1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoa văn trên gốm sứ korea thời joseon (1392 1910)

108 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoa văn trên gốm sứ korea thời joseon (1392 - 1910)
Tác giả Nguyễn Xuân Thùy Linh
Người hướng dẫn PGS.TS. Đặng Văn Thắng
Trường học Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn - Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Châu Á Học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2013
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 3,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiếp thu những kỹ thuật trang trí từ gốm Trung Hoa, người thợ gốm Korea đã khéo léo chạm khắc hay tô vẽ những hoa văn đa chủ đề và đa phong cách lên bề mặt gốm sứ, càng lúc càng đưa gốm

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC

★

NGUYỄN XUÂN THÙY LINH

HOA VĂN TRÊN GỐM SỨ KOREA

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC

\

TP HỒ CHÍ MINH – 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn: “Hoa văn trên gốm sứ Korea thời Joseon (1392 -

1910)” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Nếu có vấn đề gì, tôi hoàn toàn chịu

trách nhiệm

TP Hồ Chí Minh, ngày 9 tháng 9 năm 2013

Tác giả luận văn

Nguyễn Xuân Thùy Linh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong Khoa Đông phương học, đặc biệt là PGS.TS Hoàng Văn Việt – nguyên Trưởng khoa Đông phương học và những giảng viên đã tham gia giảng dạy trong suốt thời gian học tập, xin cảm ơn Phòng Sau đại học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành chương trình cao học này

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Đặng Văn Thắng đã tận tình hướng dẫn cho tôi phương pháp nghiên cứu, gợi mở hướng thực hiện cũng như chỉnh sửa trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Xin được cảm ơn Bộ môn Hàn Quốc học, nơi tôi đang công tác đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn Cảm ơn gia đình, bạn bè và các anh chị em học viên trong lớp đã luôn động viên chia sẻ

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Xuân Thùy Linh

Trang 5

1

MỤC LỤC

DẪN LUẬN 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Mục đích và nhiệm vụ đề tài 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 5

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 5

5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 9

7 Bố cục của đề tài 9

CHƯƠNG 1 TỐNG QUAN VỀ VĂN HÓA NGHỆ THUẬT THỜI JOSEON (1392 - 1910) VÀ GỐM SỨ THỜI JOSEON 11

1.1 Tổng quan về văn hóa thời Joseon (1392 - 1910) 11

1.1.1 Bối cảnh lịch sử xã hội thời Joseon (1392 - 1910) 11

1.1.2 Văn hóa nghệ thuật Korea thời Joseon 20

1.2 Khái quát về nghệ thuật gốm sứ Korea thời Joseon (1392 - 1910) 26

1.2.1 Gốm sứ Korea trước thời Joseon (khoảng 3000 năm tr.CN đến cuối thế kỷ XIII) 26

1.2.1.1 Gốm sứ bản địa 26

1.2.1 2 Đồ gốm Hàn Quốc dưới những ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa 30 1.2.2 Gốm sứ Korea thời Joseon (1392 - 1910) 34

CHƯƠNG 2 CÁC LOẠI GỐM SỨ TIÊU BIỂU THỜI JOSEON (1392 - 1910) 38

2.1 Gốm Pun-cheong-sa-gi (분청사기, phấn thanh sa khí, gốm men xanh xám) 38

2.1.1 Bối cảnh ra đời gốm Pun-cheong-sa-gi 38

2.1.2 Các loại gốm Pun-cheong-sa-gi 41

Trang 6

2

2.1.2.1 Sang-gam-pun-cheong (상감분청, tượng khảm phấn thanh) 41

2.1.2.2 In-hwa-pun-cheong (인화분청, in hoa phấn thanh) 42

2.1.2.3 Pak-ji-pun-cheong (박지분청, bác địa phấn thanh) 43

2.1.2.4 Um-gak-pun-cheong (음각분청, âm khắc phấn thanh) 44

2.1.2.5 Cheol-hwa-pun-cheong (철화분청, thiết hoa phấn thanh) và kwi-yal-pun-cheong (귀얄분청, quy vân phấn thanh) 44

2.2 Baek-ja (백자, bạch sứ, sứ trắng) 46

2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của Baek-ja 46

2.2.2 Các loại Baek-ja 49

2.2.2.1 Sun-baek-ja (순백자, sứ trắng trơn) 49

2.2.2.2 Cheong-hwa-baek-ja (청화백자, thanh hoa bạch sứ, sứ trắng hoa lam) 54

2.2.2.3 Cheol-hwa-baek-ja (철화백자, thiết hoa bạch sứ, sứ trắng hoa văn màu sắt) 57

2.2.2.4 Jin- sa baek-ja (진사백자, sứ trắng hoa văn màu đồng) 58

2.2.2.5 Sang-gam baek- ja (상감백자, sứ trắng khảm dát) 59

CHƯƠNG 3 CÁC LOẠI HOA VĂN TRÊN GỐM SỨ KOREA THỜI JOSEON (1392 - 1910) 61

3.1 Hoa văn động vật 62

3.1.1 Long văn (hoa văn rồng) 62

3.1.2 Ngư văn (hoa văn cá) 67

3.1.3 Điểu văn (hoa văn chim) 71

3.1.4 Hổ văn (Hoa văn hổ) 75

3.2 Hoa văn thực vật 76

3.2.1 Lan thảo văn (hoa văn hoa lan) 77

3.2.2 Liên hoa văn (hoa văn hoa sen) 79

3.2.3 Hoa văn Hoa trung tứ quân tử: mai lan cúc trúc 83

Trang 7

3

3.3 Nhóm hoa văn phong cảnh 85

3.3.1 Hoa văn sơn thủy 85

3.3.2 Hoa văn cảnh sinh hoạt 87

KẾT LUẬN 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

PHỤ LỤC HÌNH ẢNH 100

Trang 8

Người thực hiện đề tài là người học chuyên ngành Hàn Quốc học, vì thế có nhiều mối quan tâm đến đất nước Hàn Quốc nói riêng và bán đảo Triều Tiên nói chung Trải qua bốn nghìn năm lịch sử, bán đảo Triều Tiên đã có một nền văn hóa nghệ thuật phong phú và vô cùng đặc sắc Nổi bật trong các loại hình nghệ thuật của

cư dân Korea được thế giới biết đến là nghệ thuật gốm sứ Xuất hiện trên bán đảo Triều Tiên từ thời đồ đá mới gốm sứ Korea đã trải qua những bước thăng trầm để định hình và phát triển Đặc biệt, thời Joseon (조선 1392 -1910) (có sách phiên âm

là Choson hay Chosun) là thời kỳ mà gốm sứ Korea đã có nhiều bước biến chuyển nhất, có lúc tưởng chừng như bị mai một bởi “cuộc chiến tranh gốm” do người Nhật Bản gây ra Tuy nhiên, cũng trong thời kì này, gốm sứ Korea có được sự đa dạng hóa về mặt hoa văn trang trí và hình dáng Tiếp thu những kỹ thuật trang trí từ gốm Trung Hoa, người thợ gốm Korea đã khéo léo chạm khắc hay tô vẽ những hoa văn

đa chủ đề và đa phong cách lên bề mặt gốm sứ, càng lúc càng đưa gốm sứ trở thành một tác phẩm nghệ thuật độc đáo, có vai trò không nhỏ trong nền văn hóa nghệ thuật Korea đương thời Những hoa văn trên gốm sứ Korea thời Joseon không chỉ mang ý nghĩa trang trí mà còn có ý nghĩa thể hiện nguyện vọng, mơ ước của người Hàn

Trang 9

5

Chính vì đã bị cuốn hút bởi nét độc đáo và phong phú của những hoa văn

trang trí trên gốm sứ Korea thời Joseon mà chúng tôi chọn thực hiện đề tài “Hoa

văn trên gốm sứ Korea thời Joseon (1392 – 1910)” để tìm hiểu sâu hơn và rộng

hơn về những hoa văn này Ngoài ra, chúng tôi cũng mong muốn cung cấp thêm một vài kiến thức về loại hình nghệ thuật gốm sứ cũng như văn hóa Triều Tiên cho những ai quan tâm

2 Mục đích và nhiệm vụ đề tài

Đề tài này là bài viết kế thừa những thành quả của những nghiên cứu về gốm

sứ Korea trước đây tại Việt Nam và nước ngoài, tập hợp những kiến thức có sẵn và mới để hoàn thành một bài viết có trật tự khoa học, đồng thời vận dụng những kiến thức đã tiếp thu được của bản thân, đưa ra những nhận định mới về hoa văn trên gốm sứ Korea

Mục đích thực hiện đề tài này của tác giả nhằm thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu nghiên cứu của bản thân, đồng thời nhằm cung cấp một phần nào đó những kiến thức mới về hoa văn trên gốm Korea thời Joseon cũng như loại hình nghệ thuật gốm

sứ Korea - vốn chưa có nhiều nghiên cứu ở Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài như đã nêu trong tên gọi là hoa văn trên gốm sứ Korea thời Joseon (1392 – 1910) Theo đó, chúng tôi xác định nội dung

là tìm hiểu về thể loại, ý nghĩa của từng nhóm hoa văn trên các loại gốm sứ tiêu biểu của Korea vào thời Joseon, đồng thời có mối liên hệ so sánh đối chiếu với các hoa văn trên gốm trước và sau thời Joseon, cũng như với gốm sứ các nước khác mà Korea chịu ảnh hưởng, gây ảnh hưởng hoặc có những nét tương đồng như Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Đề tài được thực hiện dựa trên phương pháp tiếp cận hệ thống và liên ngành, chúng tôi tiếp cận hoa văn trên gốm sứ Korea thời Joseon trước hết xem chúng như một loại hình hoa văn hội họa, hoa văn chạm trổ trên gốm đồng thời nghiên cứu

Trang 10

Do có khả năng đọc hiểu tiếng Hàn nên bên cạnh nguồn tài liệu bằng tiếng Anh và tiếng Việt, chúng tôi chủ yếu thu thập tài liệu bằng tiếng Hàn, bao gồm những quyển sách, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, chuyên đề nghiên cứu, bài báo, tạp chí liên quan đến gốm sứ, hoa văn trên gốm sứ, mỹ thuật, văn hóa, lịch sử

5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trước đây, tại bán đảo Triều Tiên có rất nhiều công trình nghiên cứu về gốm

sứ và hoa văn trên gốm sứ Tuy nhiên, đến năm 1910, khi Nhật Bản tiến hành xâm lược Triều Tiên thì hầu hết những công trình này đều đã bị người Nhật thiêu hủy Sau Chiến tranh thế giới thứ hai thì tại bán đảo Triều Tiên (mà chủ yếu là ở Hàn Quốc), nhiều nhà nghiên cứu đã bắt đầu nghiên cứu lại về nghệ thuật này Nhiều học giả cho tiến hành tìm kiếm các di chỉ khảo cổ, khai quật những ngôi mộ cổ để nghiên cứu các hoa văn, các nguyên liệu và cách chế tác gốm sứ cổ Đặc biệt có rất nhiều công trình nghiên cứu về gốm sứ Korea thời Joseon, nổi bật nhất phải kể đến

hai tác phẩm “Ba mươi năm nghiên cứu lịch sử nghệ thuật Triều Tiên: Gốm sứ” do tác giả Kim Jea Yeol xuất bản năm 1960 và tác phẩm “Những nghiên cứu về ngành

gốm sứ cuối thời Joseon” của tác giả Song Chan Sik xuất bản đầu thập niên 70 của

thế kỷ XX Trong tác phẩm“Ba mươi năm nghiên cứu lịch sử nghệ thuật Triều Tiên:

Gốm sứ”, tác giả Kim đã tổng kết lại các danh sách di chỉ khảo cổ gốm sứ đã khai

quật được, danh sách chi tiết các loại gốm sứ, nguyên liệu, cách chế tác, hoa văn trang trí và ý nghĩa của từng nhóm hoa văn trong ba mươi năm từ 1880 – 1910 Tác giả khẳng định những hình ảnh xuất hiện trên tranh đều được các nghệ nhân đưa về trên mặt gốm sứ và các sản phẩm thủ công khác như thêu, đan… Trong tác phẩm

“Những nghiên cứu về ngành gốm sứ cuối thời Joseon”, tác giả Song Chan Sik đã

Trang 11

7

miêu tả rất kĩ về lò gốm cung đình (Punwon) và cách thức chế tác gốm sứ từ những chi tiết nhỏ nhặt nhất Theo tác giả, văn hóa của Joseon chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, vì thế, dù cách chế tác gốm sứ của hai nước có khác nhau nhưng các loại hoa văn trang trí trên gốm sứ Korea và ý nghĩa những loại hoa văn

đó không khác lắm so với các hoa văn trên gốm sứ Trung Hoa

Hai tác giả Lee So Young và Jeon Seung Chang trong quyển sách “Korean

Pun-cheong Ceramic”, xuất bản năm 2010, đã phân tích rất rõ những đặc điểm của

gốm Pun-cheong, loại gốm ra đời vào những năm đầu của triều đại Joseon, được cho rằng là kế thừa từ loại gốm Celadon Goryeo nổi tiếng Hai tác giả đã phân tích bối cảnh ra đời, quá trình phát triển và mai một của loại gốm này Chương hai của quyển sách này đã tập trung vào miêu tả những đặc trưng về hình dáng, kỹ thuật chế tác và trang trí, mô-típ hoa văn trên gốm Riêng về phần hoa văn, tác giả cũng so sánh với gốm sứ triều Minh của Trung Hoa và những biến đổi về mặt hoa văn khi chúng được du nhập sang Nhật Bản

Hoa văn trên gốm sứ hầu như không được nghiên cứu riêng biệt mà thường được nghiên cứu chung khi các học giả nghiên cứu về nghệ thuật gốm sứ Còn về

các loại hoa văn nói chung thì quyển “Thế giới tượng trưng trong văn hóa dân tộc”

của tác giả Kim Jong Dae, xuất bản năm 2001 có thể được xem là tác phẩm tổng hợp đầy đủ nhất Trong tác phẩm này, Kim Jong Dae đã đưa ra khoảng 60 kiểu hoa văn trang trí trên gốm, tranh, thêu, kiến trúc công trình,… bên cạnh việc nêu lên các

ý nghĩa tượng trưng của những hoa văn đó trong từng loại hình nghệ thuật riêng biệt, ông còn kể ra các điển tích để cho người đọc biết vì sao kiểu hoa văn đó được sử dụng

Luận văn của nhiều sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh Hàn Quốc cũng lấy gốm làm đề tài nghiên cứu Trong số các luận văn mà chúng tôi thu thập

được, thì luận văn thạc sĩ “Sứ trắng Joseon dưới góc nhìn văn hóa mỹ thuật” của

học viên cao học Choi Jin Sook, Khoa Giáo dục Mỹ thuật, Đại học Kyowon Hàn Quốc viết vào năm 2004 là miêu tả về hoa văn trên gốm nổi bật hơn cả Luận văn của học viên này có ba chương, trong đó dành hẳn chương ba để nói về tính mỹ

Trang 12

[Kim Won Dong, 2001: 187] Luận văn của học viên này nêu khái quát về tiến trình gốm sứ Korea từ khi mới ra đời cho đến cuối thời Joseon, đặc biệt, học viên đã cố gắng tìm và phân tích những điểm khác biệt của gốm sứ Korea với gốm sứ Trung

Hoa Chúng tôi cũng đã tham khảo một luận văn khác nghiên cứu về đề tài “Nghiên

cứu cách trang trí trên gốm sứ thời Lý – phân tích yếu tố hội họa của hoa văn” của

học viên cao học Sung Chong Kyung, Khoa Mỹ thuật, trường Đại học Kyungsung

Học viên Sung cho rằng “Hoa văn trên gốm sứ thời nhà Lý chịu ảnh hưởng sâu sắc

của hoa văn gốm sứ Minh –Thanh của Trung Hoa,… và có mối liên hệ với các tôn giáo là Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo” [Sung Chong Kyung, 1977: 70-80]

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu

về gốm sứ Trung Hoa và Việt Nam Nhà nghiên cứu nổi tiếng Vương Hồng Sển đã

xuất bản quyển sách nghiên cứu “Khảo về đồ sứ Trung Hoa Từ đồ đất nung qua

đến đồ gốm đến đồ sành”, xuất bản năm 1971, tác phầm này được nhiều người

trong nghề đánh giá là tác phẩm khái quát nhất về tiến trình phát triển của gốm sứ

Trung Hoa Nhà nghiên cứu Hoàng Xuân Chinh có quyển sách “Tiến trình gốm sứ

Việt Nam” cũng khái quát quá trình phát triển của gốm sứ Việt Nam từ những ngày

đầu cho đến sau năm 1975 Quyển sách của ông viết khá ngắn gọn, ở mỗi thời kỳ phát triển, tác giả đều nêu lên những nét nổi bật nhất của gốm sứ thời đó, và so sánh

sự biến đổi của gốm sứ so với thời kỳ trước nó Bàn về hoa văn trên gốm, tác giả

Nguyễn Ngọc Thơ có quyển “Gốm sứ Trung Hoa thời Minh Thanh – Tập 1: Hoa

văn rồng phụng”, do NXB Đà Nẵng xuất bản năm 2007 Trong quyển này, tác giả

Trang 13

9

Nguyễn Ngọc Thơ đã miêu tả rất chi tiết các hoa văn hình rồng và hình phụng xuất hiện trên các sản phẩm gốm sứ thời Minh Thanh Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy rằng, những hoa văn rồng phụng này có nhiều điểm tương đồng với hoa văn rồng phụng trên gốm sứ Korea thời Joseon Theo chúng tôi được biết, ở Việt Nam, còn rất nhiều những công trình nghiên cứu, sách báo, luận văn nghiên cứu về gốm sứ Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản…nhưng hầu như chưa có bài

nghiên cứu chuyên sâu nào về gốm sứ Korea Trong sách “Tìm hiểu văn hóa Hàn

Quốc” do Nguyễn Long Châu viết và xuất bản năm 2000, tác giả có một bài viết

tương đối dài về gốm sứ Hàn Quốc, ngoài công trình này thì chúng tôi chưa có dịp đọc tham khảo những công trình khác

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nghiên cứu về hoa văn trên gốm sứ Korea thời Joseon là một việc làm thiết thực góp phần giới thiệu và cung cấp những kiến thức mới về văn hóa Korea, đặc biệt về nghệ thuật gốm sứ, nâng cao hơn nữa tầm hiểu biết về văn hóa Hàn Quốc của người Việt Nam Trong quá trình thực hiện, bản thân chúng tôi tự trang bị thêm cho mình rất nhiều những thông tin mới, rất có ích trong việc học tập và nghiên cứu của mình Thông qua việc nghiên cứu những chủng loại và ý nghĩa của hoa văn trên gốm sứ Korea, kèm theo so sánh với gốm sứ Trung Hoa, Nhật Bản và Việt Nam, chúng ta không chỉ dừng giới hạn hiểu biết của chúng ta ở tại Korea mà còn hiểu về các nước xung quanh và của nước Việt Nam nữa

kỳ này, để thấy được sự thay đổi của gốm sứ so với những thời kỳ trước

Chương 2 Các loại gốm sứ tiêu biểu thời Joseon (1392 - 1910)

Trang 14

10

Trong chương 2, chúng tôi sẽ giới thiệu các loại gốm sứ tiêu biểu thời Joseon, bao gồm hoàn cảnh ra đời, đặc điểm nổi bật và đối tượng sử dụng chúng

Chương 3 Các loại hoa văn trên gốm sứ Korea thời Joseon (1392 - 1910)

Trong chương 3, chúng tôi sẽ đi vào phần nội dung chính nhất của luận văn,

đó là nêu lên những loại hoa văn xuất hiện trên gốm sứ Joseon Chúng tôi sẽ chia hoa văn trên gốm sứ thành ba nhóm chính là hoa văn thực vật, hoa văn động vật, hoa văn phong cảnh Đối với từng loại hoa văn, chúng tôi sẽ phân tích ý nghĩa vai trò của chúng trong văn hóa và đời sống Joseon Đồng thời, chúng tôi cũng đề cập đến mối liên hệ của những hoa văn đó đến hoa văn trên gốm sứ của các nước nằm trong vùng văn hóa chữ Hán

Trang 15

11

CHƯƠNG 1

TỐNG QUAN VỀ VĂN HÓA NGHỆ THUẬT THỜI JOSEON (1392 - 1910) VÀ GỐM SỨ THỜI JOSEON

1.1 Tổng quan về văn hóa thời Joseon (1392 - 1910)

1.1.1 Bối cảnh lịch sử xã hội thời Joseon (1392 - 1910)

Vào cuối thế kỷ XIII – đầu thế kỷ XIV, kể từ sau khi triều đình Goryeo1 ký kết hòa bình với nhà Nguyên thì nhà Nguyên đã biến Goryeo thành một phiên quốc của nhà Nguyên Từ đó, nhà nước Goryeo rơi vào khủng hoảng trầm trọng vì phải phụ thuộc mọi mặt vào nhà Nguyên Triều đình Goryeo bị suy thoái, kinh tế kiệt quệ, xã hội nhiễu nhương Dưới sự khai thác và áp bức của nhà Nguyên, triều đình Goryeo mất dần quyền kiểm soát đất nước, nội bộ chính quyền chia rẽ, sự phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ rệt Đến cuối thế kỷ XIV, nhà Minh lên nắm chính quyền tại Trung Quốc, đánh đuổi nhà Nguyên ra khỏi lãnh thổ Chính sách hòa bình, mà thực chất là cai trị, của nhà Nguyên không còn tồn tại ở Goryeo nữa Lúc này, triều đình Goryeo chia làm hai phe khác nhau mà đứng đầu mỗi phe là các tướng lĩnh tài năng Phe “thân Minh” do tướng Yi Seong Gye (이성계, Lý Thành Quế (1335 - 1408)) đứng đầu chủ trương hòa khí với nhà Minh, trong khi đó, phe của tướng

Choi Yeong (최영, Thôi Vinh (1316 - 1388)) lại chủ trương chống đối nhà Minh Năm 1388, nhà Minh cử sứ thần sang Goryeo để đàm phán, tuyên bố muốn sát nhập toàn bộ lãnh thổ phía Đông Bắc Trước tuyên bố này của nhà Minh, tướng Choi Yeong quyết định đánh chiếm bán đảo Liêu Đông Choi Yeong được sự phê chuẩn của vua Woo Wang2 đã tiến hành cuộc chinh phạt, ông giữ vai trò tổng chỉ huy và

cử Yi Seong Gye và Cho Min Su làm phó tướng

Ngay từ đầu, tướng quân Yi Seong Gye đã phản đối cuộc chinh phạt này, nhân cơ hội được tập hợp binh quyền, ông đã ngầm tiến hành một cuộc đảo chính,

Trang 16

Sau khi lên nắm quyền, Yi Seong Gye lấy niên hiệu là Teajo (태조, Thái Tổ), đặt tên nước là Joseon và dời đô về Hanyang (한양, Hán Dương, Seoul ngày nay)

Những sĩ đại phu4 giúp Taejo lên ngôi được phong làm “khai quốc công thần” và được giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình Khi đất nước dần ổn định sau biến cố, các sĩ đại phu ra sức soạn thảo một bộ luật hành chính phục vụ cho việc cai trị đất nước thấm nhuần tư tưởng Nho giáo nhằm xây dựng một cơ chế chính trị hoàn toàn dựa trên nền tảng Nho giáo Nho giáo thời kỳ này được tôn lên làm quốc giáo, các thế lực trong triều đều là các nhà Nho, tư tưởng Nho giáo chi phối toàn bộ đời sống xã hội Joseon

Giới trí thức Nho học hình thành nên xã hội cầm quyền gồm hai ban là văn ban và võ ban Do đó mà người ta thường gọi xã hội Korea thời Joseon là xã hội

yangban ( 양반, lưỡng ban), vì chính giai cấp yangban điều hành nền chính trị, kinh

tế và văn hóa thời này Những nhà Nho thuộc tầng lớp yangban thường chọn công việc phục vụ cho triều đình hay đất nước Họ luôn mơ ước xây dựng một chính thể

lý tưởng qua việc giáo hóa dân Joseon về mặt đạo đức bằng việc tiếp thu tư tưởng Nho giáo từ Trung Quốc và phát triển theo xu hướng dân tộc Tư tưởng Nho giáo này được gọi là Tân Nho giáo hay Nho giáo Tính lý học5

Tầng lớp yangban soạn thảo ra nhiều văn bản, bộ luật để cai trị đất nước và giáo dục dân chúng, trong đó có

3 Kong Yang (공양왕, Khổng Dương Vương (1345 - 1394)), trị vì đất nước từ năm 1389 đến năm 1392

4 Sĩ đại phu là thuật ngữ bắt nguồn từ Trung Quốc, trong đó “sĩ” chỉ những người có học, “đại phu” là từ gọi những người làm quan Ở Korea, sĩ đạ phu là tầng lớp công chức mới xuất hiện tiếp theo sự tan rã của chính quyền quý tộc trong thời kỳ giới quân sự cai trị Họ được đào tạo và có hiểu biết mà cón thành thạo trong việc quản lý các công việc quốc gia Thay vì trông chờ được bổ nhiệm với tính cách là con cháu của gia đình quý tộc, các sĩ đại phu tìm cách thăng tiến trong lĩnh vực chính trị qua hệ thống thi cử, trên cơ sở của những thành tựu trong lĩnh vực học vấn

5 Nho giáo Tính lý học tiếp thu học thuyết Tính Lý (tức là Tân Nho giáo) Tính Lý học là một học thuyết giải thích nguồn gốc con người và vũ trụ bằng một thuật ngữ vô hình Đồng thời, nền đạo đức chính trị được diễn giải trong đó coi trọng mối quan hệ hỗ tương giữa vua và thần dân, giữa bố mẹ và con cái

Trang 17

13

các Hương ước, một văn bản quy chuẩn các điều lệ, hành vi ứng xử của con người Tuy nhiên, những tư tưởng Nho giáo này cũng gây ra không ít những phiền hà trong khi xác lập những mối quan hệ cộng đồng mà quyền lợi thực chất chỉ nghiêng về tầng lớp yangban, để bảo vệ duy trì quyền lợi cho họ là chính

Trong khi Nho giáo ngày càng được xem trọng thì Phật giáo thời Joseon lại

bị suy thoái một cách nghiêm trọng Từ thời Taejo cai trị, ông đã thiết lập một hệ thống đăng ký để ngăn ngừa sự gia tăng số lượng tu sĩ Phật giáo, và ông cũng cấm xây dựng các chùa chiền cũng như các sản phẩm có liên quan đến tôn giáo này Đến

khi vua Sejong (세종, Thế Tông) lên nắm quyền (1418 - 1450) thì Phật giáo mới được hồi sinh, do ông cũng là một người có đức tin vào đạo Phật Ông không áp dụng hệ thống giới hạn số lượng tu sĩ, ban bố lệnh cho phép xây dựng chùa, kể cả các chùa có quy mô thật lớn trên toàn quốc Tuy nhiên, đến thời vua Seongjong

(성종, Thành Tông, 1469 - 1494) thì một lần nữa, Phật giáo bị đàn áp mạnh mẽ, bãi

bỏ hoàn toàn chế độ đăng ký tu sĩ và nghiêm cấm việc xuất gia tu hành Gần 50 năm sau đó, khi vua Myeongjong (명종, Minh Tông, 1545 - 1567) lên ngôi thì Phật giáo mới được hoằng dương trở lại Tuy nhiên, Phật giáo vẫn không trở lại được vị trí vốn có của nó trong tổng thể tôn giáo Joseon lúc bấy giờ

Trong chính sách đối ngoại, Joseon duy trì mối quan hệ hữu nghị với nhà Minh Thông qua quan hệ thân thiết với nhà Minh, Joseon đã đạt được những lợi ích nhất định về kinh tế và văn hóa Hàng năm, triều đình Joseon phái ba đoàn sứ giả thường xuyên tới nhà Minh để triều cống Các đoàn sứ giả này chủ yếu có mục đích chính trị nhưng cũng là trung gian cho việc trao đổi và học hỏi kinh tế và văn hóaTrung Quốc Trung Quốc thời kỳ này được xem là nơi giao thương giữa phương Đông và phương Tây với con đường tơ lụa nổi tiếng Vì thế, việc tự xem mình thành nước chư hầu, thực hiện chính sách triều cống sắc phong của triều đình Joseon với nhà Minh không nằm ngoài mục đích tìm kiếm lợi nhuận về mặt ngoại thương Bên cạnh nhà Minh, Joseon còn thiết lập quan hệ thương mại với Nhật Bản, bắt đầu từ khi vua Sejong đánh tan căn cứ của quân cướp biển Nhật Bản trên đảo Tsushima và đạt được thỏa thuận hòa bình giữa hai bên Các mặt hàng được xuất

Trang 18

Vào cuối thế kỷ XVI, xã hội Joseon bị biến động do xung đột giữa các phe

phái trong tầng lớp yangban Sự nổi lên của tầng lớp sarim (사림, sĩ lâm), vốn xuất

thân là tầng lớp yangban nông thôn, tầng lớp này xuất hiện làm cho tầng lớp nho sĩ của Joseon ngày càng trở nên đông đảo nhưng cũng làm phát sinh không ít mâu thuẫn trong xã hội Dưới thời vua Seongjong, nhằm ngăn chặn sự bành trướng và lấn át quyền lực của những công thần thuộc tầng lớp yangban có thế lực, nhà vua đã

bổ nhiệm một số đông sĩ lâm trong bộ máy chính quyền trung ương Các sĩ lâm được bổ nhiệm chủ yếu nắm giữ các chức vụ trong Ngự sử đài, có nhiệm vụ can gián và chuẩn bị một số văn kiện triều đình Mâu thuẫn vốn đã phát sinh từ trước nay càng trở nên gay gắt hơn, cuối cùng dẫn đến một loạt những biến động chính trị được gọi là sĩ họa Sau nhiều vụ sĩ họa, vai trò và quyền lực của sĩ lâm giảm đi đáng

kể, kéo theo đó là sự lung lay của hệ thống cầm quyền trung ương và thay đổi cấu trúc xã hội sâu sắc

Trong khi đó, cùng thời gian này, ở Nhật Bản, Toyotomi Hideyoshi7 bắt đầu thực hiện mưu đồ xâm chiếm Joseon Nhật Bản đã trang bị cho quân đội súng được nhập từ phương Tây và lên kế hoạch tấn công rất kỹ lưỡng Năm 1592, lấy cớ mượn

Trang 19

15

đường sang chinh phục nhà Minh, quân Nhật Bản đưa 200.000 binh lính sang lãnh thổ của Joseon Do sơ hở và không kịp chuẩn bị, các đạo quân của Joseon lần lượt thất bại trong việc chống trả, quân Nhật Bản nhanh chóng giành quyền kiểm soát trên bán đảo Triều Tiên Sự kiện này được gọi là Im jin wae ran (임친왜란, Nhâm Thìn Oa loạn)8, các sử gia đều xem đây là sự kiện mở đầu cho giai đoạn mới trong tiến trình văn hóa Korea: giai đoạn giao lưu và tiếp biến văn hóa Nhật Bản

Trước sự xâm lược của Nhật Bản, quân và dân Joseon đã chiến đấu hết sức ngoan cường trên khắp các mặt trận và gây không ít thiệt hại cho quân Nhật Bản Nhà Minh cũng gửi 50.000 quân viện binh sang và giúp Joseon chiếm lại được Pyeongyang Đến khi bị dồn đến vùng bờ biển phía Đông Nam Gyeong-sang-do thì quân Nhật đề nghị đình chiến Tuy nhiên, cuộc thương thuyết kéo dài 3 năm đã bị thất bại và Nhật Bản lại chuẩn bị cho một cuộc tấn công Joseon lần thứ 2 vào năm

1597 Lần này, nhờ sự chuẩn bị về nhân lực và trí lực, cùng tài lãnh đạo tài ba của tướng quân Yi Sung Shin, cộng với sự hỗ trợ tích cực của quân nhà Minh nên quân Nhật nhanh chóng bị đầy lùi ra khỏi bờ cõi Năm 1597, Toyotomi qua đời, quân Nhật như “rắn mất đầu”, trở nên suy yếu buộc phải rút lui ra khỏi bán đảo Triều Tiên

Hai đợt tấn công trong vòng 7 năm đã để lại nhiều hậu quả nặng nề cho đời sống kinh tế và xã hội Joseon Nhiều làng mạc bị phá hủy, diện đất canh tác bị bỏ hoang, dân số giảm mạnh, nhiều người bị bắt sang Nhật làm tù binh, trong đó, phần lớn là các nhà trí thức có tài và những người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật Người Nhật còn phá hủy các công trình kiến trúc lớn của Joseon như cung Gyeongbuk, chùa Bulguk, và cướp lấy những sản phẩm văn hóa mà Joseon đã gây được tiếng vang lớn như bản in, thư tịch, đồ gốm sứ, tranh ảnh Thông qua những

tù binh và những “chiến lợi phẩm” đó, Nhật Bản tiếp thu được rất nhiều những nét tiến bộ Cụ thể, người Nhật Bản học tập được Nho học Tính lý học từ các văn bản ghi chép của Joseon, nghề làm đồ gốm của Nhật Bản bắt đầu được thế giới chú ý nhờ tiếp thu được kỹ thuật chế tác tinh xảo từ những tù binh là thợ gốm của Joseon

8 Vì cuộc chiến diễn ra vào năm 1592, là năm Nhâm Thìn theo lịch phương Đông

Trang 20

16

Xã hội Joseon bị xáo trộn vào năm 1800 khi vua Sunjo lên ngôi khi còn nhỏ tuổi, không thể cai trị đất nước, quyền lực chính trị tập trung vào tay một số gia đình thông gia với hoàng cung, chính quyền Joseon lúc này được gọi là thế đạo thống trị Sự tập trung quyền lực vào tay của một loạt các thông gia hoàng cung đã làm cho việc cai trị dất nước trở nên rối ren Nông dân phải chịu nhiều khoản thuế,

bị bóc lột và bần cùng hóa do bị giới tham quan chèn ép Nền chính trị thông gia đó

kéo dài hơn 60 năm, qua ba đời cai trị của vua Sunjo (순조, Thuần Tổ, 1800 - 1834),

Hyeonjong (현종, Hiến Tông, 1834 - 1849), và Cheoljong ( 철종, Triết Tông, 1849

- 1863) Chính thời gian chịu đựng quá lâu này đã khiến cho cả tầng lớp nông dân

và tầng lớp yangban bất mãn Những người thuộc tầng lớp yangban, dù là con cháu của các khai quốc công thần cũng không còn được trọng dụng, bị hất ra khỏi chính quyền, phải trở về địa phương sống cuộc sống lặng lẽ của một quý tộc sa cơ

Không chịu đựng nổi sự áp bức, nhiều phong trào nông dân nổ ra khắp nơi, những phong trào này thường nhỏ lẻ, tự phát Triều đình gọi những cuộc nổi dậy này là dân loạn, tuy thành phần chính là nông dân nhưng người lãnh đạo thường là các yangban thất thế, bất mãn với thời cuộc Tuy không có cuộc nổi dậy nào đi đến thành công, nhưng cũng là những hồi chuông cảnh tỉnh triều đình, góp phần bải bỏ chế độ nô lệ, cải cách chính sách nộp thuế, và loại bỏ được nhiều tham quan ở địa phương

Giữa thế kỷ XIX, Thiên chúa giáo và phong trào Donghak (동학, Đông học) được truyền bá rộng rãi trong dân chúng và xã hội nông thôn Thiên chúa giáo được truyền bá vào Joseon vào những năm cuối thế kỷ XVIII bời những sứ thần sang Trung Quốc và mang về những tài liệu liên quan đến Thiên Chúa giáo Khi mới được đưa vào Joseon, Thiên Chúa giáo được tầng lớp yangban tiếp nhận như một phần của nền học thuật phương Tây Sau đó, dưới thời vua Jeongjo (정조, Chính Tổ,

1778 - 1800), một số học giả bắt đầu nhìn nhận và tin tưởng Thiên chúa giáo như là một tôn giáo mới của Joseon Tuy nhiên, chính quyền Joseon, đúng hơn là những người theo tư tưởng Nho giáo truyền thống cho rằng Thiên chúa giáo không coi trọng ý thức thờ cúng tổ tiên, chứa đựng những tư tưởng có thể làm đảo lộn trật tự

Trang 21

17

xã hội của Joseon nên đã ra lệnh cấm tôn giáo này Chính sách bế quan tỏa cảng của nhà nước Joseon lúc bấy giờ càng gây thêm một rào chắn cho sự phát triển của Thiên chúa giáo Mặc dù bị đàn áp, Thiên chúa giáo vẫn được truyền bá rộng rãi trong tầng lớp thường dân và phụ nữ Joseon

Tuy nhiên, Thiên Chúa giáo là một tôn giáo đến từ phương Tây nên đã gặp

phải sự cảnh giác của nhiều người Joseon Chính lúc đó, Choi Je Woo (최지우,

Thôi Tế Ngu, 1824 - 1864), một yangban sa sút của vùng Gyeongju, đã dung hợp Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo với tín ngưỡng dân gian truyền thống để tạo ra một tôn giáo mang tính phong trào mới, được gọi là phong trào Donghak (Đông học)

Phong trào Donghak ra đời nhằm mục đích đối đầu với phong trào Seohak (서학,

Tây học), vốn là một cách gọi khác mà người Joseon dùng để gọi Thiên Chúa giáo Donghak thể hiện tư tưởng bài ngoại, phản đối Thiên chúa giáo, đồng thời thể hiện

ý thức giữ gìn bản sắc dân tộc, hướng tới những người dân cùng khổ Donghak ra đời nhanh chóng được tầng lớp bình dân ủng hộ và tôn thờ, bởi thứ nhất, Donghak chủ trương bình đẳng cho tất cả mọi người vượt lên trên địa vị xã hội hay giai cấp, thứ hai, Donghak còn thực hành những bài giảng mang tính chất ma thuật và tôn thờ thần núi Dong hak trở nên gần gũi với người dân hơn bao giờ hết khi thi hành cách chính sách cải thiện hoàn cảnh sống của tầng lớp nông dân nghèo khổ Với chính quyền thì xem Donghak là một phong trào tôn giáo làm đảo lộn trật tự xã hội và mang tính chất lừa phỉnh nhân dân nhiều hơn là cải cách nên đã ban lệnh xử tử người đứng đầu phong trào là Choi Je Woo vào năm 1863 Việc xét xử và hành quyết Choi Je Woo đã khiến những người theo phong trào Donghak phải trốn và tạm dừng những hoạt động của phong trào Tuy nhiên, những ngọn lửa ngầm nhằm khơi lại phong trào Donghak vẫn âm ỉ cháy và chờ ngày bùng nổ [Lee Ki Baik, 2002: 378]

Bước sang thế kỷ XXI, tình hình Đông Á có biến động lớn, nhưng với tư tưởng là thuộc quốc của nhà Thanh nên vẫn thi hành chính sách bế quan tỏa cảng, không thông thương với bên ngoài, nhất là với Nhật Bản và phương Tây Năm 1866, Pháp viện cớ chín nhà truyền giáo người Pháp bị triều đình Joseon xử tử để tiến vào

Trang 22

18

đảo Ganghwa cướp phá Sau đó năm 1871, hạm đội Mỹ cũng kéo đến đảo Ganghwa sau khi tàu Gerenal Sherman bị tiêu diệt năm 18669 tại sông Taedong bên dưới Bình Nhưỡng, mượn cớ đây là một “món nợ” buộc chính quyền Joseon phải mở các cửa khẩu cho Mỹ vào buôn bán Tuy nhiên, các đội quân của Mỹ vấp phải sự tấn công

và phòng thủ của quân Joseon nên lực lượng của Mỹ buộc phải rút lui Sau hai lần

bị gây hấn, Joseon càng đóng chặt cửa hơn nữa, nêu cao chủ trương bài ngoại, kiên quyết không giao lưu thông thương với phương Tây Năm 1868, Nhật Bản tiến hành cải cách Duy tân10, xây dựng thể chế mới, ngày càng lớn mạnh và ráo riết đòi thiết lập quan hệ với Joseon nhưng đều nhận được sự khước từ Sau một thời gian dài khép mình, chỉ mở cửa thông thương với nhà Thanh, khước từ quan hệ với các nước khác, năm 1876, Joseon bị Nhật Bản dùng vũ lực buộc phải ký kết Hiệp ước

Ganghwa, khiến cho Joseon phải mở cửa với thế giới bên ngoài Mặc dầu Hiệp ước

Ganghwa (Giang Hoa) là hiệp ước bất bình đẳng, mở đường cho Nhật Bản từng

bước thôn tín Triều Tiên nhưng, với một cách nhìn khác, “nó có ý nghĩa rất lớn đối

với Triều Tiên, chính là vì nó đưa Triều Tiên lần đầu tiên lên sân khấu quốc tế Nó

mở ra cánh cửa cho Triều Tiên nhìn ra thế giới bên ngoài” [Nguyễn Tiến Lực,

2013: 94]

Sau khi ký hiệp ước Ganghwa, triều đình Joseon bắt đầu thực hiện chính sách khai hóa Triều đình cử các quan chức trẻ sang Nhật Bản để học tập các thiết bị công nghệ và các thành tựu văn hóa của Nhật Bản Những chuyến viếng thăm học hỏi này giúp cho Joseon có cái nhìn mới, quyết tâm tiến lên để sánh vai với các nước khác Triều đình Joseon chú trọng cải cách hành chính, lập thêm 12 cơ quan chuyên trách nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội để phát triển đất nước

Tuy triều đình Joseon cố gắng cải cách nhưng trong xã hội Joseon lại có sự phân hóa kể từ khi hiệp ước Ganghwa được ký kết Những người chủ trương khai

Trang 23

19

hóa lập thành phái Gaehwa (개화, Khai hóa), tập trung những người có tư tưởng

tiến bộ, muốn phát triển đất nước bằng cách tiếp thu kiến thức học được từ các nước khác Trong khi đó, một bộ phận Nho sĩ lại xem Nhật Bản và Phương Tây là “man di”, vì thế quyết tâm chống đối lại việc ký kết hiệp ước Ganghwa, họ cho rằng hiệp ước này chính là cánh cửa mở lối cho Nhật Bản sang xâm lược Joseon và cũng là con đường đưa Thiên Chúa giáo tràn vào, những người này hình thành phái Seokja (석자, Xích Tà) Sự bất đồng trong tư tưởng giữa hai phái, những âm mưu lật đổ

chính quyền đẩy triều đình đến chỗ hỗn loạn

Tư tưởng khai hóa ngày càng ăn sâu vào tư tưởng của giới quan lại yangban, thôi thúc họ tiến hành các cuộc cải cách đất nước Họ kiên tín vào sự bình đẳng, muốn cải cách chính trị theo mô hình Duy tân của Nhật Bản, đồng thời muốn làm cho Joseon độc lập, chấm dứt sự can thiệp của nhà Thanh Tuy nhiên, những hành động của họ vấp phải sự cản trở của triều đình nên dù cố gắng nhiều nhưng lại không đạt được thành quả gì đáng kể Chính vì thế phái Gaehwa đã tiến hành cuộc đảo chính Chính biến Giáp thân vào năm 1884, lập nên chính phủ mới Nhưng chỉ 3 ngày sau đó, quân Thanh kéo quân sang Joseon và can thiệp sâu vào cuộc đảo chính, những người lãnh đạo cuộc đảo chính là Kim Hong Jip (김홍집, Kim Hồng Tập,

1842 - 1896), và những người thân tín phải bỏ sang Nhật lánh nạn

Sau khi giúp triều đình Joseon dẹp loạn trong nước thì nhà Thanh ngày càng can thiệp sâu vào chính trị, ngoại giao của Joseon khiến cho Nhật Bản bị mất dần vị thế chính trị ở Joseon Do đó, Nhật tăng cường ảnh hưởng về mặt kinh tế Sau khi thông thương được với cảng của Joseon, Nhật Bản đã mua nhiều gạo, đậu, và các lương thực chính yếu khác Sự thu mua đầu cơ của các thương lái Nhật khiến cho đời sống người dân ngày càng trở nên khó khăn, nhất là trong những năm mất mùa Người nông dân mang tâm lý bài Nhật ngày càng sâu đậm và bất mãn trước sự nhu nhược của triều đình Năm 1894, tại Korea đã nổ ra cuộc cách mạng Donghak chống lại triều đình Joseon, lực lượng khởi nghĩa khoảng 10.000 người Đáp lại yêu cầu chi viện của triều đình Joseon, Trung quốc cử 30.000 quân vào bán đảo Tương

tự, Nhật đổ bộ 7000 quân vào cảng In-cheon Kết quả chiến tranh Trung - Nhật

Trang 24

20

bùng nổ, Trung Quốc thất bại, phải ký hiệp ước Mã quan với Nhật và chính thức bị Nhật loại khỏi Joseon Cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, cuộc tranh giành ảnh hưởng Nga - Nhật tại vùng bán đảo Triều Tiên ngày càng gia tăng Trước hành động bành trướng của Nga ở Mãn Châu và bán đảo Triều Tiên, sau nhiều lần đàm phán không thành, chiến tranh Nga - Nhật đã nổ ra ngày 10/2/1904 và kết thúc tháng 7/1905, người Nhật lại thắng lợi và loại Nga khỏi bán đảo Triều Tiên Sau khi nắm quyền kiểm soát Joseon, Nhật buộc triều đình Joseon ký Hiệp ước Bảo hộ ngày 17/11/1905 Năm 1907, Nhật ép hoàng đế Gojong (고종, Cao Tông) thoái vị, nhường ngôi cho Sunjong (순종, Thuần Tông) Tháng 5/1910, tướng Teraushi Masatake đến Bán đảo Triều Tiên làm nhiệm vụ sáp nhập vùng đất này vào Nhật Bản Ngày 29/8/1910, vua Thuần Tông - vị vua cuối cùng của Joseon - đã bị ép tuyên bố nhường ngai vàng và đất nước cho Nhật Từ đó, bán đảo Triều Tiên chính thức trở thành thuộc địa của Nhật Bản

1.1.2 Văn hóa nghệ thuật Korea thời Joseon

Triều đại Joseon có thời gian dài nhất trong lịch sử, đời sống văn hóa xã hội

có lúc ổn định có lúc trải qua nhiều biến động Tuy vậy, nền văn hóa nghệ thuật Joseon cũng đạt được nhiều thành tựu quan trọng, gây được tiếng vang lớn trong khu vực và thế giới

Trong giai đoạn sơ kỳ, thành tựu nổi bật nhất phải kể đến chính là sự sáng tạo ra chữ viết Hangeul của hoàng đế Sejong (1418 - 1450) vào năm 1443 Có thể nói đây là một cột mốc quan trọng bậc nhất trong lịch sừ và văn hóa Korea, vì từ thời điểm này, tất cả người Hàn từ quan lại đến dân chúng đều có thể ghi lại tất cả những văn bản trong mọi lĩnh vực bằng chữ viết của dân tộc mình Trong suốt thời gian trị vì, hoàng đế Sejong đã chỉ đạo cho những quan lại có tài trong triều tiến hành nhiều công trình nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực Lĩnh vực khoa học kỹ thuật phát triển nhanh chóng, để lại nhiều thành tựu như đài quan sát thiên văn, đồng hồ thiên văn, đồng hồ mặt trời, dụng cụ đo lượng nước mưa

So với thời Goryeo, hội họa thời Joseon phát triển đa dạng và tạo ra nhiều trường phái hơn Đội ngũ họa sĩ Korea nửa đầu thời Joseon chính là những quan

Trang 25

21

văn thuộc tầng lớp yangban Chịu nhiều ảnh hưởng từ Nho giáo và phong cách sáng tác của họa sĩ Trung Hoa, chủ đề của hội họa trong giai đoạn này thường là những hình ảnh truyền thống, không có sự phá cách lớn Điều này cũng dễ hiểu vì những

lý thuyết hội họa mà các họa sĩ Joseon học tập đều được các sứ thần mang về từ

Trung Quốc Nổi bật nhật trong những họa sĩ Joseon thời kỳ đầu là An Gyeon (안견,

An Kiến) (hoạt động trong khoảng thời gian từ 1440 đến 1470), ông là họa sĩ theo đuổi trường phái tranh phong cảnh và sáng tác theo lối mộng du Tranh của An Gyeon khung cảnh bình dị nhưng huyền ảo, lung linh… như là đang trong một giấc mộng Trong suốt một thời gian dài, hội họa Joseon chịu ảnh hưởng của hội họa

Trung Hoa, thì đến thế kỷ XVIII, khi phái Silhak (실학, thực học) ra đời, là học

phái nghiên cứu học thuật bằng phương pháp thực chứng và áp dụng kết quả nghiên cứu đó vào sinh hoạt thực tế trên tinh thần tự do phê phán Hơn nữa, tại Trung Quốc, nhà Mãn Thanh đã giành quyền thống trị, các họa sĩ Joseon buộc phải tìm ra hướng

đi riêng cho mình Khoảng giữa thế kỷ XVIII, một trường phái hội họa mới ra đời, tạo bước ngoặt cho hội họa truyền thống Korea bước sang một trang mới, đó là trường phái Jin-gyeong (진경, chân cảnh) Trường phái này đi theo lối vẽ thực, thể hiện sinh động theo đúng thực tế, vì thế nhiều thể loại tranh tả thực ra đời như tranh sơn thủy, tranh sinh hoạt, tranh châm biếm… Đối với trường phái này, những cái tên thường được nhắc đến trước nhất là Kim Hong Do (김홍도, Kim Hoằng Đạo,

1745 - 1806), Shin Yun Bok ( 신윤복, Thân Nhuận Phúc, 1758 - 1813)… Tư tưởng

Nho giáo là tư tưởng xuyên suốt thời Joseon, Nho giáo quy định mọi luật tục, lễ nghi, trong đó nêu rõ con người phải biết giữ gìn phẩm hạnh, kìm nén những ham muốn sắc dục nhất thời Văn học và nghệ thuật được xem là những công cụ truyền đạt những công cụ tuyên truyền cho hình ảnh triều đình và lễ giáo Vì lẽ đó, các họa

sĩ chỉ được phép vẽ những bức tranh có nội dung vui tươi, ca ngợi cuộc sống, còn không sẽ bị xếp vào dòng tranh phản nghịch, mang tính chất dung tục Cả Kim Hong Do và Shin Yun Bok đều theo đuổi dòng tranh sinh hoạt hiện thực, nếu như Kim Hong Do chú trọng sáng tác những bức tranh sinh hoạt dân dã, cho thấy được cuộc sống yên ả thanh bình thì Shin Yun Bok lại chọn chủ đề chính là cuộc sống

Trang 26

22

của giới quý tộc, mà chủ yếu là đả kích châm biếm cuộc sống ăn chơi trụy lạc của giới tham quan và quý tộc Dù theo hai chủ đề khác nhau, nhưng điểm chung của hai họa sĩ là dùng nét bút đơn giản miêu tả chân thực và sống động xã hội đương thời Xem những bức tranh này, người ta có thể biết được đời sống sinh hoạt, cách

ăn ở, quần áo phục sức của người dân Joseon bấy giờ Trường phái tả thực vẫn tiếp tục phát triển cho đến cuối thời Joseon, khi Nhật Bản sang xâm lược và tìm cách đồng hóa người Joseon

Từ thời Taejo, triều đình luôn khuyến khích khôi phục lại dòng gốm Celadon (men ngọc) nổi tiếng đã bị quân Nguyên làm cho mai một thời Goryeo bằng cách cho xây dựng các lò gốm gần kinh thành Triều đình cử người đến các vùng nông thôn đã từng là những nơi sản xuất Celadon Goryeo nổi tiếng trước đây để tìm những thợ gốm giỏi, tập trung họ về một nơi để sản xuất lại dòng gốm vang danh thế giới này Triều đình và các nghệ nhân gốm đã nổ lực rất nhiều trong việc chế tác lại, nhưng trong cuộc chiến, quân Nguyên đã phá hủy phần lớn các lò gốm và các tư liệu liên quan, tàn sát các thợ gốm nên đến cuối thời Joseon vẫn không khôi phục lại được dòng gốm này Trong quá trình chế tác, các nghệ nhân đã tạo ra một dòng gốm mới đó là Pun-cheong-sa-gi, có men màu xanh nhạt, đây được xem là dòng gốm mang đậm dấu ấn của tầng lớp yangban Song song với dòng gốm Pun-cheong-sa-gi là dòng sứ trắng Baek-ja, được xem là sản phẩm chủ đạo trong nghệ thuật gốm sứ Korea thời Joseon Sứ trắng ra đời khi triều Minh yêu cầu triều đình Joseon triều cống các cống phẩm có chất lượng cao Sứ trắng ra đời với mục đích ban đầu là như thế Nhưng càng về sau, nhiều Nho sĩ cho rằng, màu xanh là màu của Phật giáo, còn màu trắng là màu tượng trưng cho Nho giáo, do đó, sứ trắng được nhiều Nho sĩ, nhất là các quan lại triều đình và các quý tộc chuộng dùng Riêng về phần gốm sứ thời Joseon, chúng tôi sẽ trình bày trong phần tiếp theo

Về kiến trúc, trong những thế kỷ đầu của thời Joseon, lối kiến trúc vẫn kế thừa nền văn hóa của những triều đại trước nhưng do ảnh hưởng của Nho giáo, người dân Joseon lại thích những nét thiết kế đơn giản, bình dị nhưng thanh tao, thể hiện nếp sống chuẩn mực của Nho sĩ

Trang 27

23

Phật giáo phát triển rực rỡ và trở thành quốc giáo thời Goryeo, nhưng sang thời Joseon thì bị bài xích bởi những người theo tư tưởng Nho giáo Những công trình kiến trúc Phật giáo đã không được chú trọng nữa từ khi Taejo lên ngôi Nhưng đến thời vua Sejong, mặc dù vẫn đề cao tư tưởng Nho giáo nhưng ông lại không bài xích Phật giáo Triều đình do vua Sejong đứng đầu cho phép xây dựng lại các chùa trong cả nước, bãi bỏ chính sách đăng ký tăng lữ và không ngăn cấm người dân theo đạo Phật như các vị vua trước đó Sau khi sáng tạo ra chữ Hangeul, Sejong ban lệnh dịch kinh Phật và các tư liệu Nho giáo ra tiếng Hàn Những tư liệu gần đây đã công

bố bản thân nhà vua còn sáng tác bảy khúc nhạc Phật giáo Vì thế, rất nhiều công trình chùa chiền được trùng tu và xây mới trong thời gian vua Sejong trị vì, tuy nhiên, kiến trúc của những công trình này không đạt được độ tinh xảo và tỉ mỉ như thời Goryeo Theo tư tưởng Nho giáo Tính lý học, giữa vua và tôi, cha và con, nam

và nữ có sự phân biệt cao thấp rạch ròi Triết lý đó đòi hỏi nhà cửa của người Hàn thời Joseon cần phải được bố trí theo đúng thứ bậc, địa vị, vai vế, nam nữ Vì thế một ngôi nhà truyền thống của Korea thời Joseon thường có hai khu vực, một dành cho nam giới và một dành cho nữ giới Phòng của nam giới bên ngoài, tương đối thoáng và được trang trí bởi những bức tranh, bình phong thể hiện quyền uy như hổ, rồng Còn phòng của phụ nữ bên trong, kín đáo và ít được trang trí Tân Nho giáo Tính lý học đề cao đạo hiếu nên trong các gia đình yangban thường xây hẳn một công trình biệt lập để thờ cúng tổ tiên

Các kiến trúc gia Joseon theo quan niệm bình dị, đơn giản nên càng về cuối thời Joseon, họ càng đưa ra những ý tưởng thiết kế gần gũi với thiên nhiên, tận dụng các vật liệu có trong tự nhiên đưa vào các công trình kiến trúc Những phù điêu hay những hình ảnh điêu khắc, chạm trổ trên những công trình kiến trúc cũng được đơn giản hóa Ví dụ như hình rồng trên mái ngói, nếu như rồng thời Goryeo có nhiều đường cong uốn lượn, mắt nhỏ nhiều chi tiết, mũi phồng thì rồng trên mái ngói Joseon lại uốn lượn ít hơn, vải to hơn và đầu cũng ít chi tiết hơn Đến giữa thế kỷ XIX, cùng với sự bành trướng của phương Tây, Thiên chúa giáo được truyền bá tại Joseon, những người theo tôn giáo này đã cho xây dựng những công trình nhà thờ,

Trang 28

24

dĩ nhiên những kiến trúc này hoàn toàn chịu ảnh hưởng của Phương Tây, trong một vài công trình, người ta còn mời cả kiến trúc sư từ phương Tây sang để trực tiếp quan sát và thiết kế Những công trình này tuy không nhiều nhưng cũng tạo ra được

sự ảnh hưởng đến các công trình kiến trúc khác của người dân Joseon ra đời cùng thời

Về những sáng tác văn chương, sau khi chữ Hangeul được tạo ra thì bên cạnh dòng văn học chữ Hán tồn tại lâu đời tại Korea thì dòng văn học chữ quốc ngữ cũng

ra đời và phát triển vô cùng nhanh chóng Văn học chữ Hán giai đoạn này có ba dòng sáng tác chính, một là văn học quán các, dòng văn học này về đại thể có nội dụng chủ yếu là ca ngợi triều đình, chú trọng hình thức và kỷ xảo văn chương; hai

là dòng văn học sĩ lâm với đội ngũ sáng tác chính là các sĩ lâm, với quan điểm sáng tác thực dụng, nhấn mạnh nội dung hơn hình thức, cho rằng văn học chỉ phát huy được ý nghĩa của nó khi phản ánh đúng hiện thực cuộc sống; ba là dòng văn học phương ngoại nhân do những văn nhân thoát khỏi ràng buộc của cuộc sống quyền lực, chống lại thể chế, sống tự do tự tại theo ý thích của mình, tác phẩm văn học của

họ không theo hình thức quan liêu ca tụng như văn học quán các, cũng không quá hiện thực như văn học sĩ lâm mà đi theo những chủ đề mơ ảo, nhằm để giải tỏa những nỗi buồn do không thực hiện được khát vọng trong cuộc sống hiện tại

Về văn học quốc ngữ, sijo (시조, thời điệu) trở thành một trong những thể

loại chính của văn chương bản địa Sijo ra đời từ cuối thời Goryeo nhưng đạt được

sự phát triển vượt trội vào thời Joseon, nhất là từ giữa thế kỷ XVI, sijo được xem như một bài thơ có âm điệu, khi đọc phải ngâm mới thể hiện được hết cái hồn của bài thơ Các Nho sĩ yangban là những người sáng tác chính của sijo trong thời kỳ đầu, nội dung đa phần phản ánh và ca ngợi những luân lý của Nho giáo với nguyên tắc sáng tác chủ đạo là đạo đức mới là thứ chính còn tình cảm là thứ yếu Càng về gần cuối thời Joseon, khi một tầng lớp trung gian giữa quý tộc yangban và thứ dân được hình thành với tên gọi là trung nhân được hình thành thì thể loại saseol sijo (사설시조, tứ thuyết thời điệu) ra đời Saseol sijo còn được gọi là jangsijo (장시조, trường thời điệu) vì một bài sijo thường có đến 3 khổ thơ Tầng lớp trung nhân sáng

Trang 29

25

tác sijo theo khuynh hướng xa rời, thậm chí còn chống lại những giá trị tư tưởng của Tính lý học mà hướng nội dung tới việc miêu tả cuộc sống hiện thực Đề tài của saseol sijo vô cùng đa dạng phong phú như ca ngợi thiên nhiên, cuộc sống lao động, nói lên khát vọng tình yêu, châm biếm đả kích sự suy đồi trong đạo đức của giới quý tộc

Một thể loại khác cũng được hình thành sau khi chữ Hangeul được tạo ra là

kasa (가사, ca từ) Ra đời khoảng thế kỷ XV, kasa chính là hình thức phổ lại của

những bài dân ca mang tính giáo huấn Khi mới ra đời kasa có nội dung chủ yếu là

ca ngợi lòng trung quân của các quý tộc yangban, giáo dục dân chúng phải làm trọn đạo bề tôi Nhưng đến nửa sau thế kỷ XVII, khi tầng lớp bình dân và phụ nữ cũng cho ra đời nhiều bài kasa thì nội dung của kasa không chỉ gói gọn trong việc ca ngợi những tư tưởng Nho giáo tốt đẹp nữa Vẫn với mục đích chính là giáo huấn con người, nhưng kasa giai đoạn này phơi bày cuộc sống của tầng lớp trung lưu và hạ lưu, bày tỏ khát vọng muốn thoát khỏi sự kiềm kẹp của những quy tắc luân thường

mà Nho giáo Tính lý học đặt ra

Những tiểu thuyết bằng chữ quốc ngữ cũng ra đời, tuy giai đoạn đầu vẫn bị xem thường nhưng nhờ những sáng tác này, chữ quốc ngữ được phổ biến rộng rãi hơn trong dân chúng Những sáng tác tiểu thuyết còn khá rời rạc cho đến thế kỷ XVII, khi trong giới văn chương có phong trào phát hưng tiểu thuyết thì hàng loạt những sáng tác ra đời và lưu truyền Nổi trội phải kể đến những tác giả như Kim

Man Chung (김만중, Kim Vạn Trọng 1637 - 1692), Heo Gyeon (허군, Hứa Quân

1569 - 1618)… Bên cạnh tiểu thuyết cổ điển bằng chữ quốc ngữ, thì những tiểu thuyết được viết lại từ những những vở nhạc kịch Pansori cũng được nhiều tầng lớp độc giả đón nhận

Nhìn chung, trên cơ sở kế thừa những giá trị truyền thống của các triều đại trước, văn hóa nghệ thuật thời Joseon đã có được một bước tiến dài với rất nhiều thành tựu để lại cho hậu thế Trong suốt bảy thế kỷ, đời sống chính trị - văn hóa - xã hội thời Joseon do hệ tư tưởng của Nho giáo Tính lý học chi phối, luôn đi theo một chuẩn mực nhất định Văn hóa nghệ thuật thời kỳ này nhằm đề cao lối sống thanh

Trang 30

26

cao giản dị của tầng lớp Nho gia nên cũng không quá bóng bẩy trau chuốt mà gần gũi hơn với thiên nhiên và con người Đến gần cuối thời Joseon, khi nhiều học phái hiện thực ra đời, thì văn hóa nghệ thuật Joseon cũng tạo ra được nhiều khuynh hướng mới, thoát khỏi sự ảnh hưởng lâu đời của văn hóa Trung Hoa, tạo dấu ấn riêng của dân tộc mình trong từng công trình và tác phẩm

1.2 Khái quát về nghệ thuật gốm sứ Korea thời Joseon (1392 - 1910)

1.2.1 Gốm sứ Korea trước thời Joseon (khoảng 3000 năm tr.CN đến cuối thế

kỷ XIII)

1.2.1.1 Gốm sứ bản địa

“Gốm sứ bản địa được hiểu là loại gốm sứ ra đời do chính dân tộc đó tạo ra, phản ánh rõ nét tính cách của dân tộc và chưa chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài” 11 Theo các tài liệu nghiên cứu khảo cổ thì tổ tiên của người Hàn đến bán

đảo Triều Tiên vào khoảng 5.000 năm tr.CN, họ sống tập trung ở những vùng ven sông, biển, sinh sống bằng nghề săn bắt, hái lượm và nông nghiệp thô sơ Ban đầu, người Hàn cổ sử dụng các vật dụng được làm từ đá hoặc thân cây để sản xuất hoặc chứa thức ăn, nhất là các loại thức ăn dùng để dự trữ trong thời gian dài Do sống gần các con sông nên họ đã phát hiện ra rằng khi lấy bùn tạo thành hình một vật nào

đó và đem phơi dưới nắng thì sẽ thu được một sản phẩm là một khối cứng và nhẹ hơn rất nhiều so với đá, chính vì thế họ đã dùng đất tạo thành các vật đựng thức ăn, tuy nhiên loại vật dụng này không bền, dễ vỡ và có mùi hôi của bùn Về sau, khi người Hàn nhận ra rằng nếu đem những thức ăn nướng trên lửa thì sẽ khử được mùi hôi của chúng, họ cũng áp dụng vào việc nung các loại đồ đất và nhận thấy rằng, đất được nung trong nhiệt độ càng cao thì sẽ càng cứng hơn Chính vì thế họ ngày càng nâng cao nhiệt độ nung đất tạo một loại sản phẩm mới, đó là đồ đất nung Đây là loại gốm bản địa của người Hàn

Đặc điểm chung của gốm bản địa ra đời trên bán đảo Triều Tiên là sử dụng chất liệu chủ yếu là đất sét hoàng thổ, một loại đất sét có dạng bùn, thành phần có pha cát, không có hoa văn hoặc hoa văn cực kì đơn giản Khi mới ra đời, các loại đồ

11 Theo định nghĩa của Bài viết Quaterly on Korean Culture in trên Tạp chí Koreana, số 3, năm 1987, trang

14

Trang 31

Khoảng 3.000 năm tr.CN, đồ gốm với hoa văn hình răng lược đã ra đời, có thể nói loại đồ gốm này được xem là đồ gốm tiêu biểu của thời đồ đá mới ở bán đảo Triều Tiên Bề ngoài của đồ gốm này có hình dáng chữ V hơi tròn, mặt gốm được trang trí cẩn thận với các hoa văn là các nhóm đoạn thẳng xiên song song, hoặc xoay hướng khác nhau tạo thành hình xương cá Mẫu hoa văn này ngoài ý nghĩa trang trí còn mang ý nghĩa tín ngưỡng Trong hầu hết nghệ thuật thời sơ khai, các đường thẳng được bố trí xiên hoặc song song có ý nghĩa biểu tượng là nước [Lee Ki Baik, 2002: 14] Nước là nguồn thức uống chủ yếu, nguồn cung cấp thực phẩm cho con người, ngoài ra còn là nguồn tưới tắm cho nông nghiệp, là yếu tố không thể thiếu cho sự tồn tại của mọi sinh vật trên trái đất Khi nền nông nghiệp khởi phát, ngoài hoa văn đường thẳng tượng trưng cho nước này, các hoa văn đường cong, xoắn ốc, gợn sóng, hình bán nguyệt, chấm tròn nhỏ, gấp khúc mang ý nghĩa của các hiện tượng tự nhiên như mưa, sấm, chớp, gió, bão, v.v

Hình 1: Gốm hoa văn hình răng lược

(Nguồn:http://kids.cha.go.kr/kids/school/explanation/18.jsp?mc=KD_03_01_01 )

Trang 32

28

Đến cuối thời đồ đá mới thì dạng trang trí hoa văn bề mặt không còn nữa và

đồ gốm vào thời gian này chỉ có hoa văn xung quanh vành Bước sang thời đồ đồng (khoảng 1.000 ~ 3.000 tr.CN), tộc người Tungus từ Bắc Á đã đến bán đảo Triều Tiên, họ khai sinh ra kiểu đồ gốm mới có đáy bằng, không hoa văn, thay thế cho loại đồ gốm đáy tròn và nhọn thời đồ đá mới, loại gốm này được gọi là gốm Mu-

mun (무문, gốm vô văn) [Lee Ki Baik, 2002: 16]

Vào khoảng giữa thế kỷ III đến thế kỷ I tr.CN, đồ gốm trên bán đảo Triều Tiên đã có sự thay đổi về màu sắc và kiểu dáng Đồ gốm màu vàng và đỏ được thay thế bằng đồ gốm bóng màu đen Loại bát và ly có chân cao xuất hiện, kiểu dáng mặc dù không thực dụng lắm nhưng đã góp phần làm trang trọng các nghi lễ Các loại nồi có quai, bình có tay cầm hình tù và, chậu hình màu gà

Trong buổi đầu thời Tam Quốc, đồ gốm bản địa có nhiều biến đổi, chén nhỏ đáy bằng trước đây được thay bằng chén hình cầu có kích thước lớn hơn, quanh đáy tròn trang trí các sọc mờ Đặc sắc nhất thời này là những chiếc bình gốm có hình dáng tự nhiên, chẳng hạn như bình hình con vịt, ngựa thân rỗng được tìm thấy ở vùng Đông Nam Korea Loại bình này được nung ở nhiệt độ từ 800 – 1.000o

C, bằng với nhiệt độ nung ngói

Khoảng năm 300, một tiến bộ kỹ thuật quan trọng bậc nhất trong nghề gốm

đã được ứng dụng, đó là sự ra đời của bàn xoay tạo hình gốm và lò nung gốm Các thợ gốm đã tăng nhiệt độ nung gốm lên đến 1.200 – 1.300oC làm gốm trở nên cứng hơn và không thấm nước Loại gốm ra đời ở nhiệt độ này có độ cứng hơn so với các loại gốm trước đó, khi người ta gõ vào thì nghe âm thanh rắn như âm thanh khi gõ vào đá, vì thế được gọi là Seok-ki (석기, thạch khí) Giai đoạn này, ngoài việc tăng nhiệt độ nung gốm, thợ gốm còn biết cách điều khiển dòng khí bên trong là bằng cách đóng, mở cửa lò, việc này giúp gốm chuyển từ màu hơi xám sang xám đậm hoặc đen

Seokki làm bằng bàn xoay nổi tiếng nhất là những chiếc bình lớn đáy tròn, viền những đường hoa văn bện chéo Loại gốm này được sản xuất trên khắp bán đảo Triều Tiên trong suốt thời Tam Quốc, và có nguồn gốc khai sinh ở Gim-hae

Trang 33

29

(김해 Kim Hải) thuộc vương quốc Kaya Các thợ gốm Beakjae (백제, Bách Tế 18

tr.CN – 600 s.CN) và Shilla (신라, 67 tr.CN - 668 s.CN) vẫn tiếp tục sản xuất loại hình Seokki đáy tròn một thời gian dài sau khi Kaya sát nhập vào Shilla năm 562 s.CN

Seokki có màu xám, kiểu dáng đơn giản, thô được xem là biểu trưng của đồ gốm thời Tam Quốc Có thể nói kiểu hình cổ dài là mốt của thời này, bình có cổ thon dài, vành miệng rộng, chân ngắn choãi ra Sự giống nhau của những chiếc bình Shilla, Gaya, Baekje cho thấy ba vương quốc này đã có sự giao lưu rất mật thiết Một loại đồ gốm khác cũng rất nổi tiếng là cốc và bát chân cao Về hoa văn, Seokki Shilla thường được trang trí bằng những hoa văn cứng rắn hình chữ V bên trong những đường vẽ song song, Seokki Gaya thì có hoa văn hình răng cưa

Hình 2: Cốc gốm có chân cao

(Nguồn:http://blog.naver.com/PostView.nhn?blogId=minjun199910&logNo=70138261389 )

Nổi bật nhất trong số các sản phẩm gốm thế kỷ V – thế kỷ VI là các đôn Seokki cao Shilla và Baekje cũng dùng loại đôn này, nhưng chính Kaya mới là nơi sản xuất ra chúng trước tiên Lúc đầu các đôn Seokki được làm không cao lắm nhưng dần dần được làm cao hơn và đẹp hơn Độ cao và trọng lượng của chúng chắc chắn để phục vụ cho các buổi lễ quan trọng ngoài trời, cầu xin các đấng linh thiêng bảo vệ hòa bình, phồn thịnh cho đất nước [Nguyễn Long Châu, 2000: 294]

Trang 34

30

Trong thời Tam Quốc còn có những loại đồ gốm rất lạ, đặc biệt là loại đèn dầu làm bằng gốm được cấu tạo với nhiều chén con đều nhau đặt vòng quanh một cốc lớn chứa dầu Loại đèn này về sau được chế tác rất tinh xảo và được sử dụng để thắp sáng các cung điện Hàn Quốc

1.2.1.2 Đồ gốm Hàn Quốc dưới những ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa

Vào giữa thế kỷ IV, một trong ba vương quốc trên bán đảo Triều Tiên lúc này là Koguryo đã trở nên hùng mạnh nhờ vào những cuộc chiến với các thế lực Trung Hoa, Thông qua các cuộc chiến này, văn hóa Trung Hoa đã thu nhập vào Korea và đã có những ảnh hưởng khá sâu đậm

Đạo Phật được du nhập vào Korea vào cuối thế kỷ IV đã đem đến cho người Hàn một phong tục mai táng mới: chuyển từ hình thức chôn cất sang hình thức hỏa thiêu Các loại đồ gốm dùng để đựng cốt xuất hiện, thường dùng để đựng di cốt của những người chết thuộc các gia đình quý tộc hoặc của các tín đồ Phật giáo Những bình đựng di cốt bằng gốm này thường có nắp đậy, được trang trí với đường rãnh ngang hay với những đường giống như những dải băng lụa khắc vào thân hình

Bước sang thời Shilla thống nhất, đồ gốm không có nhiều thay đổi về chất liệu, màu sắc và kiểu dáng Loại đồ gốm dùng để chứa di cốt được trang trí có phần tinh xảo với các hoa văn được vẽ hoặc khắc hình hoa hồng, hình tròn trên khắp thân gốm Đặc biệt là loại gốm này được đánh rất bóng bằng kỹ thuật đánh bóng bằng tay, không giống như loại gốm được nung nóng bằng nhiệt độ vào thời Tam Quốc

Cũng vào thời kỳ này, quan hệ giữa nhà nước Shilla và nhà Đường trở nên tốt hơn, thể hiện qua việc giao lưu văn hóa, việc qua lại của các đoàn sứ giả, các lưu học sinh, tăng lữ và thương nhân Thương mại trên biển giữa hai nhà nước ngày càng tăng cường và phát triển rất phồn thịnh Nhiều lưu học sinh Shilla được phái sang nhà Đường để học thêm hay học về Phật giáo Sau khi trở về nước, họ đã truyền bá những kiến thức về văn hóa [Ban biên soạn giáo trình Hàn Quốc học, 2004: 59 - 60] Ở Trung Quốc thời này, những nghề thủ công nghề như dệt lụa, chế tác gốm, nghề mộc… rất phát triển Vùng tây vực Trung Quốc, do có nhiều đất sét cao lanh nên nghề gốm đặc biệt phát triển mạnh Các thợ gốm Trung Hoa đã tạo ra

Trang 35

31

được các loại sản phẩm với chất men tự nhiên sử dụng màu pha tạo ra từ màu của thực vật hay màu của kim loại Các thợ gốm Korea cũng đã kết hợp màu của tro từ củi với một loại đất sét cao lanh để tạo ra một màu men xanh ngọc trông rất tự nhiên Loại gốm men xanh này rất được ưa chuộng ở Trung Quốc, đặc biệt là trong các ngôi chùa, các gia đình quý tộc và hoàng cung

Hình 3: Bình đựng tro cốt thời Shilla thống nhất

(Nguồn: http://blog.daum.net/nh_kim12/17200435)

Các thợ gốm Trung Hoa nhờ vào quan hệ mua bán giữa hai nước cũng đã có

cơ hội tiếp xúc với gốm sứ Korea, họ cũng bắt đầu nghiên cứu tìm cách tráng men lên mặt gốm, tuy nhiên do kỹ thuật chưa phát triển nên những sản phẩm được tráng men còn khá hạn chế Gốm sứ Shilla thường có màu xám, nhiều loại từ xám đậm đến xám nhạt Đồ gốm được nung ở nhiệt độ tương đối cao, tạo ra sản phẩm có được độ cứng chắc chắn Đồ gốm giai đoạn này có ít loại được tráng men, tuy nhiên, người ta nhận xét rằng trên mặt gốm giai đoạn này chứa một loại men tự nhiên, điều này là do trong thành phần của đất sét có chứa silic Loại đồ gốm chiếm ưu thế hơn

cả là một loại ly có nắp đậy, chân cao và có giua trang trí và loại chậu có cổ hình trụ,

có khi chân chậu có giua trang trí, có khi không Loại ly có nắp đậy có đặc điểm là

gù ở phần đỉnh nắp, và có một hay hai hình chữ nhật được khoét ở chân ly, nhưng cũng có khi là hình tam giác hay hình tròn Những loại đồ gốm này thường được sử dụng để chứa thức ăn, trong một số mẫu đồ gốm khai quật được xác định thuộc giai

Trang 36

32

đoạn này, người ta tìm thấy một số vỏ sò hay một số dấu tích thực phẩm bên trong Loại chậu có cổ hình trụ cao, thân hình cầu và đáy tròn Một số chậu có chân thấp nhưng một số thì không có chân Các loại bình thì dùng để chứa thức ăn, còn các loại chậu này thì dùng để chứa nước Có nhiều loại khác nhau trong hai loại lớn này, chẳng hạn như ly thì có ly chân cao, ly chân thấp, ly không chân, ngoài ra còn có các loại đôn, các loại bệ bằng gốm Hầu hết đồ gốm Shilla được trang trí bằng các mẫu hoa văn hình học như hình gợn sóng, đường kẻ chấm, hình tam giác, hình tròn, hình zic-zac, đường gạch chéo, đường song song… [Choi Sun Woo, 2002: 109]

Do ảnh hưởng từ việc xây mộ của người Hán và tư tưởng Phật giáo, người Hàn Quốc quan niệm trần sao âm vậy nên người chết được chôn trong những ngôi

mộ rất to để được chôn kèm theo các loại đồ cúng tế Trong một số ngôi mộ, có một khoang riêng dùng để chứa các đồ cúng tế (còn gọi là quà tang), chủ yếu là đồ đất nung được chế tác đơn giản, không hoa văn và giá thành rẻ Người ta đã tìm thấy có đến hơn 300 loại đồ gốm khác nhau được tìm thấy trong một khoang riêng của một ngôi mộ12

Vào thế kỷ XI, đồ gốm trở nên nền nã và thanh mảnh hơn Chẳng hạn các bình đựng di cốt thì không còn họa tiết, vẻ đẹp của chúng tùy thuộc vào kiểu dáng chứ không còn phụ thuộc vào hoa văn trang trí bên ngoài

Lò nung được phát triển cấu trúc từ những lò dạng đơn thành các lò liên khoang, đồng thời, thông qua việc buôn bán với Trung Quốc, thợ gốm Korea đã tích lũy được kinh nghiệm trong việc sử dụng men gốm xanh trông có vẻ rất tự nhiên Những thử nghiệm vào thời này đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của Celadon (thanh sứ - sứ men ngọc) vào thời Goryeo

Tuy nhiên, thành tựu nổi bật nhất của thợ gốm Goryeo là đã vận dụng kỹ thuật nung gốm thử nghiệm của thời Shilla thống nhất để làm ra đồ sứ tráng men ngọc, loại sứ này vẫn được thế giới biết đến với tên gọi là Celadon Vào thời Goryeo, Phật giáo nở rộ và có nhiều ảnh hưởng đến các thành tựu văn hóa Những

12 Ngoài gốm sứ, người ta còn chôn theo vải vóc, lương khô, các loại trang sức… để người chết không bị nghèo đói ở thế giới bên kia [Kim Young Sub, (Nghiên cứu lịch sử Phật giáo Hàn Quốc), 2012 (tái bản): 48- 51]

Trang 37

33

ngôi chùa Phật giáo cũng lên ngôi vào thời Goryeo và cùng với sự gia tăng của các ngôi chùa và các lễ hội Phật giáo cũng tăng lên Giữa thế kỷ X, một số nghệ nhân gốm Goryeo đã đi sang Trung Quốc học tập, họ đã tạo ra Celadon bằng cách sử dụng nghệ thuật khảm và tráng men đồng [Lee Ki Baik, 2002: 23] Kỹ thuật này được phát triển đầu tiên ở Trung Quốc nhưng chỉ phát triển đầy dủ và hoàn hảo nhất qua bàn tay chế tác của các thợ gốm Korea Celadon Goryeo được công nhận là đẹp vào bậc nhất thế giới Mặc dù mang nhiều ảnh hưởng của đồ sứ tráng men ngọc đời Tống, nhưng màu ngọc của Celadon Goryeo lại có những nét rất riêng biệt và độc đáo Hơn nữa, tuy đồ sứ tráng men ngọc đời Tống vốn nổi tiếng vì kiểu dáng uy nghi, cách trang trí phóng khoáng cùng với lớp men đục nhưng Celadon Goryeo lại nổi bật hơn hẳn nhờ vào kiểu dáng tự nhiên, tinh tế, hài hòa trong sự cân bằng với các đường trang trí mềm mại, nhịp nhàng cùng với lớp men trong Các nghệ nhân Goryeo đã sử dụng những công thức và kỹ thuật nung bí mật làm ra nhiều đồ dùng như bình, lọ, chén, bộ ấm trà, lư hương… với màu sắc vô cùng độc đáo và thanh tú

Hình 4 : Celadon Goryeo

(Nguồn:http://blog.naver.com/PostView.nhn?blogId=hospitalx&logNo=90076700860)

Trang 38

34

Vào thế kỷ VII, Celadon Goryeo trơn xuất hiện Đây là loại Celadon Goryeo được xem là cao quý nhất trong các loại vì chủ yếu được dùng trong hoàng cung, các gia đình quý tộc và các đền chùa Phật giáo sử dụng

Năm 1231, người Mông Cổ sang xâm lược bán đảo Triều Tiên đã phá hủy rất nhiều công trình văn hóa của Goryeo, một trong những công trình lớn bị tàn phá là công trình bản khắc mộc Đại Tàng Kinh của chùa Phu Nhân Tự ở Daegu và tháp chín tầng của Hoàng Long Tự ở Gyeong-ju Người Mông Cổ không chỉ phá hoại những lò làm gốm mà còn giết hại nhiều thợ gốm, theo nhiều bản ghi chép lịch sử thì có hơn 1.500 lò gốm bị thiêu hủy hoặc bị giật sập hoàn toàn và có gần 1.000 thợ gốm bị giết, trong đó có rất nhiều nghệ nhân nắm giữ bí quyết làm gốm của Goryeo, những kiểu mẫu Celadon Goryeo trở nên thô kệch đi và kỹ thuật làm Celadon đã biến mất vào thế kỷ XIV

1.2.2 Gốm sứ Korea thời Joseon (1392 - 1910)

Thời Joseon, người ta khuyến khích các loại đồ gốm sứ đơn giản, mang nét đẹp mộc mạc, được sử dụng rộng rãi hơn trong mọi tầng lớp dân chúng Gốm sứ được chia ra làm hai loại chính: gốm Pun-cheong-sa-gi (분청사기, gốm men lam hay xanh xám) và sứ trắng gọi là Baek-ja (백자, sứ trắng)

Loại gốm đầu thời Joseon, gốm Pun-cheong-sa-gi, được mọi tầng lớp nhân dân sử dụng rộng rãi, thể hiện vẻ đẹp của nghệ thuật dân gian Hàn Quốc Khoảng thời gian từ cuối thời Goryeo đến đầu thời Joseon (khoảng thế kỷ XIV - XV), kỹ thuật làm Celadon đã được kế thừa để tạo ra gốm Pun-cheong-sa-gi thông qua các

kỹ thuật dát, vẽ, khảm, sơn cùng với kỹ thuật nhuộm đất sét màu xanh xám hay tráng thêm lớp men áo Kiểu dáng của Pun-cheong được biến đổi trở nên mộc mạc hơn để phù hợp hơn với các sinh hoạt hàng ngày của nhân dân

Trang 39

35

Hình 5: Bình gốm Pun-cheong thời Joseon

(Nguồn: http://blog.ohmynews.com/seulsong/371202)

Ảnh hưởng xã hội bao trùm lên thời Joseon là tư tưởng Nho giáo Sự thay đổi

từ thời đại Goryeo với phong thái ung dung của tầng lớp quý tộc sang tư tưởng xã hội mang tính thực dụng của Nho giáo đã được phản ánh vào nghệ thuật gốm sứ của thời kỳ này Triều đình Joseon tiếp thu tư tưởng Tân Nho giáo rất chuộng vẻ đơn giản và sắc trắng của đồ sứ Đó là do màu trắng được cho là màu tượng trưng của các đức tính: trong sạch, lương thiện, nghiêm túc và khiêm tốn Sứ trắng là loại đồ

sứ hoàng cung rất ưa chuộng Cung điện của vua Sejong (1418 - 1450) là một ví dụ điển hình, mọi vật dụng bằng sứ đều màu trắng Đặc biệt, loại sứ trắng trơn, không

có hoa văn trang trí, dù đơn giản nhưng rất được ưa chuộng Chúng được sử dụng trong các bữa tiệc đặc biệt, các lễ hội và dùng làm hủ đựng di cốt

Vào đầu thế kỷ XV, đồ sứ được trang trí kết hợp với kim loại như sắt hay oxit đồng cũng phát triển mạnh Loại sứ được phủ màu xanh cô ban rất được yêu thích bởi hoàng cung và các gia đình quý tộc, nhiều hơn loại sứ trắng trơn vì loại này rất khó sản xuất nên rất hiếm Đồ sứ có nước men cô ban đẹp nhất được sản xuất tại các lò gốm hoàng gia và được các họa sĩ triều đình vẽ trang trí bằng các hoa văn sinh động Đồ sứ hạng nhì loại này được sản xuất tại các lò gốm địa phương và

có các loại họa tiết khá mờ nhạt Giống như Trung Quốc, kiểu trang trí đồ sứ phổ

Trang 40

36

biến trong thời Joseon thường là hình rồng, phụng, hoa mận, hoa lan, hoa cúc, chim chóc, thập trường sinh, phong cảnh… Mặc dù sắt và oxit đồng đã được sử dụng từ thời Goryeo nhưng các kim loại đó để trang trí đồ sứ thì đến tận thế kỷ XVII mới thật sự thịnh hành và có xu hướng thường kết hợp với các hình họa trúc, hổ Oxit đồng có màu đỏ cũng chiếm một vị trí chắc chắn vào thế kỷ XVIII trong nghệ thuật gốm sứ Thợ gốm đã sử dụng oxit đồng đỏ để làm sống động thêm những hoa văn khắc chạm Hoa sen, thông, chim sếu là những chủ đề chính của phong cách trừu tượng và ấn tượng, phong cách thiên về tự nhiên, lột tả ý tưởng hài hòa, vui nhộn, khác thường và sắc đỏ sáng chói

Hình 6: Bình sứ trắng Joseon

(Nguồn: http://www.bongallery.com/kboard/ )

Một điểm đáng lưu ý về nghệ thuật gốm sứ thời Joseon là sự ra đời của các Punwon, đây là những lò gốm do triều đình tổ chức và quản lý Punwon (분원, lò ngự dụng) hoạt động rất gần kinh đô Hanyang (Seoul ngày nay) từ những năm 1460 Punwon có nhiệm vụ sản xuất gốm sứ phục vụ cho hoàng cung Các thợ gốm trong Punwon là những thợ gốm có tay nghề và tuổi nghề cao Punwon ban đầu được xem

là nơi tập trung sản xuất gốm của thời Joseon, nhưng từ thế kỷ XVI, nhu cầu sử dụng gốm đã vươn xa, vượt ra khỏi phạm vi triều đình Joseon và kinh đô, các lò

Ngày đăng: 07/05/2021, 18:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban biên soạn giáo trình Hàn Quốc học trường Đại học Quốc gia Seoul, Lịch sử Hàn Quốc, Nxb. Đại học Seoul, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Hàn Quốc
Nhà XB: Nxb. Đại học Seoul
2. Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Tp. HCM, Gốm Việt Nam tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam Tp. HCM, Nxb. Trẻ, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Tp. HCM," Gốm Việt Nam tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam Tp. HCM
Nhà XB: Nxb. Trẻ
3. Bùi Minh Trí- Kerry Nguyễn Long, Gốm hoa lam Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gốm hoa lam Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
4. Hoàng Xuân Chính, Tiến trình lịch sử Việt Nam, Tạp chí Văn hóa Nghệ An, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình lịch sử Việt Nam
5. Hwang Gi Yeon, Trịnh Cẩm Lan, Tra cứu văn hóa Hàn Quốc, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tra cứu văn hóa Hàn Quốc
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
6. Lee Ki Baik, Korea xưa và nay: Lịch sử Hàn Quốc tân biên,Nxb. Đại học Quốc gia, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Korea xưa và nay: Lịch sử Hàn Quốc tân biên
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia
7. Lê Quang Thiêm, Văn hóa văn minh và yếu tố văn hóa truyền thống Hàn Quốc , NXB Văn học Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa văn minh và yếu tố văn hóa truyền thống Hàn Quốc
Nhà XB: NXB Văn học Hà Nội
8. Lưu Tuấn Anh, Núi và nước trong tranh sơn thủy Korea, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc tế “Việt Nam và Korea trong phối cảnh Đông Á”, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM, 2011, tr 122 – tr 135 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Núi và nước trong tranh sơn thủy Korea", Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc tế “Việt Nam và Korea trong phối cảnh Đông Á
9. Nguyễn Đình Chiến- Phạm Quốc Quân, 2000 năm gốm Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2000 năm gốm Việt Nam
10. Nguyễn Đình Chiến, Cẩm nang đồ gốm Việt Nam có minh văn , thế kỷ XV- XIX, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam xuất bản, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang đồ gốm Việt Nam có minh văn , thế kỷ XV- XIX
11. Nguyễn Khắc Xuân Thi, Gốm sứ Trung Hoa thế kỷ XIX xuất khẩu sang Việt Nam và tác động của nó, Luận văn Thạc sĩ, năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gốm sứ Trung Hoa thế kỷ XIX xuất khẩu sang Việt Nam và tác động của nó
12. Nguyễn Long Châu, Tìm hiểu văn hóa Hàn Quốc, Nxb. Giáo Dục, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn hóa Hàn Quốc
Nhà XB: Nxb. Giáo Dục
13. Nguyễn Ngọc Thơ, Gốm sứ Trung Hoa thời Minh Thanh – Tập 1: Hoa văn rồng phụng, NXB Đà Nẵng, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gốm sứ Trung Hoa thời Minh Thanh – Tập 1: Hoa văn rồng phụng
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
14. Nguyễn Thị Thu Trúc, Tượng và quần thể tiểu tượng gốm ở miếu Thiên Hậu – Hội quán Tuệ Thành, Luận văn Thạc sĩ, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tượng và quần thể tiểu tượng gốm ở miếu Thiên Hậu – Hội quán Tuệ Thành
15. Nguyễn Thương Huyền, Vài nét về dòng sứ trắng thời đại Choson trên bán đảo Triều Tiên. Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, kỳ 1(2007).NXB Viện nghiên cứu Đông Bắc Á ,2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về dòng sứ trắng thời đại Choson trên bán đảo Triều Tiên
Tác giả: Nguyễn Thương Huyền, Vài nét về dòng sứ trắng thời đại Choson trên bán đảo Triều Tiên. Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, kỳ 1
Nhà XB: NXB Viện nghiên cứu Đông Bắc Á
Năm: 2007
17. Nguyễn Văn Thủy, Nghề gốm ở Bình Dương từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1975, Luận văn Thạc sĩ, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề gốm ở Bình Dương từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1975
19. Phan Huy Lê, Nguyễn Đình Chiến và Nguyễn Quang Ngọc, Gốm Bát Tràng thế kỷ XIV-XIX, Nxb. Thế Giới, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gốm Bát Tràng thế kỷ XIV-XIX
Nhà XB: Nxb. Thế Giới
20. Tăng Bá Hoành ( chủ biên), Gốm Chu Đậu, Kinh Book, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gốm Chu Đậu
21. Trần Khánh Chương, Nghệ thuật gốm sứ Việt Nam, Nxb. Hội Mỹ thuật Việt Nam, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật gốm sứ Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Hội Mỹ thuật Việt Nam
22. Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (in lần thứ 4), NXB Tổng hợp Tp. HCM, Tp. HCM, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam
Nhà XB: NXB Tổng hợp Tp. HCM

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w