Cùng với sự phát triển du lịch trong cả nước, ngành du lịch Nghệ An đã khôngngừng nỗ lực phấn đấu để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, là nhân tố góp phầnlàm thay đổi bộ mặt kin
Trang 1MỤC LỤC
NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG DU LỊCH TỈNH NGHỆ AN 4
I Giới thiệu tổng quát về Nghệ An 4
1 Vị trí địa lí kinh tế 4
2 Đất đai - Thổ nhưỡng 5
2.1 Diện tích: 5
2.2 Địa hình: 5
2.3 Khí hậu: 6
II Tổng lượt khách và tổng thu từ du lịch 6
1 Tổng lượng khách 6
2 Tổng doanh thu 7
CHƯƠNG 2: CUNG – CẦU THỊ TRƯỜNG DU LỊCH TỈNH NGHỆ AN 10
I Các bộ phận hợp thành cung 10
1 Tài nguyên du lịch 10
1.1 Tài nguyên thiên nhiên 10
1.2 Tài nguyên nhân văn 11
2 Cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch 12
3 Nguồn nhân lực du lịch tỉnh Nghệ An 13
1 Đặc điểm nguồn khách quốc tế 14
2 Đặc điểm nguồn khách nội địa 14
CHƯƠNG 3: TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH NGHỆ AN 16
I Những tiềm năng giúp phát triển du lịch tại tỉnh Nghệ An 16
1 Tiềm năng về tài nguyên du lịch 16
2 Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa 19
3 Tiềm năng phát triển du lịch biển đảo 20
4 Tiềm năng phát triển du lịch nhờ hàng không 21
Trang 2II Định hướng nhằm mở rộng và phát triển thị trường du lịch tỉnh Nghệ Định hướng
nhằm phát triển du lịch tỉnh Nghệ An 22
1 Định hướng về tổ chức không gian phát triển du lịch 22
2 Định hướng về thị trường khách du lịch: 23
3 Định hướng về phát triển sản phẩm du lịch: 24
4 Định hướng về quảng bá xúc tiến du lịch: 25
5 Định hướng về phát triển nguồn nhân lực: 25
KẾT LUẬN 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
Trang 3MỞ ĐẦU
Ngày nay du lịch là nhu cầu thiết yếu đối với mọi người trong xã hội, những nămqua du lịch là ngành có tốc độ phát triển mạnh và chiếm 65% tống sản phẩm quốc dâncủa toàn thế giới
Cùng với sự phát triển du lịch trong cả nước, ngành du lịch Nghệ An đã khôngngừng nỗ lực phấn đấu để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, là nhân tố góp phầnlàm thay đổi bộ mặt kinh tế, xã hội của tỉnh nhà Với mong muốn thúc đẩy du lịch ViệtNam nói chung, du lịch miền Trung nói riêng phát triển hơn nữa, trên cơ sở tiềm năngthiên nhiên, văn hóa, lịch sử của mình
Sự phát triển của du lịch còn cho phép khai thác tốt hơn các tài nguyên thiên nhiên
và ưu đãi của tự nhiên, các di sản văn hoá, lịch sử cũng như các thành tựu trong cuộccách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại để phục vụ con người
Vì vậy, trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, Đảng và nhànước ta luôn xác định phát triển du lịch là mục tiêu và nhiệm vụ hàng đầu Từ đó, nhànước có nhiều biện pháp khuyến khích người dân tham gia kinh doanh và đẩy mạnh dulịch
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG DU LỊCH TỈNH NGHỆ AN
I Giới thiệu tổng quát về Nghệ An
1 Vị trí địa lí kinh tế
Trang 4Nghệ An là tỉnh có diện tích lớn nhất Việt Nam Dân số Nghệ An (theo điều tradân số năm 2019) có 3.327.791 người Trên toàn tỉnh Nghệ An có nhiều dân tộc cùngsinh sống như người Thái, người Mường bên cạnh dân tộc chính là người Kinh Cùngthời điểm này, Nghệ An có 37 dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống.
Nghệ An nằm ở phía Đông Nam vùng du lịch Bắc Trung Bộ, có tọa độ địa lý từ
180 33’ đến 200 00’ vĩ Bắc và từ 1030 52’ đến 1050 48’ kinh Đông
- Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa với đường biên giới dài 196,3 km
- Phía Nam giáp Hà Tĩnh với đường biên giới dài 92,6 km
- Phía Tây giáp nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào với đường biên giới dài 419 km
- Phía Đông giáp với biển Đông với tổng chiều dài bờ biển trên 82km
Vị trí này tạo cho Nghệ An có vai trò quan trọng trong mối giao lưu kinh tế - xãhội Bắc - Nam, xây dựng và phát triển kinh tế biển, kinh tế đối ngoại và mở rộng hợp tácquốc tế Nghệ An nằm trên các tuyến đường quốc lộ Bắc - Nam (tuyến quốc lộ 1A dài 91
km đi qua các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, Hưng Nguyên và thành phốVinh; đường Hồ Chí Minh chạy song song với quốc lộ 1A dài 132 km đi qua các huyệnQuỳnh Lưu, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Anh Sơn, Thanh Chương và thị xã Thái Hòa; quốc lộ 15
ở phía tây dài 149 km chạy xuyên suốt tỉnh); các tuyến quốc lộ chạy từ phía đông lên phía tây, nối với nước bạn Lào thông qua các cửa khẩu (quốc lộ 7 dài 225 km,quốc lộ 46 dài 90 km, quốc lộ 48 dài trên 160 km) Tỉnh có tuyến đường sắt Bắc -Namdài 94 km chạy qua
Nghệ An có 1 thành phố loại 1 (TP Vinh), 2 thị xã (Cửa Lò, Thái Hòa) và 17huyện: 10 huyện miền núi (Thanh Chương, Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, AnhSơn, Tân Kỳ, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn) và 7 huyện đồng bằng (ĐôLương, Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Yên Thành).Nghệ An nằm trong hành lang kinh tế Đông - Tây nối liền Mianma - Thái Lan - Lào -Việt Nam - biển Đông theo đường 7 đến cảng Cửa Lò Nằm trên các tuyến du lịchquốc gia và quốc tế (tuyến du lịch xuyên Việt; tuyến du lịch Vinh - Cánh đồng Chum -Luôngprabang -Viêng Chăn - Băng Cốc và ngược lại qua Quốc lộ 7 và đường 8)
Trang 5Với vị trí như vậy, Nghệ An đóng vai trò quan trọng trong giao lưu kinh tế,thương mại, du lịch, vận chuyển hàng hóa với cả nước và các nước khác trong khuvực, nhất là các nước Lào, Thái Lan và Trung Quốc, là điều kiện thuận lợi để kêu gọi đầu
tư phát triển kinh tế - xã hội
2 Đất đai - Thổ nhưỡng
2.1 Diện tích:
Nghệ An có diện tích tự nhiên là 16.490,25 km² Hơn 80% diện tích là vùng đồi núi nằm
ở phía tây gồm 10 huyện, và 1 thị xã; Phía đông là phần diện tích đồng bằng và duyênhải ven biển gồm 7 huyện, 1 thị xã và thành phố Vinh Phân chia theo nguồn gốc hìnhthành thì có các nhóm đất như sau:
- Đất thủy thành: Phân bố tập trung chủ yếu ở các huyện đồng bằng, ven biển, bao gồm
5 nhóm đất: đất cát; đất phù sa, dốc tụ; đất mặn; đất phèn mặn; đất bạc màu và biến đổi
do trồng lúa Chiếm vị trí quan trọng trong số này có 189.000 ha đất phù sa và nhómđất cát, có ý nghĩa lớn đối với sản xuất nông nghiệp của tỉnh
- Đất địa thành: Loại đất này tập trung chủ yếu ở vùng núi (74,4%) và bao gồm cácnhóm đất sau: Đất đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch sét ( tổng diện tích 433.357ha), Đất vàng nhạt phát triển trên sa thạch và cuội kết (tổng diện tích 315.055 ha), Đấtvàng đỏ phát triển trên các đá axít (tổng diện tích khoảng 217.101 ha), Đất đỏ nâutrên đá vôi (tổng diện tích khoảng 34.064 ha), Đất nâu đỏ trên bazan (tổng diện tíchkhoảng 14.711 ha), Đất Feralit đỏ vàng trên núi, đất mùn trên núi cao
2.2 Địa hình:
Nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn, Nghệ An có địa hình đa dạng, phức tạp, bị chia cắt mạnh bởi các dãy đồi núi và hệ thống sông, suối Về tổng thể, địa hìnhnghiêng theo hướng tây bắc - đông nam, với ba vùng sinh thái rõ rệt: miền núi, trung du,đồng bằng ven biển Trong đó, miền núi chiếm tới 83% diện tích lãnh thổ Địa hình có độdốc lớn, đất có độ dốc lớn hơn 8° chiếm gần 80% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, đặc biệt cótrên 38% diện tích đất có độ dốc lớn hơn 25° Nơi cao nhất là đỉnh Pulaileng (2.711m) ởhuyện Kỳ Sơn, thấp nhất là vùng đồng bằng các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, YênThành, có nơi chỉ cao 0,2m so với mặt nước biển (xã Quỳnh Thanh, Quỳnh Lưu) Đặc
Trang 6triển lâm nghiệp và bảo vệ đất đai khỏi bị xói mòn, gây lũ lụt cho nhiều vùng trong tỉnh.Tuy nhiên, hệ thống sông ngòi có độ dốc lớn, với 117 thác lớn, nhỏ là tiềm năng lớn cóthể khai thác để phát triển thủy điện và điều hòa nguồn nước phục vụ sản xuất và dânsinh.
2.3 Khí hậu:
Nghệ An nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh và chia làm haimùa rõ rệt: mùa hạ nóng, ẩm, mưa nhiều (từ tháng 5 đến tháng 10) và mùa đông lạnh,
ít mưa (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23 - 24°C
Sự chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng trong năm khá cao
Nhiệt độ trung bình các tháng nóng nhất (tháng 6 đến tháng 7) là 33°C, nhiệt độcao tuyệt đối 42,7°C; nhiệt độ trung bình các tháng lạnh nhất (tháng 12 nămtrước đến tháng 2 năm sau) là 19°C, nhiệt độ thấp tuyệt đối -0,5°C Số giờ nắng trungbình/năm là 1500 – 1700 giờ Lượng mưa bình quân hàng năm dao động từ 1.200 - 2.000mm/năm
II Tổng lượt khách và tổng thu từ du lịch
1 Tổng lượng khách
- Thực hiện chính sách phát triển du lịch cùng với sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh, du lịchNghệ An đã thu hút số lượt khách đến tham quan ngày một đông Nhìn chung, nguồnkhách du lịch tăng dần qua các năm Xuất phát từ 518,8 nghìn lượt khách năm 2000, tănglên 634,7 nghìn lượt năm 2002 và 762,2 nghìn lượt năm 2003
- Năm 2004, đánh dấu sự tăng trưởng vượt bậc của du lịch tỉnh, lần đầu tiên đã đón vượtngưỡng 1 triệu khách du lịch
- Trên đà tăng trưởng đó, năm 2005, tiếp tục minh chứng cho sự phát triển du lịch Nghệ
An với việc đón tới hơn 1,4 triệu lượt khách du lịch Năm 2006, UBND tỉnh Nghệ An đãban hành chương trình phát triển du lịch tỉnh Nghệ An giai đoạn 2006 – 2010 Nhờ đógiai đoạn này được đánh giá là thời kỳ phát triển rực rỡ của du lịch tỉnh khi khách du lịchliên tục tăng nhanh qua các năm
- Từ năm 2008 cùng với sự phát triển chung của cả nước, Nghệ An đã khẳng định tầmquan trọng của nền du lịch tỉnh nhà khi đón hơn 2 triệu lượt khách tới thăm Đến năm
2010 nguồn khách đến Nghệ An đạt 2,7 triệu lượt Có thể thấy, tốc độ tăng trưởng bìnhquân càng về sau càng rõ nét hơn
Trang 7- Năm 2016, tổng lượt khách lưu trú toàn tỉnh ước đạt 3,22 triệu lượt, bằng 87% so vớinăm 2015 và đạt 84% kế hoạch năm; trong đó có 72.860 lượt khách quốc tế, tăng 12% sovới năm 2015.
- Trong năm 2017, Nghệ An đã đón khoảng 5,96 triệu lượt khách; trong đó có trên 3,85triệu lượt khách có lưu trú, bằng 135% so với năm 2016 và đạt 106,9% kế hoạch năm.Đáng chú ý, có 109.100 lượt khách quốc tế, bằng 142% so với năm 2016
- Năm 2018, tổng lượt khách du lịch đạt trên 6 triệu lượt, trong đó có trên 4,29 triệu lượtkhách lưu trú, tăng 33,3% so với năm 2016; có 128.700 lượt khách quốc tế, tăng 76,6%
so với năm 2016
- Năm 2019, Nghệ An đã đón 5.786.000 lượt du khách, bằng 108% so với cùng kỳ năm
2018 Trong đó, khách lưu trú đạt 4.016.000 lượt (bằng 109% so với cùng kỳ 2018, đạt85% kế hoạch năm 2019); khách quốc tế đạt 120.850 lượt
- Do sự bùng phát dịch Covid-19 khiến cho lượng khách quốc tế và trong nước đến Nghệ
An năm 2020 giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước Tính chung 4 tháng đầu năm 2020,Nghệ An đã đón 843.500 lượt khách du lịch, giảm 61% so với cùng kỳ năm 2019 Trong
đó, tổng lượng khách lưu trú khoảng 661.500 lượt, giảm 50%; riêng khách quốc tếkhoảng 16.630 lượt, giảm 65 % so với cùng kỳ
2 Tổng doanh thu
Doanh thu du lịch là tất cả các khoản thu do khách du lịch chi trả trên địa bàntrong quá trình tham quan du lịch Tuy nhiên, trên thực tế công tác thống kê doanh thu dulịch những năm qua chủ yếu dựa trên báo cáo các đơn vị kinh doanh là chính; còn các chitiêu khác chưa được cập nhật đầy đủ Đối với Nghệ An, thu nhập từ du lịch chủ yếu quadịch vụ lưu trú, ăn uống và vận chuyển khách
- Cùng với sự gia tăng về lượng khách, doanh thu du lịch của Nghệ An cũng đã đạt đượcmức tăng trưởng đáng ghi nhận Trong giai đoạn 2000 – 2010 nhịp độ tăng trưởng bìnhquân hàng năm đạt khoảng 28,2%
- Nhìn chung doanh thu từ du lịch tăng nhanh qua các năm Năm 2000, doanh thu đạt135,3 tỷ đồng, năm 2001 đạt 144,1 tỷ đồng, năm 2002 đạt 172,1 tỷ đồng
- Đến năm 2004, doanh thu tăng lên 266,8 tỷ đồng (tăng lên gấp gần 2 lần so với năm2000) và đạt 346,6 tỷ đồng năm 2005 Doanh thu hàng năm thời kỳ này đạt tốc độ tăngtrưởng bình quân là 21%
Trang 8- Từ năm 2006 đến 2010, doanh thu từ ngành du lịch có xu hướng tăng nhanh hơn, tốc độtăng trưởng bình quân hàng năm đạt 35% nếu năm 2006 dừng lại với mức doanh thu là459,7 tỷ đồng thì năm 2010 con số đó đạt mức 760,0 tỷ đồng.
- Tổng doanh thu dịch vụ du lịch năm 2016 toàn tỉnh ước đạt 2.233 tỷ đồng, bằng 85% sovới cùng kỳ năm 2015, đạt 77% kế hoạch năm 2016; Tổng thu từ hoạt động du lịch ướcđạt khoảng 5.000 tỷ đồng, bằng 96% so với năm 2015
- Tổng thu từ hoạt động du lịch năm 2017 ước đạt 6.086 tỷ đồng, trong đó, doanh thukhách quốc tế đạt gần 13,4 triệu USD, bằng 143% so với năm 2016, doanh thu các dịch
vụ du lịch ước đạt 3.092 tỷ đồng, tăng 38% so với năm 2016 và đạt 120,8% kế hoạchnăm
- Tổng thu từ khách du lịch năm 2018 đạt 7.410 tỷ đồng, bằng 197% so với năm 2017
- Tổng thu từ khách du lịch năm 2019 của Nghệ An đạt 7.873 tỷ đồng, trong đó doanh thu
du lịch ước đạt 4.021 tỷ đồng, bằng 120% so với cùng kỳ 2018, đạt 88% so với kế hoạchnăm 2019
- Việc khách du lịch giảm nghiêm trọng kéo theo doanh thu du lịch cũng sụt giảm chưatừng có Do lượng khách du lịch giảm mạnh nên tổng thu từ khách du lịch đến Nghệ Antrong 4 tháng đầu năm ước đạt 967 tỷ đồng, trong đó doanh thu du lịch ước đạt 434 tỷđồng, giảm 61% so với cùng kỳ Lũy kế 4 tháng đầu năm, lượng khách giảm 61%, doanhthu giảm 61% so với cùng kỳ
III Tác động tích cực của việc phát triển du lịch tới sự phát triển của Tỉnh Nghệ An
Du lịch phát triển đã góp phần tăng tỷ trọng của ngành du lịch trong khu vực dịch
vụ Ở đâu du lịch phát triển, ở đó diện mạo đô thị, nông thôn được chỉnh trang, sạch đẹphơn, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt như Cửa Lò (Nghệ An)
Hoạt động du lịch phát triển làm gia tăng khả năng tiêu thụ tại chỗ cho hàng hóa
và dịch vụ, thúc đẩy các ngành khác phát triển; khôi phục nhiều lễ hội và nghề thủ côngtruyền thống; góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế cả nước và từng địa phương,tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo và vươn lên làm giàu, tạo ra hàng triệu việc làm trựctiếp và gián tiếp cho nhiều tầng lớp dân cư, đặc biệt là thành niên mới lập nghiệp và phụnữ; mở rộng giao lưu giữa các vùng, miền trong nước và với nước ngoài
Thông qua du lịch, các ngành kinh tế - xã hội khác cũng phát triển; mở thêm thịtrường tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ cho các ngành khác, thúc đẩy hoạt động thương mại vàmang lại hiệu quả cao với hình thức xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch Các ngành
Trang 9thương mại, nông nghiệp, thuỷ sản, giao thông, xây dựng, viễn thông nhờ phát triển dulịch mà những năm qua đã có thêm động lực phát triển, góp phần thay đổi diện mạo củanền kinh tế - xã hội.
Hoạt động du lịch đã tạo thêm nguồn thu để tôn tạo, trùng tu các di tích, di sản vànâng cao ý thức, trách nhiệm giữ gìn, phát triển di sản văn hoá vật thể và phi vật thể; khôiphục lễ hội, làng nghề truyền thống, truyền tải giá trị văn hoá đến các tầng lớp nhân dân
và bạn bè quốc tế tạo thêm sức hấp dẫn thu hút khách du lịch Hoạt động du lịch pháttriển đã kéo theo sự mở rộng giao lưu kinh tế văn hoá giữa các vùng, miền và với quốc tế,góp phần giáo dục truyền thống, đào tạo kiến thức và rèn luyện, bồi dưỡng thể chất, tinhthần cho mọi tầng lớp dân cư
Trang 10CHƯƠNG 2: CUNG – CẦU THỊ TRƯỜNG DU LỊCH TỈNH NGHỆ AN
I Các bộ phận hợp thành cung
1 Tài nguyên du lịch
1.1 Tài nguyên thiên nhiên.
Nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên của Nghệ An khá phong phú, đa dạng, cònhoang sơ, chưa bị ảnh hưởng, tác động nhiều của con người Tiêu biểu đó là hệ thốngrừng nguyên sinh Pù Mát, Pù Huống, Pù Hoạt ở khu vực phía Tây Nghệ An, thuộc dạnglớn nhất trong cả nước và đã được UNESSCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thếgiới với quan cảnh thiên nhiên nguyên sơ, hùng vĩ, nhiều thác nước đẹp và nhiều loàiđộng thực vật quý hiếm
Hệ sinh thái động thực vật: Rừng Nghệ An có hệ sinh thái đa dạng với 1.513 loàithực vật bậc cao, 241 loài động vật tập trung chủ yếu ở các khu dự trữ sinh quyển thế giớinhư: Vườn quốc gia Pù Mát, Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, Pù Hoạt…rất thuận lợicho việc phát triển loại hình du lịch sinh thái, du lịch khám phá, mạo hiểm…
Hệ thống hang động: Nghệ An là khu vực có nhiều núi đá vôi nên đã tạo ra hệthống hang động tương đối phong phú, có nhiều hang động nổi tiếng được thiên nhiênkiến tạo độc đáo và gắn với các phát hiện về di tích khảo cổ tại các hang động này như:hang Thẩm Ồm, hang Bua, hang Thẩm Chạng, hang Cỏ Ngùn (Quỳ Châu), hang Poòng(Quỳ Hợp)…
Hệ thống thác nước: Do cấu tạo địa hình phức tạp, có nhiều núi cao, vực sâu nên
đã hình thành nên nhiều loại thác nước khác nhau ở miền Tây Nghệ An như: thác KheKèm (nằm trong vườn quốc gia Pù Mát), thác Xao Va, thác Bảy tầng, thác Ba Cảnh (QuếPhong), thác Đũa (Quỳ Châu)…
Nguồn nước khoáng và suối nước nóng: Một số điểm trên địa bàn có chất lượngsuối nước khoáng nóng có thể chữa bệnh và phát triển loại hình du lịch nghỉ dưỡng như:nước khoáng nóng Giang Sơn - Đô Lương, nước khoáng Bản Khạng…
Vùng biển Nghệ An có bờ biển trải dài trên 82km, dọc bờ biển có 6 cửa lạch (lạchCờn, lạch Quèn, lạch Thới, lạch Vạn, Cửa Lò, Cửa Hội) với độ sâu từ 1-3,5m thuận lợi
Trang 11cho tàu thuyền ra vào Bờ biển Nghệ An dài, phẳng với nhiều bãi tắm đẹp, cát trắng, nướctrong, có độ mặn vừa phải, môi trường trong lành, nhiệt độ bình quân nước biển trong cảnăm là 20 độ C, số lượng giờ nắng nhiều, thuận tiện cho sự phát triển loại hình du lịchnghỉ dưỡng, tắm biển, chữa bệnh như Cửa Lò, Bãi Lữ, Quỳnh Phương, Quỳnh Lập, DiễnThành…
1.2 Tài nguyên nhân văn
Với truyền thống đấu tranh giải phóng dân tộc, chinh phục, cải tạo thiên nhiên và
xã hội của Nghệ An đã tạo ra cho mảnh đất Nghệ An có một bề dày về văn hóa, lịch sử,kho tàng văn hóa kiến trúc và nét văn hóa ứng xử riêng có của Nghệ An Nhiều côngtrình, di tích lịch sử lưu danh các lãnh tụ, anh hùng, danh nhân lịch sử, khoa bảng, cácnhà khoa học, nhà văn hóa của Việt Nam vẫn còn được lưu giữ Hiện nay, trên địa bànNghệ An có hơn 1.000 di tích đã được nhận biết, trong đó có 125 di tích được xếp hạngcấp quốc gia, 109 di tích được xếp hạng cấp tỉnh, đặc biệt Khu di tích Kim Liên - NamĐàn, hệ thống di tích gắn liền với thời niên thiếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùnggiải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới vừa được Chính phủ công nhận là Ditích lịch sử văn hóa cấp quốc gia hạng đặc biệt
Nghệ An có 24 lễ hội đặc trưng gắn liền với sinh hoạt cộng đồng, lễ hội mang màusắc âm hưởng dân gian, phản ánh cuộc sống và tâm nguyện của người dân về cuộc sống
Lễ hội ở Nghệ An tổ chức trải dài trong năm trong đó tập trung nhiều vào đầu năm (tínhtheo âm lịch), gắn với ngày hội mùa màng, lễ tết của từng vùng, từng dân tộc, lễ hộitưởng nhớ các vị anh hùng đã có công bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Một số lễ hội đã thuhút đông đảo khách thập phương như lễ hội đền Cờn, lễ hội đền Cuông, lễ hội Vua Mai,
lễ hội đền Hoàng Mười, lễ hội Hang Bua,…
Cùng với các lễ hội truyền thống, Nghệ An có nhiều các sản phẩm và làng nghềthủ công truyền thống đa dạng và lâu đời Làng nghề ở đây gắn liền với phong tục tậpquán, tâm linh và sinh hoạt cộng đồng của người dân tại các bản làng, các làng nghềtruyền thống được lưu truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác: Làng đan nứa trúc ở XuânNha (Hưng Nguyên), làng rèn ở Nho Lâm, làng đục, chạm trổ đá ở Diễn Bình (DiễnChâu), dệt Phường Lịch (Diễn Châu), dệt thổ cẩm, thêu đan của các đồng bào các dân tộcThái, H’Mông, làng nghề mây tre đan ở Nghi Lộc,…
Trang 12Không chỉ có vậy, Nghệ An còn có nhiều di sản văn hóa phi vật thể có giá trị nhưvăn học dân gian, âm nhạc dân gian, múa dân gian, các phong tục, tập quán, lễ hội, vănhóa ẩm thực, làng nghề truyền thống…trong đó Dân ca Ví dặm Xứ Nghệ đang trong quátrình lập hồ sơ đề nghị công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia và đã đượcđưa vào danh mục lập hồ sơ trình Chính phủ đề nghị UNESSCO công nhận là văn hóaphi vật thể đại diện cho nhân loại Đó là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá có khả năngtạo ra các sản phẩm du lịch hấp dẫn.
Nhìn chung, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng, kết hợp với nguồntài nguyên nhân văn mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam gắn liền với cuộc sống củangười bản địa mang lại cho du lịch Nghệ An một bản sắc riêng hấp dẫn khách du lịch cảtrong và ngoài nước
2 Cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, diện mạo ngành Du lịchNghệ An những năm qua đã có bước đổi thay nhanh chóng, kết cấu hạ tầng phục vụ dulịch được quan tâm đầu tư, nâng cấp Hầu hết các tuyến đường giao thông tiếp cận cáckhu du lịch trọng điểm của tỉnh được đầu tư xây dựng, nhất là đối với khu vực ven biển.Nhiều công trình văn hóa, di tích lịch sử, di tích cách mạng được quan tâm đầu tư xâydựng và bảo tồn tôn tạo trở thành những điểm du lịch văn hoá, tâm linh hấp dẫn đối với
du khách và nhân dân cả nước Hệ thống cơ sở vật chất phục vụ du lịch phát triển nhanhchóng cả về quy mô và chất lượng, góp phần làm thay đổi bộ mặt của nhiều vùng quê, đôthị
Nếu như năm 2011, Nghệ An đón trên 3,2 triệu lượt khách, doanh thu đạttrên1.327 tỷ đồng thì đến năm 2019, toàn tỉnh đã đón trên 6,5 triệu lượt khách, doanh thu
từ du lịch đạt 8.800 tỷ đồng, một con số ấn tượng chỉ sau 9 năm Quy mô và số lượng các
cơ sở lưu trú có chất lượng cũng ngày càng tăng, hiện toàn tỉnh có 839 cơ sở lưu trú dulịch, trong đó có 3 khách sạn 5 sao, 7 khách sạn 4 sao, 20 khách sạn 3 sao Toàn tỉnh cóhơn 50 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành cả nội địa và quốc tế
Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch của Nghệ An hiện phát triển khá nhanh, nhất là ởVinh, Cửa Lò và một số điểm du lịch như Bãi Lữ, Diễn Lâm, Quỳnh Phương Phát triển
du lịch vùng ven biển vừa khai thác tiềm năng lợi thế vừa là hướng phát triển kinh tếchiến lược của nhiều tỉnh, thành trong đó có Nghệ An
Trang 13Ngoài khu resort Bãi Lữ hiện có thêm khu Vinpearl Cửa Hội đạt tiêu chuẩn 5 saoquốc tế Một số khách sạn có quy mô khá lớn như Mường Thanh Cửa Lò, Khách sạnSummer (Cửa Lò), Mường Thanh Grand Hoàng Mai, Mường Thanh Luxury Diễn Lâm,Sen Vàng đáp ứng nhu cầu tổ chức các sự kiện tầm cỡ trên địa bàn.
3 Nguồn nhân lực du lịch tỉnh Nghệ An
Hiện nay, cơ sở vật chất cùng với đội ngũ, nguồn nhân lực ngành du lịch và các cơ
sở đào tạo du lịch tỉnh Nghệ An cũng được quan tâm đầu tư và phát triển khá mạnh trongnhững năm gần đây Cũng theo Sở Du Lịch Nghệ An, “chỉ tính trong giai đoạn 2013-
2018, số lượng lao động trực tiếp và gián tiếp tăng bình quân 7-8%/năm Số lao động trẻđược đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ du lịch ngày càng tăng và chiếm tỷ trọng lớn (gần50%), trong đó cơ sở lưu trú du lịch chiếm 65%, nhà hàng 30%, còn lại là lữ hành, vậnchuyển, các điểm tham quan, cơ sở đào tạo du lịch, đơn vị hành chính, sự nghiệp Tínhđến 30/8/2018, nhân lực làm việc trong ngành Du lịch của tỉnh Nghệ An là khoảng gần15.000 người”
Trên địa bàn tỉnh Nghệ An hiện nay có 07 cơ sở đào tạo về du lịch, trong đó có 03trường Đại học (Đại học Vinh, Đại học Công nghiệp Vinh, Đại học công nghệ VạnXuân), 03 trường cao đẳng (Cao đẳng nghề Du lịch Thương mại Nghệ An, Cao đẳng Vănhóa Nghệ thuật, Cao đẳng nghề kinh tế-kỹ thuật số 1), 01 trường trung cấp (Trung cấpkinh tế kỹ thuật Hồng Lam) với gần 100 giảng viên tham gia giảng dạy tại các trường
Tuy nhiên, tại các cuộc họp bàn về giải pháp phát triển ngành du lịch, nhiều người
có chung ý kiến đánh giá nguồn nhân lực du lịch Nghệ An hiện không chỉ thiếu về sốlượng mà còn yếu về chất lượng Tỷ lệ được đào tạo chuyên sâu còn thấp, doanh nghiệp
du lịch khi nhận sinh viên mới tốt nghiệp phần lớn phải dành thời gian đào tạo, bồi dưỡngmới đáp ứng được yêu cầu
Thiếu đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành khách sạn nhỏ và vừa, quản lý lữ hành,hướng dẫn viên, thuyết minh viên chuyên nghiệp và lao động giỏi ngoại ngữ, có nghiệp
vụ giỏi, tay nghề cao về kinh doanh khách sạn, nhà hàng, kinh doanh khu, điểm du lịch
Số lượng cán bộ, công nhân viên được đào tạo và cấp chứng chỉ còn hạn chế, chủ yếu làtại các khách sạn 3-4 sao
Trang 14Nguyên nhân được xác định là chương trình đào tạo về du lịch chưa đi sâu vào kỹnăng nghiệp vụ, còn nặng về lý thuyết; thời gian thực tập tại các doanh nghiệp du lịch củasinh viên còn ít; chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp.
II Cầu du lịch tại tỉnh Nghệ An
1 Đặc điểm nguồn khách quốc tế
- Mục đích du lịch: Quê hương chủ tịch Hồ Chí Minh – vị danh nhân văn hóa thế giới, hệthống sinh thái đa dạng với khu dữ trữ sinh quyển thế giới Tây Nghệ An cùng với sựphong phú của các di tích văn hóa, lịch sử, Nghệ An thu hút khách quốc tế đến chủ yếuvới mục đích tham quan, nghiên cứu và nghỉ dưỡng Một lượng nhỏ đến với mục đíchcông vụ
- Phương tiện đi lại: Khách du lịch quốc tế đến với Nghệ An trong những năm qua chủyếu là đường bộ từ các khu vực ASEAN; Lào đến Nghệ An qua các cửa khẩu đường bộ.Ngoài ra, một số đoàn khách quốc tế đi theo chương trình du lịch của các công ty lữ hành
tổ chức; số lượng khách đi bằng phương tiện tàu hỏa và máy bay qua sân bay Vinh cónhưng số lượng không đáng kể
- Cơ cấu nguồn khách: Nghệ An là địa điểm khá hấp dẫn đối với du khách đến từ khu vựcChâu Á – Thái Bình Dương như Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc… chiếm50% thị phần Tiếp đó là thị trường Pháp, Anh, Đức Tỉ lệ khách tại các nước này đếnNghệ An tăng dần qua từng năm Đây là dấu hiệu đáng mừng và có thể coi là thị trườngtiềm năng để du lịch tỉnh tiếp tục khai thác
- Khách du lịch quốc tế đến Nghệ An so với vùng Bắc Trung Bộ: So sánh với các tỉnhthuộc vùng Bắc Trung Bộ thì Nghệ An có lượng khách quốc tế đứng thứ 3 sau ThừaThiên Huế và Quảng Trị Năm 2000, khách quốc tế đến Nghệ An chỉ chiếm 6,4% so vớitoàn vùng, đến năm 2005, tăng lên 9,2% Năm 2008 là năm số lượt khách quốc tế đếnNghệ An đứng thứ 2 toàn vùng, vượt qua Quảng Trị và chỉ đứng sau Thừa Thiên Huế.Năm 2010, so với toàn vùng khách du lịch quốc tế chiếm 11,4%
2 Đặc điểm nguồn khách nội địa
- Mục đích du lịch: khách nội địa đến với Nghệ An chủ yếu là du khách tham quan các ditích lịch sử, lễ hội, tâm linh, nghỉ dưỡng, nghiên cứu… Địa điểm đến của du khách tậptrung vào các điểm du lịch nổi trội như: tham quan tìm hiểu về di tích lịch sử Kim Liên,quê hương của Bác Hồ, các điểm tài nguyên du lịch tại thành phố Vinh, các lễ hội, di tích
Trang 15lịch sử gắn liền với các anh hùng dân tộc, nghỉ dưỡng tại các bãi biển đẹp như: Cửa Lò,Diễn Thành, biển Quỳnh Lưu
- Cơ cấu nguồn khách: Nguồn khách du lịch nội địa đến với Nghệ An chủ yếu là từ cáctỉnh miền Bắc, thành phố Hà Nội và các tỉnh lân cận Ngoài ra còn có nguồn khách từ cáctỉnh phía Nam đi tham quan các điểm du lịch miền Bắc và về thăm viếng quê hương BácHồ
- Khách du lịch nội địa đến với Nghệ An so với vùng Bắc Trung Bộ: Nghệ An là tỉnh cólượng du khách nội địa đến thăm cao nhất so với toàn vùng Năm 2000, khách nội địa đếnNghệ An chiếm 32,4%, năm 2005, chiếm 37,9% và năm 2010, chiếm 29,6 % tổng nguồnkhách toàn vùng Đây được coi là một thế mạnh của nền du lịch tỉnh, vì thế, trong nhữngnăm tới, tỉnh cần đẩy mạnh phát triển các dịch vụ du lịch để kéo dài ngày lưu trú của dukhách góp phần tăng doanh thu du lịch