1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Định giá trái phiếu thông thường

15 1K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Định giá trái phiếu thông thường
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 241 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở dạng thông thường, trái phiếu có mệnh giá, thời hạn và lãi suất cuống phiếu xác định, không kèm theo các điều kiện có thể chuyển đổi, có thể mau lại hay bán lại hay tái định lãi suất. Khi đó, giá của trái phiếu bằng giá trị hiện tại của các dòng tiền dự kiến sẽ nhận được từ công cụ tài chính đó. Vì vậy, để xác định mức giá đó, cần phải:

Trang 1

2 Định giá trái phiếu

2.1 Định giá trái phiếu thông thường.

Ở dạng thông thường, trái phiếu có mệnh giá, thời hạn và lãi suất cuống phiếu xác định, không kèm theo các điều kiện có thể chuyển đổi, có thể mau lại hay bán lại hay tái định lãi suất Khi đó, giá của trái phiếu bằng giá trị hiện tại của các dòng tiền dự kiến sẽ nhận được từ công cụ tài chính đó Vì vậy, để xác định mức giá đó, cần phải:

- Ước tính các dòng tiền sẽ nhận được trong tương lai

- Ước tính lợi suất đòi hỏi phù hợp

Bước dầu tiên trong việc xác định giá của một trái phiếu là xác định các dòng tiền của nó Đối với trái phiếu thông thường, các dòng tiền bao gồm:

- Các khoản thanh toán lãi cuống phiếu định kỳ cho tới khi đáo hạn

- Mệnh giá nhận được tại lúc đáo hạn

Để đơn giản ta giả định rằng:

- Các khoản thanh toán lãi cuống phiếu được thực hiện 6 tháng một lần

- Khoản lãi tiếp theo của trái phiếu sẽ được nhận sau đây đúng 6 tháng

Do đó, dòng tiền của một trái phiếu thong thường bao gồm một khoản niên kim là lãi cuống phiếu cố định trả nửa năm một lần và mệnh giá trả khi đáo hạn lợi suất đòi hỏi được xác định bằng cách xem xét lợi suất của các trái phiếu tương đương trên thị trường Tương đương ở đây có nghĩa là các trái phiếu có cùng chất lwongj tín nhiệm và cùng thời hạn Lợi suất đòi hỏi thường được thể hiện thành một mức lãi suất năm Khi các dòng tiền được thực hiện theo nửa năm một, thị trường sẽ sử dụng một nửa của mức lãi suất năm này làm lãi suất định kỳ để chiết khấu các dòng tiền

Trang 2

Khi đã có được các dòng tiền của một trái phiếu và lợi suất đòi hỏi, ta có đủ các công cụ phân tích để dịnh giá một trái phiếu Giá của trái phiếu là khoản tiền đầu tư ban đầu (mua trái phiếu) để được nhận các khoản tiền trong tương lai, như vậy nó sẽ là tổng các giá trị sau:

- Giá trị hiện tại của các khoản thanh toán lãi nửa năm

- Giá trị hiện tại của giá trị mệnh giá tại thời điểm đáo hạn của trái phiếu Công thức tổng quát để tính giá của một trái phiếu là:

1+r (1+r) (1+r) (1+r) (1+r)

t=1

(1+r) (1+r)

Trong đó: P = giá trái phiếu

n = Số kỳ (số năm nhân 2)

C = Lãi cuống phiếu nửa năm (M x ½ lãi suất cuống phiếu)

r = Lãi suất định kỳ (lợi suất yêu cầu tính theo năm chia 2)

M = Giá trị mệnh giá

t = Số kỳ cho tới khi nhận lãi

Vì các khoản thanh toán lãi nửa năm được thanh toán đều đặn nên có thể áp dụng công thức tính giá trị hiện tại của một dòng tiền đều đặn trong tương lai (công thức 1.13 chương I) như sau:

n

1

1-(1+r)

C

r

Kết quả thu được sẽ là giá trị hiện tại của các khoản thanh toán lãi định kỳ

Trang 3

Ví dụ: Cho một trái phiếu 20% lãi suất cuống phiếu 10%, mệnh giá 1.000 đôla Giả sử lợi suất đòi hỏi trên trái phiếu này là 11% Các dòng tiền của trái phiếu này sẽ là:

- 40 khoản trả lãi cuống phiếu nửa năm một lần, mỗi khoản 5 USD

- 1.000 USD nhận lại sau 40 kỳ sáu tháng

Lãi suất định kỳ (nửa năm) là 5,5% (11% chia 2) Giá trị hiện tại của 40 khoản thanh toán lãi cuống phiếu nửa năm 50$, chiết khấu theo tỷ lệ 5,5% sẽ là:

C = 50

n = 40

r = 0,055

=

40

1 1

(1 0,055) 50

0,055

= 802,31 USD

Giá trị hiện tại của mệnh giá 1.000 USD nhận được sau 40 kỳ sáu tháng, chiết khấu theo tỷ lệ 5,5% là:

40

1.000 1.000

(1 0,055) 851.332

117, 46USD

= +

= Giá của trái phiếu bằng tổng hai giá trị hiện tại này:

802,32 + 117,46 = 919,77 USD

2.2 Định giá trái phiếu trong một số trường hợp đặc biệt

Công thức ở phần trên đưa ra là để áp dụng cho trường hợp định giá trái phiếu tại thời điểm cách thời hạn thanh toán lãi định kỳ lần thứ nhất vừa đúng một kỳ thanh toán Trong trường hợp này, giá trái phiếu giá trị hiện tại của một

Trang 4

chuỗi các khoản thanh toán lãi định kỳ (niên kim) cộng với giá trị hiện tại của mệnh giá nhận được khi đáo hạn

Bây giờ ta xem xét việc định giá tại những thời điểm khác của một trái phiếu thông thường và việc định giá một số trái phiếu đặc biệt, như trái phiếu thả nổi lãi suất hay trái phiếu chuyển đổi Để cho dễ nhớ, ta gọi PVC là giá trị hiện tại của chuỗi thanh toán lãi định kỳ, PVM là giá trị hiện tại mệnh giá

n

n

1 PVC=C

1-(1+r) M PVM=

(1+r)

Trong đó C là giá trị (bằng tiền) của khoản thanh toán định kỳ lãi cuống phiếu, r là tỷ lệ lãi định kỳ tức là lãi suất cuống phiếu chia cho số kỳ trả lãi trong năm; n là số kỳ thanh toán và M là giá trị của mệnh giá

Định giá tại thời điểm giữa một kỳ trả lãi

Để tính giá trị hiện tại ta sử dụng những bước sau:

- Chiết khấu tất cả các khoản thanh toán về kỳ trả lãi trước thời điểm hiện tại, sử dụng công thức đã biết vì tất cả các dòng tiền chiết khấu với cùng một tỷ lệ

- Tính giá trị tương lai của kết quả tìm được cho tới thời điểm hiện tại (thời điểm cần tính giá)

- Mức chiết khấu sử dụng để tính giá trị tương lai là (1 + r)t, trong đó

F = tcs/D, tcs là số ngày từ thời điểm thanh toán lãi định kỳ trước tới thời điểm hiện tại; D là số ngày thực tế trong kỳ trả lãi có chữa ngày thanh toán

Công thức tính: PV = (1 + r) t x (PVC + PVM)

Lưu ý: Kết quả tính được theo công thức này là giá mua (chi phí mua) trái phiếu tại thời điểm hiện tại Tuy nhiên, mức giá yết của đa số trái phiếu, còn gọi

là giá thị trường, thi fkhông phải giá này Trên thực tế, người mua trái phiếu

Trang 5

được nhận toàn bộ khoản lãi định kỳ vào thời điểm thanh toán sắp tới, trong khi

họ chỉ nắm giữ trái phiếu trong một phần thời gian của kỳ đó Vì thế, người mua

sẽ phải trả lại cho người bán khoản lãi lẻ tích luỹ được từ kỳ thanh toán lãi trước

đó cho đến thời điểm bán trái phiếu Khoản lãi lẻ này được tính bằng công thức

Lãi lẻ = C x t cs /D

Trong đó C là khoản lãi định kỳ; tcs là số ngày từ ngày thanh toán lãi trước

đó đến ngày bán trái phiếu, D là số ngày trong kỳ trả lãi có chứa ngày thanh toán

Như vậy, giá thị trường (giá niêm yết) của trái phiếu này là:

Giá thị trường = Chi phí mua - lãi lẻ

= (1+ r) t x ( PVC + PVM) - C x t cs /D

Giá thị trường của hai trái phiếu có một khoản lãi nhỏ

Có những trường hợp trong đó lần thanh toán lãi định kỳ đầu tiên xảy ra cách thời điểm phát hành chưa đầy thời gian của một kỳ thanh toán, vì thế khoản lãi đầu tiên nhỏ hơn so với cac khoản lãi định kỳ khác sau đó Để tính giá trị hiện tại của các dòng thanh toán tại thời điểm trước khi có khoản lãi nhỏ này, (thời điểm phát hành), ta sử dụng các bước sau:

a) Tính giá trị hiện tại cho tới thời điểm trả khoản lãi nhỏ, của tất cả các khoản thanh toán, trừ khoản lãi nhỏ (khoản đầu tiên) Các khoản thanh toán tương đương với những khoản thanh toán của một trái phiếu phát hành tại thời điểm có khoản lãi nhỏ Do đó, ta sử dụng công thức thông thường, chỉ lưu ý rằng số mũ n phải được thay bằng (n-1) vì ta không tính khoản thanh toán đầu tiên chỉ còn (n - 1) khoản thanh toán lãi định kỳ

b) Tính giá trị của các dòng tiền nhận được tại thời điểm trả khoản lãi nhỏ, giá trị này phải bằng giá hiện tại tính được ở bước trên đây cộng vơi skhoản lãi nhỏ này là C x tic/D, trong đó tic là số ngày thực tế từ khi phát hành tới ngày trả lãi đầu tiên, còn D là số ngày trong kỳ trả lãi có chứa ngày phát hành

Trang 6

c) Tính giá thị trường của trái phiếu, bằng giá trị hiện tại của số lượng tính được ở bước (b) chiết khấu về thời điểm bán theo lợi suất trái phiếu, ròi trừ đi khoản lãi lẻ

1

= ×(C×t /D+PVC+PVM)-C×t /D (1+r)

2.3 Định giá trái phiếu có lãi suất thả nổi

Các phương pháp giá trị hiện tại này không thể trực tiếp áp dụng cho một công cụ có các khoản thanh toán dựa trên lãi suất thị trường trong tương lai Vì hiện tại ta không thể biết những mức lãi suất thị trường này là bao nhiêu nên không thể biết các dòng tiền sẽ diễn ra như thế nào

Tuy nhiên vânc có một cách chô phép chúng ta định giá một công cụ có lãi suất thả nổi Lãi suất định kỳ của một trái phiếu thả nổi thường được tái ấn định trên cơ sở lãi suất thị trường cộng thêm một tỷ lệ phần trăm cố định (được gọi là khoản chênh lệch) Vì thế dòng tiền của công cụ thả nổi có thể chia làm hai bộ phận:

- Phần thứ nhất là một dòng tiền có lãi suất thả nổi nhận được từ lãi suất thị trường không có phần chênh lệch Dòng tiền này bao gồm cả khoản thanh toán mệnh giá vào lúc đáo hạn Chúng ta gọi nó là dòng tiền của chứng khoán tham chiếu

Phần thứ hai là một dòng tiền đã biết dựa trên khoản chênh lệch giữa các khoản thanh toán của chứng khoán tham chiếu và khoản thanh toán của trái phiếu có lãi suất thả nổi Dòng tiền đã biết này được định giá theo các kỹ thuật

về giá trị hiện tại

Giá của công cụ thả nổi lãi suất là tổng hai mức giá của hai chứng khoán trên đây

Ví dụ: giả sử ta có một công cụ thả nổi lãi suất mệnh giá 1 triệu (đơn vị tiền tệ) được yết lãi suất bằng LIBOR 6 tháng cộng them 25 điểm cơ bản Dòng tiền

Trang 7

này được chia thành hai bộ phận của chứng khoán tham chiếu và khoản phụ trội như thế nào?

Cứ mỗi một thời kỳ tái định, khoản thanh toán tiền lãi sau đó 6 tháng được tính bằng cách dung LIBOR cộng them 25 điểm cơ bản Khoản thanh toán theo LIBOR được quy về chứng khoán tham chiếu, khoản thanh toán từ 25 điểm cơ bản sẽ thuộc về phần phụ trội

Nếu LIBOR tại thời điểm tái định đầu tiền là 8,46%, thì số tiền trả lãi 6 tháng sau sẽ tính được theo tỷ lệ đó cộng với 25 điểm cơ bản:

1.000.000 x 8, 46%

2 + 1.000.000 x 0,25% = 42.300 + 2.500 Khoản 42.300 được coi là khoản nhận được từ chứng khoán tham chiếu Khoản 2.500 nhận được từ khoản phụ trội

Nếu LIBOR tại thời điểm tái định đầu tiền là 8 %, thì khoản lãi 6 tháng sau

sẽ là:

1.000.000 x 8,00%

2 + 1.000.000 x 0,25% = 42.000 + 2.500 Tương tự khoản tiền lãi trong mỗi dòng tiền sẽ gồm hai phần, phần lãi thả nổi là phần thay đổi theo từng 6 tháng một và phần do khoản phụ trội là không thay đổi Khi đáo hạn mệnh giá được hoàn trả ngoài khoản tiền lãi

* Định giá công cụ tham chiếu

Công cụ tham chiếu mà chúng ta sẽ sử dụng sau đây trả đúng thao lãi suất thị trường hiện hành mag không công them khoản chênh lệch nào, tại tững thời điểm tái định suất và cũng hoàn tả mệnh giá tại thời điểm đáo hạn

Công cụ tham chiếu này sẽ luôn luôn được định giá thao mệnh giá, vì những lí do sau:

- Nhà đầu tư sẽ không muốn trả cao hơn mệnh giá, vì ông ta luôn luôn có phương án lựa chọn là đàu tư tiền ngắn hạn theo lãi suất thị trường hiện hành và

Trang 8

sau đó tiếp tục đàu tư khoản tiền đó tại những thời điểm tái định lãi suất vẫn theo lãi suất thị trường hiện hành Vì công cụ lãi suất thả nổi này trào các mức lãi suất chính xác là những lãi suất theo chiến lược này, nên không có lí do gì đẻ cho nhà đàu tư phải trả một khoản phụ trội để mua nó

- Lập luận tương tự, (giả định không tính đến yếu tố rủi ro tín nhiệm), người phát hành sẽ luôn luôn có thể quay vòng các khoản tiền vay ngắn hạn theo lãi suất thị trường hiện hành, và vì thế sẽ không muốn dành cho nhà đàu tư bất lì một khoản giảm giá nào đối với công cụ này

Tóm lại, giá của công cụ tham chiếu có lãi suất thả nổi bằng mệnh giá chứng khoán của tham chiếu này, nêuc ông cụ tham chiếu là một chứng khoán trả lãi (tại thời hạn tái định lãi suất), đúng theo lãi suất thì trường hiện hành, không có khoản phụ trội, vfa cũng hoàn trả vốn gốc khi đáo hạn

* Định giá công cụ thả nổi lãi suất tại thời điểm bắt đầu của một kì tái định lãi suất

Giá của công cụ thả nổi lãi suất sẽ bằng giá của chứng khoán tham chiếu cộng với dòng tiền của khoản chênh lệch cố định Vì ta đã biết giá của chứng khoán tham chiếu là mệnh giá, để tính gia của công cụ thả nổi lãi suất này ta chỉ cần tính giá của phần chênh lệch của các khoản thanh toán

Ví dụ 1: Giả sử một nhà phát hành đồng ý trả cao hơn lãi suất LIBOR sáu tháng một khoảng là 100 điểm cơ bản, trong hai năm, cứ 6 tháng thì tái định lãi suất một lần Giả sử lãi suất chiết khấu hiện hành của trái phiếu 2 năm là 8,5% Giá phải trả cho chứng khoàn này là bao nhiêu?

Giải: Chứng khoàn tham chiếu sẽ trả mức LIBOR 6 tháng tại mỗi thời kì lãi suất So sánh công cụ thả nổi với công cụ tham chiếu, ta sẽ thấy khoản chênh lệch giữa hai dòng tiền này không thay đổi là 0,5% của mệnh giá

Trang 9

Các dòng tiền

Công cụ

tham chiếu

Công cụ

định giá

100+D LIBOR + 0,5 LIBOR + 0,5 LIBOR + 0,5 100 + LIBOR + 0,5

Khoản phụ trội 100 điểm cơ bản mỗi năm trở thành 50 điểm cơ bản (0,5%) gay 50 (đơn vị tiền tệ) trên 100 mệnh giá cho mmõi kỳ tái định sản xuất Dòng tiền của công cụ cần định giá được định giá chênh 0,5 với công cụ tham chiếu cho mỗi kì 6 tháng Vì thế giá của công cụ thả nổi lãi suất này là:

100 + D, trong đó D chính là giá trị hiện tại của các khoản thanh toán hàng nửa năm 0,5% mệnh giá

Để đạt được một kết quả tương đối chíng xác, ta có thể sử dụng lãi suất thị trường hiện hành của một chứng khoán có kãi suất cố định có cùng thời hạn lag hai năm để làm tỷ lệ chiết khấu Nếu lãi suất thị trường hiện hành trái phiếu thời hạn 2 năm là: 8,5%, ta sẽ tính được (sử dụng máy tính chuyên dụng cầm tay HP-12C) D = 1,8 hoặc tính theo phương pháp thủ công:

1 0,0425 (1 0,0425) + + (1 0,0425) + (1 0,0425)

Như vậy giá phải trả cho chứng khoán này là: 101,80

* Đinh giá trái phiếu công ty có lãi suất thả nổi

Khi định giá trái phiếu lãi suất thả nổi của một công ty, trong đó độ tín nhiệm là một yếu tố phải tính đến, ta không thể tiếp tục dựa vào giả định rằng một chứng khoán tham chiếu đang trả theo mức lãi suất thị trường hiện hành (không cộng them phần chênh lệch), do đó giá sẽ bằng mệnh giá Để có thể định giá loại công cụ này ta phải có được mức giá của một chứng khoán tham chiếu của nó Điều này, thường được thực hiện bằng cách sử dụng khoản chênh lệch

Trang 10

mà công ty hiện sẽ phải trả so với việc phát hành một trái phiếu thả nổi (trái phiếu tham chiếu) với giá bằng mệnh giá

Ví dụ 2: Một công ty trước đây đã phát hành nột công cụ thả nổi lãi suất tại định lãi suất sau 6 tháng, dựa trên lãi suất LIBOR 6 tháng và cộng thêm 100 điểm cơ bản Trái phiếu này còn thời gian cho tới khi đáo hạn 2 năm Công ty này nếu phát hành một trái phiếu thả nổi mới với giá bằng mệnh giá tại thời điểm hiện nay thì sẽ phải trả cao hơn LIBOR 6 tháng là 130 điểm cơ bản mỗi năm Lãi suất hiện hành của khoản vay nợ có lãi suất cố định của công ty là 9,75% (trả theo nửa năm trên cơ sở 365 ngày) Vậy mức giá phải trả cho chứng khoán đang lưu hành là bao nhiêu?

Giải: Đối với công cụ tham chiếu, mà ở đây là trái phiếu thả nổi nếu phát hành tại thời điểm hiện nay thì lãi suất thả nổi = LIBOR + 130 điểm, các dòng tiền nhận được sau mỗi 6 tháng bằng , giá của nó là 100 Công cụ đang phải định giá có các dòng tiền tương ứng là LIBOR + 0,5; giá của nó là 100 + D Như vậy khoản chênh lệch của các dòng tiền của công cụ phải tính giá so với công cụ tham chiếu là - 0,15 Sử dụng tỷ lệ chiết khấu tính theo nửa năm một là 9,75%,

ta tính được giá trị hiện tại của bốn khoản thanh toán - 0,15 là - 0,533 Như vậy giá phải trả cho công cụ thả nổi lãi suất 100 - 0,533 = 99,467

Các dòng tiền

Công cụ

tham chiếu

100 LIBOR + 0,65 LIBOR + 0,65 LIBOR + 0,65 100 + LIBOR + 0,65

Công cụ

định giá

100+D LIBOR + 0,5 LIBOR + 0,5 LIBOR + 0,5 100 + LIBOR + 0,5

* Định giá công cụ thả nổi lãi suất vào giữa kì tái định lãi suất

Một vấn đề phức tạp cần được xem xét là việc định giá chứng khoán thả nổi lãi suất vào giữa kỳ tái định lãi suất Tỷ lệ lãi cho kỳ tiếp theo đã được ấn định cho chứng khoán cần định giá Mức lãi định trước này có thể khác với lãi

Ngày đăng: 11/12/2013, 16:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w