CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN VIỆT HÀ VÀ ĐOÀN MINH PHƯỢNG
2.1 Cảm quan về thế giới
“Heidegger chỉ ra chỉ ra đặc trưng sinh tồn của thế giới bằng công thức cực kì quen thuộc: In-der-welt-sein, tồn tại trong thế giới Con người
và thế giới gắn liền với nhau như con sâu với cái vỏ của nó: thế giới thuộc
về con người, nó là kích cỡ của con người, và mỗi khi thế giới biến đổi, cái sinh tồn cũng biến đổi” [20, 34]
Những biến động trong lịch sử, xã hội, cuộc khủng hoảng của khoahọc kĩ thuật, đã làm thay đổi cảm quan về thế giới Màu sắc hiện sinh trongcảm quan về thế giới thể hiện qua thế giới phi lí, xa lạ và phân rã
2.1.1 Thế giới phi lí
Thời kì hiện đại, khoảng cách thế giới và con người ngày càng lớn Sựphi lí xuất hiện khi có sự tuyệt giao của con người và thế giới Con ngườitồn tại trong những thế giới bị phân tách, thế giới của những mảnh lắp ghép:
xa lạ, bí ẩn đối với con người
Con người hiện sinh mang ý thức phản tỉnh Họ khao khát tìm hiểuthế giới, nhưng giấc mộng khám phá, bao quát, chinh phục toàn thế giớinhanh chóng tan vỡ Con người lạc trong mê cung của thế giới, họ bất lực
khi nhận thức và họ chấp nhận thế giới phi lí ô Thế giới được dựa trên những điều phi lí, và không biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu không có những điều phi lớ đú ằ (Dostorverski – anh em nhà Karamazov)
Theo Nguyễn Văn Dân khái niệm phi lí xuất hiện từ thời cổ đại Trên
phương diện lụgic: “Những gì tồn tại trái với các quy tắc lụgic đều bị coi là phi lớ.” [4-15] Trong bình diện lí luận nhận thức: “tất cả những gì chống lại năng lực nhận thức, chống lại lớ trớ, không thể lí giải bằng tư duy, thì đều được coi là phi lí Như vậy cái phi lí là cái phản lớ tớnh.” [4, 15]
Trang 31Những gì tồn tại trái với các quy tắc thông thường được coi là phi lí.Nhưng cái phi lí có tính chất tương đối, bởi vì không có các quy tắc lụgic
chung cho mọi lĩnh vực “…trong cuộc sống có tồn tại sự phi lí Thậm chí
có thể coi cái phi lí là một hình thái của sự tồn tại, nhưng nó chỉ tồn tại trong một mối quan hệ với những tiêu chí nhất định Do đó nó là một thái
độ nhận thức của con người đối với thế giới, đối với cuộc sống…Cỏi phi lí
là một thực tại hiển nhiên và tất yếu của đời sống xã hội” [4, 43]
Theo quan niệm của Camus, phi lí không phải không cú lớ do, nhưng
có nghĩa tôi không tìm thấy một lí do nào Ông không quả quyết một cáchkhách quan rằng bản tính của vũ trụ có tính chất phi lí bởi chớnh ụng cũngkhông biết Cũng không phải phi lí trong bản tính con người Nhưng phi lítùy thuộc ở thế giới cũng như con người: Nó là một đụng độ giữa cái bí mật
vũ trụ và lòng ham muốn tìm hiểu (mà không thỏa mãn) của con người Phi
lí là một thế mâu thuẫn giữa lòng ham muốn dựng lớ trớ để khám phá vũ trụ
và sự tối tăm cái yên lặng vụ lớ của vũ trụ
Với ông: “Thế giới tuột khỏi sự nhận thức của chúng ta bởi vì nó lại trở thành chớnh nú.” [4] Khoa học thực nghiệm đã vấp phải những thất bại, những giới hạn trong vũ trụ quan “Tấn bi kịch của khoa học thực nghiệm ở tại chỗ nó đi tìm hữu thể ở nơi mà nó chỉ có thể nhận được một cái nhìn bất toàn về hữu thể: khoa học đã chỉ tìm hữu thể trong tính chất khách thể.”
Khoa học chỉ cho con người thấy một phần giới hạn của thế giới vật chất,cũng là giới hạn của nhận thức Khi đó, trong cảm quan của con người, thếgiới phi lí với sự bí ẩn của cái chết, sự đứt đoạn trong không gian thời gian
Trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà và Đoàn Minh Phượng, thế giớiphi lí được biểu hiện dưới những khía cạnh khác nhau Nhưng họ vẫn mangcảm quan chung về sự tuyệt giao của con người và thế giới Thế giới phi lí bí ẩn, đầy cạm bẫy.
2.1.1.1 Thế giới bí ẩn tối tăm của cái chết, sự đứt đoạn trong không gian thời gian trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng
Trang 32Đoàn Minh Phượng mang cảm thức thế giới đã mất, thế giới khôngtồn tại Vì thế, tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng ám ảnh bởi thế giới của cái
chết, của kiếp sau: bí ẩn, tăm tối Camus cho rằng đó là vì “trên thực tế người ta không trải nghiệm được cái chết” Cái chết là một ám ảnh ghê sợ
đối với con người Con người hiện sinh luôn khao khát siêu việt, khẳng đinhnhân vị độc đáo Con người không chấp nhận cái chết, nhưng không thểvượt qua nó Vì thế, cái chết là một giới hạn, phi lí, là sự tuyệt giao của conngười và thế giới
Trong Và khi tro bụi, cái chết lặp lại trong nhiều thân phận Mở đầu
bằng cái chết của người chồng trong ngày mù sương, cái chết của Anitatrong câu chuyện người trực đêm khách sạn, cái chết của người cha nuôi,người mẹ và em gái từ thời ấu thơ, tất cả được kết nối qua một mắt xích đó
là hành trình đi tìm cái chết của An Mi…Nhưng tất cả chỉ gợi về một thế
giới lờ mờ, huyền ảo, không xác định Người chồng chết “vì xe rơi xuống núi, ở một đoạn đèo, trong một đám sương mù, khoảng 5 giờ một buổi chiều tháng 11” [18, 1] Những thông tin về không gian, thời gian vẫn không xác
định được điều gì cụ thể Khụng có sự thật nào được hé lộ trong hành trình
tìm kiếm của An Mi Ngay cả cái chết của người cha nuôi cũng “khụng có ý nghĩa nào rọi sáng” [18, 39]
Con người bất tri trước cái chết Nó lẩn khuất, u buồn, ám ảnh trongnhững khoảng thời gian, không gian, hiện thực Trong giờ phút đối diện với
người đàn ông lạ, tưởng như có thể tìm lại sự sống, An Mi vẫn thấy: “ở gần cái chết hơn bao giờ hết.” Nhưng con người bất lực khi lí giải: “Nhiều năm sau, tôi cố hiểu cái chết của cha nuôi tôi Cuộc đời không đầy những bí ẩn, nhưng sự thật về cuộc đời luôn ở một nơi nào xa hơn tầm với của con người.” [18-39]
Cái chết của Anita, người cha nuôi, người mẹ và bé An trở thành mộtthế giới bí ẩn, ám ảnh khôn nguôi đối với An Mi, là một phần của thế giới
Trang 33thực Đôi khi, nó gợi mở về thế giới thực tại Khi đối diện với kí ức về cáichết của mẹ, em gái, cái chết của mình, An Mi mới hiểu được ý nghĩa cuộcsống, mới mang khát vọng trở về mãnh liệt.
Trong Mưa ở kiếp sau, thế giới phi lí là thế giới hư ảo, đầy bí ẩn tăm
tối đan xen trong thế giới thực Thế giới của Kì Chi ám ảnh những ngườiđang sống: buồn bã, u ám, oan khuất Thế giới phi lí đó hiện hữu thườngtrực, xâm lấn vào thế giới thực tại, nhưng đầy bí ẩn, xa cách với con người
Đó là sự mâu thuẫn giữa khát vọng kiếm tìm sự thật và sự tăm tối vĩnh cửu trong thế giới hỗn mang.
Thế giới phi lí trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng có sự đan xennhững mâu thuẫn: sự sống - cái chết, hiện thực – kì ảo, biết và không biết.Thế giới với sự đứt đoạn của không gian thời gian
Thời kì trung đại, thời gian và không gian là những thông số xác định
sự tồn tại của thế giới, là những hình thức cơ bản của kinh nghiệm con
người “ Không gian được quan niệm như một hình thức có khoảng trải đồng đều, hình học, có ba chiều, có thể phân cách thành những khoảng chiếu ứng được với nhau Thời gian được quan niệm như sự kéo dài thuần túy, sự diễn ra theo trình tự không đảo ngược lại được của những biến cố từ quá khứ đến tương lai thông qua hiện tại” [23, 33]
Trong cảm quan hiện sinh, thế giới mất đi sự thống nhất và bình lặng
đó Con người hiện sinh coi thế giới là môi trường sinh hoạt tự nhiên và cầnthiết Họ ý thức sâu sắc về cuộc sống cá nhân của mình, đặt trong sự đốisánh với vũ trụ, họ cảm nghiệm về không gian, thời gian trong sự đứt đoạn:chúng mất đi tính trật tự, thống nhất
Thời gian, không gian trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng bị phâncắt thành những mảnh vụn, những khoảnh khắc rời rạc Con người cảmnghiệm thế giới từ gúc nhỡn gần và hẹp, với sự đứt gẫy, gián đoạn củakhông gian thời gian Trong đó, con người bị tách lìa khỏi tuổi thơ, quêhương Thế giới bị cắt mảnh và sắp xếp lộn xộn
Trang 34Và khi tro bụi mở ra theo không gian của những chuyến tàu“Thế giới
ở ngoài xa lướt thướt trôi qua khung cửa kính của chuyến tàu.” Những không gian xa lạ, con người không ý thức được “Rồi tàu đến và rời thành phố, đi qua những cánh đồng nối tiếp nhau, có khi bằng phẳng, cú lỳc lờn nỳi xuống đồi Có những lối đi băng qua những cánh đồng đó, mất hút về phía xa Rồi xe đi qua một cánh rừng, một khu phố lưa thưa nhà cửa, loáng thoáng ánh đèn, đường xe đi lên đi xuống Quê hương của loài người bây giờ lại lùi xa bên ngoài khung cửa kính, lúc nào cũng chỉ lướt qua, nhạt nhòa và không tiếng động.” [18, 6] Những mảnh không gian lắp ghép, gián đoạn “thành phố, cánh đồng, cánh rừng, khu phố, tất cả đều “nhạt nhòa và không tiếng động.”
Thời gian của vũ trụ tách biệt hoàn toàn thời gian con người, mâu
thuẫn với thời gian hiện hữu ngắn ngủi “Thời gian còn lại rất ngắn Hàng ngày mặt trời màu vàng tái lên xuống âm thầm bên kia thành phố, bên kia những ngọn núi hay những đám mây, im lìm, nhưng nó vẫn đến vẫn đi bên trên mọi tiếng động của thế giới Thời gian đang trôi, năm sắp tàn Tôi sẽ chết trước khi mùa xuân đến.” [18, 7]
Thời gian tồn tại của con người trở nên ngắn ngủi, vô nghĩa, bị cắtmảnh Thực chất, An Mi ít khi có nhận thức về không gian thời gian Con
người sống trong những quán tính vô thức của mình “Có khi tôi nghĩ tôi không còn nhớ anh Nhưng có khi tự nhiên, một khoảnh khắc kỳ lạ chợt trở về Không phải là một câu chuyện, mà chỉ là một khoảnh khắc ngắn và rõ ràng.” [18- 9]
Có lẽ vì thế, không gian, thời gian vũ trụ trong nhận thức của conngười chỉ là những khoảnh khắc hay những mảnh lắp ghép rời rạc của hiện
tại “Nỗi nhớ chỉ là sự trở lại của một khoảnh khắc Không hề có một năm tháng nào ở giữa khoảnh khắc ấy và hiện tại Nó là hiện tại.” [18– 3]
Trang 35Không gian, thời gian trong Mưa ở kiếp sau cũng là những khoảng
thời gian lạ lùng, phi lí, bị đứt đoạn và gián cách nhau
Đó là thời gian nằm ngoài con người, nó thuộc về quá khứ đã mất,hiện tại dở dang và u buồn Thời gian, không gian chỉ được cảm nhận thôngqua những thời điểm, khoảnh khắc cụ thể của hiện tại, của quá khứ đã mất,gián đoạn, đứt gẫy Thời điểm của tiếng vỡ chiếc bình sứ cổ (Mưa ở kiếpsau) là sự đoạn tuyệt giữa quá khứ và hiện tại Trước đó là một gia đình, nềntảng gia giáo, sau đó là sự tha hương, lưu lạc Tất cả đều đứt đoạn, không có
sự tiếp nối lụgic nào
Tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng, mang ám ảnh khôn nguôi về thế giớiphi lí Thế giới không thuộc về con người bí ẩn, tối tăm, đứt đoạn, rạn vỡ.Cảm nghiệm về thế giới của cái chết, của kiếp sau là nột riờng trong tiểuthuyết Đoàn Minh Phượng, nó trở thành nỗi u buồn, ám ảnh miên viễn
2.1.1.2 Thế giới cạm bẫy và gián đoạn trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà
Thế giới phi lí trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà là thế giới cạm bẫylàm tha hóa con người, thế giới với sự gián đoạn thời gian, không gian
Thế giới cạm bẫy, là thế giới của đồng tiền, quyền lực Thế giới ấy mâuthuẫn với con người Con người phủ nhận, khinh nghét thế giới đó bởi họkhông thể hiểu và lí giải được nó Họ bất lực, sợ hãi trước cái mê cung củađồng tiền và quyền lực, nhưng lại hăm hở dấn thân vào thế giới ấy Đồng tiền,quyền lực đã đảo lại mọi logic thông thường Nó tạo nên một thế giới phi lí
thật giả lẫn lộn “Trước khi đột tử, ụng đó kịp làm hỏng một Phó Bí thư Tỉnh
uỷ, ba thiếu tá Công an và hai mươi mốt quan chức lớn nhỏ trong các ngành công thương nghiệp Nếu không có sự tranh giành tài sản của bốn bà vợ ở ba miền và khoảng một tá bồ nhí suốt dọc chiều dài đất nước thì người ta không làm sao rõ được những hoạt động mờ của ụng.” [10-143] Nhó, Tâm khinh
nghét thế giới đó, nhưng không thoát khỏi sức cám dỗ, họ dấn bước vào nótrong sự hoang mang sợ hãi Thế giới nhập nhằng đáng sợ, nó đi liền với cỏi
ỏc, sự tăm tối trong tâm hồn con người Nó làm tha hoá con người.“Trờn đời
Trang 36này đầy những cỏi ỏc Có người vô tình làm ra cỏi ỏc mà không biết Tôi đang là nạn nhân của một cái ác vô thức.” [10, 34]
Trong Khải huyền muộn, thế giới có sự nhập nhằng của những mối
quan hệ Đồng tiền, và quyền lực đã trở thành một thước đo để đảo hoán lạimọi giá trị Con người không thể lí giải và vượt thoát khỏi nó Thế giới trởthành một thế giới bí ẩn, cạm bẫy
Không gian, thời gian trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng là nhữngmảnh vỡ, gián đoạn của những thời điểm, thì trong tiểu thuyết Nguyễn Việt
Hà, lại có sự lồng ghép đan xen của những không gian, thời gian cách biệtnhau Nó tạo nên một thế giới phi chuẩn, phi thực, với sự xáo trộn lụgicthông thường
Thời gian trong Cơ hội của chúa không được tái hiện theo trình tựtrước sau mà hoàn toàn theo trí tưởng tượng của nhân vật
“Trong dòng tự sự của Thủy, ký ức và hiện tại miên man chảy, khôngmột từ nối, không một lời chuyển tiếp Thực tế một quan bar ở Hải Phòngđột ngột đứng giữa hai kỷ niệm về Hoàng ở hai thời điểm khác nhau:
ôKhụng có chuyện gỡ tụi trỏch Hoàng cả đặc biệt là chuyện tiền nong Nhưng cứ kéo dài như vậy mãi ư hả anh, anh của em Gã trai ở bàn bên cạnh mạnh dạn đi sang mời tôi nhảy Duy nhất một lần Hoàng có rủ tôi ra
vũ trường Sàn nhảy ấy là bạn của Hoàng đấu thầu” (tr.316) Tùy theo nội
dung của độc thoại mà tác giả quyết định chiều thời gian Tự sự của Tâmhừng hực hy vọng và dự kiến tương lai vì vậy được kể phần lớn trong chiềuthuận: những năm ở Đức (tr.208), cuộc trở về (tr.292), xây nhà (tr.297), gặplại người con gái mà anh sẽ cưới (tr.297), mở công ty (tr.306) Ngược lại, tự
sự của Hoàng, nhất là trích đoạn thứ hai, ngập trong buồn chán, nên nóichung theo chiều nghịch ở đó ngày tháng cứ lùi dần: hôm Thủy lặng lẽ bỏ đi(tr.385), lần cuối cùng Hoàng nhìn thấy cô (tr.402), lần gặp áp cuối(tr.418).” (….) “Thời gian trong Cơ hội của Chúa vì vậy tan ra từng mảnh, hết dừng, lại lùi, rồi tiến, cứ thế trong một điệu quay vô tận.” [69]
Trang 37Không gian là những địa điểm xếp cạnh nhau, được nối kết hờ hữngbằng sự hiện diện của con người Không có nơi gắn bó, nơi nào cũng là mộtđiểm dừng tạm trong hiện tại Con người không biết mình sẽ đi đâu, sẽ dừnglại nơi nào Từ không gian bát nháo của đô thị trong thời kì kinh tế thịtrường; không gian công sở với sự trì đọng nhàm chán; không gian khốc liệtcủa những thương vụ làm ăn…đến không gian của những quán rượu nhỏ,những phố vắng êm đềm đều được tái hiện
Không gian của Hoàng là không gian “giang hồ vặt”: từ Nam ra Bắc,
từ nơi sang trọng, đến nghèo nàn … Nhân vật bị lạc trong mê cung củanhững không gian ấy
Trong Khải huyền muộn, có sự xâm lấn của không gian hiện thực và tiểu thuyết, thời gian hiện tại và quá khứ: “xưa và nay, tương lai và quá khứ, chỉ là sự phân biệt linh tinh mù loà của con người.” [11-314] Khi đó, con
người trở thành những kẻ lang thang, cô đơn trong bất kì một không gianthời gian nào Cẩm My, Vũ, nhà văn, Bạch, cô người mẫu và ngay cả nhữngngười theo chõn chỳa, đều là những kẻ cô đơn và lạc lõng, không hiểu đượcnhững phi lí đang diễn ra
Thế giới được chắp vá trong mỗi câu chuyện Không có sự phân biệtrạch ròi giữa những khoảng không gian và thời gian Con người sống trong sự
mơ hồ về thời gian Những ám ảnh của quá khứ thường đồng hiện trong hiện
tại Thế giời trong kí ức “nhiều khi lem nhem những vệt gắn nhựa đường” [11, 321] Vì vậy, “Cuộc sống, theo Nguyễn Việt Hà, không phải là một sợi dây thẳng tắp hay sự tiếp diễn của các sự kiện theo luật nhân quả, mà là tập hợp những mảng vỡ, những khoảng trống, những âm hưởng.” [69]
Cảm quan về thế giới cạm bẫy, thế giới với sự lắp ghép xộc xệch của
những khoảng không gian, thời gian là nột riờng trong tiểu thuyết NguyễnViệt Hà
Trang 382.1.2 Thế giới xa lạ
Thế giới với không gian thời gian vốn là nơi tồn tại của con người,nhưng trong thời kì hậu hiện đại, giấc mộng khám phá thế giới tan vỡ, conngười trở thành những cá thể nhỏ bé và lạc lõng trong thế giới Sự tuyệt giaocủa con người và thế giới là cảm quan bi đát trong thời kì hậu hiện đại
Con người hiện sinh coi khám phá chính bản thân mình, “cấp thiết hơn việc tìm hiểu vũ trụ và các định luật tư tưởng.” Khi đó, con người chấp
nhận sự xa lạ cách biệt của thế giới, nó nằm ngoài giới hạn nhận thức vàquan tâm của con người Con người cô đơn lạc lõng và bị tha hóa trong thếgiới ấy
Trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà và Đoàn Minh Phượng, con ngườikhông muốn, và không thể hoà nhập Đó là thế giới bị từ bỏ trong tiểuthuyết Đoàn Minh Phượng và thế giới cách biệt trong tiểu thuyết NguyễnViệt Hà
2.1.2.1 Thế giới bị từ bỏ trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng
Thế giới bị từ bỏ khi con người không thể hiểu, không thể hoà hợpvới nó Thế giới xa lạ, cách biệt với con người Con người hoang mang, lạclõng, họ trốn tránh thế giới thực, khước từ mọi mối liên hệ với nó
Trước những khốc liệt của cuộc sống, An Mi, Michael và Anita, đãcắt bỏ những mảnh kí ức, thu lại trong cuộc sống dễ chịu họ cố tạo ra.Nhưng từ bỏ thế giới, họ vẫn ám ảnh bởi nỗi cô đơn, u buồn không chịu nổi
Với An Mi, thế giới quá khứ là chiến tranh, khốc liệt và chết chóc.Thế giới hiện thực, sau cái chết của chồng cũng không còn mối liên hệ nào
Cô cũng từ bỏ nó, quyết định sống trên những chuyến tàu để không bị giàngbuộc với mặt đất Cô đến những mảnh đất xa lạ, gặp những con người xa lạ
để “Một ngày nào đó sẽ chết trên đường, ở một nơi chốn khụng tờn.” [18, 40] Thế giới cõi chết được tìm đến, nhưng vẫn là thế giới xa lạ khi cô không
hiểu gì về nó Cả hành trình kiếm tìm cái chết, nhưng khi đối diện với nó,
Trang 39An Mi lại khao khát vượt thoát khỏi nó “Tôi cố vùng vẫy cho khỏi lịm đi, nhưng tôi không còn điều khiển được thân thể và ý thức của mình Bóng đêm đang tràn tới, mờnh mụng.” [18, 180] Khi đối diện với cái chết, con
người mới cảm nghiệm được sâu sắc thế giới thuộc về mình, cũng là thế giới
bị chối bỏ và lãng quên: “một nơi trên trái đất từng là quê hương tôi Nơi đó nghèo khó hơn nơi này Nơi đú tụi đó được sinh ra, lớn lên, đi đặt những lờ
cá gần nơi những người đàn ông đi đặt mỡn.” [18, 179]
Và khi tro bụi mở ra thế giới đa chiều: hiện tại và quá khứ, cuộc sống
và cái chết, con người muốn nhận thức và bị giới hạn…Con người khôngtìm thấy thế giới thuộc về mình Thế giới xa lạ, cách biệt với con người
Và khi tro bụi là hành trình từ bỏ để kiếm tìm một thế giới đích thực,thì trong Mưa ở kiếp sau, con người trở thành những kẻ trốn chạy thế giới.Thế giới lạnh lùng trước mọi thân phận, con người nhỏ bé, lạc lõng, khôngtỡm thấy thế giới dung nạp mình
Không gian của Mai, bị giới hạn: “Tôi nhớ ngày cũn bộ khi nhìn thấy cửa sổ tụi ngú thấy một mảnh trời Tôi thấy sao, đôi khi có mặt trăng
lơ lửng trong mảnh trời trong suốt hay mù sương của tôi Ngày tôi lớn, chỉ còn thấy những bức tường của những căn nhà phía bên kia khoảng sân nhỏ” [19, 3]
Quê hương, vốn là thế giới quen thuộc cũng trở thành thế giới con
người không thể hiểu, và không muốn hiểu “Đêm đêm tôi sẽ lặng lẽ đem thả trôi sông từng mảnh tình yêu dành cho Huế, nơi tôi chưa bao giờ đến, sẽ không bao giờ đến Đêm đêm tôi sẽ nằm trên con thuyền nhỏ của riêng mình, sẽ xé nhỏ tình yêu quê hương dòng họ, rồi vứt đi từng mảnh xuống nước và nhỡn chỳng chỡm nhanh trong một dòng mênh mông thăm thẳm.”
[19, 11] Con người là kẻ bị quê hương lãng quên, hay từ bỏ quê hương, quákhứ là cách để con người dễ sống hơn Nhưng từ bỏ thế giới xa lạ này, conngười rơi vào thế giới xa lạ khác
Trang 40Thế giới của quán bia, của Muôn Hoa là thế giới cạm bẫy đối vớiMai Cụ luụn lạc lõng và kinh sợ Cụ tỏch mỡnh ra khỏi thế giới ấy, khước
từ sự hoà nhập: “Nhân phẩm dù có bán được bao lâu vẫn còn nguyên vẹn, nếu lũ con gái giữ được giới điều này: xem thường những xúc phạm Khi những xúc phạm được xem thường, thỡ chỳng không có thực Không ai chạm được đến danh dự mà chúng tôi gìn giữ yên lành bên dưới những lời vâng dạ, những nụ cười ngoan ngoãn tán đồng.” [19, 106] Mai khước từ
thực tại, tìm đến nương tựa trong thế giới ảo của Chi, nó vừa gần gũi, vừađầy ám ảnh u buồn Cuối cùng, chính cô lại sợ hãi và trốn tránh nó
Xuyên suốt câu chuyện vẫn là cảm giác hoang mang, lạc lõng của conngười trước thế giới Con người từ bỏ thế giới xa lạ và cuối cùng, trở thànhnhững người xa lạ với chính bản thân mình
2.1.2.2 Thế giới cách biệt với con người trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà
Tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà mang những âu lo về bối cảnh hiện sinh.Thế giới đô thị với những mặt trái của kinh tế thị trường khiến con ngườikhinh nghột nú, nhưng không thể vượt thoát khỏi nó Vì vậy, thế giới và conngười luụn cú sự cách biệt
Thế giới bị công sở hoá ám ảnh trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà.Những công sở trở thành môi trường nhàm chán, tẻ nhạt, lặp lại – đó là cuộcsống “buồn nôn” của con người hiện sinh Với Nguyễn Việt Hà đó là môitrường làm tha hoá trí thức, nhưng thực tế, con người vẫn phải tồn tại trongthế giới ấy Nó tạo nên sự bất hoà giữa con người và môi trường sống Conngười xa lạ với hoàn cảnh sống của mình
Theo quan niệm của Kafka: thế giới là “vũ trụ bị quan liêu húa Cỏi công sở không phải như một hiện tượng xã hội mà như là bản chất của thế giới.” Đó là thế giới với những quy tắc, luật lệ chi phối đến mọi cá nhân.
Nhưng con người không chấp nhận nó, họ lạc lõng trong không gian tồn tại