1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quỳnh dao ở việt nam

105 73 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau nữa, tại địa phương tỉnh Ninh Thuận nơi tôi viết luận văn, tôi xin chân thành cảm ơn Thạc sĩ Phan Đình Dũng, bộ môn văn học Trường Cao Đẳng Sư Phạm Ninh Thuận; nhà văn Lê Thành Đích

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN -

LUẬN VĂN CAO HỌC

ĐỀ TÀI:

QUỲNH DAO Ở VIỆT NAM

KHOA NGÔN NGỮ VÀ VĂN HỌC GVHD: TS.TRẦN LÊ HOA TRANH SVTH : LÊ THỊ HỒNG LOAN

MÃ SỐ HỌC VIÊN : 0305010612

Trang 2

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô đã trực tiếp giảng dạy lớp Cao học Văn học Việt Nam, khóa 2006 – 2009, trường Đại Học Khoa học Xã hội và Nhân Văn TP Hồ Chí Minh Quý thầy cô không những là những người truyền đạt kiến thức

mà còn là những tấm gương lao động để tôi noi theo, là những phong cách văn học độc đáo để tôi học tập hầu rút ra hướng đi riêng thích hợp với bản thân mình

Kế đến tôi xin hết lòng cảm ơn TS Trần Lê Hoa Tranh, giáo viên hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này, đề tài “Việc tiếp nhận Quỳnh Dao ở Việt Nam” Tôi cảm ơn cô nhiều, bởi vì đây là một đề tài khó; khó ở chỗ đây là đề tài được khen cũng nhiều mà

bị chê cũng lắm, cả khen, chê đều cực đoan; tài liệu liên quan tương đối ít, lại bị phân tán do hoàn cảnh chiến tranh và đất nước chia cắt; nhưng cô đã động viên và nhiệt tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Sau nữa, tại địa phương tỉnh Ninh Thuận nơi tôi viết luận văn, tôi xin chân thành cảm ơn Thạc sĩ Phan Đình Dũng, bộ môn văn học Trường Cao Đẳng Sư Phạm Ninh Thuận; nhà văn Lê Thành Đích và quý nhà văn khối văn xuôi, hội Văn học Nghệ Thuật tỉnh Ninh Thuận, những người đã vui lòng cho tôi mượn tài liệu và trả lời phỏng vấn về tác giả, tác phẩm Quỳnh Dao Tôi cũng xin cảm ơn cô thủ thư thư viện tỉnh Ninh Thuận, người đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi lấy ý kiến độc giả về tác phẩm Quỳnh Dao

Cuối cùng là lời cảm ơn gởi đến các bạn đồng học, những người đã nhiệt tình động viên và chia sẽ nhiều thứ về vật chất cũng như tinh thần mà có thể xem là nguồn

cổ vũ lớn để tôi hoàn thành luận văn này

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

PHẦN DẪN NHẬP 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Khó khăn và thuận lợi 8

6 Những đóng góp mới của luận văn 9

7 Cấu trúc của luận văn 9

PHẦN NỘI DUNG 11

CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM 11

1.1 Tiểu sử 11

1.2 Sự nghiệp văn chương 19

1.3 Tác phẩm 25

1.4 Tác phẩm Quỳnh Dao và lý thuyết tiếp nhận văn học 33

CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH TIẾP NHẬN QUỲNH DAO Ở VIỆT NAM 35

2.1 Giai đoạn trước 1975 38

2.2 Giai đoạn 1975 – 1990 60

2.3 Giai đoạn từ 1990 đến nay 63

CHƯƠNG 3: SỨC HẤP DẪN CỦA TIỂU THUYẾT QUỲNH DAO 70

3.1 Sức hấp dẫn của tiểu thuyết Quỳnh Dao xét về tổng thể 74

3.2 Sức hấp dẫn của tiểu thuyết Quỳnh Dao xét về góc độ phê bình nữ quyền 84

KẾT LUẬN 93

PHỤ LỤC 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 4

PHẦN DẪN NHẬP

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trung Quốc là một quốc gia đất rộng người đông, có nền văn hóa lâu đời phát triển theo chiều dài lịch sử mấy ngàn năm Vào thời cận đại, nếu về khoa học kỹ thuật Trung Quốc có chậm bước so với phương Tây, thì về khoa học nhân văn Trung Quốc chưa hề thua kém Ví dụ, triết học trừu tượng của Lão Tử với các khái niệm Hữu, Vô luôn được các triết gia phương Tây coi trọng; trong khi đó triết học thực dụng của Khổng Tử lại có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nước láng giềng như Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam

Riêng phần văn học, Trung Quốc có một nền văn học phong phú với hàng ngàn tác giả tài hoa, hàng vạn tác phẩm mang đậm tính nhân văn và chất nghệ thuật đã đóng góp một nét rất riêng vào kho tàng văn học của nhân loại Nước ta đặc biệt sát cạnh Trung Quốc, lại trải qua hàng ngàn năm đô hộ của các thế lực phong kiến Trung Quốc, nên việc ta ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc là không tránh khỏi Gạt bỏ những tiêu cực về mặt chính trị, theo dòng lịch sử thì rõ ràng văn học nước ta chịu ảnh hưởng văn học Trung Quốc rất nhiều Vì thế không lạ gì khi giáo sư Dương Quảng Hàm đã dành hẳn một thiên trong “Việt Nam văn học sử yếu” để bàn về ảnh hưởng của văn học Trung Quốc Văn, Thơ nước ta trong thời kỳ sử dụng chữ Hán, chữ Nôm đều có dấu ấn của văn học cổ điển Trung Quốc về các mặt đề tài, thể loại, hình tượng, giọng điệu, thi pháp… Điều quan trọng là các tác giả lớn của nước ta đã khéo vận dụng sáng tạo, tiếp thu cái tinh hoa của người mà làm nên cái độc đáo cho riêng mình, dần hình thành nền văn học Việt Nam đậm đà bản sắc riêng

Bước sang thế kỷ hai mươi, khi ở nước ta nền Nho học đã suy tàn, chữ Hán, chữ Nôm

đã được thay bằng chữ Quốc ngữ thì văn học Trung Quốc vẫn có mặt ảnh hưởng của

nó Trong khi giới Tây học tiếp thu nhanh cái mới mẽ của văn học phương Tây thì giới Nho sĩ cũ vẫn tiếp tục dịch và giới thiệu các tác giả cổ điển Trung Quốc Cũng có khi một tác giả chịu ảnh hưởng cả phương Tây lẫn Trung Quốc về mặt này, mặt khác Sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 được ký kết: miền Bắc từ vĩ tuyến 17 trở ra là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thuộc khối cộng sản cùng với Liên Xô, Trung Quốc; miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào là nước Việt Nam Cộng hòa thuộc khối tư bản thân

Mỹ Nhìn toàn cảnh tình hình chính trị thế giới lúc bấy giờ, sự phân chia này có tính chất ý thức hệ, mở đầu thời kỳ đối địch giữa Cộng sản và Tư bản mà người ta thường gọi là thời kỳ chiến tranh lạnh Do đó văn hóa nói chung và văn học mỗi miền mang đậm dấu ấn ý thức hệ riêng của mình Trong khi miền Bắc tích cực giới thiệu các nhà văn cách mạng Trung Quốc như Lỗ Tấn, Mao Thuẫn, Quách Mạt Nhược… thì miền Nam lại mở cửa tự do cho văn học Tư bản chủ nghĩa Đó là cơ hội cho tiểu thuyết diễm tình Quỳnh Dao từ Đài Loan- một bộ phận tách rời của Trung Quốc đại lục, theo chủ nghĩa Tư bản – đổ vào miền Nam Việt Nam từ những năm cuối thập niên 1960,

Trang 5

tạo nên “hiện tượng đọc Quỳnh Dao” trong những năm 1971 – 1973 và kéo dài cho đến ngày giải phóng năm 1975

Là một sinh viên cử nhân Trung văn, được tiếp xúc nhiều với văn học Trung Quốc, tôi không khỏi ngưỡng mộ và yêu mến nền văn học độc đáo này Từ chỗ học Trung văn với mục đích thực dụng, nay tôi còn có ước muốn trong tương lai dịch và giới thiệu văn học Trung Quốc hiện đại đến bạn đọc Việt Nam Việc tác phẩm Quỳnh Dao được nhiệt liệt đón nhận ở Việt Nam dĩ nhiên là do nội lực của chính tác phẩm; nhưng thiết nghĩ tài năng của người dịch đã góp phần công sức nhất định Có nhiều dịch giả dịch những tác phẩm khác nhau của bà, nhưng cũng có nhiều dịch giả lại dịch cùng một tác phẩm thành nhiều bản dịch khác nhau, tạo cơ hội thuận tiện để người đọc có thể đối chiếu, so sánh các phong cách dịch khác nhau

Vì lý do này, nay tôi chọn đề tài VIỆC TIẾP NHẬN QUỲNH DAO Ở VIỆT NAM, xem đây là dịp để cọ xát và đi sâu vào mảng văn học dịch từ Trung Quốc sang tiếng Việt, để có thể học hỏi nghệ thuật dịch của các bậc tiền bối, những người đã thành công trong việc giới thiệu tác phẩm Quỳnh Dao ở Việt Nam

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Quỳnh Dao được giới thiệu vào miền Nam Việt Nam từ năm 1966 và lịch sử vấn đề

“Việc tiếp nhận Quỳnh Dao ở Việt Nam” cũng bắt đầu từ đây với những cột mốc sau:

- Trên tạp chí Văn học (Sài Gòn) số 68, ra ngày 15-10-1966, Vi Huyền Đắc đã dịch bài viết của Sơn Phượng (Trung Quốc) giới thiệu Quỳnh Dao, cùng lúc đăng liền bốn truyện ngắn của bà trên số báo này Bài báo này mở đầu cho việc xuất hiện liền sau đó tiểu thuyết “Song ngoại” do NXB.Hàn Thuyên xuất bản, sau đó là NXB.Khai Hóa giới thiệu tác phẩm “Cơn gió thoảng” Nhưng phải đợi đến khi truyện “Cánh hoa chùm gởi” đăng từng kỳ trên tuần báo “Đời” thì độc giả Việt Nam mới bắt đầu chú ý đến Quỳnh Dao, đổ xô đi mua sách của bà Thế là các tác giả đua nhau dịch truyện Quỳnh Dao, các nhà xuất bản đua nhau in truyện Quỳnh Dao, độc giả tìm đến Quỳnh Dao ngày một đông

- Năm 1972, tạp chí Văn học (Sài Gòn) dành hẳn một số, số 156, chuyên đề về Quỳnh Dao, cụ thể là các bài báo sau:

 “Hiện tượng đọc truyện Quỳnh Dao” của Phan Vĩnh Lộc

 “Quỳnh Dao là ai” của Nguyễn Phương Khanh

 “Một chung trà, một ngọn đèn, một cây bút” của Sơn Phượng

 “Một chút tâm tình với Quỳnh Dao” của Mộc Thủ Tâm

 “Tại sao tôi dịch tiểu thuyết Quỳnh Dao” của Hoàng Diễm Khanh

 “Quỳnh Dao, một nhà văn không ngừng lột xác” của Hoàng Huy

Trang 6

Các bài viết này đều ngợi khen Quỳnh Dao về nhiều mặt Nhưng nói chung, đây là các bài viết giới thiệu hơn là phê bình, bởi vì các ý kiến đều là chủ quan, thiếu phân tích thấu đáo Tuy nhiên, dù hữu ý hay vô tình, số báo đã có tác dụng như một lời quảng cáo Sau số báo này số độc giả Quỳnh Dao tiếp tục tăng nhanh, thực sự tạo thành “hiện tượng đọc Quỳnh Dao” một năm sau đó, năm 1973

- Năm 1973, đúng lúc cơn sốt Quỳnh Dao lên đến đỉnh điểm thì xuất hiện tập tiểu luận “Hiện tượng Quỳnh Dao” của tác giả Đào Trường Phúc do NXB Khai Hóa xuất bản Phải nói rằng đây là cuốn sách đầu tiên và trọn vẹn dành viết về Quỳnh Dao

Có lẽ vì thận trọng trước vấn đề đang nóng sốt giữa “Hai thái độ cực đoan tiêu biểu: thái độ thứ nhất hoàn toàn phủ nhận giá trị văn học của tác phẩm Quỳnh Dao để chỉ nhìn tác phẩm ấy như một sự kiện thương mại; trong khi thái độ thứ hai thì lại nhiệt liệt xưng tụng Quỳnh Dao như một sứ giả văn chương” (Đào Trường Phúc (1973), Hiện tượng Quỳnh Dao, NXB Khai Hóa, trang 2), nên tác giả đã dè dặt xác nhận “Các điểm nhận xét sau đây, trong khuôn khổ cuốn sách này, lẽ dĩ nhiên chỉ có tính cách cá nhân và sơ quát Nói theo một cách nào đó, chúng không phải là những nhận xét tiêu biểu Có lẽ chúng chỉ đóng vai trò gợi ý mà thôi…” (sđd, trang 23) Và đúng như vậy,

ta thấy rằng hơn nữa đầu của tập sách mỏng này tác giả đã dùng để giới thiệu thân thế

và sự nghiệp văn chương của Quỳnh Dao, còn nửa sau là phần nhận xét của tác giả Dĩ nhiên là tác giả cố tình tránh việc khen chê rạch ròi, nhưng người đọc dễ dàng nhận thấy tác giả có ý khen và bênh vực Quỳnh Dao về nhiều mặt Cụ thể là khen “tình yêu” trong tác phẩm Quỳnh Dao lãng mạn, đẹp và lý tưởng dễ làm xúc động lòng người; văn phong, bút pháp Quỳnh Dao dễ đọc, dễ hiểu, dễ đi vào lòng người

Tuy nhiên với sự thận trọng sẵn có, tác giả Đào Trường Phúc xác nhận rằng độc giả đọc Quỳnh Dao chủ yếu để giải trí, vì “… Xã hội Việt Nam là xã hội bị chiến tranh hủy hoại từ vật chất tới tinh thần Cuộc chiến dai dẳng bao nhiêu năm làm tâm hồn giới trẻ mệt mỏi, chán nản…” (sđd, trang 35), để cuối cùng đi đến kết luận ở cuối sách

là, “Có lẽ người ta chỉ nên gọi Quỳnh Dao là một người tình của văn chương, thay vì coi bà như một hiện tượng văn học thời đại” (sđd, trang 36)

Sau ngày giải phóng 1975, cùng cảnh ngộ với nhiều tác giả ở miền Nam và nước ngoài khác, tác phẩm Quỳnh Dao bị cấm lưu hành ở Việt Nam vì lý do quan điểm chính trị Trong thời gian nàu có một số bài viết về Quỳnh Dao, thiên về phê phán Điển hình trong số đó là:

- Năm 1977, Nhà xuất bản Văn hóa, Hà Nội giới thiệu cuốn “Văn hóa văn nghệ miền Nam dưới chế độ Mỹ ngụy” Trong sách này, dưới tựa đề “Vị trí, ảnh hưởng và tác hại của văn nghệ tư sản nước ngoài trong sinh hoạt văn nghệ vùng địch tạm chiếm

ở miền Nam trước đây”, tác giả Trần Hữu Tá đã dành hơn bốn trang để viết về Quỳnh Dao Đây là một trích đoạn minh họa

Trang 7

“… Tình yêu, xuyên qua nhân vật tiểu thuyết Quỳnh Dao thực ra chỉ là ảo tưởng của những cô gái sống thanh nhàn sung túc, không thấy gì khác hơn là cuộc sống tẻ nhạt, tầm thường và chật hẹp quanh mình Tự nó, nó đã đầy đủ lắm rồi Tự nó, nó đã thoả mãn với nó Xã hội với những biến cố chỉ là cái khung mờ nhạt bên ngoài Đó chỉ là những con người sống trong hoàn cảnh trưởng gỉa hoặc đang mơ ước về một cuộc sống trưởng giả mà thôi

… Trong trăm ngã thoát ly, lẩn trốn thực tại, thì tình yêu trai gái có lẽ đối với

số đông là hầm trú ẩn chắc chắn nhất” (sđd, trang 416)

- Năm 1990, Nhà xuất bản Thông tin giới thiệu cuốn “Văn hóa, văn nghệ phục

vụ chủ nghĩa thực dân mới Mỹ tại Việt Nam 1954-1975” của tác giả Trần Trọng Đăng Đàn Với tư cách chuyên môn trong một cơ quan chuyên môn là Viện Khoa học Xã hội Tp Hồ Chí Minh, thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam GS.TS Trần Trọng Đăng Đàn đã làm việc tỉ mỉ, công phu kèm theo những số liệu thống kê, những trích dẫn xác đáng đã bao quát được toàn cảnh văn hóa, văn nghệ miền Nam lúc bấy giờ Đặc biệt là trong lĩnh vực văn học, cuốn sách đã đề cập đến mọi vấn đề: tác giả, tác phẩm, báo chí, xuất bản, trào lưu, khuynh hướng văn học… kể cả các tác giả nước ngoài có tác phẩm dịch ở miền Nam Trong chương bốn, dưới tựa đề “Văn chương phục vụ xã hội tiêu thụ miền Nam” bên cạnh truyện kiếm hiệp Kim Dung, tác giả đã dành bảy trang để viết về Quỳnh Dao Bài viết tuy có tính phê phán nhưng cũng phần nào phản ánh được “hiện tượng đọc Quỳnh Dao” lúc ấy ở miền Nam:

“Ở Sài Gòn vào những năm 1970-1973 tác phẩm Quỳnh Dao đăng tràn lan trên hàng mấy chục loại báo chí Có hơn vài chục Nhà xuất bản tranh nhau in sách Quỳnh Dao Có người lập ra nhà xuất bản Quỳnh Dao để chuyên in sách Quỳnh Dao Hàng mấy chục dịch giả xâu xé nhau kiếm chác bằng sách Quỳnh Dao Một cuốn “Thuyền” có hai bản in khác nhau “Hải Âu phi xứ” có ít nhất bốn bản dịch khác nhau Bộ máy quảng cáo ra sức tâng bốc tác phẩm Quỳnh Dao, ra sức tô vẽ bản thân Quỳnh Dao Nào “Hãy đọc sách Quỳnh Dao; hãy tặng nhau sách Quỳnh Dao” để “sống với những tình cảm tha thiết nhất!”… Tất cả những lời lẽ rao hàng như vậy, một thời đã làm không ít người đọc ở các

đô thị miền Nam vốn thích đua đòi và đã bị nhiễm phải thứ bùa mê của lối quảng cáo thương mại, sợ mình bị coi là lạc hậu, không biết chơi đúng “mốt”, bèn đâm bổ vào đọc truyện Quỳnh Dao…” (sđd, trang 529)

Theo tác giả thì tác phẩm Quỳnh Dao “Nhằm vào việc móc túi tiền của những hạng người đọc chỉ cốt cho đỡ buồn, để giết thời gian; đọc cứ lật trang hoài, lật qua trang sau rồi không cần biết trang trước viết những gì” (sđd, trang 535)

Sau đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ sáu với chủ đề đổi mới, mọi thứ đều đổi mới, trong đó có cả văn học Nghĩa là Đảng và nhà nước đã có quan điểm khác hơn đối với văn học, tuy vẫn trong khuôn khổ xã hội chủ nghĩa nhưng uyển chuyển

Trang 8

hơn, linh động hơn, không còn cứng nhắc như trước nữa Nhiều tác giả trong và ngoài nước và các tác phẩm của họ được đánh giá lại Kết quả là kể từ 1991, tác phẩm Quỳnh Dao được phép lưu hành trở lại Việt Nam

Cùng với cải cách, mở cửa bộ phận văn hóa nước ta cũng phải gấp rút rút ngắn khoảng cách so với mặt bằng văn học thế giới đang phát triển từng ngày từng giờ Trong bối cảnh đó “ Lý thuyết tiếp nhận văn học” được giới thiệu rộng rãi ở nước ta và bước đầu đi vào các Trường đại học trong cả nước Lý thuyết này đánh giá cao vai trò của độc giả trong quá trình hình thành tác phẩm văn học Theo lý thuyết này, nếu cực đoan mà nói thì nếu không có độc giả, sẽ không có tác phẩm văn học, mà đó chỉ là văn bản chết; còn ở mức độ ôn hoà hơn thì độc giả là đồng tác giả hoặc chí ít thì phải coi trọng ý kiến của đọc giả để đánh giá sự thành công của một tác phẩm văn học Nhà lý luận văn học Nga A.V Dranov đã viết

“ Đặc trưng cho mĩ học tiếp nhận là sự từ bỏ các quy phạm và chuẩn mực kinh điển vốn được dùng làm tiêu chuẩn phê bình văn học Tiêu chuẩn cơ bản đánh giá tác phẩm là thực tiển xã hội, hiệu quả xã hội của nghệ thuật theo mức độ bộc lộ của nó trong phản xạ của độc giả Phổ nghiên cứu của mĩ học tiếp nhận đặc biệt rộng, tham dự vào nó trên thực tế là bất cứ văn bản viết nào từ luật lệ

tư pháp cho dến sách dạy nấu ăn Văn Học “ cao từ chỗ là trung tâm khảo sát

đã được chuyển ra ngoại vi, những thể loại ngoài lề đã được chuyển vào trung tâm khảo sát” ( A.V.Dranov (1996), “Mĩ học tiếp nhận”, Lại Nguyên Ân dịch, tạp chí văn học số 3-2002, trang 83)

Quỳnh Dao cũng như Kim Dung tác giả truyện kiếm hiệp Hồng Kông, là hai tác giả đã từng tạo nên “ hiện tuợng đọc” ở miền Nam Việt Nam trước 1975 nhưng tại Việt Nam cũng như tại chính quốc tác phẩm của họ vẫn bị xếp vào loại “Cận văn học”, “Văn học bình dân” Nay nhờ vào quan niệm mới của “Lý thuyết tiếp nhận” này, tác phẩm của

họ sau khi được phép tái lưu hành, đã được giới học thuật Việt Nam để tâm nghiên cứu Về Kim Dung, có bài “Bước đầu tìm hiểu về “Hiện tượng Kim Dung” ởViệt Nam” của tác giả Trần Lê Hoa Tranh đăng trên tạp chí văn học số 3-2000 Về Quỳnh Dao có hai khóa luận cử nhân liên quan đến bà như sau:

Năm 2006 khóa luận của sinh viên Nguyễn Thanh Quỳnh Trang, khoa Đông phương học, chuyên nghành Trung Quốc học, trường Đại học khoa học Xã hội Nhân Văn TP Hồ Chí Minh, với đề tài “ Quỳnh Dao và “Song ngoại” tác giả, tác phẩm, lời bình” Có lẽ vì đề tài khá mới mẽ và ít tư liệu tham khảo ( nhìn vào thư mục tham khảo cuối khóa luận) nên khóa luận chỉ có ý nghĩa như một bài giới thiệu về Quỳnh Dao và

sự nghiệp văn chương của bà, một bài giới thiệu khá đầy đủ với nhiều chi tiết mới nhờ vào khả năng đọc tư liệu gốc bằng tiếng Hoa của sinh viên này Còn về phần lời bình, khóa luận này chủ yếu khen ngợi tác giả tác phẩm; nhưng cách khen vẫn chung chung, dàn trải, chưa xóay vào ưu điểm nào nổi trội nhất của tác giả, tác phẩm

Trang 9

Cũng năm 2006, là khoá luận tốt nghiệp cử nhân của sinh viên Trần Thị Hàn

Ni, khoa Ngữ văn, trường Đại học dân lập Văn Hiến TP.Hồ Chí Minh, với đề tài “Sức hấp dẫn của tiểu thuyết Quỳnh Dao tại Việt Nam” Khoá luận này khá đầy đủ, tập trung khen ngợi Quỳnh Dao và tác phẩm của bà Nói chung là ý tưởng không có gì mới so với các tài liệu khác; tuy nhiên khoá luận khá hấp dẫn, thuyết phục nhờ vào nhiệt tình của người viết, điều mà khó có được nếu sinh viên này không thực sự yêu mến Quỳnh Dao như cô đã viết

Năm 2008, hai tác giả Vũ Hạnh và Nguyễn Ngọc Phan cho ra mắt cuốn “ Văn học thời kỳ 1954-1975 ở TP Hồ Chí Minh” do NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh và NXB Văn hóa Sài Gòn phối hợp xuất bản Cuốn sách viết theo hình thức hỏi đáp phân chia văn học Sài Gòn thời kỳ 1954-1975 thành 100 chủ đề mà độc giả quan tâm, tác giả đã dành hẳn một chủ đề để viết về Quỳnh Dao” mục 69 dưới tiêu đề “ xin cho biết

về hiện tượng tiểu thuyết Quỳnh Dao” Vì chủ truơng phổ cập kiến thức và cung cấp thông tin nên bài viết có tính cách tóm lược, xác nhận có “ hiện tượng Quỳnh Dao” trước 1975 kèm theo những phê phán chừng mực, nhẹ nhàng như “… tiểu thuyết Quỳnh Dao” được xếp vào loại văn chương câu khách bằng việc phô bày những tình cảm ủy mị, những cuộc yêu đương nhăng nhít… Đối với người khắt khe hơn, người ta cho rằng đó là những tác phẩm dành cho người đọc dễ dãi, không có suy tư…” ( sđd, trang 275)

Trên đây là những tư liệu người viết đã tiếp cận được Ngoài ra còn có nhiều bài viết về Quỳnh Dao trên mạng internet mà lai lịch tác giả không rõ ràng, nội dung các bài viết có tính tùy tiện, cảm tính và nặng về quảng cáo thương mại, nên người viết thấy không nên và không cần thiết đưa vào công trình này

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Vì đề tài là VIỆC TIẾP NHẬN QUỲNH DAO TẠI VIỆT NAM nên đối tượng nghiên cứu của luận văn này sẽ là số tác phẩm Quỳnh Dao lưu hành tại Việt Nam và độc giả Việt Nam

uy tín, cụ thể là:

Trang 10

 Chuyện đời tôi, hồi ký, Phạm Hồng Hải dịch, NXB.Hội Nhà văn, 2001

 Song ngoại, tiểu thuyết, Liêu Quốc Nhĩ dịch, NXB.Hội Nhà văn, 2010

 Cánh Hoa chùm gởi, tiểu thuyết, Liêu Quốc Nhĩ dịch, NXB.Hội Nhà văn, 2003

 Dòng sông ly biệt, tiểu thuyết, Liêu Quốc Nhĩ dịch, NXB.Hội Nhà văn, 2003

 Trôi theo dòng đời, tiểu thuyết, Liêu Quốc Nhĩ dịch, NXB.Hội Nhà văn, 2003

 Mùa thu lá bay, tiểu thuyết, Liêu Quốc Nhĩ dịch, NXB.Hội Nhà văn, 2006

 Một sáng mùa hè, tiểu thuyết, Bành Dũng Tôn và Hồng Phong dịch, NXB.Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2000

 Khói lam cuộc tình, tiểu thuyết, Liêu Quốc Nhĩ dịch, NXB.Hội Nhà văn, 2000

 Hải âu phi xứ, tiểu thuyết, Liêu Quốc Nhĩ dịch, NXB.Hội Nhà văn, 2010

 Truyện ngắn Quỳnh Dao tập 1, Liêu Quốc Nhĩ dịch, NXB.Hội Nhà văn, 2005

 Truyện ngắn Quỳnh Dao tập 2, Liêu Quốc Nhĩ dịch, NXB.Hội Nhà văn, 2005

 Quận chúa Tân Nguyệt, tiểu thuyết, Liêu Quốc Nhĩ dịch, NXB.Hội Nhà văn,

Về độc giả Việt Nam

Nói nghiên cứu độc giả có nghĩa là xác định “ tầm đón nhận” của người đọc đối với tác phẩm mà “tầm đón nhận” thì bị quy định chặt chẽ bởi môi trường văn hóa mà người đọc sống trong đó Do đó người viết sẽ giới hạn việc nghiên cứu độc giả Việt Nam từ khi tác phẩm Quỳnh Dao xuất hiện trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau

mà sẽ dẫn đến những tác động khác nhau lên môi trường văn hóa người đọc đang sống Cụ thể là ba giai đoạn

 Giai đoạn trước 1975, thời mà tác phẩm Quỳnh Dao tự do đổ vào miền Nam Việt Nam trong môi trường văn hóa kiểu tư bản chủ nghĩa giống như Đài Loan nơi xuất xứ tác phẩm Quỳnh Dao Trong khi đó tác phẩm của bà không có cơ hội xuất hiện ở miền Bắc, lý do là cả nội dung lẫn hình thức của tác phẩm không phù hợp với đường lối văn nghệ của Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã qui định trước đó

 Giai đoạn 1976-1990, thời gian tác phẩm Quỳnh Dao bị cấm lưu hành tại Việt Nam, bạn đọc đang sống trong môi trường văn hóa xã hội chủ nghĩa

Trang 11

 Giai đoạn từ 1991 đến nay tác phẩm Quỳnh Dao được phép lưu hành trở lại Cùng với việc đổi mới đất nước, môi trường văn hóa đổi khác, “tầm đón nhận” của độc giả Việt Nam cũng đã đổi khác

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Vì đề tài là “ Việc tiếp nhận Quỳnh Dao tại Việt Nam” nên người viết ứng dụng

“Lý thuyết tiếp nhận văn học” Trong suốt quá trình thực hiện luận văn này và các phương pháp chủ yếu được sử dụng là:

- Phương pháp lịch sử - văn hoá – xã hội

Nghĩa là xét xem trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể khi tác phẩm Quỳnh Dao xuất hiện các yếu tố văn hóa xã hội đã tác động thế nào đến “tầm đón nhận” của độc giả xét xem lúc đó bạn đọc Việt Nam có đủ trình độ học vấn có quan niệm đạo đức phù hợp, có thị hiếu thẩm mĩ ngang tầm để thưởng thức tác phẩm Quỳnh Dao hay không

- Phương pháp phân tích

Để phân tích thấu đáo tác phẩm Quỳnh Dao về mọi mặt hình thức cũng như nội dung Xem đâu là đặc trưng văn phong bút pháp của tác giả, đâu là tư tưởng nhân văn của tác phẩm, đâu là hàm ý triết luận của tác giả về tình yêu, về cuộc sống

- Phương pháp so sánh

So sánh hoàn cảnh lịch sử của Đài Loan với hoàn cảnh lịch sử của miền Nam Việt Nam, chỉ ra đâu là yếu tố ảnh hưởng đến “tầm đoán nhận” của độc giả tác phẩm Quỳnh Dao

So sánh tác phẩm Quỳnh Dao với tác phẩm của các tác giả khác để đánh giá mặt mạnh, mặt yếu và đâu là yếu tố thu hút độc giả trong tác phẩm của bà

- Phương pháp điều tra xã hội học

Thống kê các số liệu trên Phiếu điều tra để xác lập tỉ lệ người yêu thích Quỳnh Dao Phỏng vấn trực tiếp để đối chiếu ý kiến bạn đọc giới nam và giới nữ về tác phẩm Quỳnh Dao

5 KHÓ KHĂN VÀ THUẬN LỢI

- Về khó khăn

 Thứ nhất, là khó khăn về tài liệu Tài liệu viết về Quỳnh Dao tương đối ít, lại trải qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau nên việc thu thập rất khó khăn Nhưng khi đã thu thập được thì đa phần tài liệu có nội dung trùng lặp, ý tưởng giống nhau, làm hạn chế tầm nhìn của người viết

 Thứ hai, là khó khăn về phía độc giả Đó là thời buổi này, người ta sống tất bật hơn, khép kín hơn, nên người viết vốn không tiên liệu trước đã gặp phải khó khăn trong việc lấy ý kiến độc giả về tác phẩm Quỳnh Dao Sau nhiều lần thay

Trang 12

đổi mẫu “phiếu lấy ý kiến” và cách tiếp cận, người viết mới thu được những kết quả khiêm tốn mà cần phải bổ sung bằng phỏng vấn trực tiếp, tiêu tốn nhiều thời gian và công sức

- Về thuận lợi:

Tại địa phương tỉnh Ninh Thuận, trong thời gian viết luận văn, người viết đã được sự giúp đỡ nhiệt tình của một số nhà văn thuộc khối văn xuôi, hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Ninh Thuận; trong số đó có những người đã từng sống ở Sài Gòn vào thời kỳ

“hiện tượng Quỳnh Dao” hình thành và bộc phát, từ 1970 – 1973 Các vị đã sốt sắng cho mượn tư liệu, vui lòng trả lời phỏng vấn quanh “ hiện tượng Quỳnh Dao” cũng như về tác phẩm của bà Các ý kiến quý báu này sẽ được đúc kết và trình bày ở các chương sau, bổ sung vào kết quả lấy ý kiến bạn đọc như đã nêu trên

6 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN

Đóng góp mới của luận văn là trình bày việc tiếp nhận Quỳnh Dao qua nhiều giai đoạn

ở Việt Nam một cách có hệ thống, và lý giải nguyên nhân các bước thăng trầm trong quá trình tiếp nhận này

7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Để việc nghiên cứu có hệ thống và khoa học, ngoài phần dẫn nhập và phần kết luận, phần nội dung của luận văn này được chia làm ba chương

CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM

Việc nghiên cứu này là cần thiết Bởi vì tác giả là chủ thể sáng tạo, tác phẩm luôn mang đậm dấu ấn cá nhân của tác giả Hiểu được tác giả, biết được cuộc đời tác giả là một lợi thế lớn để tiếp cận tác phẩm, khám phá được chiều sâu của tác phẩm thông qua cuộc sống từng trải của tác giả Tìm hiểu quá trình sáng tác của tác giả cũng là bước đầu đi vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm, nắm bắt được văn phong, bút pháp của tác giả và sự biến đổi của các yếu tố này theo từng giai đoạn sáng tác

CHƯƠNG 2 : QUÁ TRÌNH TIẾP NHẬN QUỲNH DAO TẠI VIỆT NAM

Sự kiện nổi bật trong quá trình tiếp nhận Quỳnh Dao tại Việt Nam là “hiện tượng đọc Quỳnh Dao” tại Sài Gòn vào những năm 1970-1973, sự kiện mà thời

ấy ai cũng biết và sau này tài liệu nào cũng nhắc tới Vì vậy luận văn này không đặt nặng việc mô tả “hiện tượng Quỳnh Dao” mà là cố đi sâu vào cốt lõi vấn đề, cố tìm ra nguyên nhân lý giải tại sao lại xảy ra hiện tượng này; cũng như lý giải những bước thăng trầm trong việc tiếp nhận Quỳnh Dao qua từng giai đoạn lịch sử từ trước 1975 đến nay

CHƯƠNG 3: SỨC HẤP DẪN CỦA TIỂU THUYẾT QUỲNH DAO

Trang 13

Để lý giải thấu đáo việc Quỳnh Dao được nồng nhiệt tiếp nhận ở Việt Nam, người viết sẽ nêu bật đặc điểm giới tính trong quá trình tiếp nhận này Vì vậy chương này không làm công việc bình thường là nêu lên sức hấp dẫn của tiểu thuyết Quỳnh Dao một cách chung chung, mà trái lại sẽ tập trung làm rõ đâu là chỗ hấp dẫn nữ giới, đâu là chỗ không hấp dẫn nữ giới Để làm rõ vấn đề, người viết sẽ dùng phương pháp so sánh từng cặp ý kiến nam, nữ trên từng yếu tố nghệ thuật của tác phẩm như cốt truyện, bút pháp tư tưởng v.v., cũng như những yếu tố khác đặc biệt hấp dẫn riêng giới nữ xét dưới góc độ của thuyết nữ quyền

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM 1.1.TIỂU SỬ

Quỳnh Dao tên thật là Trần Triết, tên thường gọi là Phượng Hoàng, sinh ngày

20 tháng 04 năm 1938, tại thị trấn Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc Cha là Trần Chí Bình quê ở tỉnh Hồ Nam, là giáo sư sử học đã từng dạy ở Đại học Quang Hoa và Đại học Hoa Tây (tỉnh Tứ Xuyên), Đại học Quảng Tây (tỉnh Quảng Tây), Đại học Đông Tế (tỉnh Thượng Hải), Đại học sư phạm Đài Bắc (Đài Loan), cả đời dạy học, diễn thuyết và viết sách Mẹ là Viễn Hành Như gốc ở tỉnh Giang Tô, là một tiểu thư khuê các trưởng thành tại Bắc Kinh, ham mê các bộ môn nghệ thuật thi, nhạc, họa…

Cha mẹ Quỳnh Dao gặp nhau, yêu nhau và nên duyên tại Bắc Kinh khi ông Chí Bình là giáo viên văn ở trường trung học Lưỡng Cát và bà Hành Như là một nữ sinh theo học ở đó Theo hoàn cảnh xã hội khi đó thì đây là cuộc hôn nhân không được

“môn đăng hộ đối” giữa một tiểu thư khuê các và một bạch diện thư sinh xuất thân từ tỉnh lẻ; nhìn chung thì chi tiết này không ảnh hưởng đến cuộc hôn nhân, nhưng nếu đọc kỷ hồi ký “Chuyện đời tôi” của Quỳnh Dao ta thấy rằng cuộc sống thiếu thốn vất

vả của cặp vợ chồng trẻ này, dù phần lớn là do thời cuộc, đã ảnh hưởng đến nếp nghĩ của mẹ Quỳnh Dao về chuyện hôn nhân của con cái Ta sẽ thấy rằng chính sự can thiệp mạnh mẽ của bà mẹ vào việc hôn nhân của Quỳnh Dao đã khiến cuộc đời bà đã

đi theo hướng mà nó đã diễn ra, làm nền cho tiểu thuyết “Song ngoại” mang lại tiếng tăm cho Quỳnh Dao và mở đầu sự nghiệp văn chương của bà

1.1.1.THỜI THƠ ẤU

Sau khi sảy thai đứa con trai đầu lòng ở Bắc Kinh, ông Chí Bình đem vợ đến tỉnh Tứ Xuyên, nơi ông đồng thời dạy ở hai trường Đại học là Đại học Quang Hoa và Đại học Hoa Tây Tại đây năm 1938 Quỳnh Dao chào đời, là chị song sinh của đứa em trai; chị là Phượng Hoàng, em là Kỳ Lân Cũng cần nói thêm là Quỳnh Dao còn có thêm hai đứa em nữa: em trai là Xảo Tam sinh 1940 cũng tại Tứ Xuyên, em gái là Cẩm Xuân sinh 1946 tại Trùng Khánh Sở dĩ cần nói qua các thành viên trong gia đình Quỳnh Dao, vì như ta sẽ thấy các em của bà mỗi người một tính cách, một thiên tư đã góp phần can dự sâu sắc vào cuộc sống bà cũng như có mặt trong nhiều tác phẩm Quỳnh Dao sau này Ví dụ, cảnh trên đường chạy loạn, hai đứa em của Quỳnh Dao bị thất lạc cả tuần lễ trong bom đạn, rồi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác lại tìm được hai đứa bé còn nguyên vẹn Điều này cộng với những diễn biến kỳ lạ khác trong cuộc đời

đã dần dần hình thành cái thuyết “Định mệnh” nơi Quỳnh Dao như ta thấy hầu hết trong các tác phẩm của bà Một thí dụ khác về ảnh hưởng của những đứa em tới

Trang 15

Quỳnh Dao là lần thứ hai bà tự tử lúc 16 tuổi, chỉ vì mẹ đem so sánh chuyện “học dốt” của bà với thành tích “học giỏi” của đứa em út!

Trở lại thời thơ ấu của Quỳnh Dao ta thấy bà ra đời đúng vào thời loạn lạc, khi chiến tranh Trung-Nhật bùng nổ năm 1940, kết thúc năm 1944 rồi tiếp đến là cuộc nội chiến giữa Cộng Sản và Quốc dân Đảng Trung Quốc mà dẫn đến việc tách rời Trung Quốc đại lục với Đài Loan vào năm 1949 Nghĩa là từ khi chào đời, 1938 đến khi mười một tuổi, 1949 Quỳnh Dao luôn sống trong chiến tranh

Lúc được 4 tuổi, vì kinh tế ở Tứ Xuyên khó khăn do chiến tranh, Quỳnh Dao theo cha mẹ về quê nội ở Hồ Nam Nhưng chẳng mấy chốc quân Nhật tràn đến đốt sạch cơ ngơi quê nội, gia đình Quỳnh Dao lại chạy giặc ngược về Tứ Xuyên Rồi từ

Tứ Xuyên đến thành phố Trùng Khánh, từ Trùng Khánh đến Thượng Hải và cuối cùng

là từ Thượng Hải trở về quê nội Hồ Nam, giáp một vòng 6 năm và cô bé Phượng Hoàng (Quỳnh Dao) đúng 10 tuổi Nếu tính theo đường chim bay từ Bắc Kinh phía bắc đến Hồ Nam phía nam, từ Thượng Hải phía đông đến Tứ Xuyên phía tây thì từ lúc chào đời cho đến năm lên mười bé Quỳnh Dao đã trải qua chặng đường chạy loạn trên mười ngàn cây số: Lúc thì ngồi trong thúng cho người ta gánh đi, lúc đi bộ, lúc đi thuyền, lúc ngồi trên mui tàu lửa, lúc ngồi trên lưng ngựa…bé Quỳnh Dao đã chứng kiến không biết bao thảm cảnh của chiến tranh, bao thay đổi của lòng người cũng như thân phận mỏng manh của con người giữa sự sống và cái chết…Tất cả những thứ ấy hằn sâu vào tâm trí non nớt của cô bé Quỳnh Dao yếu đuối, nhạy cảm dần hình thành nên tính cách, tư tưởng và nhân sinh quan của nữ sĩ Quỳnh Dao sau này, như ta sẽ thấy trong các tác phẩm của bà

1.1.2.TUỔI THIẾU NIÊN

Năm 1949, cuộc nội chiến chấm dứt Trung Quốc đại lục trở thành Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảo Đài Loan thuộc Quốc Dân Đảng Sau một lộ trình nhiêu khê từ Thượng Hải đến Quảng Châu, rồi bằng tàu thuỷ gia đình Quỳnh Dao đã đến định cư tại Đài Loan vào cuối năm này, khi Quỳnh Dao tròn 11 tuổi, bắt đầu tuổi thiếu niên của mình tại trường tiểu học

Sư phạm Đài Bắc; 16 tuổi bước chân vào trường Nữ trung học số I, rồi trường Nữ trung học số II Đài Bắc và tốt nghiệp trung học phổ thông năm 19 tuổi; 20 tuổi thi vào Đại học lần đầu tiên, bị rớt

Nếu ở thời thơ ấu Quỳnh Dao đã đối mặt với vô vàn nghịch cảnh của chiến tranh, thì bước vào tuổi thiếu niên cô phải đối mặt với chính bản thân mình, một cô gái nhạy cảm, mộng mơ và đa tình Mà đối với Quỳnh Dao, xem ra việc chế ngự xúc cảm của mình còn khó hơn vượt qua những nghịch cảnh bên ngoài Bằng chứng là trong thời gian này, trong vòng 3 năm, Quỳnh Dao đã hai lần trốn chạy cuộc đời

Tóm lại, đây là giai đoạn khó khăn nhất trong cuộc đời Quỳnh Dao, nhưng cũng

là lúc thời cơ chín mùi cho sự nghiệp văn chương của cô Đúng vậy, khi con người ta

Trang 16

bị thất bại trong cuộc sống, bị đau khổ vì tình yêu nên thơ thẩn viết nó ra giấy, triết lý

về nó thì đó chính là văn chương, và Quỳnh Dao đã làm như thế Sau lần tự tử thứ hai không thành, Quỳnh Dao đã ngồi xuống viết những trang bản thảo đầu tiên: “Tôi kiên trì viết, tiếp tục viết, kiên trì gởi, tiếp tục gởi bài đi” (Nhật ký Quỳnh Dao, trang 216)

1.1.3.VIỆC HÔN NHÂN

Sau mối tình với ông thầy giáo già không đi tới đâu, năm 21 tuổi Quỳnh Dao kết hôn với một chàng trai nghèo, đã tốt nghiệp đại học và đang ôm mộng trở thành một nhà văn nổi tiếng Cuộc sống nghèo túng, quan niệm văn chương bất đồng, cộng với điều cốt lõi là tình yêu giữa hai người chưa đạt tới độ sâu lắng cần thiết nên cuộc hôn nhân đã đi tới chỗ đỗ vỡ mấy năm sau đó Quỳnh Dao li dị năm 25 tuổi, sống với đứa con trai nhỏ và chăm chú vào việc viết văn Thực ra trước đó Quỳnh Dao đã viết nhiều truyện ngắn đăng báo có tính thử nghiệm, và truyện dài “Song ngoại” gần như là cuốn tự truyện đã thành công ngoài sức tưởng tượng, được tái bản đến lần thứ ba, nhưng đó chỉ là việc viết lách nghiệp dư bên cạnh việc nội trợ

Sau khi li dị, vừa rảnh tay lại vừa có chút tiếng tăm, Quỳnh Dao bắt đầu cuộc đời viết văn chuyên nghiệp Người khám phá ra tài năng văn chương của Quỳnh Dao

là Bành Hàm Đào, chủ nhân tạp chí Hoàng Quán mà sau này cũng là người bảo trợ, người quản lý việc xuất bản tác phẩm Quỳnh Dao, rồi là người yêu và là chồng của bà cho đến ngày nay

Hàm Đào lớn hơn Quỳnh Dao hơn chục tuổi, đã có vợ con và là một nhà báo nghiêm túc Thoạt đầu quan hệ giữa hai bên chỉ thuần tuý là quan hệ công việc giữa tác giả và nhà xuất bản, hai bên cùng có lợi Quỳnh Dao viết truyện ra là có sẵn nhà xuất bản; Hàm Đào độc quyền xuất bản sách nhà văn được nhiều người yêu thích, bảo đảm lợi nhuận Nhưng rồi dần dần tình yêu đến, mạnh mẽ mà sâu sắc, “chỉ hiểu nhau bằng ý, không nói bằng lời” (Nhật ký Quỳnh Dao, trang 316) Hai tính cách trái ngược nhau- một Quỳnh Dao yếu đuối, mơ mộng; một Hàm Đào mạnh mẽ, thực tiễn- như hai cực nam châm hút chặt lấy nhau, đến nỗi “tình cảm của tôi và Hàm Đào như đang trong cơn bão…truyền thống ư, đạo đức ư, lễ giáo ư, chẳng quan tân đến!”( Nhật ký Quỳnh Dao, trang 327)

Kết quả là Hàm Đào li dị vợ, hai người chính thức kết hôn vào năm 1979, khi Quỳnh Dao đã bước sang tuổi 41

Đọc “Nhật ký Quỳnh Dao” hẳn người ta phải sửng sờ ngạc nhiên khi thấy bà đã thản nhiên đi vào cuộc đời Hàm Đào khi mà chính bà viết: “Vợ Hàm Đào rất đẹp, ba đứa con hoạt bát, đáng yêu…Nhìn bức tranh gia đình hạnh phúc, lòng tôi cảm động vô cùng” Tại sao lại có chuyện bất nhẫn đến vậy? Trong nhật ký, Quỳnh Dao dù đã nói rất thật nhiều điều, bà đã không nói cách Hàm Đào giải quyết việc vợ con ra sao; lẽ nào giữa hai người đàn bà lại có thể thoả thuận “nhường chồng” một cách êm thắm đến thế? Nhưng nếu xếp sang bên chuyện đời tư của bà, thì đây là mấu chốt để ta hiểu

Trang 17

“tình yêu” được thể hiện trong tất cả các tác phẩm của Quỳnh Dao, thứ tình yêu lãng mạn, say đắm, bất chấp…thứ tình yêu làm rung động không biết bao nhiêu trái tim người đọc, nhưng cũng ngần ấy số người lên án nó, dè bỉu nó

Nhưng ngoài chủ đề “tình yêu” xuyên suốt các tác phẩm, tiểu sử của bà cũng đã

đã hé lộ cho ta thấy một số đặc điểm trong văn nghiệp, văn chương của bà như sau:

Thứ nhất Quỳnh Dao có năng khiếu văn chương và năng khiếu ấy bộc lộ từ rất sớm Như đã tóm tắt trong mục “Thời thơ ấu”, 9 tuổi Quỳnh Dao đã viết truyện ngắn

“Tuổi trẻ đáng thương” được đăng trên trang nhi đồng của tờ “Đại công báo” Thượng Hải Ở tuổi lên chín, đây là một thành công tuyệt vời, báo hiệu một sự nghiệp văn chương sáng lạn Giáo sư Nguyễn Văn Hạnh đã dựa theo Hégel phân biệt năng lực văn học nghệ thuật thành hai loại là tài năng (talent) và thiên tài (génie) “Nếu như tài năng chỉ là “khả năng đặc biệt” có thể đào tạo, rèn luyện, thì thiên tài là năng lực có tính chất bẩm sinh, “trời cho””(Nguyễn Văn Hạnh, Chuyện văn chuyện đời, NXB.Giáo dục

2004, trang 126) Ở Quỳnh Dao ta thấy hai yếu tố này đều hội đủ Cái thiên tài (génie), cái chất văn chương bẩm sinh của Quỳnh Dao chính là các yếu tố di truyền từ người cha là giáo sư sử học và người mẹ là một tiểu thư giỏi cả cầm, kỳ, thi, họa; khi đã có chồng vẫn còn học lớp hội hoạ ở Bắc Kinh Còn cái tài năng (talent), cái khả năng đặc biệt có thể rèn luyện thì bé Quỳnh Dao đã liên tục rèn luyện khi dự thính các lớp do

mẹ bà dạy văn; mà mẹ bà lại dạy văn suốt trên đường chạy giặc, khi thì ở trung học Nam Hoa, Hồ Nam, khi thì ở trung học Lô Nam, Trùng Khánh Ở đâu bà cũng được mang vào lớp, cùng tham gia phát biểu với các bạn lớn tuổi trong lớp Bảy tuổi đã được mẹ dạy Lý Bạch, Đổ Phủ, Bạch Cư Dị…Điều này giải thích tại sao Quỳnh Dao viết nhanh, viết nhiều Dù văn của bà có bị gọi là văn chương bình dân (popular literature), cận văn học (sub literature), thì tác phẩm của bà vẫn được đón đọc tại nhiều nơi trên thế giới như Đài Loan, Hồng Kông, Trung Quốc, Singapor, Malayia, Việt Nam…một điều mà nhà văn nào cũng mơ ước

Thứ hai, tư tưởng “Định mệnh” đã sớm định hình nơi Quỳnh Dao Trên suốt quảng đường chạy giặc thời thơ ấu, cô bé Quỳnh Dao đã chứng kiến vô số sự việc đã diễn biến hoặc có những kết cục lạ lùng, không theo bất cứ lôgíc nào, khó lòng tưởng tượng nổi Nó khiến cho người ta tin rằng có sự sắp xếp của một bàn tay vô hình nào

đó Những sự kiện nổi bật theo thứ tự thời gian cuộc hành trình chạy loạn của Quỳnh Dao là:

Khi cả gia đình Quỳnh Dao đang trốn trong khe núi Hồ Nam, bị lính Nhật phát hiện ra Cả nhà tưởng sắp bị xử bắn thì đột ngột viên sĩ quan Nhật tha cho Lý do là hắn trông thấy em trai Quỳnh Dao nên cảm động nhớ đến vợ con hắn

Lần trốn trong chòi củi, cũng ở Hồ Nam, cùng với gia đình chú của Quỳnh Dao Đứa nhỏ con chú bị ngộp nên khóc ré lên không cách nào bịt miệng được, nhưng khi quân Nhật đến gần đứa bé đột nhiên nín bặt Tai qua nạn khỏi

Trang 18

Trên đường chạy khỏi Hồ Nam, gia đình gặp phải tên Hán gian giả dạng nông dân làm gián điệp cho Nhật Ông nội Quỳnh Dao chống đối, tên Hán gian đã chĩa súng vào đầu ông; nhưng cuối cùng hắn buông tay bỏ đi, sau khi viết mấy chữ trên cát

“cùng người Trung Quốc với nhau”

Khi đến biên giới Quảng Tây, hai đứa em của Quỳnh Dao lạc mất giữa đoàn người chạy loạn đông đảo, trong cảnh đạn bom Năm ngày sau ở một địa điểm khác cách xa hàng trăm cây số, khi mà cả gia đình không còn hy vọng tìm kiếm thì lại tình

cờ tìm ra hai đứa nhỏ còn nguyên vẹn, mạnh khoẻ

Trong thời gian hai đứa nhỏ mất tích, Quỳnh Dao cùng cha mẹ cố dìm nhau xuống sông Đông An tự tử mà không cách nào chết được

Tại Quí Châu, tỉnh Quảng Tây khi Quỳnh Dao và mẹ bị sốt rét ác tính nằm chờ chết, thì bất ngờ cha Quỳnh Dao gặp học trò cũ Người này nhiệt tình chạy thầy, chạy thuốc cứu sống mẹ con Quỳnh Dao trong gang tấc

Khi gia đình Quỳnh Dao ở Quảng Châu chuẩn bị đáp tàu sang Đài Loan thì bị bọn kẻ cắp lấy mất hộ chiếu Cha Quỳnh Dao dán thông báo cầu may, không ngờ có người đem hộ chiếu trả lại

Đó chỉ là ghi lược ghi những sự kiện lớn trong vô số những điều bất ngờ lạ lùng khác Tất cả những thứ đó cộng với hai lần sau này cố tự tử mà không thành, đã hình thành tư tưởng “định mệnh” nơi Quỳnh Dao Tư tưởng có phần thụ động này có mặt trong hầu hết các tác phẩm Quỳnh Dao, điều mà không ít người chê trách là yếu đuối, buông xuôi, bạc nhược…Có phải chăng đây là lý do khiến Quỳnh Dao đầu hàng tình cảm của mình, bước vào cuộc đời Hàm Đào bất chấp tất cả!

Thứ ba, khuynh hướng lãng mạn sớm bộc lộ nơi Quỳnh Dao Ngay ở tuổi ấu thơ trên đường chạy giặc, cô bé Quỳnh Dao đã nhìn đời bằng con mắt đa cảm của mình Khi cô buồn thì cảnh vật cũng buồn theo cô, khi cô vui cảnh vật chung quanh đều tươi sáng Khi vô vọng trèo lên đỉnh núi Đại Phong Ảo, cô thấy đất đá lạnh lùng, rừng núi thâm u; nhưng khi đã lên tới đỉnh nhìn xuống thấy đích, thì cũng đất đá đó, cỏ cây đó mà sao núi non lại kỳ vĩ, cây cỏ lại xanh tươi! Còn hơn thế nữa, Quỳnh Dao có khuynh hướng tô hồng cuộc sống, cố lờ đi mặt xấu, thổi phồng mặt tốt lên Điển hình

là trong vụ hai đứa em bị thất lạc, thủ phạm chính là hai nông dân gánh thuê vô lương tâm đã bỏ bọn trẻ giữa đường, nhưng Quỳnh Dao không một lời kết án hai kẻ nhẫn tâm này; trái lại Đại đội trưởng Tăng là người có công tìm ra hai đứa trẻ đã được Quỳnh Dao hết lời ca ngợi, mô tả ông dũng cảm, hiên ngang, nghĩa hiệp chẳng khác nào hảo hán Lương Sơn Bạt, sau này còn đưa cả hình tượng ông vào trong tác phẩm của mình Một ví dụ khác cho cái lối “tô hồng” này là khi gia đình Quỳnh Dao bị mất

hộ chiếu đi Đài Loan, Quỳnh Dao tỏ lòng cảm kích biết ơn khi có người đem trả lại giấy tờ, nhưng lại không một lời phẩn nộ lên án bọn móc túi đã lột sạch tiền bạc, của cải của gia đình bà Nhìn đời kiểu đó nó có cái lợi là giúp ta lược bỏ những khía cạnh

Trang 19

nặng nề trong cuộc sống, để mà vui, để mà sống Nhưng khi đem lối “tô hồng” lãng mạn đó vào trong tác phẩm, Quỳnh Dao đã vô tình khiến truyện của bà trở nên đơn điệu, điều mà người ta chê là “không có tuyến nhân vật phản diện”, không có kẻ xấu làm đối trọng với người tốt, không có cái ác để tôn vinh cái thiện Trong tác phẩm Quỳnh Dao không có kẻ xấu, chỉ có kẻ không được tốt vì lý do này nọ; còn kẻ tốt thì tốt từ đầu đến cuối, không có hoàn cảnh nào hoặc đột biến tâm lý nào biến một kẻ tốt thành xấu, tạo bước ngoặc để nâng tầm tác phẩm lên vượt quá cái mức “văn chương bình dân” mà người ta gán cho truyện của bà

-Thứ tư, việc đem thơ vào truyện, là một đặc điểm của văn chương Quỳnh Dao Hầu hết tác phẩm của bà đều có xen vào đôi bài, hoặc thậm chí là nhiều bài thơ Bài nào cũng hay, cũng ý nghĩa, được đưa vào đúng chỗ, rất phù hợp với nội dung câu chuyện đang diễn biến Tiếc là không có ghi chú nào cho biết là thơ của bà hay là mượn thơ của tác giả khác Nếu đúng là thơ của Quỳnh Dao thì xem ra tài làm thơ của

bà chẳng kém gì tài viết văn, thậm chí còn trội hơn Những cũng không ít độc giả phê phán việc bà đem thơ vào truyện là màu mè, là cải lương…Để biện hộ cho Quỳnh Dao

ở chỗ này, ta có thể nói rằng việc ứng tác thơ nhân một sự kiện nào đó là một đặc tính của bà, mà trước hết là đặc tính của người Trung Quốc Trong bộ sách kinh điển của Nho gia gồm 9 cuốn, tứ thư và ngũ kinh, thì có một cuốn là Kinh Thi Cuốn sách sưu tầm hầu hết những bài ca dao hay trước đó Mà ca dao là gì nếu không phải là thơ ca truyền miệng của người dân dã Tất cả những điều đó chứng tỏ rằng ở Trung Quốc thơ

ca có trước văn tự, hiện diện khắp mọi nơi và đựơc trọng vọng đến mức trở thành

“Kinh” Thực vậy, ở Trung Quốc đâu đâu cũng có thơ, chẳng những thơ trong sách vở

mà thơ còn được dán ngoài phố, thơ trên đồ sứ, thơ trên các bức hoạ, thư pháp cũng là thơ; thơ không những vịnh cảnh, tả tình mà thơ còn để bày tỏ cái chí lớn của người ta (thi dĩ ngôn chí)…Riêng Quỳnh Dao, ngay khi mới sinh đã được cha bà làm tặng một bài thơ:

Một nam một nữ cùng sinh hạ, Rượu mừng chưa nhắm đã say lòng Mai này hai đứa xây gia thất Được chức cha rồi, thêm chức ông!

Sáu tuổi Quỳnh Dao đã bình thơ trong lớp dạy văn của mẹ, bảy tuổi bà đã được dạy thơ của các thi hào Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị…Trên đường chạy giặc, khi cả nhà cùng gặm cái đầu heo nấu chưa được chín, bà ngâm thơ:

Anh bán son, tôi bán phấn Đến Lô Châu xài hết vốn Mua đầu heo cả nhà ngốn Ngốn không trôi, sức lại tốn

Trang 20

Đành vứt xuống, cho sông ngốn!

Khi nhặt củi trong rừng, bà cũng hát:

Đứa em tôi thèm ngủ Đôi mắt khẽ khép rồi Đôi mắt nhỏ khép rồi Nào, ngủ ngon em tôi

Mãi sau này ở tuổi ngoài bốn mươi, khi đứng với người yêu Hàm Đào trong khu rừng ngô đồng bạt ngàn, nhìn lá rơi lả tả, Quỳnh Dao lại xúc động ngâm nga:

Ngô đồng trong mưa ngâu

………

Cây ngô đồng rũ lá!

Cây ngô đồng đứng đó Dẫu mưa trưa dầm dề,

nọ Có người triết lý mà không biết rằng mình đang triết lý; có người biết mình đang triết lý mà không có cách nào nói nó ra cho tường tận được; chỉ có một ít triết gia mới

có khả năng lập thuyết cho triết lý của mình Quỳnh Dao trong đời mình bà cũng đã từng triết lý Ví dụ, như vừa nêu ở mục trên, sau hai lần tự tử không thành, bà đã ngán ngẫm triết lý “…tôi chẳng có chút chủ quyền nào cả! Đã không có quyền quyết định mình có nên sống không, thì cũng không có quyền quyết định mình có phải chết hay không! Ba mẹ nắm quyền sinh, ông trời nắm quyền tử, hay nắm cả quyền sinh nữa chăng!” Về tầm cỡ thì đây là triết lý “phi lý”, cái cốt lõi để A.Camus, J.Sartre…vận dụng thành triết học hiện sinh nổi đình, nổi đám Còn Quỳnh Dao, bà cũng đã đưa triết

lý này vào tác phẩm của bà, rõ nét nhất là trong tiểu thuyết “Song ngoại” Xưa nay người ta vẫn thường vận dụng văn chương để thể hiện triết lý như thế; triết lý càng sâu sắc, văn chương càng cao giá Nhưng có điều nghịch lý là, triết học bản chất gần gũi với toán học hơn, nó đòi hỏi suy lý hơn là cảm tính Mà Quỳnh Dao, như bà tự nhận là

“dốt toán”, ít luận lý nên đã không thành công khi đưa triết lý vào văn chương Thay vì khái quát cái triết lý “phi lý” ấy lên một tầm cao hơn, trong “Song ngoại” Quỳnh Dao lại hạ giá cái triết lý ấy xuống: Chỉ vì “dốt toán”, tự tử không thành rồi kêu lên rằng

Trang 21

đời là phi lý; chỉ vì thi rớt đại học, tự tử không thành rồi than thở đời sao mà phi lý! Cái không thành công của Quỳnh Dao là ở chỗ đó Rải rác trong các tác phẩm có lúc

bà triết lý về tình yêu, có lúc triết lý về định mệnh nhưng nói chung đều không vượt quá cái giọng điệu tình cảm mượt mà suốt cả truyện Người ta bảo văn chương Quỳnh Dao không có chất triết lý là vì thế

Thứ sáu, tiểu sử Quỳnh Dao cho biết gì về văn phong, bút pháp của bà? Có Chính trong hồi ký của mình, Quỳnh Dao thừa nhận mình chỉ là người "kể chuyện” Điều này có gì lạ, khi mà xưa nay các thể loại truyện dài, truyện ngắn bà đang viết đều được xếp vào loại tác phẩm “tự sự”, loại “kể chuyện”? Đúng vậy, viết truyện dài, truyện ngắn tức là ta đang làm cái công việc kể chuyện Nhưng trong văn chương điều quan trọng là “cách kể”, nó hình thành văn phong, bút pháp riêng của tác giả, quyết định chất nghệ thuật của tác phẩm Chưa biết bà chọn cách “kể” nào, nhưng đọc qua hồi ký của bà, cái đoạn bà tranh luận với người chồng trước về văn chương, ta có thể hình dung ra “cách kể chuyện” hứa hẹn nhiều tranh cải của bà Nguyên văn cuộc tranh luận đó như sau:

“Đây là lá thư đặt bài đầu tiên tôi nhận được trong đời! Tôi đem thư cho Khánh Quân xem, mà lòng khắp khởi Không ngờ, “đọc xong thư, Khánh Quân buồn rười rượi, chỉ vì anh thường nhận xét truyện tôi viết không có “chiều sâu” Những tác phẩm không có chiều sâu như thế sao lại có người đặt bài? Tức thì anh tìm đọc lại hết những truyện của tôi đã được đăng Đọc xong, anh vứt tạp chí lên bàn, buông một câu:

-Chẳng qua em đang làm cái việc kể chuyện đấy thôi!

-Vâng, em công nhận, thì em đang kể chuyện đấy!

-Cả đến câu chuyện em kể cũng nhạt nhẽo!-Anh lại phê bình

-Vâng Em thừa nhận thế Nhưng em sẽ tiến bộ dần dần!

-Nếu như cả ngày em chỉ viết những thứ không có chiều sâu này, thì cả đời em cũng không tiến bộ được!-Anh ấy nói hầm hồ-Nếu như chưa gì em đã tự mãn thì sẽ hỏng hết! Rồi em sẽ rơi vào cái vòng lẩn quẩn thường tình, không làm sao mà thoát được!

Tôi bị chạm tự ái, ngước đầu nhìn anh, nói dỗi:

-Thì anh cứ lo viết những tác phẩm bất hủ, nổi danh, lưu truyền hậu thế của anh đi, để tôi viết những câu chuyện không có chiều sâu của tôi! Tôi chỉ muốn kể chuyện, thích kể chuyện Tôi bất tài, thiếu học Viết được, có chỗ đăng là tôi thấy thoả mãn rồi!” (Hồi ký quỳnh Dao, trang 260-261)

Sở dĩ phải trích nguyên văn bởi vì tự thân đoạn đối thoại này đã nói lên nhiều điều về văn phong, bút pháp Quỳnh Dao Như đã nói ở các đoạn trên, truyện Quỳnh Dao có đủ yếu tố tư tưởng, triết luận – tư tưởng định mệnh, triết luận phi lý- tại sao bị

Trang 22

gọi là thiếu “chiều sâu”? Chỉ cần đọc qua một vài tiểu thuyết Quỳnh Dao ta sẽ dễ dàng nhận ra ngay văn phong, bút pháp của bà- Đó là “cách kể chuyện” truyền thống, kể có đầu có đuôi, có phân tích diễn giảng, tỉ mỉ chi tiết Được ví như lối vẽ tranh chân phương, vẽ cây phải có cành, cành phải có lá có hoa, hoa phải sắc đỏ nhuỵ vàng, đủ cả; không ít người thích loại tranh rõ ràng, sáng sủa này Nhưng nhiều người lại thích kiểu hội hoạ có mảng sáng mảng tối, có nét nhoè nét rõ, có chỗ thấy chỗ khuất; loại ngôn từ nghệ thuật được ví như kiểu hội hoạ này Những mảng tối chỗ khuất chính là những khoảng lặng trong “cách kể chuyện” nghệ thuật, những chỗ “ý tại ngôn ngoại” cần thiết để tạo chiều sâu cho tác phẩm Tóm lại, chiều sâu của một tác phẩm không phải chỉ ở tư tưởng hay triết lý, mà còn ở cái cách ta nguỵ trang những tư tưởng, triết

lý đó đi, để cho độc giả tự khám phá ra nó rồi nhâm nhi thưởng thức nó Nghệ thuật của tác phẩm nằm ở chỗ này, tài năng của tác giả cũng thể hiện ở chỗ này Đây là cái

“chiều sâu” mà văn chương Quỳnh Dao còn thiếu như đoạn trích trên kia nói Vậy,tại sao ta nói Quỳnh Dao có năng khiếu văn chương bẩm sinh? Theo Gs.Ts Nguyễn Văn Hạnh thì:

“Năng khiếu, tài năng bẩm sinh chỉ là yếu tố đầu tiên, yếu tố dù là quan trọng bậc nhất, vẫn là yếu tố Cần nhưng chưa Đủ để tạo nên tác phẩm văn chương có giá trị cao Muốn đạt được thành công, muốn sáng tác lâu dài, ngoài tài năng bẩm sinh, còn phải có trình độ văn hoá, có sự trải nghiệm và vốn sống, phải học nghề và công phu hành nghề, làm việc chu đáo và tỉ mỉ với tác phẩm” (Nguyễn Văn Hạnh (2004), Chuyện văn chuyện đời, NXB.Giáo Dục, trang 128)

Gs.Ts.Lê Ngọc Trà cũng nói:

“Đã có cuộc đời là có văn học, cũng như hễ có đất, có nắng, có nước là có cây

cỏ Nhưng muốn cho cây cao bóng cả, muốn cho hoa thơm rực rỡ, muốn cho trái lớn

mà vị vẫn đậm đà thì không thể trông chờ vào khả năng tự nhiên của cây của đất” (Lê Ngọc Trà (2007), Văn chương, thẩm mỹ và văn hóa, NXB.Giáo Dục, trang 48-49)

Tiếc rằng Quỳnh Dao thành công quá sớm với tác phẩm “Song ngoại” nhờ vào tài năng bẩm sinh và vốn sống tự thân của bà – vì “Song ngoại” gần như là cuốn tự truyện - rồi đơn hàng tới tấp từ phía chủ bút Hàm Đào khiến bà thấy không cần thiết cũng như không còn kịp để “học nghề”, “chu đáo hành nghề”, “làm việc chu đáo, tỉ mỉ” nữa Có khi Quỳnh Dao viết hai tiểu thuyết cùng một lúc- “Hoa thố ti” và “Tịch dương mấy độ”- đăng đều kỳ trên tạp chí Hoàng Quán (Nhật ký Huỳnh Dao, trang 303) Thế là văn phong, bút pháp Quỳnh Dao đã được định hình Người chê bai, dè bỉu

nó là người chồng trước của bà, người cổ vũ nó, giúp định hình nó là Hàm Đào, người chồng sau của bà Cũng từ đó, khi nói tới văn chương Quỳnh Dao thì luôn có hai luồng ý kiến khen, chê đối lập nhau, không bao giờ dứt

1.2.SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG

1.2.1.QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC

Trang 23

Như đã nói, Quỳnh Dao bộc lộ năng khiếu văn chương từ rất sớm

-Năm 9 tuổi đã viết truyện ngắn đầu tiên Truyện lấy cảm hứng từ chính cuộc sống khó khăn khi Quỳnh Dao sống với cha mẹ ở Thượng Hải Mới 9 tuổi cô bé Quỳnh Dao đã trở thành bảo mẫu cho ba đứa em Vừa đi học vừa trông chừng hai đứa lớn nghịch ngợm quậy phá ở trường, về nhà thì lo chăm sóc đứa nhỏ còn ẵm ngửa; ngủ không đủ chỗ, sưởi không đủ ấm; thèm một gói hạt dẻ cũng không có tiền mua, thích chơi nhảy dây cũng không có được sợi dây thun… Có lẽ đó cũng là cảnh ngộ bình thường của hàng vạn trẻ em Trung Quốc vào thời kỳ chiến tranh gian khổ lúc bấy giờ, nhưng với năng khiếu bẩm sinh Quỳnh Dao, tuy bằng giọng điệu của một đứa trẻ thơ,

đã biến nó thành một truyện ngắn làm cảm động lòng người và đã được đăng trên tờ

“Đại công báo”Thượng Hải

Đối với một đứa trẻ 9 tuổi, đây quả là một thành công lớn, khích lệ niềm đam

mê viết văn nơi Quỳnh Dao Nên liền sau đó, lấy cảm hứng từ lần gia đình tự biên tự diễn vở “Khoai lang chín rồi!” trên đường chạy giặc cốt để kiếm tiền, và lần mới đây được đi xem dì Tư diễn vở “Người Bắc Kinh” của Tào Ngu, Quỳnh Dao bắt tay viết liền mấy vở kịch, nhưng đều không thành công Dù sao đây cũng là những nỗ lực đáng

kể của cô bé 9 tuổi, giúp định hướng cô chuyên tâm vào việc viết văn xuôi tự sự sau này

Năm 16 tuổi, khi đang học bậc trung học, với một giọng văn thành thục, Quỳnh Dao viết truyện ngắn “Bóng mây” được đăng trên tạp chí “Thần Quang”, Đài Loan

Năm 20 tuổi, Quỳnh Dao chính thức tuyên bố “viết văn” sau khi thi rớt đại học lần thứ hai Đây được xem là thời gian thử nghiệm, bà viết nhiều truyện ngắn, truyện vừa gởi đi nhiều nơi, nhưng bản thảo cũng bị gởi trả về rất nhiều Sau khi lấy chồng năm 21 tuổi, Quỳnh Dao vẫn tiếp tục viết một cách nghiệp dư, vừa nội trợ vừa nuôi con vừa viết văn Theo tác giả Nguyễn Thanh Quỳnh Trang (Khóa luận “Quỳnh Dao

và Song ngoại, tác giả-tác phẩm-lời bình”, 2006, trang 36) thì trong giai đoạn này, từ 20-25 tuổi, trước khi tác phẩm “Song ngoại” ra đời, “bà đã có hơn 200 tác phẩm được đăng tải” Con số lớn này chưa được tài liệu thứ hai nào thẩm định mức độ chính xác của nó, nhưng chính Quỳnh Dao cho biết trong hồi ký “Chuyện đời tôi” là bà đã viết rất nhiều trong giai đoạn này Trong số đó có những truyện ngắn hay như tập truyện

“Hạnh vân thảo” được xuất bản sau này, và các truyện “Mộng”, “Ghét”, “Cái nốt ruồi”, “Chiếc lọ cổ” mà dịch giả Vi Huyền Đắc đã dịch giới thiệu trong “Tạp chí Văn học” số 68-1966 ở Sài Gòn

Năm 25 tuổi là năm bản lề trong cuộc đời Quỳnh Dao Đó là năm bà ly dị người chồng cũ, bắt đầu có quan hệ với Bành Hàm Đào người sẽ trở thành người chồng thứ hai của bà, và cũng là năm bà cho ra đời tác phẩm “Song ngoại” nổi tiếng, bắt đầu cho

sự nghiệp văn chương chuyên nghiệp của bà

Trang 24

Được đà bà viết tiếp tập truyện “Sáu giấc mộng”, tiểu thuyết “Mưa bụi mịt mùng”, “Thố ty hoa”, “Tịch dương mấy độ”… Và liên tục từ 1963 đến 2004, 40 năm, năm nào bà cũng có một vài đầu sách xuất bản; tổng số tác phẩm được liệt kê chính thức là 54, trung bình gần 1,5 tác phẩm mỗi năm

1.2.2 ĐẶC THÙ VĂN CHƯƠNG QUỲNH DAO

Như đã làm rõ ở mục trước, từ tiểu sử của Quỳnh Dao ta đã thấy được đâu là quan điểm của bà về tình yêu, đâu là tư tưởng, triết lý chủ đạo chi phối cuộc đời bà, cộng với quan điểm sáng tác nhất quán bà đã tuân thủ, tất cả những thứ đó đã kết hợp nhuần nhuyễn tạo nên một “Văn chương Quỳnh Dao” đặc thù, không thể trộn lẫn vào đâu được

Thực vậy, với CHỦ ĐỀ TÌNH YÊU xuyên suốt các tác phẩm của bà, ta thấy TƯ TƯỞNG ĐỊNH MỆNH đã khiến nhân vật yêu đương trong tác phẩm Quỳnh Dao phản ứng lại bằng TRIẾT LUẬN PHI LÝ, dẫn đến thứ tình yêu “hiện sinh” hết mình, cuồng nhiệt, bất chấp…được thể hiện dưới nhãn quan LÃNG MẠN, tô hồng khía cạnh cực đoan của ái tình bằng VĂN PHONG KỂ CHUYỆN mà bà tự thừa nhận, và với quan

điểm “Tôi không thích viết những điều khó hiểu Văn học là công cụ biểu lộ tư tưởng, nếu viết một tác phẩm mà chỉ để cho mình hiểu thôi, thì việc bày tỏ tư tưởng cũng

chẳng đem lại lợi ích gì”, nên bà đã sử dụng một BÚT PHÁP DÀI DÒNG, nặng về

phân tích dẫn giải Tất cả chuỗi quan hệ hữu cơ ấy hình thành nên “Văn chương Quỳnh Dao” không thể trộn lẫn

Rồi cái sở trường của Quỳnh Dao, cái sở trường “tự truyện” được chứng minh rất rõ qua hai thành công có tính bản lề cho sự nghiệp của bà là truyện ngắn “Tuổi trẻ đáng thương” và tiểu thuyết “Song ngoại”, cũng chính là cái sở đoản của bà, nó khiến

bà khó thâm nhập trọn vẹn vào cái không khí do chính bà hư cấu nên trong các tác phấm khác Nên dù, bối cảnh có khác đi, nhân vật có khác đi, diễn biến có khác đi thì hơi hướng Quỳnh Dao vẫn phảng phất đâu đó

Tóm lại, “văn chương Quỳnh Dao” đã được định hình và bất biến trong suốt cuộc đời sáng tác, xuyên suốt các tác phẩm của bà như chính bà thừa nhận “Tôi xin thú thật, không thể làm hơn thế được Hiện nay tư tưởng và thể nghiệm cuộc sống của tôi chỉ có bấy nhiêu, tôi chỉ biết chân thành đem cống hiến nó cho người đọc” (Đào Trường Phúc, Hiện tượng Quỳnh Dao, NXB.Khai Hoá, 1973, trang 26), một loại “văn chương Quỳnh Dao” đặc thù mà luôn phân chia độc giả thành hai tuyến đối lập như đã nói ở mục trên:

Một số người ủng hộ quan điểm người chồng trước của bà phê phán văn chương Quỳnh Dao thiếu chiều sâu, diễn giải dài dòng không dành cơ hội cho độc giả cùng tham gia khám phá, thưởng thức

Một số đông khác đồng quan điểm với Hàm Đào, người chồng sau của bà, thích loại văn chương lãng mạn mượt mà, dễ đọc, dễ hiểu của bà

Trang 25

Ở đây, người viết xin được mở ngoặc giải thích cho loại “Tình yêu hiện sinh” vừa được dùng ở đầu mục này, đúng ra là để giải thích cho tính từ “hiện sinh” mà người viết cho là phù hợp nhất với loại tình yêu cuồng nhiệt, hết mình, bất chấp được thể hiện trong các tác phẩm Quỳnh Dao Theo tác giả Đào Trường Phúc, người có bài nghiên cứu Quỳnh Dao thấu đáo và công phu nhất từ trước đến nay ở Việt Nam, thì tình yêu trong tiểu thuyết Quỳnh Dao “chính là bản chất của tình yêu, một bản chất thuần nhất, bất biến mà tác giả định nghĩa một cách giản dị bằng sự đam mê và lòng chung thuỷ”( Đào Trường Phúc, Hiện tượng Quỳnh Dao, NXB.Khai Hoá 1973, trang 29) Liệu “sự đam mê” và “lòng chung thuỷ” có thể đứng chung mà bổ nghĩa cho tình yêu được chăng? Khi mà hai khái niệm trên khác nhau một trời một vực: một đằng với đam mê là cảm tính, sôi động, chóng qua; một đằng với lòng thuỷ chung là lí trí, sâu lắng và liền chặt với thời gian Sự đam mê tự phát khi người ta đang đeo đuổi tình yêu, trái lại lòng chung thuỷ tiềm tàng lúc người ta đã sở hữu nó Trong tác phẩm Quỳnh Dao lắm chỗ tình yêu đam mê đã xâm hại tới đạo thuỷ chung, đẩy tình yêu tới chỗ quá

đà, vượt quá cái lương tri của một con người bình thường Ví dụ trong một tác phẩm mới sau này của Quỳnh Dao, tiểu thuyết “Tân Nguyệt cách cách”, thì quận chúa Tân Nguyệt đã đam mê võ tướng Nô Đạt Hải đến mức bất chấp việc cô ta chỉ bằng tuổi con gái ông, bất chấp việc đang tá túc trong nhà ông, chịu ơn bảo bọc của gia đình vợ con ông ta; khi ông trốn chạy tình yêu ra chiến trường, cô đã tìm đến trao thân để chứng tỏ tình yêu đam mê của mình! Và cũng như vậy Nô Đạt Hải không thắng được đam mê,

đã buông thả theo sức quyến rũ của ái tình, phản bội vợ con, dẫn đến kết cục chết thảm giữa chiến trường Như thế sao nói được sự đam mê và lòng chung thuỷ cùng lúc có thể là bản chất của tình yêu? Vậy bản chất của tình yêu trong tác phẩm Quỳnh Dao là gì? Nếu triết luận phi lý dẫn đến triết học hiện sinh được biểu hiện dưới nhiều quan điểm khác nhau, từ quan điểm chính thống, nghiêm túc của J.Sartre đến quan điểm hiện sinh duy vật, sống là hưởng thụ của một bộ phận giới trẻ Sài Gòn trước 1975, thì

ta phải nói rằng triết luận phi lý của Quỳnh Dao đã đẩy nhân vật tiểu thuyết của bà đến chỗ thể hiện một quan điểm hiện sinh duy tâm triệt để, bằng thú tình yêu cuồng nhiệt, hết mình, bất chất tất cả như nhân vật Tân Nguyệt này Đó chính là thứ tình yêu hiện sinh mà người viết đã đề cập đến

1.2.3 ĐỀ TÀI TRONG TÁC PHẨM QUỲNH DAO

Quỳnh Dao chính thức gác bút năm 2004 Những tác phẩm của bà chính thức được thống kê lên đến con số 54 tác phẩm, số liệu này được lấy từ trang web tiếng Hoa http://www.40zw.cn/chiungyao.htlm, gồm có các tập truyện ngắn, truyện vừa, nhiều tiểu thuyết và một cuốn hồi ký Còn tại sao nói riêng ở Việt Nam có hơn 60 đầu sách của bà thì đó chỉ là con số phỏng đoán, bao gồm cả những đầu sách in chồng chéo bằng các tựa khác nhau và sách giả mạo Quỳnh Dao Điều này sẽ rõ ở phần sau

Tuy viết nhiều là thế nhưng ta dễ dàng nhận ra nét đặc trưng xuyên suốt các tác phẩm Quỳnh Dao, bà ca ngợi tình yêu, dù tình yêu ấy có dẫn đến kết cục nào chăng

Trang 26

nữa, tròn vẹn hay đứt đoạn chia lìa, thì nhân vật của bà vẫn tràn trề hạnh phúc khi yêu

và được yêu Độ dài hay ngắn của tác phẩm Quỳnh Dao không hề làm mất đi nét đặc trưng này, nếu có chút nào khác biệt giữa các tác phẩm của bà là do đề tài bà chọn cho mỗi truyện

Thực vậy, nhìn qua đầu sách ta thấy, Quỳnh Dao khai thác chủ đề tình yêu trên nhiều đề tài khác nhau: tình yêu trong giới trí thức thành thị, tình yêu trong giới sinh viên học sinh; tình yêu lấy cảm hứng từ truyện dân gian, truyện truyền kỳ; tình yêu xoay quanh các nhân vật lịch sử…Nhưng nói chung, ta có thể phân loại “đề tài” truyện Quỳnh Dao theo hai nhóm chính

Chuyện tình hiện đại, bao gồm những tác phẩm lấy bối cảnh là xã hội Đài Loan đương đại Tiểu thuyết “Song ngoại” là tác phẩm điển hình của nhóm này “Song ngoại” sở dĩ thành công vang dội là vì Quỳnh Dao đã viết về chính cuộc đời bà, một cô gái đa sầu đa cảm, lắm suy tư, từng trải nhiều trong cuộc sống so với người cùng trang lứa, và nhất là chính bà đã trải nghiệm qua hai mối tình lãng mạn và đầy sóng gió Với khả năng bẩm sinh, bà cứ thế mà mô tả cuộc sống quanh bà, diễn tả những cảm xúc thật từ đáy lòng mình, ghi lại những suy tư nóng hổi từ cuộc sống, về tình người Tất

cả đều thật và sự thật là cái lôgic thuyết phục nhất để đi vào lòng người, nên thật dễ hiểu khi “Song ngoại” vừa ra đời đã chinh phục hầu hết trái tim bạn đọc

Đó là cái đà để bà khai thác mảng đề tài này, và nó đã trở thành mảng đề tài chính trong sự nghiệp văn chương của bà Đa số tác phẩm Quỳnh Dao thuộc đề tài này

đã được độc giả đón đọc

Quỳnh Dao thành công trong mảng đề tài này-nói cụ thể là đề tài tình yêu trong giới thanh niên trí thức tiểu tư sản- là dễ hiểu, bởi vì dù có phải hư cấu đi chăng nữa thì đó vẫn chính là xã hội bà đang sống, bầu khí bà đang thở và là tình cảm tâm tư của những người đang sống quanh bà Chính Quỳnh Dao cũng biết lợi thế của bà trong mảng đề tài này Có lần được phỏng vấn về vấn đề sáng tác, bà đã cho biết “kinh nghiệm nếu không quan trọng hơn tri thức thì ít ra nó cũng đóng vai trò quan trọng tương đương Không có một tác phẩm nào thành công mà không dựa vào kinh nghiệm của tác giả” (Đào Trường Phúc, Hiện tượng Quỳnh Dao, NXB.Khai Hoá, 1973, trang 25) Tuy nhiên, việc gì cũng có hai mặt của nó Dễ viết nên bà viết nhanh viết nhiều Đọc một truyện thấy hay, đọc hai truyện, ba truyện… những đọc giả tinh ý bắt đầu nhận ra được những chỗ trùng lắp Người đọc bình dân thì thưởng thức cốt truyện, hào hứng với những tình tiết éo le, gây cấn, những điều mà người thông minh như tác giả Quỳnh Dao có thể biến báo, nguỵ trang được Nhưng với người đọc khó tính hơn, những người thích cái “phần hồn” của truyện thì quả là kinh nghiệm sống của riêng một tác giả không thể nào đủ để san sẻ cho mấy chục đầu sách được!

Chuyện tình dân gian, bao gồm những tác phẩm lấy cảm hứng từ các chuyện tình trong dân gian, trong truyện truyền kỳ, dã sử…nghĩa là những truyện có độ lùi về

Trang 27

mặt thời gian, không gian, những thứ mà chính bà đã “…ngần ngại trước những công trình truy tầm, nghiên cứu chắc rằng rất khó khăn, về một thời đại quá nhiều cách biệt” (Đào Trường Phúc, Hiện tượng Quỳnh Dao, NXB.Khai Hoá, 1973, trang18) Vậy tại sao Quỳnh Dao lại bước vào mảng đề tài này? Đó là vì:

Thứ nhất, tâm lý chung của các nhà văn là ai cũng muốn thử sức mình trên nhiều lĩnh vực, nhiều đề tài khác nhau Thời đại nào, quốc gia nào cũng có những nhà văn thành công rực rỡ khi chuyên tâm khai thác các đề tài từ vốn văn học dân gian như Tây du ký, Liêu trai chí dị…của Trung Quốc là một điển hình

Thứ hai, văn học dân gian Đài Loan phong phú và đóng vai trò quan trọng trong đời sống người dân, “Văn học truyền miệng ở Đài Loan có những giá trị riêng biệt, phản ánh sinh động và chân thực phong tục, tập quán của cư dân nguyên trú” (Hồ Sĩ Hiệp, Nghĩ về văn học truyền thống Đài Loan, trang 2) Nhưng vì nhiều lý do lịch sử mãi cho đến “Năm 1930, một người Đài Loan tên Lý Hiến Chương mới xuất bản “Tập văn học dân gian Đài Loan”, đây có thể coi là công trình văn hóa lớn…Sau đó, công trình “Lại Hoà và văn tự tập văn học Đài Loan” cũng được xuất bản đáp ứng yêu cầu việc nghiên cứu và giảng dạy ở Đài Loan về văn học dân gian trong nhà trường” (Hồ

Sĩ Hiệp, Nghĩ về văn học truyền thống Đài Loan, trang 3) Điều này chứng tỏ rằng Quỳnh Dao, sinh năm 1938, thuộc lớp tri thức trẻ đầu tiên được tiếp xúc với nguồn văn học dân gian sinh động và phong phú này của quê hương bà; cộng với việc thân phụ bà là giáo sư nghiên cứu lịch sử hẳn là những động cơ thúc đẩy bà bước vào mảng

đề tài này

Thứ ba, và cũng là lý do mạnh mẽ nhất, là áp lực tinh thần buộc bà phải chuyển hướng đề tài Đó là vì sau khi tác phẩm “Song ngoại” được xuất bản, và nhất là sau khi tiểu thuyết này được chuyển thể thành bộ phim “Song ngoại”, Quỳnh Dao đã bị chính gia đình cha mẹ bà phản ứng kịch liệt, vì lý do là bà đã phơi bày chuyện riêng tư gia đình mình lên sách báo, lên phim ảnh Nhìn vào niên biểu tác phẩm Quỳnh Dao từ

1963 lúc “Song ngoại” ra đời cho đến năm 1975, ta thấy một lỗ hổng trong sáng tác của bà Đó là năm 1970 không có tác phẩm nào của bà được xuất bản, nhưng sang năm

1971 bà lại có liền hai tập truyện ngắn “Thủy linh” và “Bạch hồ” thuộc mảng truyện tình dân gian được xuất bản, sau một loạt tác phẩm thuộc mảng truyện tình hiện đại

Để giải thích cho sự kiện này, tác giả Đào Trường Phúc đã dẫn lời Quỳnh Dao, nói rằng sau chuyến du lịch Châu Âu trong năm 1970, bà đã xúc động trước các phế tích của La Mã, Anh quốc, trước các ngôi giáo đường cổ kính của Tây Ban Nha, nên đã phát sinh niềm hoài cổ, dẫn tới việc viết các tác phẩm có tính truyền kỳ Lý do này rất thuyết phục, nhưng khi đọc hồi ký “Chuyện đời tôi” của Quỳnh Dao dù đã được viết rất chi tiết, ta không hề thấy bà nhắc tới chuyến du lịch này, thay vào đó chính là lúc

bà đang ở trong nước lo xây dựng căn nhà đầu tiên của riêng bà, và đó cũng chính là thời gian bà đang khốn đốn vì sự chỉ trích dữ dội của cha mẹ bà sau khi phim “Song ngoại” được trình chiếu lần đầu tiên tại Đài Loan, năm 1967 Đó mới là lý do chính để

Trang 28

bà chuyển hướng sáng tác khỏi thế giới quanh bà, đi xa hơn vào thế giới truyện tình

dân gian như ta đã thấy Rồi tiếp theo là thư từ độc giả gởi đến, yêu cầu thay đổi

“không khí” tiểu thuyết của bà, “Có nhiều bạn bảo cô, sao không đổi đề tài, vượt ra

ngoài khuôn khổ cũ.” (Đào Trường Phúc, Hiện tượng Quỳnh Dao, NXB.Khai

Hoá,1973, trang 26); tất cả những áp lực đó- từ phía gia đình, từ phía bạn đọc- đã

khiến Quỳnh Dao chuyển qua chuyển lại giữa hai mảng đề tài, từ chuyện tình hiện đại

qua chuyện tình dân gian và ngược lại, trong suốt quá trình sáng tác của bà

Nhưng nói cho cùng, việc bà thay đổi đề tài chẳng qua chỉ là việc thay đổi loại

nhân vật để thêm chút màu sắc cho truyện Thay vì là đôi trai gái trí thức thành thị, họ

trở thành ông quan huyện và con hồ ly trong truyện “Bạch hồ”; trở thành nữ hiệp và

kiếm khách trong “Thạch Lựu Hoa”; trở thành Quận chúa và võ tướng trong “Tân

Nguyệt Quận chúa”…Cái cốt lõi là họ xuất hiện để yêu nhau, diễn tả thứ tình yêu đặc

thù Quỳnh Dao, bằng loại “văn chương Quỳnh Dao” đặc thù và nhất quán như vừa nói

ở trên

1.3.TÁC PHẨM

Tên tác phẩm Quỳnh Dao được Việt dịch rất tùy tiện, tùy theo quan điểm riêng

của dịch giả; có khi một tác phẩm được nhiều dịch giả dịch thành nhiều bản khác

nhau, mang những tựa khác nhau rất dễ gây nhằm lẫn Ví dụ, tác phẩm “Đình viện

thâm thâm” được dịch giả Bành Dũng Tôn và Hồng Phong Việt dịch dưới tựa “Một

sáng mùa hè” do NXB Văn nghệ TP.Hồ Chí Minh xuất bản năm 2000; trong khi đó

bản dịch của dịch giả Xuân Du lại có tựa “Vườn rộng sân sâu” do NXB.Văn học xuất

bản cũng năm 2000; và trong bảng kê của sinh viên Nguyễn Thanh Quỳnh Trang

(Khóa luận Quỳnh Dao và “Song ngoại”, tác giả, tác phẩm, lời bình) năm 2006 lại ghi

tựa là “Hun hút khoảng sân nhà” Vì vậy trong các bảng kê sau đây người viết sẽ ghi

tên tác phẩm bằng nguyên văn tiếng Hoa, kèm theo âm Hán Việt và tên Việt dịch theo

sát nghĩa

1.3.1.THƯ MỤC TÁC PHẨM QUỲNH DAO

Gồm các tác phẩm đã được chính thức xuất bản tại Đài Loan

STT TÊN TÁC

NĂM XUẤT BẢN

Trang 29

STT TÊN TÁC

NĂM XUẤT BẢN

Trang 30

STT TÊN TÁC

NĂM XUẤT BẢN

28 月朦胧鸟朦胧 Nguyệt mông lung điểu

29 雁儿在林梢 Nhạn nhi tại lâm sao Cánh nhạn rừng sâu 1977

Trang 31

STT TÊN TÁC

NĂM XUẤT BẢN

36 燃烧吧!火鸟 Nhiên thiêu ba! hoả điểu Cháy lên đi, chim lửa 1982

38 匆匆太匆匆 Thông thông thái thông

39 失火的天堂 Thất hoả đích thiên đường Thiên đường bốc lửa 1983

42 剪不断的乡愁 Tiễn bất đoạn đích hương

45 青青河边草 Thanh thanh hà biên thảo Cỏ xanh bên suối 1992

Trang 32

STT TÊN TÁC

NĂM XUẤT BẢN

52 却上心头 Khước thượng tâm đầu Sầu lại ngập lòng 1999

54 环珠格格续集 Hoàn Châu các các tục

tập

Công Chúa Hoàn Châu tiếp

Ghi chú: Các dấu (*) chỉ tập truyện ngắn

1.3.2.TÁC PHẨM QUỲNH DAO Ở VIỆT NAM

Như ta đã biết, trước 1975 truyện của Quỳnh Dao chỉ hiện diện ở miền Nam

Việt Nam Ngay sau ngày giải phóng, số liệu điều tra chính thức tại bốn thư viện ở Sài

Gòn cho biết “có ít nhất 63 đầu sách mang tên Quỳnh Dao!”(Trần Trọng Đăng Đàn,

Văn hoá, văn nghệ…Nam Việt Nam 1954-1975, NXB.Thông tin, 1993, trang 528)

Trong khi đó con số tác phẩm chính xác của bà được xuất bản tại Đài Loan tính đến

1975 là 22 tác phẩm, gồm 5 tập truyện ngắn và 17 truyện dài Sở dĩ có sự chênh lệch

kỳ cục như vậy là vì các lý do:

Thứ nhất, một bản gốc có thể có nhiều bản dịch của các dịch giả khác nhau,

dưới những tựa đề khác nhau Ví dụ

Tác phẩm “Thuyền” có hai tựa là “Trôi theo dòng đời” do Bành Dũng Tôn và

Hồng Phong dịch, NXB.Khai Hoá; tựa thứ hai là “Thuyền” do Phương Quế dịch,

NXB.Trí Đăng

Tác phẩm “Hải âu phi xứ” có ba tựa là “Đừng đùa với ái tình” do Đặng Bỉnh

Chương và Từ Bội Ngọc dịch, NXB.Văn học; tựa thứ hai là “Hải âu phi xứ” do Liêu

Quốc Nhĩ dịch, NXB.Khai Hoá; bản thứ ba là “Đường về chim biển” do Thôi Tiêu

Nhiêu dịch, NXB.Hồng Loan

Thứ hai, có sự trộn lộn các truyện ngắn, xuất bản thành nhiều tập truyện có tựa

khác nhau Tác giả Đào Trường Phúc có nói rõ chỗ này như sau “Những truyện ngắn

của Quỳnh Dao không được xuất bản theo từng tập trong nguyên tác Phần lớn là

những truyện ngắn dịch lẻ loi, rời rạc và khi xuất bản trở thành những tuyển tập có tính

Trang 33

cách góp nhặt” (Đào Trường Phúc, Hiện tượng Quỳnh Dao, NXB.Khai Hoá 1973, trang 8) Vì vậy số đầu sách thì nhiều mà thực chất chỉ có bấy nhiêu truyện ngắn đổi chỗ qua lại, dưới những cái tựa khác nhau

Thứ ba, lý do khiến số đầu sách Quỳnh Dao ở miền Nam Việt Nam tăng nhiều

so với số đầu sách thực là vì nạn sách giả danh Quỳnh Dao Theo tác giả Đào Trường Phúc thì sách Quỳnh Dao bị giả ngay từ bản tiếng Hoa bên Đài Loan, Hồng Kông, Singapore…những nơi cũng có phong trào đọc Quỳnh Dao như ở Việt Nam, “ngay từ

1968, Quỳnh Dao đã phải đích thân sang Hồng Kông để điều tra việc người ta in trộm hoặc mạo danh tác phẩm của bà tại Hương Cảng và những nơi khác trong vùng Đông Nam Á.”( Đào Trường Phúc, Hiện tượng Quỳnh Dao NXB.Khai Hoá 1973, trang3)

Tất cả những lý do trên đã khiến đầu sách Quỳnh Dao ở miền Nam Việt Nam trước 1973 tăng cao gấp nhiều lần số tác phẩm thực tế, thực giả lẫn lộn Và điều này vẫn có thể tiếp tục xảy ra trong những lần tái bản và xuất bản mới hiện nay, không loại trừ khả năng in lại số sách giả mạo trong số 63 đầu sách nói trên Hiện nay trên mạng internet đang có 99 đầu truyện Quỳnh Dao, hai nhà phát hành sách lớn trên mạng là Vinabook và Fahasa cũng đang giới thiệu 56 đầu sách của bà Vì vậy trong việc sưu tầm xác minh số đầu sách thực của Quỳnh Dao có mặt ở Việt Nam, người viết thận trọng dựa vào các yếu tố sau đây:

1 Có đầu sách (Không phải là tựa truyện đăng trên mạng)

2 Có xuất xứ rõ ràng từ tựa gốc bằng tiếng Hoa hay phiên âm Hán Việt

3 Do dịch giả quen thuộc đáng tin cậy

4 Do các nhà xuất bản quen thuộc có tiếng tăm

-Danh sách các dịch giả thường dịch truyện Quỳnh Dao là: Vi Huyền Đắc, Hoàng Diễm Khanh, Liêu Quốc Nhĩ, Phương Quế, Vĩnh Điền, Bành Dũng Tôn, Hồng Phong, Xuân Hà, Xuân Du, Thôi Tiêu Nhiêu, Đằng Bỉnh Chương, Từ Ngọc Bội, Vương Quỳnh Ngân, Nguyễn Nguyên Bình, Lê Bầu, Phạm Hồng Hải…

-Danh sách các nhà xuất bản thường xuất bản truyện Quỳnh Dao trước 1975 là: Khai Hoá, Vàng Son, Trí Đăng, Đất lành, Văn học, Gió mới, Hương xa, Dạ Hương, Bình Minh, Tự Lực, Hồng Loan, Hàn Thuyên…Sau 1975 là nhà xuất bản: Hội Nhà văn, Văn nghệ TP.HCM, Văn học, Phụ nữ, Lao động, Trẻ…

Dưới đây là số đầu sách được xác định là tác phẩm thực của Quỳnh Dao được Việt dịch:

1 Song ngoại Song ngoại Liêu Quốc Nhĩ Hội Nhà văn 2003

Trang 34

STT TÊN TRUYỆN TÊN BẢN GỐC DỊCH GIẢ NHÀ XUẤT

2 Dòng sông ly biệt Yên vũ mông mông Liêu Quốc Nhĩ Hội Nhà văn 2010

3 Cánh hoa chùm gởi Thố ty hoa Liêu Quốc Nhĩ Hội Nhà văn 2003

4 Sáu giấc mộng Lục cá mộng Nguyễn Nguyên

7 Trôi theo dòng đời Thuyền Liêu Quốc Nhĩ Hội nhà văn 2006

9 Bên bờ quạnh hiu Hàn yên thuý Liêu Quốc Nhĩ Hội nhà văn 2003

10 Vườn thuý Nguyệt mãn tây lâu Hoàng Diễm

11 Cơn gió thoảng Tiễn tiễn phong Liêu Quốc Nhĩ Hội nhà văn 2003

12 Một sáng mùa hè Đình viện thâm

Văn nghệ

13 Vườn rộng sân sâu Đình viện thâm

14 Vòng tay kỉ niệm Đình viện thâm

15 Mùa thu lá bay Thái vân phi Liêu Quốc Nhĩ Hội nhà văn 2003

17 Hãy ngủ yên tình

yêu Nhất liêm u mộng Liêu Quốc Nhĩ Hội nhà văn 2010

Trang 35

STT TÊN TRUYỆN TÊN BẢN GỐC DỊCH GIẢ NHÀ XUẤT

Bình

19 Hải âu phi xứ Hải âu phi xứ Liêu Quốc Nhĩ Hội nhà văn 2003

20 Đường về chim

21 Lao xao trong nắng Tâm hữu khiếm

khiếm kết Liêu Quốc Nhĩ Hội nhà văn 2006

23 Bên dòng nước Tại thuỷ nhất

phương Liêu Quốc Nhĩ Hội Nhà văn 2003

24 Tình như bọt biển Bích vân thiên Liêu Quốc Nhĩ Hội Nhà văn 2006

25 Giọt lệ tương tư Nhất khoả hồng đậu Liêu Quốc Nhĩ Hội Nhà văn 2010

26 Hoàng hôn cuối

cùng Thải hà mãn thiên Liêu Quốc Nhĩ Hội Nhà văn 2003

27 Chiếc áo mộng mơ Mộng đích y thường Liêu Quốc Nhĩ Hội Nhà văn 2010

28 Em là cánh hoa rơi Nhiên thiêu ba!hoả

29 Chớp bể mưa

nguồn

Thất hoả đích thiên

30 Mùa xuân cho em Băng nhi Liêu Quốc Nhĩ Hội Nhà văn 2003

31 Chuyện đời tôi Ngã đích cố sự Phạm Hồng Hải Văn nghệ 2001

32 Đằng đẳng sầu quê Tiễn bất đoạn đích

34 Cánh nhạn cô đơn Thanh thanh hà biên Liêu Quốc Nhĩ Hội Nhà văn 2003

Trang 36

STT TÊN TRUYỆN TÊN BẢN GỐC DỊCH GIẢ NHÀ XUẤT

thảo

35 Hoa mai bạc mệnh Mai hoa lạc Liêu Quốc Nhĩ Phụ nữ 2004

36 Quận chúa Tân

Nguyệt

Tân Nguyệt cách

37 Đoạn cuối cuộc

tình Ngã thị nhất phiến Liêu Quốc Nhĩ Hội Nhà văn 2003

38 Hoàn Châu cách

cách

Hoàn Châu cách cách

Nhóm dịch thuật

Ghi chú: (*) Nhóm dịch thuật gồm : Nguyễn Trung Tri, Nguyễn Thị Ngọc Hoa, Trần Mênh Mông, Trần Hiệp, Tôn Tâm, Hồ Hữu Long, Lê Xuân Khải, Nguyễn Xuân Diện (http://www.gogreen.com.vn/forum/forum_posts.asp?TID=1207)

Các đầu sách còn nghi vấn, cũng như các đầu truyện Quỳnh Dao được phát tán trên mạng internet sẽ được đưa vào phần phụ lục để tiện việc tham khảo

1.4 TÁC PHẨM QUỲNH DAO VÀ LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN VĂN HỌC

Tiểu thuyết Quỳnh Dao xuất hiện từ những năm sau của thập niên 1960, gần như cùng lúc với sự xuất hiện lý thuyết tiếp nhận ở âu Châu Đây chẳng qua chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên, nhưng điều bất ngờ là lý thuyết này xem ra có thể lý giải nhiều điều về sự thành công vượt bậc của nữ tác giả này, giải thích được nguyên nhân tại sao tác phẩm Quỳnh Dao được nồng nhiệt tiếp nhận tại quê hương Đài Loan của bà cũng như các nước ở Đông Nam á khác Để chuẩn bị bước sang chương “Việc tiếp nhận Quỳnh Dao ở Việt Nam” mà đa phần được vận dụng từ lý thuyết tiếp nhận nói trên, thiết nghĩ cần sơ lược qua lý thuyết mới mẽ này

Bắt nguồn từ thuyết “Mễ học tiếp nhận” của Hans Robert Jause ở đại học Constance, Tây Đức, “Lý thuyết tiếp nhận” vừa ra đời đã được giới văn học Châu âu đánh giá cao, và lý thuyết này đã được giới thiệu vào Việt Nam trong vòng hai thập kỷ nay

Khác với cách nghiên cứu văn học truyền thống chỉ chú trọng đến tác giả, nghiên cứu tác phẩm chủ yếu dựa vào chủ thể sáng tạo là nhà văn, “Lý thuyết tiếp nhận” chủ trương đưa độc giả vào công trình nghiên cứu, xem người đọc như là một yếu tố trong quá trình hình thành tác phẩm văn học, thậm chí còn đi đến chỗ cực đoan, xem tác phẩm văn học chỉ là văn bản và chỉ khi nào được người đọc tiếp nhận nó mới thật sự trở thành tác phẩm văn học! Tuy nhiên lý thuyết này cũng có mặt tích cực giúp

Trang 37

giải quyết nhiều vấn đề trong nghiên cứu văn học, ví dụ như giải thích tính đa nghĩa,

đa nội dung của các tác phẩm văn học, nhất là các tác phẩm lớn

Vì vậy, giới văn học đang nỗ lực xây dựng một lý thuyết tiếp nhận có tính chiết trung, dung hợp giữa quan niệm truyền thống và thuyết “Mĩừ học tiếp nhận” hiện đại Đây chính là “lý thuyết tiếp nhận” mà ta đang nói tới Lý thuyết này chủ trương tác giả

và độc giả là những chủ thể đồng sáng tạo ra tác phẩm văn học Tác giả làm công việc

mã hóa hệ thống hình tượng văn học của mình vào chuỗi ngôn từ trong văn bản Độc giả thì làm công việc ngược lại là đọc văn bản, giải mã ngôn từ thành hình tượng nghệ thuật Tuy nhiên, hình tượng văn học vốn đa nghĩa, nên tùy theo trình độ thẩm mỹ của độc giả mà phiên bản được giải mã không hoàn toàn đồng nhất với tác phẩm gốc Có thể nói từ một tác phẩm văn học, mỗi độc giả lại tự tạo cho mình một tác phẩm riêng

Lý thuyết tiếp nhận chấp nhận các phiên bản này và gọi đó là tính đồng sáng tạo của độc giả trong quá trình hình thành tác phẩm

Lý thuyết tiếp nhận này đưa ra nhiều khái niệm mới mà trong đó hai khái niệm

cơ bản là “tầm đón nhận” của độc giả và khoảng cách thẩm mĩ” giữa tác phẩm và người đọc có thể sớm được vận dụng vào thực tiễn nghiên cứu văn học “Tầm đón nhận” chính là tầm văn hóa quy định bởi các yếu tố lịch sử, xã hội mà người đọc đang sống; một tác phẩm văn học chỉ được tiếp nhận nếu trường thẩm mĩừ của nó ở trong tầm này Trong khi đó “khoảng cách thẩm mĩ” chính là thước đo mức độ tiếp nhận;

“khoảng cách thẩm mỹ” giữa bạn đọc và tác phẩm càng được rút ngắn, tác phẩm này càng được nồng nhiệt tiếp nhận Các khái niệm này làm lợi nhiều mặt cho sự phát triển của văn học Với nhà văn, khi sáng tác, tác giả buộc phải hình dung ra cho mình nhóm

“độc giả giả định” với “tầm đón nhận” lý tưởng mà tác phẩm muốn đạt tới, và phải phấn đấu sáng tạo một tác phẩm cho xứng tầm Với bạn đọc, tư cách chủ thể đồng sáng tạo buộc độc giả phải tự nâng cao trình độ, rút ngắn “khoảng cách thẩm mĩ” để

đủ khả năng tiếp nhận các tác phẩm văn học có giá trị cao Với những người làm công việc nghiên cứu thì đây là một công cụ bổ sung, giúp giải quyết nhiều vấn đề văn học Riêng luận văn này, lý thuyết tiếp nhận được vận dụng để lý giải “Việc tiếp nhận Quỳnh Dao ở Việt Nam” trong chương tiếp theo

Trang 38

CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH TIẾP NHẬN QUỲNH DAO Ở VIỆT NAM

Năm 1963 tác phẩm “Song ngoại” của Quỳnh Dao ra đời và lập tức gây được tiếng vang tại Đài Loan, khi nhà xuất bản chưa liên hệ kịp với tác giả thì sách đã được

tái bản đến lần thứ ba! (Nhật ký Quỳnh Dao, trang 277)

Tại sao tác phẩm này lại thành công đến vậy? Nếu đọc qua tiểu sử Quỳnh Dao

ta thấy ngay rằng tác phẩm gần như là cuốn tự truyện của bà Với giọng văn mượt mà

dễ đọc dễ hiểu, tác giả đã thủ thỉ kể chuyện đời mình: chuyện gia đình, chuyện học hành, chuyện yêu đương bồng bột đam mê nhưng cũng nhiều đắng cay sóng gió… Tóm lại, bà kể những cảnh ngộ mà có thể là chính bạn đọc đang ở trong đó, những cảm xúc mà bạn đọc đang trải qua Như vậy, nói theo cách của nhà lý luận văn học Trung Quốc Lưu Hiệp cách đây 1.500 năm, thì giữa tác giả và độc giả đã có được mối

quan hệ tốt nhất, “Quan hệ tri ân” (Lưu Hiệp (2007), Văn Tâm Điêu Long, Trần Thanh Đạm và Phạm Thị Hảo dịch, NXB Văn học, trang 528 – 531) Nhưng với

lý thuyết tiếp nhận văn học hiện đại, ta có thể nói giữa Quỳnh Dao và bạn đọc không

còn “khoảng cách thẩm mỹ” nữa, (Nguyễn Văn Hạnh và Huỳnh Như Phương (1999), lý luận văn học, vấn đề và suy nghĩ, NXB.Giáo dục, trang 145), độc giả

luôn có cùng cảm xúc, cùng yêu, cùng ghét, cùng buồn, cùng vui với bà Đó chính là

lý do vì sao tác phẩm Quỳnh Dao được nồng nhiệt chào đón tại quê hương bà

Vậy thì, đâu là nguyên nhân khiến tác phẩm Quỳnh Dao có thể vượt khỏi Đài Loan, lan tỏa khắp vùng Đông Nam Á, trong đó có cả Việt Nam? Câu trả lời hợp tình hợp lý nhất cho đến nay là vì, chủ đề “tình yêu” là vấn đề muôn thuở của con người,

và các quốc gia Đông Nam Á đã dễ dàng tiếp nhận truyện tình Quỳnh Dao vì mối tương đồng văn hóa giữa các nước này với Đài Loan, nơi xuất xứ các truyện tình ấy Vậy mối tương đồng văn hóa ấy chính xác là gì? Đó là ảnh hưởng Nho giáo hàng ngàn năm trên vùng đất này, “Nho giáo đã từng đóng một vai trò cực kỳ quan trọng, tạo ra một ảnh hưởng to lớn thường xuyên lên toàn bộ tiến trình phát triển lịch sử của các

quốc gia Đông Á…” (Trần Ngọc Vương (1999), nhà Nho tài tử và văn học Việt Nam, NXB.Đại học Quốc gia Hà Nội, trang 7) Nho giáo đã đi sâu vào cuộc sống

thường ngày đến nỗi người ta quên mất sự hiện diện của nó Một bà lão nhà quê Việt Nam dạy con gái rằng “Có chồng phải theo chồng”; bà nói chắc như đinh đóng cột, như là một chân lý ngàn đời Bà không hề biết rằng đó là chân lý “tam tòng” của Nho giáo, bà cũng không ngờ rằng bà đã vừa diễn dịch câu chữ Nho “xuất giá tòng phu”

mà Nho giáo dạy! Tương tự như vậy, ta thấy có dấu ấn Nho giáo đây đó trong tác phẩm Quỳnh Dao, mặc dù tác giả tuyệt nhiên không nhắc đến tên nó Bởi vì nói chung, sau phong trào cách mạng văn hóa Ngũ Tứ (4-5-1919) với khẩu hiệu “đả đảo

cửa hàng họ Khổng” (đả đảo Khổng gia điếm) (Đường Thao (1999), lịch sử văn học hiện đại Trung Quốc, Lê Huy Tiêu dịch, NXB.Giáo dục, trang 13) Ở Trung Quốc

chẳng mấy ai công khai nhắc đến Khổng Tử nữa; nhưng ảnh hưởng Nho giáo không phải một sớm một chiều mà xóa sạch được Ví dụ, trong “Song ngoại” không có một

Trang 39

dòng nào về Nho giáo cả, chuyện chỉ đơn thuần là tấn bi kịch tình yêu của một cô gái mới lớn Nhưng nếu suy nghĩ kỹ một chút, ta thấy ẩn sâu dưới cái bi kịch lớn ấy là những bi kịch nhỏ, những xung đột vô thức giữa văn hóa Nho giáo phong kiến cũ với luồng gió văn minh phương Tây đang thổi vào, chúng – những bi kịch nhỏ đó – đóng vai trò làm nền, hỗ trợ cho cái bi kịch tình yêu chủ đạo kia Thực vậy:

Thứ nhất, thoạt vào truyện độc giả sẽ thắc mắc, tại sao cô nữ sinh trung học Giang Nhạn Dung lại say mê thầy giáo Khang Nam lớn hơn cô 25 tuổi, đã có vợ con lại say sưa rượu trà kiểu “cầm bình rượu nơi tay, ngửa cổ tu vơi nửa bầu”, suốt ngày thơ thẩn đánh đàn, làm thơ!

Nếu nói theo kiểu nhà thơ Nguyễn Bính “Nắng mưa là bệnh của Trời, tương tư

là bệnh của tôi yêu chàng” thì chẳng còn gì để nói nữa, nhưng nếu ta thử giải bài toán thì đáp án khả dĩ bắt nguồn từ xuất thân Nho giáo của cô gái Nhạn Dung ấy Cô là con của một tiểu thư gia giáo với một giáo sư sử học; sớm đọc thơ Lý Bạch, Đào Tiềm, say

mê cái cảnh:

Rượu ngon cùng cạn ly Tùng reo cơn gió thoảng Khúc tận sông sao cạn Tôi say cùng anh vui Quên cả sầu con tạo”

(Trích thơ Lý Bạch trong tiểu thuyết “Song ngoại”, trang 83) và cô nữ sinh Nhạn Dung ấy lãng mạn đến đổi, hoài cổ đến đổi đã nhìn ông thầy giáo Khang Nam hóa ra là một Nho sĩ tài hoa, đang bất đắc chí, “túi thơ, rượu bầu” tiêu dao ngày tháng chẳng khác nào Lý Bạch xưa! Cô yêu thầy giáo già Khang Nam mà thực ra từ vô thức

là cái hình bóng người quân tử phong lưu, nho nhã đã in sâu vào tiềm thức cô

Thứ hai, việc cô nữ sinh Nhạn Dung 16 tuổi tự tử vì học dốt toán, bị mẹ mắng Nhìn qua thì đây là hành động bốc đồng của tuổi trẻ Nhưng nguyên nhân bên trong của nó là mâu thuẫn nội tâm của nhân vật giữa một bên là bản chất yêu chuộng thơ văn của cô với một bên là thứ khoa học duy lý mà cô bị buộc phải dung nạp vào Nói khác, hành động tự tử của nhân vật là kết quả sự xung đột giữa “cảm tính” và “lý trí” trong một con người mà gốc rễ vô thức của nó là sự xung đột giữa “nhân học” của Nho giáo

cũ với “khoa học” của phương Tây đang tràn vào

Thứ ba, lúc 19 tuổi nhân vật Nhạn Dung lại tự tử vì thi rớt đại học Rõ ràng đây

là bi kịch có nguồn gốc sâu xa từ quan niệm trọng khoa cử của Nho giáo còn sót lại, bởi vì “Coi trọng việc học là một nét cơ bản của xã hội theo Nho giáo… Người quân

tử là người có học, có bằng cấp … Quan văn bao giờ cũng đứng trên quan võ trong bộ

máy nhà nước” (Nguyễn Khắc Viện (1998), Bàn về Đạo Nho, NXB.Trẻ, trang 27)

Bằng cấp trong thời phong kiến cực thịnh là cách để tiến thân, để “vinh thân, phì gia”

Trang 40

Rồi dần dần, khi nền phong kiến lụi tàn, nó đã trở thành một thứ “sĩ diện” luôn tạo nên một áp lực lớn trên giới trẻ trong các xã hội ảnh hưởng Nho giáo Cho mãi đến bây giờ, tại các nước Đông Nam Á như Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam… áp lực học hành, thi cử vẫn luôn là một gánh nặng quá sức cho giới trẻ

Thứ tư, tại sao nhân vật Nhạn Dung luôn tỏ ra khổ sở dưới sự kiểm soát của cha

mẹ khi cô chưa đúng tuổi (theo luật Đài Loan) nhưng đến khi đủ tuổi trưởng thành cô lại bịn rịn ở lại trong gia đình, bỏ lỡ cơ hội tự do kết hôn với thầy giáo Khang Nam?

Một độc giả phương Tây hẳn sẽ không thể nào hiểu được diễn biến tâm lý kỳ quặc này, khi mà bên Âu, Mỹ thanh niên đến 18 tuổi theo luật định thì có quyền và được khuyến khích sống tự lập, người thanh niên đó hoàn toàn quyết định tương lai của chính mình: học hành, làm việc, hôn nhân… ngay việc rời gia đình mướn một chỗ

ở riêng cũng là việc bình thường Một người phương Tây không thể nào hình dung được cảnh “tam đại đồng đường” “tứ đại đồng đường”, ba bốn thế hệ cùng ở chung dưới một mái nhà như ở Trung Quốc và Việt Nam trước đây Tại sao? Bởi vì Nho giáo lấy gia đình làm trọng, “lấy mô hình gia đình để hình dung thế giới, coi tất cả các cấp

độ khác của cộng đồng chỉ là hình ảnh mở rộng của quan hệ gia đình, cho nên con người hoàn thiện theo Nho giáo không phải là cá nhân tự do… mà ngược lại hạnh phúc hay bất hạnh xảy ra với một con người cụ thể nào đó lại có quan hệ mật thiết, trực tiếp, hay chí ít cũng được truy nguyên bằng các mối quan hệ nhân quả với các

thành viên khác của gia tộc…”Trần Ngọc Vương (1999), Nhà Nho tài tử và văn học Việt Nam, NXB.Đại học Quốc gia Hà Nội,Trang 42) Đây có thể coi là bi kịch hạt

nhân dẫn đến cái bi kịch tình yêu cho nhân vật trong tác phẩm này: bi kịch do xung đột giữa “con người xã hội” của Nho giáo và “con người cá nhân” của văn minh phương Tây

Tóm lại, qua mấy dẫn chứng trên ta có thể nói rằng tác phẩm Quỳnh Dao được xây dựng trên cái nền văn hóa đang có sự giao thoa giữa tư tưởng Nho giáo cũ và văn minh kỹ thuật phương Tây đang ùa vào Nho giáo hiện rõ nét trong các tác phẩm có độ lùi về thời gian, không gian, như “Bạch hồ”, “Mối tình hoa mai” Văn minh phương Tây thắng thế trong các tác phẩm có bối cảnh hiện đại như là hình ảnh cô ca sĩ phòng trà đi khắp đó đây trong “Hải Âu phi xứ” Còn ở những tác phẩm được xây dựng chỗ sóng giao thoa ta thấy có sự xung đột rõ ràng giữa cũ và mới, giữa Nho giáo và văn minh phương Tây, như là cảnh cô ca sĩ Tiểu My trong “Mùa thu lá bay” phải phấn đấu vượt qua thành kiến “xướng ca vô loài” để mưu cầu hạnh phúc cho riêng mình

Nói tóm lại, nền văn hóa mà nữ sĩ Quỳnh Dao xây dựng tác phẩm trên đó cũng chính là nền văn hóa của các nước Đông Á lúc bấy giờ, nền văn hóa mà ảnh hưởng của Nho giáo đang lu mờ dần Trong khi văn minh phương Tây ào ạt tràn vào theo chân người Mỹ, một cường quốc mới nổi sau thế chiến Thứ hai Đó chính là lý do tại sao tác phẩm Quỳnh Dao được dễ dàng tiếp nhận ở những nơi đó Tuy nhiên mỗi chỗ tùy bản sắc văn hóa riêng mà mức độ tiếp nhận có khác nhau Riêng tại Việt Nam, như đã

Ngày đăng: 23/05/2021, 22:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN