CHƯƠNG 3: SỨC HẤP DẪN CỦA TIỂU THUYẾT QUỲNH DAO
3.2. Sức hấp dẫn của tiểu thuyết Quỳnh Dao xét về góc độ phê bình nữ quyền
3.2.1. VĂN CHƯƠNG LÃNG MẠN
Văn chương lãng mạn là một yếu tố đặc biệt hấp dẫn bạn đọc nữ. Thực vậy, bởi vì đây là văn chương lãng mạn của một cây bút nữ lãng mạn, và hẳn là không ai hiểu được tâm lý chị em phụ nữ bằng chính người trong giới mình, hơn nữa, chính tác giả cũng đã từng trải qua những cuộc tình lãng mạn, nên khi viết về tình yêu, tính lãng mạn trong văn chương Quỳnh Dao đã được đẩy lên cao độ và xoáy đúng vào tâm lý yêu đương của nữ giới, những người mà luôn xem tình yêu là lý tưởng, là lẽ sống của cuộc đời họ.
Trong văn chương lãng mạn Quỳnh Dao những góc cạnh sù sì thô nhán của cuộc sống, những khía cạnh thô thiển dung tục của tình yêu đều bị lược bỏ. Vì thế ta không lạ gì thế giới nhân vật Quỳnh Dao gồm toàn những nhân vật lý tưởng. Nhân vật nam thường là Nhà giáo, nhà văn, ký giả, kỹ sư v.v. và dù là ai họ đều có phẩm chất của người nghệ sĩ, yêu văn chương, biết tán thưởng nhan sắc phụ nữ nhưng cũng biết trân trọng nét đẹp tâm hồn của họ. Nhân vật nữ thường là tài sắc vẹn toàn, họ đẹp theo mẫu người phụ nữ Á Đông lý tưởng: thanh thoát, mơ màng, đa cảm, yêu văn chương và đặc biệt là họ rất lãng mạn trong yêu đương. Tình yêu trong thế giới nhân vật Quỳnh Dao luôn là thứ tình yêu lý tưởng, say đắm, thủy chung; tình yêu của họ nếu có trắc trở ấy là do những yếu tố bên ngoài, do hoàn cảnh, do sự trớ trêu của định mệnh, chứ không phải do chất lượng tình yêu. Nhân vật dù có đau khổ vì yêu, điên loạn vì yêu, thậm chí chết vì yêu nhưng không bao giờ họ hối tiếc vì yêu. Về phần mình, tác giả cũng không bao giờ kết án tình yêu vì bất cứ lý do gì. Trong “Khói lam cuộc tình”, dù cho Tâm Hồng bị tên Phi lừa gạt cả tình lẫn tiền đến nỗi dỡ điên dỡ khùng, cô Nhã cũng bị hắn lừa gạt đến có con, vậy mà tác giả vẫn tỏ ra thương cảm, không hề một lời trách cứ Tâm Hồng bồng bột hoặc cô Nhã nhẹ dạ. Cả nhân vật và tác giả đều lãng mạn! Người ta nói tính lãng mạn của văn chương Quỳnh Dao được đẩy đến cực điểm là vì thế. Bạn đọc nữ say mê truyện Quỳnh Dao chẳng những vì nhân vật đã diễn tả được tâm trạng yêu đương nồng cháy họ đang có, diễn tả được thứ tình yêu tuyệt đối họ đang theo đuổi, mà còn bởi vì họ đang được chính tác giả động viên, cổ vũ; người ta nói Quỳnh Dao là người bạn tận tâm tình của bạn đọc nữ là vì thế.
Một đặc điểm khác trong văn chương lãng mạn Quỳnh Dao được nữ giới rất yêu thích, ấy là cái kết thúc có hậu của tác phẩm. Các truyện ngắn của bà như “Bạch hồ”, “Duyên nợ”, “Mối tình hoa mai”, “Hoa thạch lựu” .v.v… đều là những câu chuyện tình tròn trịa, gặp nhau, yêu nhau, trải qua bao thử thách rồi cuối cùng cũng nên vợ nên chồng. Trong các tiểu thuyết dài hơn, nhân vật dù có đông đảo, tình tiết dù có phức tạp nhưng rồi tác giả cũng cố thu xếp cho nó đi tới một kết thúc tốt đẹp. Ví dụ, trong “Mùa thu lá bay” dù nhân vật nữ Hàn Ni có yểu tử chết giữa chừng, thì nam nhân vật Vân Lâu cuối cùng cũng gặp được Tiểu My là chị em song sinh với Hàn Ni, đi tới các kết cục đề huề tình chị duyên em; cái kết thúc khiến hồn người chết ngậm cười nơi chín suối đã đành, mà kẻ sống là Vân Lâu cũng được tiếng chung tình! Trong
“Khói lam cuộc tình”, một tiểu thuyết tình cảm pha trộn nhiều yếu tố trinh thám lẫn
hình sự, có máu, có nước mắt, có mưu mô, có điên loạn, có hận thù .v.v… Nhưng với bàn tay sắp xếp khéo léo của tác giả, truyện đã đi đến kết cục tốt đẹp ngoài dự kiến của độc giả, ba cuộc nhân duyên hình thành cùng một lúc. Trong một ít tiểu thuyết của Quỳnh Dao mà tình duyên các nhân vật không được trọn vẹn, thì bà cũng cố tạo cho nó một kết cục êm thắm, có thể là một chút man mác buồn còn động lại! Tính lãng mạn có lẽ đã được Quỳnh Dao đẩy đến cực điểm trong truyện ngắn “Tình yêu và hoa hồng”. Chỉ sau đúng một tháng gởi tặng hoa hồng, dù là tặng sai địa chỉ, thì đôi trai gái lạ cũng đâm ra hiểu nhau, yêu mến nhau rồi đi tới chỗ nên vợ nên chồng. Trong truyện ngắn này nếu tinh ý độc giả sẽ nhận ra cái lãng mạn kép. Ngoài cái lãng mạn của đôi trai gái ra còn có cái lãng mạn của lão Trương, chủ hiệu hoa hồng. Ông già này tình nguyện bỏ công bỏ của, cố xe duyên cho đôi trai gái lạ mà ông cho là đẹp đôi. Cái chất lãng mạn hiện rõ trong ánh mắt ông già khi ông đứng nhìn cái cặp đẹp đôi ấy dìu nhau ngang qua cửa hiệu ông. Với các tính vui cái vui của người khác, buồn nỗi buồn của người khác hẳn chị em phụ nữ khó mà cưỡng lại kiểu văn chương lãng mạn như thế này. Người ta hay gọi mỉa đó là tính “thương vay khóc mướn” của chị em, nhưng về thực chất, đó là tính đồng cảm sâu sắc, mang đậm tính nhân văn mà nam giới không có được. Chị em phụ nữ say mê truyện Quỳnh Dao một phần cũng do đặc điểm tâm lý này.
3.2.2. KHUNG CẢNH TRÍ THỨC TIỂU TƯ SẢN
Trước kia trong chế độ phong kiến của ta và Trung Quốc, xã hội phân chia rõ ràng thành những tầng lớp, giai cấp khác nhau. Tầng lớp thượng lưu đồng nghĩa với giai cấp thống trị, gồm có vua chúa và các quan lại mang phẩm hàm của triều đình cùng với gia quyến của họ. Tầng lớp trung lưu có giai cấp Nho sĩ là lớp người trí thức đang theo đuổi học vấn hoặc đang chuẩn bị ra làm quan, giai cấp này hạn chế về mặt vật chất nhưng giàu có về tinh thần, sống nếp sống phong lưu nho nhã; một giai cấp khác cũng thuộc tầng lớp trung lưu là giai cấp địa chủ gồm các chức sắc địa phương, các chủ đất, các cường hào… họ giàu có, sở hữu nhiều của cải vật chất nhưng nghèo nàn tri thức. Tầng lớp thứ dân là số người còn lại gồm nông dân, thợ thuyền, binh lính .v.v…
Vào những năm 1960, khi tiểu thuyết Quỳnh Dao ra đời, Đài Loan và miền Nam Việt Nam ta không còn chế độ phong kiến nữa, mà là những vùng lãnh thổ đang công nghiệp hóa theo hướng Tư bản chủ nghĩa. Vua chúa không còn, việc học hành được phổ biến đến mọi người dân, mọi người đều có quyền tư hữu, có quyền làm giàu và vươn lên bằng mọi cách, nên việc phân chia xã hội thành tầng lớp, giai cấp hầu như không còn nữa. Tuy nhiên, trên thực tế, những người có những điều kiện xã hội, điều kiện vật chất, tinh thần giống nhau thường có khuynh hướng giao lưu, tụ tập với nhau, dần hình thành những giới người có đặc điểm riêng mà ta cũng có thể gọi đó là các tầng lớp, giai cấp trong xã hội mới.
Hiểu theo nghĩa đó thì xã hội mới bây giờ cũng có tầng lớp thượng lưu gồm những người có quyền lực chính trị, có thế lực kinh tế mà có thể ảnh hưởng tới vận mệnh của đất nước, họ chuyên lo chuyện quốc gia đại sự và có tiêu chuẩn sống cao trong xã hội.
Tầng lớp trung lưu gồm những người trí thức sống bằng lao động trí óc và có thu nhập tương đối cao. Tầng lớp này tự nó phân hoá thành hai cấp chính. Một là giai cấp của những người trí thức, chuyên làm kinh tế, lo làm giàu; bản thân họ giàu có mà xã hội cũng nhờ đó mà phát triển đi lên. Hai là giai cấp trí thức tiểu tư sản mà ta đang nói đến ở đây. Giai cấp này gồm những người trí thức lao động cốt để kiếm sống chứ không cốt làm giàu và có khuynh hướng hướng cuộc sống vào những thú vui tinh thần. Cuối cùng là tầng lớp bình dân gồm những người lao động chân tay, có thu nhập thấp và thường là nghèo; họ là nông dân, công nhân, những người buôn bán nhỏ .v.v…
Về đại thể, hai cách phân chia cũ, mới này là không khác nhau xét về mặt chức năng xã hội. Ví dụ, tầng lớp thượng lưu dù là vua chúa ngày xưa hay các chính khách ngày nay đều thực hiện chức năng cai trị; tầng lớp thứ dân lúc trước hay tầng lớp bình dân đều có chức năng lao động chân tay, tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Tương tự như thế, ta thấy giai cấp trí thức tiểu tư sản bây giờ và giai cấp Nho sĩ trước kia đều có chức năng làm giàu và làm đẹp cho xã hội về mặt tinh thần.
Vì có chức năng xã hội như thế, nên giai cấp trí thức tiểu tư sản có những điểm dễ nhận biết sau đây:
Họ không giàu mà sang, sống cuộc sống phong lưu với phương tiện vật chất tương đối đầy đủ, sang trọng.
Họ lao động trí óc và thường là trong lĩnh vực tinh thần như nghiên cứu, dạy học, viết văn v.v…
Họ có khiếu thẩm mĩ cao, yêu chuộng các bộ môn nghệ thuật như văn chương, thơ ca, hội họa, âm nhạc v.v…
Họ có nếp sống thanh lịch. Họ tao nhã trong cử chỉ, nói năng, trang phục; họ lịch thiệp trong giao tiếp, tế nhị trong ứng xử và tinh tế trong chuyện tình cảm, yêu đương.
Xét theo gia cảnh Quỳnh Dao có cha là một giáo sư sử học, chuyên nghiên cứu và giảng dạy lịch sử ở các trường đại học, mẹ là một giáo viên văn đồng thời là một họa sĩ nghiệp dư, thì rõ ràng gia đình bà thuộc giai cấp trí thứ tiểu tư sản, và dĩ nhiên là bà thuộc về giai cấp đó.
Tác phẩm Quỳnh Dao ngoài một số truyện lấy đề tài trong dân gian, đa phần đều là truyện tình hiện đại có bối cảnh là xã hội Đài Loan đương đại. Và với phương châm
“sáng tác dựa vào kinh nghiệm sống”, thì rõ ràng bầu khí trong các tác phẩm của bà chính là bầu khí trí thức tiểu tư sản mà bà đang sống trong đó. Điều này thể hiện rõ nét ở cách bà chọn nhân vật như đã nói ở trên, nhân vật của bà thường là nhà văn, nhà giáo, kỹ sư, ca sĩ, nữ sinh, sinh viên v.v… đều là các nhân vật điển hình trong giới trí
thức tiểu tư sản. Không gian truyện thường là các thành phố lớn Đài Nam, Đài Bắc, nơi giới trí thức tiểu tư sản thường sống và làm việc. Địa điểm xuất phát truyện thường là một gia đình trung lưu thuộc giới trí thức tiểu tư sản, mà nhà ở của họ thường có ga ra ô tô, có vườn hoa; trong nhà có phòng đọc sách, có phòng khách sang trọng với đàn dương cầm, lọ hoa và tranh treo tường của các danh họa v.v…. Gia đình họ thường có một người cha danh giá ngoài xã hội, một người mẹ quý phái và nhân hậu đảm đang việc trong nhà, một hoặc hai cô con gái tài sắc vẹn toàn, đa sầu đa cảm và mỏng manh như sương khói. Họ thường tổ chức tiệc chiêu đãi, hội khiêu vũ để trai thanh gái lịch gặp gỡ nhau, và dĩ nhiên là có một cuộc tình lãng mạn giữa đôi trai tài gái sắc diễn ra…
Khung cảnh sống kiểu trí thức tiểu tư sản này trong tiểu thuyết Quỳnh Dao quả là niềm mơ ước chung của nhiều người trong xã hội. Nhưng nó đặc biệt hấp dẫn giới nữ bởi vì, các bầu khí phong lưu, thanh lịch của nếp sống ấy phù hợp với tâm lý lãng mạn của chị em phụ nữ. Họ thích những điều thanh cao đẹp đẽ trong cuộc sống, và nhất là khi câu chuyện tình lãng mạn được lồng vào khung cảnh phong lưu, thanh lịch đó.
Điều này có thể vì với sức hấp dẫn của giới Nho sĩ đối với chị em phụ nữ trước kia, họ
“chẳng tham ruộng cả ao liền, chỉ tham cái bút cái nghiên anh Đồ”. Cái bút, cái nghiên ở đây không đơn thuần chỉ là công danh sự nghiệp khoa cử, mà còn là cái đẹp tinh thần, cái phong lưu nho nhã của giới Nho sĩ lúc ấy.
Hồi những năm 1960 trở về trước, tiểu thuyết tình cảm xã hội của Bà Tùng Long cũng đã từng thu hút mạnh mẽ giới nữ ở Sài Gòn lúc ấy, nhưng đa số họ đều là chị em phụ nữ bình dân. Lý do là vì tiểu thuyết Bà Tùng Long chỉ dừng lại ở nếp sống thị dân no đủ, ăn trắng mặc trơn, chưa đạt tới chỗ phong lưu, thanh lịch kiểu trí thức tiểu tư sản. Với tiểu thuyết Quỳnh Dao, chị em bình dân chẳng những thỏa thích dõi theo những câu chuyện tình lãng mạn vượt quá ước mơ của họ; họ đọc Quỳnh Dao chỉ đơn thuần là để ước mơ. Với những người phụ nữ thành đạt, những người đã chính thức ở trong giai cấp trí thức tiểu tư sản, thì đọc Quỳnh Dao khác nào tự soi bóng họ trong đó, vừa lắng nghe tác giả nói thay họ những lời yêu đương lãng mạn mà họ khó lòng nói ra được trong cuộc đời thực. Còn đối với lớp thanh thiếu nữ trẻ, những người đang yêu và đang học hành để chuẩn bị bước vào giới trí thức tiểu tư sản, thì đọc Quỳnh Dao là một cách sớm bước một chân vào thế giới lãng mạn đó. Họ hóa thân vào nữ nhân vật để gặp gỡ nam nhân vật, chàng trai lý tưởng mà sẽ say mê họ, nói với họ những lời yêu đương ngọt ngào… Đây chính là sức hấp dẫn của tiểu thuyết Quỳnh Dao. Và cũng chính lớp thanh thiếu nữ đang yêu, nhiều mơ mộng và rất đông đảo này đã góp phần vào “hiện tượng Quỳnh Dao” trước đây, như một tác giả nhận xét “Đành rằng học sinh trung học không phải là thành phần độc giả duy nhất, nhưng có nhiều dữ kiện chứng tỏ rằng ít ra họ cũng là thành phần mở đường, để từ đó phát sinh ra hiện tượng đọc Quỳnh Dao…” (Đào Trường Phúc (1973), Hiện tượng Quỳnh Dao, NXB. Khai Hóa, trang 30).
3.2.3. TÍNH PHI BẠO LỰC
Khi đọc tiểu thuyết “Khói lam cuộc tình” của Quỳnh Dao, nhiều độc giả đã ấm ức về cái chết của nam nhân vật Phi; không phải ấm ức tại sao lại để hắn chết yểu, chết ngay từ đầu truyện, nhưng ấm ức tại sao tác giả đã để cho hắn chết quá dễ dàng, chưa cân xứng với tội lỗi hắn đã gây ra. Quả vậy, tên Phi này là một Ác thần, Ác thần duy nhất trong truyện; nếu không có hắn thì đã không có câu chuyện thương tâm này. Một mình hắn đã gây đau khổ cho mọi người. Hắn một lúc lừa tình hai cô gái: cô Nhã tội nghiệp đã có con với hắn, còn tiểu thư Tâm Hồng hóa ngây ngây dại dại vì tình, mẹ ruột hắn thì hóa điên thật sự, bà lúc ẩn lúc hiện trong rừng, rên rĩ như bóng ma oan hồn. Em trai hắn dang dỡ chuyện yêu đương do chịu tai tiếng cái thói lưu manh của hắn. Đau khổ nhất là cha mẹ của Tâm Hồng: con gái họ bị tên Phi lừa tình, chính họ thì bị hắn lừa tiền; riêng người cha thì bị một cú sốc tâm lý dữ dội khi ông giám đốc dày kinh nghiệm này để cho tên lưu manh ấy lừa gạt. Với tất cả tội lỗi này, tên Phi đáng bị tội chết, một cái chết rùng rợn thảm khốc nhất. Thế mà tác giả lại để hắn chết một cách dễ dàng bằng một tai nạn do chính hắn gây ra. Tất cả vụ tai nạn ẩn chứa nhiều nghi vấn, hứa hẹn là sẽ ly kỳ hấp dẫn lại chỉ được tóm tắt trong vòng trang giấy, không có cảnh máu đổ thịt rơi, tiếng rên la hoặc đôi mắt trợn trừng v.v… Độc giả hụt hẫng, ấm ức đã đành mà chính tác giả cũng tỏ ra non tay. Bởi vì trong nghề viết tiểu thuyết, điều đại kỵ là “tóm tắt”. Cái chỗ tóm tắt nó dễ rơi vào văn “kể”, kể lể dài dòng, nó làm sượng cái mạch văn “tả” trong tác phẩm đi. Với các tác giả cao tay thì ở những chỗ “Tóm gọn lại”, “Nói gọn lại”, “Nói tắt lại” tuyệt nhiên không phải là “tóm tắt”
theo nghĩa thông thường mà là một thủ pháp chuyển ý, chuyển cảnh hoặc ngay cả mở rộng vấn đề ra. Trong khi đó tác giả Quỳnh Dao thay vì khai thác diễn biến vụ tai nạn nhiều nghi vấn đó thành vài chục trang sách ly kỳ, hấp dẫn, bà lại đem tóm tắt nó. Có phải thực là tác giả non tay? Thực ra, không phải vậy. Đây là do chủ ý của tác giả, theo đúng quan niệm sáng tác của bà: “Cho dẫu trong cuộc sống còn bao điều đen tối, đầy thù hận khuynh loát, nhưng riêng tôi, tôi vẫn thấy đời rất đẹp, mà sống là vui, bởi vậy, tôi thành tâm đem những sở kiến đó ký thác vào tác phẩm của tôi, và tôi mong mỏi cứ giữ được mãi mãi cái nếp văn chương đó” (Đào Trường Phúc (1973), Hiện tượng Quỳnh Dao, NXB. Khai Hóa, trang 35). Ở đây, điều đó có nghĩa rằng tác giả không muốn “dữ dội hóa” cái chết của tên Phi để trả thù hắn, cũng không muốn “rùng rợn hóa” cái chết của hắn để đưa cảnh bạo lực vào trong tác phẩm của bà. Cái chết của tên Phi đơn thuần chỉ là một tình tiết tạo bước ngoặc cho truyện, một cái cớ để thuyết Nhân quả ứng nghiệm vào trong tác phẩm, và bà đã làm được điều đó. Nhân danh luật Nhân quả bà đã trả lại công bằng cho các nạn nhân và đem lại điều tốt lành cho họ, bằng ba cuộc hôn nhân cùng một lúc ở cuối truyện. Mạch truyện đã diễn ra đúng phong cách Quỳnh Dao, phù hợp với bản tính lãng mạn của bà như đã nói ở phần tiểu sử. Điều này nhắc ta nhớ lại việc hai người nông dân gánh thuê đã nhẫn tâm bỏ hai đứa em nhỏ của bà bơ vơ giữa đường chạy loạn, bà đã không hề oán thán họ một lời