1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT THƠ vũ HOÀNG CHƯƠNG

102 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phong Cách Nghệ Thuật Thơ Vũ Hoàng Chương
Tác giả Vũ Thị Lan Hương
Người hướng dẫn GS-TS Lê Văn Lân
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Thể loại Luận Văn Thạc Sỹ
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • MỤC LỤC

  • PHẦN MỞ ĐẦU

  • Chương 1 VŨ HOÀNG CHƯƠNG – MỘT CÁI TÔI CÔ ĐƠN BUỒN NẢN, CHÁN CHƯỜNG NHẤT TRONG THƠ MỚI

  • 1.1. Cái Tôi trữ tình trong thơ và Thơ mới

  • 1.1.1. Quan niệm về cái Tôi trữ tình trong thơ

  • 1.1.2.Vài nét về cái Tôi trữ tình trong thơ trung đại

  • 1.1.3. Cái Tôi trữ tình trong Thơ mới

  • 1.2. Nỗi cô đơn, buồn nản chán chường trong Thơ say và Mây

  • 1.2.1. Cô đơn , buồn nản, chán chường bởi cảm giác lạc loài

  • 1.2.2. Cô đơn, buồn nản, chán chường bởi mất mát trong tình yêu

  • Chương 2 CON ĐƯỜNG THOÁT LY HIỆN THỰC

  • 2.1. Tìm đến thú say

  • 2.2. Trốn vào tình yêu, tìm thú vui thân xác

  • 2.3. Trở về quá khứ

  • Chương 3 ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT THƠ VŨ HOÀNG CHƯƠNG QUA HAI TẬP THƠ SAY VÀ MÂY

  • 3.1. Ngôn ngữ

  • 3.2. Hình ảnh

  • 3.3. Thể thơ

  • 3.3.1 Các thể thơ

  • 3.3.2 Nhịp thơ

  • 3.3.3. Vần thơ

  • PHẦN KẾT LUẬN

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nội dung

Mục đích và ý nghĩa của đề tài 3

Phong trào Thơ mới (1932-1945) là hiện tượng văn học quan trọng nhất của Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX, diễn ra trong bối cảnh xã hội đầy biến động Trào lưu này mang đến một tiếng nói mới cho văn chương, đánh dấu bước chuyển từ thơ ca cận đại sang hiện đại Đóng góp lớn của Thơ mới là sự trở về của cái Tôi, thể hiện quan niệm cá nhân, giải phóng sức sáng tạo và tạo ra những bước ngoặt trong thi pháp và tư duy thơ Những phong cách nghệ thuật độc đáo xuất hiện, với những tác giả tiêu biểu như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Nguyễn Nhược Pháp, Huy Cận, Nguyễn Bính, Chế Lan Viên, và Xuân Diệu, mỗi người mang đến một hồn thơ riêng biệt và sâu sắc.

Chỉ trong mười lăm năm, Thơ mới đã trải qua một hành trình dài với nhiều hướng đi khác nhau, từ lãng mạn thoát ly đến chân thật gần gũi và kỳ ảo Thơ mới không chỉ chứa đựng niềm vui gắn bó với sự sống và tình yêu đôi lứa, mà còn mang nặng nỗi buồn về cuộc đời, non nước và những nỗi đau thầm kín Những cảm xúc này không chỉ phản ánh cuộc sống cá nhân mà còn hòa quyện với hơi thở chung của thời đại, thể hiện sự tìm kiếm chiều sâu trong cuộc sống giữa những mất mát và cô đơn.

Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn

Mặc Tử, Chế Lan Viên và Xuân Diệu đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng người yêu thơ, nhưng tình yêu ấy không bền vững, dẫn đến những cảm xúc hỗn độn giữa say mê và cô đơn Cuối cùng, ta trở về với chính mình qua những vần thơ của Huy Cận, thể hiện rõ tinh thần của Thơ mới.

Vũ Hoàng Chương (1916 - 1976) là một thành viên nổi bật của phong trào Thơ mới, khẳng định tài năng thi ca của mình trong bối cảnh có nhiều ngôi sao sáng như Lưu Trọng Lư trên bầu trời thơ ca.

Vũ Hoàng Chương nổi bật như một ngôi sao lạ trong bầu trời thơ ca, xuất hiện muộn màng và mang đến cảm giác chao đảo, mờ ảo, cùng nỗi buồn xung quanh làn khói hơi men, bên cạnh những tên tuổi lớn như Lư, Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, và Chế Lan Viên.

Thơ Vũ Hoàng Chương phản ánh tâm trạng cô đơn và chán nản của con người trong thời đại mới Qua hai tập thơ "Thơ say" (1940) và "Mây" (1943), tác giả tìm kiếm lối thoát khỏi cuộc sống thực tại bằng những thú say mê độc đáo Chính những trải nghiệm này đã giúp Vũ Hoàng Chương khẳng định vị thế của mình trong nền thơ ca Việt Nam.

Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên…trên thi đàn Thơ mới

Thơ Vũ Hoàng Chương chưa được đánh giá đúng mức, thậm chí còn bị chỉ trích mạnh mẽ, dẫn đến việc những đóng góp của ông cho Thơ mới chưa được công nhận Để khẳng định tài năng và sức sáng tạo của nhà thơ, cần xem xét phong cách nghệ thuật của ông, phản ánh cá tính sáng tạo và nhận thức về cuộc sống Phong cách này là sự tổng hợp các yếu tố nghệ thuật trong một nội dung thống nhất, và việc nghiên cứu cần nhìn nhận toàn diện các vấn đề như cuộc đời, thể loại, ngôn ngữ và tư duy nghệ thuật Phong cách không chỉ là tài năng bẩm sinh mà còn là kết quả của kiến thức và nỗ lực cá nhân, thể hiện sự sáng tạo cao nhất trong việc đồng hóa hiện thực bằng thẩm mỹ Nghệ thuật đạt đến đỉnh cao khi nhà văn để lại dấu ấn riêng trong việc cảm thụ và lý giải hiện tượng đời sống.

Vì những lý do nói trên tôi đã chọn Thơ say và Mây của Vũ Hoàng

Chương nghiên cứu này nhằm mục đích khẳng định vị trí của Vũ Hoàng Chương và tác phẩm thơ của ông trong nền thi ca Việt Nam.

Lịch sử vấn đề 5

Thơ mới đã nhận được nhiều đánh giá từ các nhà nghiên cứu nổi tiếng, trong đó Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận và Chế Lan Viên được công nhận là những nhà thơ có đóng góp lớn Tuy nhiên, Vũ Hoàng Chương, mặc dù được ngưỡng mộ về tài năng, lại ít được nhắc đến và thậm chí bị chỉ trích, dẫn đến việc thơ ông bị lãng quên trong một thời gian dài.

Khi nghiên cứu thơ Vũ Hoàng Chương, người ta thường nhấn mạnh đến những cảm xúc mãnh liệt trong tác phẩm của ông Hoài Thanh là người đầu tiên nhận ra những điểm mới mẻ trong phong cách sáng tác của nhà thơ này.

Vũ Hoàng Chương, cùng với Lưu Trọng Lư và Tản Đà, đều thể hiện sự say mê trong thơ ca, nhưng cái say của ông mang tính mới mẻ hơn Mặc dù chịu ảnh hưởng từ thơ Pháp, tác phẩm của Vũ Hoàng Chương phản ánh sâu sắc cuộc sống hiện đại Sự say mê trong thơ của ông không hề điên cuồng, và mặc dù có chút chán nản mang âm hưởng của Baudelaire, nhưng vẫn giữ được sự nhẹ nhàng và thoáng đãng, không nặng nề như cảm xúc u ám của Baudelaire.

Hoài Thanh chỉ ra rằng Vũ Hoàng Chương muốn tiếp nối di sản của những thi hào xưa của Đông Á với những trạng thái say mê đa dạng Ông mô tả người say không chỉ với rượu, âm nhạc, hay tình yêu, mà còn với những thú vui mới như thuốc phiện và nhảy đầm Tất cả những trạng thái say sưa này đều được nuôi dưỡng bởi một niềm say mê lớn hơn: say thơ.

Thơ Vũ Hoàng Chương chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các nhà thơ trước, nhưng ông đã phát triển thú say của mình trở nên phong phú và đa dạng hơn Ông thể hiện sự say mê với những thú vui đời thường như rượu, đàn, ca, và cả những thú say hiện đại như thuốc phiện và nhảy đầm Dù có nhiều loại say, nhưng chúng không hủy hoại tâm hồn hay tài năng của ông, mà ngược lại, chúng tạo nguồn cảm hứng cho một thú say khác: say thơ.

Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan nhận định rằng thơ của Vũ Hoàng Chương mang đến sự say mê từ điệu thơ và nghệ thuật, chứ không chỉ từ tính cách của ông Vũ Hoàng Chương thực sự là một nhà thơ tài năng trong việc lựa chọn từ ngữ và tạo ra âm điệu độc đáo Tuy nhiên, điều này không làm cho thơ của ông thiếu đi sự rung động chân thực Chính những cảm xúc sâu sắc trước cuộc sống là nguồn gốc tạo nên điệu thơ của ông.

Vũ Hoàng Chương phản ánh sâu sắc những biến động và nỗi mất mát trong cuộc đời của ông, điều này được nhà phê bình Đỗ Lai Thúy nhấn mạnh trong tác phẩm "Con mắt thơ".

Cái say trong thơ Vũ Hoàng Chương mang đến sự chân thực và sâu sắc, thể hiện đời sống toàn vẹn với cả thực tế và lý tưởng, xác thịt và tâm hồn, tỉnh thức và mộng mơ Sự chuyển giao liên tục giữa thực và ảo tạo nên vẻ đẹp đặc trưng cho Thơ say Đỗ Lai Thúy nhận thấy trong thơ của Vũ Hoàng Chương có sự giao thoa giữa hai thế giới thực và ảo, phản ánh cái nhìn mới mẻ và cách cảm nhận hiện đại theo tư duy đô thị phương Tây, nơi thế giới bị phân mảnh thành những phần riêng biệt, hữu hình và vô hình.

Thơ mới là sự giao thoa hài hòa giữa truyền thống thơ ca dân tộc, ảnh hưởng của thơ ca Á Đông và tinh hoa thơ ca Pháp qua nhiều thế kỷ Nó kết hợp các yếu tố Đông - Tây, Kim - Cổ, tạo ra một thế giới âm thanh, màu sắc và hương thơm phong phú, phản ánh con người và vũ trụ Điều này thể hiện rõ nét trong tác phẩm của bất kỳ nhà thơ mới nào, điển hình là Vũ Hoàng Chương.

Bạch, Bạch Cư Dị”  16 , tr 207  Chỉ có điều ông chưa tiếp thu được truyền thống nhân đạo tích cực trong thơ Đường

Giáo sư Đỗ Đức Hiểu nhận định rằng thơ Vũ Hoàng Chương mang đậm ảnh hưởng của phương Đông với những giấc mơ về quá khứ, như "đêm hoa đăng" và hình ảnh của gái Kim Lăng, gái Giang Nam Đồng thời, từ góc nhìn phương Tây, ông được xem là nhà thơ hiện đại, nhạy bén với tâm linh và phong trào thơ tượng trưng Trong dòng thơ mới, Vũ Hoàng Chương thể hiện sự đô thị hóa mạnh mẽ, hòa mình vào nỗi chán chường và những cảm xúc tuyệt vọng, phản ánh tinh thần của Baudelaire trong bối cảnh "đời tàn trong ngõ hẹp".

Thơ Vũ Hoàng Chương nổi bật với sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố hư ảo của phương Đông và thực tại, đời sống hiện đại của phương Tây Đây chính là điểm mới mẻ và độc đáo trong sáng tác của ông.

Ngô Văn Phú trong lời giới thiệu "Thơ say" (NXB Hội nhà văn 1993) đã nhận định rằng thơ Vũ Hoàng Chương chủ yếu xoay quanh cái Tôi, thể hiện những cảm xúc sâu sắc trong những khoảnh khắc chân thật nhất của bản thân Ông đã đưa Thơ mới vào chiều sâu cá tính, tạo nên một phong cách độc đáo mà không ai có thể bắt chước Thơ của Vũ không chỉ đơn thuần là bí hiểm mà còn mang âm hưởng nhạc và tranh, với sự lựa chọn từ ngữ tinh tế cho từng câu thơ, thể hiện tâm hồn của tác giả một cách sống động.

Vũ cho đó mới thật đáng gọi là thơ…” Đó chính là tinh thần thơ Vũ Hoàng

Chương Đó cũng chính là phong cách thơ Vũ Hoàng Chương

Hồn thơ Vũ Hoàng Chương thể hiện rõ nỗi buồn nản và chán chường Để giải tỏa tâm trạng này, nhà thơ đã tìm đến thú say, ca ngợi và nâng tầm nó thành thi hứng Sự kết hợp hài hòa giữa cảm xúc và hình ảnh trong thơ ông tạo nên một nét đẹp độc đáo.

Cổ - Kim, Đông - Tây đã tạo nên trong thơ Vũ Hoàng Chương một nét rất riêng, rất đặc sắc

Để hình dung một cách toàn diện về phong cách nghệ thuật thơ Vũ Hoàng Chương, cần xác định sự độc đáo trong sự kết hợp giữa nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật Phong cách nghệ thuật phải thể hiện sự thống nhất và toàn vẹn của các yếu tố tạo nên tác phẩm Để hiểu và đánh giá phong cách thơ của Vũ Hoàng Chương qua hai tập "Thơ say" và "Mây", cần chỉ ra sự thống nhất trong quan niệm về cuộc đời, thời đại, nội dung cảm xúc và hình thức nghệ thuật, đây là vấn đề mà luận văn sẽ đề cập.

Nhiệm vụ của luận văn 8

Luận văn tập trung vào việc phân tích và so sánh những nét đặc sắc trong các tác phẩm của Vũ Hoàng Chương, nhằm làm sáng tỏ phong cách nghệ thuật độc đáo của ông, mà không đi sâu vào những vấn đề quá phức tạp.

Luận văn này nghiên cứu một cách có hệ thống thơ Vũ Hoàng Hương, tập trung vào hai tập thơ "Thơ Say" và "Mây," phân tích cả nội dung và nghệ thuật.

Từ đó tìm ra sự thống nhất giữa hai mặt đó của thơ ông

Bài luận văn này nhằm mang đến cái nhìn chính xác về Vũ Hoàng Chương, đồng thời góp phần xóa bỏ những định kiến và dư luận sai lệch tồn tại trong xã hội về thơ của ông.

Phương pháp nghiên cứu 8

Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu trên luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học sau:

Phương pháp hệ thống được áp dụng để nghiên cứu thơ Vũ Hoàng Chương, từ quan niệm về con người và cuộc sống đến nghệ thuật Bằng cách so sánh tác phẩm của Vũ Hoàng Chương với các nhà thơ trước và cùng thời, chúng ta có thể khám phá những nét độc đáo và riêng biệt trong phong cách sáng tác của ông.

4.3 Phương pháp phân tích tổng hợp, nhằm tìm hiểu thơ Vũ Hoàng

Chương một cách khái quát từ chi tiết cụ thể đến tổng hợp giúp cho việc nghiên cứu có sức thuyết phục cao

Những phương pháp trên được vận dụng hài hoà, khoa học và linh hoạt nhằm làm sáng tỏ những vấn đề mà luận văn đề ra.

Cấu trúc luận văn 9

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tư liệu tham khảo, phần nội dung gồm ba chương :

Chương 1:Vũ Hoàng Chương - một cái Tôi cô đơn , buồn nản , chán chường nhất trong Thơ mới Chương 2: Con đường thoát ly hiện thực

Chương 3: Đặc sắc nghệ thuật thơ Vũ Hoàng Chương qua

Hoàng Chương – một cái Tôi cô đơn , buồn nản , chán chường nhất trong Thơ mới 1.1.Cái Tôi trữ tình trong thơ và Thơ mới 10

Quan niệm về cái Tôi trữ tình trong thơ 10

Mỗi cá nhân cần nhận thức được giá trị bản thân, và văn học, như một hình thái ý thức xã hội, yêu cầu phát huy cái Tôi để khai thác tiềm năng sáng tạo Đặc biệt trong thơ ca, cái Tôi trở nên thiết yếu Viên Mai trong tác phẩm Tuỳ viên thi thoại đã nhấn mạnh rằng, trong khi sống không nên để cái Tôi dẫn dắt vì dễ dẫn đến kiêu ngạo, thì trong sáng tác thơ ca, cái Tôi lại là điều không thể thiếu Cái Tôi trong thơ thể hiện cá tính riêng của nhà thơ, mang đến cảm thụ độc đáo và ngôn từ mới mẻ, tạo nên phong cách biểu hiện riêng biệt, khác hẳn với những người khác.

Cái Tôi đóng vai trò quan trọng trong thơ, là trung tâm bộc lộ suy nghĩ và tình cảm của nhà thơ, tạo nên sự độc đáo cho từng tác phẩm Mỗi nhà thơ mang trong mình một tâm hồn và cuộc sống riêng, từ đó hình thành phong cách thơ độc đáo Đôi khi, cái Tôi của nhà thơ hòa quyện với nhân vật trong thơ, tạo nên cái Tôi - trữ tình, một hình ảnh nghệ thuật của chính nhà thơ Sự khác biệt giữa cái Tôi - nhà thơ và cái Tôi - trữ tình không có nghĩa là sự giả dối; nhiều nhà thơ vẫn có thể viết sâu sắc về những trải nghiệm mà họ chưa từng trải qua, như Chế Lan Viên hay Minh Huệ Chính sự phong phú và giàu tưởng tượng trong tâm hồn đã làm cho thơ trở nên lung linh và đầy màu sắc, biến cái Tôi cá nhân thành cái Tôi nghệ thuật.

Vài nét về cái Tôi trữ tình trong thơ trung đại 11

Quá trình sáng tác thơ ca là sự chủ quan hóa, nơi cái Tôi trữ tình thể hiện dấu ấn cá nhân qua sự lựa chọn và cảm xúc Khả năng chuyển hóa cái chung thành cái riêng càng cao, tiếng nói thơ ca càng phong phú Tuy nhiên, không phải thời đại nào cũng có thể đạt được điều này.

Trong thơ ca nhà nho thời trung đại, "cái Tôi đơn nhất" không gắn liền với hoàn cảnh sống hay môi trường xã hội, mà chủ yếu thể hiện mối quan hệ với thiên nhiên Các nhà nho, sau khi hoàn thành sứ mệnh "hành đạo", thường lui về ẩn dật, sống hòa mình với thiên nhiên để duy trì phẩm giá trong sạch Họ tìm thấy trong thiên nhiên những giá trị đạo đức cao quý, như hình ảnh cây tùng, cây trúc biểu trưng cho người quân tử, hay cúc, mai thể hiện sự trong trắng Mặc dù gạt bỏ mối quan hệ với xã hội, những nhà nho như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, và Cao Bá Quát vẫn mang trong mình nỗi niềm yêu nước và tư tưởng "Trí quân trạch dân" Họ không hoàn toàn tách biệt khỏi cuộc sống xã hội, mà tìm cách tránh xa những bon chen để giữ gìn nhân cách, thể hiện "cái Tôi" suy tư và chiêm nghiệm, hướng về thiên nhiên và vũ trụ để hiểu thêm về cuộc đời và con người.

Trong thơ ca trung đại, cái Tôi chưa được phát triển đầy đủ do thiếu cơ sở xã hội, dẫn đến việc không thể bộc lộ những nét độc đáo riêng Truyền thống thơ ca dân tộc Việt Nam phản ánh sự hạn chế này trong việc thể hiện bản sắc cá nhân.

Hồ Xuân Hương chỉ là một trong số ít những nhà thơ nổi bật trong bối cảnh thơ văn bị ràng buộc bởi nội dung phi ngã, nơi cá tính và bản lĩnh con người không được thể hiện Theo Huy Cận, "tất cả những gì thuộc về cá nhân bị bỏ rọ," dẫn đến sự nhàm chán và cứng nhắc trong sáng tác Thơ văn trung đại với các quy tắc khắt khe đã kìm hãm khả năng bộc lộ cảm xúc và tình cảm thực sự của con người, khiến cho thơ cũ trở nên khô cằn và sáo mòn Tuy nhiên, vào đầu thế kỷ XX, Tản Đà đã xuất hiện với một phong cách độc đáo, mang lại luồng gió mới cho nền thơ ca.

“dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hoà nhạc tân kì đương sắp sửa”

 42 , tr 12  Ông là người dọn đường cho Thơ mới ra đời.

Cái Tôi trữ tình trong Thơ say và Mây 13

Sự ra đời của Thơ mới là kết quả của sự phát triển văn hóa dân tộc, đánh dấu sự xuất hiện của một thế hệ nghệ sĩ với hệ thống quan niệm thẩm mỹ mới Thơ mới đã mở ra nhiều chân trời và sắc thái cảm xúc, làm thay đổi quan niệm về con người và thế giới, đồng thời định hình lại những giá trị đã tồn tại trong đời sống dân tộc.

Kỵ đã chỉ ra rằng cảm hứng sáng tạo gắn liền với cá nhân tự ý thức đã tạo ra một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử thơ ca Việt Nam, đưa thơ mới trở thành "thơ của cái Tôi" Hoài Thanh và Hoài Chân mô tả thời đại này là "Thời đại chữ Tôi", nhấn mạnh sự xuất hiện của cá nhân trong xã hội Việt Nam, nơi mà trước đây chỉ có tập thể Thơ ca trung đại thường mang tính duy lý và giáo huấn, với các nhà thơ không dám sử dụng chữ "Tôi" để bộc lộ quan điểm cá nhân Ngược lại, thơ mới đã dám coi cái Tôi cá nhân là một quan điểm để nhìn nhận cuộc sống, từ đó bộc lộ những cảm xúc riêng tư như nỗi buồn, sự cô đơn, và cả những giây phút yếu đuối, thất vọng Các nhà thơ mới đã mạnh dạn thể hiện tình cảm và quan điểm của mình một cách chân thực.

Họ dám nói nên những nỗi vui - buồn - yêu - ghét - giận - hờn - mộng - thực một cách độc lập và đầy chủ quan

Thơ mới lãng mạn khẳng định cái Tôi mạnh mẽ, thể hiện bản lĩnh tích cực trong cuộc sống và vai trò của một chủ thể sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật.

Thơ mới là sản phẩm của giai cấp tiểu tư sản, vốn không có hệ tư tưởng độc lập và chịu ảnh hưởng từ tư tưởng tư sản Chủ nghĩa cá nhân, xuất phát từ quyền lợi cá nhân, đã thấm nhuần vào đời sống và tư duy của nhiều tầng lớp xã hội, không chỉ riêng tiểu tư sản Giai cấp này trở thành tiếng nói cho hệ ý thức tư sản, nhưng lại rơi vào tình trạng say mê cái Tôi cá nhân hoặc cô đơn, mất kết nối với cuộc sống xung quanh.

Sự phát triển của cái Tôi trong Thơ mới và văn học lãng mạn đã tạo ra một khoảng cách lớn giữa cá nhân và xã hội Các nhà thơ mới thường thu mình vào thế giới riêng, đối diện với thực tại bằng nỗi buồn và sự chán chường Mỗi nhà thơ xây dựng cho mình một hòn đảo cô đơn, phản ánh sự bế tắc trong cảm xúc và tư tưởng.

Ta là một, là riêng, là thứ nhất

Không có chi bè bạn nổi cùng ta

Xuân Diệu, trong tác phẩm "Hi Mã Lạp Sơn", thể hiện sự cắt đứt mọi liên hệ với những vấn đề trung tâm của cuộc sống Điều này không phải do cuộc đời phụ bạc nhà thơ, mà chính là do ông tự ràng buộc và ngăn cách mình với thực tại.

Hồn đơn như chiếc đảo rời dặm biển

Suốt một đời như núi đứng riêng tây

Trong văn học trung đại, các nhà thơ thường tìm kiếm sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên, thể hiện cái Tôi trong mối liên kết với xã hội Tuy nhiên, cái Tôi ấy không còn hiện hữu trong thời đại hiện tại, khi mà sự cô đơn và chán chường chiếm ưu thế Mỗi cá nhân tìm kiếm lối thoát qua quá khứ, tôn giáo hay những thế giới siêu hình, nhưng lại càng lạc lối và thất vọng Thế Lữ, trong tác phẩm của mình, dẫn dắt người đọc vào một thế giới huyền ảo, nhưng chỉ mang lại chút bình yên tạm thời giữa những nỗi buồn sâu thẳm Tiếng sáo thiên thai vang vọng trong lòng nhà thơ, phản ánh nỗi buồn hiu hắt của cái Tôi cô đơn, như ánh xuân lướt qua cỏ xanh tươi.

Bên rừng thổi sáo một hai kim đồng

Tiếng đưa hiu hắt bên lòng

Buồn ơi ! xa vắng mênh mông là buồn…

Không chỉ thi sĩ mà chính người tiên cũng buồn, cũng mơ màng ngỡ tiếng sáo đang chở lòng buồn của mình dìu dặt lên khơi :

Thiên thai thoảng gió mơ màng

Ngọc Chân buồn tưởng tiếng lòng xa bay

Tiếng sáo thiên thai vang lên, nhưng ở cõi trần, Thế Lữ lại cảm thấy buồn bã Nỗi lòng của ông giống như nỗi nhớ rừng của một con hổ bị giam cầm trong vườn bách thú, thể hiện sự khao khát tự do và nỗi cô đơn sâu sắc.

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn

Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới

… Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu

Lưu Trọng Lư hướng cái nhìn vào một thế giới mơ màng, xa rời thực tại và chìm đắm trong mộng tưởng Thơ của ông thể hiện sự thiếu kết nối với cuộc sống, khi mọi yếu tố như màu sắc, đường nét và không gian đều mờ ảo trong sương mù của giấc mơ Cái nhìn mênh mang và xa vắng của Thế Lữ đã để lại ấn tượng ngọt ngào và lan tỏa mạnh mẽ trong tâm hồn Lưu Trọng Lư.

Buồn hết nửa đời xuân!

Mộng vàng không kịp hái

Lưu Trọng Lư, giữa cuộc đời và giấc mơ, như “Con nai vàng ngơ ngác”, thường phải đối mặt với những thực tế phũ phàng, khiến ông trải qua nhiều lúc khó khăn và trăn trở.

"Giật mình ta thấy mồ hôi lạnh" thể hiện sự tỉnh thức đột ngột, nhưng "mộng đẹp bên chăn đã biến rồi" cho thấy sự mất mát của những giấc mơ Sau khoảnh khắc giật mình ấy, nhà thơ lại rơi vào nỗi sầu trong những ảo tưởng, phản ánh tâm trạng bối rối và trăn trở về cuộc sống thực tại.

Xuân Diệu được xem là người thể hiện rõ nhất tư tưởng cá nhân trong phong trào Thơ mới, với một cái Tôi trữ tình đầy nỗi buồn, mặc dù ông là người khao khát sự sống Ông cảm nhận nỗi buồn khi nhìn ra rặng liễu hiu hắt và khi chiều buông lưới, phản ánh tâm trạng của một thế hệ thi sĩ nghèo cùng những cám cảnh thương tâm, trong bối cảnh xã hội ngột ngạt, không lối thoát.

Chúng ta nay trong cuộc sống ao tù Đốt điếu thuốc chiêu hồn sương quá khứ

Thi sĩ thường mang trong mình nỗi “sầu đơn vạn kiếp”, sống trong thế giới “riêng tây” Ông tự gọi mình là “chàng sầu” và hóa thân thành những hình ảnh như con nai, chim không tổ, núi non hay người kỹ nữ Cả hai hình tượng “con nai vàng” của Lưu Trọng Lư và “con nai chiều” của Xuân Diệu đều thể hiện sự ngơ ngác giữa đời, nhưng trong khi “con nai vàng” vẫn để lại tiếng xào xạc, “con nai chiều” lại không thể bước đi vì bị vây bủa trong “lưới chiều”.

Tôi là con nai bị chiều đánh lưới

Không biết đi đâu, đứng sầu bóng tối

Thơ ca cách mạng ra đời trong bối cảnh đất nước lâm nguy, phản ánh nỗi đau của xã hội nhưng vẫn thể hiện cái Tôi hòa hợp với cái Ta của quần chúng lao động Tố Hữu đã khẳng định điều này qua những tác phẩm của mình.

Tôi buộc lòng tôi với mọi người Để tình trang trải với trăm nơi Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời

Cái Tôi Thơ đang trải qua cảm giác cô đơn, lạc lõng, như "hồn đơn chiếc như đảo rời dặm biển" (Huy Cận) và cảm thấy thiếu vắng bạn bè, "không có chi bè bạn nổi cùng ta".

Nỗi cô đơn, buồn nản, chán chường trong Thơ say và Mây 18

Vũ Hoàng Chương thể hiện một cái Tôi rõ nét trong không gian rộng lớn của bầu trời Thơ mới Thơ ông, đặc biệt là tác phẩm "Mây", chứa đựng nỗi buồn sâu sắc, phản ánh những thăng trầm và mất mát trong cuộc sống của chính mình Nỗi buồn trong thơ của ông mang âm hưởng độc đáo, thể hiện tâm hồn đa sầu đa cảm và tràn đầy yêu thương Những nguyên nhân chính dẫn đến nỗi sầu này chính là trải nghiệm cuộc đời phong phú của nhà thơ.

1.2.1 Cô đơn , buồn nản, chán chường bởi cảm giác lạc loài

Cái Tôi Thơ mới, ngay từ khi ra đời, đã rơi vào tình trạng lạc lõng và bơ vơ, khiến các nhà thơ cảm thấy sợ hãi và tuyệt vọng khi đối diện với cuộc đời Vũ Hoàng Chương thể hiện một khối sầu lớn, đi kèm với cảm hứng cô đơn, phản ánh nỗ lực tự khẳng định bản thân trong một thế giới mà thi sĩ cảm thấy vô nghĩa và tầm thường Sự thiếu vắng ý thức cộng đồng và cảm giác xa lạ với xã hội và thời đại đã tạo nên sự bế tắc trong nhận thức của ông.

Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ

Một đôi người u uất nỗi chơ vơ Đời kiêu bạt không dung hồn giản dị

Thuyền ơi thuyền xin nghé bến hoang sơ

Cảm giác cô đơn và lạc loài đã khiến nhà thơ cảm thấy xa lạ với cuộc sống, quê hương và chính bản thân mình Mặc cảm “bị quê hương ruồng bỏ” đã dẫn đến sự nghi ngờ về nguồn gốc xuất thân của mình, thể hiện qua những câu hỏi như “Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa” và “Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ” Trong trạng thái bối rối và không biết bấu víu vào đâu, nhà thơ cảm thấy như chiếc thuyền giữa biển khơi mịt mùng, chỉ còn cách buông xuôi phó mặc cho số phận Cuối cùng, nhà thơ đã tự tách mình ra khỏi cuộc sống, tìm đến những phương xa vô định để trốn chạy khỏi cộng đồng.

Nhổ neo rồi thuyền ơi! Xin mặc sóng

Xô về đông hay dạt tới phương đoài

Xa mặt đất giữa vô cùng cao rộng

Lòng cô đơn cay đắng hoạ dần vơi

Vũ Hoàng Chương, một thi sĩ tài năng và tâm huyết, đã trải qua cảm giác bất lực và chán chường khi cuộc đời cuốn trôi những ước mơ của ông Sự nổi loạn trong tâm hồn ông không chỉ là cách khẳng định cái Tôi cá nhân, mà còn phản ánh nỗi thất vọng sâu sắc trước những biến cố của cuộc sống.

Nhưng đó cũng là lúc khát vọng sống hoà nhập lại trỗi dậy hơn lúc nào hết

Nhà thơ đau đớn thốt lên :

Ta đã làm chi đời ta xưa?

Ta đã dùng chi đời ta chưa?

Trước Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát cũng là những nhà nho tài năng, với hoài bão lớn lao trong thời thanh niên Nguyễn Công Trứ tự tin vào khả năng của mình và nhận thức rõ về vị trí cũng như sứ mệnh cá nhân trong xã hội Tương tự, Cao Bá Quát cũng khao khát sử dụng tài năng để phò vua, giúp nước Tuy nhiên, những ước mơ này cuối cùng đều vỡ mộng, dẫn đến sự u uất và bế tắc Họ lâm vào con đường ngông cuồng, phá phách hoặc đề cao triết lý hưởng lạc, thậm chí cực đoan với quan điểm “Nhân sinh bất hành lạc, thiên tuế diệc vi thương” của Nguyễn Công Trứ hay “Nhân sinh quí thích”.

(Cao Bá Quát ) Không ngông cuồng, phá phách như Nguyễn Công Trứ và Cao

Bá Quát và Vũ Hoàng Chương thể hiện trong thơ mình những nỗi đau của những cá nhân tài năng nhưng không được công nhận Thơ của họ mang đậm cái Tôi, tương tự như Nguyễn Công Trứ hay Cao Bá Quát, nhưng cái Tôi của Vũ Hoàng Chương lại lạc lõng và bơ vơ hơn Chính vì vậy, nỗi sầu trong thơ ông trở nên u uất, chồng chất và mạnh mẽ hơn giữa cuộc sống.

Cánh rượu thu gần vạn dậm khơi

Nẻo say hư thực bóng muôn đời

Ai đem xáo trộn sầu kim cổ?

Trăng nước Đà Giang mộng Liêu Trai

Cùng với thơ của Thế Lữ, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc

Tử, Vũ Hoàng Chương đóng góp những vần thơ thấm đẫm những giọt nước mắt cô đơn, sầu tủi :

Cha mẹ mất đi lạnh hương khói,

Một chị một em sầu má hồng,

Khuya sớm cô đơn giọt lệ tủi, Ấu thơ đã trêu gì hoá công?

Vũ Hoàng Chương, như một chú chim non lạc mẹ, kêu gào trong tuyệt vọng giữa không gian rộng lớn và lòng người thờ ơ Sự nghi ngờ về xuất thân và tồn tại khiến ông khó có thể vượt qua nỗi cô đơn lạc lõng Sự giằng co giữa khát vọng hòa nhập với cuộc đời và cảm giác bế tắc đã tạo nên tâm trạng phức tạp, được thể hiện rõ trong các tác phẩm như "Đời tàn ngõ hẹp" và "Tuý hậu cuồng ngâm".

Bài thơ "Đời tàn ngõ hẹp" mở đầu với tâm trạng buồn chán của nhân vật trữ tình, sau một giấc mộng dài, bỗng tỉnh dậy và nhận ra thời gian đã trôi qua, ngày đã ngả sang chiều, cuộc đời cũng đang dần khép lại.

Gối vải mộng phong hầu

Vàng son mờ gác xép

Bửng tỉnh mưa càng mau

Chiều tàn trong ngõ hẹp

Đời hiu hiu xế tà

Sự kết hợp của hai mô típ quen thuộc “bầu trời mưa” và “chiều hiu hiu” tạo ra một không gian tĩnh lặng, như thời gian ngừng trôi, cho phép ta lắng nghe những tiếng thở dài sâu lắng của thi sĩ Mưa trong tác phẩm Đời tàn ngõ hẹp gợi nhớ đến bầu trời sũng nước, mang đến cảm giác não nề và cô đơn trong khúc Ariét.

Mưa, như một biểu tượng của những trăn trở trong cuộc sống, mang đến cảm giác lạnh lẽo và cô đơn, như câu thơ của Veclen: “Mưa rơi trong tim tôi, mưa rơi trên thành phố” Huy Cận cũng thể hiện nỗi nhớ và sự tĩnh lặng trong đêm mưa: “Đêm mưa nằm nhớ không gian” Những hình ảnh này gợi lên một tâm trạng sâu lắng, phản ánh những giằng xé của tâm hồn con người.

Lòng run thêm lạnh nỗi lòng bao la…

Nguyễn Bính nghe mưa rơi mà khơi sâu nỗi sầu buồn cô quạnh :

Mưa mãi, mưa hoài, mưa bứt rứt Đêm dài dằng dặc, đêm bao la …

Còn Vũ Hoàng Chương nghe mưa rơi mà buồn cả cuộc đời :

Chiều mưa rồi đêm mưa ; Đời tàn trong ngõ hẹp

Những buổi chiều buồn là mô típ rất quen thuộc trong thơ ca truyền thống Ta đã gặp một chiều tê tái trong ca dao :

Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều hay một chiều buồn man mác trong thơ của Bà Huyện Thanh Quan :

Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen lá đá chen hoa

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà

Các thi sĩ Thơ mới đã thể hiện rõ nét mô típ về những chiều buồn và cô tịch trong tác phẩm của họ, như chiều “hiu hiu khẽ buồn” của Xuân Diệu và chiều cô đơn của Huy Cận.

Chiều lại xuống ở trên lầu cô tịch

Chờ thi nhân đã chết tự ngàn xưa

Chiều tàn trong không gian chật hẹp mang đến cảm giác bức bối và nỗi đau xót, như một tiếng than thở khắc khoải: "Ôi! Ta đã làm gì với cuộc đời mình?"

Ai đã làm chi lòng ta

Cho đời tàn tạ lòng băng giá

Sương mờ ảo của những buổi chiều thu mang đến nỗi buồn lặp lại trong tác phẩm "Thơ say và Mây", tạo thành một ám ảnh sâu sắc trong tâm hồn nhân vật.

Nhìn quanh : chiều xám với tha ma!

Vắng tanh! Ôi chiều, nơi tha ma !

Nhưng đâu đây ai khóc gần hay xa

Mà thảm thiết ? Hay thu vừa nức nở ?

Trong cái không khí đang sợ ấy thi sĩ đã tạo nên một khúc nhạc buồn tê tái đáng thương:

Chập chờn kim ốc giai nhân…

Gió lạnh đưa vèo Khoa danh trên gối rụng tàn theo ! Nao nao đàn sáo phai dần

Hạnh phúc tàn theo Nửa gối thê nhi lá rụng vèo !

Cùng với tác phẩm "Đời tàn ngõ hẹp", "Tuý hậu cuồng ngâm" của Vũ Hoàng Chương cũng thể hiện tâm trạng cô đơn, lạc lõng và bế tắc của cái Tôi cá nhân Tuy nhiên, trong khi "Đời tàn ngõ hẹp" phản ánh số phận của một cá nhân, "Tuý hậu cuồng ngâm" đã nâng cao tâm trạng đó thành cảm xúc chung về con người Thi sĩ đặt con người giữa hai thế giới hư vô và thực tại để tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời.

Nhớ thủa xưa chưa có ta hề đường đi thênh thênh Kịp tới khi có ta hề chông gai mông mênh

Cuồng vọng cả mà thôi, bốn phương hề vướng mắc

Ba mươi năm trên vai hề trống không bình sinh

Thi sĩ khao khát một con đường nơi mộng và thực hòa quyện, nhưng nhận ra rằng đó chỉ là một ảo tưởng Hai con đường đại diện cho hai thế giới khác biệt: một bên là quá khứ “thênh thang”, bên kia là hiện tại “chông gai mông mênh” Mộng và thực chưa bao giờ có thể đồng hành, luôn là nỗi dày vò và chán chường, nhưng cũng là khát vọng sâu sắc của Vũ Hoàng Chương Dù mong muốn sự hợp nhất và tự do như mây trời hay cánh chim bay lượn, thi sĩ cuối cùng phải đối mặt với thực tế rằng đó chỉ là cuồng vọng.

Niềm u uất dâng cao hề tháng ngày trôi xuôi?

Há vì cơm áo chẳng no lành?

Há vì đời không ai mắt xanh?

Tìm đến thú say 34

Vũ Hoàng Chương, trong nỗi buồn và sự bế tắc, đã rời bỏ cuộc sống trần gian để tìm kiếm một thế giới đẹp đẽ, nơi con người được giải thoát hoàn toàn và dễ dàng chuyển đổi giữa các không gian Đây là thế giới của những mộng ước và lý tưởng, một không gian riêng trong tâm hồn của thi sĩ Để đạt được điều này, ông đã tìm đến những thú say như một cách giải thoát tâm hồn, cho phép ông thoát khỏi thực tại và đắm mình trong những giấc mơ, sống trong một thế giới lý tưởng và hoàn hảo.

Xin dốc hết nồng cay cho đến cặn

Uống cho mê và uống nữa cho điên

Rồi dang tay theo chậm gót Nàng Men

Về tắm ở suối Mơ, nguồn Tuyệt đối

Bài thơ "Lý tưởng" trong tập "Thơ say" của Vũ Hoàng Chương thể hiện tuyên ngôn nghệ thuật và cuộc sống của ông qua trạng thái "say", điều này tạo nên sự khác biệt so với các nhà thơ cùng thời Ông thực hiện cuộc hành trình tìm kiếm thế giới "Toàn Hương và Tận Mỹ" thông qua "khói, rượu, say, tình, mộng", cho thấy rằng chỉ có sự say mới giúp ông thoát ly thực tại một cách triệt để Sự độc đáo trong phong cách của Vũ Hoàng Chương là điều không phải nhà thơ nào cũng dám theo đuổi, vì con đường này đầy rẫy nguy cơ thất bại Theo nhận xét của Hoài Thanh và Hoài Chân trong cuốn "Thi nhân Việt Nam", Vũ Hoàng Chương mong muốn nối nghiệp các thi hào Đông Á với nhiều hình thức say khác nhau, từ say rượu, say đàn, say ca, đến những thú say mới như say thuốc phiện và say nhảy đầm, nhưng tất cả đều được nuôi dưỡng bởi một niềm say lớn nhất: say thơ.

Vũ Hoàng Chương say mê nhiều điều trong cuộc sống, và ông đắm chìm trong từng thứ một cách mãnh liệt, đến mức cảm nhận được sự "ngả nghiêng" và "điên rồ xác thịt" Tâm trạng này thể hiện rõ nét trong những tác phẩm của ông, đặc biệt là trong thú say rượu.

Cổ chưa khô, đầu chưa nặng, mắt vẫn còn tỉnh táo; tay mềm mại bước đi vẫn vững vàng Chưa đến cuối xứ Mê ly, chưa trải qua thời kỳ phóng đãng Cảm giác chưa say, tâm hồn vẫn khát khao, thèm men rượu.

Vũ Hoàng Chương thể hiện sự điên đảo và chán chường trong thơ của mình, với nỗi lòng bi quan và chua chát Tác phẩm "Say đi em" là minh chứng tiêu biểu cho cảm hứng này, mang đến cho người đọc cảm giác lâng lâng, chếnh choáng như hơi men Cảm giác ấy được tăng cường bởi ánh đèn màu hư ảo cùng với những giai điệu và âm thanh nhiệt huyết của phương Tây, tạo nên một không gian quyến rũ và mời gọi: "Âm ba gờn gợn nhỏ, ánh sáng phai phai dần "

Bốn tường gương điên đảo bóng giai nhân Lui đôi vai, tiến đôi chân;

Riết đôi tay, ngả đôi thân,

Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió

Lảo đảo và quay cuồng trong ánh sáng lập loè, Vũ Hoàng Chương đã thể hiện cảm giác say cuồng qua điệu nhảy, nơi mà rượu, âm nhạc, ánh sáng và vũ điệu hòa quyện Ông đã đưa khán giả vào một hành trình quên lãng, nơi những ảo giác mập mờ và tiếng nhạc du dương tạo nên một không gian điên đảo, mang đến trải nghiệm sâu sắc về cảm xúc.

Say đi em! Say đi em!

Say cho lơi lả ánh đèn

Cho cung bậc ngả nghiêng, điên rồ xác thịt

Rượu, rượu nữa và quên, quên hết !

Bài thơ mang đến một nhịp điệu trầm bổng và da diết, tạo ra sức gợi cảm mạnh mẽ cho người đọc, khiến họ cảm nhận được sự lâng lâng, chếnh choáng Những ánh đèn lơi lả và âm thanh réo rắt hòa quyện cùng bước chân xiêu vẹo, tạo nên một khoảnh khắc kỳ diệu khi rượu, thể xác và linh hồn hòa hợp thành một, mang đến cảm giác huyền ảo, thực hư đan xen, bồng bềnh như trong mộng.

Hồn ngả lâu rồi nhưng chân còn dẻo

Lòng chót nghiêng mà bước vẫn du dương

Lòng nghiêng tràn hết yêu đương

Bước chân còn nhịp Nghê thường lẳng lơ

Khi men rượu dâng cao, sự chuyển động trở nên nhịp nhàng và uyển chuyển, dẫn đến trạng thái say mê, nơi hồn và xác hòa quyện Trong khoảnh khắc này, thị giác trở nên mờ ảo, các giác quan tê liệt, khiến con người không còn phân biệt được màu sắc, từ đó đạt đến đỉnh cao của sự hòa hợp giữa thể xác và linh hồn, mọi thứ trở thành "hư ảnh."

Gian phòng không đứng vững,

Có ai ghì hư ảnh sát kề môi ?

Vũ Hoàng Chương không chỉ mượn rượu để giải sầu mà còn muốn hòa mình vào cốc rượu đắng, giúp tê liệt các giác quan và quên đi nỗi đau xót, thống khổ trong tâm tư Ông không say để tìm niềm vui hay để "Dốc cả giang hà" như Tản Đà.

Hoàng Chương chìm đắm trong nỗi sầu, tuyệt vọng và ngao ngán, tìm đến sự say sưa như một cách để quên đi cuộc đời Trong phong trào thơ mới, các nhà thơ như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên cũng có khát vọng say sưa, nhưng cảm xúc của họ nhẹ nhàng và bình tĩnh hơn so với sự khao khát mãnh liệt của Vũ Hoàng Chương.

Thơ say của Vũ Hoàng Chương nổi bật với sự cuồng nhiệt và điên dại, tạo nên một cảm xúc mạnh mẽ và sâu sắc Trong khi đó, thơ say của những tác giả khác thường mang tính ngượng ngập và bối rối hơn, chưa đạt đến mức độ cuồng nhiệt như của ông.

Khi say, con người thường dễ dàng bộc lộ cảm xúc thật, vì vậy Vũ Hoàng Chương không ngần ngại bày tỏ tâm tư của mình Ông mong muốn quên đi mọi điều để có thể "uống cho mê và uống nữa cho điên".

Những người thành thực thường bị đời cười chê, và nếu Vũ Hoàng Chương khôn ngoan hơn trong việc giữ bí mật đời mình, có lẽ ông sẽ được nhìn nhận khác Việc tìm quên trong những thú vui giải trí như nhảy đầm không có gì lạ, đặc biệt khi Hà Nội lúc đó đã chuyển mình với những điệu valse, tango rực rỡ Vũ Hoàng Chương đã mang những sắc màu và nhịp điệu ấy vào thơ, thể hiện sự say mê nhưng lại bị hiểu lầm là truỵ lạc, trong khi thực chất là nỗi niềm sâu sắc Đọc đến những vần thơ cuối, ta mới cảm nhận được nỗi đau tê dại của một nghệ sĩ tài ba.

Nhưng em ơi Đất trời nghiêng ngửa

Mà trước mắt thành Sầu chưa sụp đổ Đất trời nghiêng ngửa

Thành Sầu không sụp đổ em ơi !

Vũ Hoàng Chương tìm kiếm rượu như một cách để quên đi mọi thứ Ông mong muốn chìm đắm trong men say, để cảm giác hòa tan và không còn nhận thức về thực tại.

Trong bài thơ "Cuồng", hình ảnh "điên đảo thời gian" và "lẫn lộn không gian" phản ánh sự hỗn loạn trong tâm trí của nhà thơ, mặc dù có cảm giác "say không còn biết chi đời", nhưng "thành Sầu" vẫn hiện hữu trong lòng Dù có cố gắng quên đi, nỗi buồn vẫn không thể phai nhạt, và càng say lại càng cảm thấy sầu thảm hơn Những vần thơ về thú say rượu của Vũ Hoàng Chương không chỉ mang dấu ấn hiện đại của Thơ mới mà còn thể hiện ảnh hưởng mạnh mẽ của thơ truyền thống, với những nét tương đồng rõ rệt với phong cách của Lý.

Bạch, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Tản Đà…để trở thành một “Trích tiên” với cái say thanh cao, tài hoa :

Bữa tiệc phàm phu, ai đáng mặt

Nối bài dâng rượu thửa xưa đâu

Trích tiên đã khuất đời ai kẻ

Tìm thấy trong men ý nhiệm màu?

Trốn vào tình yêu, tìm thú vui thân xác 35

Phong trào Thơ mới thể hiện rõ xu hướng thoát ly thực tại qua chủ đề tình yêu Xuân Diệu đã nhấn mạnh rằng văn chương tràn ngập những âm thanh của tình yêu, và nếu không khéo léo, những chàng trai, cô gái trong đó sẽ bị ngợp bởi không khí nặng nề của cảm xúc.

Vũ Hoàng Chương tiếp cận tình yêu với những đặc điểm riêng biệt và độc đáo, coi nó như một phương tiện để thoát khỏi thực tại, tìm kiếm một thế giới hoàn hảo và lý tưởng, khác với Xuân Diệu, người xem tình yêu như một "thế giới" riêng Ông trải qua nỗi mất mát lớn trong tình yêu, điều này thể hiện rõ trong những bài thơ của ông, như bài "Mười hai tháng sáu", mặc dù không phải lúc nào cũng tràn ngập nước mắt.

U tình thì cũng là thứ tình yêu một chiều mơ hồ như trong Tình si hoặc như làn gió hững hờ thoảng qua như trong bài Tạm ghé thuyền

Nguyễn Du từng khắc họa tình yêu với sự sâu sắc và kín đáo của bản sắc phương Đông, thể hiện qua những câu thơ như "chập chờn cơn tỉnh cơn mê" hay "bâng khuâng như tỉnh như say một mình" Trong khi đó, tình yêu trong Thơ mới lại mang đậm bản sắc phương Tây, thể hiện sự tha thiết, chân thành và tinh tế.

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng, Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng Cho no nê thanh sắc của thời tươi

( Vội vàng - Xuân Diệu) Nhưng ở Vũ Hoàng Chương thứ tình yêu có tính chất bản thể như vậy rất hiếm hoi mà chỉ là:

Chập chờn bến thực hay nguồn mơ

Hay chính bâng khuâng là ái tình

Tình yêu thường mang theo những cảm xúc "chập chờn", "bâng khuâng", tạo nên sự hòa nhập giữa mơ mộng và thực tại Những cảm xúc này dẫn đến những sắc thái khác nhau của tình yêu, từ sự nhẹ nhàng, e thẹn của những ngày đầu đến nỗi buồn khi chia tay Tuy nhiên, tình yêu ngày nay thường bị nhìn nhận một cách tầm thường, chỉ chú trọng vào khía cạnh thể xác, thiếu đi sự trong trắng và mộng mơ như trong thơ của Huy Cận hay Xuân Diệu.

Trong thơ của các thi sĩ, tình yêu thường được nhìn nhận như một trải nghiệm siêu việt, vượt lên trên thực tại trần thế Họ thường coi tình yêu là phương tiện để thoát khỏi những phiền muộn của cuộc sống thường nhật, dẫn đến việc miêu tả tình cảm một cách say mê, nhưng cũng có thể bị hiểu lầm là sa ngã hay truỵ lạc Sự ảnh hưởng của cái nhìn duy lý khiến họ xem tình yêu như một lạc thú, từ đó tạo nên những hình ảnh thơ mộng nhưng cũng đầy mâu thuẫn.

Nặng chĩu hai vai, Nàng cố gượng

Thắt vòng tay ghì riết lưng ta Những luồng run chạy khắp thịt da ngà

Run vì sợ hay vì ngây ngất

Trong thơ mới, Xuân Diệu thể hiện tình yêu qua những vần thơ giàu cảm xúc nhục thể, mô tả tình yêu như một hành trình khám phá và tìm kiếm những cảm giác sâu sắc.

Tháng Giêng được ví như một cặp môi gần gũi, mang đến cảm xúc ngọt ngào và say đắm Những câu thơ diễn tả tình yêu không chỉ qua lời nói mà còn bằng sự gần gũi thể xác, thể hiện sự âu yếm và mơn trớn, tạo nên một bức tranh tình yêu đầy lãng mạn và cảm xúc.

Hãy sát đôi đầu, hãy kề đôi ngực

Hãy trộn nhau đôi mái tóc gắn dài

Xuân Diệu khám phá ý nghĩa của tình yêu để thể hiện quan niệm sống của mình, thể hiện lòng khát khao sự sống Ông đã mang đến cho thơ ca những nét sôi nổi và cuồng nhiệt mang ảnh hưởng phương Tây, làm mới mẻ và náo động thi ca bằng triết lý hưởng thụ độc đáo.

Mau với chứ vội vàng lên với chứ

Em em ơi, tình non sắp già rồi

Xuân Diệu khuyến khích chúng ta sống một cuộc đời đầy ý nghĩa, tràn đầy nhiệt huyết và đam mê, đồng thời tận hưởng từng khoảnh khắc hiện tại Dưới ảnh hưởng của triết lý này, Vũ Hoàng Chương cũng đã kêu gọi mọi người sống hết mình với những giá trị của cuộc sống.

Hãy buông lại gần đây làn tóc rối

Sát gần đây, gần nữa cặp môi điên hay: Say đi em! Say đi em!

Say cho lơi lả ánh đèn, Cho cung bậc ngả nghiêng, điên rồ xác thịt Rượu, rượu nữa và quên, quên hết

Men và khói chỉ là phương tiện trong cuộc phiêu lưu đến thế giới mộng tưởng, nhưng thi sĩ đã thất bại trong việc tìm kiếm hạnh phúc Tình yêu cũng không thoát khỏi tình trạng này; trong khoảnh khắc thăng hoa của Tối tân hôn và Động phòng hoa chúc, thi sĩ không thể cảm nhận được niềm vui trọn vẹn của tình yêu Nhân vật trữ tình rơi vào trạng thái phân tâm, tâm hồn hai đối tượng không hòa hợp, chỉ biết lắng nghe và tìm kiếm sự trở về từ vũ trụ xa xăm.

Ngực sát ngực, môi kề môi

Nàng cùng ta nhìn nhau cười chẳng nói Ôm vai nhau cùng lắng tiếng xa xôi

Cuộc sống trần gian trở nên vô nghĩa khi âm thanh của "Đờn tiên" không còn, để lại chỉ sự ngao ngán và chán chường Con người cảm thấy chua chát khi muốn thoát khỏi hiện thực nhưng vẫn không thể từ bỏ những lạc thú của đời thường.

Thôi hết nhé! Thoả đi, niềm rạo rực!

Từ cung trăng rơi ngã xuống trần gian

Ta sắp uống bùn nhơ và sự thực

Sẽ mai đây dầy xéo giày xéo giấc mơ tàn

Ngược với Vũ Hoàng Chương, Xuân Diệu luôn khám phá vẻ đẹp huyền diệu ngay trong cuộc sống trần gian Ông vượt lên trên những cảm xúc thể xác thông thường để tìm kiếm lý tưởng tình yêu, thể hiện sự hòa hợp tuyệt vời giữa tâm linh và thể xác Quan điểm triết lý về tình yêu của Xuân Diệu là điều mà cả Vũ Hoàng Chương và Hàn Mặc Tử chưa đạt tới Do đó, ông không chỉ dừng lại ở khoái cảm bản năng mà còn thâu tóm toàn bộ tư tưởng tình yêu, mỗi bài thơ của ông đều mang một tầng nghĩa sâu sắc mới.

Này lắng nghe em khúc nhạc thơm

Say người như rượu tối tân hôn Như hương thấm tận qua sương tuỷ Âm điệu thần tiên thấm tận hồn

Vũ Hoàng Chương không cảm nhận được "âm điệu thần tiên thấm tận hồn" mà chỉ trải qua sự thờ ơ của cảm giác tê liệt Thi sĩ coi tình yêu là riêng phần xác, trong khi say và mộng thuộc về phần hồn, dẫn đến sự thiếu hài hòa giữa tâm hồn và thể xác Với trạng thái tinh thần này, sự hưởng thụ chưa trọn vẹn và tâm hồn chưa được giải thoát Điều này cho thấy khoái lạc của thân xác không phải là đỉnh cao của cuộc sống thực tại, mà chỉ là một lối thoát bất đắc dĩ trong hành trình tìm kiếm sự giải thoát Vũ Hoàng Chương muốn sử dụng tình yêu như một cách trốn chạy, nhưng tình yêu ấy lại chứa đựng nhiều yếu tố nhục thể và không có chỗ bấu víu, khiến ông lại lạc lối ra ngoài cuộc đời.

Nguyễn Bính, khác với Vũ Hoàng Chương và Xuân Diệu, không chỉ ca ngợi tình yêu lãng mạn mà còn gắn bó sâu sắc với cuộc sống thực Trong thơ ông, cái Tôi trữ tình và cái Tôi đời thường luôn hòa quyện, thể hiện một tình yêu không thoát ly mà luôn chan hòa với đời sống Ông tìm kiếm hạnh phúc giản dị, như "một gian nhà nhỏ đi về có nhau", hướng tới mái ấm gia đình và hạnh phúc viên mãn qua hôn nhân Điều này làm nổi bật sự khác biệt của Nguyễn Bính trong Thơ mới, khi mà chủ nghĩa lãng mạn thường coi tình yêu như một cuộc trốn tìm, tạo ra khoảng cách giữa các cá thể Xuân Diệu cũng từng nói về tình yêu với những quan điểm riêng, nhưng Nguyễn Bính lại khẳng định tình yêu và hôn nhân là những phần không thể tách rời trong cuộc sống.

Cuộc đời cũng đìu hiu như dặm khách

Mà tình yêu như quán trọ ven đường Mái tranh tàng đỡ rét một đêm sương

Xuân Diệu trong thơ đã thể hiện một quan niệm yêu đương mới mẻ, cho rằng sự chung thuỷ không phải là lý tưởng của tình yêu Ông nhấn mạnh rằng hạnh phúc trong tình yêu đến từ sự hòa hợp tuyệt vời giữa hai cá thể về cảm xúc và cảm giác, chứ không phải từ sự giữ gìn lòng trung thành Theo ông, tình yêu chỉ mãi mãi là hoa, không bao giờ kết trái, phản ánh triết lý chung của chủ nghĩa lãng mạn.

Trở về với quá khứ 48

Vũ Hoàng Chương đã mang đến cho Thơ mới một tiếng nói cá nhân sâu sắc, thể hiện những điều thầm kín chưa từng được đề cập trong thơ cũ Ông khám phá những khoảnh khắc chân thực nhất của bản thân trong men và khói, khi linh hồn thơ thoát khỏi thực tại để tìm về thế giới mộng mơ và tiềm thức Trong thế giới ấy, Con tàu say trở thành biểu tượng cho tâm linh được che phủ bởi lớp sương mỏng của men và khói Vũ Hoàng Chương say để tìm kiếm sự giải thoát tâm hồn trước thực tại cuộc sống, lấp đầy khoảng trống cô đơn và xóa nhòa những mâu thuẫn nội tại Đây chính là "khát vọng thành thực", niềm khao khát giải phóng và tự do của bất kỳ nhà thơ mới nào.

Đặc sắc nghệ thuật thơ Vũ Hoàng Chương qua Thơ say và Mây 3.1 Ngôn ngữ 62

Ngày đăng: 29/05/2021, 10:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lại Nguyên Ân. Cuộc cải cách thơ của phong trào Thơ mới và tiến trình thơ tiếng Việt . Tạp chí Văn học tháng 1-1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc cải cách thơ của phong trào Thơ mới và tiến trình thơ tiếng Việt
3. Lê Bảo. Thơ lãng mạn Việt nam . NXB Hội Nhà văn , H. 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ lãng mạn Việt nam
Tác giả: Lê Bảo
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 1992
4. Võ Bình – Lê Anh Hiên – Cù Đình Tú – Nguyễn Thái Hoà. Phong cách học tiếng Việ . NXB Giáo dục, H. 1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việ
Nhà XB: NXB Giáo dục
5. Nguyễn Phan Cảnh . Ngôn ngữ thơ ca. NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ ca
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1981
6. Hoàng Minh Châu. Bàn về thơ. NXB Văn học , H. 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về thơ
Nhà XB: NXB Văn học
7. Nam Chi. Thế Lữ cuộc đời và tác phẩm. NXB Văn học, H.1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế Lữ cuộc đời và tác phẩm
Tác giả: Nam Chi
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1991
8. Mai Ngọc Chừ. Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ. NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, H. 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1991
9. Xuân Diệu. Các nhà thơ cổ điển Việt Nam ( tập 1). NXB Văn học, H 1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà thơ cổ điển Việt Nam ( tập 1)
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1981
10. Xuân Diệu. Các nhà thơ cổ điển Việt Nam ( tập 2). NXB Văn học, H.1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà thơ cổ điển Việt Nam ( tập 2
Nhà XB: NXB Văn học
11. Lê Tiến Dũng . Loại hình câu của Thơ mới. Tạp chí Văn học số 1- 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loại hình câu của Thơ mới
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1994
12. Hữu Đạt. Ngôn ngữ thơ ca Việt Nam. Viện Hàn lâm khoa học Liên bang Nga – Macơcva 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ ca Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Viện Hàn lâm khoa học Liên bang Nga
Năm: 1992
13. Phan Cự Đệ. Phong trào Thơ mới. NXB Khoa học , H. 1960 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào Thơ mới
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB Khoa học
Năm: 1960
14. Phan Cự Đệ, Nguyễn Hoành Khung. Văn học Việt Nam 1930-1945 (tập 1) . NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp , H. 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ăn học Việt Nam 1930-1945 (tập 1)
Nhà XB: NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
15. Phan Cự Đệ, Nguyễn Hoành Khung. Văn học Việt Nam 1930–1945 ( tập 2) . NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, H. 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam 1930–1945 ( tập 2)
Nhà XB: NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
16. Phan Cự Đệ. Văn học lãng mạn Việt Nam 1930 – 1945. NXB Giáo dục, H.1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học lãng mạn Việt Nam 1930 – 1945
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
17. Phan Cự Đệ . Thơ Hàn Mặc Tử . NXB Văn học , H. 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Hàn Mặc Tử
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1993
18. Hà Minh Đức – Huy Cận ( chủ biên ) . Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca . NXB Giáo dục , H. 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca
Nhà XB: NXB Giáo dục
19. Hà Minh Đức – Bùi Văn Nguyên. Thơ ca Việt Nam – Hình thức và thể loại NXB Khoa học xã hội , H. 1968 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca Việt Nam – Hình thức và thể loại
Tác giả: Hà Minh Đức, Bùi Văn Nguyên
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1968
20. Hà Minh Đức. Thơ và mấy vấn đề về thơ Việt Nam hiện đại ( tái bản lần thứ hai). NXB Giáo dục , H. 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề về thơ Việt Nam hiện đại (tái bản lần thứ hai)
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
24. Lê Bá Hán. Từ điển thuật ngữ văn học . NXB Giáo dục , H. 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w