Lịch sử là những gì liên quan đến quá khứ, mà đây lại là lịch sử thế giới, nó rất xa lạ và lạ lẫm đối với học sinh, chính vì vậy tạo biểu tượng về nền văn hóa vật chất trong dạy học lịch
Trang 1Người hướng dẫn : Dương Thị Tuyết
Đà Nẵng, tháng 5/ 2013
Trang 2LỜ M N
Để hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử, các cán bộ thư viện trường ĐHSP Đà Nẵng đã tạo mọi điều kiện để em có đủ nguồn tài liệu tham khảo thực hiện đề tài Em cũng nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên từ các bạn trong tập thể lớp 09SLS trong suốt quá trình làm đề tài này
Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo và các em học sinh tại các trường THPT Ông Ích Khiêm, Hòa Vang, Phạm Phú Thứ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đã giúp đỡ em về điều tra thực tiễn và tiến hành thực nghiệm sư phạm
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô Dương Thị Tuyết – người đã quan tâm và trực tiếp, tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình làm khóa luận
Mặc dù đã có những cố gắng để hoàn thành tốt đề tài nhưng không tránh khỏi sự thiếu sót Em hy vọng nhận được nhiều sự đóng góp ý kiến từ phía thầy / cô và các bạn để bài khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, ngày 23 tháng 5 năm 2013
Sinh viên thực hiện Trương Thị Nhung
Trang 3PHẦN MỞ ẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 ối tượng và phạm vi nghiên cứu: 4
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: 4
5 Phương pháp nghiên cứu: 5
6 Cấu trúc của đề tài: 5
Ư N 1: SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC T O BIỂU TƯỢN VĂN ÓA VẬT CHẤT TRONG D Y HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI (LỚP 10- Ư N TRÌN UẨN) Ở TRƯỜNG THPT 6
1.1 ơ sở lý luận 6
1.1.1 Một số khái niệm liên quan 6
1.1.1.1 Biểu tượng và biểu tượng lịch sử 6
1.1.1.2 Văn hóa và văn hóa vật chất 8
1.1.1.3 Biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử 12
1.1.2 Phân loại biểu tượng văn hóa vật chất 13
1.1.3 Vai trò, ý nghĩa việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử 18
1.1.3.1 Về mặt giáo dưỡng 19
1.1.3.2 Về mặt giáo dục 21
1.1.3.3 Về mặt phát triển 22
1.2 Thực trạng việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử ở trường THPT hiện nay 24
Ư N 2: Ệ THỐNG CÁC LO I BIỂU TƯỢNG VĂN ÓA VẬT CHẤT SỬ DỤNG TRONG D Y HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI (LỚP 10- Ư N TRÌNH CHUẨN) Ở TRƯỜNG THPT 29
2.1 Phần lịch sử thế giới trong chương trình lịch sử lớp 10- hương trình chuẩn 29
2.1.1 Nội dung cơ bản 29
Trang 4lớp 10 32
2.2 Các loại biểu tượng văn hóa vật chất được sử dụng trong dạy học lịch sử thế giới (Lớp 10- hương trình chuẩn) ở trường THPT 37
Ư N 3: MỘT SỐ HÌNH THỨC VÀ BIỆN PHÁP T O BIỂU TƯỢNG VĂN ÓA VẬT CHẤT TRONG D Y HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI (LỚP Ư N TRÌN UẨN) Ở TRƯỜN T PT TRÊN ỊA BÀN THÀNH PHỐ N NG 60
3.1 Những nguyên tắc cơ bản của việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử 60
3.1.1 ảm bảo tính sư phạm 60
3.1.2 ảm bảo tính khoa học 61
3.1.4 ảm bảo tính vừa sức 62
3.2 Những hình thức và biện pháp tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử thế giới lớp 10 (chương trình chuẩn) ở các trường T PT trên địa bàn thành phố à Nẵng 63
3.2.1 ối với bài nội khóa 63
3.2.1.1 Bài dạy ở trên lớp 64
3.2.1.2 Bài dạy ở thực địa 70
3.2.2 ối với hoạt động ngoại khóa lịch sử 73
3.3 Phần thực nghiệm sư phạm 77
3.3.1 Mục đích thực nghiệm 77
3.3.2 Nội dung và phương pháp thực nghiệm 77
3.3.3 Kết quả thực nghiệm 80
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KH O 83
Trang 5mới dạy và học ở trường THPT thì cần đặc biệt lưu ý đến môn lịch sử
“Lịch sử là một ngành của khoa học xã hội, là hình thức quan trọng của việc con người nhận thức sự phát triển của xã hội” [28;13], là một trong những nguồn tri
thức phong phú của nhân loại, việc dạy học lịch sử ở trường THPT bước đầu cung cấp cho học sinh những hiểu biết, kiến thức cơ bản về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới Vì vậy, dạy và học bộ môn lịch sử được xem là một nội dung quan trọng trong việc giáo dục đạo đức, tình cảm cho học sinh trong nhà trường hiện nay Chính các
nhà sử học Hy Lạp cổ đại đã khẳng định rằng “Lịch sử là cô giáo của cuộc sống”,“Lịch sử là bó đuốc soi đường đi tới tương lai”[11; 91]
Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, lịch sử vẫn chưa phát huy được ưu thế của mình trong công cuộc trồng người của đất nước Nguyên nhân là do chương trình của sách, do tâm lý môn chính, môn phụ từ phụ huynh đến học sinh, do lối học “đối phó”, “học vẹt” của học sinh, và một phần quan trọng là do phương pháp dạy của giáo viên, phần lớn là theo hình thức “thầy đọc - trò chép”, không tập trung vào việc tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh ghi nhớ, hiểu bài, và tạo hứng thú của các em đối với môn học Chính vì vậy, học sinh tỏ ra lơ là, nhàm chán khi học môn sử Để khắc phục tình trạng này thì trước hết nhiệm vụ của người giáo viên là đặc biệt quan trọng, giáo viên cần phải có những phương pháp dạy học hiệu quả hơn, để gây hứng thú cho học sinh trong giờ học, và tập trung sự chú ý của các em đến môn học, hiểu được ý nghĩa của môn học
Trang 6Do đặc trưng riêng biệt của nhận thức lịch sử, việc học tập lịch sử phải dựa trên cơ sở nắm bắt sự kiện và tạo biểu tượng lịch sử Vì vậy, trong dạy học lịch sử, việc tạo biểu tượng có vai trò rất quan trọng Trong dạy học lịch sử ở trường THPT, ngoài việc tạo biểu tượng cho học sinh về nhân vật lịch sử, về hoàn cảnh địa lý, thời gian…thì một vấn đề không kém phần quan trọng trong việc cung cấp tri thức cho học sinh chính là tạo biểu tượng về nền văn hóa vật chất Việc tạo biểu tượng này sẽ giúp các em hình thành trong trí óc mình về những nền văn hóa vật chất mà con người đã vất vã để đạt được Tạo biểu tượng một cách sinh động và có khoa học sẽ gây cho các em hứng thú học tập lịch sử, đồng thời khơi dậy mạnh mẽ những xúc cảm lịch sử đúng đắn, góp phần hình thành nên nhân cách học sinh Bên cạnh đó, phát huy năng lực nhận thức độc lập ở các em khi hiểu sâu sắc sự kiện lịch sử Khóa trình lịch sử thế giới trong chương trình lịch sử lớp 10 (chương trình chuẩn) là một khóa trình quan trọng, đề cập về lịch sử thời nguyên thủy, cổ đại, trung đại và cận đại của thế giới Trong đó nổi lên những nguồn kiến thức quan trọng là nguồn gốc loài người, sự phát đi lên hợp quy luật của xã hội loài người, sự hình thành và phát triển của các nền văn minh nhân loại: Ai Cập, Ấn Độ, Trung Hoa, Hy Lạp…,và các cuộc cách mạng tư sản trong lịch sử thế giới Trong quá trình này, loài người đã có những thành tựu nổi trội, để lại nền văn hóa vật chất phong phú, thậm chí tồn tại cho đến cả ngày nay Dạy học lịch sử khóa trình này sẽ hình thành cho học sinh những hiểu biết phong phú về nền văn hóa vật chất, và có nhận thức đúng đắn về lịch sử thế giới Lịch sử là những gì liên quan đến quá khứ, mà đây lại là lịch sử thế giới, nó rất xa lạ và lạ lẫm đối với học sinh, chính vì vậy tạo biểu tượng về nền văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử thế giới là một việc không
dễ dàng và thuận lợi gì
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên, tôi đã chọn đề tài “Tạo biểu tượng về văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử thế giới (Lớp 10- Chương trình chuẩn) trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” để làm khóa luận tốt nghiệp, với
mong muốn bước đầu đi sâu nghiên cứu các biện pháp tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử thế giới Hơn nữa, giải quyết tốt đề tài này tôi hy vọng sẽ góp phần nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả chương trình dạy – học lịch sử ở các trường THPT hiện nay
Trang 72 Lịch sử vấn đề
Vấn đề tạo biểu tượng nói chung và tạo biểu tượng về văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử nói riêng là những vấn đề quan trọng, góp phần tích cực trong việc cung cấp tri thức lịch sử cho học sinh Thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu lớn nhỏ đề cập đến những vấn đề này
Như trong cuốn “Tâm lý học” (Nxb Thể dục Thể thao Hà Nội, năm 1986) P.A.Ruđich đã định nghĩa “Biểu tượng là những hình ảnh của các sự vật và hiện tượng của thế giới xung quanh được giữ lại trong ý thức và được hình thành trên cơ
sở các tri giác và cảm giác xảy ra trước đó”
John J.Macionis, trong cuốn “Xã hội học” (Nxb Thống kê, năm 1987) đã đưa ra định nghĩa, theo cách hiểu đơn giản nhất thì “Biểu tượng là bất cứ thứ gì mang một ý nghĩa cụ thể được thành viên của một nền văn hóa nhận biết”
Đối với việc tạo biểu tượng lịch sử, điển hình nhất có cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử” tập 1 của Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị
Côi, xuất bản năm 2002, đã nêu lên những vấn đề liên quan đến việc tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh, như về khái niệm, về phân loại và về các biện pháp sư phạm
để tạo biểu tượng lịch sử, và cũng đã đưa ra khái niệm Biểu tượng về văn hóa vật chất
Trần Viết Lưu trong Luận án Tiến sĩ Tâm lý – Giáo dục “Tạo biểu tượng lịch
sử cho học sinh tiểu học” (Hà Nội, năm 1999) đã đề cập đến việc tạo biểu tượng,
biểu tượng lịch sử cho học sinh THCS, đã đưa ra khái niệm cụ thể về biểu tượng và biểu tượng lịch sử
GS.TSKH Trần Ngọc Thêm trong cuốn “Phác thảo chân dung văn hóa Việt Nam” (Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2000), trong phần Khái luận về văn hóa, tác giả đã đưa ra khái niệm về văn hóa, và văn hóa vật chất
Phạm Thị Ngân trong Luận văn Thạc sĩ về phương pháp dạy học lịch sử với đề
tài “Tạo biểu tượng về văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX (Lớp10-Chương trình chuẩn)” (Huế, 2011), đã đề cập rõ về
việc tạo biểu tượng, biểu tượng lịch sử và tạo biểu tượng về văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 10 ở trường phổ thông
Trang 8Bên cạnh đó, còn có nhiều bài viết liên quan đến việc tạo biểu tượng trong dạy học lịch sử cho học sinh Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách đầy đủ, công phu và toàn diện đến việc Tạo biểu tượng về văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử thế giới (lớp 10 – Chương trình chuẩn) Đây chính là vấn đề cần giải quyết của đề tài, kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, các bài viết liên quan là những tài liệu quý báu giúp chúng tôi có thể tổng hợp và có được cơ sở lý luận khi thực hiện đề tài này
3 ối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử thế giới (Lớp 10 – Chương trình chuẩn) ở trường THPT
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Không gian: Các trường THPT trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng
Thời gian: Lịch sử thế giới lớp 10 (Chương trình chuẩn)
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
4.1 Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu đề tài “Tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử thế giới (Lớp 10 – Chương trình chuẩn)” nhằm mục đích xác định vai trò, ý nghĩa của việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử Đồng thời, xác định những biện pháp, nội dung và hình thức sư phạm cần thiết để tạo biểu tượng văn hóa vật chất có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng dạy học lịch sử thế giới lớp 10 (chương trình chuẩn) ở trường THPT
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu cơ sở lý luận về việc tạo biểu tượng, biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử ở trường THPT, và ý nghĩa của nó
- Tiến hành khảo sát cơ bản về cơ sở thực tiễn đối với việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử thế giới lớp 10 (chuẩn) ở các trường THPT hiện nay
- Nghiên cứu mục tiêu, vị trí, nội dung của khóa trình lịch sử thế giới trong chương trình lịch sử lớp 10 (chuẩn), qua đó xác định đối tượng văn hóa vật chất cần tạo biểu tượng để sử dụng vào dạy học khóa trình
Trang 9- Đưa ra các biện pháp, hình thức sư phạm phù hợp để tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử thế giới
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra, đánh giá tính khả thi của đề tài
5 Phương pháp nghiên cứu:
Cơ sở phương pháp luận của đề tài: là dựa vào quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, và quan điểm, đường lối giáo dục của Đảng, Nhà nước
Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu lí luận về việc tạo biểu tượng cho học sinh trong dạy học lịch sử
ở trường THPT
- Nghiên cứu tài liệu: các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về phương pháp dạy học lịch sử, về khóa trình lịch sử thế giới, về văn hóa, văn hóa vật chất; các tạp chí; các khóa luận …có liên quan để tiến hành đề tài
- Điểu tra cơ bản: tiến hành điều tra tình hình việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất của giáo viên trong quá trình dạy học, và mức độ nắm bài của học sinh qua việc tạo biểu tượng của giáo viên Bằng cách trao đổi với giáo viên, học sinh, phát phiếu điều tra và xử lý…
- Thực nghiệm sư phạm: Soạn giáo án và thực nghiệm một bài cụ thể trong khóa trình lịch sử thế giới (Lớp 10 – Chương trình chuẩn)
6 Cấu trúc của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, phần nội dung của đề tài gồm có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất
trong dạy học lịch sử thế giới (Lớp 10-Chương trình chuẩn) ở trường THPT
Chương 2: Hệ thống các loại biểu tượng văn hóa vật chất sử dụng trong dạy học lịch sử thế giới (Lớp 10-Chương trình chuẩn) ở trường THPT
Chương 3: Một số hình thức và biện pháp tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử thế giới (Lớp 10-Chương trình chuẩn) ở trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Trang 101.1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1.1 Biểu tượng và biểu tượng lịch sử
- Khái niệm Ộbiểu tượngỢ:
Khái niệm biểu tượng là đối tượng được nhiều ngành khoa học xã hội quan tâm nghiên cứu
Theo xã hội học, hiểu theo cách đơn giản nhất ỘBiểu tượng là bất cứ thứ gì mang một ý nghĩa cụ thể được thành viên của một nền văn hóa nhận biếtỢ Dù là
âm thanh, hình ảnh, đồ vật hay hành động của con người thì tất cả đều sử dụng như
ký hiệu, và đó là biểu tượng Ngay cả trong cái nháy mắt cũng là biểu tượng dùng
để thể hiện sự quan tâm hay hiểu biết nhauẦ
M.N.Sácđacốp trong Tư duy của học sinh ỘBiểu tượng là hình ảnh về sự vật hoặc hiện tượng của hiện thực được tri giác, được phản ánh từ trước vào ý thức luôn luôn được giữ lại trong trắ nhớ và xuất hiện qua những dấu hiệu chủ yếu của nóỢ [21;16]
Theo Trần Viết Lưu, một Tiến sĩ Tâm lý Ờ Giáo dục đã đưa ra khái niệm
ỘBiểu tượng là hình ảnh của sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan được giữ lại trong ý thức và hình thành trên cơ sở các cảm giác và tri giác xảy ra trước đóỢ
Trong quá trình tri giác thế giới bên ngoài, con người phản ánh các sự vật và hiện tượng xung quanh mình dưới dạng hình ảnh của nó, và sự phản ánh đó mang tắnh trực quan Các hình ảnh mang tắnh trực quan đó luôn tác động lên các cõ quan thụ cảm khác nhau của hệ thần kinh, nó phản ánh vào trong ý thức những đặc điểm bên ngoài của những sự vật, hiện tượng mà ta tri giác Những hình ảnh này sẽ được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định trong ý thức của người tri giác được
Với quan điểm trên P.A.Ruđich cho rằng ỘBiểu tượng là những hình ảnh của các sự vật và hiện tượng của thế giới xung quanh được giữ lại trong ý thức và được hình
Trang 11thành trên cơ sở các tri giác và các cảm giác xảy ra trước đó” [27;172] Biểu tượng
có quan hệ hữu cơ với tất cả các quá trình tâm lý khác như tư duy, cảm xúc, hành động Mối liên kết này sẽ làm cho hình ảnh được tri giác trở nên đầy đủ hơn, phong phú hơn Tuy nhiên, trong thực tế các biểu tượng thường mờ nhạt, kém rõ ràng và rành mạch hơn tri giác; biểu tượng có tính biến dị, tức trong biểu tượng màu sắc, hình dáng, kích thước của vật được biểu tượng có thể thay đổi; hơn nữa, những dấu hiệu về sự vật, hiện tượng đã được tri giác có thể không có trong biểu tượng Những hình ảnh của các sự vật, hiện tượng được giữ lại trong biểu tượng chúng phản ánh mặt bên ngoài của hiện thực, nhưng cũng có trường hợp nhờ tư duy nó phản ánh cả những đặc điểm bên trong của sự vật, hiện tượng mà các cơ quan thụ cảm không tri giác trực tiếp và cụ thể được
Như vậy, biểu tượng là hình ảnh của những sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh, cùng với các tính chất của chúng được tái hiện, được hình dung lại trên
cơ sở cảm giác và tri giác đã xảy ra trước đó Biểu tượng là một trong những hình thức quan trọng của sự phản ánh chủ quan hiện thực khách quan Biểu tượng không hoàn toàn là thực tế, đôi lúc đó là sự tưởng tượng, ảo tưởng, bởi vì đó là thực tế được xây dựng lại sau tri giác Tuy nhiên, những hình ảnh đó cũng không hoàn toàn
là kết quả chủ quan xuất phát từ những hoạt động tâm lí của chủ thể
- Khái niệm “Biểu tượng lịch sử”
Do đặc trưng của nhận thức lịch sử, học tập lịch sử là sự nhận thức những cái
đã qua, những điều đã diễn ra trong quá khứ, nó không tồn tại trên thực tế mà chỉ còn lại những dấu vết, những hình ảnh khách quan nên ta không thể trực tiếp quan sát được Do vậy, muốn học tập môn lịch sử trước hết phải bắt đầu từ việc nắm sự kiện và tạo biểu tượng lịch sử, tức thông qua những nguồn sử liệu để tái tạo lại quá khứ
Lịch sử là quá trình hình thành và phát triển của xã hội loài người, nên những
sự kiện, hiện tượng lịch sử mà chúng ta nhắc đến đều là những chuyện đã qua, là quá khứ, do đó học sinh rất khó hình dung và tiếp nhận Giúp học sinh nhận thức đúng đắn lịch sử thì người giáo viên phải nắm bắt kiến thức chắc chắn và phải phong phú để có thể tạo biểu tượng một cách khoa học, giàu hình ảnh và chính xác,
để xây dựng cho các em một bức tranh quá khứ chân thực, dễ hiểu Bởi vì, “yêu cầu
Trang 12cơ bản của dạy học lịch sử là phải tái tạo lại những hình ảnh về các sự kiện đúng như nó tồn tại, mà những sự kiện đó, học sinh không được trực tiếp quan sát, xa lạ với đời sống hiện nay, với kinh nghiệm và hiểu biết của các em” [ 12;51 ] Để có
những hình ảnh lịch sử chính xác, cụ thể thì cần phải có nguồn sử liệu, những di chỉ khảo cổ học, những dấu vết của quá khứ, hay tài liệu từ những công trình nghiên
cứu của các nhà sử học… đóng vai trò không thể thiếu Như vậy, có thể hiểu “Biểu tượng lịch sử là hình ảnh về những sự kiện, nhân vật lịch sử, điều kiện địa lí…được phản ánh trong óc học sinh với những nét chung nhất, điển hình nhất” [9;189]
Việc tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh là một vấn đề khó khăn, các biện pháp, thao tác sư phạm khi tạo biểu tượng phải làm cho học sinh như chứng kiến sự kiện đang xảy ra mà các em không hề biết đến ở một thời gian xa xưa, ở một không
gian vô cùng rộng lớn Do vậy, trong quá trình tạo biểu tượng “giáo viên phải làm cho các sự kiện lịch sử khách quan xích gần với khả năng hiểu biết của các em” [
9;189 ] Tuy nhiên, cần phải lưu ý là muốn hiểu biết thực chất về lịch sử thì cần phải biết cả cấu trúc lẫn kết cấu của nó, phải tìm cách làm cho những hiện tượng lịch sử
được phơi bày trước mắt học sinh Tức là “không chỉ dừng ở việc miêu tả bề ngoài
mà còn đi sâu vào bản chất sự kiện, nêu đặc trưng, tính chất của sự kiện” [ 5;35 ]
Để có được biểu tượng chính xác, cụ thể phụ thuộc rất lớn vào mức độ tri giác
sự kiện ở giai đoạn trước đó Đến lượt mình biểu tượng lịch sử có ý nghĩa quyết
định đến mức độ chính xác của khái niệm lịch sử “Nội dung của các hình ảnh lịch
sử, của bức tranh quá khứ càng phong phú bao nhiêu thì hệ thống khái niệm mà học sinh thu nhận được càng vững chắc bấy nhiêu” [ 12;51 ] Do đó, biểu tượng lịch sử
có ý nghĩa giáo dục lớn đối với học sinh, tác động đến tư tưởng, tình cảm, nhận thức của các em theo nhiều chiều hướng khác nhau
1.1.1.2 Văn hóa và văn hóa vật chất
- Khái niệm “văn hóa”:
Theo thống kê của UNESCO, hiện nay có khoảng 400 định nghĩa khác nhau
về văn hóa, điều này cho thấy việc xác định khái niệm văn hóa không phải là điều đơn giản Từ ngàn xưa, ở Phương Tây cũng như Phương Đông, đã có rất nhiều người đề cập, thậm chí tranh cãi liên quan đến vấn đề văn hóa Phải xác nhận một
Trang 13thực tế rằng: có bao nhiêu nhà nghiên cứu văn hóa thì có bấy nhiêu định nghĩa về văn hóa
Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người và rất được quan tâm, bởi bản thân nó ẩn chứa một ngoại diện rộng lớn, là sự sáng tạo của con người từ cái nhỏ nhất đến cái lớn nhất trên mọi lĩnh vực sinh tồn Tuy được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau và nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng suy cho cùng khái niệm văn hóa bao giờ cũng quy về hai cách hiểu chính là: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng
+ Theo nghĩa hẹp, văn hóa được giới hạn theo chiều sâu hoặc chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian…, hay văn hóa là chỉ một lĩnh vực nào đó của kiến thức như (về toán học, về y học, về hội họa,…), hoặc đó là sự hiểu biết về lối sống
và cách ứng xử với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội
+ Theo nghĩa rộng, văn hóa là bao gồm tất cả, là tất cả những gì do con người sáng tạo ra, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến phong tục, tập quán, lối sống, lao động sản xuất đến ngôn ngữ, chữ viết, pháp luật,…
Theo định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì: “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sinh tồn” [ 15;431]
Hai từ “văn hóa” nghe qua có vẻ dễ hiểu nhưng thực chất, cụ thể về nó thì lại
rất mơ hồ Giáo sư Phan Ngọc cho rằng “Không có cái vật gì gọi là văn hóa cả, và ngược lại, bất cứ mặt gì cũng có cái mặt văn hóa Văn hóa là một quan hệ, là quan
hệ giữa thế giới biểu tượng với thế giới thực tại Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một
cá nhân khác”
Xét ở mức độ rộng nhất, văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, bao gồm cả lối sống, sinh hoạt, những quyền cơ bản của con người,…Văn hóa làm cho con người trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có suy nghĩ, có lý trí, có óc đánh giá, phê phán một cách có đạo lý Có văn hóa con người mới ngày càng phấn đấu vươn lên khi đối sánh và nhận ra sự yếu kém của mình với người khác, và đất nước mình với quốc gia dân tộc khác Từ đó họ
Trang 14mới tìm tòi, sáng tạo không ngừng để mang lại những công trình có giá trị đối với
sự phát triển của đất nước và thể hiện được tầm cỡ của quốc gia Với cách lý giải
này, theo định nghĩa của UNESCO (2000) thì “Văn hóa nên được đề cập đến như một tập hợp những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội mà nó chứa đựng, ngoài văn học, nghệ thuật, cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống giá trị, truyền thống và đức tin” [38]
Khi ta tìm hiểu về văn hóa, mặc dù khái niệm văn hóa có nội hàm hết sức phong phú, phức tạp, với nhiều đặc trưng dẫn đến có nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng ta vẫn có thể thấy ở văn hóa nổi lên bốn đặc trưng cơ bản nhất đó là tính nhân sinh, tính giá trị, tính hệ thống, tính lịch sử Dựa trên bốn đặc trưng này thì có
thể hiểu về văn hóa như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất
và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [31;34] Với
cách định nghĩa này không những có thể bao quát được khá nhiều cách tiếp cận khác nhau và cách hiểu khác nhau về văn hóa, mà còn cho phép ta có thể nhận diện được một hiện tượng văn hóa cụ thể và phân biệt nó với các hiện tượng khác không phải văn hóa
Hiện nay, trong dạy học lịch sử, nội hàm về khái niệm văn hóa trong bộ môn này có nhiều nét đặc trưng riêng: văn hóa trong dạy học lịch sử đó là những sự kiện, hiện tượng lịch sử phản ánh đến đời sống văn hóa của con người, là một trong những cơ sở để học sinh có thể phân biệt dân tộc, quốc gia này với các quốc gia dân tộc khác Văn hóa trong lịch sử đó là những giá trị vật chất, tinh thần do loài người qua quá trình tồn tại và phát triển sáng tạo ra, đó là những công cụ lao động ngày một cải tiến, là những vật dùng trong sinh hoạt, những đồ trang sức, những công trình quy mô rộng lớn,…đến những thành tựu về tư tưởng triết học, khoa học, văn học, nghệ thuật…của từng thời kỳ lịch sử và thông qua đó học sinh có thể hiểu được toàn diện về lịch sử dân tộc, lịch sử thế giới
Tóm lại, văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra Văn hóa có vai trò hết
Trang 15sức quan trọng đối với xã hội và con người Văn hóa chi phối toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của con người nói riêng và nhân loại nói chung Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Với xã hội thì văn hóa là một chất keo đặc biệt có thể liên kết chặt chẽ các thành viên của cộng đồng để tạo nên bản sắc dân tộc, tạo nên cái riêng của một quốc gia dân tộc để phân biệt với các dân tộc khác Văn hóa vừa là vũ khí tự vệ, vừa là nền tảng, là mục tiêu
và động lực để xã hội phát triển xuyên suốt, vừa là mục đích cuối cùng mà xã hội cần phải đạt tới Với con người, văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nên nhân cách của họ, văn hóa gắn kết con người lại với nhau
- Khái niệm về “văn hóa vật chất”:
Dù là Phương Đông hay Phương Tây, thời xưa hay thời nay, trong quá trình sinh tồn thì con người luôn có hai nhu cầu cơ bản đó là nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần Từ hai nhu cầu này đã dẫn đến hoạt động của con người cũng phân ra hai loại cơ bản là hoạt động sản xuất vật chất và hoạt động sản xuất tinh thần Trong khi
đó, văn hóa là thước đo trình độ phát triển của con người, là tất cả những gì con người sáng tạo ra trong quá trình sống, chính vì vậy, văn hóa như một hệ thống cũng đã chia ra làm hai dạng: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần
Theo giới hạn của đề tài, ở đây chúng tôi chỉ đi vào tìm hiểu về nền văn hóa vật chất Văn hóa vật chất là bao gồm toàn bộ những sản phẩm do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động sản xuất vật chất, đó là trang phục, là lương thực, trang sức, công cụ lao động, đồ dùng sinh hoạt hằng ngày, phương tiện đi lại, công trình kiến trúc,…
Thông thường, văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần có mối quan hệ mật thiết, luôn gắn bó và tác động qua lại lẫn nhau tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc Tuy nhiên, ranh giới giữa hai dạng này lại không rõ ràng, điều này dễ dẫn đến sự nhầm lẫn về cái gì thuộc văn hóa vật chất, và cái gì thuộc về văn hóa tinh thần, đặc biệt đối với đối tượng học sinh Phổ thông, các em thường hay nhầm lẫn về vấn đề này
Để giúp các em có thể phân biệt được và hiểu đúng bản chất của nền văn hóa vật chất, cũng như văn hóa tinh thần thì giáo viên cần phải thấy được sự khác biệt cơ bản giữa hai dạng này Cụ thể như sau: Khi xét về mục đích phân loại các giá trị, và xét về bản chất của chúng thì văn hóa vật chất là những gì liên quan đến sự biến đổi
Trang 16mang tính sáng tạo thiên nhiên quanh mình thành những sản phẩm có dạng chất liệu vật thể, những sản phẩm con người có thể sử dụng được, nó hiện hữu (trang sức, công cụ, xe cộ ), còn văn hóa tinh thần là chỉ những gì liên quan đến sự biến đổi thế giới bên trong, thế giới tâm hồn của con người, sản phẩm của nó là tư tưởng thuần túy, là sản phẩm “phi vật thể” như (ngôn ngữ, tín ngưỡng, phong tục tập quán, văn chương, hội họa,…) Khi xét về các hoạt động thì người ta thường xếp hoạt động sản xuất vật chất vào dạng văn hóa vật chất, bởi hoạt động này thường phải dùng cơ bắp, phải đổ mồ hôi để tạo ra; còn hoạt động sản xuất tinh thần được xếp vào dạng văn hóa tinh thần, vì loại hoạt động này chủ yếu sử dụng trí tuệ để làm ra Với cách đối sánh này thì học sinh mới có được sự hiểu biết cơ bản cái gì thuộc về văn hóa tinh thần và cái gì thuộc về nền văn hóa vật chất
1.1.1.3 Biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử
Để có một bức tranh lịch sử trọn vẹn, chân thật và sinh động, cùng với các loại biểu tượng khác thì biểu tượng văn hóa vật chất là một bộ phận không thể thiếu của
hệ thống biểu tượng lịch sử nói chung trong chương trình dạy học lịch sử ở trường
phổ thông “Biểu tượng văn hóa vật chất là những hình ảnh về những thành tựu của loài người trong việc chế ngự thiên nhiên, trong lao động sáng tạo sản xuất ra của cải vật chất cũng như văn hóa tinh thần của xã hội loài người” [9;191] Trong dạy
học lịch sử, biểu tượng văn hóa vật chất là những hình ảnh cụ thể góp phần hình thành nên tư duy của học sinh đối với môn học, cũng như đối với nền văn hóa của dân tộc, hay nền văn hóa của các quốc gia dân tộc trên thế giới
Trong quá trình dạy học lịch sử, giáo viên không những phải truyền đạt cho học sinh những tri thức phong phú, bổ ích mà còn phải gắn liền với việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất cho các em, bởi đây là một trong những cách thức quan trọng giúp cho học sinh có thể nhận biết về lịch sử, hiểu biết về những thành tựu mà con người đã sáng tạo ra trong quá trình sinh tồn và phát triển, và những thành tựu
đó góp phần làm rạng rỡ thêm nền văn hóa của nhân loại
Khi tạo biểu tượng văn hóa vật chất thì giáo viên phải làm rõ, tạo biểu tượng một cách cụ thể về đối tượng cần tạo biểu tượng Ví dụ, khi cần tạo biểu tượng về Vạn lý trường thành của Trung Quốc thì giáo viên phải giới thiệu cho các em biết
về năm xây dựng và được xây dựng dưới thời trị vì của vị Vua nào, chiều dài của
Trang 17thành là bao nhiêu…,và công trình được xây dựng có ý nghĩa như thế nào đối với đất nước nói riêng và nền văn hóa nhân loại nói chung Phải làm cho các em có nhận thức đúng đắn về lịch sử dân tộc cũng như lịch sử thế giới, và phân biệt được nền văn hóa giữa các dân tộc, cho các em thấy được tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại là hợp quy luật, hợp lôgic
1.1.2 Phân loại biểu tượng văn hóa vật chất
Vấn đề phân loại biểu tượng lịch sử nói chung và biểu tượng văn hóa vật chất nói riêng có ý nghĩa thiết thực về phương pháp luận cũng như phương pháp dạy học Đã có nhiều cách phân loại biểu tượng lịch sử, và mỗi cách đều dựa trên những
cơ sở nhất định làm căn cứ và đều nhằm giúp cho học sinh có thể dễ hiểu và hiểu sâu sắc về lịch sử dân tộc, cũng như lịch sử thế giới Vậy, việc phân loại biểu tượng văn hóa vật chất thì sao? Biểu tượng văn hóa vật chất bao gồm những loại nào? Biết được việc phân loại biểu tượng văn hóa vật chất có ý nghĩa lớn trong việc dạy và học lịch sử Là cách tốt nhất giúp cho giáo viên thuận lợi hơn trong việc tạo biểu tượng cho học sinh qua những bài học, giúp cho tiến trình dạy và học được diễn ra sôi động, thu hút được sự chú ý của học sinh, kích kích sự hứng thú của các em đối với môn học, từ đó mang lại kết quả cao trong giáo dục Do đó, qua quá trình nghiên cứu chúng tôi đã phân ra biểu tượng văn hóa vật chất có 7 loại khác nhau Vậy đó là những loại nào?
* Thứ nhất đó là biểu tượng về công cụ sản xuất (công cụ lao động):
Công cụ sản xuất hay công cụ lao động là những vật thể dùng để tác động lực trực tiếp từ con người lên đối tượng lao động trong bất kỳ nền sản xuất nào để tạo ra của cải vật chất Đồng thời, nó là yếu tố luôn thay đổi theo xu hướng tiến bộ của cuộc sống, là thước đo trình độ phát triển của con người Ví dụ rìu đá, dao, nạo,…là công cụ của con người thời nguyên thủy; cái cày, cái cuốc là công cụ lạc hậu của người nông dân trong nền sản xuất nhỏ; máy móc cơ khí là công cụ lao động trong nền sản xuất hiện đại
Dù là trong thời kì nào thì công cụ lao động luôn đóng một vai trò tích cực không thể thiếu đối với cuộc sống con người Nếu không có công cụ lao động sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sản xuất, sản xuất sẽ diễn ra một cách chậm chạp, trì trệ, hao phí nhiều thời gian và công sức, dẫn đến năng suất thấp, hiệu quả kém
Trang 18Quá trình phát triển của xã hội loài người gắn liền với quá trình phát triển và hoàn thiện tư liệu lao động, trước hết là công cụ lao động Từ công cụ sơ khai của người nguyên thuỷ đến công cụ sản xuất thủ công trong xã hội nô lệ, phong kiến lên cơ khí hoá, tự động hoá sản xuất là những nấc thang trên con đường phát triển nền văn minh nhân loại
Trong chương lịch sử thế giới lớp 10 (chương trình chuẩn) các biểu tượng cần tạo cho học sinh không thể thiếu biểu tượng về công cụ lao động Những công cụ từ thời nguyên thủy cho đến thời cận đại, từ những chiếc rìu đá, những hòn cuội, chiếc gậy cho đến những chiếc cung tên, cái cuốc, cái cày Rồi đến những máy móc như máy dệt, máy cày, máy kéo sợi… Qua quá trình phát triển của lịch sử xã hội loài người, công cụ lao động được xem là dấu hiệu đặc trưng tiêu biểu cho một thời đại sản xuất xã hội nhất định, C.Mác đã viết: “Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chổ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chổ chúng sản xuất bằng cách nào, với
tư liệu lao động nào”
Từ sự lí giải trên chúng tôi cho rằng công cụ lao động là một trong những loại văn hóa vật chất cần tạo biểu tượng cho học sinh Bởi việc tạo biểu tượng về công
cụ lao động cũng có tác dụng về mặt giáo dưỡng, giáo dục và phát triển cho học sinh Qua công cụ lao động các em sẽ nhận thức được quy luật phát triển của xã hội
và trình độ phát triển của con người qua từng thời kỳ lịch sử, cũng như khả năng chinh phục thiên nhiên của con người
* Thứ hai là biểu tượng về đồ dùng sinh hoạt:
Đồ dùng sinh hoạt là những vật dụng cần thiết cho con người trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày, đó là những vật dụng quen thuộc như những chiếc vò, chum, vại, bát, đĩa cho đến giấy, bút,…
Dù là ở thời đại nào thì con người vẫn cần có những đồ dùng sinh hoạt để phục vụ cho cuộc sống của mình Cùng với tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loài người, không chỉ có công cụ sản xuất ngày một cải thiện mà đời sống vật chất, tinh thần của con người cũng ngày một nâng cao Con người tạo ra nhiều vật dụng cần thiết trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của mình, những vật dụng đó ngày một phong phú và đa dạng về hình dáng cũng như thể loại
Trang 19Vì vậy, theo chúng tôi trong quá trình dạy học lịch sử lớp 10, việc tạo biểu tượng cho học sinh về những vật dụng sinh hoạt của con người là điều cần thiết Đồ dùng sinh hoạt cũng là một trong những yếu tố quan trọng nói lên được nền văn hóa, phong tục tập quán của các quốc gia dân tôc Đồng thời nó cũng thể hiện được mức sống, cũng như trình độ phát triển của con người
* Thứ ba là biểu tượng về trang phục và đồ trang sức:
Trang phục và đồ trang sức là những vật dụng cần thiết cho con người trong nhu cầu làm đẹp của bản thân, là những nhu cầu vật chất quan trọng của con người trong mọi thời đại
Trang phục chính là những đồ để mặc như quần, áo, hay đồ để đi như giày, dép, và để đội như mũ, nón, đùng để bảo vệ thân thể Ngoài ra một thứ không thể thiếu đối với trang phục chính là đồ trang sức Đồ trang sức đó là những chiếc khuyên tai, vòng tay, chuỗi hạt bằng đá,…thời nguyên thủy hay những dây chuyền, nhẫn kim cương, thời hiện đại Nhưng dù là trang phục hay đồ trang sức thì chức năng bản chất của nó vẫn là thẩm mĩ và hơn hơn hết là để làm đẹp cho con người Khi đời sống vật chất và tinh thần của con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu làm đẹp của họ ngày càng lớn Do đó, trang phục và đồ trang sức con người tạo ra cũng ngày một phong phú và đa dạng Trong từng giai đoạn lịch sử, mỗi dân tộc đều có nét riêng về trang phục và đồ trang sức của mình, nó phù hợp với quan niệm sống, phong tục, tín ngưỡng và đời sống kinh tế của họ Do đó, chúng tôi xem đây cũng là một trong những loại biểu tượng văn hóa vật chất Là loại biểu tượng cần thiết để giới thiệu cho các em trong quá trình dạy và học lịch sử Bởi, trang phục và đồ trang sức cũng thể hiện được trình độ phát triển của các quốc gia dân tộc, đồng thời qua đó cũng có ý nghĩa giáo dục cho các em, giúp các em phân biệt được nét văn hóa của mỗi tộc người, địa phương cũng như mỗi quốc gia trên thế giới qua từng thời kì lịch sử
Không những thế, trang phục và đồ trang sức còn có ý nghĩa giáo dục rất lớn đối với học sinh Qua việc tạo biểu tượng về trang phục và đồ trang sức của con người trong tiến trình lịch sử của giáo viên thì học sinh sẽ được giáo dục về tính thẩm mĩ, cũng như có ý thức trong việc chọn ra những trang phục phù hợp cho mình và kích thích khả năng sáng tạo của các em Cho các em thấy được từ những
Trang 20đồ che thân thô sơ thời nguyên thủy làm bằng lá cây, vỏ cây, da thú, đến những bộ
áo quần hiện đại được may cắt công phu với những vật liệu quý hiếm, thậm chí là cầu kì, kèm theo những đồ trang sức hợp thời trang và hoa mĩ Điều đó cho thấy, trang phục từng bước phát triển đã góp phần xây dựng cho nền văn minh nhân loại được hình thành và phát triển Đồng thời, qua trang phục cũng giúp các em phân biệt được mức sống, cuộc sống của con người, bởi trang phục cũng thể hiện được đẳng cấp, giai cấp của người mặc
* Thứ tư là biểu tượng về nơi cư trú:
Nơi cư trú được hiểu theo cách đơn giản nhất đó chính là nơi trú ngụ, chỗ ở của con người Là nơi diễn ra các hoạt động sống của con người từ ăn uống cho đến sinh hoạt văn hóa,…Phương tiện cư trú điển hình của con người chính là nhà ở, ngoài ra còn có hang động, mái lá dưới thời nguyên thủy hay những biệt thự, nhà tầng thời hiện đại và thậm chí cả những chiếc xe, chiếc thuyền của những người dân nghèo khó
Nơi cư trú cũng là một trong những nét độc đáo của con người, của mỗi dân tộc trong từng giai đoạn lịch sử Nó thể hiện trình độ tư duy, thẩm mĩ, đời sống vật chất, tinh thần và quan niệm sống của họ Chính vì vây, nơi cú trú cũng được xem là một trong những biểu tượng cần thiết của nền văn hóa vật chất để tạo biểu tượng cho học sinh trong dạy học lịch sử
* Thứ 5 là biểu tượng về vũ khí chiến đấu:
Vũ khí chiến đấu là những vật dùng để tự vệ và chống lại kẻ thù, đó là những cái gậy cho đến cái dao, cái lao và công phu hơn là những chiếc nỏ, cung tên hay hiện đại hơn là cả những chiếc súng, hay thuốc nổ, bom…
Chức năng bản chất của những vũ khí chiến đấu đó chính là bảo vệ con người thoát khỏi sự nguy hiểm, rình rập của kẻ thù Là công cụ giúp con người giữ vững nền độc lập của quốc gia dân tộc Bởi dù trong bất kỳ thời đại nào thì con người đều
có nhu cầu tự vệ và chống lại các mối đe dọa từ bên ngoài vào, thậm chí là ở ngay bên trong Vì vậy tạo ra vũ khí chiến đấu là vấn đề sớm được đặt ra và ngày càng trở nên bức thiết Ngay từ thời nguyên thủy thì con người đã có nhu cầu tự vệ tối thiểu, song song với cuộc sống săn bắt, hái lượm thì những vũ khí được xem là tự
vệ của họ trước sự đe dọa của thiên nhiên và thú giữ chính là những chiếc gậy,
Trang 21chiếc rìu và sáng tạo hơn một chút đó là những chiếc lao Cùng với sự phát triển của
xã hội loài người thì vũ khí cũng ngày một nâng cao về chất lượng và thể loại, cuộc sống hiện đại, vũ khí cũng trở nên hiện đại, những loại vũ khí ngày nay đó chính là súng, đạn dược, bom nguyên tử,…Vũ khí chiến đấu cũng thể hiện được trình độ của con người, của quốc gia dân tộc Nó cũng là minh chứng cho sự sáng tạo không ngừng của con người Vì vậy, chúng tôi xem đây là một trong những loại biểu tượng văn hóa vật chất cần thiết để tạo biểu tượng cho học sinh phổ thông
* Thứ 6 là biểu tượng về công trình kiến trúc:
Công trình kiến trúc được hiểu là những vật chứng cho hoạt động sáng tạo của con người qua mọi thời đại Nó thể hiện được tài năng, sức sáng tạo của con người, đồng thời cũng thể hiện được tính thẩm mĩ và nhu cầu đời sống vật chất cũng như tinh thần của con người
Những công trình kiến trúc thể hiện khái quát về một xã hội nhất định qua từng giai đoạn lịch sử Kiến trúc phát triển và thay đổi theo sự thay đổi của xã hội Trong các chế độ khác nhau của lịch sử loài người đều có nền kiến trúc khác nhau,
có những đặc điểm hình tượng kiến trúc khác nhau biểu hiện rõ đặc điểm của từng
xã hội đó Do đó, công trình kiến trúc cũng thay đổi theo thời gian và mang nét đặc trưng riêng của mỗi thời kì lịch sử, của mỗi quốc gia dân tộc Qua công trình kiến trúc, đời sống vật chất và tinh thần của con người được thể hiện một cách cụ thể, nhất là đời sống tinh thần Trong lịch sử thế giới thời cổ, trung đại, thường thì những công trình kiến trúc nó mang tính chất tôn giáo, mang đậm nét tín ngưỡng, phù hợp với phong tục tập quán của các quốc gia dân tộc Như Ăngcovat, Ăngcothom của Campuchia mang đậm nét kiến trúc của đạo Hinđu và đạo Phật mà nhân dân Campuchia tin theo Mặt khác, công trình kiến trúc cũng thể hiện được tầm cỡ của từng dân tộc và qua đó thể hiện được nền văn minh của nhân loại, như Kim tự tháp thể hiện được sự sáng tạo vĩ đại của nhân dân Ai Cập hay vườn treo Ba-bi-lon ở Lưỡng Hà, Vạn lý trường thành của Trung Quốc,…đó là những công trình kiến trúc không chỉ mang tầm cỡ quốc gia mà rộng hơn đó là có tầm cỡ thế giới, đây đều được xem là những kỳ quan thế giới Qua những công trình kiến trúc các em cũng
sẽ thấy được đời sống của người dân lao động ở mỗi quốc gia qua từng thời kì, sẽ giáo dục được tính thẫm mĩ và tính nhân văn cho các em
Trang 22Ở thời đại nào thì con người vẫn luôn cố gắng lao động không ngừng nghỉ, do
đó quốc gia dân tộc nào cũng có những thành tựu văn hóa của riêng mình Công trình kiến trúc cũng là thước đo cho trình độ phát triển, thể hiện sức sáng tạo của con người, của mỗi quốc gia dân tộc, nó có tác dụng giáo dục, giáo dưỡng và phát triển cho học sinh Để các em học sinh hiểu hơn những thành tựu về nghệ thuật kiến trúc của các dân tộc trên thế giới thì trong quá trình dạy học giáo viên cần phải tạo biểu tượng cho học sinh Đây là cơ sở quan trọng giúp các em có thể nhớ lâu, hiểu sâu kiến thức về các nước trên thế giới Vì vậy, chúng tôi xem đây cũng là một trong những loại biểu tượng văn hóa vật chất quan trọng cần tạo biểu tượng cho học sinh khi dạy lịch sử
* Thứ bảy là biểu tượng về phương tiện đi lại:
Phương tiện đi lại là nhu cầu bức thiết của con người trong quá trình sống, sản xuất, phát triển kinh tế và giao lưu văn hóa, là điều kiện để con người di chuyển được thuận lợi hơn, đặc biệt là đi những nơi xa và trong giao lưu buôn bán Phương tiện đi lại đó chính là xe cộ từ xe bò, xe ngựa đến tàu thuyền, máy bay,…Chức năng chính của nó là đảm bảo cho nhu cầu sống của con người được tốt hơn, nó cũng thể hiện được đời sống vật chất, tinh thần của các các quốc gia dân tộc qua từng thời kì lịch sử Trình độ phát triển của con người, của một quốc gia dân tộc cũng được thể hiện qua phương tiện đi lại, phương tiện lưu thông hàng hóa Do đó, khi dạy lịch sử thế giới lớp 10, giáo viên cần phải tạo biểu tượng cho học sinh về phương tiện đi lại Bởi qua đó học sinh sẽ thấy được phần nào sự phát triển của các quốc gia, hơn nữa đây cũng là cơ sở để các em có thể nhớ và tiếp thu kiến thức nhanh hơn
1.1.3 Vai trò, ý nghĩa việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử
Lịch sử là “nhân chứng của các thời đại, ánh sáng của chân lí, đời sống của
kí ức, người báo tin của hiện tại” [ 28;21 ] Những sự kiện lịch sử quá khứ đã diễn
ra không còn trong hiện tại, nhưng dấu vết của nó thì chúng ta vẫn tìm thấy trong đời sống vật chất, cũng như tinh thần của con người Những dấu vết lịch sử giúp chúng ta hiểu rõ hơn về quá khứ, về những gì đã xảy ra trong các thời kỳ kịch sử Đồng thời, giúp ta thấy được những đóng góp của con người trong sự phát triển của nhân loại, với những công trình văn hóa vật chất đồ sộ, nó minh chứng cho tài năng,
Trang 23óc sáng tạo của loài người Do vậy, việc tạo biểu tượng lịch sử nói chung là một phần không thể thiếu trong tiến trình dạy học, và tạo biểu tượng văn hóa vật chất nói riêng có ý nghĩa rất lớn đến mặt giáo dưỡng, giáo dục và phát triển cho học sinh Là cơ sở để học sinh có những nhận thức đúng đắn về lịch sử và qua đó tác động đến tư tưởng, tình cảm, giáo dục phẩm chất đạo đức cho các em
1.1.3.1 Về mặt giáo dưỡng
Muốn đào tạo một con người phù hợp với thời đại, chúng ta cần phải không ngừng cải tiến và nâng cao chất lượng dạy học lịch sử Bởi, lịch sử có ưu thế trong việc giáo dục con người Việc tạo biểu tượng lịch sử nói chung và tạo biểu tượng văn hóa vật chất nói riêng cho học sinh là một phần quan trọng trong quá trình dạy học, là một trong những biện pháp hữu hiệu giúp các em có thể tiếp thu và ghi nhớ kiến thức một cách tốt nhất Đồng thời, góp phần phát triển toàn diện tri thức cho các em Trong lịch sử thì nền văn hóa vật chất là những gì để lại dấu ấn sâu sắc, đậm nét và có ý nghĩa trong việc hình thành nên sự tưởng tượng, tái tạo quá khứ lịch sử của học sinh, là cơ sở để giáo viên giúp cho học sinh hiểu sâu sắc lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới
Để nắm bắt được những thành tựu nền văn hóa vật chất của thế giới cũng như dân tộc thì trước hết học sinh phải biết được về thời gian ra đời của những thành tựu
đó, sau đó là những hiểu biết cụ thể về tính chất, đặc tính bên ngoài cũng như bên trong của những thành tựu, về sự đóng góp của những thành tựu đó đối với phạm vi quốc gia nói riêng và phạm vi nền văn hóa nhân loại nói chung Để đạt được điều này thì vai trò của giáo viên là rất quan trọng, khi giáo viên tạo biểu tượng cụ thể và chính xác thì học sinh cũng sẽ hiểu chính xác về lịch sử và ngược lại Qua việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất sẽ giúp cho học sinh thấy được sự phát triển hợp quy luật của lịch sử xã hội, thấy được những công trình vĩ đại do con người làm ra được mãi nhắc đến trong nhân loại như một sự hoài niệm, cũng như tồn tại trước sự thách thức của thời gian, chẳng hạn như “Bất cứ cái gì cũng đều sợ thời gian, nhưng thời gian thì lại sợ Kim tự tháp”
Những gì liên quan đến quá khứ thì không thể trực tiếp quan sát được, do đó việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất không phải là việc đơn giản Để học sinh nhận thức đúng như lịch sử từng tồn tại thì giáo viên phải tạo biểu tượng một cách cụ thể
Trang 24Ví dụ, khi dạy bài “Các quốc gia cổ đại Phương Đông” có rất nhiều đối tượng cần
tạo biểu tượng và giáo viên có thể tạo biểu tượng về thành Ba bi lon, và vườn treo
Ba bi lon Học sinh muốn hiểu biết về những thành tựu này thì các em phải đi vào tìm hiểu những điều cơ bản nhất về Lưỡng Hà, quê hương của những công trình tuyệt mĩ này, tìm hiểu về thời gian công trình được xây dựng và xây dựng nhằm mục đích gì Đồng thời, qua sự tìm hiểu đó các em sẽ thấy được sự lao động vất vả của con người để xây dựng lên những công trình quy mô như thế, thấy được hình dáng bên ngoài cũng như cấu trúc của công trình, và ý nghĩa của công trình này đối với Lưỡng Hà nói riêng cũng như nền văn hóa của loài người nói chung
Từ việc tạo biểu tượng đó, giúp học sinh lí giải, hiểu sâu sắc các sự kiện hiện tượng lịch sử gắn với các thành tựu văn hóa Từ đó giúp cho các em có sự nhìn nhận, đánh giá đúng đắn về ý nghĩa của những công trình đó Qua việc tìm hiểu về những thành tựu của nền văn hóa vật chất cũng tạo điều kiện cho học sinh có thể đi sâu tìm hiểu về từng thời kỳ lịch sử của nhân loại, cụ thể hơn là lịch sử của các quốc gia dân tộc Tạo cái mốc để các em nắm được kiến thức về lịch sử thế giới Lịch sử
là những gì gắn liền, liên quan đến quá khứ, mà đây lại là lịch sử thế giới nên nó rất
xa lạ đối với các em, việc nắm bắt kiến thức về lịch sử thế giới đối với các em là điều không hề dễ dàng chút nào Do đó, việc tạo biểu tượng lịch sử, biểu tượng văn hóa vật chất tác động trực tiếp đến vấn đề này
Việc giảng dạy các thành tựu về nển văn hóa vật chất cho phép học sinh hiểu
rõ hơn một số vấn đề cơ bản của lịch sử dân tộc, cũng như lịch sử thế giới Nó phản ánh trình độ nhất định của một quốc gia dân tộc, những công trình vĩ đại, có ý nghĩa lớn lao trước hết sẽ tạo điều kiện cho đất nước họ phát triển, nâng tầm quốc gia lên
vị thế cao hơn, được nhiều nước bạn biết đến và xa hơn nữa là được sự ghi nhận của nhân loại về tầm ảnh hưởng của những thành tựu này Trong quá trình tạo biểu tượng về nền văn hóa vật chất, giáo viên cũng cần phải kết hợp tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử, bởi tất cả những công trình dù lớn hay nhỏ cũng đều do con người tạo ra Con người là chủ thể sáng tạo trong lịch sử phát triển của xã hội Việc tạo biểu tượng phải sinh động, hấp dẫn và đảm bảo tính khoa học, tránh trường hợp
“hiện đại hóa” lịch sử của học sinh Khi các em nắm được những thành tựu của nền
văn hóa vật chất thì các em có thể tự hình dung, tái tạo lại bức tranh quá khứ của
Trang 25lịch sử một cách có cơ sở khoa học, căn cứ trên các sự kiện, hiện tượng lịch sử cụ thể Hơn nữa, qua quá trình tạo biểu tượng lịch sử, biểu tượng về nền văn hóa vật chất cũng sẽ giúp cho học sinh bước đầu hình thành khái niệm lịch sử Biểu tượng văn hóa vật chất được tạo càng phong phú, chuẩn xác bao nhiêu thì bài học càng trở nên sinh động bấy nhiêu, có thể thu hút được sự tập trung chú ý của các em, tạo cho các em hứng thú đối với môn học Điều này giúp cho việc học tập lịch sử của học sinh đạt kết quả cao hơn
1.1.3.2 Về mặt giáo dục
Bộ môn lịch sử có chức năng, vai trò rất quan trọng, lịch sử khôi phục, miêu
tả, giải thích quá khứ một cách đúng đắn và chính xác Tác động sâu sắc đến việc giáo dục tình cảm, phẩm chất, đạo đức, thẩm mĩ, tư tưởng cho học sinh Enghen đã
gọi lịch sử là “nhà thơ vĩ đại nhất” Do đó, “ lịch sử góp phần giáo dục thế giới quan và nhân sinh quan, nâng cao trình độ văn hóa chung” cho con người [28;22]
Việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất có ưu thế lớn trong việc thực hiện chức năng này của lịch sử thông qua những công trình, những sáng chế của loài người trên thế giới Tạo biểu tượng về nền văn hóa vật chất sẽ khơi dậy trong lòng học sinh sự tò
mò, thích thú, các em sẽ muốn tìm tòi, khám phá, từ đó làm cho môn lịch sử không còn nặng nề và nhàm chán với các em nữa Thông qua việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất còn giúp cho học sinh có thể thấy được, cảm nhận được sự tài giỏi của con người, sự nỗ lực không ngừng nghỉ để cải thiện đời sống, để phát triển, và bên cạnh
đó là nỗi cơ cực của con người khi xây dựng những công trình nguy nga, lưu truyền khắp thế giới
Ví dụ, khi giáo viên tạo biểu tượng cho học sinh về Kim tự tháp của Ai Cập Cấu trúc, mô hình của Kim tự tháp với hàng nghìn tảng đá, mỗi tảng nặng từ 2,5 tới
4 tấn được mài đẽo và lắp ghép công phu chỉ bằng đôi bằng tay với những công cụ hết sức thô sơ là đá và gỗ mà không hề có máy móc công nghệ Với hình ảnh này các em sẽ không khỏi kinh ngạc trước sự điêu luyện và tài nghệ của người dân Ai Cập cổ đại Để xây dựng được một công trình sống mãi với thời gian thì không ít người dân Ai Cập đã phải lao động khổ sai trong cái nóng như thiêu như đốt của sa mạc và roi vọt của người canh giữ Phần lớn trong hàng chục vạn người đó đã không kịp ngắm nhìn “thiên đường” trên trần thế của các Pharaon mà mình đã góp
Trang 26phần sức lực xây dựng nên Chính điều này cho học sinh thấy được thân phận của người nông dân bị áp bức, hình thành nên lòng thương cảm của các em đối với những con người này Đồng thời, qua đó còn cho các em thấy được sự tương phản giữa những con người bé nhỏ với sự vĩ đại của bàn tay lao động của họ, điều này sẽ làm cho các em cảm thấy khâm phục sâu sắc, sự ngưỡng mộ đối với những con người này Cho các em nhận thức được, con người dù nhỏ bé nhưng cái con người làm ra thì không hề nhỏ bé chút nào, mà điển hình là Kim tự tháp của Ai Cập
Thông qua việc tạo biểu tượng nền văn hóa vật chất, giúp cho các em thấy được những thành tựu, những công trình đều đạt được từ sự lao động và sự cố gắng
nỗ lực của con người Điều này cũng giúp cho các em nhận thức được rằng muốn đạt được kết quả cao trong học tập, cũng như trong bất cứ công việc gì cũng đều phải có ý thức lao động nghiêm túc và sự say mê, nỗ lực hết mình Bàn tay nhỏ bé của con người có thể làm nên những tác phẩm tuyệt mĩ và được đời đời khâm phục trong thế giới văn minh Nhận thức được điều này sẽ thôi thúc các em ra sức học tập
để có thể đóng góp sức mình vào sự phát triển đất nước sau này, để tương lai các
em có thể làm nên những công trình quy mô, vĩ đại như loài người thời cổ, trung, cận đại
Tóm lại, từ việc tạo biểu tượng cho học sinh với một số công trình văn hóa vật chất tiêu biểu của các quốc gia, dân tộc trên thế giới sẽ khiến học sinh từ chỗ ngạc nhiên, khâm phục trước trí tuệ, óc sáng tạo của người xưa đến sự giáo dục các em
về lòng yêu lao động, lòng say mê sáng tạo, lòng thương cảm đối với nhân dân lao động Hơn nữa, qua việc tạo biểu tượng của giáo viên cũng sẽ tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm của các em, giáo dục cho các em những giá trị nhân văn của cuộc sống, biết chiêm ngưỡng, hưởng thụ, ham học hỏi tìm hiểu và sáng tạo cái đẹp
1.1.3.3 Về mặt phát triển
Học lịch sử không phải là việc đơn giản, bởi lịch sử có rất nhiều sự kiện, hiện tượng và đây lại là quá khứ của xã hội loài người nên học sinh rất khó nắm bắt Nhưng thông qua việc tạo biểu tượng nói chung và biểu tượng văn hóa vật chất nói riêng thì hoạt động trí tuệ của học sinh sẽ không ngừng phát triển Các em sẽ có điều kiện phát triển toàn diện từ tư duy đến năng lực nhận thức, và kết hợp với hành động thực tiễn của mình
Trang 27Việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất đặc biệt kích thích tư duy của học sinh phát triển Qua bài giảng của giáo viên, với việc tạo biểu tượng của giáo viên, qua những hình ảnh, mô hình, những đoạn video về những công trình, những phát minh, sáng chế của con người xưa các em sẽ không khỏi suy nghĩ về nguồn gốc của nó, cách thức tạo ra nó,…Từ đó, các em bắt đầu hứng thú trong việc tìm tòi tài liệu, sách báo có liên quan để tìm hiểu và làm rõ những thắc mắc trong đầu mình Hơn nữa, qua việc tìm đọc tài liệu cũng sẽ cung cấp cho các em thêm nhiều tri thức mới
lạ, kích thích hứng thú học tập của các em, các em sẽ thấy rằng đọc sách cũng có nhiều điều thú vị và cần phải phát huy Kích thích trí tưởng tượng của học sinh, những ước mơ bắt đầu nảy sinh và các em bắt đầu phấn đấu cho việc học để thực hiện những ước mơ đó
Khi tạo biểu tượng, giáo viên tạo điều kiện để học sinh phát huy tư duy, phát triển về ngôn ngữ và khả năng diễn đạt của các em, kích thích cho các em mạnh dạn hơn trong học tập bằng cách phát biểu ý kiến của mình Để làm được điều này thì giáo viên đưa ra những bài tập và học sinh có thể phát biểu về suy nghĩ và sự chuẩn
bị của mình, như miêu tả hay phân tích những phát minh mà con người làm ra Đồng thời còn rèn luyện cho các em ý thức tự giác trong học tập, cũng như nêu lên chính kiến của mình về những thành tựu này với những lời nhận xét, đánh giá sau lời phát biểu của các bạn hay sau lời giới thiệu của giáo viên đối với những thành tựu, công trình văn hóa vật chất đó Qua việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất còn bồi dưỡng cho các em khả năng nhận thức, đánh giá vai trò, ý nghĩa của những công trình đó đối với đất nước họ và đối với nền văn minh của nhân loại Các em sẽ thấy được những sáng chế đó tích cực ở chỗ nào và còn điểm gì hạn chế hay không Làm được điều này là tư duy, nhận thức của các em đã dần được phát triển Nhận thức đúng bản chất của đối tượng cần tạo biểu tượng sẽ giúp cho tư duy của các em phát triển không ngừng, các em có thể học hỏi và có thể vận dụng vào đời sống Ví dụ, như người ta tạo ra cái ròng rọc, cái đòn bẩy để đưa đá lên cao khi xây dựng các công trình, thì các em cũng có thể tạo ra và vận dụng nó vào đời sống thực tiễn của mình…
Trang 281.2 Thực trạng việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử ở trường THPT hiện nay
Không chỉ trước đây mà trong cả thời đại hiện nay, đặc biệt là đang trong xu thế toàn cầu hóa thì bộ môn lịch sử đã giữ vai trò quan trọng trong việc giáo dục đạo đức, nhân cách con người và giáo dục truyền thống yêu nước, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, cái gốc của giống nòi,…Một người am hiểu lịch sử thì mới được xem là người hoàn thiện về văn hóa Chính vì vậy, nhà văn Nga Tsecnusepski đã
viết “Có thể không biết, không say mê học tập môn toán, tiếng Hi Lạp hoặc Latinh, hóa học, có thể không biết hàng nghìn môn khoa học khác, nhưng dù sao đã là người có giáo dục mà không yêu thích lịch sử thì chỉ có thể là một con người không phát triển đầy đủ về trí tuệ” [28;32] Điều đó cho thấy môn lịch sử có tầm quan
trọng như thế nào trong xã hội nói chung và trong giáo dục tại trường phổ thông nói riêng Nhưng một thực tế đáng lo ngại hiện nay chính là môn lịch sử chưa phát huy được hết ưu thế của nó trong vai trò giáo dục con người, vẫn còn tình trạng đánh giá thấp vai trò của môn lịch sử ở một phộ phận phụ huynh, học sinh và cả giáo viên,…Vẫn còn tình trạng cho rằng môn lịch sử là “môn phụ”, không quan trọng, không cần thiết Thậm chí trong các kì tuyển sinh đại học, cao đẳng bài dự thi môn lịch sử có rất nhiều bài dưới điểm 5 và kiến thức về lịch sử thì sai lệnh một cách đáng tiếc
Qua quá trình trò chuyện với một số giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh chúng tôi được biết rằng phần lớn các bậc phụ huynh đều hướng con mình đi theo ngành nghề có tương lai như các môn (toán, lý, hóa, ), vì đây là những môn tự nhiên nếu các em theo đuổi thì sẽ tốt cho tương lai các em sau này Do đó, các phụ huynh ít khuyên con em mình chú trọng đến việc học tập môn lịch sử và đó cũng chính là quan điểm của phần lớn học sinh ở các trường phổ thông hiện nay Ngoài
ra các em còn cho rằng, học môn lịch sử khá nhàm chán và khô khan vì có rất nhiều các sự kiện, chép bài thì nhiều, điều đó làm cho các em khó nhớ, khó tiếp thu, và cảm thấy mệt mỏi Vậy nguyên nhân do đâu khiến các em cảm thấy nhàm chán khi học môn lịch sử như vậy? Qua quá trình trao đổi, tiếp xúc với học sinh, chúng tôi đã thấy rằng nguyên nhân quan trọng gây nên hiện trạng này chính là một phần là do bản thân của các em; mặt khác cũng là do sự chi phối của gia đình và nguyên nhân
Trang 29quan trọng đó chính là phương pháp dạy của giáo viên Phương pháp dạy của giáo viên ảnh hưởng trực tiếp đến việc tiếp thu kiến thức của học sinh và các em có hứng thú đối với môn học hay không cũng phụ thuộc vào cách dạy, cách truyền đạt của giáo viên Thế nhưng tâm lý, suy nghĩ của phụ huynh và học sinh cũng có phần tác động ngược trở lại đối với người giáo viên Qua các kì tuyển sinh đại học, cao đẳng thì số lượng thí sinh tham gia thi ngành tự nhiên thì nhiều nhưng ngành xã hội thì ít, không những thế điểm thi đối với môn sử là đặc biệt thấp Do đó, nó cũng tạo nên tâm lý không coi trọng bộ môn mình giảng dạy đối với giáo viên Chính điều đó khiến các giáo viên lơ là trong việc đổi mới phương pháp dạy học, trong việc soạn giáo án Có rất nhiều giáo viên chỉ soạn giáo án một lần nhưng sử dụng nhiều lần,
áp dụng cho mọi lớp trong một khối, điều đó là không đúng về mặt phương pháp và không đảm bảo là phù hợp với đối tượng học sinh Nhìn chung, nhiều giáo viên trong quá trình dạy học chỉ làm công việc là truyền đạt nội dung trong sách giáo khoa, sự truyền đạt ấy nhiều khi còn thiếu hình thức tạo biểu tượng, thiếu đồ dùng trực quan dẫn đến thiếu sinh động Ngoài ra, cũng có nhiều giáo viên sa vào việc truyền đạt kiến thức một cách dàn trải, không làm nổi bật được nội dung kiến thức
cơ bản,…Điều đó làm cho các sự kiện lịch sử như lắng chìm, bài học trở nên khô cằn và các em khó tiếp thu, thậm chí tiếp thu một cách thụ động, các sự kiện lịch sử các em vẫn có nhớ tuy nhiêm những sự kiện đó tồn tại trong đầu óc các em chưa thật sự bền và vững chắc Vì vậy, chất lượng dạy và học lịch sử bị sút kém đáng kể
Để có thể tạo hứng thú của học sinh đối với môn sử và nâng cao vai trò của bộ môn này tại nhà trường phổ thông, cùng với việc đổi mới nội dung sách giáo khoa thì việc đổi mới và nâng cao phương pháp dạy của giáo viên là một việc rất cần thiết Trong quá trình hình thành tri thức lịch sử cho học sinh tại trường phổ thông thì việc tạo biểu tượng là một khâu quan trọng Việc tạo biểu tượng nói chung hay biểu tượng văn hóa vật chất nói riêng có ý nghĩa về mặt giáo dục, giáo dưỡng và phát triển cho học sinh Tuy nhiên, trong quá trình dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay thì việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất vẫn chưa được chú ý đúng mức Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã điều tra, khảo sát tại nhiều trường phổ thông và đã trực tiếp tìm hiểu một số trường phổ thông trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng như trường THPT Ông Ích Khiêm, THPT Hòa Vang, THPT Phạm Phú
Trang 30Thứ Kết quả của quá trình điều tra đối với thực trạng việc dạy-học lịch sử và tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử như sau:
* Về phía giáo viên:
Qua việc điều tra một số giáo viên có trình độ chuyên môn và đã giảng dạy nhiều năm, chúng tôi nhận thấy rằng vấn đề tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử, đặc biệt là lịch sử thế giới lớp 10 các giáo viên đã có áp dụng việc tạo biểu tượng, nhưng việc này vẫn còn nhiều hạn chế Qua quá trình trao đổi thì một số giáo viên cũng cho ý kiến rằng việc tạo biểu tượng thì cần thiết, nhưng đôi lúc cần chú trọng đến nội dung kiến thức hơn vì thời lượng của một tiết học chỉ có 45’ Chúng tôi cũng thấy rằng, nhiều giáo viên có lúc chỉ nêu tên của một công trình vật chất nào đó nhưng không giới thiệu hình ảnh và không thuyết minh cho các em thấy Phần lớn các tiết dạy của giáo viên chỉ đưa kiến thức vào trí óc của các em, cũng có giáo viên truyền đạt kiến thức một cách sa đà và không có thời gian để tạo biểu tượng cho học sinh, tuy các giáo viên có tạo biểu tượng nhưng việc tạo biểu tượng về văn hóa vật chất thì còn hạn chế Điều đó không tạo được sự hứng thú cho các em Nguyên nhân trực tiếp cho tình trạng này đó là do thời gian không có, tiết học 45’ mà nội dung bài học thì nhiều, cũng một phần là do cơ sở vật chất của nhà trường để vận dụng cho việc tạo biểu tượng còn ít so với yêu cầu, về vẫn đề này thì
có tới 66,7 % cho rằng đồ dùng ở trường quá ít so với yêu cầu bài học Còn số người cho rằng những đồ dùng đã phù hợp với yêu cầu của bài học thì chỉ chiếm 33,3 % Theo chúng tôi, thì một phần cũng là do giáo viên ngại khó trong việc tìm kiếm, sưu tầm tranh ảnh và những tư liệu liên quan để tạo biểu tượng và gây hứng thú cho các em
Điều này đặt ra yêu cầu là giáo viên cần phải có nhận thức đúng đắn về vai trò của việc tạo biểu tượng nói chung và biểu tượng văn hóa vật chất nói riêng trong dạy học lịch sử Cần phải có những biện pháp cụ thể trong việc tạo biểu tượng cho các em Bởi vì, biểu tượng, hình ảnh là cái kích thích được hứng thú học tập của học sinh, là cách tốt nhất để thu hút được sự tập trung chú ý của các em đối với môn học
Trang 31* Về phía học sinh:
Đa số các em học sinh đều cho ý kiến là mình không thích học môn lịch sử, bởi vì có quá nhiều sự kiện và đó là quá khứ nên các em không hiểu, lịch sử lại khô khan, nội dung chữ thì nhiều nên các em không thích, thậm chí còn thấy nặng nề Hơn nữa, các em cũng cho rằng giờ học lịch sử không sôi động, không hứng thú và điều đó không lôi cuốn được các em vào bài học Chúng tôi cho rằng, có tình trạng này thì một phần cũng là do cách dạy của giáo viên đã không gây được hứng thú cho các em Lịch sử nước nào thì cũng có những công trình văn hóa vật chất của riêng họ, vậy thì khi giảng dạy cho các em chúng tôi nghĩ việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất, kết hợp với những mẫu chuyện kể, điều đó sẽ có ý nghĩa thiết thực trong việc kích thích sự đam mê, hứng thú của các em đối với môn học
Về mức độ nắm kiến thức lịch sử của học sinh: Để có thể nắm rõ điều này, chúng tôi đã tiến hành cho làm bài kiểm tra 15’ tại 3 trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng với số lượng là 144 học sinh tại 3 trường Nội dung chúng tôi kiểm tra là vốn kiến thức lịch sử các em đã học qua Đề tài nghiên cứu liên quan đến việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất nên chúng tôi đặt câu hỏi xoay quanh về nền văn hóa vật chất trong phần lịch sử thế giới Kết quả thu được là 68% học sinh đạt từ điểm 5 trở lên, trong đó chỉ có 2,7% học sinh đạt được điểm 9 và 10; còn lại 32% là học sinh dưới điểm trung bình, tức dưới điểm 5, trong đó có tới 8,7% học sinh có điểm yếu kém, còn lại là điểm 4 và 5 Điều đó cho thấy chất lượng học tập của học sinh chưa cao Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này thì do nhiều yếu tố chi phối, có thể là do vốn kiến thức của các em về lịch sử chưa được vững chắc và không được hệ thống lại, có thể là do các em không có nhiều tài liệu tham khảo, hoặc do ý thức, động cơ học tập từ bản thân các em chưa cao Nhưng nguyên nhân quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến việc này là do giáo viên chưa chú trọng đúng mức đến việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất, những công trình văn hóa cho học sinh trong quá trình giảng dạy Điều đó làm cho các em không nắm bắt được và dẫn đến tình trạng là bị hỏng kiến thức lịch sử
Qua thực tiễn nêu trên, chúng tôi nhận thấy rằng việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử nói chung và dạy học lịch sử thế giới nói riêng vẫn chưa được chú ý đúng mức Hệ quả của việc này là học sinh còn chưa nắm vững về
Trang 32kiến thức lịch sử đã học, đặc biệt là về những công trình văn hóa vật chất Vì vậy, việc nghiên cứu và đề xuất vận dụng các biện pháp tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử là vấn đề có ý nghĩa thiết thực và cần thiết cho thực trạng dạy
và học lịch sử ở trường THPT hiện nay
Trang 33Ư N 2: Ệ THỐNG CÁC LO I BIỂU TƯỢN VĂN ÓA VẬT CHẤT
SỬ DỤNG TRONG D Y HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI (LỚP 10- Ư N
TRÌNH CHUẨN) Ở TRƯỜNG THPT 2.1 Phần lịch sử thế giới trong chương trình lịch sử lớp 10- hương trình chuẩn
2.1.1 Nội dung cơ bản
Lịch sử xã hội loài người hình thành và phát triển từ xã hội cộng sản nguyên thủy đến thế giới hiện đại ngày nay đã trải qua hàng vạn năm Sự phát triển hợp quy luật như một quá trình tự nhiên, trải qua các phương thức sản xuất từ thấp đến cao:
xã hội nguyên thủy, xã hội nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội xã hội chủ nghĩa Khóa trình lịch sử thế giới trong chương trình lịch sử lớp 10 (chương trình chuẩn) có thể được phân ra làm hai phần Phần thứ nhất là lịch sử thế giới thời nguyên thủy và cổ trung đại, phần thứ hai là đề cập đến lịch sử thế cận đại
* Phần lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại:
Lịch sử thời đại cộng sản nguyên thủy bắt đầu từ khi con người xuất hiện và
xã hội loài người ra đời Đây là thời đại xa xôi nhất, lâu dài nhất trong số các thời đại lịch sử mà loài người đã trải qua Sự xuất hiện của loài người, quá trình chuyển hóa từ người tối cổ sang người hiện đại, sự hình thành công xã thị tộc với những tiến bộ về công cụ đá mới, tổ chức xã hội, sự phát triển của nền kinh tế: trồng trọt, chăn nuôi ra đời Đồ kim loại ra đời, kinh tế nông, công, thương nghiệp phát triển,
tư hữu xuất hiện, xã hội có giai cấp và nhà nước hình thành, xã hội nguyên thủy tan
Trang 34tinh thần được sáng tạo mang sự phong phú và đa dạng, ảnh hưởng ra các khu vực xung quanh
+ Ở khu vực Địa Trung Hải cổ đại, một cái hồ lớn với nhiều vịnh, hải cảng,…sự giao lưu trao đổi hàng có được thuận lợi, hoạt động hàng hải phát triển,
và các quốc gia cổ đại Phương Tây đã ra đời trên cơ sở này, điển hình là quốc gia
Hy Lạp và Rô Ma cổ đại Sự phát triển chủ yếu do yếu tố địa lí chi phối, nền kinh tế phát triển với trình độ cao về sản xuất với công cụ chủ yếu là đồ sắt, và sự buôn bán trên biển Trình độ sáng tạo văn hóa đạt đến đỉnh cao, mang đậm nét và có phạm vi ảnh hưởng rộng lớn
Quá trình hình thành, phát triển và suy tàn của xã hội phong kiến, với xã hội phong kiến ở Phương Đông và xã hội phong kiến ở Tây Âu
+ Do những điều kiện lịch sử cụ thể, chế độ phong kiến ở Phương Đông (tập trung ở Châu Á) có những đặc trưng riêng, điển hình có Trung Quốc, Ấn Độ và Đông Nam Á Bộ máy nhà nước ở chủ yếu được tổ chức theo chính thể quân chủ chuyên chế Ở Trung Quốc, xã hội phong kiến bắt đầu được hình thành từ khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc (năm 221 TCN), và suy yếu khi triều đại Mãn Thanh lâm vào tình trạng khủng hoảng (1645-1911), giữa thế kỷ XIX các cường quốc thực dân Âu –Mỹ nhảy vào xâm lượt, xã hội phong kiến Trung Quốc suy tàn, Trung Quốc bắt đầu biến thành một nước nửa phong kiến, nửa thuộc địa Sự phát triển của xã hội phong kiến Trung Quốc được thể hiện qua nhiều triều đại thống trị khác nhau Dưới thời phong kiến, nền văn hóa Trung Quốc phát triển rực rỡ đặc biệt
là dưới thời nhà Đường, sự phát triển của nền văn hóa trên hầu hết các lĩnh vực từ
tư tưởng, tôn giáo đến sử học, văn học, nghệ thuật,… Ở Ấn Độ, có hai con sông rộng lớn là sông Ấn và sông Hằng quanh năm bù đắp phù sa màu mỡ tạo điều kiện phát triển nông nghiệp, đây là quê hương, nơi sinh trưởng nền văn hóa truyền thống của văn minh Ấn Độ Đất nước Ấn Độ cũng trải qua sự trị vì của nhiều vương triều khác nhau Văn hóa Ấn Độ đa dạng, phong phú và sáng tạo Nó đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển văn hóa của nhiều dân tộc Phương Đông, trong đó có Việt Nam Ấn Độ là mảnh đất, quê hương của nhiều tôn giáo (đạo Phật, đạo Bà la môn, đạo Hinđu, đạo Jaina) và những tư tưởng triết học Văn hóa Ấn mang đậm nét tôn giáo, điều này được thể hiện rất rõ qua những công trình kiến trúc Ở Đông Nam Á
Trang 35do điều kiện tự nhiên nên kinh tế nông nghiệp lúa nước rất có điều kiện phát triển
Từ những thế hỷ đầu của Công nguyên, các vương quốc cổ đầu tiên ở Đông Nam Á
đã được hình thành, khoảng thế kỷ IX – X thì các quốc gia phong kiến ở đây được xác lập và phát triển thịnh đạt cho tới nửa đầu thế kỷ XVIII Chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền văn hóa Ấn, đặc biệt là về tôn giáo, chữ viết
+ Các quốc gia phong kiến ở Châu Âu ra đời trên cơ sở sự tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ, kết hợp với sự tan rã của chế độ công xã nguyên thủy của người Giecmanh Cụ thể là năm 476, đế quốc Rôma bị diệt vong, chế độ chiếm nô kết thúc, chế độ phong kiến ở Châu Âu bắt đầu hình thành Xuất hiện nền kinh tế theo kiểu lãnh địa phong kiến, mỗi lãnh địa là một cơ sở của nền kinh tế tự nhiên, đóng kiến và là một đơn vị chính trị độc lập Nhà vua thực chất cũng là một lãnh chứa lớn Chế độ phong kiến ở đây theo kiểu phân quyền Sự xuất hiện của các thành thị trung đại đóng vai trò quan trọng trong việc phá bỏ chế độ phong kiến phân quyền, xây dựng chế độ phong kiến tập quyền, thống nhất quốc gia dân tộc, tạo tiền đề cho
sự ra đời của mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa Chế độ phong kiến ở Châu Âu dần dần bị tan rã khi những cuộc phát kiến địa lí được tiến hành, sự nảy sinh chủ nghĩa tư bản, sự đấu tranh chống phong kiến của giai cấp tư sản trong phong trào văn hóa phục hưng và trong cải cách tôn giáo
* Phần lịch sử thế giới cận đại:
Hệ thống những kiến thức cơ bản của phần lịch sử thế giới cận đại trong chương trình lịch sử lớp 10 chủ yếu tập trung vào các cuộc cách mạng tư sản, sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản, sự bành trướng thuộc địa của các nước đế quốc và sự hình thành, phát triển của phong trào công nhân quốc tế Cụ thể như sau: + Từ giữa thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII: Diễn ra các cuộc cách mạng tư sản Cách mạng tư sản Hà Lan nổ ra và giành thắng lợi, Hà Lan trở thành trung tâm kinh tế thương mại lớn, có đội thương thuyền mạnh và buôn bán khắp nơi Cách mạng tư sản Anh nổ ra và giành thắng lợi đã lật đổ chế độ phong kiến, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển ảnh hưởng lớn đến tiến trình lịch sử thế giới và sự phát triển của xã hội loài người Cuộc chiến tranh giành độc lập ở Bắc Mỹ là cuộc cách mạng tư sản nổ ra và giành thắng lợi ngoài Châu Âu Tiếp theo là cuộc cách mạng tư sản Pháp giành thắng lợi, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển
Trang 36+ Từ đầu thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX: Những cuộc cách mạng trên nổ ra và giành thắng lợi, đến cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh thì đủ điều kiện để khẳng định rằng chủ nghĩa tư bản đã thật sự trở thành hệ thống thế giới Bắt đầu sự bành trướng mở rộng lãnh thổ, xâm chiếm thuộc địa Cũng trong khoảng thời gian này phong trào công nhân quốc tế được hình thành và phát triển Sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học với những nhà sáng lập là Mác và Ăng ghen…
Nội dung của khóa trình lịch sử thế giới được khái quát đó là lịch sử xã hội
loài người thời nguyên thủy, đến các quốc gia cổ đại phương Đông, Phương Tây, và nền văn hóa của các quốc gia này Sự hình thành và tan rã của chế độ phong kiến
Sự xuất hiện mầm mống của chủ nghĩa tư bản, sự bùng nổ của các cuộc cách mạng
tư sản, và sự ra đời ra phong trào công nhân, phong trào cộng sản quốc tế
2.1.2 Vị trí, mục tiêu của phần lịch sử thế giới trong chương trình lịch sử lớp 10
* Vị trí của khóa trình:
Trong chương trình lịch sử lớp 10 (chương trình chuẩn), khóa trình lịch sử thế giới gồm 24 bài và phân bố ra 31 tiết :
Bài 1: Sự xuất hiện loài người và bầy người nguyên thủy (1 tiết)
Bài 2: Xã hội nguyên thủy (1 tiết)
Bài 3: Các quốc gia cổ đại Phương Đông (2 tiết)
Bài 4: Các quốc gia cổ đại Phương Tây – Hy Lạp và Rô ma (2 tiết)
Bài 5: Trung Quốc thời phong kiến (2 tiết)
Bài 6: Các quốc gia Ấn và văn hóa truyền thống Ấn Độ (1 tiết)
Bài 7: Sự phát triển lịch sử và nền văn hóa đa dạng của Ấn Độ (1 tiết)
Bài 8: Sự hình thành và phát triển các vương quốc chính ở Đông Nam Á (1 tiết) Bài 9: Vương quốc Campuchia và vương quốc Lào (1 tiết)
Bài 10: Thời kì hình thành và phát triển của chế độ phong kiến Tây Âu (1 tiết) Bài 11: Tây Âu thời hậu kì trung đại (2 tiết)
Bài 12: Ôn tập lịch sử thế giới nguyên thủy, cổ đại và trung đại (1 tiết)
Bài 29: Cách mạng Hà Lan và cách mạng tư sản Anh (1 tiết)
Bài 30: Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ (1 tiết) Bài 31: Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỷ XVII (2 tiết)
Trang 37Bài 32: Cách mạng công nghiệp ở Châu Âu (1 tiết)
Bài 33: Hoàn thành cách mạng tư sản ở Châu Âu và Mĩ giữa thế kỷ XIX (2 tiết) Bài 34: Các nước tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa (1 tiết) Bài 35: Các nước Anh, Pháp, Đức, Mĩ và sự bành trướng thuộc địa (2 tiết) Bài 36: Sự hình thành và phát triển của phong trào công nhân (1 tiết)
Bài 37: Mác và Ăng ghen Sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học (1 tiết) Bài 38: Quốc tế thứ nhất và công xã Pari 1871 (1 tiết)
Bài 39: Quốc tế thứ hai (1 tiết)
Bài 40: Lê-nin và phong trào công nhân Nga đầu thế kỷ XX (1 tiết)
Trong tiến trình phát triển của lịch sử thế giới thì thời đại nguyên thủy, cổ trung và cận đại đóng một vai trò quan trọng không thể thiếu trong việc phát họa lại bức tranh của lịch sử, của quá khứ Thông qua khóa trình này con người mới biết được nguồn gốc thật sự của mình, biết được dấu vết của con người xuất hiện sớm nhất ở khu vực, quốc gia nào, biết được sự phát triển đi lên hợp quy luật của xã hội loài người thông qua 5 hình thức xã hội và tương đương với 5 phương thức sản xuất.Thời đại nguyên thủy đây là giai đoạn tạo tiền đề, cái móng để cho các giai đoạn sau có cơ sở tồn tại và được củng cố Thông qua thời kì cổ và trung đại thì con người mới biết được cơ sở nào để nhà nước ra đời và sự khác nhau giữa mô hình xây dựng nhà nước giữa Phương Đông và Phương Tây Biết được những nền văn minh của nhân loại bắt đầu từ đâu, với những thành tựu gì và ảnh hưởng như thế nào đến nền văn hóa của dân tộc và đối với nhân loại Biết được chế độ phong kiến được hình thành và tan rã như thế nào, cũng như vai trò của vị vua trong việc tổ chức bộ máy nhà nước Chúng ta sẽ biết được những cuộc cách mạng tư sản tiêu biểu trên thế giới thông qua thời kì cận đại, biết được do đâu mà chủ nghĩa tư bản được xác lập và điều kiện nào để chủ nghĩa tư bản bắt đầu mở rộng xâm chiếm lãnh thổ,…Đây là một khóa trình quan trọng với việc nhận thức môn lịch sử, và đặc biệt
là đối với tiến trình lịch sử thế giới, đó là một sự phát triển hợp quy luật, có lôgic Tuy nhiên, điểm đặc biệt ở đây là khóa trình này trong chương trình lịch sử lớp 10 lại bị chia cắt Phần lịch sử thế giới không được trình bày một cách lôgic mà
nó có sự chia cắt bởi phần lịch sử Việt Nam ở giữa chương trình Từ phần một
“Lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại” sau đó không phải được tiếp
Trang 38tục bởi phần lịch sử thế giới cận đại mà chương trình lại bị cắt ngang, chăn vào giữa
là phần hai “Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX”, sau đó mới quay lại phần ba “Lịch sử thế giới cận đại” Cách phân chia này theo chúng tôi thì chưa hợp lí và không được lôgic Hơn nữa, với cách phân chia, cấu trúc như thế này thì không thuận lợi cho việc tiếp thu kiến thức của học sinh, kiến thức của các em sẽ dễ
bị đảo lộn Tại sao lại không chia theo cách lần lượt từ phần lịch sử thế giới rồi sau
đó mới đến phần lịch sử Việt Nam, cách chia như thế mới thuận lợi cho việc dạy và học, đồng thời các em cũng sẽ dễ tiếp nhận và nhớ kiến thức được tốt hơn
Về dung lượng kiến thức trong khóa trình lịch sử thế giới thì theo chúng tôi đó đều là những kiến thức cần thiết và cơ bản cần cung cấp cho học sinh, nó không quá sức và cũng không quá nhẹ nhàng đối với các em, nghĩa là nội dung của khóa trình phù hợp với đối tượng, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi của học sinh phổ thông Về cách phân bổ tiết học theo phân phối chương trình, theo chúng tôi sự phân phối đó
có sự hợp lí, những bài có nội dung kiến thức nhiều đều được phân chia ra làm 2 tiết, điều đó thuận lợi cho việc giảng dạy của giáo viên cũng như việc học của học sinh, bởi 1 tiết lên lớp ở trường phổ thông chỉ có 45’ Cách phân bố tiết học giúp cho cả giáo viên và học sinh điều hòa tốt hoạt động của mình
* Mục tiêu của khóa trình:
- Về mặt kiến thức:
Khóa trình lịch sử thế giới trong chương trình lịch sử lớp 10 là một khóa trình
có nhiều nội dung quan trọng Nhưng theo phân phối của chương trình thì phần lịch
sử thế giới có sự gián đoạn Chính điều này làm các em học sinh khó tiếp nhận và
dễ lãng quên kiến thức, cũng dễ dẫn đến sự lẫn lộn Do đó, khi giảng dạy phần này giáo viên phải giúp học sinh nắm bắt được những kiến thức cơ bản, phân được mốc thời gian và khả năng nhớ kiến thức tốt, hiểu bài sâu
Ở phần lịch sử thế giới thời nguyên thủy Giáo viên phải cung cấp kiến thức để học sinh nắm được, hiểu được về sự xuất hiện của loài người, khẳng định được nguồn gốc của loài người là từ một loài vượn cổ Trải qua quá trình lao động rất lâu dài, nó thúc đẩy quá trình tiến hóa trong cơ thể loài vượn cổ, tạo điều kiện cho bàn tay và bộ óc phát triển trở nên khéo léo, từ đó loài vượn cổ mới dần dần tiến hóa thành người và quá trình tiến hóa này kéo dài hàng triệu năm Cho các em thấy
Trang 39được giữa loài người và loài vượn có nhiều điểm tương đồng, đồng thời cũng có nhiều điểm khác nhau Điểm khác biệt cơ bản giữa người và vượn là sự chế tạo công cụ của loài người Ban đầu công cụ của loài người chế tạo ra rất thô sơ, từ những mảnh đá, hòn cuội đến những cái lao, cung tên và dần được cải tiến cho đến khi đồ kim khí ra đời Đời sống của loài người ban đầu bấp bênh, phụ thuộc vào thiên nhiên, sống chủ yếu bằng săn bắt hài lượm Càng về sau cuộc sống càng phát triển, trồng trọt, chăn nuôi xuất hiện, con người dần biết cách để tự nhiên phục vụ cuộc sống của họ Mặc dù cuộc sống lúc đầu còn rất mông muội nhưng con người cũng đã dùng đến đồ trang sức bằng ốc, vỏ sò… và có tín ngưỡng của mình Lúc đầu người nguyên thủy sống thành những bầy đàn, về sau do yêu cầu của sức sản xuất, bầy người nguyên thủy có sự tổ chức xã hội ổn định và chặt chẽ hơn, công xã thị tộc ra đời Đến khi đồ kim khí xuất hiện, sức sản xuất tăng lên, kinh tế phát triển, xuất hiện của thừa, giai cấp xuất hiện, từ đó công xã thị tộc tan rã, nhà nước ra đời
Ở phần lịch sử thế giới thời cổ đại, trung đại Kiến thức mà học sinh cần nắm
đó là: Sự hình thành, phát triển của các nền văn minh nhân loại ở cả Phương Đông (Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ và Trung Hoa) và Phương Tây (Hy Lạp, La Mã), nền kinh tế cũng như văn hóa xã hội của những nước này, đặc biệt là nền văn hóa của
họ (ngôn ngữ, chữ viết, tôn giáo, kiến trúc, khoa học,…); cho các em biết về sự hình thành, phát triển và tan rã của chế độ phong kiến ở Phương Đông và ở Châu Âu với một số nước, khu vực điển hình như Ấn Độ, Trung Quốc, khu vực Đông Nam Á, đế quốc La Mã
Ở phần lịch sử thế giới cận đại trọng tâm là cung cấp cho các em những kiến thức sau: Bối cảnh bùng nổ của các cuộc cách mạng tư sản, diễn biến, kết quả và ý nghĩa Tiêu biểu như cách mạng tư sản Hà Lan, cách mạng tư sản Anh, Pháp, cách mạng công nghiệp ở Châu Âu, cuộc chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Băc Mĩ Sự hình thành, bành trướng của chủ nghĩa đế quốc ra các khu vực xung quanh Sự hình thành, phát triển của phong trào công nhân quốc tế, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ở nửa đầu thế kỷ XIX, tiêu biểu là phong trào công nhân ở Pháp, Đức, Anh Sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học, với những nhà sáng tạo lừng danh là Mác, Ăng-ghen Qúa trình ra ðời và hoạt ðộng của Quốc
Trang 40tế thứ nhất, quốc tế thứ hai, sự thành lập công xã Pari Tìm hiểu về phong trào công nhân ở nước Nga, về nhân vật chủ chốt của nước Nga là V.L.Lênin
Khóa trình lịch sử này có một khối lượng kiến thức lớn, phong phú và quan trọng Do đó, khi giảng dạy phần này giáo viên phải có phương pháp phù hợp để học sinh có thể nắm được kiến thức, hiểu được bài, hứng thú với bài học và nâng cao hiệu quả của bài học lịch sử Giúp các em có vốn kiến thức sâu rộng, có thể đối sánh được lịch sử dân tộc với lịch sử thế giới, muốn phát triển đất nước thì phải tìm hiểu các nước bạn, phần lịch sử thế giới sẽ cung cấp cho các em những tri thức quan trọng này
- Về mặt giáo dục:
Lịch sử thế giới, phạm vi kiến thức rộng lớn không những cung cấp nguồn kiến thức quan trọng cho học sinh mà còn hướng đến việc giáo dục các em Học phần lịch sử thế giới, thông qua phương pháp dạy của giáo viên sẽ góp phần giáo dục học sinh như sau: Qua bài giảng của giáo viên sẽ làm học sinh nắm được những kiến thức cơ bản về lịch sử trên thế giới, cho các em thấy được nguồn gốc của loài người, sự lao động của con người trong quá trình tiến hóa Qua đó các em sẽ tỏ lòng khâm phục trước sự sáng tạo của loài người, dù chưa được tiến hóa hoàn thiện nhưng họ đã làm ra được những công cụ từ thô sơ cho đến hiện đại (những chiếc rìu tay, hòn cuội cho đến những cái cuốc, cái cày và hiện đại hơn là những máy cày, máy dệt,…để cải thiện đời sống của mình Họ đã tạo ra lửa và loài người dùng đến ngày nay, họ tạo ra cung tên, đó là một sự tiến bộ đáng kể,…những tri thức lịch sử này sẽ giáo dục cho các em lòng khâm phục trước sự cố gắng lao động không ngừng của người xưa để ngày càng tiến hóa
Những nền văn hóa của các quốc gia cổ trung đại ở Phương Đông, cũng như Phương Tây góp phần giáo dục cho các em về lòng yêu lao động, sự say mê lao động của loài người để tạo ra những công trình quy mô, rộng lớn và có giá trị cho đến ngàn đời sau Khi giảng dạy phần này giáo viên cần phải giáo dục cho các em
về lòng kính trọng trước nhân dân lao động, ý thức giữ gìn và trân trọng những di sản văn hóa thế giới Đồng thời, qua đó cũng giáo dục cho học sinh những giá trị nhân văn của cuộc sống, cho các em biết chiêm ngưỡng, hưởng thụ và sáng tạo ra cái đẹp, hướng các em đến những giá trị “chân - thiện - mĩ” Qua những thành tựu