Biến đổi về vị thế của ngôi nhà sàn truyền thống trong văn hóa các tộc người Nam Đảo.. Không chỉ bị biến đổi về chất liệu, kiểu dáng, vị thế của các ngôi nhà truyền thống trong văn hóa c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐỖ THỊ HẠNH
NHÀ Ở TRUYỀN THỐNG CỦA CÁC CỘNG ĐỒNG NGƯỜI NAM ĐẢO Ở VIỆT NAM: NHỮNG BIẾN ĐỔI
VÀ HƯỚNG BẢO TỒN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Châu Á học
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐỖ THỊ HẠNH
NHÀ Ở TRUYỀN THỐNG CỦA CÁC CỘNG ĐỒNG NGƯỜI NAM ĐẢO Ở VIỆT NAM: NHỮNG BIẾN ĐỔI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Bản luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi Những kết quả trong luận văn là kết quả lao động của bản thân dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Mai Ngọc Chừ Nội dung trong bản luận văn này có sự tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và các trang website theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
Hà Nội, ngày 5 tháng 11 năm 2015
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Hạnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn thầy GS.TS Mai Ngọc Chừ là giáo viên hướng dẫn của tôi Với lòng nhiệt tình và phương pháp hướng dẫn đề tài hiệu quả, thầy đã hướng dẫn cho tôi hướng tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài đúng kế hoạch
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô làm thủ thư tại Thư viện Đại học Quốc Gia Hà Nội đã nhiệt tình hướng dẫn tôi trong quá tình tìm kiếm tài liệu nghiên cứu
Đồng thời tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đặc biệt là quý thầy cô Khoa Đông Phương học đã hết lòng tạo điều kiện học tập, truyền đạt kiến thức và kỹ năng cho tôi trong những năm học tập tại trường
Cuối cùng tôi xin cảm ơn tất cả bạn bè, người thân, những người đã luôn bên cạnh và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu, để tôi có thể hoàn thành khóa học thạc sĩ và luận văn này
Mặc dù luận văn đã được hoàn thành với tất cả sự nỗ lực của bản thân nhưng chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót Kính mong nhận được sự cảm thông và chỉ bảo từ quý thầy cô và độc giả
Hà Nội, ngày 19 tháng 09 năm 2015
Học viên thực hiện
Đỗ Thị Hạnh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 7
7 Cấu trúc luận văn 8
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC TỘC NGƯỜI NAM ĐẢO Ở VIỆT NAM 9
1.1 Nguồn gốc tộc người và sự phân bố dân cư 9
1.1.1 Nguồn gốc tộc người 9
1.1.2 Sự phân bố dân cư 12
1.2 Đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam 15 1.2.1Thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 15
1.2.2 Từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 tới nay 25
1.3 Tiểu kết 30
Chương 2 NHÀ Ở TRUYỀN THỐNG CỦA CÁC TỘC NGƯỜI NAM ĐẢO Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA CHÚNG 32
2.1 Đại cương về các ngôi nhà ở truyền thống 32
2.1.1 Nhà ở truyền thống của người Êđê 32
2.1.2 Nhà ở truyền thống của người Chăm 38
2.1.3 Nhà ở truyền thống của người Raglai 40
2.1.4 Nhà ở truyền thống của người Jarai 43
2.1.5 Nhà ở truyền thống của người Churu 47
Trang 62.2 Những biến đổi của nhà ở truyền thống của các tộc người Nam Đảo ở
Việt Nam 49
2.2.1 Biến đổi về loại hình nhà ở 50
2.2.2 Những biến đổi về yếu tố vật chất và kết cấu kỹ thuật 55
2.2.3 Những biến đổi về khuôn viên của ngôi nhà sàn truyền thống 73
2.2.4 Biến đổi về vị thế của ngôi nhà sàn truyền thống trong văn hóa các tộc người Nam Đảo 80
2.3 Tiểu kết 85
Chương 3 NGUYÊN NHÂN BIẾN ĐỔI VÀ HƯỚNG BẢO TỒN 87
3.1 Nguyên nhân của những biến đổi 87
3.1.1 Nguyên nhân từ sự thay đổi của điều kiện tự nhiên 87
3.1.2 Sự phát triển của nền kinh tế thị trường và xu hướng tách hộ 89
3.1.3 Sự tiếp xúc và giao lưu văn hóa với các tộc người khác trong khu vực 93
3.1.4 Tác động của các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước 93
3.1.5 Sự xâm nhập và phát triển của đạo Tin lành trong xã hội các tộc người Nam Đảo 96
3.2 Phương hướng bảo tồn 97
3.2.1 Hướng bảo tồn cho khu vực nhà ở truyền thống còn nguyên vẹn 99
3.2.2 Hướng bảo tồn cho khu vực nhà truyền thống đang bị biến đổi 101 3.2.3 Hướng bảo tồn cho khu vực nhà truyền thống đã bị biến đổi hoàn toàn 103
3.3 Tiểu kết 105
KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
PHỤ LỤC HÌNH ẢNH 119
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Đặc điểm cấu trúc nhà dài truyền thống của người Êđê 32 Bảng 2.2: Bảng so sánh ngôi nhà dài truyền thống giữa những tầng lớp cư dân Êđê 37 Bảng 3.1: Thống kê số lượng bếp theo từng loại hình nhà ở của người Êđê 79
DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Ngôi nhà sàn dài truyền thống của tộc người Êđê tại Bảo tàng dân tộc học Hà Nội 33 Hình 2 Nhà sàn truyền thống của người Chăm ở ấp Châu Giang 39 Hình 3 Ngôi nhà sàn truyền thống của người Raglai tại huyện Khánh Sơn, Khánh Hòa 41 Hình 4 Nhà của người Jarai tại Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam 45 Hình 5 Nhà sàn của người Churu hiện nay 48 Hình 6: Những ngôi nhà sàn ngắn ngày nay của người Jarai 51 Hình 7: Tại một số buôn, thanh niên Êđê không còn thiết tha với việc làm nhà sàn dài truyền thống 52 Hình 8: Kiểu nhà hiện đại của người Chăm ở ấp Phũm Soài 54 Hình 9 Nhà mái lá dần được thay thế bằng nhà mái ngói và mái tôn 56 Hình 10: Người Churu được làm thêm một lớp gỗ ngăn cách với mái nhà để chống nóng 57 Hình 11: Mái nhà sàn truyền thống được buộc hoàn toàn bằng các loại dây rừng 58 Hình 12: Sự cố kết giữa bộ mái và khung nhà cũng hoàn toàn bằng dây rừng 59 Hình 13 Cột gỗ và cột bê tông được sử dụng để làm cột chống sàn 60 Hình 14 Cột trụ không được đặt âm dưới đất mà đặt trên móng bê tông 61
Trang 8Hình 15 : Cách liên kết truyền thống giữa cột trụ gỗ với các cột gỗ ngang 62
Hình 16: Cột chiêng, cột trống trong nhà dài của người Êđê tại Bảo tàng dân tộc học Hà Nội 64
Hình 18: Gầm nhà sàn Churu biến mất, được xây bít tạo thành một tầng nhà để sinh hoạt 66
Hình 19 Gầm sàn nhà người Chăm biến mất và được xây bịt kín để tạo thành một tầng nhà để sinh hoạt 67
Hình 20 Vách nhà được làm bằng tôn 68
Hình 21 Gầm sàn nhà Jarai bị bịt kín và vách nhà làm bằng các tấm gỗ đóng lại 69
Hình 22.Vách nhà của người Churu 70
Hình 23 Cầu thang của người Churu 71
Hình 24 Cầu thang bằng gỗ đã được thay bằng cầu thang bê tông và kim loại 71
Hình 25 Bộ công cụ nghề mộc của người Kinh 73
Hình 26 Khuôn viên các ngôi nhà có hàng rào ngăn cách 74
Hình 27: Các giantrong nhàngười Êđê không còn được phân chia rõ ràng như trước kia 76
Hình 28: Bếp của người Raglai hiện nay 77
Hình 29: Bản vẽ cấu trúc mặt trái nhà ở người Chăm, An Giang 119
Hình 30: Bản vẽ cấu trúc mặt phải nhà ở người Chăm, An Giang 119
Hình 31: Bản vẽ cấu trúc bên trong ngôi nh à ở người Chăm, An 120
Hình 32: Nhà ở người Chăm tỉnh An Giang 120
Hình 33: Bản vẽ cấu trúc mặt phải nhà ở người Chăm, An Giang 121
Hình 34: Bản vẽ cấu trúc mặt trái nhà ở người Chăm, An Giang 121
Hình 35: Bản vẽ cấu trúc bên trong ngôi nhà ở người Chăm, An Giang 122
Hình 36: Bản vẽ kết cấu tổng thể ngôi nhà người Chăm, An Giang 122
Hình 37: Nhà ở người Chăm, An Giang 123
Trang 9Hình 38: Bản vẽ kết cấu khung nhà ở người Chăm, Ninh Thuận 124
Hình 39: Bản vẽ kết cấu vách nhà ở người Chăm, Ninh Thuận 125
Hình 40: Bản vẽ kết cấu mặt trước ngôi nhà ở người Chăm, Ninh Thuận 125
Hình 40: Hàng rào hiên cửa nhà ở người Chăm, Ninh Thuận 126
Hình 41: Vách và mái nhà người Chăm, Ninh Thuận 126
Hình 42: Kết cấu mái chống nóng nhà ở người Chăm, Ninh Thuận 127
Hình 43: Bản vẽ kết cấu tổng thể nhà ở truyền thống người Êđê 127
Hình 44: Bản vẽ mặt trước nhà người Êđê 128
Hình 45: Bản vẽ kết cấu mặt dọc và mặt ngang nhà người Êđê 128
Hình 46: Bản vẽ cấu trúc bên trong ngôi nhà ở người Êđê 129
Hình 47: Cầu thang trước cửa nhà người Êđê 130
Hình 48: Kết cấu bên trong nhà người Êđê 131
Hình 49: Bản vẽ tổng thể nhà ở người Churu 131
Hình 50: Kết cấu vách và máí nhà người Churu 132
Hình 51: Kết cấu vì kèo mái nhà ở người Churu 132
Hình 52: Cấu trúc bên trong ngôi nhà ở người Churu 133
Hình 53: Nhà ở người Churu 134
Hình 54: Kết cấu mái nhà người Churu 134
Hình 55: Bản vẽ kết cấu tổng thể nhà ở người Jarai 135
Hình 56: Bản vẽ mặt trục đứng nhà ở người Jarai 135
Hình 57: Cửa chính nhà người Jarai 136
Hình 58: Cầu thang sau nhà của người Jarai 136
Hình 59: Mặt trục đứng phía sau ngôi nhà ở người Raglai 137
Hình 59: Trục đứng trước nhà ở người Raglai 137
Hình 60: Nhà ở người Raglai 138
Hình 61: Cầu thang giữa của nhà người Raglai 138
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Theo ngôn ngữ - văn hóa, các tộc người ở Việt Nam được xếp thành 8 nhóm khác nhau, trong đó có 5 tộc người thuộc nhóm Mã Lai - Đa Đảo là Chăm, Giarai, Êđê, Raglai và Churu Những tộc người này thuộc loại hình nhân chủng Indonesien, có tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayo - Polynesien trong họ ngôn ngữ Nam Đảo, nên thường được gọi là cộng đồng
người Nam Đảo
Hiện nay dân số của 5 tộc người này có trên 600 nghìn người, chiếm tỉ
lệ gần 1% dân số chung của Việt Nam và trên 0,23% tổng dân số các tộc người Nam Đảo ở Đông Nam Á [53, tr.7] Các tộc người Nam Đảo thường sinh sống chủ yếu trên địa bàn rừng núi Nam Trường Sơn - Tây Nguyên và đồng bằng ven biển Trung Bộ
Trong số những yếu tố thuộc văn hóa vật chất của các tộc người Nam Đảo, ngôi nhà luôn là một trong những đề tài nghiên cứu hấp dẫn, bởi vì các kết quả nghiên cứu về ngôi nhà không chỉ cho thấy giá trị vật thể của nó, mà còn góp phần làm sáng tỏ một số phong tục, tập quán, nghi lễ của các tộc người Nam Đảo có liên quan và diễn ra trong ngôi nhà của họ
Các nghiên cứu cho thấy, nhà ở truyền thống của các tộc người Nam dảo chủ yếu là nhà sàn gỗ, nhưng theo thời gian trở lại đây ngôi nhà sàn truyền thống đã bị biến đổi thành những ngôi nhà nửa sàn nửa trệt, hoặc nhà trệt Không chỉ bị biến đổi về chất liệu, kiểu dáng, vị thế của các ngôi nhà truyền thống trong văn hóa của các tộc người Nam Đảo cũng đang dần bị biến đổi Vậy đâu là nguyên nhân của những sự biến đổi này? Đây là một vấn đề khoa học thú vị, cần được nghiên cứu để làm sáng tỏ
Từ những lý do trên, cùng với mong muốn được góp phần tìm hiểu sâu hơn về ngôi nhà ở truyền thống và những biến đổi của chúng, đồng thời tìm ra
Trang 11những nét đặc sắc riêng trong văn hóa sinh hoạt của các tộc người Nam Đảo,
chúng tôi đã thực hiện đề tài nghiên cứu “Nhà ở truyền thống của các cộng
đồng người Nam Đảo ở Việt Nam: Những biến đổi và hướng bảo tồn” Chúng
tôi tin rằng, đề tài nghiên cứu này không chỉ bổ sung thêm những hiểu biết về văn hóa của các tộc người Nam Đảo ở nước ta, mà còn cung cấp thêm những
tư liệu để nhận diện rõ các giá trị văn hóa nhà ở truyền thống của các tộc người Nam Đảo trước những biến đổi nhanh chóng của môi trường sinh thái
và môi trường xã hội trong bối cảnh nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Tình hình nghiên cứu về các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam
Các nhà nghiên cứu phương Tây chú ý đến các cộng đồng tộc người thuộc ngữ hệ Nam Đảo ở Việt Nam và Đông Nam Á chủ yếu từ khi các đế quốc phương Tây tiến hành xâm lược, đô hộ các quốc gia Đông Nam Á, trong
đó có Việt Nam Những nghiên cứu của các nhà khoa học phương Tây thường
tập trung vào 3 lĩnh vực chính:
- Nguồn gốc của các tộc người Nam Đảo Những công trình thuộc lĩnh vực này có thể kể đến là Urheimal und Frahesle Wanderungen (Quê hương
ban đầu và cuộc thiên di sớm nhất của người Nam Đảo) của R Heine
Geldern, Reflections on the new data of Southeast Asian Prehistory:
Austronesian origin and consequence (Suy nghĩ về những tư liệu mới của tiền
sử Đông Nam Á: Nguồn gốc và kết quả Nam Á) của W.G Solheim II, …
- Ngôn ngữ của các tộc người Nam Đảo Những công trình thuộc loại này thường được công bố dưới hình thức các bài báo, chẳng hạn, Proto-
Malaya – Polynesian reflexes in Rade, Jarai and Chru, trong “Studies in
Linguistics”, Vol XVII, 1963 của Thomas M.D., Southeast Asian areal
features in Austronesian strata of Chamic languages, trong “Oceanic
Trang 12Linguistics”, Vol 13, No 1-2, 1974 của Lee E.W., Phonological units in
Cham (Các đơn vị âm vị học trong tiếng Chăm) trong “Anthropological
Linguistics” của Blood D.L., …
- Văn hóa – xã hội của các tộc người Nam Đảo Có thể kể đến những
công trình như La Culture J’rai (Văn hóa Jarai), 1972 của Jacques Dournes, Les Rhades: Une societe de droit maternel (Người Êđê: Một xã hội mẫu quyền) của Anne De Hautecloque -Howe, …
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về các tộc người Nam Đảo được bắt đầu
từ góc độ của Dân tộc học và Nhân học Có thể kể đến một số công trình tiêu
biểu như Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam đa tộc người của Đặng Nghiêm Vạn (NXB ĐHQG TP HCM, 2009), Tộc người và văn hóa tộc người của Ngô Văn Lệ (NXB ĐHQG TP HCM, 2004), Các dân tộc ở Đông Nam Á (Nguyễn Duy Thiệu cb, NXB Văn hóa dân tộc, 1997), Các dân tộc ít người ở
Việt Nam (Các tỉnh phía Nam) (NXB KHXH, 1984), Dân tộc học đại cương
của Lê Sĩ Giáo, Hoàng Lương, Lâm Bá Nam, Lê Ngọc Thắng (NXB Giáo dục, 1997), v.v Nhìn chung, trong những công trình nêu trên, nhóm tộc người thuộc ngữ hệ Nam Đảo mới chỉ được đề cập đến một cách đại cương, sơ lược, mang tính chất giới thiệu là chính
Trong số những công trình giới thiệu đại cương về các tộc người Nam
Đảo ở Việt Nam, tiêu biểu nhất là Lịch sử phát triển xã hội các tộc người Mã
Lai – Đa Đảo ở Việt Nam của Nguyễn Tuấn Triết (NXB KHXH, 2000)
2.2 Tình hình nghiên cứu về nhà ở của các tộc người Nam Đảo ở Việt
Trang 13Văn Thiên, Nguyễn Trung Minh (NXB Quân đội nhân dân, 2010), Các dân
tộc ít người ở Việt Nam – Các tỉnh phía Nam (NXB KHXH, 1984), … Có rất
ít công trình bàn riêng về nhà ở của nhóm tộc người Nam Đảo Giới thiệu tương đối đầy đủ và tổng quan về nhà ở của nhóm tộc người Nam Đảo ở Việt
Nam là công trình của Chu Quang Trứ: Kiến trúc dân gian truyền thống Việt
Nam (NXB Mỹ Thuật, 2003) Tuy nhiên trong tác phẩm này, tác giả chủ yếu
giới thiệu rất vắn tắt về nhà rông Jarai, nhà dài Êđê và nhà sàn Chăm Hơn nữa đây là tác phẩm giới thiệu toàn bộ kiến trúc dân gian truyền thống Việt Nam cho nên số trang viết về nhà ở của các tộc gười Nam Đảo không nhiều
Đi sâu vào nhà ở của từng tộc người, có 3 công trình về nhà ở của
người Chăm, đó là Nhà người Chăm của Nguyễn Văn Luận (Văn hóa tập san, 1975), Nhà người Chăm của Lê Huy Đại (NXB Thế Giới, 2005) và Nhà ở của
người Chăm Ninh Thuận: Truyền thống và biến đổi do Lê Huy Đại làm chủ
biên (NXB KHXH, 2011) Đây là những công trình khảo sát nhà ở của người Chăm, nhất là Chăm Ninh Thuận, một cách khá toàn diện
Hai công trình khảo cứu chuyên sâu về văn hóa cư trú của người Êđê được thực hiện vào năm 1942 đều bởi hai nhà khoa học phương Tây, đó là
L’habitation Rhadé, les rites et les techniques của Maurice A (B.I.I.E.H, vol
5, fasc 1) và L’habitation Rhadé của Ner M (C.E.F.E.O, supplément 2) Với các tộc người Churu, Raglai, Jarai chưa có những công trình nghiên cứu chuyên sâu được xuất bản về nhà ở truyền thống của họ
Ngoài những cuốn sách và các bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học, gần đây đã có một số khóa luận, luận văn, luận án đề cập đến nhà ở truyền thống của từng tộc người Nam Đảo ở Việt Nam chẳng hạn: Nguyễn Thị Thu Hà (2014), Kĩ thuật dựng nhà và cấu trúc ngôi nhà ở truyền thống của người Churu ở huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia
Trang 14Hà Nội) [16] Đinh Thị Minh Nguyệt (2014), Những biến đổi của ngôi nhà ở truyền thống của người Jarai và phương hướng bảo tồn (Khảo sát tại huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai), Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) [33] Trương Thị Bảo Ngọc (2014), Kĩ thuật dựng nhà và cấu trúc ngôi nhà ở truyền thống của người Jarai ở huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai, Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) [32] Phan Thu Hà (2014), Những biến đổi của ngôi nhà ở truyền thống của người Churu và phương hướng bảo tồn (Khảo sát tại huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng), Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) [17] Hạ Thị Xuân Khoa (2014), Kĩ thuật dựng nhà và cấu trúc ngôi nhà truyền thống của người Chăm ở An Giang, Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) [25] Cao Thị Minh Châu (2014), Những biến đổi của ngôi nhà ở truyền thống của người Chăm và phương hướng bảo tồn (Khảo sát tại An Giang), Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) [5] Hoàng Ánh Vân (2014), Những biến đổi của ngôi nhà ở truyền thống của người Raglai và phương hướng bảo tồn (Khảo sát tại huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa), Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) [59] Tăng Việt Hương (2013), Văn hóa cư trú của người Êđê ở Tây Nguyên: Trường hợp nhà dài, Luận văn Thạc
sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM [22] Nguyễn Thị Nga (2012),Văn hóa cư trú của người Chăm ở Đồng bằng sông Cửu Long, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM [31] Đỗ Thị Xuân Hiếu (2010), Nhà Rông trong đời sống văn hóa của người Giarai ở Gia Lai, Kon Tum, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM [21]
Trang 15Như vậy là, cho đến nay, tuy đã có một số công trình nghiên cứu về nhà ở
truyền thống của một vài tộc người Nam Đảo nhưng chưa có một công trình nào
khảo sát đầy đủ, toàn diện và hệ thống về nhà ở truyền thống của nhóm tộc người Nam Đảo ở Việt Nam Đấy là lí do để chúng tôi thực hiện đề tài này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Người viết tập trung nghiên cứu về ngôi nhà ở truyền thống của 5 tộc người: Churu, Êđê, Jarai, Raglai, Chăm; nghiên cứu những ngôi nhà ở truyền thống đang bị biến đổi
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn hướng vào nhà ở truyền thống của đồng bào 5 tộc người Nam Đảo đang sinh ở vùng Tây Nguyên, An Giang, Ninh Thuận, Khánh Hòa
4 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu những nét khái quát, đặc trưng về nhà ở truyền thống của cộng đồng các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam
- Tìm hiểu thực trạng biến đổi và những biến đổi của nhà ở truyền thống của cộng đồng các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam
- Tìm ra nguyên nhân của những biến đổi và bước đầu đưa ra hướng bảo tồn cho những ngôi nhà ở truyền thống
4.2 Mục đích nghiên cứu
Với đề tài này, mục đích của luận văn là nhằm tìm ra nguyên nhân biến đổi và xu hướng biến đổi của các ngôi nhà ở truyền thống của các tộc người Nam Đảo ở nước ta, từ đó bước đầu đưa ra các hướng bảo tồn, nhằm gìn giữ những nét đẹp văn hóa truyền thống của tộc người
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích- tổng hợp tư liệu: Vận dụng phương pháp này
để thu thập, xử lý các nguồn tư liệu cổ và tư liệu thu thập được qua sách báo
Trang 16và các đề tài nghiên cứu, người viết tổng hợp, đối chiếu, phân tích số liệu qua các nguồn tư liệu tiếp cận được, các chỉ thị, nghị quyết và báo cáo định kỳ trên các địa bàn nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Phương pháp thống kê - so sánh: Chúng tôi đã sử dụng phương pháp
thống kê để thống kê thành hệ thống các bảng biểu về số lượng bếp, đặc điểm cấu trúc nhà ở truyền thống nhằm so sánh làm sáng tỏ những khía cạnh biến đổi của ngôi nhà ở truyền thống hiện nay
Phương pháp miêu tả: Người nghiên cứu đã sử dụng triệt để phương pháp
miêu tả để phác họa về các đặc điểm của ngôi nhà ở truyền thống của cộng đồng các tộc người Nam Đảo ở nước ta hiện nay và những biến đổi của chúng
Phương pháp lịch sử: Người nghiên cứu tìm hiểu về nhà ở truyền thống
và những biến đổi của nhà ở truyền thống của các cộng đồng người Nam Đảo
ở nước ta dưới góc độ lịch đại và đồng đại qua các tư liệu cổ và đặc biệt tài liệu sử học có liên quan tới các tộc người Nam Đảo
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Tổng hợp các kiến thức từ các
ngành khác nhau liên quan đến vấn đề nghiền cứu Phương pháp này đã cho người nghiên cứu một cái nhìn tổng quát, đa dạng về vấn đề nghiên cứu trên nhiều khía cạnh khác nhau, giúp người nghiên cứu đưa ra được những nhận xét, đánh giá khách quan, đồng thời không bỏ sót các thành tố văn hóa tác động tới đối tượng nghiên cứu
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần làm
phong phú thêm tư liệu cho khoa học nghiên cứu văn hóa dân tộc Việc nghiên cứu về nhà ở truyền thống và những biến đổi của chúng sẽ góp phần làm rõ thêm tiến trình phát triển văn hóa của các cộng đồng người Nam Đảo
ở nước ta, cũng như các truyền thống văn hóa của họ đã được hình thành trong quá trình sinh sống và phát triển lâu dài
Trang 17Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn góp phần nhận diện vị thế văn hóa của nhà
ở truyền thống của các cộng đồng người Nam Đảo đối với công cuộc giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Nghiên cứu những biến đổi và xu hướng biến đổi của nhà ở truyền thống là nghiên cứu về công cuộc đổi mới đời sống văn hóa, từ đó góp phần đưa ra các cơ sở khoa học cho những nhận định, chính sách trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong thời đại mới
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam
Chương 2: Nhà truyền thống của tộc người Nam Đảo ở Việt Nam và
những biến đổi của chúng
Chương 3: Nguyên nhân biến đổi và hướng bảo tồn cho những ngôi
nhà truyền thống của các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam
Trang 18Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC TỘC NGƯỜI NAM ĐẢO Ở VIỆT NAM 1.1 Nguồn gốc tộc người và sự phân bố dân cư
1.1.1 Nguồn gốc tộc người
Những nghiên cứu gần đây cho thấy địa bàn cư trú của các tộc người Nam Đảo trên thế giới hầu như nằm gọn trong khu vực Đông Nam Á Dân số của cộng đồng này chiếm tỉ lệ 55,5% dân số chung của toàn khu vực Trong
số đó, có 5 tộc người cư trú trên lãnh thổ Việt Nam (Chăm, Raglai, Churu, Giarai, Êđê); dân số của 5 tộc người này chiếm tỉ lệ 7,3% tổng dân số các tộc người thiểu số của cả nước; địa bàn cư trú lâu đời của 5 tộc người này là vùng đất thuộc Nam Trường Sơn - Tây Nguyên và dải đồng bằng hẹp ven biển miền Trung [53, tr.7]
Việc tìm hiểu nguồn gốc của các tộc người Nam Đảo là một vấn đề khoa học lớn, đã và đang được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Việc giải quyết vấn đề nguồn gốc xuất phát của người Nam Đảo ở Việt Nam còn nhiều ý kiến khác nhau Dựa trên những ý tưởng khoa học kết hợp với nhiều kết quả nghiên cứu gần đây của các ngành khoa học về Khảo cổ, Dân tộc, Nhân Chủng…một số nhà khoa học Việt Nam đã hướng suy nghĩ về cội nguồn lịch sử của những người Nam Đảo ở Việt Nam, là một trong những hệ quả từ quá trình thiên di của lớp người Deutero - Mã Lai thời đồ đá Trong quá trình thiên di ấy, một bộ phận của lớp người này đã tiếp cận và dừng chân trên vùng đất thuộc lãnh thổ Việt Nam ngày nay Bộ phận này tụ cư thành nhiều nhóm trên khắp địa bàn miền Trung và Nam của Trung Bộ Chính những người này và con cháu của họ đã sáng tạo ra phức hệ văn hóa Bàu Trám - Sa Huỳnh được các nhà Khảo cổ học xếp vào thời sơ sử Hai nhà khảo
cổ học, Giáo sư Trần Quốc Vượng và Giáo sư Hà Văn Tấn đã có những nhận định rất thuyết phục về mối quan hệ giữa các tộc người Nam Đảo với với văn
Trang 19hóa Sa Huỳnh: “Chủ nhân văn hóa Sa Huỳnh là tổ tiên trực tiếp của những cư
dân đã xây dựng các quốc gia Chăm Pa” [45, tr.49 ]; “Văn hóa Chăm Pa nảy sinh từ văn hóa Sa Huỳnh, người Chăm cổ là con cháu của người Sa Huỳnh cổ” [61, tr.109]
Bên cạnh vấn đề về nguồn gốc xuất phát của các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam nói chung, là vấn đề nguồn gốc hình thành từng tộc người nói riêng trong nhóm tộc người này cũng được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến Có một số ý kiến cho rằng các tộc người Giarai, Êđê, Raglai, Churu ra đời sau tộc người Chăm, trên cơ sở một bộ phận của tộc người Chăm tách ra mà hình thành…Trong lịch sử có một bộ phận người Chăm vì không chịu đựng nổi sự thống trị của Hindu nên đã từ bỏ nước Lâm Ấp mà thiên di lên vùng Trường Sơn, chinh phục và hòa huyết với cư dân bản địa rồi hình thành nên người Giarai và người Êđê, khai phá cao nguyên Đắk Lắk - Pleiku…Gần đây trong
cuốn sách “Các dân tộc ít người ở Việt Nam, các tỉnh phía Nam” của Viện dân tộc học có nhận định rằng “Những nhóm cư trú kế cận người Chăm giáp
với đồng bằng như Churu, Raglai mang nhiều yếu tố sâu sắc của văn hóa Chăm, gợi mối nghi ngờ: họ là một bộ phận của người Chăm mới tách ra và chuyển lên miền núi” [60, tr.59]
Qua nghiên cứu, các nhà khoa học đã bước đầu tìm hiểu được nguồn gốc của tộc người Nam Đảo ở Việt Nam như sau:
Vào thời đại Đá Mới, trên địa bàn thuộc miền Trung và miền Nam Trung Bộ của Việt Nam ngày nay đã có lớp người Deuterco - Malais sinh sống Lớp người này phân chia thành nhiều nhóm, dừng chân trên từng địa bàn riêng, có những đặc thù về địa lý sinh thái Đời sống của mỗi nhóm như vậy phải thích nghi và chịu tác động của những yếu tố địa lý - sinh thái - nhân văn đặc thù, dần dần làm biến đổi và tạo ra những khác biệt nhất định so với ban đầu trong các yếu tố văn hóa, ngôn ngữ… Đó là một quá trình lịch sử lâu
Trang 20dài Trong đó sự tự thân vận động của mỗi nhóm trong không gian sinh tồn của měnh không tránh khỏi những tác động nhất định từ các ngữ hệ ở nhiều vùng trên thế giới đến
Con đường phân ly của lớp người Deutero - Malais ở niềm Nam Đông Dương đã diễn ra như vậy để định hình những nhóm người có nét riêng trong văn hóa và hình thành tâm lí tộc người riêng Có thể khi bước vào thời đại kim khí, thì người Malayo - Polyesien ở miền nam Đông Dương đã hình thành năm nhóm người
Một nhóm dừng chân trên cao nguyên Gia Lai - Kom Tum, sinh tụ trên vùng đất có nhiều dòng sông chảy qua và có nhiều thác nước Nhóm này định hình nên một tộc người, tự nhận mình là người Giarai Trong ngôn ngữ Nam Đảo, từ “giơ rai” có nghĩa là “thác nước”
Một nhóm dừng chân trên cao nguyên Đắk Lắk màu mỡ, sinh tụ trên một vùng đất có nhiều suối và rừng tre Nhóm này định hình nên một tộc người, tự nhận mình là “Orang Êđê” Trong ngôn ngữ Nam Đảo thì từ
“orang” nghĩa là “người”, “êđê” có nghĩa là “tre”
Một nhóm dừng chân trên vùng thung lũng Đran tương đối bằng phẳng thuộc cao nguyên Lang Bian, gần nơi cư trú của tộc người Cơ Ho (thuộc ngữ
hệ Môn- Khmer) Nhóm này định hình nên một tộc người, tự nhận mình là người Cru (Chu ru) Trong ngôn ngữ Nam Đảo, từ “Cru” có nghĩa là “chiếm đất mới”
Một nhóm dừng chân ở vùng rừng rậm, núi non hiểm trở thuộc rìa đông của Nam Trường Sơn- Tây Nguyên Nhóm này định hình nên một tộc người,
tự nhận mình là Orang Glai Trong ngôn ngữ Nam Đảo, “Glai” có nghĩa là
“rừng rậm” Tên Orang Glai còn ám chỉ sự phân biệt với người ở biển “Orang
La Út” (trong ngôn ngữ Nam Đảo, “Laut” có nghĩa là “biển”
Trang 21Một nhóm dừng chân ngay trên vùng đồng bằng hẹp ven biển Đông, nơi có nhiều thuận lợi về mặt địa lý - sinh thái cho sản xuất nông nghiệp và giao lưu quốc tế hơn so với bốn nhóm kể trên Ngoài ra, nhóm này còn được trực tiếp thừa kế những thành tựu của văn hóa Sa Huỳnh ngay trên địa bàn đã từng là cái nôi của nền văn hóa đó Với nhiều lợi thế như vậy, nhóm người này sớm tạo ra một nền văn hóa phong phú và rực rỡ cùng một nền kinh tế -xã hội phát triển cao hơn so với bốn nhóm kia, định hình nên một tộc người, nhận tộc danh là Chăm (tên gọi khác là Chàm) [53, tr 22]
1.1.2 Sự phân bố dân cư
Sự phát triển nội tại cùng với những chi phối của những biến động lịch
sử trong khu vực đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự phân bố các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam
Người Giarai có ý thức rõ ràng về lãnh thổ tộc người của mình Ban đầu người Giarai phân bố cư trú ở lưu vực đông Ia Yun và sông Ba, trên cao nguyên Pleiku Từ đó người Giarai mở rộng địa bàn cư trú của mình lên phía bắc và xuống phía tây Cuối cùng của quá trình mở rộng địa bàn cư trú là sự sinh sống xen kẽ giữa tộc người Giarai với các tộc người khác như Bana, Xu đăng…và hình thành những nhóm địa phương của tộc người này Ngày nay người ta biết đến 6 nhóm địa phương của người Giarai cư trú trên lãnh thổ Việt Nam (tập trung trên vùng Giarai - Kom Tum): Giarai Chor, Giarai Hdrung, Giarai Arap, Giarai Mthur, và Giarai Tbuan Ngày nay dân số của tộc người Giarai có trên 260 nghìn người, đứng đầu trong số 5 tộc người Nam Đảo ở Việt Nam và đứng hàng thứ 9 trong số 53 tộc người thiểu số trên toàn quốc, trong đó có 90% cư trú ở tình Gia Lai (1997)
Người Êđê lúc đầu sinh tụ trên vùng đất trung tâm cao nguyên Đắk Lắk Từ đó tộc người này mở rộng địa bàn cư trú của mình tới các vùng như: Krông Pach, Krong Buc, Ea Ka, M’Đắc, Chu MGar, Krong Năng, Krong
Trang 22Ana…và một số miền đất giáp ranh Đắc Lắc - Phú Yên - Khánh Hòa… Quá trình phân bố cư trú trên một địa bàn rộng của người Êđê đồng thời là quá trình tộc người này cư trú xen kẽ, tiếp xúc với nhiều tộc người khác như M’nông, Xơ đăng, Giarai…và phân ly thành nhiều nhóm địa phương như: Kpa, Krung, Mthur, Atham, Ktul, Dlie, Kah, Kdung… Ngày nay dân số của người Êđê là trên 220 nghìn người, đứng hàng thứ hai trong số 5 tộc người Nam Đảo ở Việt Nam và đứng hàng thứ 10 trong 54 tộc người thiểu số trên toàn quốc, trong đó tập trung đông nhất ở tỉnh Đắk Lắk (91%), kế đó là tỉnh Phú Yên (gần 6%)
Người Chăm là tộc người được kế thừa trực tiếp những thành tựu của văn hóa Sa Huỳnh ngay trên lãnh thổ mà người Sa Huỳnh đã từng sinh sống
Xa xưa, người Chăm cư trú trên dải đồng bằng hẹp ven biển miền Trung, thuộc địa phận các tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam - Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuần ngày nay Điều kiện địa lý, sinh thái vùng cư trú và bối cảnh lịch
sử đã chi phối mạnh đến sự phát triển nội tại của tộc người Chăm, trong đó có quá trình thu hẹp dần lãnh thổ tộc người về phía Nam Đồng thời với quá trình thu hẹp lãnh thổ xuống phía nam, một nhóm người Chăm đã di cư đến những miền đất khác, dần dần tạo thành những nhóm địa phương của tộc người này, tiêu biểu là nhóm Chăm Islam ở đồng bằng Sông Cửu Long, ở Thành Phố Hồ Chí Minh và nhóm Chăm Hroi ở Phú Yên - Bình Định hiện nay Dân số của người Chăm ngày nay là 110 nghìn người, đứng thứ ba trong 5 tộc người Nam Đảo ở nước ta và đứng thứ 15 trong 54 tộc người thiểu số trên toàn quốc, trong đó tập trung ở 2 tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận (64%), kế đến là
ở tỉnh Phú Yên (13%), tỉnh An Giang (12%)
Người Raglai, ban đầu định cư tại vùng núi rừng hiểm trở rìa đông của Nam Trường Sơn - Tây Nguyên và phía bắc của dãy Hà La Thượng - É Qué
Trang 23thuộc địa phận miền Tây của tỉnh Khánh Hòa ngày nay Về sau một bộ phận người Raglai đã vượt qua dãy Hà La Thương – É qué, băng qua sông Cái, sông Dinh và tiến xuống phía Tây Nam (tỉnh Ninh Thuận ngày nay) Qua quá trình di cư lâu dài, khiến cho nội bộ tộc người Raglai phân ly thành nhiều nhóm với những sắc thái địa phương nhất định, điển hình là nhóm Raglai bắc
và nhóm Raglai nam Ngày nay dân số của Raglai có khoảng 80 nghìn người, đứng hàng thứ tư trong 5 tộc người Nam Đảo ở Việt Nam và đứng hàng thứ
19 trong 54 tộc người thiểu số trên toàn quốc, trong đó tập trung đông nhất ở tỉnh Ninh Thuận (53,5%), kế đến là tỉnh Khánh Hòa (35%)
Người Churu lúc đầu định cư ở thung lũng Đran (tương ứng với vùng Đơn Dương tỉnh Lâm Đồng ngày nay) Sau đó, người Churu tỏa rộng địa bàn
cư trú của mình ra các vùng kế cận như địa bàn Đức Trọng, Di Linh của tỉnh Lâm Đồng và sang thung lũng É Lâm thuộc miền núi phía tây tỉnh Ninh Thuận Người Churu có dân số ít nhất trong 5 tộc người Nam Đảo ở Việt Nam (khoảng 11 nghìn người) và đứng hàng thứ 34 trong 54 tộc người thiểu
số trên toàn quốc, cư trú chủ yếu trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng [53, tr 28-32]
Như vậy là địa bàn cư trú của các tộc người Nam Đảo ở Việt Nàm là kế cận nhau: Người Chăm ở dải đồng bằng hẹp ven biển miền Trung, người Giarai ở cao nguyên Pleiku, người Êđê ở cao nguyên Đắk Lắk, người Churu ở cao nguyên Lang Bian, người Raglai ở rìa đông của Nam Trường Sơn - Tây Nguyên Tuy định cư kế cận nhau nhưng các vùng cư trú ban đầu của các tộc người lại có những nét đặc thù về vị trí địa lý và môi trường tự nhiên Chính những nét đặc thù ấy đã là điều kiện rất quan trọng quy định sự tồn tại và phát triển của các tộc người
Ngày nay phần lớn các tộc người Nam Đảo vẫn cư trú trên các khu vực thuộc địa bàn Tây Nguyên và Nam Bộ, nhưng sự phân bổ cư trú đã có nhiều nét khác xưa, phản ánh hệ quả từ quá trình xáo động dân cư trải qua nhiều biến cố lịch sử
Trang 241.2 Đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam
1.2.1Thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
Trước cách mạng tháng Tám, xu thế phát triển của các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam đã bước đầu tiếp cận với xu hướng vận động chung của xã hội nước ta, nhưng còn khá rõ nét hình dáng của xã hội cổ truyền với những biến thái nhất định bởi tác động của chính sách phong kiến Việt Nam và thực dân Pháp trong lịch sử, đồng thời cũng còn nhiều chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế -xã hội giữa các tộc người
Tộc người Chăm, sau quá trình phân ly đã quy tụ vào 3 khu vực chính:
đồng bằng ven biển cực Nam Trung Bộ; đồng bằng Nam Bộ ven biên giới Việt Nam - Campuchia; miền thượng du Nam Trung bộ
Khu vực đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ là nơi cư trú lâu đời của tộc người Chăm, có tỉ lệ dân số cao nhất trong ba khu vực, vẫn duy trì sinh hoạt kinh tế cổ truyền của tộc người là trồng lúa nước Nhiều nghề truyền thống cũng đã bị mai một như nghề dệt và nghề gốm chỉ còn được lưu lại tại vài điểm dân cư
Những người Chăm ở khu vực này vẫn còn lưu lại phần lớn các tập quán sinh hoạt tín ngưỡng và hai tôn giáo đã có từ lâu đời là Balamon và Islam Những người Chăm theo Balamon sùng bái, cầu nguyện và tin tưởng vào việc thờ cúng những vị thần linh của mình như Po Inu Nugar, Po Klong Garai, Po Rome gắn với những tín ngưỡng dân gian và lễ nghi nông nghiệp Việc thờ cúng và lễ hội thường được tiến hành ở các lăng, tháp do một ban tế
lễ phụ trách, gồm các chức danh: Paseh Kadhar, PaJajau, Chamnay Những người theo Islam Bani sùng bái, cầu nguyện và tin tưởng vào thánh Allah và giáo chủ Mohamet, thực hành những tín điều được hướng dẫn trong kinh thánh Koran và các sách Hadith, Sunna….Tầng lớp tu sĩ của Islam Bani được gọi là “Po Achar”, được tổ chức chặt chẽ theo từng thánh đường thuộc từng
Trang 25đơn vị cư trú và được phân thành 4 cấp, từ thấp đến cao là: Achar, Khotip, Imum, Po Gru Ban lãnh đạo của thánh đường Islam Bani được bầu ra từ tầng lớp tu sĩ và làm việc theo nhiệm kỳ (mỗi nhiệm kỳ là 3,4 hoặc 5 năm), gồm các chức vị: Mungdinh, Tiptan, Mumtan Bên cạnh những sinh hoạt tôn giáo theo cộng đồng Plei, người Chăm ở đây còn thực hiện các lễ cúng theo dòng
họ hoặc tại tư gia, như lễ Rija mà chủ trì những lễ này là Muk Rija…
Khu vực đồng bằng gần biên giới Việt Nam - Campuchia là vùng mà người Chăm đến định cư từ giữa thế kỷ XIX, có tỉ lệ dân số ít nhất trong ba khu vực, đã xa rời các hoạt động sản xuất nông nghiệp cổ truyền (trồng lúa nước) để làm quen với các hoạt động đánh bắt cá trên sông và buôn bán
Người Chăm ở đây tuy rời xa nhiều hoạt động sản xuất thủ công truyền thống, nhưng vẫn bảo lưu và phát triển ở mức độ nhất định nghề dệt cổ truyền
và đưa sản phẩm dệt ra thị trường bán Họ tụ cư thành những Plei ven sông, mỗi Plei bao gồm nhiều Puk Sự tụ cư như vậy ít theo dòng họ mà chủ yếu theo tôn giáo
Nhóm người Chăm ở khu vực thượng du Nam Trung Bộ (thuộc địa bàn miền núi tỉnh Phú Yên và tỉnh Bình Định) là nhóm người Chăm Hroi, sống xen kẽ với người Bana và người Giarai Nhóm người Chăm ở khu vực này có nhiều nét sinh hoạt, văn hóa rất khác với những người Chăm ở hai khu vực đồng bằng ven biển cực Nam Trung Bộ và đồng bằng ven biển Nam Bộ ven biên giới Việt Nam - Campuchia Ở đây người Chăm sinh sống chủ yếu bằng kinh tế nương rẫy và săn bắn, nghề chăn nuôi gia súc cũng khá phát triển; đời sống tâm linh bị chi phối mạnh mẽ bởi tín ngưỡng đa thần…Nói chung tộc người Chăm ở ba khu vực nêu trên có những nét sinh hoạt văn hóa khác biệt nhưng về cơ bản vẫn thống nhất về ngôn ngữ, về đơn vị cư trú cơ bản và tổ chức xã hội cơ sở là Plei, về truyền thống mẫu hệ…
Trang 26Tộc người Giarai, xã hội vận hành theo những thiết chế căn bản của
gia đình mẫu hệ, Plei (công xã), Hrom pit plei (liên minh công xã) Xã hội ấy không xáo động nhiều trong nửa đầu thế kỷ XX mà sự tự thân vận động của
nó làm manh nha một hình thức mới của tổ chức xã hội cao hơn tổ chức Hrom pit plei vẫn ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực
Theo nhận xét của Cầm Trọng thì “potao” là hiện thân của tín ngưỡng Yang và “đế cha” cũng có thể được coi như một lãnh thổ tập hợp các hrom pit ploi dưới hình thức tôn giáo [51, tr.1992]
Sự vận động của xã hội ấy lấy kinh tế nông nghiệp làm căn bản Cây trồng chính là cây lương thực, trong đó chủ yếu là lúa (lúa nước và lúa rẫy) và ngô; đất canh tác được phân biệt thành nhiều loại như: hma mai (vườn), hma rưng (rẫy), hma ia (ruộng nước),…Những hoạt động kinh tế khác như chăn nuôi, nghề thủ công, hái lượm, săn bắn cũng có vị trí đáng kể trong đời sống
Trong sinh hoạt văn hóa còn duy trì nhiều yếu tố nguyên thủy, trong đó nổi bật là tín ngưỡng đa thần với nhiều lễ nghi thờ cúng “giàng” (thần linh) Người Giarai quan niệm nhiều thần linh như: giàng hma (thần ruộng, rẫy), giàng chứ (thần rừng), giàng hri (thần lúa), giàng sang (thần nhà), giàng pên
ia ( thần bến nước), giàng ktan (thần sầm sét), giàng bla (thần chiến tranh)…Tín ngưỡng đa thần đã ảnh hưởng đến tục “cà răng căng tai” rất đặc sắc của người Giarai cũng như ở dân tộc Êđê Tộc người Giarai còn nhiều tập tục khá độc đáo “nga po sát” (ma chay), nó không chỉ phức tạp trong các lễ nghi chôn cất những người chết thuộc cùng một dòng họ mẹ vào một nấm mồ chung, mà còn khá cầu kỳ trong việc xây dựng những nhà mồ (boxat kut, boxat tolo, poxat giep, poxat pok,…), khá đa dạng trong các tập tục như: potui (chia của cho người đã chết), bothi (lễ bỏ mả), hoa soi boxat (bữa ăn bỏ mả)…phán ánh truyền thống cộng đồng và đậm đà bản sắc tộc người
Trang 27Về kho tàng văn học dân gian truyền miệng có tục ngữ, thành ngữ, ca dao, bài hát dân gian và nhất là kho tàng truyện cổ, trong đó nổi bật là những Hori (trường ca), như hori Sing Ngã, Đam Di…Về nghệ thuật tạo hình dân gian, khá độc đáo trong điêu khắc gỗ và rất phong phú trong hoa văn trang trí trên đồ đan, vải dệt Người Giarai tiến hành những hoạt động điêu khắc dân gian truyền thống của mình trong những công trình kiến trúc như nhà ở, nhà mồ…Trong đó, rất tiêu biểu là những tượng nhà mồ, tuy giản dị, đơn sơ nhưng rất đa dạng và hấp dẫn vì nó hòa hợp với thiên nhiên và đậm tính nhân văn như: tượng các loài chim, tượng các loài bò sát, tượng các loài thú, tượng những con người đang sản xuất hoặc vui chơi…
Về các phương tiện và loại hình sinh hoạt nghệ thuật, rất phong phú về nhạc khí và rất độc đáo trong những vũ điệu dân gian Người Giarai có truyền thống lâu đời về sáng tạo các loại nhạc khí có chất liệu thiên nhiên, gồm các loại khí gõ; các loại khí hơi Bên cạnh đó còn những nhạc khí được chế tác bằng kim loại hoặc bằng kim loại kết hợp với chất liệu thiên nhiên: chinh, cheeng, bro, goong, koni…Những loại nhạc khí cổ truyền nêu trên cùng với những vũ điệu dân gian là một nhu cầu lớn trong đời sống dân tộc Giarai, đã góp phần làm đậm đà thêm bản sắc văn hóa tộc người Giarai
Từ những thập kỷ cuối thế kỷ XIX đầu XX, chính quyền thực dân đã áp đặt nhiều biện pháp cứng rắn vào xã hội đương thời của người Giarai, làm cho
bộ mặt ở một số vùng nông thôn Giarai có những nét mới như: hệ thống đường sá, dinh thự, đồn điền, bệnh xá (chủ yếu phục vụ cho bộ máy chính quyền thực dân, tư bản Pháp và tay sai) Chính quyền thực dân đã hỗ trợ cho Thiên Chúa giáo cắm rễ vào một số Plei (bằng cách lựa mị và mua chuộc một
số người, ràng buộc họ bằng vật chất, biến họ thành con chiên rồi xúi giục những người này lôi kéo thêm một số thành viên trong Plei, hỗ trợ ly khai Plei
cũ để thành lập những Plei mới)
Trang 28Mặc dù vậy, về căn bản xã hội Giarai trước Cách mạng tháng Tám
1945 vẫn đậm nét mẫu hệ và bảo lưu nhiều nếp sống nguyên thủy Ở đó, đơn
vị cư trú cơ bản và tổ chức xã hội cơ sở vẫn là những Plei thuộc loại hình công xã láng giềng, bao gồm những gia đình nhỏ mẫu hệ đã có sự độc lập tương đối về kinh tế
Tộc người Êđê, nói chung xã hội vẫn vận hành theo những thiết chế
căn bản của gia đình lớn mẫu hệ và công xã (buôn) Nửa đầu thế kỷ XIX, chính sách của triều đình phong kiến nhà Nguyễn có can thiệp vào nhưng không làm xáo động nhiều đến sự vận hành của xã hội ấy
Tộc người Êđê có nền kinh tế là sản xuất nông nghiệp còn lạc hậu, kết hợp với một số nghề thủ công và chăn nuôi trong phạm vi gia đình, đồng thời hoạt động săn bắt hái lượm trong rừng hoang vẫn có vị trí đáng kể trong kinh
tế Trong sản xuất nông nghiệp, canh tác trên rẫy là chủ yếu, chỉ có bộ phận nhỏ dân cư quanh hồ Lak và ven các con sông lớn như Krong Kno, Krong Ân biết trồng lúa nước nhưng không xa rời việc trồng trọt trên rẫy Rẫy luân khoản của tộc người Êđê khá đặc thù, nó là những vạt dài đất rừng đã được thừa nhận thuộc về từng gia đình, từng dòng họ mà quyền quản lý sử dụng thuộc về người đàn bà lớn tuổi nhất trong dòng họ (lô lăn)
Những nghề thủ công truyền thống bao gồm nghề rèn, đan lát, dệt…để làm ra công vụ sản xuất và đồ dùng sinh hoạt trong điều kiện giao lưu kinh tế
và trao đổi hàng hóa kém phát triển Nghề rèn thủ công có thể làm được những rìu, rựa, liềm…có chất lượng tốt phục vụ cho canh tác trên rẫy hoặc đẽo gỗ làm nhà, chế biến gỗ thành những đồ gia dụng bền, đẹp và đậm đà bản sắc tộc người Sản phẩm của nghề đan lát cũng khá đa dạng, trong đó có những đồ vật đòi hỏi cao ở tính kiên trì và sự khéo tay như: gùi hai lớp có nắp, khay có chân đựng trầu cau và chén đĩa…Phụ nữ Êđê khéo tay trong việc khâu nón, dệt chiếu và nhất là dệt vải bằng những khung dệt đơn giản Thuốc
Trang 29nhuộm vải ở đây chủ yếu được chế biến từ lá và vỏ cây Krum Sản phẩm từ nghề chăn nuôi của người Êđê phong phú hơn so với nhiều tộc người đương thời khác Ngoài những gia súc, gia cầm phổ biến thì người Êđê khá nổi tiếng với nghề nuôi voi (để làm phương tiện di chuyển, sức kéo, phục vụ lễ hội và đôi khi dùng làm vật định giá trong trao đổi những tài sản lớn) và do đó, tộc người này cũng nổi tiếng về nghề săn voi rừng
Xã hội tộc người Êđê rất nổi tiếng về những gia đình lớn mẫu hệ bao gồm nhiều thế hệ cư trú trong những ngôi nhà sàn dài độc đáo Đó là những ngôi nhà sàn khung cột, nhà sàn và vách nhà ghép bằng tre đập dập Quá trình xây cất nhà cũng phải tuân thủ một cách nghiêm ngặt những quy định về nghi
lễ, phương hướng và kết cấu truyền thống cùng tình hình hiện trạng của gia chủ Người Êđê gửi gắm những quan niệm về đời sống, về nhân sinh quan, vũ trụ quan của mình vào những ngôi nhà dài như vậy Quyền điều hành các hoạt động trong nhà dài thuộc về người đàn bà lớn tuổi nhất Vài chục nhà dài hợp thành buôn, đứng đầu là một “pô pin ea” (chủ buôn, chủ bến nước), một số nơi gọi là Mtao (tù trưởng) Trong mỗi buôn, sự phân hóa giàu nghèo đã có từ lâu, với các khái niệm “bun rin tap” (rất nghèo), “bun rin” (nghèo), “mdrang” (giàu), “mdrang prong” (rất giàu)… Truyền thống tương trợ, giúp đỡ nhau trong sản xuất và đời sống được duy trì bền vững theo tổ chức “bring”
Riêng về văn học dân gian truyền miệng, tộc người Êđê đã lưu giữ được kho tàng lớn về truyện cổ với các thể loại cổ tích, truyền thuyết, thần thoại, truyện thơ, truyện ngụ ngôn, truyện cười…Trong đó, nổi bật lên một thể tài văn chương đặc sắc đó là “khan” Tộc người Êđê đã sáng tác và lưu truyền hàng chục khan mang tính sử thi, nó phản ánh những biến cố lịch sử, những phong tục tập quán, những nỗ lực đấu tranh, những ý chí quật cường, những khát vọng vươn tới của những người lao động, như các khan: Đam San, Đăm Thih, Đam Bhu, H’ong Đia, T’rong Dal, Khing Juh…
Trang 30Như vậy trải qua nhiều tác động của lịch sử, xã hội truyền thống của tộc người Êđê đã thể hiện sức sống bền bỉ của nó Tuy nhiên những yếu tố ngoại lai cũng đã ra sức tìm cách tác động vào xã hội tộc người Êđê Đặc biệt
là những thập kỷ cuối thế kỳ XIX - đầu thế kỷ XX, Thiên chúa giáo đã theo các giáo sĩ phương Tây len lỏi vào và từ đó chi phối đời sống tâm linh một bộ phận nhỏ dân cư Êđê Các luật tục Êđê truyền miệng được văn bản hóa, tòa án phong tục Ê đê thiết lập và hoạt động theo phương châm “lấy luật tục Êđê trị người Êđê” Xã hội Êđê có nhiều xáo động và vận hành một cách phức tạp
Sự phân hóa trong dân cư diễn ra theo nhiều hướng, nhưng chưa xuất hiện giai cấp Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, đơn vị cư trú cơ bản và tổ chức xã hội cơ sở của tộc người Êđê vẫn là những buôn cổ truyền thuộc loại hình công xã láng giềng Ở đó, truyền thống mẫu hệ được bảo vệ một cách đặc biệt bởi thiết chế gia đình lớn mẫu hệ và cấu trúc nhà dài
Tộc người Churu, thời kỳ này có nhiều nét khác biệt với các tộc người
nói trên Những gia đình lớn mẫu hệ ở đây đã bắt đầu bước vào quá trình giải thể thành những gia đình nhỏ mẫu hệ theo những cấp độ khác nhau, nhưng quyền quyết định các hoạt động của dòng họ vẫn thuộc về người đàn bà và ông cậu lớn tuổi nhất dòng họ Những Plei của người Churu thường xen kẽ với những đơn vị cư trú của tộc người Coho (thuộc ngữ hệ Môn-Khmer) Trong bộ máy tự quản của mỗi Plei như vậy, quyền quyết định thuộc về người đứng đầu Plei (pô plei) Trước các quyết định lớn, pô plei phải tranh thủ ý kiến của các cụ già trong Plei, thầy cúng, thầy pháp, người coi sóc thủy lợi của Plei….Các cụ già trong Plei có vị trí đặc biệt trong việc bầu pô plei và chọn lựa những người làm nhiệm vụ coi sóc thủy lợi
Vào thời kỳ này, người Churu đã bắt đầu định canh định cư, lấy sản xuất nông nghiệp làm nền tảng Người Churu đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm về làm thủy lợi nhỏ với hệ thống mương, phai, đập…trong canh tác
Trang 31Người Churu còn có thói quen trồng các loại rau đậu xen với cây lương thực
và trồng cây ăn trái quanh ruộng khô hoạc trên rẫy Hoạt động chăn nuôi của người Churu được tiến hành trong phạm vi gia đình, đáp ứng cho nhu cầu thực phẩm ăn uống hàng ngày, hiến sinh, cúng lễ, vật định giá trao đổi đồ dùng, tài sản và cho nhu cầu chuyên chở hàng ngày hoặc làm đất canh tác theo mùa vụ….Vật nuôi trong gia đình thường có: gà, vịt, ngan, ngỗng, lợn,
dê, bò, trâu, ngựa…Bên cạnh đó, một số nghề thủ công cũng được tiến hành khá phổ biến trong cá gia đình như đan lát, rèn, gốm…phục vụ chủ yếu cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt nội bộ Đồng thời, các hoạt động hái lượm và săn bắn trong rừng, đánh bắt cá ven sông suối vẫn còn có vị trí nhất định trong các hoạt động kinh tế
Các phương thức sinh hoạt tinh thần nói chung và đời sống tâm linh nói riêng của tộc người Churu tuy không đa dạng như ở các tộc người Chăm, Giarai, Ê đê nhưng cũng không kém phần đặc sắc Nó thể hiện ở kho tàng truyện cổ, ca dao, tục ngữ và một số nhạc cụ cùng vũ điệu tam ga đậm đà bản sắc dân tộc Nó độc đáo ở tục “pơ khi mô cay” (thờ cúng tổ tiên) không ở trong “sang tonuk prong” (nhà dài) mà ở ngoài “ko ta tau” (nghĩa địa của dòng họ mẹ) và các tín ngưỡng đa thần, trong đó rất coi trọng “yang wei” (thần cây cổ thụ), các nghi lễ nông nghiệp, trong đó rất đề cao lễ “bơ mung” (thần đập nước) và lễ “khâu đồng” (thờ thần lúa)
Thực dân Pháp xâm nhập vùng tộc người Churu vào cuối thế kỷ XIX
Từ đây các Plei cổ truyền của người Churu được kết hợp với các đơn vị cư trú của những tộc người lân cận, hình thành các đơn vị hành chính mới cấp tổng
và cấp quận của tỉnh Lâm Viên (Liang Bian) Vùng cư trú của người Churu không rộng, lại nằm ở ngoại vi Đà Lạt, nên việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng của chính quyền thực dân không nhiều Cho đến cuối năm 1945, xã hội tộc người Churu tuy bị chi phối bởi guồng máy thống trị và chính sách bóc lột
Trang 32của thực dân Pháp nhưng những Plei của người Churu vẫn là những công xã láng giềng, vận hành theo những thiết chế của xã hội tiền giai cấp và duy trì chế độ mẫu hệ Ở đây những gia đình lớn mẫu hệ bắt đầu bước vào quá trình giải thể và hình thành những gia đình nhỏ mẫu hệ còn phụ thuộc nhiều vào các quan hệ dòng họ
Tộc người Raglai, phân bố cư trú trên một vùng sinh thái đặc thù bởi
sự hiểm trở của địa hình và sự khắc nghiệt hơn về khí hậu so với những vùng
cư trú khác của các tộc người Nam Đảo Người Raglai có trình độ thấp về phát triển kinh tế - xã hội và có tính biệt lập, khép kín Xã hội truyền thống của tộc người Raglai vận hành theo những thiết chế căn bản của Palei (công xã) và boh sang (gia đình lớn mẫu hệ) Vào thời kỳ lịch sử này, phần lớn Palei của người Raglai còn mang nhiều dấu vết của công xã thị tộc mẫu hệ và ít nhiều còn dấu vết của chế độ quần hôn Mỗi gia đình mẫu hệ gồm nhiều thế
hệ cư trú trong một ngôi nhà sàn thường là ngăn phòng, được dựng một cách đơn giản, tựa lưng vào vách núi “pô sang” là chức danh chung chỉ người đànbà lớn tuổi nhất trong từng gia đình và có quyền quyết định cao nhất về mọi hoạt động gia đình…Cứ từ 7 đến 10 gia đình lớn mẫu hệ như vậy hợp thành một Palei Những Palei tọa lạc trên những triền núi, rất phân tán “pô palei” là chức danh chung chỉ người đứng đầu Palei, đó là người đàn ông chịu trách nhiệm điều hành các hoạt động chung của Palei Người Raglai còn duy trì nếp sống du canh du cư Họ trồng trọt trên hai rẫy du canh là Krah và Apop (krah là rẫy trên đất thấp; apoq là rẫy trên đất cao nơi triền núi), trong
đó apoq là diện tích canh tác chính Hỏa canh là phương thức canh tác chung trên hai loại rẫy với các công đoạn: chọn rẫy, phát rẫy, đốt và dọn rẫy, chọc lỗ tra hạt, chăm sóc, thu hoạch Kinh tế của người Raglai phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên Bên cạnh trồng trọt, còn có chăn nuôi, nghề thủ công, săn bắn và hái lượm: chăn nuôi gia súc và gia cầm trong phạm vi gia đình với số lượng ít
Trang 33ỏi, theo phương thức thả rông, phục vụ chủ yếu cho cúng bái; nghề thủ công đơn giản, trong phạm vi gia đình, đủ cho nhu cầu đồ dùng nội bộ; săn bắn và hái lượm còn giữ vai trò quan trọng trong hoạt động kinh tế, sản phẩm của nó đáp ứng được phần lớn nhu cầu đời sống đơn giản, kể cả việc trao đổi vật dùng với người cận cư
Vào thời kỳ này, người Raglai không biết dệt vải, không ít nam giới còn mặc khố làm bằng vỏ cây rừng và phần lớn còn di chuyển bằng bằng đôi chân, vận chuyển đồ bằng đôi vai, không biết đến xe cộ hoặc sử dụng súc vật làm sức kéo Đời sống của người Raglai đơn giản và nghèo nàn hơn 4 tộc người Nam Đảo nêu trên
Mặc dù vậy sinh hoạt tinh thần của tộc người này vẫn phong phú và có nhiều nét đặc sắc Chưa biết đến tôn giáo, đời sống tâm linh của người Raglai
bị chi phối bởi tín ngưỡng đa thần Họ tin rằng bất kỳ hiện tượng và sự vật nào trong tự nhiên cũng có thần linh ngự trị Các thần linh thì vô hình, chuyển dịch nhanh lẹ và có uy quyền đối với con người “Những địa điểm thờ cúng thần linh của người Raglai thường gắn liền với sự hiện diện của đá” [54, tr.67] Tín ngưỡng đa thần của người Raglai còn thể hiện qua nhiều hình thức kiêng kị và những niềm tin vào điềm báo do suy diễn và tưởng tượng ra từ những chiêm bao Trong đời sống cá nhân cũng như trong sinh hoạt cộng đồng, người Raglai rất chú ý tới những sự kiện quan trọng diễn ra trong cuộc đời mỗi người và thường tổ chức lễ cúng, đánh dấu những mốc quan trọng của cuộc đời mỗi con người như lễ đặt tên cho đưa bé mới chào đời, lễ cưới,
lễ tang…
Có thể nhận thấy trong văn hóa truyền thống của người Raglai có những nét truyền thống của nền văn hóa Đông Nam Á thời kỳ cổ đại, đồng thời cũng có những nét riêng so với văn hóa truyền thống của các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam
Trang 34Trên đây là sự phác thảo sơ lược bức tranh toàn cảnh về tình hình kinh
tế - văn hóa - xã hội các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 Đó là những tộc người có chung nguồn gốc, được hình thành phát triển trên những khu vực có những đặc điểm về môi trường tự nhiên ít nhiều khác biệt trên các địa bàn thuộc Trường Sơn - Tây Nguyên và Trung Bộ Việt Nam ngày nay Tuy mang những nét chung của truyền thống văn hóa Đông Nam Á thời cổ đại và nhất là truyền thống mẫu hệ của các tộc người ngữ hệ Malayo - Polinesien trên thế giới, nhưng mỗi tộc người Nam Đảo ở Việt Nam còn có những nét riêng trong bản sắc văn hóa của tộc người mình
1.2.2 Từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 tới nay
Cách mạng tháng Tám năm 1945 là mốc son lịch sử đánh dấu sự mở đầu kỷ nguyên mới trong lịch sử phát triển xã hội các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam: hội nhập một cách bình đẳng vào cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Lịch sử phát triển xã hội các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam, từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay trải qua hai chặng đường:
+ Chặng đường thứ nhất (1945-1975) hòa cùng với các dân tộc đấu tranh giải phóng dân tộc xuyên qua hai cuộc chiến tranh
+Chặng đường thứ hai (1975 – nay) hòa bình, xây dựng xã hội mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa
1.2.2.1 Giai đoạn từ 9145 đến 1975
Các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam cùng cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã chuẩn bị tích cực, hăng hái tham gia và cùng làm nên thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 Đây chính là sự kiện vĩ đại nhất trong toàn
bộ tiến trình lịch sử phát triển xã hội của các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam trước năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập và nền độc lập của nước Việt Nam được trịnh trọng tuyên bố trước toàn thể nhân dân thế giới qua bản “Tuyên Ngôn Độc Lập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ngày
Trang 352 tháng 9 năm 1945 Từ đây về mặt pháp lý, vị trí xã hội và quyền bình đẳng của các tộc người Nam Đảo trong cộng đồng các tộc người Việt Nam được khẳng định và những người Nam Đảo ở Việt Nam ra sức thực hiện vị trí xã
hội và quyền bình đẳng ấy
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược, các tộc người Nam Đảo đã góp phần sức lực, trí tuệ, của cải và xương máu để bảo vệ thành quả của cách mạng Tuyệt đại đa số những người Nam Đảo đã ý thức được nghĩa vụ và quyền lợi của mình trong việc bảo vệ những thành quả của cách mạng, nên đã kiên cường chịu đựng, hy sinh, gian khổ, tìm mọi cách để che giấu, giải thoát cho các chiến sĩ cách mạng trong lúc địch ráo riết lùng sục, bắt bớ Kết quả là lực lượng cách mạng đứng vững và không ngừng phát triển trong vùng các dân tộc Nam Đảo
Qua hai cuộc kháng chiến, các tộc người Nam Đảo không chỉ lập được những chiến công vang dội trong chiến đấu, mà còn đạt được những thành tựu
và bước phát triển đáng kể trong hoạt động kinh tế như: Trong 5 năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, hoạt động kinh tế nông nghiệp rẫy và chăn nuôi của người Raglai đã tăng chủng loại cây trồng và vật nuôi do cán bộ cách mạng đưa từ nơi khác đến giúp; sản lượng cây trồng và vật nuôi cũng gia tăng vì được cán bộ hướng dẫn về kỹ thuật chọn giống, biện pháp chăm sóc, phòng và chống dịch bệnh Đồng thời với phát triển trồng trọt
và chăn nuôi, ở các vùng căn cứ cũng phát triển một số nghề thủ công như nghề rèn, nghề dệt, ép mía nấu đường…
Trong 30 năm chiến tranh, những giá trị văn hóa truyền thống của các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam cũng được thử thách, khẳng định và phát huy trong môi trường văn hóa đặc thù Họ có điều kiện để tiếp cận với những hoạt động văn hóa của các tộc người khác, bao gồm cả những sinh hoạt văn hóa cổ truyền và những yếu tố văn hóa mới
Trang 36Như vậy, cuộc hành trình vào xã hội hiện đại của các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam mới chớm bước vào chặng đường đầu từ Cách mạng tháng Tám năm 1945, đang còn nhiều bỡ ngỡ thì đã gặp phải những khó khăn và trở ngại lớn do sự xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Mặc dù vậy, nhưng cuộc hành trình ấy chỉ bị ngăn cản và làm chậm lại chứ không bị bế tắc Vì cuộc chiến tranh nhân dân hiện đại của cộng đồng các dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã tiếp sức cho các tộc người này vững vàng thêm trên cương vị bình đẳng và làm chủ, đủ tự tin để hăng hái khơi dậy và phát huy những tiềm năng sáng tạo và cách mạng của mình
1.2.2.2 Giai đoạn từ 1975 đến nay
Mùa xuân năm 1975, cuộc chiến tranh giải phóng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam kết thúc thắng lợi Từ đây những người Nam Đảo ở Việt Nam hoàn toàn thoát khỏi ách thống trị và sự đe dọa của chủ nghĩa phong kiến, chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa thực dân mới Quê hương được hòa bình, đất nước được thống nhất, các tộc người Nam Đảo cùng đồng bào cả nước bước vào chặng đường mới của cách mạng
Nhưng khi chiến tranh vừa mới kết thúc, việc giải quyết hậu quả của chiến tranh đang được tiến hành thì kẻ thù của cách mạng lại ra sức quấy phá
Ở nhiều nơi trong vùng đồng bào các dân tộc ít người, thế lực phản động nổi dậy chống phá lại chính quyền cách mạng Vùng tộc người Nam Đảo trở thành đối tượng đánh phá của tổ chức phản động Fulro (tên gọi tắt của “ Mặt trận thống nhất đấu tranh của các dân tộc bị áp bức”, một tổ chức phản động trong các dân tộc ít người ở Tây Nguyên, sau cũng bén rễ vào vùng người Chăm ở đồng bằng ven biển cực Nam Trung Bộ và đã từng lập ra cái gọi là
“Mặt trận Fulro Champa”)
Trang 37Bước đầu trên chặng đường lịch sử sau năm 1975, các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam đã phải trải qua khoảng hơn mười năm thử thách cam go để giữ gìn thành quả của cách mạng, bảo vệ thành tựu của từng tộc người, bảo vệ niềm tin của mỗi con người vào con đường đi tới tương lai cùng cộng đồng các dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam Thời gian thử thách đó đã góp phần khẳng định thêm ý thức quốc gia, tính kiên định và tích cực cách mạng của các tộc người Nam Đảo cùng sự trưởng thành của đội ngũ cán bộ ở đây trong hệ thống tổ chức Đảng Cộng Sản và chính quyền, đoàn thể cách mạng các cấp
Song song với việc củng cố và kiện toàn để không ngừng nân cao hiệu quả hoạt động của hệ thống tổ chức bộ máy quản lý xã hội mới, là việc triển khai các hoạt động nhằm xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất mới, tạo ra những điều kiện mới thích hợp cho sự vận hành và phát triển
xã hội mới Giải quyết vấn đề ruộng đất là một trong những vấn đề trọng tâm của thời kỳ này và đã gặt hái được những thành công tốt đẹp: Tộc người Chăm đã phát huy tốt những truyền thống nông nghiệp như làm thủy lợi trồng lúa nước, tích cực áp dụng những biện pháp kỹ thuật mới, từng bước chuyển đổi cơ cấu cây trồng và phương thức canh tác góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tại địa phương; Tộc người Churu, diện tích rẫy nhiều hơn diện tích đồng ruộng, vì vậy quá trình chuyển đổi đưa đến diện tích vườn lớn hơn, làm cơ sở cho sự chuyển dịch phong phú hơn về cơ cấu cây trồng theo phương thức chuyên canh cây công nghiệp và cây đặc sản (cà phê, hồ tiêu, dứa, mía, đào lộn hột, atiso, thuốc lá…) theo hướng sản xuất hàng hóa; Tộc người Giarai và người Êđê ở Tây Nguyên đã xây dựng được quan hệ sản xuất mới, tổ chức lại sản xuất hướng tới ba hình thức: nông dân cá thể sản xuất trên diện tích đất mà gia đình họ được quyền sử dụng; nông dân tập thể sản xuất trên diện tích đất được quy hoạch cho từng tập đoàn sản xuất hoặc
Trang 38từng hợp tác xã sản xuất nông - lâm nghiệp mà già đình họ là thành viên trong đó; công nhân trong các nông trường, lâm trường mà cá nhân hoặc gia đình
họ là thành viên trong đó
Từ những điều trình bày trên đây, có thể nhận thấy rằng: hơn hai mươi năm qua, kể từ ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, sự thay đổi hình thái cư trú và phương thức canh tác của các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam đã diễn
ra như một quá trình chuyển đổi cách mạng to lớn và vững chắc Quá trình đó
đã làm cho bộ mặt nông thôn ở đây thay đổi, đồng thời tạo ra những cơ sở cần thiết và là tác nhân thúc đẩy nhiều hoạt động văn hóa, giáo dục, ý tế trên địa bàn này
Là những tộc người có truyền thống sáng tạo văn hóa nghệ thuật khá độc đáo, nhu cầu đời sống văn hóa tinh thần của những người Nam Đảo không ngừng phát triển sau giải phóng Những biến chuyển cách mạng trong sinh hoạt văn hóa, phương thức canh tác và hình thái cư trú của các tộc người Nam Đảo từ sau miền Nam hoàn toàn giải phóng luôn gắn liền với những biến chuyển về gia đình của các tộc người này Đó là hoàn tất quá trình giải thể gia đình lớn mẫu hệ và những tàn dư của nó ở các tộc người Quá trình giải thể các gia đình lớn mẫu hệ để thiết lập và củng cố các dạng gia đình nhỏ mẫu hệ, từng bước xác lập vị trí độc lập của những gia đình nhỏ mẫu hệ đồng thời dần xác lập những yếu tố phụ quyền và sự bình đẳng giữa vợ và chồng trong những gia đình nhỏ mẫu hệ đó.Đồng thời với quá trình giải thể những gia đình lớn mẫu hệ là quá trình phân rã những ngôi nhà dài truyền thống, hình thành những căn hộ riêng cho từng gia đình nhỏ mẫu hệ, được xây dựng trong khuôn viên theo quy hoạch của quá trình định canh định cư và xây dựng nông thôn văn hóa mới Sự biến đổi của cấu trúc gia đình và ngôi nhà truyền thống đã dẫn tới những biến đổi về văn hóa sinh hoạt như sự giảm đi của nhiều nghi lễ sinh hoạt tín ngưỡng dân gian mang nét mê tín dị đoan, những
Trang 39nghi lễ tốn kém nhiều thời gian và chi phí của cải, cầu kỳ, khó thực hiện… Điều đặc biệt chú ý trong gia đình đình nhỏ mẫu hệ là vai trò và vị trí của người đàn ông được ghi nhận và từng bước khẳng định Mặt khác cá nhân trong gia đình nhỏ mẫu hệ có nhiều điều kiện để tiếp cận và thực hiện nếp sống theo pháp luật hơn là bị chi phối nhiều bởi tập quán pháp trong gia đình lớn mẫu hệ
1.3 Tiểu kết
Những tộc người Nam Đảo hay còn có tên gọi khác là Mã Lai - Đa Đảo
ở Việt Nam có chung nguồn gốc với các tộc người Mã Lai - Đa Đảo trên vùng đảo và bán đảo thuộc Đông Nam Á - Thái Bình Dương Ở Việt Nam có 5 tộc người (Giarai, Churu, Êđê, Raglai, Chăm) thuộc nhóm Mã Lai - Đa Đảo được hình thành và phát triển trên địa bàn Trường Sơn - Tây Nguyên và miền núi duyên hải Nam Trung Bộ Lãnh thổ tộc người của 5 tộc người này tuy kế cận nhau, nhưng những lãnh thổ của từng tộc người lại có những sắc thái riêng về
vị trí địa lý và đặc điểm môi trường tự nhiên Năm tộc người tuy có chung nguồn gốc nhưng trong quá trình phát triển lịch sử đã hình thành những nét riêng nhất định về văn hóa, chênh lệch nhau về số dân và không đồng đều về trình độ phát triển kinh tế - xã hội
Từ sau khi miền Nam hoàn tòan được giải phóng, trong vùng các tộc người Nam Đảo đã diễn ra những chuyển biến cách mạng trong các tổ chức
xã hội và sinh hoạt cộng đồng đã dẫn đến những chuyển biến trong đời sống văn hóa, trong sự nghiệp giáo dục, đào tạo và y tế Một bộ phận nhỏ dân cư đã tiếp cận hoặc đã hội nhập ở một mức độ nhất định vào đời sống đô thị…
Ngày nay, xã hội các tộc người Nam Đảo ở nước ta vẫn còn đậm nét mẫu hệ Nông thôn vùng các tộc Nam Đảo đã căn bản khắc phục những biến thái, đã thoát khỏi tình trạng trì trệ và khép kín, đã mạnh mẽ loại bỏ những tàn
dư lạc hậu của xã hội tiền tư bản cũng như những ảnh hưởng tiêu cực của chủ
Trang 40nghĩa thực dân để đổi mới và phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Xã hội các tộc người Nam Đảo đang nỗ lực vươn lên để từng bước tiếp cận theo nhịp phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam