1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kịch múa mặt nạ talchum của korea

86 763 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kịch múa mặt nạ talchum của korea
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh, Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành XH2b
Thể loại Công trình
Năm xuất bản 2009
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 2,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau đó chúng tôi mới nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển của Talchum, nhưng trước khi tìm hiểu lịch sử của nó thì chúng tôi đi vào khái niệm của Talchum, một vở kịch mà trong

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”

NĂM 2009

Tên công trình

KỊCH MÚA MẶT NẠ TALCHUM CỦA KOREA

Thuộc nhóm ngành: XH2b

Trang 2

MỤC LỤC

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH 1

MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT 10

1 Định vị văn hóa 10

2 Lịch sử hình thành và phát triển của Talchum 16

CHƯƠNG 2: CẤU TRÚC NGHỆ THUẬT VÀ PHÂN LOẠI KỊCH MÚA MẶT NẠ 25

1 Cấu trúc của nghệ thuật múa mặt nạ 25

2 Phân loại múa mặt nạ 47

CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA KỊCH MÚA MẶT NẠ TRONG ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI HÀN QUỐC 67

1 Đặc điểm của múa mặt nạ 67

2 Vai trò của Talchum 71

KẾT LUẬN 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 3

Chương một chúng tôi đi vào những vấn đề khái quát Trước tiên chúng tôi định vị văn hóa Korea để có thể hiểu rõ tọa độ văn hóa Korea, nó nằm ở vị trí như thế nào, chủ thể của nền văn hóa này là ai và lịch sử của nền văn hóa này, đồng thời cũng đi vào tìm hiểu loại hình văn hóa Korea với sự kết hợp độc đáo của gốc

du mục và gốc nông nghiệp Sau đó chúng tôi mới nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển của Talchum, nhưng trước khi tìm hiểu lịch sử của nó thì chúng tôi đi vào khái niệm của Talchum, một vở kịch mà trong đó người diễn viên sẽ mang một chiếc mặt nạ trong khi ca hát và nhảy múa Talchum là một vở kịch nên

nó có đầy đủ cốt truyện, tình tiết và diễn biến Kịch múa mặt nạ là một loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống có nội dung hết sức gần gũi, qua đó giúp cho người dân giải trí cũng như bày tỏ nỗi niềm của mình

Chương hai chúng tôi nghiên cứu cấu trúc nghệ thuật và phân loại kịch múa mặt nạ Trong cấu trúc nghệ thuật thì chúng tôi chỉ đi vào tìm hiểu ba yếu tố chính

đó là mặt nạ, trang phục và âm nhạc dùng trong kịch múa mặt nạ Talchum Đặc biệt chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu về chiếc mặt nạ Nghiên cứu về chiếc mặt nạ trước tiên chúng tôi đi vào khái niệm về mặt nạ mà trong tiếng Hàn Quốc là tal ( ), sau đó mới đi vào phân loại mặt nạ với hai loại chính là mặt nạ tôn giáo và mặt nạ nghệ thuật, đồng thời cũng tìm hiểu về những chiếc mặt nạ Hahoe Mỗi một chiếc mặt nạ Hahoe là một tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời của các nghệ nhân, thề hiên đầy đủ tính cách, số phận của nhân vật Đây là những chiếc mặt nạ rất nổi

Trang 4

tiếng, được coi là bảo vật của quốc gia, là món quà lưu niệm đặc trưng và đầy ý nghĩa Sau phần cấu trúc nghệ thuật chúng tôi đi vào phân loại kịch múa mặt nạ

để hiểu rõ hơn về sự phong phú và độc đáo của nó, những nét chung và riêng của kịch múa mặt nạ giữa từng vùng Chúng tôi nghiên cứu năm kiểu múa mặt nạ chính là: kiểu Haeseo Talchum, kiểu Ogwangdae, kiểu Sandae nori, kiểu Yaryu, kiểu Seonangkut nori Và trong từng kiểu này lại có những điệu múa mặt nạ riêng nữa

Chương ba chúng tôi nói về đặc và điểm vai trò của kịch múa mặt nạ trong đời sống của người Hàn Quốc Nói về đặc điểm của kịch múa mặt nạ thì nó mang những đặc điểm cơ bản của nghệ thuật thanh sắc là tính tổng hợp, tính linh hoạt, tính biểu cảm và tính tượng trưng Còn xét về vai trò thì phải kể đến vai trò của nó trong xã hội truyền thống và vai trò của nó trong xã hội hiện đại Nó không chỉ là một hình thức giải trí đơn thuần mà còn là một công cụ biểu đạt những suy nghĩ, mong ước và dồn nén của người dân đồng thời là nơi gắn kết cộng đồng và lưu giữ những điệu múa truyền thống Phần cuối là kết luận, đó là những suy nghĩ, những tổng hợp chung của chúng tôi về kịch múa mặt nạ Talchum với lịch sử hình

thànhvà phát triển, nội dung, ý nghĩa và vai trò của nó trong đời sống của người dân Korea

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Korea là một đất nước có truyền thống văn hóa lâu đời từ hơn 4000 năm trước Cũng như Việt nam và Nhật Bản, Korea nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa, qua nhiều thế kỷ giao lưu Korea đã tiếp nhận nhiều ảnh hưởng từ Trung Hoa Nhưng nền văn hóa bản địa của Korea không vì thế mà mất

đi ngược lại nó đã tiếp nhận và phát huy tạo nên những giá trị mới, đặc sắc và riêng biệt cho nền văn hóa của mình

Đất nước Korea trong quá trình phát triển cũng đã trải qua nhiều thăng trầm,

bị các thế lực bên ngoài xâm lược và đô hộ, rồi trong thời Nhật thuộc thì phải chịu những chính sách cai trị cực kỳ hà khắc và tàn khốc của Nhật đã làm cho đất nước Korea trở nên kiệt quệ hoàn toàn Những hậu quả từ cuộc đô hộ của Nhật chưa kịp hồi phục thì một cuộc chiến khốc liệt gây chia rẽ hai miền Nam Bắc lại xảy ra gây nên những tổn thất to lớn cho Korea, nhưng từ đống tro tàn của cuộc chiến, từ một đất nước lạc hậu, kém phát triển, Hàn Quốc đã tạo nên một cú bức phá thần kỳ làm nên “kỳ tích sông Hàn”, tạo dựng cho mình một vị trí đứng trên trường quốc tế Nghiên cứu về đất nước Korea trên bình diện văn hóa sẽ giúp ta hiểu hơn về con người, tính cách, suy nghĩ và lối sống của người Korea Từ đó có thêm kiến thức

và cách nhìn đúng đắn

Từ khi Việt Nam và Hàn Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1992 đến nay đã được 17 năm Mối quan hệ hai nước ngày càng được củng cố và bền vững Theo đó những nghiên cứu về Korea cũng ngày càng nhiều và sâu hơn Là một sinh viên ngành Hàn Quốc học, được học tiếng Korea, được tìm hiểu về đất nước Korea trên mọi mặt từ lịch sử, văn hóa kinh tế tới chính trị, xã hội Chúng tôi có điều kiện hiểu hơn về Korea và ngày càng bị lôi cuốn bởi nền văn hóa lâu đời và độc đáo của đất nước này Chính điều đó đã giúp chúng tôi có mong muốn được

Trang 6

nghiên cứu và khám phá sâu hơn về nền văn hóa của nó Đặc biệt khi xem bộ phim “Nhà vua và chàng hề” tôi vô cùng thích thú với những màn biểu diễn vui nhộn và đặc sắc của một loại hình nghệ thuật trong phim mà sau này chúng tôi mới được biết đó là múa mặt nạ Talchum Từ đó chúng tôi bắt đầu có ý muốn nghiên cứu về Talchum

Nghệ thuật Tuồng của Việt Nam, Kinh kịch của Trung Quốc, Kabuki của Nhật Bản là những thể loại nghệ thuật đặc trưng cho từng quốc gia này Còn Talchum chính là đặc trưng cho đất nước Korea Talchum mang trong mình những nét độc đáo riêng, là sự kết hợp của nhiều loại hình khác nhau, là di sản đáng tự hào của người Korea

Nghệ thuật múa mặt nạ Talchum phát triển từ xa xưa từ tín ngưỡng dân gian và những ảnh hưởng từ Trung Hoa, lúc đầu nó mang tính tôn giáo nhưng dần được phát triển lên thành hình thức giải trí của người bình dân Những buổi biểu diễn kịch múa mặt nạ là nơi mà người dân có thể bày tỏ lòng mình, giải tỏa những dồn nén trong cuộc sống thường nhật mà bình thường họ không thể nói ra, cười nhạo những tầng lớp trên và những thói hư tật xấu trong xã hội Đó là nơi mà họ có thể thoát khỏi thực tại gò bó, sống thật với lòng mình, nói ra những điều mình nghĩ, được thỏa thê châm biếm và cười nhạo Tìm hiểu về nghệ thuật kịch múa mặt nạ Talchum sẽ giúp ta hiểu được phần nào đời sống của người Korea xưa cũng như vai trò của múa mặt nạ Talchum trong đời sống của người Korea xưa và nay, từ đó hiểu thêm một khía cạnh mới của văn hóa Korea Hàn Quốc là một đất nước phát triển nhưng những giá trị truyền thống không những vẫn được giữ vững mà còn được phát triển thành nét độc đáo đặc trưng riêng cho dân tộc Hiểu được những giá trị văn hóa của đất nước Hàn Quốc không chỉ giúp chúng ta nâng cao tri thức

và hiểu biết về đất nước này, tạo điều kiện để ta dễ dàng giao lưu học hỏi mà còn

là một cách để làm giàu thêm nền văn hóa của dân tộc mình và học cách giữ gìn văn hóa từ dân tộc khác

Trang 7

2 Mục đích nghiên cứu

Kịch múa mặt nạ Talchum là một bộ phận của văn hóa truyền thống Korea, nói

rõ hơn là một bộ phận của nghệ thuật biểu diễn dân gian Korea Nghiên cứu về kịch múa mặt nạ Talchum từ tổng thể về chiều rộng từ đó mang đến một cái nhìn

sơ lược về loại hình nghệ thuật này; hiểu về nó, về quá trình hình thành và phát triển, về những kiểu khác nhau của nó, đặc điểm và vai trò của nó trong xã hội Đồng thời để tìm hiểu về chiếc mặt nạ Korea, một bộ phận quan trọng trong cấu trúc của kịch múa mặt nạ

3 Lịch sử vấn đề

Từ khi trở thành một quốc gia phát triển Hàn Quốc đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới Những bài viết, sách và công trình nghiên cứu về đầy đủ các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của Hàn Quốc lần lượt ra đời Trong đó những tác phẩm nghiên cứu về văn hóa HÀn Quốc cũng khá đa dạng và phong phú Tôi xin nêu một số tác phẩm nghiên cứu về văn hóa Hàn Quốc như :

“Tìm hiểu văn hóa Hàn Quốc” của Nguyễn Long Châu là tổng hợp khá đầy đủ

những nét cơ bản của các mặt chính trong văn hóa Korea từ tôn giáo, gióa dục, hội họa, vă học đến điện ảnh Tác phẩm cũng nêu sơ lược về lịch Korea những biến động chính trị xã hội của nước này

“Văn hóa văn minh và các yếu tố văn hóa Hàn” của Nguyễn Quang Thiêm thì

đi vào khái niệm và lý luận về văn minh và văn hóa, mối quan hệ giữa chúng đồng thời đi vào tìm hiểu về bản sắc văn hóa Và cuối cùng là nêu lên những yếu

tố văn hóa truyền thống của Korea

“Korea Traditional” của tác giả Lee Kwang Kyu cũng nói một cách sơ lược

các mặt của nền văn hóa truyền thống Korea

“Guide to Korea” do trường Đại Học Yonsei ấn hành năm 1968 kể về lịch sử

Korea từ cổ đại đến hiện đại, những đặc trưng văn hóa Korea, phong tục dân gian,

Trang 8

thơ nhạc cổ, những bài hát và lời bài hát cổ, thần thoại truyền thuyết cùng một số loại hình biểu diễn dân gian của Korea

“An Encyclopedia of Korea culture” của Suh Cheong Soo là một quyển sách

giúp tra cứu về các lĩnh vực khác nhau của đất nước Korea

Các tác phẩm này đã cung cấp cho chúng tôi những kiến thức căn bản nhất về Korea Từ lịch sử, địa lí, con người, xã hội đến những giá trị văn hóa truyền thống lẫn hiện đại, những hiểu biết về sự hình thành, tiếp kiến và phát triển của văn hóa trên bán đảo Korea, cũng như những điều kiện, nhân tố nào tạo nên nền văn hóa này, có những đặc trưng riêng biệt gì, từ đâu mà có được những đặc trưng đó Tuy nhiên trong các tác phẩm này không có tác phẩm nào đề cập đề cập rõ về nghệ thuật múa mặt nạ Talchum của Korea Do đó đề tài này sẽ đi sâu vào tìm hiểu về nghệ thuật kịch múa mặt nạ Talchum của Korea dựa trên mục đích cung cấp những kiến thức ban đầu về Talchum, phân tích đặc điểm và vai trò của nó

Những tác phẩm nghiên cứu về nghệ thuật múa mặt nạ Talchum của Korea thì

ở Việt Nam hầu như không có một tác phẩm nào Những nghiên cứu đầy đủ và chuyên sâu chỉ có thể tìm thấy ở những tác phẩm bằng tiếng Anh hoặc tiếng Hàn Nhưng các tác phẩm như thế thì lại không thể tìm thấy ở Việt Nam Dựa trên nguồn tư liệu mà chúng tôi đã tìm kiếm và đọc được thì có một số tác phẩm nói về Talchum như sau :

của tác giả ( Mặt nạ của Sim U Seong) tác phẩm nói về chiếc mặt nạ

của Korea – một bộ phận của cấu trúc kịch múa mặt nạ, lịch sử hình thành và phát triển của nó, phân loại mặt nạ cùng một số kiểu múa mặt nạ nổi tiếng còn lưu giữ đến ngày nay

của (Múa Hàn Quốc của Kim Mae Cha) là tác phẩm nghiên cứu

về loại hình múa truyền thống của Korea, lịch sử hình thành và phát triển của múa Korea, phân loại múa Korea và những đặc điểm của múa Korea

Trang 9

103 của (Câu chuyện về 103 phong tục của Jak Yeong Su) kể

về 103 phong tục khác nhau của Korea

“Traditional Performing Arts of Korea” của Jeon Kyung Wook nói về những

loại hình nghệ thuật biểu diễn khác nhau của Korea như : biểu diễn nhào lộn, ảo thuật, múa rối, hài kịch, hát nói Pansori, kịch múa mặt nạ Lịch sử hình thành và phát triển cũng như nội dung của những loại hình này

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Vì đây là đề tài nghiên cứu về một mảng của văn hóa Korea từ cổ xưa cho đến nay nên trong suốt đề tài nghiên cứu có nhiều chỗ chúng tôi sẽ sử dụng từ “Korea” thay cho từ “Hàn Quốc” nhằm đảm bảo tính khách quan hơn cho việc nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu tổng quát ban đầu về nghệ thuật kịch múa mặt nạ Talchum của Korea từ lịch sử hình thành và phát triển của nó, phân loại kịch múa mặt nạ, cấu trúc, đặc điểm và vai trò của nó Nhưng để có thể hiểu rõ được kịch múa mặt

nạ và những đặc điểm của nó thì trước tiên đề tài đi vào tìm hiểu về tọa độ, loại hình và đặc trưng của văn hóa Korea, lịch sử phát triển của đất nước Korea qua các thời kỳ khác nhau

5 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần vào việc tìm hiểu loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống của Korea là kịch múa mặt nạ Talchum đồng thời góp thêm một phần nhỏ tư liệu chung phục vụ cho việc tìm hiểu và nghiên cứu về văn hóa của Korea

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Nghiên cứu về nghệ thuật kịch múa mặt nạ Talchum của Korea không thể không đề cập đến các lĩnh vực khác như : lịch sử, kinh tế, xã hội, chính trị…Các phương pháp nghiên cứu cụ thể của đề tài này là :

Trang 10

Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh để so sánh về những giai đoạn phát triển của kịch múa mặt nạ Talchum với nhau từ đó thấy được những chuyển biến, những thay đổi của nó, đồng thời cũng so sánh với một vài loại hình nghệ thuật tương đương của Trung Quốc và Nhật Bản để thấy được những nét khác biệt và đặc trưng của nó Nguồn tư liệu cho đề tài này được tổng hợp từ sách, bài giảng và những tài liệu trên internet Sau đó nhóm đã tiến hành tổng hợp, phân loại theo từng vấn đề, phân tích và rút ra những nội dung cần thiết cho đề tài Dựa trên nguồn tài liệu có được

và những phân tích của nhóm chúng tôi đưa ra vai trò của kịch múa mặt nạ Talchum để từ đó thấy được vị trí của nó trong đời sống của người dân Korea

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo đề tài gồm có ba chương như sau:

 Chương 1: Định vị về văn hóa Korea, xem xét tọa độ văn hóa và loại hình văn hóa Korea đồng thời đi vào tìm hiểu về lịch sử hình thành và phát triển của Talchum

Trang 11

 Chương 2: Phân loại kịch múa mặt nạ, hình thái của nó và cấu trúc của nghệ thuật múa mặt nạ Trong phần cấu trúc sẽ đi sâu vào tìm hiểu về chiếc mặt nạ

 Chương 3: Đặc điểm của kịch múa mặt nạ Talchum, vai trò của nó trong

xã hội truyền thống và hiện đại

Trang 12

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT

1 Định vị văn hóa

1.1 Tọa độ văn hóa

1.1.1 Không gian văn hóa

Ảnh 1: Bản đồ Korea thời Tam Quốc Nguồn: http://www.wikipedia.com

Trang 13

Korea là một bán đảo dài 1000 km từ bắc tới nam, ở phần đông bắc của lục địa châu Á, nơi hải phận của bán đảo tiếp giáp với phần cực tây của Thái Bình Dương Phía bắc bán đảo tiếp giáp với Trung Quốc và Nga Phía đông của bán đảo

là Biển Đông, xa hơn nữa là nước láng giềng Nhật Bản Ngoài bán đảo chính còn

có hơn 3200 đảo nhỏ Nhìn chung Korea nằm ở vị trí khá mở dễ dàng tiếp xúc và giao lưu với các nền văn hóa khác trên thế giới Nhưng trong quá trình phát triển Korea khá đóng cửa (từng được mệnh danh là “vương quốc ẩn dật”), hầu như chịu ảnh hưởng chủ yếu từ nền văn hóa Trung Hoa Theo các tài liệu ngôn ngữ và khảo

cổ, tổ tiên người Korea ngày nay có nguồn gốc di cư từ Siberia, đến Mông Cổ, Mãn Châu, bắc Trung Quốc rồi xuống bán đảo Korea vào khoảng 5000 năm trước công nguyên Họ định cư ở đây, phối ngẫu và di truyền giống Một nhánh khác của người Korea cổ tiếp tục di chuyển vào Nhật Bản

1.1.2 Chủ thể văn hóa

Theo những tài liệu nghiên cứu cho thấy con người bắt đầu sống ở bán đảo Hàn từ thời đồ đá cũ Tuy nhiên khó mà nói rằng những người này thuần nhất 100% là tổ tiên xa xưa của người Korea ngày nay “Hiện nay vẫn còn những tranh luận về nhân chủng và gốc gác của người Hàn Song những quan điểm phổ biến hơn cả thường cho rằng người Hàn thuộc vào nhóm chủng tộc Antai”[Văn hóa văn minh và yếu tố văn hóa truyền thống Hàn, dẫn theo Lê Quang Thêm 1998:206] di

cư từ bắc Siberia rồi xuống đến Mông Cổ, bắc Trung Quốc rồi xuống bán đảo Korea Có thể nói “trong quá trình tồn tại lâu dài từ thời đá cũ, qua đá giữa, đá mới những nhóm người cư trú ở đây có sự thiên di và hòa trộn với các nhóm khác để dần trở thành tổ tiên người Hàn ngày nay” [Văn hóa văn minh và yếu tố văn hóa truyền thống Hàn, dẫn theo Lê Quang Thiêm 1998:206] Dân tộc Korea có được vóc dáng gần như hoàn chỉnh có thể là vào thời Silla thống nhất Còn người bắc Siberia thì trong 400 năm bị phong kiến Trung Quốc đô hộ đã pha trộn huyết thống với người Trung Quốc Dưới thời Goryeo có một số lượng lớn người Hoa và Bắc Á di cư từ Trung Quốc, Mãn Châu đến bán đảo Korea Đồng thời cũng có một

số lượng lớn người Korea di cư đến bán đảo Shandong của Trung Quốc vì mục

Trang 14

đích thương mại Do có những dòng di dân lớn như thế ở bán đảo cùng với sự xáo trộn sắc tộc giữa các bộ lạc thời bấy giờ mà người Korea ngày nay có những nét tương đồng với người phía Bắc và dòng Trung Quốc với người Nhật ở vùng biển Nhật Bản

1.1.3 Thời gian văn hóa

Thời gian văn hóa là thời gian từ khi một nền văn hóa được hình thành cho tới khi tàn lụi.Thời gian văn hóa thường gắn liền với thời gian lịch sử của một quốc gia

 Triều Tiên cổ (Gojoseon)

Theo truyền thuyết Dangun, con trai của Chúa trời và một phụ nữ của bộ lạc tôn thờ gấu đã lập nên Gojoseon – quốc gia đầu tiên trong lịch sử dân tộc Korea vào năm 2333 TCN Gojoseon là một liên minh được thống nhất từ các bộ tộc được xây dựng trên cơ sở văn hóa của thời kỳ đồ đồng Vào thế kỷ IV Tr.CN Gojoseon tiếp nhận những văn hóa của thời kỳ đồ sắt nên ngày càng trở nên cường thịnh Sau khi nhà nước Gojoseon ra đời thì hàng loạt các quốc gia ở bán đảo Korea thuộc vùng Manju cũng được thành lập : Buyeo, Goguryeo, Okjeo,

Baekje (18 Tr.CN-660 sau CN)

Trang 15

Baekje là một quốc gia phát triển mạnh từ một thành quốc ở phía nam sông Hangang Trong suốt triều đại vua Geunchogo (346-375) Baekje đã phát triển thành một quốc gia quý tộc tập quyền

Silla (57 Tr.CN-935 sau CN)

Silla là một quốc gia nằm ở cực nam bán đảo, ban đầu là vương quốc yếu nhất và kém phát triển nhất trong số ba vương quốc Tuy nhiên do sự cách biệt về địa lí quốc gia này không bị ảnh hưởng bởi Trung Quốc Xã hội có xu hướng phân chia giai cấp rõ rệt và sau này đã phát triển tập đoàn Hwarang (Hoa niên ) độc đáo

và các tập tục Phật Giáo tiến bộ

 Silla thống nhất và Balhae

Vào năm 669 Silla thống nhất bán đảo Korea và đạt tới đỉnh cao của quyền lực và sự thịnh vượng vào giữa thế kỷ thứ 8 Đất nước này rất tôn sùng Phật giáo, vào năm 935 vua Silla chính thức quy phục vương triều mới được thành lập Goryeo

Vào năm 698 những người dân trước đây của vương quốc Goguryeo sống tại khu vực trung nam Mãn Châu lý đã lập nên vương quốc Balhae Có thể nói Balhae là nhà nước tiếp kế Goguryeo phát triển dựa trên nền văn hóa, chính trị, xã hội của Goguryeo Vào thế kỷ thứ X Balhae bị người Khitan (Khiết Đan) chiếm đóng

 Goryeo (918-1392)

Wang Geon (Vương Kiến) đã lập nên triều đại Goryeo và dẹp yên sự hỗn loạn của thời Hậu Tam Quốc, Wang Geon đã tuyên bố mục tiêu lấy lại lãnh thổ đã mất của vương quốc Goguryeo ở đông bắc Trung Quốc Mặc dù không lấy lại được những vùng đất đã mất nhưng triều đại này đã xây dựng một nền văn hóa tinh tế và độc đáo Nhưng với những cuộc đấu tranh nội bộ giữa quan lại, học giả, chiến binh, giữa đạo Khổng và đạo Phật đã làm triều đại này suy yếu Cuộc tấn

Trang 16

công của Mông Cổ vào năm 1231 đã làm cho Goryeo trở thành một bang chư hầu của Mông Cổ trong gần một thế kỷ bất chấp sự kháng cự của người dân Goryeo

 Joseon (1392-1905)

Năm 1392 Yi Seong-gye (Lý Thành Quế) đã lập nên triều đại Joseon, dời thủ đô tới Hanseong, triều đại này lấy đạo Khổng làm triết lý chỉ đạo vương quốc Sau khi thành lập, gần 100 năm xây dựng và củng cố nhiều chế độ khác nhau, nhà nước Joseon đã phát triển theo hình thức là nhà nước tập quyền trung ương Nhờ

đó các mặt chính trị, xã hội được ổn định, văn hóa phát triển rực rỡ với việc sáng tạo và ban bố rộng rãi hệ thống Hangeul

Vào những năm 1590, Nhật Bản hai lần xâm lăng Korea nhưng không thành nên gây ra sự tàn phá Những kẻ xâm lược đã đốt hết những gì họ không đem về Nhật Bản được, nhiều tạo tác văn hóa bị mất tích Với sự giúp đỡ của nhà Minh và tàu chiến bọc sắt của đô đốc Yi Sunsin ( Lý Thuấn Thần), quân Joseon đẩy lùi được quân Nhật Nhà Joseon là triều đai cai trị lâu dài nhất trong lịch sử Korea

 Nhật Bản chiếm đóng

Từ những năm 1870, Nhật bản bắt đầu cưỡng bức Korea ra khỏi khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc Năm 1895 hoàng hậu Myeongseong (Minh Thành) bị quân Nhật ám sát Sau chiến tranh Trung-Nhật và chiến tranh Nga-Nhật, Nhật Bản giành được ưu thế tại Korea Vào năm 1910 Nhật Bản chính thức xâm lược Korea

Dưới sự cai trị hết sức tàn bạo của Nhật, đất nuốc Korea bị tàn phá, quân Nhật đã phá hủy đi rất nhiều di sản văn hóa của Korea, cướp đi nhiều báu vật giá trị cũng như vơ vét sức người, sức của của Korea Dưới sự thống trị dã man của Nhật nhiều phong trào độc lập đã nổ ra nhưng cuối cùng đều bị đàn áp dã man và thất bại

Trong chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều người Korea bị bắt ra chiến trường đi lính cho Nhật, những người phụ nữ thì bị cưỡng bức lao động hay trở thành những

Trang 17

nô lệ tình dục dưới cái tên là “đội úy an” Vào năm 1945 cùng với sự kiện Nhật đầu hàng quân đồng minh Korea cũng giành được độc lập

1.2 Loại hình văn hóa

Xét về cuội nguồn văn hóa Korea thì đó là sự kết hợp của các cộng đồng người

có phương thức sống khác nhau Đó là nhóm hái lượm thực vật với nhóm săn bắn

và nhóm đánh bắt cá Loại hình văn hóa Korea là loại hình văn hóa rất đặc biệt với

sự kết hợp giữa nền văn hóa động mang tính dương (gốc du mục) và nền văn hóa tĩnh mang tính âm (gốc nông nghiệp)

Như đã biết người Korea có nguồn gốc từ nhóm chủng tộc Antai di cư từ Bắc Siberia, giống như người Mông Cổ người Korea xưa vốn là những kỵ sĩ

lớn lên trên lưng ngựa, họ sống bằng việc chăn thả gia súc từ những đồng cỏ này sang những đồng cỏ khác, chính cuộc sống không cố định, nay đây mai đó nên người Korea ít phụ thuộc vào thiên nhiên và hay di chuyển Đặc điểm xa xưa đó dường như vẫn còn tồn tại một cách vô thức trong lối sống của người Korea ngày nay bằng chứng là hàng năm luôn có một số lượng lớn người Korea thay đổi địa chỉ nhà ở Trong tổ chức cộng đồng thì coi trọng sức mạnh kéo theo trọng tài, trọng võ, trọng nam giới, ứng xử theo nguyên tắc mang tính kỷ luật cao Trong ứng xử với môi trường tự nhiên thì độc đoán trong tiếp nhận, cứng rắn, hiếu thắng trong đối phó

Mặc dù nằm trong xứ lạnh thực vật không có điều kiện phát triển, địa hình chủ yếu lại là đồi núi, đồng bằng thì rất nhỏ hẹp Nhưng phần đông người Korea sống bằng nghề nông nên họ cũng mang những đặc điểm của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp : chăm chỉ, coi trọng tình cảm và thể diện

Theo Phó giáo sư viện sĩ Trần Ngọc Thêm đã tổng kết thì:

“Con người là chủ thể đã kiến tạo nên văn hóa, mọi biểu hiện văn hóa đều phản ánh một phần tính cách của chủ thể và ngược lại hiểu được tính cách của chủ thể

ta sẽ có thể tiếp cận dễ dàng hơn với nền văn hóa đó :

Trang 18

Đất nước Hàn Quốc xuất phát từ nền nông nghiệp lúa nước nên đã tạo nên ở con người Hàn Quốc thiên về tình cảm hơn

Chất du mục Siberia của tổ tiên người Hàn hiện đại tạo nên tính hận và tính hướng nội cùng tính nước đôi vừa âm tính vừa dương tính

Môi trường sống khắc nghiệt cùng với khí hậu lạnh và địa hình núi đã tạo nên tính chủ nghĩa gia đình và tính tôn ti Đây cũng là một tính cách chịu ảnh hưởng của Nho giáo

Nghề nông nghiệp lúa nước là loại hình kinh tế chủ yếu trong suốt quá trình lịch sử đã tạo nên lối sống trọng tình, khả năng linh cảm cao và tính trọng thể diện

2 Lịch sử hình thành và phát triển của Talchum

1.1 Khái niệm Talchum

Ảnh 2: Một cảnh trong kịch múa mặt nạ Talchum

http://www.maskdance.com

Trang 19

Talchum ( ) là vở kịch mà trong đó người diễn viên mang mặt nạ và nhảy múa Trong ba yếu tố mặt nạ, nhảy múa và kịch lúc đầu vì chỉ có hai yếu tố được thể hiện nên người ta gọi là Talchum tuy nhiên ta hiểu rằng nó cũng bao gồm luôn yếu tố thứ ba Cũng có một tên gọi khác là Gamyeonkeuk ( ) nghĩa là kịch mặt nạ tuy nhiên cái tên này lại mang nặng vẻ tín ngưỡng nên những người biểu diễn không hay sử dụng lắm, họ thường dùng từ Talchum vì nó gần gũi và thích hợp hơn Tùy theo từng vùng mà Talchum còn có các tên gọi khác như Sandae nori, Yaryu, Ogwangdae nori

Kịch múa mặt nạ được biểu diễn dưới hình thức người diễn viên mang một chiếc mặt nạ vừa hát vừa nhảy múa Nó không chỉ là điệu múa được biểu diễn bởi những vũ công đeo mặt nạ mà còn là một vở kịch với những nhân vật mang mặt

nạ có đầy đủ côt truyện, tình tiết, diễn biến Múa mặt nạ đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống của người dân Hàn Quốc xưa vì nó là nơi mà họ có thể bày tỏ thái độ của mình đối với xã hội mà họ đang sống, những bất mãn, những dồn nén

về sự xấu xa và bất công của xã hội, qua kịch múa mặt nạ người dân cũng có thể châm biếm, đùa cợt những thói hư tật xấu của tầng lớp thống trị

Kịch múa mặt nạ truyền thống bao giờ cũng được biểu diễn ngoài trời Vào thời Goryeo và Joseon nó được biểu diễn trên một sân khấu gọi là Sandae (산대) hay ở một khoảng đất có độ dốc để khán giả có thể ngồi bên dưới và xem cho rõ

Có một khu vực được che màn để cho các diễn viên thay phục trang nằm ở bên trái sân khấu, còn những người nhạc công ngồi phía bên phải

Tùy theo từng vùng và người biểu diễn mà kịch múa mặt nạ có sự khác nhau nhưng nhìn chung thì nó có cùng những đặc điểm cơ bản Những chủ đề của múa mặt nạ bắt nguồn từ cuộc sống chịu nhiều áp bức của người dân, từ xã hội suy đồi và từ hiện thực cuộc sống khắc nghiệt Nó nhạo báng những nhà sư biến chất những quý tộc sa đọa, tình yêu và mâu thuẫn giữa nam và nữ mà cụ thể mâu thuẫn giữa người vợ xấu xí và nàng hầu xinh đep, quyến rũ Tùy theo từng vùng khác nhau mà múa mặt nạ được biểu diễn vào ngày rằm tháng giêng, vào dịp Phật Đản,

Trang 20

vào Tết Trung Thu (추석) hay lễ hội Dano (Tết Đoan Ngọ mùng 5 tháng 5 âm lịch) và đôi khi nó cũng được biểu diễn vào những ngày hội cầu mưa Điểm nổi bật của nghệ thuật kịch múa Hàn Quốc là sự tham gia nhiệt tình của người xem, hầu như không còn khoảng cách giữa nghệ sĩ và người xem Họ cùng nhau nhảy múa một cách sôi nổi, hòa hợp vào cuối buổi diễn

1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Talchum

1.2.1 Lớp văn hóa bản địa

Lớp văn hóa bản địa Theo Samkukji (삼국지-Tam Quốc Chí) và những ghi chép rời rạc của Trung Quốc vào thế kỷ thứ III trước công nguyên trên bán đảo Korea có rất nhiều bộ tộc sinh sống Những bộ tộc này hàng năm đều tổ chức một hay hai nghi lễ để ca ngợi các vị thần Những nghi lễ Đông Mãnh (동맹) của Goguryeo, lễ Ngênh Cố (영고) của Puyeo (부여), lễ Vô Thiên (무천) của nước Ye(예) cũng đã sử dụng mặt nạ trong các điệu múa Trong những trò chơi dân gian mặt nạ cũng được sử dụng kèm theo Buổi múa mặt nạ được biểu diễn trong đêm giao thừa để đuổi tà ma của năm cũ và đón mừng năm mới có lẽ là thủy tổ của điệu múa mặt nạ sau này Những buổi múa mặt nạ khi này mang đậm tính tín

ngưỡng

Nhiều nhà sử học tin rằng múa mặt nạ là một phần của nghi lễ Shaman Mục đích chính của những điệu nhảy Shaman là để làm vui lòng nữ thần địa phương và xua đuổi những linh hồn xấu xa Dần dần sau đó những người dân làng chấp nhận nó coi nó như một nghi lễ của làng với hy vọng mang lại một vụ mùa bội thu, một cuộc sống thanh bình và ấm no

1.2.2 Lớp văn hoa chịu ảnh hưởng Trung Hoa và khu vực

 Goguryeo

Goguryeo là nước gần Trung Quốc hơn nên sớm tiếp nhận nhiều ảnh hưởng của Trung Quốc hơn Silla và Baekje Là một quốc gia hùng mạnh và rất phát triển

Trang 21

vào thời bấy giờ Goguryeo đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ Trên các bức bích họa trong những ngôi mộ cổ của Goguryeo có rất nhiều cảnh mô tả những loại hình biểu diễn khác nhau như đi cà kheo, tung hứng, biểu diễn cưỡi ngựa, phóng dao, đấu vật, kịch mặt nạ và trò nhào lộn Ở bức bích họa trong ngôi mộ Anak (안악) có hình ảnh của những người biểu diễn, đó là những nhạc công chơi đàn gồm : một chiếc kèn dài, một cây đàn gần giống đàn mandolin gọi là wamhan và một cây đàn tranh Hàn Quốc gọi là geomungo, đặc biệt là hình ảnh một người đàn ông đội một cái mũ sắt giống như khăn xếp với những chấm đỏ biểu diễn một điệu

múa mặt nạ

Những hình thức biểu diễn của Korea được giới thiệu tới Nhật Bản từ thời Tam Quốc vào khoảng giữa thế kỷ thứ 5 đến giữa thế kỷ thứ 9 sau công nguyên Đầu tiên là loại hình biểu diễn của Silla, sau đó là của Baekje và Goguryeo Vào khoảng giữa thế kỷ thứ 9 khi Nhật Bản bắt đầu thống kê lại những loại hình biểu diễn được du nhập từ bên ngoài thì loại hình biểu diễn từ nhà Đường của Trung Quốc và Ấn Độ được gọi là “âm nhạc từ bên trái” còn hình loại hình từ Goguryeo, Baekje, Silla, Ballhae được gọi là “âm nhạc từ bên phải” Sau đó còn được gọi là

“âm nhạc của Goguryeo”, nó gồm 24 tác phẩm khác nhau, trong đó có 12 điệu múa mặt nạ và cùng với dàn nhạc kèm theo

 Baekje

Baekje là nước có nền văn hóa nghệ thuật phát triển nhất trong ba nước Tam Quốc nhờ mở cửa giao lưu với Nhật và Trung Quốc Trong những loại hình biểu diễn của Baekje, nổi bật hơn cả là kịch múa mặt nạ được gọi là Giak ( ) Đây là một vở kịch câm trong đó người biểu diễn đeo một chiếc mặt nạ mang những đặc điểm khuôn mặt của một người đến từ khu vực phía tây Theo một cuốn sách của Nhật Bản (1223) thì Giak là một loại kịch múa mặt nạ tôn giáo, được biểu diễn trong nghi lễ Phật Giáo, du nhập sang Nhật Bản vào năm 612 sau công nguyên bởi Mimaji ( ), một người Baekje đã học nhạc ở Trung Quốc

Trang 22

 Silla

Những loại hình biểu diễn của Silla bao gồm Gamu-baekhui ( - tổng hợp các loại ca hát và nhảy múa), Hwangchangmu (múa kiếm mang mặt nạ), Bangul batgi (tung hứng), Sajamu (múa sư tử), Muaehui ( điệu múa của linh hồn

tự do), Sillanak (múa sư tử của Silla) Gamu-baekhui đề cập đến một nhóm những hình thức biểu diễn có cùng nguồn gốc với sanyue và baixi của Trung Quốc Hình thức Gamu-baekhui được đề cập đầu tiên trong “Lịch sử Tam quốc” và trong đó

có nhắc đến Hwangchangmu, một điệu múa kiếm được biểu diễn bởi những người đeo mặt nạ Đây là một điệu múa dựa trên truyền thuyết về Gwanchang, một quý tộc trẻ người Silla, người đã bị giết bởi vị tướng quân người Baekje là Gyebaek trong một trận đánh đã dẫn đến sự sụp đổ của Baekje Ngoài ra còn có điệu Silla Ogi ( ) cũng là điệu múa mặt nạ Silla Ogi là tên gọi để chỉ năm điệu múa

sử dụng mặt nạ - đây là điệu múa mặt nạ sơ khai của Korea Trong năm điệu múa

ấy, điệu múa Gumhwan ( -kim hoàn) giống với xiếc hơn là múa nhằm thu hút

sự quan tâm của người xem trước khi buổi biểu diễn bắt đầu; điệu múa Wolchon ( -nguyệt điền) lại được biểu diễn với những động tác của người say; điệu múa Taemyeon ( - đại diện) và Soktok ( - thúc độc) dùng mặt nạ màu xanh đậm tượng trưng cho nghi thức xua đuổi ma quỷ, điệu Sanye ( -múa sư tử) cũng còn

để lại dấu vết trong điệu múa mặt nạ Bongsan và múa sư tử Pukcheongsaja

 Thời Silla thống nhất

Điệu múa Cheoyongmu ( ) là điệu múa mặt nạ đặc trưng dưới thời Silla thống nhất Đây là một điệu múa mặt nạ được ra đời dưới thời này sau đó được truyền sang thời Goryeo và Joseon và tiếp tục được lưu giữ đến ngày nay

Nó được biểu diễn vào những sự kiện khác nhau như : nghi lễ Narye diễn ra vào cuối năm, buổi chào đón sứ thần Trung Quốc, yến tiệc ở cung đình hay ở những bữa tiệc của các quan lại Điệu múa dựa trên truyền thuyết về Choyeong, một người được cho là sống dưới thời vua Heongang Theo truyền thuyết kể lại rằng

Trang 23

vào đời Silla thứ 49, vua Heongang đang đi thăm thú vùng Gae Un Po (Khai Vân Phố) thì đột nhiên sương mù bao phủ khắp nơi làm cho nhà vua lạc đường Vua thấy lạ liền gọi người dự đoán thời tiết lại hỏi, ông trả lời là do Long Hải Đông Vương tạo ra, nếu tích cực làm việc thiện thì sương mù sẽ tan đi Nhà vua liền ra lệnh xây dựng một ngôi chùa dặt gần đấy lấy tên là Mang Hae Sa Ngay lập tức sau đó sương mù tan đi Đông Hải Long Vương rất hài lòng nên cho bảy người con trai hiện ra múa hát để cám ơn nhà vua Trong đó có một người con được cho theo hầu nhà vua Người đó được đặt tên là Cheoyong được ban vợ đẹp và thăng chức làm Geup Gan Lúc đó có một con quỷ đem lòng yêu mến vợ Cheoyong, hàng đêm đều biến thành người rồi đến tìm vợ Cheoyong Một hôm tình cờ Cheoyong bắt gặp đã nổi trận lôi đình, nhưng con quỷ cầu xin tha mạng và hứa từ nay về sau chỉ cần thấy hình dáng của Cheoyong là sẽ không bước qua cửa Cũng

từ đó, việc này đã trở thành phong tục dán bùa có hình Cheoyong trước cửa để xua đuổi tà ma Điệu múa mặt nạ Cheoyong được truyền lại đến tận ngày nay và gần như giữ được nguyên gốc

 Goryeo

Vào thời Goryeo các buổi biểu diễn được tổ chức vào những nghi lễ khác nhau như : nghi lễ Phật Giáo, Suryukjae ( một nghi lễ để xoa dịu thần đất và nước), Uranbunjae (nghi lễ để siêu thoát những người đã mất), Yeondeunghoe (nghi lễ đèn lồng hoa sen), Narye ( -nghi lễ được tổ chức vào cuối năm) Ngoài

ra, trong những dịp như Suhui (chuyến thưởng ngoạn bờ hồ của các quý tộc), những chuyến du ngoạn của hoàng gia, những buổi yến tiệc của cung đình hay những buổi chào đón đoàn quân thắng lợi trở về Trong những buổi biểu diễn này bao giờ cũng có biểu diễn kịch múa mặt nạ

Nghi lễ Narye là một nghi lễ dùng để xua đuổi ma quỷ được tổ chức vào ngày cuối cùng của năm ở cả trong cung đình và nhà dân chúng Trong nghi lễ này, một người mang mặt nạ và cầm trong tay một dụng cụ đặc biệt, vừa hát cầu kinh vừa làm những động tác để xua đuổi ma quỷ Vào cuối thời Goryeo tính tôn

Trang 24

giáo và tín ngưỡng trong nghi lễ Narye ngày càng yếu đi thay vào đó nó dần trở thành một lễ hội mang tính giải trí hơn Khuynh hướng này dưới thời Joseon càng phát triển vì thế nghi lễ Narye được gọi là Naryehui ( ) hay Nahui ( -buổi biểu diễn Narye)

Những tài kiệu ghi chép về kịch múa mặt nạ có thể tìm thấy trong văn học

sử của Goryeo Trong tác phẩm “Lịch sử Goryeo”, ở những ghi chép vào năm thứ

31 của triều vua Gojong (1244) tại những buổi yến tiệc của nhà vua thì có vở kịch

mà ở đó người biểu diễn đeo mặc nạ Ngoài ra, một ghi chép trong “Tiểu sử của Jeon Yeong-bo” có ghi lại rằng “người biểu diễn trong vở kịch mang một chiếc

mặt nạ gọi là gwangdae ( ) trong tiếng địa phương” Đoạn văn chỉ rõ rằng những vở kịch múa mặt nạ được biểu diễn bởi những diễn viên chuyên nghiệp đã tồn tại và phổ biến vào giữa thế kỷ 13

 Joseon

Vào thời Joseon nghệ thuật biểu diễn đóng vai trò rất quan trọng, chúng được biểu diễn rộng khắp từ cung đình cho đến nhà dân Những gánh hát rong cũng bắt đầu xuất hiện vào cuối thời Joseon Nghi lễ Narye của thời Goryeo được lưu giữ tới thời Joseon và tiếp tục được phát triển lên trở thành lễ hội lớn tập trung hầu hết các loại hình biểu diễn

Trong Gyeongdo japji ( ) của Yu Deuk Gong ( -1749-1807) có giới thiệu về những loại hình biểu diễn được quản lý bởi những người trông coi nghi lễ Narye Những màn múa rối và kịch múa mặt nạ là hình thức tiêu biểu của Narye, nó được biểu diễn trong những buổi tiệc chiêu đãi các sứ thần Quyển sách cũng cung cấp thông tin quan trọng về những vở kịch múa mặt nạ Có hai loại kịch

là Sanhui ( ) và Yahui ( ), chúng được biểu diễn trên một khu sân cao được rào quanh bởi những tấm màn, các diễn viên biểu diễn điệu múa sư tử, điệu múa

hổ, điệu múa nhà sư tham lam và điệu múa Manseok (kẻ yêu cầu Đức Phật 1000 bao gạo) Sau đó diễn viên cải trang thành Dangnyeo (một kỹ nữ Trung Quốc sống dưới triều đại Goryeo) và Somae (một phụ nữ xinh đẹp) để gây cười cho khán giả

Trang 25

Những nhân vật Dangnyeo và Somae được tìm thấy trong Yangju Byeolsandae nori và Songpa Sandae nori - kịch múa mặt nạ của khu vực Seoul và Gyeongi-do

Từ đó có thể suy ra rằng Bongsandae nori là kịch múa mặt nạ gốc của hai loại kịch múa mặt nạ trên và nó đã tồn tại từ giữa thế kỷ 18 khi quyển sách Gyeongdo japji được viết Điều này chỉ ra rằng Sanak –baekhui (một hình thức biểu diễn kết hợp giữa âm nhạc và nhiều loại hình giải trí khác giống như tạp kỹ) có liên quan đến kịch múa mặt nạ bởi vì kịch múa mặt nạ được tạo ra bởi những diễn viên chịu sự quản lí của những người trông coi nghi lễ Narye

Kịch múa mặt nạ chuyên nghiệp của Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản được tạo nên bởi những diễn viên ở mỗi quốc gia đó Qua thời gian, những diễn viên của Korea, Trung Quốc và Nhật Bản đã tạo nên Bonsandae-nori (Korea), Nuoxi (Trung Quốc), Noh (Nhật Bản)

Dưới thời Joseon Kịch múa mặt nạ Talchum đạt được sự phát triển rực rỡ, được biểu diễn trong hầu hết các sự kiện từ những sự kiện trọng đại của quốc gia đến những sự kiện thường nhật trong đời sống của dân chúng Nó trở thành một loại hình giải trí được người dân rất ưa thích

2.2.3 Lớp văn hóa chịu ảnh hưởng Phương Tây

Vào nửa cuối thế kỷ XIX khi mà Talchum đang đạt được sự phát triển đỉnh cao thì những thế lực ngoại bang bắt đầu chiếm đóng Korea, điều này dẫn đến những biến đổi xã hội và những tác động có tính quyết định lên Talchum

Từ năm 1910 Nhật Bản chiếm đóng Korea và thi hành chính sách thực dân Với mục đích đàn áp và triệt tiêu nền văn hóa dân tộc của Korea mà đặc biệt là nền văn hóa dân gian, quân Nhật đã ra lệnh cấm mọi hình thức ca hát và nhảy múa, nếu không tuân theo sẽ bị xử tội Vì vậy mà Talchum không thể tiếp tục biểu diễn một cách tự nhiên và công khai được nữa Vào thập niên 1920, trong phạm vi giới hạn thì những sự kiện văn hóa dân tộc được cho phép tổ chức và được công nhận Tuy nhiên trong điều kiện như thế Talchum cũng khó có cơ hội để hồi sinh

Trang 26

Buổi công diễn Bongsan Talchum vào năm 1936 đã thu hút sự quan tâm trên toàn quốc tuy nhiên cũng không thay đổi được hoàn cảnh lúc bấy giờ Vào năm 1964

nó được chỉ định là di sản văn hóa phi vật thể của quốc gia Từ năm 1970 mở ra một thời kỳ phục hưng mạnh mẽ của Talchum và chính các trường đại học là nơi

nổ ra Những công trình nghiên cứu về Talchum cũng ngày càng phong phú và đa dạng hơn

Ngày nay thì Talchum đã trở thành di sản văn hóa phi vật thể của Korea là niềm tự hào của người dân Korea, được mọi người rất yêu thích và ra sức bảo tồn Những bảo tàng mặt nạ được thành lập, những lễ hội với kịch múa mặt nạ

Talchum được tổ chức thường xuyên khắp các vùng không chỉ giúp bảo tồn tài sản quý báu này mà còn là dịp thu hút khách du lịch từ khắp nơi trên thế giới đến đây

Trang 27

CHƯƠNG 2: CẤU TRÚC NGHỆ THUẬT VÀ PHÂN LOẠI KỊCH MÚA

MẶT NẠ

Talchum là hình thức nghệ thuật tổng hợp của ca, múa, nhạc, kịch và cả nghệ thuật tạo hình từ chiếc mặt nạ Mỗi yếu tố đều đóng một vai trò quan trọng góp phần làm nên thành công của vở diễn

1 Cấu trúc của nghệ thuật múa mặt nạ

1.1 Mặt nạ

1.1.1 Khái niệm mặt nạ

Ảnh 3: Những chiếc mặt nạ khác nhau Nguồn: http://www.asianhistory.about.comMặt nạ mang hình khuôn mặt người hay hình dạng của những con thú đã được sử dụng trong suốt lịch sử như một vật cải trang hay một đồ trang trí dùng để che mặt và đầu Chúng được sử dụng khắp thế giới từ Châu Á, Châu Âu dến Châu Phi, Châu Mĩ với nhiều hình dáng khác nhau Ngoại trừ những nước theo đạo Hồi cấm đoán việc thờ tự những con vật và người nên việc sử dụng những biểu tượng

cho vật và người trong biểu diễn cũng bị cấm

Trang 28

Trong tiếng Hàn Quốc mặt nạ được gọi là tal ( ), ngoài ra nó còn có những tên khác là : kamyeon ( ), kwangdae ( ), chorani ( ), talbak ( ), talbagaji ( ) Những chiếc mặt nạ thường đi cùng với một mảnh vải màu đen ở đằng sau để bảo vệ phần đầu phía sau và để giả làm tóc Mặt nạ và kịch múa mặt nạ được phát triển từ giai đoạn tiền lịch sử Những chiếc mặt nạ có thể chia ra làm hai loại : mặt nạ tôn giáo và mặt nạ nghệ thuật Một số mặt nạ được các pháp sư cất giữ một cách tôn kính và chỉ mang ra trong những nghi lễ nhất định Mặt nạ nghệ thuật thì thường được sử dụng trong nghệ thuật múa và kịch Hầu hết các mặt nạ tôn giáo tal đều là mặt nạ đặc, tuy nhiên có một số bộ phận có thể chuyển động được, ví dụ như con ngươi trong mặt nạ Bangsangssi hay cái hàm trong mặt nạ sư tử Đặc biệt là mặt nạ trong kịch múa mặt nạ Hahoe, chúng được tạo thành bởi hai phần với chiếc cằm tách rời được gắn với phần trên bằng sợi dây Mặt nạ không chỉ thể hiện tính cách nhân vật mà còn mang cả những nét đặc trưng của khuôn mặt người Korea đã được cách điệu, với những đường nét gồ ghề, màu sắc tươi sáng và sắc nét Một trong những lý do là những buổi biểu diễn kịch mặt

nạ thời xưa thường diễn ra trong buổi tối, dưới ánh sáng của những đống lửa Nếu mặt nạ có màu sắc chìm hoặc không ấn tượng khó có thể chuyển tải nội dung vở kịch đến người xem Mặt nạ tôn giáo và mặt nạ biểu diễn ban ngày thường không rực rỡ và sinh động bằng Mặt nạ có thể được làm từ giấy, gỗ, quả bầu khô hay lông thú Mặt nạ giấy và mặt nạ bầu khô thông dụng hơn vì rẻ tiền, nhẹ và thuận tiện trong việc biểu diễn Màu đỏ, đen, trắng là những màu cơ bản được các nghệ nhân ưa chuộng trong việc trang trí mặt nạ Mặt nạ người già thường có màu đen, đàn ông màu đỏ và mặt nạ người phụ nữ trẻ có màu trắng Trong nhiều vở kịch múa mặt nạ, nam nhân vật luôn thắng nhân vật già, cũng là dấu hiệu của mùa xuân thay thế mùa đông

1.1.2 Phân loại mặt nạ

Trong phân loại mặt nạ Korea người ta chia ra hai loại lớn là : mặt nạ tôn giáo và mặt nạ nghệ thuật:

Trang 29

Mặt nạ tôn giáo : là những chiếc mặt nạ được các pháp sư cất giữ một cách tôn kính chỉ mang ra trong những nghi lễ nhất định Trong mặt nạ tôn giáo thì có mặt nạ Sinseong ( - thần thánh) dùng cho các nghi lễ và mặt nạ Guna ( ) dùng để xua đuổi ma quỷ Mặt nạ Sinseong (thần thánh) thì có mặt nạ Gwangdaessi ( ), mặt nạ Changguissi ( ), mặt nạ Somissi ( ) mặt nạ Notdori ( ), mặt nạ Janggun ( ) và mặt nạ Guna thì có mặt nạ Gi ( ) và mặt nạ Mặt nạ Bangsangssi ( )

Mặt nạ nghệ thuật: Được sử dụng trong các vở múa và kịch Trong mặt nạ nghệ thuật thì có mặt nạ múa ( -muyong) và mặt nạ kịch Mặt nạ múa thì có

nạ Cheoyong ( ) còn mặt nạ kịch có mặt nạ của kịch Sandae, mặt nạ của kịch Haeseo ( ), mặt nạ kịch Yaryu ( ), Ogwangdae ( ), mặt nạ kịch Seonghoang Sinje ( ) Ngoài ra trong các trò chơi dân gian còn có mặt nạ trò chơi dân gian được sử dụng khi chơi, loại này thì có mặt nạ sư tử Bên cạnh đó

ta cũng có thể chia mặt nạ theo mục đích và chức năng của nó gống như sau : mặt

nạ quỷ (demon mask), mặc nạ thuốc (medicine mask), mặt nạ linh hồn (spiritual mask), mặt nạ vật tổ (totem mask), mặt nạ cầu mưa (rain making mask), mặt nạ đi săn (hunting mask), mặt nạ chiến tranh (war mask), mặt nạ nhập sự (initation mask), mặt nạ kịch (drama mask), mặt nạ múa (dance mask)

Sau đây là bảng phân loại và bảng phân bố của các loại mặt nạ

Trang 30

BIỂU ĐỒ PHÂN LOẠI MẶT NẠ

1.Mặt nạ Gwangdaessi

Mặt nạ tín ngưỡng Mặt nạ thần thánh 2.Mặt nạ Changguissi

Trang 31

Mặt nạ nghệ thuật Mặt nạ múa 1.Mặt nạ Cheoyong

1.Mặt nạ của kịch Sandae

2.Mặt nạ của kịch Haeseo Măt nạ kịch

Trang 32

Mặt nạ sư tử Pukcheong (Hamnam), Jeongju (Byeongpuk),

Yeonghung (Hamnam), Gyeongseong (Hampuk), Myeonceong (Hampuk), Hoiryeong (Hampuk), Chongseong (Hampuk), Gyeongheung (Hampuk), Goseong (Gangweon), Hoingseong (Gangweon), Suncheon (Byeongnam), Anseong(Gyeonggi), Songhoa (Hwanghae), Eunyul (Hwanghae), Hwangju (Hwanghae), Pongsan (Hwanghae), Seohung (Hwanghae), Girin (Hwanghae), Gangryeong (Hwanghae), Suyeong (Pusan), Tongyeong (Gyeongnam), Namhae (Gyeongnam), Gyeongju (Gyeongbuk), Gimhae (Gyeongnam), Masan (Gyeongnam)

Trang 33

Mặt nạ của kịch múa mặt nạ

Haeseo

Sariweon (Pongsangun), Girin (Byeonsangun), Seohung (Hwangju), Gangreong (Ongjingun), Haeju

Mặt nạ của kịch múa mặt nạ

Yaryu và Ogwangdae

Chogye, Sinbang, Jinju, Suyeong (Pusan), Dongrae (Pusan), Pusanjin, Garak, Masan (Changweon), Tongyeong (Chungmu), Geoje, Goseong

Mặt nạ của kịch múa mặt nạ

Seonghwangsinje

Hahoe, Pyeonsan, Jukok, Gangreung

Mỗi vở kịch múa mặt nạ của từng vùng khác nhau thì có những chiếc mặt

nạ khác nhau Các vở kịch múa mặt nạ mặc dù giữa các vùng có sự khác nhau rất

ít nhưng vùng nào cũng có những đặc trưng của riêng mình nên dẫn đến sự khác nhau của các chiếc mặt nạ Chúng có thể khác nhau về nguyên liệu làm ra, về màu sắc, về hình dáng, kích thước Cùng một nhân vật nhưng do cách thể hiện khác nhau mà hình dạng của chiếc mặt nạ ở vùng này hoàn toàn khác vùng kia Ví dụ như mặt nạ Seonbi và Yangban của kịch múa mặt nạ Bongsan thì không có cằm trong khi đó mặt nạ Seonbi và Yangban của Hahoe vẫn có cằm như bình thường, chỉ có mặt nạ Imae là không có cằm Ngoài ra trong các vở kịch múa mặt nạ ở từng vùng có sự thay đổi về cốt truyện và nhân vật nên số lượng của những chiếc mặt nạ trong từng vở kịch múa mặt nạ cũng có sự khác nhau Trong sân khấu kịch

Trang 34

Noh của Nhật Bản chiếc mặt nạ cũng dược sử dụng tuy nhiên thường chỉ có diễn viên chính mới đeo mặt nạ Mặt nạ kịch Noh vẽ chân dung của phụ nữ hay những nhân vật không phải người Cũng có một vài mặt nạ kịch Noh để diễn tả trẻ con hay người già Nhưng diễn viên không đeo mặt nạ đóng vai đàn ông trưởng thành

ra và bảo rằng: hãy tự giam mình trong xưởng và chỉ làm mặt nạ, trong thời gian làm mặt nạ thì tuyệt đối không được để cho ai thấy Nhưng khi sắp hoàn thành thì

cô gái đem lòng yêu Huh vì không thể chịu được việc xa người yêu nên đã lén nhìn trộm qua khe hở trong khi chàng trai đang làm việc Ngay khi cô gái nhìn trộm thì Huh liền bị khạc ra máu và chết Huh đã chết mà chưa kịp hoàn thành mặt

nạ Imae Vì vậy mà mặt nạ Imae tồn tại đến ngày nay là không có cằm

Sau khi một vở kịch múa mặt nạ kết thúc, những chiếc mặt nạ mà đa số được làm từ quả bầu khô và giấy tất cả đều bị đốt đi không còn lại cái nào.Tuy nhiên những mặt nạ Hahoe được làm từ gỗ không những được giữ lại mà còn được cất giữ trong ngôi nhà riêng biệt nên chúng còn được bảo tồn đến ngày nay Mặt nạ Hahoe có tổng cộng 12 cái (Ddeok dali, Byeolchae, Chonggak, Kakshi, Yangban, Bune, Jung, Choraengi, Seonbi, Imae, Baekjeong, Halmi, Kakshi, Yangban, Bune, Jung, Choraengi, Seonbi, Imae, Baekjeong, Halmi) nhưng 3 cái đã bị mất vào thời Nhật thuộc ( Ddeok dali, Byeolchae, Chonggak) Những chiếc mặt nạ này được sử

Trang 35

dụng trong Hahoe Pyolshingut nori được diễn ra vào ngày rằm tháng giêng hàng năm Những đặc điểm của mặt nạ Hahoe là:

 Loại mặt nạ imae thì không có cằm, ở một phía của mặt nạ có hình bầu dục, mũi và miệng được làm riêng, mắt được vẽ màu đỏ và đen Có quấn vải ở trên đầu và có lỗ để treo dây 2 bên

 Đặc điểm của Kakshi, Yangban, Bune, Imae, Baekjeong: mắt mở, mắt trũng sâu vào, mũi cao

 Các mặt nạ Yangban, Seonbi, Baekjeong có cằm riêng, khuôn mặt mang tính hài hước, dễ dàng biến đổi

 Các mặt nạ Halmi, Choraengi, Bune, Kakshi : cằm không chuyển động được nhưng mắt sống mũi má, bờ môi có thể thay đổi chuyển động được nên làm cho các sắc thái của khuôn mặt thêm đa dạng

1.1.3 Mặt nạ Hahoe

 Mặt nạ Yangban ( )

Ảnh 4: Mặt nạ Yangban Nguồn: http://tal.co.kr

Trang 36

Trong số những mặt nạ Hahoe thì mặt nạ Yangban được coi là một kiệt tác thể hiện tốt nhất giá trị thẩm mỹ Về cấu tạo thì mặt nạ Yangban có những đường trơn bóng ở lông mày, mắt, mũi, má và miệng Hình dạng khuôn mặt với bề mặt nhẵn bóng trông thoải mái và dễ chịu Những nét này được cho là khá gần với những đặc điểm của Yangban được mô tả trong những câu nói xưa : “một Yangban không bao giờ chạy vội vã dù trời có mưa to đi chăng nữa” hay khi nhìn những đường nhô ra và những nét khắc trên mặt nạ chúng ta có thể thấy nét cường điệu trên khuôn mặt Nét cường điệu và thanh thản trên mặt nạ Yangban diễn đạt những tình cảm đối lập nhau và nguyên nhân mà mặt nạ Yangban có thể trông cường điệu hay thanh thản là tùy vào từng cách nhìn, tùy vào điểm nhìn khác nhau.“Chỉ với 3 quả táo đã no bụng” người này cho rằng nó diễn tả sự hài lòng nhưng người khác lại nghĩ rằng đó là cách nói cường điệu Những biểu hiện của mặt nạ là lịch thiệp, khoa trương và nhàn nhã đúng như câu nói “Yangban xỉa răng ngay cả khi chỉ uống nước”

Mặt nạ Yangban được đeo trong suốt buổi biểu diễn Khi diễn viên cười một

nụ cười rộng tới tận mang tai thì chiếc mặt nạ cũng diễn tả nụ cười như vậy Phần trên của khuôn mặt và hàm dưới có thể tách ra và 2 mép của môi trên và môi dưới chuyển động lên xuống một cách nhịp nhàng Tuy nhiên khi người diễn viên cúi đầu thì lại mang vẻ mặt giận dữ vì lúc đó môi trên và môi dưới khép lại

Trang 37

 Mặt nạ Seonbi ( )

Ảnh 5: Mặt nạ Seonbi Nguồn: http://www.tal.co.kr

Seonbi được dùng để nói về tầng lớp học giả, đó là những người về cơ bản có học thức uyên thâm, có một mục đích rõ ràng và cả bản tính kiêu căng Xét tổng thể thì mặt nạ Seonbi mang vẻ tôn kính, nhưng cũng đầy toan tính, mang vẻ lạnh lùng có khi thì giận giữ Xét về nhân diện học thì khuôn mặt hình tam giác là khuôn mặt của một người thông minh, có những suy nghĩ sâu sắc và là khuôn mặt của một người đã chịu nhiều vất vả, sống nội tâm Xương gò má cao, mí mắt trên thì trĩu xuống, đôi mắt lồi lên được cho là do đọc sách quá nhiều Người này có đôi mắt với mí mắt bên phải hướng xuống và cái miệng hướng lên phía bên phải Mặt nạ này còn cho thấy đây là một người khó chịu, người luôn không hài lòng về mọi thứ Ngoài ra đôi lông mày cứng thể hiện cơn giận dữ do không hài lòng của người đó

Trang 38

 Mặt nạ Paekchong ( )

Mặt nạ Paekchong nguyên gốc được gọi là huiwangi Huiwangi là tầng lớp những đao phủ những người thực thi việc hành hình trong suốt thời Gogureyo Trong một vở kịch múa mặt nạ thì Paekchong (người biểu diễn mang mặt nạ Paekchong) đóng vai một kẻ đi phá hoại cuộc sống, luôn sống trong cảm giác tội lỗi vì hành động mà mình gây ra và cuối cùng đã trở nên điên loạn Trong vở kịch người này đóng vai một kẻ giết mổ bò, cắt đi tinh hoàn và trái tim con bò rồi hắn

ta hỏi mọi người xung quanh liệu có ai mua chúng không sau đó bước loạng choạng rời khỏi sân khấu khi sấm chớp nổi lên Khuôn mặt của mặt nạ Paekchong

có đôi lông mày cong với một cái bướu nhỏ ở trên đôi mắt, sóng mũi khá hẹp so với những phần khác, cái miệng có môi dưới nhô ra, vùng má và lông mày đầy những nếp nhăn trông rất đáng sợ, khi cười trông giống như một người điên Khuôn mặt vuông trông gồ ghề, cằm thì nhô ra Trong trong nhân diện học, người

ta nói rằng một người có gương mặt vuông thì hành động rất quyết liệt Hành vi này phù hợp với Paekchong kẻ thực hiện việc giết chóc Ngoài ra, người ta cho rằng người có đôi lông mày cong là kẻ độc ác và tàn bạo, đôi mắt nhọn cho thấy

đó là một kẻ khát máu và người có môi dưới chìa ra bị coi là một kẻ tàn nhẫn Tất

cả những đặc điểm này tồn tại trong Paekchong

Ảnh 6: Mặt nạ Paekchong Nguồn: http://www.tal.co.kr

Trang 39

Cục bướu trên lông mày thể hiện một nhân vật khá u ám và một gương mặt đáng sợ Trong vở kịch Paekchong cảm thấy có tội về hành động của mình và đã trở nên điên loạn vào một ngày mưa bão Vì thế trong trường hợp này mặt nạ diễn

tả một người mang đầy cảm giác tội lỗi Những bước đi của Paekchong được gọi

là Paekchong kori, những bước đi này mang đầy vẻ hằn học Điều này hoàn toàn phù hợp với tính cách Paekchong, một kẻ giết một con bò lấy tinh hoàn của nó ra

và yêu cầu người xem mua nó

 Mặt nạ Choraengi ( )

Trong vở kịch Choraengi đóng vai người hầu của Yangban và là một người luôn hành động hấp tấp vội vàng Choraengi cư xử một cách kiêu căng với Yangban, chủ của hắn Khi Yangban và Seonbi nói những lời chúc tụng nhau Choraengi cưỡi lên cổ của Yangban khi Yangban cúi đầu xuống tận gối và thế là Choraengi chào Sonbi thay cho Yangban Thỉnh thoảng Choraengi đứng bên trái Yangban gọi “Này! Yangban” sau đó hắn chạy qua phía bên phải và gọi lại lần nữa trong khi Yangban nhìn qua bên trái Choraengi lặp đi lặp lại đều này và Yangban cứ thế hết xoay đầu sang trái rồi lại sang phải để tìm Choraengi, mãi đến khi hiểu được vấn đề thì ông ta đánh Choraengi với cái quạt trong tay

Ảnh 7: Mặt nạ Choraengi Nguồn: http://www.tal.co.kr

Trang 40

Sau đó Choraengi chứng kiến nhà sư (Jung ) đang bỏ trốn cùng một người phụ

nữ (Pune) và hắn ta kể lại với Imae, người hầu của Sonbi những điều hắn đã thấy

và rồi thông báo cho chủ của hắn Choraengi luôn chọc tức Yangban bằng những hành động lém lỉnh của mình Mặt nạ Choraengi có đôi lông mày nhô ra, cái mũi ngắn với đầu mũi phẳng, chóp và cánh mũi thì nhăn nheo Khi hắn khẽ mở miệng hay nhăn miệng thì ta thấy một hàm răng trống trơn Cái miệng như thế diễn tả một người mang trong mình mối hận thù, với đôi môi mỏng và hàm dưới nhọn Đôi mắt là 2 lỗ tròn nhìn trừng trừng về phía trước, cơ thịt và nếp nhăn trên má rũ xuống dưới ở phía bên trái và xiên lên trên ở phía bên phải Xét về nhân diện học một người có đôi lông mày nhô ra được cho rằng không nhìn nhận được khả năng của bản thân và cực kỳ bướng bỉnh, sống mũi nhăn nheo được cho là có thể có tài sản tích lũy Tuy nhiên Choraengi một người hầu thì khó mà có tài sản tích lũy Cái mũi ngắn và nhăn nheo cho thấy đây là người dễ nổi nóng và không bao giờ

an tâm về cuộc sống của mình, đôi lông mày nhô ra ở mặt nạ biểu hiện cho người thiếu kiên nhẫn Cả mặt nạ Choraengi và Seonbi đều có má hõm vào, đều này cho thấy sự nghèo khổ của bọn họ

 Mặt nạ Jung ( )

Jung là một nhà sư biến chất Trong vở kịch có một chương miêu tả nhà sư biến chất này Trong chương này Jung đang trên đường đi thì gặp một phụ nữ (Pune hay Kashi) đang đi tiểu Khi chứng kiến cảnh đó hắn thấy không thể kiềm chế được nữa nên đã nhặt một hòn đất ở nơi người phụ nữ vừa tiểu xong và ngửi Cuối cùng hắn cưỡng hiếp người phụ nữ Từ sau đó Jung và người phụ nữ đó bắt đầu quan hệ với nhau, rồi hai người này đã bỏ trốn khi bị Choraengi bắt gặp Khi

cô gái này kết hôn với một người đàn ông khác và đi vào phòng tân hôn, Jung trong vai người yêu của cô dâu dấu mình trong một góc đã giết chú rể đang say

ngủ và đánh cắp cô dâu đi

Ngày đăng: 23/05/2021, 22:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Andrew C.Nahm (2001): Lịch sử và văn hóa bán đảo Triều Tiên, NXB Văn Hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và văn hóa bán đảo Triều Tiên
Tác giả: Andrew C.Nahm
Nhà XB: NXB Văn Hóa Thông tin
Năm: 2001
3. Echert.C.J – Lee.K – Lew.J.L – M.Robinson – E.W.Wagener (bản dịch tiếng Việt, Mai Đặng Mỹ Hiền dịch) 2001: Korea - Xưa và Nay, NXB TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Korea - Xưa và Nay
Nhà XB: NXB TP.HCM
4. Hàn Quốc đất nước và con người 2006, Cơ quan thông tin hải ngoại Hàn Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Quốc đất nước và con người 2006
5. Hwang Gwi Yeon-Trịnh Cẩm Lan (2002): Tra cứu văn hóa Hàn Quốc, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tra cứu văn hóa Hàn Quốc
Tác giả: Hwang Gwi Yeon-Trịnh Cẩm Lan
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia
Năm: 2002
6. Lee Ki Baik (2002): Lịch sử Hàn Quốc tân biên (Lê Minh Anh dịch), NXB TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Hàn Quốc tân biên
Tác giả: Lee Ki Baik
Nhà XB: NXB TP.HCM
Năm: 2002
7. Lê Quang Thiêm (1998): Văn hóa văn minh và yếu tố văn hóa Hàn, Nhà xuất bản Văn Học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa văn minh và yếu tố văn hóa Hàn
Tác giả: Lê Quang Thiêm
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn Học
Năm: 1998
8. Lịch sử Hàn Quốc, Bộ giáo trình Hàn Quốc học, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Seoul Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Hàn Quốc, Bộ giáo trình Hàn Quốc học
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia Seoul
9. Lý Kim Hoa (2006): Để hiểu văn hóa Nhật bản, NXB Văn nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để hiểu văn hóa Nhật bản
Tác giả: Lý Kim Hoa
Nhà XB: NXB Văn nghệ
Năm: 2006
10. Nguyễn Gia Phu (1996): Lịch sử Phương Đông và Việt Nam, NXB Đại học Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Phương Đông và Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Gia Phu
Nhà XB: NXB Đại học Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh
Năm: 1996
11. Nguyễn Long Châu (2000): Tìm hiểu văn hóa Hàn Quốc, Nhà xuất bản Giáo Dục,Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn hóa Hàn Quốc
Tác giả: Nguyễn Long Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo Dục
Năm: 2000
12. Nguyễn Long Châu (1997): Nhập môn văn học Hàn Quốc, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn văn học Hàn Quốc
Tác giả: Nguyễn Long Châu
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1997
13. Nguyễn Văn Ánh, Đỗ Đình Hãng, Lê Đình Chỉnh (1996): Hàn Quốc : lịch sử- văn hóa ( từ khởi thủy đến 1945), NXB Văn Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: lịch sử- văn hóa ( từ khởi thủy đến 1945)
Tác giả: Nguyễn Văn Ánh, Đỗ Đình Hãng, Lê Đình Chỉnh
Nhà XB: NXB Văn Hóa
Năm: 1996
14. Nguyễn Vĩnh Sơn (1996): Tìm hiểu Hàn Quốc, Trung tâm từ điển Bách Khoa Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Hàn Quốc
Tác giả: Nguyễn Vĩnh Sơn
Năm: 1996
15. Trần Ngọc Thêm (1999): Cơ sở văn hóa Việt Nam-NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1999
16. Trần Ngọc Thêm (1997): Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam: Cái nhìn hệ thống-loại hình, NXB TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: NXB TP.HCM
Năm: 1997
17. Trần Vĩnh Bảo (biên dịch) (2005): Một vòng quanh các nước-Hàn Quốc, NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vòng quanh các nước-Hàn Quốc
Tác giả: Trần Vĩnh Bảo (biên dịch)
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2005
18. Trần Vĩnh Bảo (biên dịch) (2005): Một vòng quanh các nước-Nhật Bản, NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vòng quanh các nước-Nhật Bản
Tác giả: Trần Vĩnh Bảo (biên dịch)
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2005
19. Trần Vĩnh Bảo (biên dịch) (2005): Một vòng quanh các nước-Trung Quốc, NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vòng quanh các nước-Trung Quốc
Tác giả: Trần Vĩnh Bảo (biên dịch)
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2005
20. Trịnh Huy Hóa (dịch-2005): Đối thoại các nền văn hóa -Triều Tiên, NXB Trẻ.B. Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối thoại các nền văn hóa -Triều Tiên
Nhà XB: NXB Trẻ. B. Tiếng Anh
21. Donald N. Clark (2000): Culture and custom of Korea, Greenwood press 22. Facts about Korea-Seoul, Korea Overseas Culture and Information Service Sách, tạp chí
Tiêu đề: Culture and custom of Korea", Greenwood press 22. "Facts about Korea
Tác giả: Donald N. Clark
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w