1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở việt nam

56 622 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 2009, Việt Nam có GDI =0.73 xếp thứ 5/8 nước trong khu vực và xếp thứ 94/182 nước trên thế giới.7 Mặt trái của bình đẳng giới là “định kiến giới” là nhận thức, thái độ và đánh giáthi

Trang 1

KHOA KHOA LU LU LUẬ Ậ ẬT T

LU

LUẬ Ậ ẬN N N V V VĂ Ă ĂN N N T T TỐ Ố ỐT T T NGHI NGHI NGHIỆ Ệ ỆP P P C C CỬ Ử Ử NH NH NHÂ Â ÂN N N LU LU LUẬ Ậ ẬT T

KH KHÓ Ó ÓA A A 37 37 37 (2011-2015) (2011-2015)

T Têêêên n n đề đề đề ttttà à ài: i:

QUY QUYỀ Ề ỀN N N B B BÌÌÌÌNH NH NH ĐẲ ĐẲ ĐẲNG NG NG GI GI GIỚ Ớ ỚIIII TRONG TRONG TRONG L L LĨĨĨĨNH NH NH V V VỰ Ự ỰC C C GI GI GIÁ Á ÁO O

D DỤ Ụ ỤC C C V V VÀ À À ĐÀ ĐÀ ĐÀO O O T T TẠ Ạ ẠO O O Ở Ở Ở VI VI VIỆ Ệ ỆT T T NAM NAM

Lớp: Hành Chính K37

C Cầ ầ ần n n Th Th Thơ ơ Th

Thá á áng ng ng 1 1 12 2 2/2014 /2014

Trang 2

Đặc biệt, người viết xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Thạch Huôn Thầy

đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và truyền đạt những kinh nghiệm quý báo giúp chongười viết hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Bên cạnh đó, người viết cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã giúp

đỡ về mặt tinh thần để người viết có được tự tin làm luận văn này./

Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2014

Sinh Sinh vi vi viêêêên n n th th thự ự ựcccc hi hi hiệệệện n

Th Thạ ạ ạch ch ch Th Th Thịịịị Ú Ú Útttt L L Lêêêê

Trang 3

- -� � �� � �� � � -

-………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2014

Gi Giả ả ảng ng ng vi vi viêêêên n n h h hướ ướ ướng ng ng d d dẫ ẫ ẫn n

ThS.

ThS Th Th Thạ ạ ạch ch ch Hu Hu Huô ô ôn n

Trang 4

- -� � �� � �� � � -

-………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2014

Gi Giả ả ảng ng ng vi vi viêêêên n n ph ph phả ả ản n n bi bi biệệệện n

Trang 5

L LỜ Ờ ỜIIII N N NÓ Ó ÓIIII Đ Đ ĐẦ Ầ ẦU U 1.L 1.Lý ý ý do do do ch ch chọ ọ ọn n n đề đề đề ttttà à àiiii

Hiện nay bình đẳng giới vẫn là vấn đề luôn được cả xã hội quan tâm Nó là mụctiêu của toàn xã hội, của hầu hết các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Nếu vấn

đề giải phóng phụ nữ là vấn đề cơ bản nhất trong các vấn đề của phụ nữ, thì quyền bìnhđẳng giữa nam và nữ lại là nội dung quan trọng nhất, cốt lõi nhất của vấn đề này Chính

vì vậy mà Bác Hồ đã khẳng định: “Công dân đều bình đẳng trước pháp luật Đàn bà cóquyền bình đẳng với đàn ông về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình”.Bình đẳng giới có vị trí quan trọng trong xây dựng một xã hội phát triển ổn định

và bền vững ở nước ta.Đó là mục tiêu lớn mà Đảng và nhà nước đã đặt ra ngay từ ngàyđầu tiên khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Trong Tuyên ngôn độc lậpngày 2 tháng 9 năm 1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “ Tất cả mọi người sinh ra cóquyền bình đẳng” Bình đẳng giới được thực hiện trong mọi lĩnh vực như chính trị, kinhtế,lao động, y tế, hôn nhân và gia đình, trong đó có cả lĩnh vực giáo dục và đào tạo.Ngay sau cách mạng tháng tám thành công, dù bộn bề trăm công nghìn việc, Bác

Hồ đã quan tâm ngay tới sự nghiệp giáo dục và đào tạo Tại phiên họp đầu tiên của HộiĐồng Chính Phủ, Hồ Chí Minh nêu ra sáu việc cấp bách trong đó có vấn đề về giáo dục

và đào tạo Người đòi hỏi mọi người Việt Nam phải có kiến thức vào công việc xâydựng đất nước Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo đã thấm sâu vào cácNghị quyết của Đảng và đi vào cuộc sống Đảng ta đã khẳng định “Giáo dục và đào tạo

là quốc sách hàng đầu” và “đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho phát triển”,giáo dục và đào tạo “nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” Vìthế giáo dục và đào tạo có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống của conngười

Nghiên cứu bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo là một việc cần thiếttrong xã hội hiện nay, nhằm mục đích giúp người đọc hiểu rõ hơn bình đẳng giới làgì,quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay nhưthế nào, nhằm tìm ra các biện pháp nâng cao bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục vàđào tạo…Chính vì lý do đó người viết chọn đề tài “ Quyền bình đẳng giới trong giáodục và đào tạo ở Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp của mình

2 2 M M Mụ ụ ụcccc ti ti tiêêêêu u u nghi nghi nghiêêêên n n ccccứ ứ ứu u

Mục tiêu nghiên cứu đề tài là đi sâu vào việc phân tích để tìm rõ các yếu tố như:Tìm hiểu những vấn đề liên quan đến bình đẳng giới như giới, giới tính, bình đẳnggiới….các mục tiêu, nguyên tắc của bình đẳng giới cũng như ý nghĩa của việc bìnhđẳng giới trong giáo dục và đào tạo.Tìm hiểu và phân tích các quyền bình đẳng giới

Trang 6

trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, cơ chế thực thi,nhằm đảm bảo việc thực hiện bìnhđẳng giới trên thực tế Nêu tổng quan về thực trạng bình đẳng trong lĩnh vực giáo dục

và đào tạo ở nước ta hiện nay Từ đó tìm ra nguyên nhân dẫn đến tình trạng bất bìnhđẳng giới trong giáo dục và đào tạo và từ đó đề ra một số giải pháp nhằm giải quyếtthực trạng đó

3 3 Ph Ph Phạ ạ ạm m m vi vi vi nghi nghi nghiêêêên n n ccccứ ứ ứu u

Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề về quyền bình đẳng giới trong các quy địnhcủa pháp luật về lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở Việt Nam Đồng thời qua đó đưa ranhững nguyên nhân tồn tại của vấn đề này và một số ý kiến nhằm khắc phục những vấn

đề còn bất cập

4 4 Ph Ph Phươ ươ ương ng ng ph ph phá á áp p p nghi nghi nghiêêêên n n ccccứ ứ ứu u

Trong quá trình nghiên cứu, người viết sử dụng chủ yếu là phương pháp phân tíchluật viết để tìm hiểu các quy định của pháp luật, kết hợp so sánh, đối chiếu với một sốquy định của luật cũ Ngoài ra còn sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp để thu thậptài liệu

5 5 B B Bố ố ố ccccụ ụ ụcccc đề đề đề ttttà à àiiii

Bố cục đề tài gồm:

- Lời nói đầu

- Phần nội dung: gồm 2 chương

+ Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về bình đẳng giới

+ Chương 2: Quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

- Kết luận

- Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 7

CH CHƯƠ ƯƠ ƯƠNG NG NG 1 1

NH NHỮ Ữ ỮNG NG NG V V VẤ Ấ ẤN N N ĐỀ ĐỀ ĐỀ L L LÝ Ý Ý LU LU LUẬ Ậ ẬN N N CHUNG CHUNG CHUNG V V VỀ Ề Ề B B BÌÌÌÌNH NH NH ĐẲ ĐẲ ĐẲNG NG NG GI GI GIỚ Ớ ỚIIII

Chương này người viết tập trung phân tích và làm rõ các khái niệm cơ bản liênquan đến quyền bình đẳng giới, các mục tiêu, nguyên tắc đảm bảo bình đẳng giới, lịch

sử hình thành và phát triển quyền bình đẳng giới ở Việt Nam Đồng thời khái quát vềnội dung, cũng như ý nghĩa của việc bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

1.1 1.1 C C Cá á ácccc kh kh khá á áiiii ni ni niệệệệm m m ccccơ ơ ơ b b bả ả ản n n v v vềềềề b b bìììình nh nh đẳ đẳ đẳng ng ng gi gi giớ ớ ớiiii

1.1.1 1.1.1 Kh Kh Khá á áiiii ni ni niệệệệm m m quy quy quyềềềền n n con con con ng ng ngườ ườ ườiiii v v và à à quy quy quyềềềền n n ccccô ô ông ng ng d d dâ â ân n

1.1.1.1 Khái niệm quyền con người

Con người là một giá trị cao quý và là mục tiêu của bất cứ cuộc cách mạng nào.Chính vì vậy, bảo vệ và phát triển các quyền của con người phải là trọng tâm và đíchcuối cùng của mỗi cuộc cách mạng, của mỗi thể chế xã hội tiến bộ “sự không hiểu biết,

sự lãng quên hay sự coi thường quyền con người là những nguyên nhân duy nhất của những nổi bất hạnh công cộng, của tệ hủ bại của các chính phủ”.1 Việc hiểu đúng nộidung của các quyền tự do cơ bản của con người theo đúng nghĩa cao quý đã được ghinhận trong hiến chương Liên hợp quốc, trong hàng loạt công ước quốc tế và trong hàngloạt hiến pháp của các quốc gia sẽ giúp mỗi cá nhân, mỗi dân tộc, không những khôngtránh né quyền con người mà sẽ giúp nâng cao trách nhiệm của mỗi cá nhân, mỗi dântộc, mỗi quốc gia trong việc hợp sức xây dựng những điều kiện bảo đảm thực hiện cóhiệu quả các quyền này trong phạm vi quốc gia và góp phần vào cuộc đấu tranh chungcủa nhân loại vì hòa bình, hợp tác và ổn định

Trong lịch sử nhân loại, quyền con người thoạt tiên được coi là những quyềnthiêng liêng và không thể tách rời của con người do trường phái luật đề xướng Sau đó,quyền con người ngày càng được xã hội hóa, được các quốc gia và cộng đồng quốc tếghi nhận và bảo vệ bằng các quy phạm của luật hiến pháp và các quy phạm của điềuước quốc tế

Theo định nghĩa của Văn phòng Cao Ủy Liên hợp quốc về quyền con người thì

quyền con người là những đảm bảo pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân

và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự cho phép và tự do cơ bản của con người”.2

Cho nên có thể định nghĩa về quyền con người như sau: Quyền con người là khả năng của con người được bảo đảm bằng pháp luật (luật quốc tế và luật quốc gia) về sử

1 Lời nói đầu tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền 1789.

2 Dẫn theo: Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội (2009),Giáo trình Lý luận và pháp luật về Quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 41.

Trang 8

dụng và chi phối các phúc lợi xã hội, các giá trị vật chất, văn hóa và tinh thần, sử dụng quyền tự do trong xã hội trong phạm vi luật định các hoạt động của mình và của người khác trên cơ sở pháp luật.

Trong luật quốc tế, quyền con người có đặc trưng là một thể thống nhất, được xácđịnh bằng những quyền năng, chuẩn mực cụ thể, mang tính phổ cập và có sự thống nhấtbiện chứng giữa đặc tính dân tộc với đặc tính nhân loại, giữa quyền cá nhân và quyềntập thể, giữa quyền con người và quyền công dân Mang bản chất là những quyền tựnhiên, vốn có, quyền con người là giá trị chung, phổ biến đối với mọi xã hội, quốc gia,dân tộc và gắn với các điều kiện của quan hệ quốc tế Còn bản chất xã hội làm choquyền con người phù hợp với đặc thù về lịch sử, chế độ chính trị, đặc trưng văn hóa,truyền thống dân tộc và gắn với điều kiện, sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội tạimỗi quốc gia.3

Ở gốc dộ pháp lý, quyền con người được bắt đầu từ môi trường quốc gia, trướckhi cộng đồng quốc tế có thể thống nhất với nhau về những giá trị, chuẩn mực, quyđịnh hay nguyên tắc chung để điều chỉnh cách thức ứng xử của các quốc gia đối vớicông dân của nước đó và cả công dân của nước khác Các chuẩn mực về quyền conngười nhìn từ gốc độ quốc gia hay quốc tế đều nhằm hạn chế quyền tự do xâm phạmquyền con người của nhà nước trong cả hai lĩnh vực các quan hệ trong nội bộ quốc gia

và các quan hệ quốc tế

Ở Việt nam, một số định nghĩa về quyền con người do một số chuyên gia, cơ quannghiên cứu từng nêu ra cũng không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, quyền conngười thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan củacon người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lýquốc tế

Bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ghi nhậncác quyền thiêng liêng của con người Tiếp đó là các bản Hiến pháp năm1959,1980,1992 không chỉ thừa nhận và bảo đảm đầy đủ các quyền con người phù hợpvới luật pháp quốc tế mà còn khẳng định rõ: Nhà nước Việt Nam là nhà nước phápquyền của dân, do dân, vì dân, có trách nhiệm bảo đảm và không ngừng phát huy quyềnlàm chủ về mọi mặt của nhân dân Đặc biệt khái niệm quyền con người lần đầu tiênđược đưa vào Hiến pháp năm 2013 trong một chế định cụ thể

Như vậy, nhìn ở gốc độ nào và ở cấp độ nào thì quyền con người cũng được xácđịnh như là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ Nhữngchuẩn mực này kết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, chỉ áp dụng với con

3 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật quốc tế, Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 2007, tr 135

Trang 9

người, cho tất cả mọi người Nhờ có những chuẩn mực này, mọi thành viên trong nhânloại mới được bảo vệ nhân phẩm và mới có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của

cá nhân với tư cách là một con người Cho dù cách nhìn nhận có những khác biệt nhấtđịnh, một điều rõ ràng là quyền con người là những giá trị cao cả cần được tôn trọng vàbảo vệ trong mọi xã hội và trong mọi giai đoạn lịch sử

1.1.1.2 Khái niệm quyền công dân

Khái niệm về quyền công dân cũng ra đời từ lâu trong lịch sử, được sử dụng rộngrãi trong xã hội tư sản Trong sách báo pháp lý, khái niệm “quyền công dân” là kháiniệm cùng hàng với khái niệm quyền con người So với khái niệm quyền con người,khái niệm quyền công dân mang tính xác định hơn, gắn liền với mỗi quốc gia, đượcpháp luật của mỗi quốc gia quy định Và do gắn với đặc thù của mỗi quốc gia mà nộidung, số lượng, chất lượng của quyền công dân ở mỗi quốc gia thường không giốngnhau Tuy nhiên, không có sự đối lập giữa quyền con người và quyền công dân trongquy định của các nước

Thực ra, khái niệm quyền công dân không phải dùng để chỉ các quyền cụ thể củacông dân là quyền nào mà là khái niệm có tính chất là tiêu chí đánh giá, hàm ý chỉ rằngnhà nước đã ghi nhận và bảo đảm cho công dân, quyền con người như thế nào trong cácquyền và trong các nghĩa vụ cụ thể của công dân Tính cụ thể của khái niệm chỉ là chỗ

nó không tồn tại độc lập như khái niệm quyền con người mà phải gắn với các quy địnhcủa pháp luật, phải qua việc xem các quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của một hệthống pháp luật như thế đã phản ánh quyền công dân như thế nào Thông qua quyềncông dân trong một hệ thống pháp luật, người ta có thể biết nó đã thể hiện quyền conngười như thế nào Quyền công dân khác với khái niệm “quyền cơ bản” của công dânđược ghi nhận trong các bản hiến pháp, nó mang tính chất cụ thể chỉ các lợi ích cơ bản

mà pháp luật ghi nhận cho công dân Cần nhấn mạnh rằng “quyền cơ bản của công dân”

là quyền được thể hiện trong các quy định cụ thể cho cả quyền và cả nghĩa vụ cơ bản

đối với công dân Và, quyền con người bản thân nó không có tính pháp lý, còn quyềncông dân thì lại có tính chất ấy

Khái niệm quyền con người xét về nguồn gốc tự nhiên là quyền của tất cả các cánhân, không liên quan đến việc nó có được ghi nhận trong pháp luật một nhà nước cụthể nào không Trái lại, khái niệm quyền công dân lại là các quyền được thể hiện trongpháp luật của một nước ghi nhận (dưới dạng là các quyền và nghĩa vụ cụ thể) và đảmbảo thực hiện trong một nhà nước cụ thể Nội hàm của khái niệm “quyền con người”rộng hơn khái niệm “quyền công dân”, hay nói cách khác, “quyền công dân” không thểbao quát hết được “quyền con người” Chủ thể của quyền con người là mỗi con người

mà ngay từ khi họ được sinh ra thì tạo hoá đã ban cho họ cái mà được gọi làquyền sống,

Trang 10

quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc, còn chủ thể của quyền công dân có thể là

các cá nhân đặt trong mối quan hệ với nhà nước, dựa trên tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mỗi cá nhân được nhà nước đó quy định tạo nên địa vị pháp lý của công dân”.4 Mặc dù chủ thể của quyền công dân được hiểu là các cá nhân đặt trongquan hệ với nhà nước, được thể hiện trong tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý củamỗi cá nhân được nhà nước đó quy định, nhưng không thể nói quyền con người làquyền cá nhân tự do, còn quyền công dân chỉ có tính chất quốc gia Đối với những chủthể mặc dù không phải là công dân (không phải là công dân nước sở tại hoặc khôngmang quốc tịch của một nhà nước nào) thì họ vẫn có được những quyền hạn chế củacông dân hoặc phải thực thi những nghĩa vụ cũng hạn chế của công dân đối với xã hội,nhà nước nơi họ sinh sống, cư trú

Tuy là những khái niệm không thể đồng nhất với nhau, nhưng “quyền con người”

và “quyền công dân” lại là các khái niệm có sự thống nhất Sự thống nhất đó thể hiện ởchỗ, trong mỗi quốc gia, quyền công dân trong nội dung là sự thể hiện cụ thể của quyềncon người, khó có thể phân định một cách thật sự rạch ròi quyền con người, quyền côngdân theo quan điểm quyền con người là quyền tự nhiên, quyền công dân là do pháp luậtquy định; hay quyền con người là do luật quốc tế quy định, quyền công dân là do phápluật quốc gia quy định Việc nhận thức giá trị và bản chất của quyền con người có vaitrò quyết định trực tiếp trong việc xây dựng các quy chế pháp lý về quyền công dântrong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia Việc ghi nhận và đảm bảo thực hiện cácquyền công dân chính là đã thực hiện nội dung cơ bản của quyền con người

1.1.2 1.1.2 Kh Kh Khá á áiiii ni ni niệệệệm m m gi gi giớ ớ ớiiii ttttíííính nh nh v v và à à gi gi giớ ớ ớiiii

Giới và giới tính là hai khái niệm cặp đôi có liên quan chặt chẽ với nhau Do đó đểhiểu rõ khái niệm giới trước hết cần tìm hiểu khái niệm giới tính.

1.1.2.1 Khái niệm giới tính

Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam và nữ.5Theo đó có thể hiểu giới tính

là một thuật ngữ chỉ sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới xét về mặt sinh học, sự khácbiệt này chủ yếu liên quan đến quá trình tái sản xuất con người, di truyền nòi giống, sựkhác biệt căn bản về hình dáng bên ngoài của cơ thể, sự khác biệt về chức năng sinhhọc Sự khác nhau về chức năng sinh học tạo nên vai trò của giới tính Ví dụ như: chỉphụ nữ mới có khả năng mang thai, sinh con và cho con bú bằng sữa mẹ hoặc nam giớimới có khả năng xuất tinh trùng cho quá trình thụ thai Về mặt sinh học nam và nữ

4 Trần Văn Bách, Luận án tiến sĩ ,Sự phát triển chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân qua lịch sử lập hiến Việt Nam, Viện Nhà nước và pháp luật, 2002, tr.21-22

5 Khoản 2 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006

Trang 11

không giống nhau trên nhiều phương diện nhưng chủ yếu nhất là hình dáng, giọng nói

và chức năng sinh sản

Giới tính có một số đặc trưng cơ bản như:

- Tính bẩm sinh: Về phương diện sinh lý ( hooc môn, nhiễm sắc thể, bộ phận sinhdục,…) nam giới và nữ giới đã khác nhau ngay từ trong bào thai, được quy định bởi tựnhiên, không theo và không phụ thuộc vào mong muốn của con người Nó ổn định vềtương quan giữa hai giới trong quá trình sinh sản Chức năng sinh sản của nam giới hay

nữ giới là không thay thế, thay đổi hay chuyển dịch cho nhau

- Tính thống nhất: Nam giới hay nữ giới ở trên khắp thế giới đều có cấu tạo về mặtsinh lý học giống nhau, đều tham gia và mang các yếu tố đóng góp vào quá trình sinhsản như nhau

- Tính không đổi và không thay đổi: về phương diện sinh lý chức năng sinh sảncủa nam giới hay nữ giới là không thể thay đổi Sự khác nhau của giới tính hầu như bấtbiến cả về thời gian cũng như không gian

Ngoài sự khác biệt về mặt sinh học như đã nêu, giữa nam giới và nữ giới còn khácbiệt ở nhiều đặc điểm về mặt xã hội, và những khác biệt này dùng để phân biệt giới

1.1.2.2 Khái niệm giới

Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xãhội.6 Đó là sự khác biệt về mặt xã hội giữa nam giới và nữ giới như vai trò, thái độ,hành vi ứng xử và các giá trị Vai trò giới được biết đến thông qua quá trình học tập vàkhác nhau theo từng nền văn hóa và thời gian, do vậy giới có thể thay đổi được Nói vềgiới là nói về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quan niệm hay qui định chonam giới và nữ giới Vai trò, trách nhiệm và quyền lợi đó thể hiện trước hết ở sự phâncông lao động, phân chia các nguồn của cải, vật chất, tinh thần, tức là cách đáp ứng nhucầu của nam và nữ trong xã hội Ví dụ như: theo quan niệm và thói quen đã từ lâu đời ởnhiều nước, nhiều khu vực thì phụ nữ phải làm hầu hết các công việc trong nhà nhưchăm sóc con, nấu ăn, phục vụ chồng…Còn nam giới thì có trách nhiệm lao động sảnxuất để nuôi gia đình và làm các công việc xã hội

Giới có một số đặc trưng cơ bản sau:

- Tính do dạy và học mà có: đứa trẻ được dạy dỗ để trở thành nữ giới hay namgiới theo khuôn mẫu của xã hội Bắt đầu từ khi sinh ra , đứa trẻ đã được đối xử và dạy

dỗ tùy theo nó là gái hay trai Đó là sự khác biệt về quần áo, đồ chơi, màu sắc, cách nóinăng, thái độ và cả về thức ăn và tình cảm của cha mẹ, anh chị Con trai không được

6 Khoản 1 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006

Trang 12

khóc, dũng cảm, không chơi búp bê, con gái không được cáu kỉnh, phài dịu dàng, giúp

mẹ cơm nước, nội trợ

- Tính đa dạng: giới thể hiện đặc trưng của những quan hệ xã hội giữa nữ giới vànam giới cho nên rất đa dạng Địa vị nữ giới trong xã hội Việt Nam khác xa địa vị nữgiới ở các nước hồi giáo, địa vị nữ giới ở nông thôn cũng không hoàn toàn giống địa vị

Như vậy khi nói giới tính là đặc điểm của con người do tự nhiên quy định Nó

ổn định, thẩm chí hầu như bất biến đối với cả nam và nữ, xét cả về mặt không gian vàthời gian Còn nói đến giới là nói đến địa vị xã hội, thái độ và hành vi nó không bất biến

mà thay đổi theo sự thay đổi của hoàn cảnh, điều kiện xã hội, văn hóa

Trong cuộc sống, nam giới và nữ giới đều tham gia vào mọi hoạt động của đờisống xã hội, tuy nhiên mức độ tham gia công việc của nam giới và nữ giới trong cácloại công việc là khác nhau do những quan niệm, các chuẩn mực xã hội quy định.Những công việc mà họ đảm nhận được gọi là vai trò giới

Vai trò giới là tập hợp các hành vi ứng xử mà xã hội mong đợi ở nam giới và nữgiới liên quan tới những đặc điểm giới tính và năng lực mà xã hội coi là thuộc về namgiới hoặc thuộc về nữ giới (trẻ em trai hoặc trẻ em gái) trong một xã hội hoặc một nềnvăn hóa cụ thể nào đó

Vai trò giới được quyết định bởi các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội Nam giới và

nữ giới thường có 3 nhóm vai trò giới như sau:

- Vai trò sản xuất: là các hoạt động làm ra sản phẩm, hàng hóa hoặc dịch vụ để

tiêu dùng và trao đổi thương mại Đây là những hoạt động tạo ra thu nhập được trả công

Cả nam giới và nữ giới đều có thể tham gia vào các hoạt động sản xuất, tuy nhiên donhững định kiến trong xã hội nên mức độ tham gia của họ không như nhau và giá trịcông việc họ làm cũng không được nhìn nhận như nhau Xã hội coi trọng và đánh giácao vai trò này

Trang 13

- Vai trò tái sản xuất: là các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, dạy dỗ,…giúp tái

sản xuất dân số và sức lao động bao gồm sinh con, các công việc chăm sóc gia đình,nuôi dạy và chăm sóc trẻ con, nấu ăn, dọn dẹp, giặc giũ, chăm sóc sức khỏe gia đình…Những hoạt động này là thiết yếu đối với cuộc sống con người, đảm bảo sự phát triểnbền vững của dân số và lực lượng lao động, tiêu tốn nhiều thời gian nhưng không tạo rathu nhập vì vậy mà ít khi được coi là” công việc thực sự”, được làm miễn phí, khôngđược các nhà kinh tế đưa vào các con số tính Xã hội không coi trọng và đánh giá caovai trò này Hầu hết nữ giới đóng vai trò và trách nhiệm chính trong các công việc táisản xuất

- Vai trò cộng đồng: bao gồm một tổ hợp các sự kiện xã hội và dịch vụ Ví dụ như:

thăm hỏi động viên gia đình bị tai nạn trong thảm họa, thiên tai; huy động cộng đồnggóp lương thực, thực phẩm cứu trợ người bị nạn… Công việc cộng đồng có ý nghĩaquan trọng trong việc phát triển văn hóa tinh thần của cộng đồng Có lúc nó đòi hỏi sựtham gia tình nguyện, tiêu tốn thời gian và không nhìn thấy ngay được Có lúc nó lạiđược trả công và có thể nhìn thấy được ( ví dụ: là thành viên phân phối hàng cứu trợsau bão)

Sự hiểu biết sâu sắc về vai trò giới giúp chúng ta thiết kế các hoạt động phù hợpcho cả nam giới và nữ giới, từ đó thu hút được sự tham gia một cách hiệu quả của họ vàđồng thời góp phần làm giảm sự bất bình đẳng trên cơ sở giới trong việc phân chia laođộng xã hội

1.1.3 1.1.3 Kh Kh Khá á áiiii ni ni niệệệệm m m b b bìììình nh nh đẳ đẳ đẳng ng ng gi gi giớ ớ ới: i:

1.1.3.1 Khái niệm

Bình đẳng giới theo quan niệm xã hội học là sự đối xử ngang quyền giữa nam và

nữ, cũng như giữa các tầng lớp trong xã hội, có xét đến đặc điểm riêng của nữ giới,được điều chỉnh bởi các chính sách đối với phụ nữ một cách hợp lý Hay nói cách khácbình đẳng giới là sự thừa nhận, sự coi trọng ngang nhau đối với các đặc điểm giới tính

và sự thiết lập các cơ hội ngang nhau đối với nam và nữ trong xã hội

Theo khoản 3 Điều 5 Luật Bình đẳng giới: “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”.

Bình đẳng giới thể hiện ở nhiều mặt:

- Nữ và nam có điều kiện ngang nhau để phát huy hết khả năng và thực hiện cácmong muốn của mình

Trang 14

- Nữ và nam có cơ hội ngang nhau để tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồnlực của xã hội trong quá trình phát triển.

- Nữ và nam có các quyền lợi ngang nhau trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.Như vậy, bình đẳng giới không chỉ đơn giản là số lượng của phụ nữ và nam giới,hay trẻ em trai và trẻ em gái tham gia trong tất cả các hoạt động là như nhau, cũngkhông có nghĩa là nam giới và phụ nữ giống nhau, mà bình đẳng giới có nghĩa là namgiới và phụ nữ được công nhận và hưởng các vị thế ngang nhau trong xã hội, đồng thời

sự tương đồng và khác biệt giữa nam và nữ được công nhận Từ đó nam và nữ có thểtrải nghiệm những điều kiện bình đẳng để phát huy đầy đủ các tiềm năng của họ, có cơhội để tham gia, đóng góp và hưởng lợi bình đẳng từ công việc phát triển của quốc giatrong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội

Bình đẳng giới là vấn đề cơ bản về quyền con người vừa là yêu cầu về sự pháttriển công bằng, hiệu quả và bền vững

Để biết mức độ bình đẳng giới trong quá trình phát triển, Liên hợp quốc sử dụngmột thước đo là “Chỉ số phát triển giới” (Gender Development Index – GDI) GDI được

sử dụng lần đầu tiên tại báo cáo phát triển người năm 1995

Chỉ số phát triển giới (GDI) là số liệu tổng hợp phản ánh thực trạng bình đẳnggiới, được tính trên cơ sở tuổi thọ trung bình, trình độ giáo dục và thu nhập bình quânđầu người của nam và nữ (Khoản 9 Điều 5 Luật Bình đẳng giới)

Chỉ số phát triển giới càng tiến tới bằng 1 thì càng bình đẳng, và càng lùi về 0 thìcàng bất bình đẳng Năm 1995, Việt Nam có GDI = 0.537 xếp vị trí thứ 7/10 nướctrong khu vực và xếp thứ 72/130 nước trên thế giới Năm 2009, Việt Nam có GDI =0.73 xếp thứ 5/8 nước trong khu vực và xếp thứ 94/182 nước trên thế giới.7

Mặt trái của bình đẳng giới là “định kiến giới” là nhận thức, thái độ và đánh giáthiên lệch, tiêu cực về các đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ.8 Dođịnh kiến dẫn đến sự phân biệt đối xử với phụ nữ, cũng như sự phân biệt đối xử về giới.Muốn đạt được bình đẳng giới thì một trong những điều kiện quan trọng là nam và nữđược bình đẳng với nhau trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó bìnhđẳng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo giữ vị trí rất quan trọng

7 Bình đẳng giới qua số liệu thống kê, gioi-qua-so-lieu-thong-ke/183405.vgp

http://baodientu.chinhphu.vn/Thong-ke-Nhung-con-so-biet-noi/Binh-dang-8 Khoản 4 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006

Trang 15

1.1.3.2 Đặc điểm bình đẳng giới

Bình đẳng giới thể hiện vị trí, vai trò của nam nữ ngang nhau trong các quan hệ xãhội, do đó bình đẳng giới có các đặc điểm sau:

-Tính ngang quyền: để đạt được bình đẳng giới, phụ nữ cần được tạo điều kiện và

cơ hội ngang bằng nam giới trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Ví dụ, cần có quyđịnh như nhau, chung cho phụ nữ và nam giới về hưởng thụ các quyền và gánh vác cácnghĩa vụ Đây là các quy định bình đẳng mang tính tối thiểu, không thể thiếu để đảmbảo về mặt pháp lý quyền bình đẳng nam nữ (công dân nam và nữ đều có quyền bầu cử,ứng cử; có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật; có quyền tự do kết hôn

và tự do ly hôn…)

- Tính ưu đãi: do đặc điểm sinh học của phụ nữ khác biệt so với nam giới, để đạtđược bình đẳng giới cần có sự đối xử ưu đãi, khuyến khích đặc biệt và hợp lý đối vớiphụ nữ Ví dụ, phụ nữ phải đảm bảo chức năng sinh đẻ và nuôi con nhỏ, vì vậy phápluật quy định khi nữ lao động nghĩ thai sản họ vẫn được hưởng nguyên lương đồng thờiđược trợ cấp thai sản

- Tính linh hoạt: sự đối xử ưu đãi với phụ nữ cần được điều chỉnh linh hoạt trongtừng hoàn cảnh lịch sử cụ thể, không mang tính bất biến Ví dụ, do đặc điểm sinh họccủa phụ nữ nên phụ nữ thường có thể chất yếu hơn và sức chịu đựng kém hơn so vớinam giới, vì vậy pháp luật các nước đều có quy định cấm tuyển dụng nữ lao động trongcác ngành nghề, lĩnh vực nguy hiểm, nặng nhọc Tuy nhiên khi khoa học kỹ thuật pháttriển, điều kiện lao động được cải thiện, cần có sự điều chỉnh cho phù hợp nhằm loại bỏquy định cấm này đối với các nghành nghề, lĩnh vực đã được cải thiện điều kiện laođộng, để tạo cơ hội cho phụ nữ

- Tính phân loại: bình đẳng giới không chỉ được xem xét vị thế của phụ nữ và namgiới trong xã hội mà còn được xem xét giữa các tầng lớp phụ nữ thuộc các thành phần

xã hội khác nhau, trong phạm vi quốc gia và trên thế giới Ví dụ, quy định tăng độ tuổinghĩ hưu đối với phụ nữ, thì mặt bằng chung này có thể có lợi cho nữ giới lao độngtrong hoạt động nghiên cứu khoa học, giảng dạy… nhưng lại bất lợi đối với nữ giới laođộng đối với nữ giới lao động ở khu vực nặng nhọc, phụ nữ nông thôn Như vậy, quyđịnh trên chỉ đem lại mặt bằng ưu tiên hạn hẹp, dẫn đến dãn khoảng cách đối xử là tạo

ra phân biệt đối xử trong nữ giới nói chung

Trang 16

1.2 1.2 M M Mụ ụ ụcccc ti ti tiêêêêu u u v v và à à nguy nguy nguyêêêên n n ttttắ ắ ắcccc đả đả đảm m m b b bả ả ảo o o b b bìììình nh nh đẳ đẳ đẳng ng ng gi gi giớ ớ ới: i:

1.2.1 1.2.1 M M Mụ ụ ụcccc ti ti tiêêêêu u u b b bìììình nh nh đẳ đẳ đẳng ng ng gi gi giớ ớ ớiiii

Bình đẳng giới là mục tiêu của đa số quốc gia Dựa trên điều kiện và hoàn cảnhthực tế về kinh tế, chính trị và văn hóa-xã hội, mỗi quốc gia có đường đi riêng và mụctiêu bình đẳng giới cũng được xác định phù hợp trong từng giai đoạn phát triển của đấtnước Mục tiêu bình đẳng giới của Việt Nam là “xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế-xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình” 8

Mục tiêu này chỉ có thể thực hiện hiệu quả khi các cơ quan, tổ chức, gia đình vàtừng cá nhân hiểu đúng, hiểu đủ, hiểu toàn diện những khía cạnh liên quan đến giới vàbình đẳng giới và thực hiện tốt các trách nhiệm đã được quy định trong các văn bản quyphạm pháp luật (Luật Bình đẳng giới, Nghị định số 70/2008/NĐ-CP ngày 4/6/2008 củaChính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bình đẳng giới và Nghị định

số 48/2009/NĐ-CP ngày 19/5/2009 của Chính Phủ quy định về các biện pháp bảo đảmbình đẳng giới)

Để thực hiện có hiệu quả mục tiêu bình đẳng giới theo Điều 4 Luật Bình đẳng giới,nhất thiết cần hiểu đúng về các khía cạnh sau:9

Thứ nhất, cần hiểu đúng về xóa bỏ phân biệt đối xử về giới

Phân biệt đối xử về giới là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coitrọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vựccủa đời sống xã hội và gia đình.10

Theo quy phạm giải thích này, xóa bỏ phân biệt đối xử về giới là xóa bỏ việc hạnchế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ khôngchỉ bao gồm những hành vi biểu lộ ra bên ngoài một cách rõ ràng mà còn cả nhữnghành vi ở dạng tiềm ẩn, khó phát hiện có tính chất nhằm loại trừ hay hạn chế các quyềncon người và quyền công dân trên cơ sở giới tính Đồng thời cũng không chỉ nhữnghành vi có tác động rõ ràng mà còn cả những hành vi tiềm ẩn mục đích làm tổn hạihoặc vô hiệu hóa các quyền con người và quyền công dân của nam, nữ Do đó, việclồng ghép giới trong xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật cần quan tâm một cáchthích đáng

9 Dương Thị Xuân, Vai trò,trách nhiệm của Hội Liện hiệp phụ nữ Việt Nam trong việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới

10 Khoản 5 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006

Trang 17

Phân biệt đối xử về giới chỉ có thề được xóa bỏ khi cơ quan, tổ chức, gia đình và

cá nhân hiểu sâu sắc những khía cạnh liên quan đến giới, giới tính để không máy mócdập khuôn theo định kiến trong việc nhìn nhận về sự tham gia, đóng góp và thụ hưởngthành quả từ sự tham gia, đóng góp của nam, nữ trong các môi trường hiện tại và hướngtới việc tìm ra các khía cạnh kỹ thuật tốt nhất bảo đảm bình đẳng giới ở các môi trường

đó trong tương lai

Thứ hai, cần hiểu đúng về tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ

Là con người, là công dân, phụ nữ và nam giới có các quyền và nghĩa vụ ngangnhau về mọi mặt trong gia đình và xã hội Do vậy, để bảo đảm sự công bằng và bìnhđẳng, cả phụ nữ và nam giới cũng phải được tạo cơ hội như nhau trong tất cả các lĩnhvực của đời sống xã hội và gia đình theo nguyên tắc cứng là cùng quyền, cùng nghĩa vụ,cùng trách nhiệm, nhưng linh hoạt (có điều kiện hoặc mặc nhiên) để bảo đảm tươngthích với những đặc điểm khác nhau thực tế của phụ nữ và nam giới về giới tính và điềuchỉnh vai trò giới hiện tại mà nam, nữ thực tế đang làm theo hướng có lợi cho mục tiêubình đẳng giới

Thứ ba, cần hiểu đúng về bình đẳng giới thực chất

Bình đẳng giới thực chất là bình đẳng về cả phương thức đối xử (trên văn bản,quan điểm, chủ trương, đường lối) và kết quả thực tế của phương thức đối xử đó Điềunày có nghĩa là muốn có bình đẳng giới thực chất thì cần phải bảo đảm cho nam giới vàphụ nữ ở cả ba mức độ: cơ hội tham gia (trong văn bản); thực tế tham gia (tiếp cậnnguồn lực, đóng góp) và lợi ích của sự tham gia (hưởng lợi từ các thành quả lao độngtrên thực tế)

Thứ tư, cần hiểu đúng về thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam nữ

Do khác biệt về giới tính nên phụ nữ cần giành nhiều thời gian cho việc thực hiệnthiên chức làm mẹ, trong bối cảnh không nhận thức đúng về giới và bình đẳng giới đãkéo theo hệ quả bất lợi về nhiều mặt cho phụ nữ cả trong gia đình và xã hội Vì vậy đểthực hiện được mục tiêu bình đẳng giới, cần thiết phải hiểu đúng việc thiết lập, củng cốquan hệ hợp tác hỗ trợ giữa nam, nữ theo hướng chia sẻ cả quyền và trách nhiệm tronggia đình và xã hội

Phụ nữ và nam giới cùng chia sẻ và hợp tác trong các vai trò: sản xuất, tái sản xuất,cộng đồng và chính trị Trong đó đặc biệt quan trọng là sự chia sẻ vai trò tái sản xuấtbao gồm việc chăm sóc, giáo dục con cái, làm các công việc nhà, chăm sóc các thànhviên trong gia đình để tạo cơ hội và điều kiện cho nam, nữ phát triển toàn diện về mọimặt, không đem hết mọi việc liên quan đến gia đình và đứa trẻ cho riêng người phụ nữ

Sự chia sẻ này có ý nghĩa quan trọng để gánh nặng không dồn lên một người và làm

Trang 18

ảnh hưởng đến những khía cạnh khác của họ khi thực hiện quyền con người, quyềncông dân và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.

1.2.2 1.2.2 Nguy Nguy Nguyêêêên n n ttttắ ắ ắcccc ccccơ ơ ơ b b bả ả ản n n đả đả đảm m m b b bả ả ảo o o b b bìììình nh nh đẳ đẳ đẳng ng ng gi gi giớ ớ ớiiii

Nguyên tắc của bình đẳng giới là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo quán triệttoàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật bình đẳng giới Tại Điều 6 Luật bình đẳnggiới quy định các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới:

- Nam nữ bình đẳng trong lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình

- Nam, nữ không bị phân biệt đối xử về giới

- Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới

- Chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới

- Bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật

- Thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhânNội dung của các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới thể hiện qua quan điểmpháp luật của Đảng của Nhà nước ta đối với nhiệm vụ và chức năng của các thành viêntrong xã hội, các cơ quan hữu quan trong việc thực hiện bình đẳng giới, là thước đo của

xã hội văn minh Các quy phạm pháp luật bình đẳng giới thể hiện đúng nội dung củacác nguyên tắc đó

1.2.2.1 Nguyên tắc nam nữ bình đẳng trong lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình

Trong xã hội loài người một trong những sự bất bình đẳng đầu tiên đó là sự bấtbình đẳng nam nữ Nếu trong thời kỳ cộng sản nguyên thủy công việc tề gia nội trợ củangười phụ nữ được coi là công việc xã hội và do vậy người đàn bà được bình đẳng vớingười đàn ông, đến thời kỳ tiếp theo đó lại hoàn toàn khác hẳn Với sự xuất hiện của cải

dư thừa, chế độ tư hữu xuất hiện, và xuất hiện gia đình cá thể trong đó người đàn ôngtrở thành ông chủ, người đàn bà là nô lệ là tài sản cho người đàn ông Công việc tề gianội trợ không còn là công việc xã hội nữa Nó chỉ hạn chế trong từng gia đình, phục vụcho người chồng, cho sự thống trị, cho việc duy trì chế độ tư hữu-nguồn gốc của sự bấtcông, bất bình đẳng trong gia đình và xã hội

Khi xã hội loài người chuyển sang các hình thái tiến bộ hơn như chế độ phongkiến, rồi chế độ tư bản chủ nghĩa, vẫn còn bất bình đẳng nam nữ trên thực tế với nhiều

lý do, trong đó có định kiến xã hội và trọng nam khinh nữ

Ở Việt Nam, mục tiêu bình đẳng nam nữ đã được đưa ra từ Chánh cương vắn tắccủa Đảng và Bác Hồ từ năm 1930, được nêu trong các văn kiện đại hội Đảng, được thể

Trang 19

chế hóa trong các bản Hiến Pháp và nhiều văn bản pháp luật khác như Luật Hôn nhân

và Gia đình, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động…

Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta quy định tại Điều 1

“Nhà nước Việt Nam là một nhà nước dân chủ cộng hòa Tất cả quyền bính trong nước

là của toàn thể nhân dân Việt Nam không phân biệt giống nòi, giàu nghèo, gái trai, giaicấp, tôn giáo” Và tại Điều 9 “ Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”.Quy định về bình đẳng nam nữ được thừa kế trong các bản Hiếp pháp1959,1980,1992, 2013 Theo điều 26 Hiếp pháp 2013 “Công dân nam, nữ bình đẳng vềmọi mặt” Còn trong gia đình “vợ chồng bình đẳng”.11

Khoản 1 Điều 6 Luật Bình đẳng giới quy định nguyên tắc nam, nữ bình đẳngtrong các lĩnh vực của đời sống xã hội Đồng thời tại các Điều 11 đến Điều 18 luật đãquy định cụ thể các lĩnh vực bình đẳng nam nữ như lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động,giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa thể dục thể thao, y tế và trong giađình

Bình đẳng nam nữ có nghĩa là quyền và nghĩa vụ của nam và nữ được quy địnhnhư nhau trên pháp luật trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, cũng như tronggia đình Tuy nhiên từ bình đẳng trước pháp luật đến bình đẳng trên thực tế đời sốngcòn cả một đoạn đường dài Sự bình đẳng phải được ghi nhận và từng bước được củng

cố với sự phát triển của xã hội, tạo cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội cho việc thực hiệnbình đẳng hoàn toàn giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng

1.2.2.2 Nguyên tắc nam nữ không bị phân biệt đối xử về giới

Nguyên tắc nam nữ không bị phân biệt đối xử về giới được quy định tại Khoản 2Điều 6 Luật Bình đẳng giới Nguyên tắc này có nội dung không trùng với nguyên tắcnam nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và trong gia đình

Việc quy định nam nữ hưởng quyền và gánh vác trách nhiệm ngang nhau trongpháp luật là nhằm bảo vệ và thực hiện bình đẳng nam nữ trên thực tế đời sống nhưngđiều đó không có nghĩa là tất cả các hành vi tạo nên sự bất bình đẳng nam nữ đều đượcloại trừ Chính vì vậy cần đưa ra nguyên tắc nam nữ không bị phân biệt đối xử về giới

và những quy phạm cụ thể khác quy định về cơ chế thực thi và thúc đẩy bình đẳng giớitrên thực tế…

Vì đặc điểm giới tính của phụ nữ nêu trên thực tế phụ nữ thường là bên yếu thếtrong quan hệ giới, và từ đó họ thường phải chịu thiệt thòi hơn so với nam giới Và cáchành vi phân biệt đối xử thường chống lại phụ nữ hơn là nam giới Do đó CEDAW

11 Điều 36 Hiến pháp năm 2013

Trang 20

(Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ) tại Điều 1 định nghĩa

“đối xử phân biệt đối với phụ nữ là bất kỳ sự phân biệt, loại trừ hay hạn chế nào dựatrên cơ sở giới tính có tác dụng hoặc nhằm mục đích làm tổn hại hoặc vô hiệu hóa việcphụ nữ được công nhận, hưởng thụ hay thực hiện một cách bình đẳng các quyền conngười và những quyền tự do cơ bản trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,dân sự và các lĩnh vực khác, bất kể tình trạng hôn nhân của họ và trên cơ sở bình đẳngvới nam giới.”

Phân biệt đối xử về giới là sự hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coitrọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vựccủa đời sống xã hội và gia đình.12Như vậy khái niệm trên thể hiện cách tiếp cận trungtính đối với bình đẳng giới, thay vì có một định nghĩa cụ thể về các hành vi phân biệtđối xử chống lại phụ nữ

Luật Bình đẳng giới thể hiện rõ nguyên tắc nam nữ không bị phân biệt đối xử vềgiới trong nhiều quy định khác, như Điều 10 quy định các hành vi bị nghiêm cấm, Điều

40 quy định các hành vi thể hiện sự phân biệt đối xử về giới trong các lĩnh vực chính trị,kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa thông tin, thểthao, y tế Điều 41 quy định các hành vi thể hiện sự phân biệt đối xử về giới trong giađình

1.2.2.3 Nguyên tắc biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới

Bình đẳng giới là việc nam nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện, cơhội ngang nhau để phát huy năng lực của bản thân và bình đẳng trong việc hưởng thụ.Tuy nhiên bình đẳng giới không tự nhiên mà có Pháp luật cần quy định bình đẳng nam

nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, bình đẳng trong hưởng quyền và gánh vácnghĩa vụ, bình đẳng trong các nghĩa vụ, bình đẳng trong các điều kiện và cơ hội cốnghiến Nhưng trên thực tế, việc xây dựng bình đẳng giới xuất phát từ hiện thực khôngbình đẳng, và từ bình đẳng trên pháp luật đến bình đẳng trên thực tế là một chặn đườngkhá xa Ví dụ, ở Việt nam vẫn tồn tại tư tưởng trọng nam khinh nữ trong nhận thức của

cả nam giới và phụ nữ, về hoạt động kinh tế và thu nhập, nữ có thu nhập cao chiếm tỉ

lệ thấp hơn nam; trong gia đình công việc vẫn tập trung chủ yếu vào người phụ nữ, vàcông việc gia đình ít được coi trọng, con trai được coi trọng hơn con gái; về mặt chínhtrị, tỉ lệ quản lý nữ tham gia các hoạt động này còn thấp; về giáo dục và khoa học, tỉ lệ

nữ có trình độ cao còn khiêm tốn; trong chính sách pháp luật một số quy định còn có sựphân biệt như tuổi đề bạt thăng tiến, tuổi đào tạo để đào tạo nguồn cán bộ chính trị Vì

12 Khoản 5 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006

Trang 21

vậy cần áp dụng các biện pháp thúc đẩy để nhanh chống tiến tới bình đẳng giới mộtcách thực sự.

Khoản 1 Điều 4 Công ước CEDAW đã quy định các biện pháp đặc biệt tạm thờinhằm thúc đẩy bình đẳng giới “việc các nước tham gia Công ước chấp nhận các biệnpháp đăc biệt tạm thời nhằm thúc đẩy trong thực tế quyền bình đẳng giữa nam và nữkhông bị coi là phân biệt đối xử, nhưng sẽ không được bằng bất cứ cách nào buộc phảicoi đó như một kết quả của việc duy trì các tiêu chuẩn bất bình đẳng hoặc tiêu chuẩnriêng biệt”

Như vậy, theo CEDAW, các biện pháp đặc biệt tạm thời có thể áp dụng các tiêuchuẩn bất bình đẳng hoặc tiêu chuẩn riêng biệt cho nam hoặc nữ, để thúc đẩy bình đẳnggiới trên thực tế Vì thế các biện pháp này có hạn định về thời gian và điều kiện áp dụngnhất định, kèm theo tuyên bố hết hiệu lực khi các điều kiện không tồn tại và thời giantạm thời đã hết Trong trường hợp này, không bị coi là phân biệt đối xử Hỗ trợ phụ nữnhư đối với nhóm yếu thế để hạn chế bất lợi của giới này nhằm thúc đẩy nhanh bìnhđẳng giới

Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giớithực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênhlệch về vị trí, vai trò, điều kiện cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng sự thành côngcủa sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làmgiảm được sự chênh lệch này Biện pháp thúc đẩy bình dẳng giới được thực hiện trongmột thời gian nhất định và chấm dứt khi mục tiêu bình đẳng giới đã đạt được.13

Như vậy, theo quy định trên, trong một số trường hợp nhằm bảo đảm bình đẳnggiới thực chất, cơ quan có thẩm quyền có thể đưa ra các quy định trong đó điều kiệnđược áp dụng cho nam và nữ khác nhau, nhằm hạn chế điểm xuất phát khác nhau củanam và nữ Nhiều điều khoản trong Luật Bình đẳng giới cụ thể vấn đề trên, như tronglĩnh vực chính trị, bảo đảm tỉ lệ thích đáng nữ đại biểu quốc hội, đại biểu hội đồng nhândân, bảo đảm tỉ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước(Điều 11)14; trong lĩnh vực kinh tế doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ được ưu đãithuế và tài chính, lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyến nông,khuyến lâm, khuyến ngư (Điều 12)15; trong lĩnh vực lao động, đào tạo, bồi dưỡng nâng

13 Khoản 6 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006

14 Điều 11, khoản5 Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bao gồm:

a) Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới;

b) Bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.

15 Điều 12, khoản 2 Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế bao gồm:

a) Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ được ưu đãi về thuế và tài chính theo quy định của pháp luật;

Trang 22

cao năng lực cho lao động nữ (Điều 13)16…

1.2.2.4 Nguyên tắc chính sách bảo vệ, hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới

Phụ nữ có đặc điểm sinh học riêng, và giới tính của phụ nữ tạo cho họ vai trò làm

mẹ, một thiên chức quan trọng nhằm tái sản xuất con người Phụ nữ phải dành phầnkhông nhỏ cuộc sống của mình để thực hiện vai trò của người mẹ (nghĩ thai sản, nuôicon nhỏ, chăm sóc con cái…) do đó so với nam giới họ không có nhiều cơ hội và điềukiện để tham gia các hoạt động khác của đời sống xã hội Vì vậy, để phụ nữ có thể bìnhđẳng với nam giới về mọi mặt của đời sống xã hội, cần có các biện pháp đặc biệt ưu đãidành riêng cho phụ nữ trong các trường hợp cụ thể khi phụ nữ đóng vai trò làm mẹ.Theo Khoản 2 Điều 4 CEDAW, việc của nước tham gia công ước chấp nhận cácbiện pháp đã có trong công ước nhằm bảo vệ quyền làm mẹ không bị coi là phân biệtđối xử Đồng thời tại Điều 11 của Công ước đã quy định về ngăn cấm việc phạt, thảihồi phụ nữ vì có mang hoặc nghĩ đẻ và phân biệt đối xử trong trường hợp sa thải dựavào tình trạng hôn nhân; về việc quy định chế độ cho phụ nữ nghĩ đẻ được trả lươnghoặc các phúc lợi tương ứng; về khuyến khích các dịch vụ xã hội có tác dụng phụ trợcần thiết để tạo điều kiện cho cha mẹ kết hợp được nghĩa vụ gia đình với trách nhiệmlao động và tham gia vào đời sống cộng đồng; về cung cấp sự bảo hộ đặc biệt khi phụ

nữ có mang trong công việc tỏ ra có hại đối với họ

Khoản 4 Điều 6 Luật Bình đẳng giới đã cụ thể hóa các quy định trên của Côngước CEDAW và đưa thành một nguyên tắc: chính sách bảo trợ và hỗ trợ người mẹkhông bị coi là phân biệt đối xử về giới Điều 7 Luật Bình đẳng giới quy định “bảo vệ,

hỗ trợ người mẹ khi mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ, tạo điều kiện để nam nữ chia

sẻ công việc gia đình Theo Điều 14 “Nữ cán bộ, công chức viên chức khi tham gia đàotạo, bồi dưỡng mang theo con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được hỗ trợ theo quy định củapháp luật”, Điều 17 “phụ nữ nghèo cư trú ở vùng sâu vùng xa, là dân tộc thiểu số, trừcác trường hợp tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, khi sinh con đúng chính sách dân sốđược hỗ trợ theo quy định của chính phủ”

b) Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư theo quy định của pháp luật.

16 Điều 13, khoản 3 Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động bao gồm:

a) Quy định tỷ lệ nam, nữ được tuyển dụng lao động;

b) Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ;

c) Người sử dụng lao động tạo điều kiện vệ sinh an toàn lao động cho lao động nữ làm việc trong một số ngành, nghề nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại.

Trang 23

1.2.2.5 Nguyên tắc bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật

Trong xã hội hiện đại, pháp luật là công cụ điều chỉnh hành vi của con người mộtcách hiệu quả nhất Việc xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn thiện với các quy phạmpháp luật bảo đảm bình đẳng giới và việc thi hành nghiêm chỉnh hệ thống pháp luật đó

là điều kiện cơ bản và tiên quyết để đạt đến bình đẳng giới thực chất

Là Công ước duy nhất hiện nay xác lập các điều luật quốc tế về quyền phụ nữ vàtrách nhiệm của các quốc gia trong việc xây dựng và thực hiện các chương trình, kếhoạch hành động phù hợp để đạt được sự bình đẳng thực chất giữa nam và nữ, Côngước CEDAW đã quy định tại Điều 3 “chuyển hóa những nội dung cơ bản của công ướcvào hệ thống pháp luật quốc gia” Đây là trách nhiệm của các quốc gia thành viên Cụthể hóa Công ước CEDAW về vấn đề này không trái với pháp luật Việt Nam, Khoản 5Điều 6 Luật Bình đẳng giới quy định nguyên tắc bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳnggiới trong xây dựng và thực thi pháp luật

Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật tức là đưavấn đề giới, mục tiêu giới và các quá trình nhằm thay đổi nhận thức, thái độ, hành vihoạt động của các nhóm xã hội vào họat động xây dựng pháp luật và thực thi pháp luật.Nhà nước là chủ thể hoạch định chính sách, tiến hành quá trình lập pháp, lập quy.Các cơ quan có thẩm quyền ban hành pháp luật của nhà nước cần có quan điểm bìnhđẳng giới trong khi xem xét những bất lợi về giới có thể xảy ra khi ban hành các quyđịnh pháp luật Trong quá trình áp dụng luật cần có quy định rõ cơ chế giám sát, kiểmtra, thanh tra, đối với việc thực hiện bình đẳng giới

Để cụ thể hóa nguyên tắc này, Điều 21 Luật bình đẳng giới quy định về biện pháplồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, Điều 22

về thẩm tra lồng ghép vấn đề giới, các quy định từ Điều 35 đến Điều 42 về thanh tra,giám sát, xử lý quy phạm pháp luật về bình đẳng giới

1.2.2.6 Nguyên tắc thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân

Thực hiện bình đẳng giới là vấn đề quan trọng Đây không chỉ là trách nhiệm củanhà nước mà còn là trách nhiệm của các tổ chức, gia đình và cá nhân Các tư tưởng địnhkiến giới như trọng nam khinh nữ, coi việc nội trợ là việc của phụ nữ… đã ăn sâu vào

tư duy của con người, cả nam giới và phụ nữ, là quan niệm xã hội Muốn thay đổi địnhkiến giới, không chỉ có vai trò của nhà nước trong hoạch định chính sách, xây dựngpháp luật, mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tiến hành tuân thủ các quy định củapháp luật về vấn dề bình đẳng giới, đồng thời tích cực vận động, tuyên truyền bình đẳng

Trang 24

giới nhằm đạt đến sự thay đổi về bề rộng và bề sâu các tư tưởng, quan niệm bất bìnhđẳng nam nữ Chương IV luật bình đẳng giới đã quy định cụ thể trách nhiệm của cơquan, tổ chức, gia đình và cá nhân trong việc thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới (từĐiều 25 đến Điều 34).

1.3 1.3 L L Lịịịịch ch ch ssssử ử ử h h hìììình nh nh th th thà à ành nh nh v v và à à ph ph phá á átttt tri tri triểểểển n n quy quy quyềềềền n n b b bìììình nh nh đẳ đẳ đẳng ng ng gi gi giớ ớ ớiiii

1.3.1 1.3.1 Giai Giai Giai đ đ đo o oạ ạ ạn n n 1945-1954 1945-1954

Ở Việt Nam, mục tiêu bình đẳng nam, nữ (nam nữ bình quyền) đã được đưa ra từ

“Chánh cương vắn tắt” của Đảng và Bác Hồ từ năm 1930 Năm 1945, ngay sau khinước nhà giành được độc lập, chương trình bình đẳng nam, nữ đã được đưa vào luậtpháp, chính sách, chương trình hoạt động của Nhà nước một cách có hệ thống

Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 đã thể hiện rõcam kết của Đảng và Nhà nước đối với bình đẳng nam nữ Điều 1 Hiến pháp năm 1946khẳng định “nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa Tất cả quyền bính trongnước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt giống nòi, trai gái, giàunghèo, giai cấp, tôn giáo” Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, pháp luật quy định phụ

nữ được hưởng các quyền ngang với nam giới: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngangquyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa” (Điều 6 Hiến pháp năm 1946)

và “đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9 Hiến pháp năm1946)

Trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, Nhà nước Việt Nam non trẻ đã banhành Sắc lệnh đầu tiên điều chỉnh các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, đó là sắclệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 về sữa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật VàSắc lệnh 159/SL ngày 17/11/1950 quy định về vấn đề ly hôn Trong Sắc lệnh số ngày22/5/1950, vấn đề bình đẳng nam nữ trong gia đình được khẳng định “chồng và vợ cóđịa vị bình đẳng trong gia đình” (Điều 5); “người đàn bà có chồng có toàn quyền về mặthộ” (Điều 6); “người vị thành niên là con trai hay con gái chưa đủ 18 tuổi, khi đã đếntuổi thanh niên thì dù còn ở với cha mẹ, người con cũng có quyền tự lập” (Điều 7) Vấn

đề ly hôn, Sắc lệnh số 159/SL ngày 17/11/1950 cũng thể hiện sự bình đẳng nam nữ,như công nhận quyền tự do giá thú và tự do ly hôn, xóa bỏ sự phân biệt không bìnhđẳng và các duyên cớ ly hôn riêng cho vợ và chồng trong các Bộ dân luật cũ, đồng thờiquy định duyên cớ ly hôn chung cho cả vợ và chồng (Điều 2) Bên cạnh đó, Sắc lệnh159/SL ngày 17/11/1950 cũng quy định điều khoản bảo vệ phụ nữ và thai nhi mà không

bị xem là bất bình đẳng giới: “ trường hợp ly hôn mà người vợ có thai thì vợ chồng cóthể xin Tòa án hoãn đến sau kỳ sinh nở mới xử lý việc ly hôn” (Điều 5)

Trang 25

1.3.2 1.3.2 Giai Giai Giai đ đ đo o oạ ạ ạn n n ttttừ ừ ừ n n nă ă ăm m m 1954-1975 1954-1975

Sau năm 1954, Miền Bắc hoàn toàn giải phóng tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội,Miền Nam vẫn tiếp tục tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Trong giaiđoạn này, bản Hiến pháp thứ hai của Việt Nam dân chủ cộng hòa, Hiến pháp năm 1959

đã được Quốc Hội khóa I kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 31/12/1959 và được Chủ tịchnước ký lệnh công bố ngày 01/01/1960 Điều 24 Hiến pháp 1959, đã quy định và ghinhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ về mọi mặt chính trị, văn hóa, xã hội và gia đình:

“phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặtsinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình Công việc làm như nhau, phụ

nữ được hưởng lương ngang với nam giới Nhà nước bảo đảm cho phụ nữ công nhân vàphụ nữ viên chức được nghĩ trước và sau khi đẻ mà vẫn được hưởng nguyên lương.Nhà nước bảo hộ quyền lợi của người mẹ và của đứa trẻ, bảo đảm phát triển của cácnhà đỡ đẻ, nhà giữ trẻ, nhà nuôi trẻ Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình”

Ngày 17/01/1960 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh ban hành Luật Hôn nhân

và Gia đình năm 1959 Nhấn mạnh tầm quan trọng của luật này đối với sự nghiệp giảiphóng phụ nữ, Hồ Chủ Tịch đã nói: “Luật lấy vợ, lấy chồng nhằm giải phóng phụ nữ,tức là giải phóng phân nửa xã hội…nếu không giải phóng được phụ nữ thì không giảiphóng được một nữa loài người” Các nguyên tắc chung về bình đẳng nam nữ, bìnhđẳng vợ chồng được quy định tại Điều 1, Điều 2, Điều 3 của Luật Hôn nhân và Giađình năm 1959 Những điều từ Điều12 đến Điều 16 quy định bình đẳng giữa vợ chồng

về nghĩa vụ và quyền trong quan hệ hôn nhân

1.3.3 1.3.3 Giai Giai Giai đ đ đo o oạ ạ ạn n n ttttừ ừ ừ n n nă ă ăm m m 1975 1975 1975 đế đế đến n n nay nay

Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cả nước thống nhất cùngtiến lên chủ nghĩa xã hội Bản Hiến pháp thứ ba năm 1980 của nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam ra đời đã khẳng định vai trò, vị trí của Hội liên hiệp phụ nữ ViệtNam: “là chỗ dựa vững chắc của nhà nước, tham gia xây dựng và củng cố chính quyềnnhân dân” (Điều 9) Cũng trong thời điểm này Việt Nam là nước thứ sáu ký kết côngước Liên hiệp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối với phụ nữ (CEDAW)

Sau khi tham gia công ước CEDAW và nhiều công ước quốc tế khác về quyềncon người Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001) lần đầu tiên khẳng định nhànước Việt Nam tôn trọng các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và

xã hội và thể hiện các quyền đó ở các quyền công dân được quy định tại Hiến pháp vàcác đạo luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam Từ nguyên tắc “mọi công dân đềubình đẳng trước pháp luật (Điều 52), toàn bộ chương V của Hiến pháp đã tạo cơ sởpháp lý cho việc xác lập quyền bình đẳng của công dân nam và nữ trong mọi lĩnh vựccủa đời sống xã hội

Trang 26

Trong nhiều bộ luật, luật đã ban hành có các điều khoản quy định nguyên tắc mọicông dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giới tính, tôn giáo, dân tộc,…Đồng thời có các chương, điều khoản riêng áp dụng cho các đối tượng được bảo vệ đặcbiệt là phụ nữ như:

Năm 1994, Bộ Luật Lao động được ban hành, gồm 17 chương, 197 điều khoản,trong đó giành riêng chương X đưa ra những quy định riêng đối với lao động nữ

Để xử lý vi phạm hành chính đối với quyền bình đẳng, quyền và lợi ích hợp phápcủa phụ nữ, khi bị các hành vi vi phạm hành chính xâm hại, Chính phủ quy định nhiềuquy phạm pháp luật như: xử phạt những hành vi sử dụng lao động nữ nhưng không cóchỗ thay quần áo, buồng tắm, buồng vệ sinh nữ; sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợpđồng lao động với lao động nữ chỉ vì lý do kết hôn, có thai, nghĩ thai sản, nuôi con dưới

12 tháng tuổi…

Bộ Luật Hình sự năm 1999 có các điều khoản quy định về trách nhiệm hình sự, vềquyết định hình phạt đối với các tội liên quan đến phụ nữ đang mang thai; về các tộixâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm của phụ nữ Nhóm tội xâm phạm tínhmạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự (chương II) của người bị hại, trong đó có phụ nữ

và trẻ em gái có đến 4/7 tội có thể áp dụng hình phạt cao nhất (chung thân hoặc tử hình)

Đó là các tội: giết người (Điểm b Khoản 1 Điều 93); tội hiếp dâm (Điều 111); tội hiếpdâm trẻ em (Điều 112); cưỡng dâm trẻ em (Điều 114); tội mua bán phụ nữ vì mục đíchmại dâm, để đưa ra nước ngoài…Nhóm tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình(Chương XV), đặc biệt ở Điều 30 quy định “người nào dùng vũ lực hoặc có hành vinghiêm trọng khác cản trở phụ nữ tham gia hoạt động chính trị, khoa học, văn hóa, xãhội, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba thángđến một năm”

Sau năm 1975 đến nay, Luật Hôn nhân và Gia đình đã sữa đổi bổ sung nhiều lầnnhằm phù họp với trào lưu chung của xã hội Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã

bổ sung những nguyên tắc quan trọng về quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sảnchung, bao gồm cả quyền sử dụng đất, về cách phân chia tài sản đó trong trường hợp lyhôn có tính đến những tình huống thực tế mà trong nhiều trường hợp người phụ nữ đãchịu nhiều thiệt thòi như: hai vợ chồng cùng sống trong gia đình chồng, khi người vợsau ly hôn không có điều kiện canh tác trên đất thuộc quyền sử dụng chung với gia đìnhchồng…

Luật Dân sự 2005 quy định tại Điều 5, nguyên tắc bình đẳng “trong quan hệ dân

sự, các bên đều bình đẳng không được lấy lý do khác biệt về dân tộc, giới tính, thànhphần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp đểđối xử không bình đẳng với nhau”…

Trang 27

Thành tựu mà Việt Nam đã đạt được là việc Luật Bình đẳng giới đầu tiên đã đượcQuốc hội khóa XI kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006 có hiệu lực thi hành từngày 01/07/2007 Luật này được ban hành nhằm đáp ứng yêu cầu cần thiết hiện naytrong xã hội, nhằm tiếp tục thể chế hóa các chủ trương, đường lối, của Đảng về bìnhđẳng giới và tiến bộ của phụ nữ, khắc phục tình trạng phân biệt về giới và những khoảncách giới trên thực tế, khẳng định quyết tâm của Việt Nam trong mục tiêu thực hiệnbình đẳng giới, cũng như thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đã cam kết trong cộng đồngquốc tế Gần đây nhất, ngày 21/12/2007 Quốc hội khóa 12 tại kỳ họp thứ 2 đã thôngqua Luật Phòng chống bạo lực gia đình (có hiệu lực ngày 01/7/2008) Luật này thôngqua xuất phát từ thực tiễn là bạo lực gia đình diễn ra ở nhiều nơi, mọi đối tượng và gâyhậu quả nghiêm trọng.

Đặc biệt bình đẳng giới trong Hiến pháp năm 2013 cơ bản tiếp tục kế thừa các quyđịnh của Hiến pháp năm 1992 Hiến pháp năm 2013 quy định các vấn đề chung, có tínhnguyên tắc liên quan đến gia đình Tại điều 16 “mọi người đều bình đẳng trước phápluật; không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xãhội” và Điều 26 “Công dân nam nữ bình đẳng về mọi mặt; Nhà nước có chính sách bảođảm quyền và cơ hội bình đẳng giới; Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ

nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội” Các quy định trực tiếp

về hôn nhân và gia đình được Hiến định tại Điều 36 “nam nữ có quyền kết hôn, ly hôn;hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, bình đẳng, tôn trọnglẫn nhau; Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của bà mẹ và trẻem" Điều 60 quy định “Nhà nước, xã hội tạo môi trường xây dựng gia đình Việt Nam

ấm no, tiến bộ, hạnh phúc” …Bên cạnh đó một số nội dung liên quan đến gia đình vàbình đẳng giới cũng đã được Hiến định trong một số điều khoản của các chương IIquyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và chương III kinh tế, xã hội,văn hóa, gia đình, khoa học, công nghệ và môi trường

Có thể thấy, Hiến pháp năm 2013 đã quy định sự bình đẳng nam nữ một cách toàndiện, tổng quát và tiến bộ Quy định nam, nữ bình đẳng về mọi mặt trong tất cả các lĩnhvực Đây không chỉ là bình đẳng về quyền lợi mà còn là bình đẳng về trách nhiệm,nghĩa vụ trong mọi lĩnh vực

Mặc dù, còn những hạn chế nhất định, song cho đến thời điểm hiện nay, có thểkhẳng định rằng, Việt Nam đã xác lập được một khung pháp lý về bảo đảm bình đẳnggiới hoàn chỉnh Về cơ bản, hệ thống pháp luật Việt Nam hoàn toàn phù hợp với cácvăn kiện pháp luật quốc tế có liên quan trên lĩnh vực này, đảm bảo cho phụ nữ có thểhưởng thụ các quyền con người một cách bình đẳng với nam giới trên tất cả các lĩnhvực

Trang 28

1.4 1.4 N N Nộ ộ ộiiii dung dung dung v v và à à ý ý ý ngh ngh nghĩĩĩĩa a a ccccủ ủ ủa a a vi vi việệệệcccc b b bìììình nh nh đẳ đẳ đẳng ng ng gi gi giớ ớ ớiiii trong trong trong llllĩĩĩĩnh nh nh v v vự ự ựcccc gi gi giá á áo o o d d dụ ụ ụcccc v v và à

đà đào o o ttttạ ạ ạo o

1.4.1 1.4.1 N N Nộ ộ ộiiii dung dung dung ccccủ ủ ủa a a b b bìììình nh nh đẳ đẳ đẳng ng ng gi gi giớ ớ ớiiii trong trong trong gi gi giá á áo o o d d dụ ụ ụcccc v v và à à đà đà đào o o ttttạ ạ ạo o

� Khái niệm quyền bình đẳng giới trong giáo dục và đào tạo

Quyền Bình đẳng giới trong giáo dục và đào tạo là tỉ lệ đến trường, kết quảhọc tập như nhau của trẻ em trai và trẻ em gái Trẻ em gái/phụ nữ cũng được hưởng cơhội học tập như trẻ em trai/nam giới Trẻ em gái/phụ nữ và trẻ em trai/nam giới đềuđưởng hưởng cơ hội tham gia vào lĩnh vực học tập khoa học hiện đại như máy tính,thông tin

� Nội dung của bình đẳng giới trong giáo dục và đào tạo

Nội dung bình đẳng giới là tổng thể những lĩnh vực của đời sống xã hội được quyđịnh bình đẳng giới Công ước CEDAW đã đưa ra mười một lĩnh vực loại trừ phân biệtđối xử đối với phụ nữ, đó là các lĩnh vực: chính trị, đại diện quốc tế,quốc tịch, giáo dục,lao động việc làm, chăm sóc sức khỏe, kinh tế, dân sự, phụ nữ ở nông thôn, hôn nhân

và gia đình, bạo lực trên cơ sở giới tính

Trước đây nhằm nội luật hóa các quy định về các lĩnh vực loại trừ phân biệt đối

xử với phụ nữ của Công ước CEDAW, pháp luật Việt Nam đã có các quy định về cáclĩnh vực loại trừ phân biệt đối xử đối với phụ nữ trong các lĩnh vực khác nhau của đờisống xã hội và gia đình, được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật khácnhau như Hiến pháp năm 1992 Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Lao động sửa đổinăm 2002, Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000

Sau khi Luật bình đẳng giới được Quốc hội ban hành, tám lĩnh vực bình đẳng giớicủa đời sống xã hội và gia đình được luật khẳng định và ghi nhận một cách cụ thể Đây

là sự ghi nhận và khẳng định mang tính chất pháp lý về nội dung bình đẳng giới, cóphạm vi ảnh hưởng rộng rãi đối với các giới (nam và nữ), và tác động tích cực lâu dàiđối với việc triển khai các quy định bình đẳng giới trong ngành luật chuyên ngành trênthực tế, được sự bảo đảm bằng sự cưỡng chế của nhà nước Chương II luật bình đẳnggiới quy định gồm tám lĩnh vực bình đẳng giới như sau: bình đẳng giới trong lĩnh vựcchính trị; bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế; bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động;bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ; bình đẳng giới trong lĩnh vực vănhóa,thông tin, thể thao; bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế; bình đẳng giới trong gia đình;đặc biệt là bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Với nhận thức rằng giáo dục là một trong những biện pháp quan trọng hàng đầunhằm nâng cao năng lực cho người phụ nữ trong việc tiếp cận với các nguồn lực và sửdụng các cơ hội, các công cụ, kể cả công cụ pháp luật, để thực hiện bình đẳng giới nên

Ngày đăng: 03/10/2015, 04:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w