1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tạo biểu tượng về những biến cố lớn trong dạy học lịch sử việt nam lớp 11 trung học phổ thông (chương trình chuẩn)

132 471 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC PHẠM THỊ THÚY TẠO BIỂU TƯỢNG VỀ NHỮNG BIẾN CỐ LỚN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN LUẬN V

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHẠM THỊ THÚY

TẠO BIỂU TƯỢNG VỀ NHỮNG BIẾN CỐ LỚN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ

VIỆT NAM LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

(CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM LỊCH SỬ Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN LỊCH SỬ)

Mã số: 60 14 01 11

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Thế Bình

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn và chúc sức khỏe tới các thầy cô trường Đại Học Giáo Dục - Đại Học Quốc Gia Hà Nội, các thầy cô trong tổ bộ môn Phương pháp dạy học Lịch sử, các thầy cô bộ môn đã dạy tôi trong suốt hai năm cao học vừa qua, phòng Đào tạo sau Đại học, Phòng thông tin thư viện trường Khoa học xã hội nhân văn, thư viện Đại học Quốc Gia Hà Nội, thư viện trường và phòng bộ môn khoa Sử- trường Đại học Sư Phạm Hà Nội, tôi cũng gửi lời cảm ơn, đến ban giám hiệu, tổ chuyên môn trường THPT Lương Tài II- Bắc Ninh,

đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, góp nhiều ý kiến quý báu và cả những lời động viên khuyến khích để tôi hoàn thành luận văn này

Với tình cảm trân trọng và lòng biết ơn sâu sắc, qua luận văn này cho phép tôi được gửi lời cảm ơn thâm tình đến PGS TS Nguyễn Thị Thế Bình, khoa Lịch sử, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, người đã chỉ bảo tận tình, động viên, khuyến khích tôi trong suốt quá trình tôi làm luận văn Sự dẫn dắt những kiến thức chi tiết, khoa học của cô là bài học nhiều ân huệ nhất đối với tôi trong suốt cuộc đời làm sự nghiệp giáo dục trồng người

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng kính trọng, biết ơn vô cùng tới những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, đã luôn bên tôi, động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tôi hoàn thành khóa học

Tôi xin chân thành cảm ơn

Hà Nội, tháng 11/2015 Tác giả

Phạm Thị Thúy

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Danh mục chữ viết tắt ii

Mục lục iii

Danh mục bảng v

Danh mục biểu đồ vi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TẠO BIỂU TƯỢNG VỀ NHỮNG BIẾN CỐ LỚN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT 16

1.1 Cơ sở lí luận 16

1.1.1.Một số khái niệm cơ bản 16

1.1.2 Phân loại biểu tượng lịch sử 22

1.1.3 Cơ sở xuất phát của vấn đề tạo biểu tượng cho HS 24

1.1.4 Vai trò, ý nghĩa của đối với việc phát triển toàn diện nhân cách học sinh 33

1.2 Cơ sở thực tiễn 39

1.2.1 Mục đích điều tra 39

1.2.2 Đối tượng điều tra 39

1.2.3 Phương pháp điều tra 39

1.2.4 Nội dung điều tra 39

1.2.5 Kết quả điều tra 40

Tiểu kết chương 1 51

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIÊN PHÁP TẠO BIỂU TƯỢNG VỀ NHỮNG BIẾN CỐ LỚN TRONG DẠY HỌC LSVN LỚP 11 THPT (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) 52

2.1 Vị trí, mục tiêu,nội dung cơ bản của phần lịch sử VN lớp 11 52

2.1.1 Vị trí, vai trò 52

2.1.2 Mục tiêu của phần LSVN lớp 11 52

2.1.3 Nội dung cơ bản của phần LSVN lớp 11 53

2.2 Xác định hệ thống kiến thức cần khai thác để tạo biểu tượng về những biến cố lớn trong dạy học lịch sử VN lớp 11 56

Trang 6

2.3 Những yêu cầu cơ bản khi xác định các biện pháp của việc tạo BT về những

BCL trong dạy học lịch sử cho học sinh lớp 11 (chương trình chuẩn) 59

2.4 Các biện pháp tạo biểu tượng về những biến cố lớn trong dạy học lịch sử cho học sinh lớp 11 62

2.4.1 Sử dụng miêu tả kết hợp với tranh ảnh LS 62

2.4.2 Sử dụng tường thuật kết hợp với bản đồ, sơ đồ, niên biểu 66

2.4.3 Sử dụng phim tư liệu kết hợp với trao đổi đàm thoại 69

2.4.4 Sử dụng câu chuyện lịch sử để tạo BT về BCL 70

2.4.5 Sử dụng tư liệu tham khảo kết hợp với câu hỏi gợi mở 73

2.5 Thực nghiệm sư phạm 82

2.5.1 Mục đích thực nghiệm 82

2.5.2 Đối tượng và nhiệm vụ thực nghiệm 83

2.5.3 Nội dung và phương pháp thực nghiệm 83

2.5.4 Kiểm tra, đánh giá kết quả thực nghiệm 84

2.5.5 Khảo sát đầu vào và phân tích kết quả 86

2.5.6 Tiến trình thực nghiệm 88

Tiểu kết chương 2 92

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 93

1 Kết luận 93

2 Khuyến nghị 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 94

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Kết quả phiếu điều tra dành cho giáo viên 40

Bảng 1.2: Kết quả phiếu điều tra dành cho học sinh 47

Bảng 2.1: Bảng phân phối tần số điểm kiểm tra trước thực nghiệm 87

Bảng 2.2: Bảng phân phối tỷ lệ % kiểm tra đầu vào theo mức độ đánh giá 87

Bảng 2.3: Kết quả thực nghiệm 88

Bảng 2.4: Bảng phân phối mức độ kết quả thực nghiệm 88

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1: Nhận thức của GV về khái niệm về biểu tượng lịch sử 43 Biểu đồ 1.2: Nhận thức của GV về ý nghĩa của việc tạo biểu tượng về những biến

cố lớn trong dạy học lịch sử 44 Biểu đồ 1.3: Nhận thức của GV về vai trò của việc tạo biểu tượng về những biến cố lớn trong dạy học 44 Biểu đồ 2.1: Biểu đồ tỷ lệ % mức độ điểm số bài kiểm tra trước TN 87 Biểu đồ 2.2: Tần suất kết quả thực nghiệm 89

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Yêu cầu bức thiết của xã hội hiện đại là cần đào tạo ra một thế hệ thanh niên yêu nước, có lí tưởng sống, có lòng tự tôn dân tộc và phấn đấu vì sự nghiệp chung của đất nước Muốn vậy, đất nước phải có nền giáo dục phát triển và ngày càng được đổi mới, phải coi giáo dục là quốc sách hàng đầu và là chìa khóa thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước

Nghị quyết Đảng số 29- NQ/TW ngày 04-11-2013 của Hội nghị LT8 BCHTW Đảng khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục và đào tạo nhấn

mạnh: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật

và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực Chuyển tự học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” [tr51] Nghị quyết trên thể hiện mong muốn của Đảng và nhà

nước là: góp phần đào tạo ra những con người có bản lĩnh và năng lực hành động

tự do và sáng tạo

Vua Quang Trung đã từng dạy:

“ Muốn xây dựng đất nước lấy học làm đầu Muốn thịnh trị lấy nhân tài làm gốc”

Điều này ngày càng đúng hơn trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa ngày nay Trong quá trình CNH- HĐH, công nghệ thông tin ngày càng phát triển, đòi hỏi thế

hệ thanh niên VN phải học tập, sáng tạo, phấn đấu không ngừng, tiếp thu những kiến thức tiến bộ của nhân loại, đồng thời phải giữ vững được văn hóa truyền thống

và bản sắc của dân tộc mình Vì vậy Lịch sử phải được đặt đúng vị trí để giáo dục bồi dưỡng phẩm chất, nhân cách của học sinh

HCM cũng hết sức yêu quý và thấy rõ được tầm quan trọng của LS dân tộc, nên Bác đã viết hai câu thơ để răn dạy chúng ta vào năm 1941 rằng:

“Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà VN” [48; tr.222]

Trang 10

Trong thời kì hội nhập và quốc tế hóa cao độ, nhận thức rõ tầm quan trọng của bộ môn khoa học xã hội và nhân văn nói chung, môn LS nói riêng, Hội nghị LT2 BCHTƯĐ khóa VIII (1997) khẳng định “ Coi trọng hơn nữa các môn khoa học

xã hội và nhân văn, nhất là: Tiếng Việt, LS dân tộc” [66; tr.40] Thế hệ HS mỗi nước nhất định phải học để biết và yêu LS dân tộc, soi vào tấm gương LS, tự rút ra được những bài học lí tưởng cao quý cho cuộc sống hiện tại và tương lai

Việc học lịch sử ngày nay có nhiều vấn đề nổi cộm đáng lo ngại Học sinh không quan tâm chú ý học lịch sử một cách nghiêm túc, điểm trong các kì thi tốt nghiệp và thi đại học về lịch sử còn thấp, một số HS coi tiết học LS nhàm chán, rặt những sự kiện khô khan, dài dòng…Đó là thực tế tồn tại ở không ít trường phổ thông hiện nay…Thực trạng này đòi hỏi GV phải đổi mới PPDH, tránh lối học thầy đọc trò chép, tóm tắt kiến thức trong SGK…không gây hứng thú học tập cho HS

Để cuốn hút HS vào mỗi giờ học, thì vấn đề tạo biểu tượng cho HS trong DHLS, là vấn đề cốt yếu có tính chất quyết định, để thực hiện mục tiêu bộ môn

Thực tiễn việc dạy học LS ở trường THPT hiện nay cho thấy GV có quan tâm đến việc tạo biểu tượng, tuy nhiên đa số mới chỉ dừng lại ở lý luận, còn trong thực tiễn dạy học, GV còn nhiều khó khăn lúng túng, do không nhiệt tâm trong nghề vì đồng lương quá thấp, hoặc không chịu trau dồi, kiến thức, học tập công nghệ, dẫn đến tình trạng chỉ dạy cho xong tiết, nên biểu tượng đưa ra còn nghèo nàn, khô khan, thiếu và yếu về CNTT nên kém hiệu quả, không gây được tình cảm yêu mến LS trong học trò.Đối với môn LS, còn có nhiều quan điểm môn LS là môn phụ, môn học thuộc lòng, PPDH lịch sử không hiệu quả và tạo hứng thú cho HS.Việc đổi mới PPDH cũng chưa được quan tâm

PP tốt nhất để HS tiếp cận đầy đủ và sâu sắc về các sự kiện, nhân vật, vấn đề

LS, là PP tạo biểu tượng trong dạy học LS.Trong đó GV tránh lối dạy kiến thức có sẵn, dạy chay, tập cho HS sớm và thường xuyên tiếp cận với biểu tượng lịch sử ( đã được san định, được gia công về mặt sư phạm dưới hình thức và mức độ khác nhau), là một hướng đi đúng, có ý nghĩa tích cực và thiết thực Để dạy học tốt môn LS có nhiều biện pháp khác nhau, nhưng việc tạo biểu tượng về những biến cố lớn của LS là vấn đề cốt lõi

Trang 11

LSVN giai đoạn (1858-1918) có những biến cố lớn: Việt Nam đang từ một nước phong kiến độc lập thì trở thành một nước thuộc địa bị thống trị, áp bức, bóc lột; những cuộc đấu tranh diễn ra anh dũng nhưng đều bị dìm trong biển máu; cuộc khai thác thuộc địa trên quy mô lớn, đem lại những hệ quả tác động không nhỏ đến tình hình kinh tế, xã hội; xuất hiện những khuynh hướng cứu nước mới vượt ra khỏi con đường cứu nước phong kiến Có thể nói LSVN giai đoạn (1858-1918) là một giai đoạn đầy biến động, tang thương, nhưng ngược lại nó cũng là quá trình ghi dấu một giai đoạn vô cùng oanh liệt Do đó việc tạo biểu tượng về những biến cố lớn trong giai đoạn (1858-1918) có ý nghĩa hết sức to lớn, giúp HS thêm hiểu và kính yêu cha ông mình, đồng thời tiếp bước ý chí quật cường vươn lên trong thời kì hòa bình xây dựng đất nước đàng hoàng to đẹp Đặc biệt LS càng lùi xa, càng khó nhận thức, nên việc tạo biểu tượng về những biến cố lớn trong dạy học LSVN (1858-1918), lại càng gặp nhiều khó khăn hơn

Với những lí do nêu trên, chúng tôi mạnh dạn chọn vấn đề “Tạo biểu tượng

về những biến cố lớn trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 11, trung học phổ thông (Chương trình chuẩn)” làm đề tài luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, chuyên ngành

Lý luận và PP dạy học Lịch sử, với mong muốn đưa ra những quan điểm về lý thuyết, những kiến giải và những biện pháp sư phạm trong việc tạo biểu tượng về những biến cố lớn trong DHLS, về những bài học lịch sử thuộc kì II chương trình chuẩn, lớp 11 này Nó sẽ bồi dưỡng, củng cố kiến thức cho tôi trên bước đường giảng dạy sau này, đồng thời là TLTK cho các bạn đồng nghiệp cùng các thế hệ HS,

SV tiếp sau

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề tạo BT về những BCL trong dạy học LS ở trường phổ thông từ lâu đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo các nhà giáo dục LS, cũng như các thầy cô đang giảng dạy ở trường phổ thông, nhiều nhà tâm lí học và giáo dục học, nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, bỏ công sức, trí tuệ nghiên cứu Qua tìm hiểu chúng tôi thấy nổi lên một số công trình tiêu biểu

2.1 Công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Trang 12

Đặt nền móng đầu tiên cho việc nghiên cứu quá trình nhận thức theo quan điểm của triết học Mác- Lê nin, nhận thức là: quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo trên cơ sở thực tiễn Hoạt động nhận thức của con người đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn

Trong tác phẩm của M.N Sác đa cốp “ Tư duy HS” Nxb Giáo dục, Hà Nội,

1970, đã đề cập đến việc tạo BT lịch sử như là một trong các khâu không thể thiếu của quá trình nhận thức LS.Ông đưa ra quan điểm “ Tư duy HS trở nên sinh động, gợi cảm, say sưa, hồi hộp và khẩn trương Điều này góp phần làm cho việc vạch ra nội dung khái niệm của đối tượng, tư duy được đầy đủ và sâu sắc hơn Đồng thời biểu tượng được mở rộng làm phong phú thêm ý làm cho nó có sức mạnh thuyết phục trực tiếp và sự hấp dẫn đầy xúc cảm” [45, tr.92] Ông cũng chỉ ra rằng “ BT ở mức độ hoàn chỉnh mang tính khái quát gần với khái niệm đơn giản” [46, tr.48].Tuy nhiên với việc đưa ra các lí luận quan trọng trong dạy học nói chung, tác phẩm trên chưa đề cập đến các biện pháp tạo biểu tượng LS

Trong cuốn “ Chuẩn bị giờ học như thế nào” của M.G.Đai ri, nhà giáo dục

LS của Liên Xô trước đây ( Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1973) đã đưa ra 14 yêu cầu quan trọng nhất của một giờ học LS, trong đó tác giả đề cập đến yêu cầu tạo biểu tượng trong DHLS thông qua kết hợp nhuần nhuyễn các PPDH Ông đã nhấn mạnh tính hình ảnh, cụ thể, là những sự kiện có giá trị lớn lao, chúng cho phép hình dung lại quá khứ thông qua những chi tiết cụ thể dễ nhìn, từ đó hình thành ở HS niềm tin

vững chắc, ông đã nêu “ Thiếu hình ảnh thì không hình dung được quá khứ LS”

[44, tr8] Ông đã khẳng định hoạt động nhận thức tích cực, độc lập của HS là một điều kiện bắt buộc đối với giờ học được tổ chức một cách khoa học và có hiệu quả Đồng thời tác giả chỉ rõ, muốn tiến hành giờ học lịch sử đạt hiệu quả cao thì cần phải chuẩn bị giáo án, vận dụng linh hoạt các khâu, các phương pháp dạy học ông cũng đưa ra một sơ đồ có thể được coi như kim chỉ nam cho người GV lịch sử về cách sử dụng linh hoạt các tư liệu, nội dung trong quá trình giảng dạy

M Crugiăc trong cuốn “ Phát triển tư duy HS như thế nào”, Nxb Giáo dục,

Hà Nội,1973 đã chỉ rõ việc tạo biểu tượng LS có vai trò và ý nghĩa to lớn đối với

phát triển tư duy HS Ông đã khẳng định “ Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan

Trang 13

là phương pháp tốt nhất phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ của HS” [43, tr.76]

Alêxêep trong cuốn “ Phát triển tư duy HS” Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1976 đã

đi đến nhận định “ Việc học tập không phải xây dựng trên lời nói, những quan niệm rời rạc, mà phải trên cơ sở hình ảnh cụ thể mà HS trực tiếp thu nhận” [1, tr.45]

I.F Kharlamôp trong cuốn “ Phát huy tính tích cực học tập của HS như thế nào?” Nxb Giáo dục, Hà Nội,1978, đã nhấn mạnh: “ Lời nói sinh động của GV kết hợp với tính trực quan có hiệu quả to lớn trong việc dạy học…nó góp phần rèn luyện khả năng tư duy, kĩ năng phân tích, tổng hợp, sáng tạo, tập cho các em nhìn thấy bản chất của các đối tượng và hiện tượng, ẩn sau các hình thức và biểu hiện

bề ngoài, kích thích tính ham hiểu biết của các em” [27; tr.102] Ông cũng chỉ ra rằng: “ biểu tượng là những dấu ấn ghi lại trong ý thức con người về những hình tượng các vật thể, hiện tượng và tri giác Trong các biểu tượng chỉ có những tính chất và dấu hiệu bên ngoài của hiện tượng ( hình dạng, màu sắc, vận động là được ghi lại)” [27; tr.79]

I.Ia Lecne trong cuốn “Dạy học nêu vấn đề” Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1978,

đã chỉ ra rằng “ Dạy học có sử dụng đồ dùng trực quan sẽ là cơ sở để diễn ra sự tái hiện tri thức và PP hoạt động trong học tập” [28; tr56] Ông khẳng định sự cuốn

hút của Công nghệ thông tin tạo hình ảnh trực quan có ý nghĩa rất quan trọng

P.A Rudich trong tác phẩm “ Tâm lý học”, Nxb Matxitcơva, 1986, đã nghiên cứu quá trình nhận thức: từ cảm giác, tri giác đến biểu tượng là “ hình ảnh của sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh được giữ lại trong óc người và hình thành trên cơ

sở các cảm giác và tri giác, xảy ra trước đó” [54; tr.43]

K.D.Usinxki trong quyển “ Những tác phẩm chọn lọc” (1986) cho rằng: “ Để hình thành thuật ngữ, khái niệm cụ thể cho HS phổ thông cần phải có những biểu tượng cụ thể” [30, tr46]

A.M Đanilốp; M.N Xcátkin trong “ Lý luận dạy học ở trường phổ thông”,

1986 đã khẳng định: vai trò của tri giác các sự kiện, hiện tượng là cơ sở để tạo biểu tượng, các tác giả đều thống nhất và khẳng định vị trí đặc biệt quan trọng của việc tạo biểu tượng trong quá trình nhận thức, không có quá trình tạo biểu tượng thì không thể có những bước nhận thức tiếp theo

B.P.Exipốp trong cuốn “ Những cơ sở lí luận dạy học” Nxb Thanh niên,

1996, đưa ra quan điểm “Đặc điểm nhận thức của HS tiến hành trên cơ sở: cảm

Trang 14

giác, tri giác, tạo nên những biểu tượng cụ thể về sự vật, hiện tượng, từ đó biết phân tích, tổng hợp và khái quát vấn đề” [2; tr.46]

F.K.Kôrôvkin khi nghiên cứu về “ Phương pháp dạy học ở trường phổ thông” Nxb Giáo dục, Hà Nội,1998, đã khẳng định: “Học tập LS là một quá trình

nhận thức, mà biểu tượng là một cơ sở quan trọng, vì đó là sản phẩm cao nhất của nhận thức cảm tính” [15; tr.50]

Theo cách tiếp cận “sư phạm tương tác” của Jean Marc Denommé et Madeleine Roy “Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác” Nxb Thanh niên, năm 2000, người GV cần phải quan tâm đến việc tạo ra cho HS một động lực học tập “ Luôn tìm kiếm lợi ích của việc học, cố gắng cá nhân và tự chịu trách nhiệm về việc học của mình HS là một chủ thể độc lập với GV, có thể tự nghiên cứu để hình thành biểu tượng

LS qua đó rèn luyện kĩ năng tự học và sáng tạo, là những kĩ năng kép cần cho một HS hiện đại, để rút ngắn khoảng cách thua kém, và để HS trở thành người chủ thực sự của tương lai” [29, tr.43]

RoBertJ.Marzano, Debra J.Pickering, Jane E Pollock trong cuốn “ Các phương pháp dạy học hiệu quả” (Hồng Lạc dịch, Nxb Giáo dục, TPHCM,2005)

gồm 13 chương, trình bày các phương pháp dạy học có hiệu quả, trong đó các tác

giả đã đi đến nhận định: “Việc dạy học phải bắt đầu từ trực quan nhằm tạo ra trong

óc trẻ một biểu tượng bền vững” [56, tr.62]

Ngoài những tác giả trên còn phải kể đến những tác giả sau: tác giả người

Nga N.I.Ra pôrôze, F.P.Krốpkin trong quyển “ PP dạy học Lịch sử thế giới cổ đại

và trung đại lớp 5, lớp 6”; “ PP dạy học lịch sử ở trường THPT” tập 1 do F.P.Krốpkin chủ biên, phần 3 của sách viết về “ Hình thành tri thức lịch sử trong dạy học LS”; Các tác giả C.A Ekova; I.M Lê bê deva; A.V Đrugiơcôva trong cuốn“ PP giảng dạy lịch sử ở trường PT”; M.V Nheckina trong tác phẩm “ Chức

năng của hình ảnh nghệ thuật trong quá trình lịch sử”; Lâybengrup trong cuốn “

Những yêu cầu đối với một bài học lịch sử về mặt lí luận dạy học; Doran- Wrabn trong cuốn “ Hình thành biểu tượng và khái niệm trong dạy học địa lý”, do Nguyễn Trần Kiều, Nguyễn Trần Cầu dịch; M.B Korôkova, M.T.Stuđennhikin trong tác

phẩm “ Phương pháp học tập lịch sử qua sơ đồ, bảng biểu và hình vẽ”; Vincent Adoumié, Annette Bacrot: hướng dẫn GV cách dạy HS học LS theo chủ đề;

M.T.Stuđennhikin trong tác phẩm “Công nghệ hiện đại trong dạy học LS ở trường phổ thông”…Tuy các công trình này không đề cập trực tiếp đến vấn đề biểu tượng

Trang 15

trong DHLS, nhưng đã giúp chúng tôi nhận thức về định nghĩa, nguyên tắc, cấu trúc của biểu tượng, cũng như cơ sở lí luận của quá trình tạo biểu tượng

Tìm hiểu các công trình nghiên cứu trên chúng tôi thấy được: Biểu tượng tức

là những hình ảnh của các đối tượng của hiện tượng được tri giác từ trước, sự tri giác chủ động tích cực của học sinh dưới sự tổ chức của giáo viên đối với các nguồn

đa dạng phong phú của đối tượng được tri giác là điều kiện cơ bản để quyết định chất lượng của biểu tượng Đó là cơ sở lí luận để xác định những yêu cầu (có tính nguyên tắc sư phạm) trong tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh, đảm bảo tính cụ thể, chính xác của sự kiện, phát huy tính tích cực của học sinh

2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước

Việc dạy học lịch sử đã được chú ý từ lâu song đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách có hệ thống việc tạo biểu tượng cho học sinh trong dạy học lịch sử Tuy vậy nhận thức về vấn đề này cũng được phần nào thể hiện trong các tài liệu sau:

Thứ nhất: Tài liệu tâm lý học, giáo dục học

Trong nhiều cuốn sách các nhà nghiên cứu giáo dục, nghiên cứu tâm lý, và nghiên cứu PP DHLS đã đề cập đến vai trò to lớn của việc tạo biểu tượng LS trong quá trình dạy và tự học

Trong tác phẩm “ Tâm lý học” do Phạm Minh Hạc chủ biên, Nxb Giáo dục,

1980, đã đưa ra định nghĩa về biểu tượng nói chung, phân biệt mức độ khác nhau

giữa biểu tượng và tri giác, biểu tượng và hình ảnh trực quan

Giáo trình “ Tâm lý học đại cương” , do tác giả Nguyễn Quang Uẩn ( chủ

biên), Nguyễn Văn Lũy, Đinh Văn Vang, Nxb Giáo dục, 1981, đã xác định con

đường nhận thức từ mức độ thấp đến cao, cảm giác, tri giác và biểu tượng…Các tác

giả đã nêu ra những đặc điểm chung của quá trình nhận thức cảm tính “ là những thuộc tính trực quan, cụ thể, bề ngoài của sự vật, những mối liên hệ về không gian, thời gian, chứ chưa phải là những thuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên

hệ, quan hệ có tính quy luật của hàng loạt sự vật trong thế giới” Đồng thời các tác giả cũng xác định vai trò của quá trình nhận thức cảm tính “là viên gạch xây nên toàn bộ lâu đài nhận thức”, là một điều kiện quan trọng cho sự định hướng hành vi

và hoạt động của con người trong môi trường xung quanh và hình ảnh của tri giác, biểu tượng, thực hiện chức năng điều chỉnh các hành động

Trang 16

Nhìn chung các nhà tâm lý học, giáo dục học đều khẳng định tầm quan trọng của quá trình nhận thức cảm tính, trong đó đề cập đến việc tạo biểu tượng, xác định vai trò của quá trình nhận thức cảm tính, quyết định đến quá trình hình thành khái niệm- bước cao hơn của nhận thức ( nhận thức lý tính-tư duy trừu tượng)

Như vậy muốn nâng cao chất lượng dạy học lịch sử, thì việc nghiên cứu có

hệ thống về lí luận và thực tiễn việc tạo biểu tượng cho học sinh là một vấn đề quan trọng cần được làm ngay

Thứ hai: Tài liệu giáo dục LS

Phan Ngọc Liên, Phạm Kì Tá trong cuốn “ Đồ dùng trực quan trong DHLS ở trường phổ thông” Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1975, đã nêu lên quan điểm “Đồ dùng trực quan giúp cho HS được tiếp xúc với những chứng cứ vật chất, những dấu vết của quá khứ, nhất là các di vật, di chỉ, tạo cho HS những hình ảnh cụ thể, chính xác

về các sự kiện, hiện tượng lịch sử, tạo ra ở HS những biểu tượng về con người, hoạt động của họ trong bối cảnh không gian, thời gian xác định trong những điều kiện lịch sử cụ thể Nhóm tác giả chỉ ra rằng, việc sử dụng PP trực quan trong DHLS góp phần quan trọng vào việc tạo biểu tượng lịch sử cho HS, cụ thể hóa các sự kiện

và khắc phục tình trạng hiện đại hóa lịch sử ” [37, tr.51]

Lê Khắc Nhãn- Hoàng Triều- Hoàng Trọng Hanh trong cuốn “ Sơ thảo phương pháp dạy học LS ở trường phổ thông cấp II, cấp III”, Nxb Giáo dục, Hà

Nội, 2001, các tác giả đã chỉ rõ, tạo biểu tượng là yêu cầu đầu tiên của việc thực hiện chức năng đặc trưng của DHLS

Trong cuốn “Một số chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử” do tác giả Phan Ngọc Liên- Trịnh Đình Tùng-Nguyễn Thị Côi-Trần Vĩnh Tường đồng chủ biên Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002.Bài viết của Đặng Văn Hồ-khoa Lịch sử- Đại Học Sư phạm Huế với nhan đề “ Tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử để giáo dục, tư tưởng, tình cảm cho HS”, đã nêu lên những lí luận cơ bản về tạo biểu tượng

nhân vật lịch sử, vai trò,ý nghĩa của việc tạo biểu tượng nhân vật lịch sử, các nguyên tắc và một số biện pháp cụ thể Bên cạnh đó bài viết của Phan Thế Kim: Dạy học theo hướng rèn luyện cho HS tiếp cận lịch sử qua tư liệu, trong đó tác giả khẳng định “ Tư liệu lịch sử giúp các em tiếp cận được lịch sử một cách cụ thể, toàn diện hơn, từ đó hiểu lịch sử đúng đắn hơn, sâu sắc hơn Mục đích của việc tự nhiên cứu tư liệu LS là đòi hỏi HS mở rộng hiểu biết bằng cách tự tra cứu những tài liệu thích hợp, nhất là đi tìm hiểu vấn đề thông qua hoạt động tư duy (phân tích, tổng

Trang 17

hợp, so sánh…) trên cơ sở dữ liệu” [37, tr.85]; tác giả cũng nhấn mạnh việc rèn

luyện cho HS tiếp cận lịch sử qua tư liệu, “Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với việc

đò tạo và giáo dục con người Thoát ra khỏi lối dạy “ Cầm tay chỉ việc” (có tính cách “học hộ” và áp đặt, làm cho người học trở nên thụ động, mất khả năng, dũng khí và hứng thú tìm tòi, sáng tạo), các em sẽ quen với tính tự lập, độc lập trong suy nghĩ, trong hành động Họ sẽ trở nên năng động hơn, không còn là những con người chậm chạp, thụ động, chịu đựng, không dám và không biết cách hành động

ra ngoài khuôn khổ đã được huấn luyện từ trước đó đã lâu.” [38, tr.86]

Bài của tác giả Trần Minh Đức: Xây dựng và sử dụng Phòng học bộ môn trong dạy học lịch sử, tác giả đã nêu ra các bộ phận của phòng học LS

Tư liệu thành văn ( gồm các tư liệu thành văn, (các sử liệu gốc được sao chép trong kho lưu trữ, những tiểu thuyết lịch sử, hồi kí, những công trình nghiên cứu phong tục, tập quán, kiến trúc, những bài viết được cắt ra từ các loại báo, tạp chí, các sách hướng dẫn về phương pháp dạy học, các tạp chí chuyên ngành)

Các phương tiện trực quan gồm (Các biểu đồ, sơ đồ, các loại bản đồ LS; những chuyện tranh LS; Sơ đồ và niên biểu LS, những bức ảnh tư liệu, những bộ phim nhựa, video, những băng ghi âm LS) Tác giả đã khẳng định “ Phòng bộ môn là

mô hình hiện đại của việc tổ chức dạy học hiện đại, có hiệu quả.Nó thể hiện những yêu cầu cần có của việc giáo dục thế hệ trẻ Đó là gắn lý thuyết với thực hành Hiệu quả sư phạm của phòng học bộ môn là khắc phục những sai lầm thường gặp- hiện đại hóa lịch sử” [37, tr.115], các bài viết trên là những VD để làm sáng tỏ những vấn đề lí luận về tạo biểu tượng cho HS

Tác giả Nguyễn Thị Côi trong cuốn “Các con đường biện pháp để nâng cao hiệu quả bài học lịch sử ở nhà trường phổ thông” Nxb, ĐH Sư phạm Hà Nội,2011

Cũng đã đề cập đến một số biện pháp tạo biểu tượng nhân vật LS, đặc biệt tham quan học tập ở nhà bảo tàng cách mạng, nhà truyền thống, di tích lịch sử, và từ đó

khẳng định vai trò của biện pháp này, đó là “làm giàu cho các em những biểu tượng lịch sử cụ thể và là chỗ dựa để hình thành các kết luận khái quát ” [9, tr.66]

Trong cuốn “Phương pháp dạy học Lịch sử tập I,II” do tác giả Phan Ngọc Liên chủ biên, Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng, Nxb Đại Học Sư Phạm, 2012 đã

nêu lên một cách khá đầy đủ về việc tạo biểu tượng lịch sử Các tác giả đã nhấn mạnh đến vai trò của việc tạo biểu tượng trong việc hoàn thành mục tiêu dạy học bộ môn,

Trang 18

coi đó là bước đầu tiên của giai đoạn nhận thức cảm tính, là cơ sở để giáo dục và giúp

HS đi sâu tìm hiểu bản chất của sự kiện LS, các tác giả cũng đã đưa ra những vấn đề khái quát nhất về biểu tượng Lịch sử, đưa ra một số con đường và biện pháp sư phạm

để thực hiện tốt hệ thống các phương pháp dạy học lịch sử ở trường THPT Trong đó

có những biện pháp tạo được biểu tượng lịch sử hiệu quả như: sử dụng đồ dùng trực quan, hay công tác thực tế, thực hành chuyên môn…Tất cả cũng đã góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng dạy và học ở trường phổ thông

Trong cuốn “ Phương pháp ôn tập lịch sử ở trường THPT, một số vấn đề lí luận và thực tiễn” của tác giả Hoàng Thanh Tú, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội,

2012, tác giả đã trình bày khá hệ thống một loạt vấn đề liên quan đến lí luận và thực tiễn nhiều biện pháp ôn tập được đề xuất, có tác dụng khắc sâu hiểu biết lịch sử, phát triển kĩ năng phân tích, tổng hợp, tư duy, sáng tạo.Như vậy củng cố và ôn tập thường xuyên có ý nghĩa đặc biệt để đạt được tính bền vững của biểu tượng LS, của kiến thức đã học

Trong cuốn “ Phát triển kĩ năng tự học LS cho HS” của tác giả Nguyễn Thị

Thế Bình, Nxb ĐHSP, Hà Nội, 2014 Bà khẳng định, hoạt động tự học của HS là

một khâu rất quan trọng trong quá trình dạy học, là một nhiệm vụ bắt buộc đối với

HS Học LS theo quy trình của PP nghiên cứu LS chính là quá trình tự học, tự tìm

ra tri thức bằng hành động của chính người học Tự học sẽ rèn luyện tính kiên trì, ý chí, nghị lực và quyết tâm để hoàn thành lí tưởng, ước mơ của mỗi HS Qua việc tự học LS, biểu tượng được hình thành và khắc họa ngày càng sâu sắc, đem đến lòng yêu mến LS cho HS, những thế hệ tương lai của đất nước, góp công sức, trí thông minh, sáng tạo của mình vào sự vươn lên của dân tộc, nếu các em biết học từ lịch

sử, soi mình vào tấm gương LS sẽ học được bài học lớn cho sự tăng trưởng Tác giả

đã chứng minh đúng được quan điểm mà Bác Hồ từng nói “ Trong việc giáo dục phải dành vị trí rộng lớn nhất cho quá trình tự học, tự bồi dưỡng…chỉ có qua con đường tự học loài người mới phát triển mạnh mẽ lên được”

Trong cuốn “PP dạy học môn LS ở trường THPT” do tác giả Vũ Quang Hiển- Hoàng Thanh Tú đồng chủ biên, Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 2014, các

tác giả đã đưa ra một hệ thống vấn đề có liên quan tới việc tạo BT, trong đó quan trọng nhất là HS tự nghiên cứu để tạo BT, sau đó tham gia vào quá trình học tập

Trang 19

trên lớp để củng cố BT một cách vững chắc bằng cách: dạy học nêu vấn đề, làm phiếu học tập, phương pháp Graph, trình bày sản phẩm nhóm, PP sử dụng câu hỏi

và bài tập LS, từ chỗ hiểu bài dẫn đến HS ham thích, mong muốn tự chiếm lĩnh tri thức, đó là con đường học tập LS có hiệu quả

Thứ ba: Các công trình khoa học lịch sử nói chung, đặc biệt là các công trình nghiên cứu về triều Nguyễn, và những tài liệu mang tính chất phổ biến khoa học dùng cho GV và trong chừng mực nhất định dùng cho HS, bao gồm:

Các giáo trình lịch sử VN, các tài liệu chuyên khảo lịch sử ở bậc đại học, sau đại học liên quan đến đề tài nghiên cứu

Trong quyển “kể chuyện lịch sử Việt Nam” của tác giả Phạm Khang, Nxb

Văn hóa thông tin, 2007, tác giả nhấn mạnh phải thông qua kể chuyện lịch sử, kết hợp trình chiếu tranh ảnh, tư liệu để tạo biểu tượng

Cuộc đời và sự nghiệp của các anh hùng dân tộc, chiến sĩ yêu nước, qua các loại sách, tài liệu mang tính phổ biến tri thức như:

“Việt sử giai thoại” của Nguyễn Khắc Thuần, Nxb Giáo dục, 2008, viết những

câu chuyện được lưu truyền trong dân gian (chứa đựng những yếu tố tưởng tượng, nhân cách hóa…) kể về các nhân vật lịch sử tiêu biểu từ khi dựng nước cho đến hết

TK XIX Cuốn sách đã miêu tả khá kĩ ngoại hình, kể những câu chuyện kì lạ liên quan đến nhân vật

“Thế thứ các triều vua VN”, “Danh tướng VN” của Nguyễn Khắc Thuần

“Danh nhân đất Việt” của Nguyễn Anh, Văn Lang, Quỳnh Lưu

“Danh nhân Hà Nội” do Vũ Khiêu chủ biên

“Các nhân vật lịch sử trung đại Đông Nam Á” do Lê Quốc Vinh chủ biên Các loại từ điển về nhân vật lịch sử như: từ điển “ Nhân vật lịch sử VN” của Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh, từ điển “ Nhân vật lịch sử VN” của Nguyễn Quyết Thắng- Nguyễn Bá Thế, từ điển “Tri thức lịch sử phổ thông TK XX” do Phan Ngọc Liên chủ biên

Tất cả các công trình và tài liệu trên là cơ sở quan trọng, cung cấp những thông tin, kiến thức cơ bản, chính xác để chúng tôi tập hợp những tư liệu khoa học

để giải quyết vấn đề tạo biểu tượng về những biến cố lớn trong dạy học LSVN ở lớp

11 ( Chương trình chuẩn)

Trang 20

Thứ tư:Một số bài báo, tạp chí, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ về Lý luận và

PP dạy học LS

Tạo biểu tượng về hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh qua dạy học LS lớp 12 trường THPT (Luận án TS của Đặng Văn Hồ,1996)

Trần Viết Lưu trong Luận án TS, tâm lý, giáo dục (Hà Nội, 1999) đã đề cập

cụ thể đến việc tạo biểu tượng LS cho HS tiểu học

Những công trình này góp phần rất quan trọng giúp chúng tôi xác định cơ sở

lí luận cũng như nguyên tắc chung, con đường và biện pháp sư phạm để tạo biểu tượng về những biến cố lớn trong dạy học LSVN (1858-1918)

Tất cả những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước trên, đã đề cập đến một số khía cạnh về tạo biểu tượng lịch sử như: bản chất của tạo biểu tượng lịch sử

là gì, vai trò của biểu tượng trong dạy học, các biện pháp tạo biểu tượng trong dạy học lịch sử Tuy nhiên chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu tạo biểu tượng

về các biến cố lịch sử điển hình trong một giai đoạn cụ thể Vì vậy đây là một khoảng trống để chúng tôi tiếp tục đào sâu nghiên cứu và mở ra hướng đề tài “Tạo biểu tượng về những biến cố lớn trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 11, trung học phổ thông (Chương trình chuẩn)”

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Là quá trình dạy học lịch sử lớp 11 ở trường THPT (Chương trình chuẩn)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài không đi sâu nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp các nhân vật LS, diễn biến các sự kiện LS, mà tập trung nghiên cứu về các biện pháp tạo biểu tượng về những biến cố lớn trong dạy học LSVN ở lớp 11 THPT (Chương trình chuẩn)

Chỉ tìm hiểu những sự kiện, nhân vật được đánh giá là mang tính bước ngoặt trong LS ( hay còn gọi là những biến cố lớn)

Việc điều tra, khảo sát thực trạng dạy học LS được tiến hành ở một số trường THPT tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương…

Phần thực nghiệm chúng tôi chỉ tiến hành qua một bài trên lớp

Phạm vi thực nghiệm giới hạn ở trường: THPT Lương Tài II (Lương Tài, Bắc Ninh);

Trang 21

Các biện pháp chỉ tập trung trong giờ học nội khóa trên lớp

4 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này chúng tôi nhằm làm rõ các vấn đề sau

Khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc tạo biểu tượng về những biến cố lớn trong dạy học LS

Làm rõ thực trạng của việc tạo biểu tượng về những biến cố lớn trong dạy học LS ở các trường phổ thông hiện nay

Đề xuất các biện pháp tạo biểu tượng về những biến cố lớn trong dạy học LSVN (1858-1918) nhằm góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng của DHLS ở trường THPT

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện đề tài luận văn chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ sau đây

Nghiên cứu lý thuyết: nghiên cứu nguồn tài liệu: tâm lý học, giáo dục học, giáo dục lịch sử, đồng thời nghiên cứu chương trình, SGK Lịch sử lớp 11 (Chương trình chuẩn) để xác định mức độ, nội dung, ý nghĩa các biểu tượng về những biến cố lớn của LS, hệ thống các biến cố LS tiêu biểu có trong SGK lịch sử lớp 11 (Chương trình chuẩn)

Tiến hành điều tra về thực trạng tạo biểu tượng về những biến cố lớn của LS giai đoạn (1858-1918) ở các địa bàn trường THPT thuộc tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương

Xác định được những hệ thống kiến thức cần khai thác để tạo biểu tượng về những BCL trong DHLS VN lớp 11THPT (Chương trình chuẩn)

Đề xuất các biện pháp sư phạm để tiến hành tạo biểu tượng về những biến cố lớn trong dạy học LSVN (1858-1918)

Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra, đánh giá tính khoa học và tính khả thi của các biện pháp mà chúng tôi đề xuất trong đề tài

6 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

6.1 Cơ sở phương pháp luận

Trên cơ sở thế giới quan của CN Mác- Lê nin và tư tưởng HCM, đường lối quan niệm chỉ đạo của Đảng, nhà nước về công tác giáo dục, dạy học lịch sử

Trang 22

Quan điểm lí luận dạy học trong: Giáo dục học, Tâm lý học, phương pháp dạy học bộ môn LSVN

6.2 Phương pháp nghiên cứu

Thứ nhất: Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các văn bản, nghị

quyết của Đảng nhà nước, nghiên cứu tài liệu về tâm lý học, giáo dục học, phương pháp dạy học LS, tài liệu về Phương pháp luận sử học và các cuốn sách chuyên khảo LS có liên quan về giai đoạn này Chương trình, SGK, SGV, sách tham khảo

LS ở trường phổ thông và các tài liệu có trong báo, tạp chí, luận văn… để xây dựng

cơ sở lý luận cho đề tài và xây dựng các mô hình lý thuyết

Thứ hai:Phương pháp nghiên cứu thực tiễn việc dạy học LS ở trường THPT: Điều tra cơ bản bằng nhiều hình thức khác nhau, như dự giờ, khảo sát, thăm

dò ý kiến của GV, HS thông qua phiếu điều tra

Phỏng vấn GV, HS

Thứ ba: Sử dụng phương pháp thống kê toán học: tập hợp và xử lý các số

liệu thu được qua điều tra, thực nghiệm bằng cách sử dụng các công cụ toán học như bảng biểu, giá trị trung bình cộng, độ lệch chuẩn…

Thứ tư: Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Chúng tôi tiến hành thực

nghiệm sư phạm từng phần để kiểm chứng tính khả thi của những biện pháp mà luận văn đề xuất Thực nghiệm dạy một bài cụ thể ở lớp 11 Trong khi tiến hành thực nghiệm có lựa chọn đối tượng thực nghiệm và đối tượng đối chứng Thực nghiệm được tiến hành chủ yếu ở trường THPT Lương Tài II-Bắc Ninh

7 Giả thuyết khoa học

- Nếu các biện pháp sư phạm trong việc tạo biểu tượng về những biến cố lớn trong dạy học lịch sử cho học sinh lớp 11 được thiết kế phù hợp với điều kiện thực tiễn của dạy học lịch sử ở nhà trường THPT nước ta sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn lịch sử ở trường THPT

8 Đóng góp của đề tài

Về lí luận: Khái quát rút ra những nhận thức lí luận và những biện pháp tạo

biểu tượng về những biến cố lớn, góp phần vào đổi mới phương pháp dạy học lịch

sử

Trang 23

Về thực tiễn: Đề xuất một số biện pháp sư phạm và hình thức dạy học để tạo

biểu tượng về những biến cố lớn trong dạy học lịch sử

9 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học: góp phần làm phong phú thêm về lí luận và phương pháp

dạy học bộ môn Lịch sử trong việc phát triển khả năng họcc và vận dụng lịch sử

Ý nghĩa thực tiễn: giải quyết đề tài giúp tôi điều chỉnh việc dạy học của

mình sau này, cũng là nguồn tham khảo với sinh viên trường sư phạm, các bạn đồng nghiệp, đặc biệt là những GV giảng dạy bộ môn Lịch sử tại trường phổ thông

10.Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm

có 2 chương

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tạo biểu tượng về những biến

cố lớn trong dạy học lịch sử ở trường THPT

Chương 2 Một số biện pháp tạo biểu tượng về những biến cố lớn trong dạy

học lịch sử VN lớp 11 THPT

Trang 24

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TẠO BIỂU TƯỢNG

VỀ NHỮNG BIẾN CỐ LỚN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ

Ở TRƯỜNG THPT 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Khái niệm biểu tượng

Theo từ điển “ Tâm lý học” ( Vũ Dũng- Nxb Khoa học xã hội, 2000) thì “BT

là hình ảnh các vật thể, cảnh tượng và sự kiện xuất hiện trên cơ sở nhớ lại hay tưởng tượng, khác với tri giác, biểu tượng có thể mang tính khái quát Nếu tri giác chỉ liên quan đến hiện tại, thì BT liên quan đến quá khứ, tương lai” [tr.26] như vậy

biểu tượng giúp con người phát triển tư duy, nhận thức sự việc một cách nhanh chóng, khái quát

Theo từ điển Tiếng Việt ( tác giả Hoàng Phê chủ biên)-Nxb Khoa học xã hội,

2005, BT là hình ảnh tượng trưng, là hình ảnh của nhận thức, cao hơn cảm giác cho

ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc khi tác dụng của sự vật vào giác quan

đã chấm dứt Theo quan điểm của tác giả, mỗi cá nhân có một trí tưởng tượng phong phú khác nhau, nên biểu tượng là do cá nhân tự tạo ra và ghi nhớ sự việc theo cách của riêng mình

Theo tâm lý học Mác-xít, xét về phương thức phản ánh thì nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan với các cấp độ: phản ánh trực tiếp sự vật, hiện tượng bằng cảm giác và tri giác hoặc phản ánh gián tiếp sự vật, hiện tượng ở mức độ khái quát đơn giản bằng trí nhớ và tưởng tượng dưới dạng các biểu tượng hoặc phản ánh

sự vật, hiện tượng ở mức độ khái quát cao nhất với những thuộc tính bản chất bên trong của sự vật, hiện tượng dưới dạng các khái niệm, quy luật.Theo cách hiểu này thì biểu tượng là hình thức cao nhất và phức tạp nhất của giai đoạn nhận thức cảm tính, biểu tượng là chiếc cầu nối giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính.Trong quá trình tri giác thế giới bên ngoài con người phản ánh sự vật, hiện tượng xung quanh mình dưới dạng hình ảnh của các vật thể Các hình ảnh này phản ánh và lưu giữ trong ý thức các đặc điểm bên ngoài của sự vật Hình ảnh được lưu giữ đó là biểu tượng

BT là những hình ảnh trực quan nảy sinh trong óc người về những sự vật và hiện tượng đã được tri giác trước đây Biểu tượng được hình thành tên cơ sở những

Trang 25

hình ảnh được lưu giữ lại ở vỏ não do cảm giác, tri giác, phản ánh trực tiếp những thuộc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng chẳng hạn BT về tình trạng bị áp bức, bóc lột của người nông dân trong xã hội phong kiến nửa thuộc địa dưới thời thuộc Pháp, BT về mâu thuẫn dân tộc đối kháng giữa nhân dân bị nô dịch bần cùng với

TD Pháp xâm lược tàn bạo…

Cũng giống như tri giác, biểu tượng ban đầu của con người chỉ mang tính đầy đủ tương đối, mỗi người ghi nhớ hình ảnh- biểu tượng của mình theo mức độ hiểu biết của cá nhân, phù hợp với môi trường, mối quan hệ và trình độ nhận thức của chủ thể Trong biểu tượng có những nét không rõ ràng, thậm chí không đúng và

ít liên quan tới nhau Trong quá trình sinh sống học tập, giao tiếp và tham gia các hoạt động khác nhau của con người, biểu tượng ngày càng sinh động, rõ ràng, đầy

đủ và chính xác, có liên quan với nhau, đồng thời có phân biệt với nhau Tuy nhiên rất ít khi có BT đầy đủ vì một BT đầy đủ phải bao gồm: lịch sử tự nhiên của sự vật, hiện tượng tương ứng Điều này khó làm được trong cuộc sống thực tế của mỗi con người Do vậy biểu tượng trong đời sống thực tế, về bản chất chỉ là những “trích đoạn” từ một biểu tượng được xem là đầy đủ nhất ở một thời điểm cụ thể mà nội dung những “trích đoạn” đó là khác nhau đối với những cá nhân khác nhau, thậm chí ngay ở cả một người cũng có thể khác nhau, tùy trường hợp, tùy hoàn cảnh và điều kiện cụ thể

BT có vai trò quan trọng trong quá trình nhận thức thế giới xung quanh của mỗi cá nhân, trong việc hình thành và phát triển tư duy, kích thích bồi dưỡng trí tưởng tượng của con người, góp phần phát triển trí thông minh, sáng tạo Nếu không có biểu tượng, nội dung nhận thức cảm tính của bản thân mỗi người chỉ là những cảm giác, tri giác, hơn nữa chỉ dừng lại ở mức phản ánh thế giới trong thời điểm, khi các sự kiện, hiện tượng trực tiếp tác động tới các giác quan Sau thời điểm

đó, ý thức chúng ta ngừng hoạt động và không lưu giữ được gì vì trong trí nhớ không còn hình ảnh nào của sự vật, hiện tượng

Trong hoạt động nhận thức, biểu tượng luôn có mặt ở mọi lúc, mọi nơi, từ cảm giác, tri giác đến tư duy và cả tưởng tượng nữa…Biểu tượng tạo nên nội dung

cơ bản của các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo Mặt khác, do gắn với các yếu tố tổng hợp

Trang 26

nên các biểu tượng là bậc thang kế tiếp từ các hình ảnh cụ thể đến các khái niệm trừu tượng, là khâu trung chuyển, là bước quá độ từ cảm giác, tri giác (nhận thức cảm tính) sang lĩnh vực tư duy (nhận thức lí tính) Hơn nữa, do mang tính biến đổi rộng rãi (là điều kiện để xây dựng hình ảnh mới), biểu tượng đóng vai trò quan trọng và cần thiết trong hoạt động sáng tạo và phát triển tư duy của con người Biểu tượng càng phong phú, giàu hình ảnh thì quá trình tư duy và nhận thức của con người càng nhạy bén, chính xác Vì vậy trong hoạt động học tập của HS, việc tạo cho HS những biểu tượng cụ thể về các nội dung trong bài học thông qua phương pháp trực quan sinh động, qua những câu chuyện lí thú, hấp dẫn, là việc làm có ý nghĩa và mang lại hiệu quả to lớn

1.1.1.2 Khái niệm biểu tượng lịch sử

BT lịch sử là những hình ảnh về những sự kiện, nhân vật, hiện tượng, điều kiện địa lý…được phản ánh trong óc HS với những nét chung nhất, điển hình nhất Nôi dung của một sự kiện lịch sử được HS nhận thức thông qua việc tạo nên hình ảnh về quá khứ, bằng hoạt động của các giác quan: thị giác tạo nên những hình ảnh trực quan, thính giác đem lại những hình ảnh về quá khứ thông qua lời giảng của GV.Với ý nghĩa như vậy, biểu tượng lịch sử là những hình ảnh thuộc về quá khứ và gắn liền với xã hội loài người Với ý này,biểu tượng lịch sử bao trùm tất cả mọi lĩnh vực trong xã hội, đa diện

Nhà bác học người La Mã Cicéron (106-45 TCN) đưa ra quan điểm: biểu tượng lịch sử chính là biểu tượng của cuộc sống với yêu cầu đạt tới ánh sáng của sự thật Lịch sử ghi lại những sự kiện xảy ra trong tiến trình lịch sử của mỗi nước, mỗi khu vực, nó bao quát, thể hiện tính toàn vẹn, biểu tượng lịch sử sẽ giúp con người tiếp cận gần gũi hơn với nền văn hóa của các thời kì lịch sử đã qua

Những sự kiện (biến cố/ event) diễn ra trong quá khứ cho đến thời điểm hiện tại, không thể thay đổi được, cố định trong không gian và thời gian, mang tính chất tuyệt đối và khách quan nhưng bằng ngòi bút chí công của nhà chép sử, bằng những bức ảnh của nhiếp ảnh gia chúng ta sẽ phần nào khôi phục được bức tranh quá khứ thông qua những biểu tượng lịch sử

Con người muốn nắm bắt quá khứ, diễn đạt sự kiện theo từ ngữ và giải thích

ý nghĩa của sự kiện, Hình dung lịch sử quá khứ một cách tương đối chủ quan đều

Trang 27

nhờ có BT lịch sử làm trung gian khám phá, ghi nhận và là nền tảng để làm phong phú thêm kiến thức mới

Quá trình tập hợp những sự việc diễn ra trong quá khứ làm thành tài liệu cũng chính là câu chuyện kể đối với hiện tại, góp phần to lớn vào việc tạo biểu tượng thông qua ngôn ngữ và âm thanh để có thêm những kiến thức mới

Vai trò của tạo BT trong dạy học lịch sử là rất to lớn, nếu được sử dụng tốt sẽ huy động được sự tham gia của nhiều giác quan, sẽ kết hợp được chặt chẽ hai hệ thống tín hiệu với nhau: tai nghe, mắt thấy, tạo điều kiện cho HS dễ hiểu, nhớ lâu, gây được nhiều mối liên hệ thần kinh tạm thời, khá phong phú, phát triển ở HS năng lực chú ý, quan sát, hứng thú Quá trình GV giao việc để HS thảo luận tự tạo biểu tượng lịch sử cho một sự kiện , HS sẽ hoạt động theo nhóm và làm thành sản phẩm của nhóm mình, sẽ phát triển ở HS những năng lực: giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực sử dụng CNTT Trên cơ sở nguồn dữ liệu trên, các em tỏ rõ năng lực sáng tạo như: đóng kịch, làm phim, kể chuyện lịch sử, miêu

tả, tường thuật Sau mỗi lần các nhóm trình bày sản phẩm GV phải đưa ra câu hỏi trọng tâm về việc nhận định, đánh giá biến cố lịch sử đó, để HS có biểu tượng một cách đúng đắn, sâu sắc, góp phần phát triển tư duy của HS

1.1.1.3 Biến cố lịch sử lớn

Theo nhà sử học Đinh Xuân Lâm: “Biến cố lịch sử là: những sự kiện LS lớn

có ý nghĩa quan trọng làm biến đổi sâu sắc tình hình mọi mặt, biến cố lịch sử chỉ diễn ra một lần không lặp lại trong quá khứ, phản ánh một tiến trình lịch sử được xác định cụ thể về thời gian, không gian, bối cảnh, con người” [34, tr.38] Như vậy

chúng ta có thể nhận định biến cố lịch sử luôn diễn ra trong hoàn cảnh, điều kiện lịch sử nhất định, và chính hoàn cảnh, điều kiện lịch sử này, cắt nghĩa những nguyên nhân sâu xa, nguyên nhân trực tiếp, và cả những nguyên cớ bùng nổ biến

cố Hoàn cảnh lịch sử còn giúp người ta hiểu diễn biến và kết quả của quá trình phát triển biến cố Biến cố lịch sử có thể đưa lại những bước ngoặt quan trọng, những hệ quả trước mắt và lâu dài, những hệ quả trong nước và ngoài nước

Biến cố lịch sử khác với hiện tượng lịch sử, nếu hiện tượng lịch sử không xác định được rõ ràng về mặt thời gian xuất hiện và kết thúc thì biến cố lịch sử là một sự kiện cụ thể xảy ra ở một địa điểm nhất định, vào thời gian xác định, có thời

Trang 28

điểm bắt đầu và thời gian kết thúc, có liên quan đến nhân vật được xác định Biến

cố lịch sử chỉ xảy ra một lần không lặp lại Biến cố lịch sử được nghiên cứu để trình bày một hiện tượng có thời gian xuất hiện, hình thành và có bước vận động phát triển để thấy được tính liên tục của dòng chảy sự kiện

Biến cố lịch sử lớn: là một sự kiện LS, dẫn đến một sự thay đổi quan trọng, căn bản, sự kiện lịch sử đó có thể diễn ra trong mọi mặt nhất là trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của một vùng đất hay một quốc gia, dân tộc Thời điểm xảy ra biến cố ấy thường đánh dấu bước tiến hoặc bước lùi, hoặc là bi kịch LS Như vậy biến cố LS lớn: là một sự kiện LS quan trọng, mang nhiều tính chất tiêu biểu nhất, làm cho đất nước chuyển sang một giai đoạn mới, hoặc một tình thế khác, thường mang đặc trưng vận mệnh của dân tộc

Biến cố lịch sử được sử dụng để nghiên cứu, trình bày một sự vật, hiện tượng

có thời gian xuất hiện, hình thành, và có các bước vận động, phát triển, để thấy được tính liên tục, từ đó rút ra các tính chất, đặc điểm, xu hướng, quy luật vận động Biến cố lịch sử giúp đi sâu tái dựng được cả không khí lịch sử, tâm lý, tình cảm của con người trong những sự vật, hiện tượng tiêu biểu Biến cố lịch sử không phải là sự liệt kê nhiều sự vật, hiện tượng, mà cần biết lựa chọn sự vật, hiện tượng tiêu biểu, điển hình, là biểu hiện tập trung phản ánh quy luật vận động của lịch sử Nghiên cứu các sự kiện quan trọng, không những phải làm sáng tỏ điều kiện hình thành và diễn biến của sự kiện, mà còn phải đi sâu tìm hiểu làm rõ sắc thái riêng của từng sự kiện, mô tả được tâm lý, tình cảm của quần chúng nhân dân và cả không khí xã hội

ở thời điểm sự kiện lịch sử diễn ra Dựng lại biến cố lịch sử một cách sơ sài, giản đơn, sẽ sa vào lối phản ánh chung chung Ðặc biệt, nghiên cứu lịch sử phải tỉ mỉ, công phu, phải xem xét mọi mặt biểu hiện, không được đơn giản, càng không được cắt xén làm cho lịch sử trở nên đơn điệu, tẻ nhạt, thậm chí méo mó

Sự thật lịch sử chỉ có một, nhưng lại có thể xuất hiện ý kiến bình luận khác nhau Bình luận có sức thuyết phục nhất là căn cứ vào sự thật và vận dụng phương pháp lịch sử nhuần nhuyễn, nhận được sự đồng tình của giới sử học và xã hội Ðể đi tới

sự thật lịch sử, không thể sử dụng lối đánh giá cảm tính "yêu nên tốt, ghét nên xấu", không được xuất phát từ quan điểm cá nhân, sử dụng tư liệu sơ sài, mà cần có quan điểm khách quan, toàn diện, dựa trên cơ sở sử liệu đầy đủ, được thẩm định kỹ lưỡng

Trang 29

Có những biến cố chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn rồi chấm dứt, nhưng

dư âm, hệ lụy còn vọng mãi về sau Cũng có những biến cố đã xuất hiện từ trong quá khứ, vẫn còn đang “nhảy múa ” trong hiện tại và có thể ảnh hưởng tới tương lai Thực tế cho thấy, hình dung được những diễn biến, hiểu đúng bản chất của những biến cố đó không phải là điều dễ dàng, đơn giản Vì vậy việc tự tạo ra một khả năng, đối với việc tìm hiểu, phán đoán, lí giải các biến cố lịch sử cũng là điều cần thiết với mỗi người trong cuộc sống hiện tại

Ví dụ: Cách mạng tháng 10 Nga là một biến cố vĩ đại trong Lịch sử thế giới Nga là một Đế quốc rộng lớn nằm trên hai châu lục Âu và Á Đầu TK XX Nga là một nước quân chủ chuyên chế, tàn tích của chế độ phong kiến đã kìm hãm sự phát triển của CNTB Nga Việc Nga Hoàng tham gia Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) đã đẩy nước Nga vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng về kinh tế, chính trị, xã hội Việc nước Nga tham gia chiến tranh và liên tiếp bại trận, như giọt nước cuối cùng làm tràn bát nước, đưa nước Nga tiến sát đến một cuộc Cách mạng được coi là một biến cố lớn vì:

Đối với nước Nga: nó đã đập tan ách áp bức, bóc lột của phong kiến, tư sản Nga, giải phóng công nhân và nhân dân lao động, đưa công nhân và nông dân lên nắm chính quyền, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa

Đối với thế giới: làm thay đổi cục diện thế giới “Chủ nghĩa tư bản không còn

là hệ thống duy nhất trên toàn Thế giới, cổ vũ và để lại nhiều bài học kinh nghiệm cho thế giới trong đó có VN.” [37, tr365]

Có thể nói Cách mạng tháng 10 Nga đã “chặt đứt xiềng xích của CNĐQ, phá tan cơ sở của nó, và giáng cho nó một đòn chí mạng, cách mạng tháng10 như tiếng sét đã đánh thức nhân dân châu Á tỉnh giấc mê hàng nghìn thế kỉ nay Cách mạng tháng mười đã mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải

phóng dân tộc” và “Giống như mặt trời chói lọi cách mạng tháng10 Nga chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa lớn và sâu sa như thế” [48, tr42]

Cách mạng tháng 10 Nga- cuộc Cách mạng vô sản đầu tiên trên Thế giới, mở

ra bước ngoặt trong cục diện lịch sử thế giới: CNTB không còn là một hệ thống duy

Trang 30

nhất Cách mạng tháng 10 Nga đã đi vào lịch sử, tạo dấu mốc quốc tế to lớn, mang đậm tính quá khứ của đầu TK XX

1.1.1.4 Tạo biểu tượng về những biến cố lớn trong DHLS

Do đặc điểm của sự nhận thức LS, việc học tập LS không bắt đầu từ trực quan sinh động, mà từ việc nắm tài liệu, sự kiện và tạo biểu tượng LS Yêu cầu cơ bản của DHLS là phải tái tạo lại những hình ảnh về biến cố LS lớn, đúng như nó tồn tại, mà những biến cố đó, HS không được trực tiếp quan sát, xa lạ với đời sống hiện nay, với kinh nghiệm hiểu biết của các em Vì vậy, trong việc tạo biểu tượng, GV phải làm cho các biến cố lịch sử khách quan, xích lại gần với khả năng hiểu biết của các em Thông qua những hình ảnh cụ thể, sinh động, có sức gợi cảm sẽ tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm của HS Góp phần nâng cao hiệu quả bài học và mục tiêu môn học

Sở dĩ phải lựa chọn những biến cố lớn để tạo biểu tượng lịch sử vì các khóa

trình và bài học lịch sử phân ra “sự kiện cơ bản” và “sự kiện không cơ bản” Sự kiện

cơ bản là những sự kiện phản ánh những biến cố, hiện tượng chi phối một phạm vi

nhất định của quá trình xã hội, những nét đặc biệt và điển hình của quá trình này có

ảnh hưởng đến sự phát triển của thời kì sau Sự kiện không cơ bản là những sự kiện

thứ yếu, ít có ý nghĩa quan trọng trong một quá trình lịch sử và không để lại dấu vết sâu sắc đối với sự phát triển của lịch sử

Tạo biểu tượng về những biến cố lớn sẽ giúp HS nhận thức lịch sử theo một tiến trình đúng đắn khoa học mà không nhầm lẫn giữa các sự kiện Nếu sự kiện nào chúng ta cũng tạo biểu tượng và lạm dụng nó thì dễ làm cho HS phân tán sự chú ý, không tập trung vào các dấu hiệu cơ bản, chủ yếu và thậm chí hạn chế phát triển năng lực tư duy trừu tượng Việc tạo biểu tượng về những biến cố lớn nhằm giúp

HS có cơ sở đi sâu phân tích bản chất của quá trình, sự kiện lịch sử

1.1.2 Phân loại biểu tượng lịch sử

Biểu tượng về hoàn cảnh địa lý:

Là hình ảnh về điều kiện địa lý gắn liền với sự kiện lịch sử được phản ánh trong đầu óc HS với những nét chung nhất, điển hình nhất Hoàn cảnh địa lý có thể

là một địa điểm cụ thể, xác định Qua đó giúp HS hình dung sự kiện với các yếu tố gắn liền với nó, chỉ ra đặc điểm mối liên hệ giữa chúng

Trang 31

Một sự kiện lịch sử bao giờ cũng diễn ra trong một không gian nhất định Không gian của sự kiện có thể là một khu vực rộng lớn, hoặc diễn ra ở một phạm vi hẹp như địa điểm của một trận đánh hay một cuộc khởi nghĩa Vì vậy tạo biểu tượng về hoàn cảnh địa lý, nơi xảy ra sự kiện là yêu cầu trong dạy học LS để xác định không gian lịch sử

Để tạo biểu tượng về hoàn cảnh địa lý, phải có sự kết hợp miêu tả của GV

và HS với việc sử dụng bản đồ, lược đồ, sa bàn…Ví dụ: GV sử dụng “bản đồ chiến thắng Điện Biên Phủ 1954” và miêu tả cho HS về chiến trường Điện Biên- nằm trong lòng chảo, xung quanh là đồi núi cao, mọi sự vận chuyển tiếp tế của địch đều dùng máy bay GV hướng dẫn HS chỉ ra các phân khu: phân khu Bắc, phân khu Nam, phân khu trung tâm, vị trí các ngọn đồi A1, C1, để HS có cái nhìn toàn cảnh về chiến trường Điện Biên Phủ

Biểu tượng về nền văn hóa vật chất: Đó là những hình ảnh về những thành tựu

của loài người trong việc chế ngự thiên nhiên, trong lao động, sáng tạo, sản xuất ra của

cải, vật chất cũng như văn hóa tinh thần của xã hội loài người

Biểu tượng về nhân vật lịch sử: là những đại biểu điển hình của một giai cấp,

một tập đoàn xã hội, những nhân vật kiệt xuất và những nhân vật đê hèn, ti tiện, bán nước Đó là những hình ảnh chung nhất, khái quát nhất cần được phản ánh trong óc

HS Việc tạo biểu tượng lịch sử có thể qua mô tả hình dáng bên ngoài, có thể là một câu nói của nhân vật, hay thông qua tiểu sử của nhân vật đó Dù không quyết định như quần chúng nhân dân, nhưng nhân vật lịch sử có vai trò không nhỏ đến sự phát triển của lịch sử Trong những thời kì lịch sử có thể xuất hiện những cá nhân xuất chúng, nắm bắt được quy luật vận động của lịch sử, hiểu được nguyện vọng của quần chúng nhân dân, biết đề ra đường lối đúng đắn về tổ chức, vận động quần chúng hành động vì lợi ích của giai cấp, của đất nước và thu được thành công trong hoạt động Tạo biểu tượng nhân vật lịch sử là tạo biểu tượng về hành động cụ thể của cá nhân- trong mối quan hệ chặt chẽ với quần chúng, trong một bối cảnh lịch sử cụ thể, tại một địa điểm, thời điểm cụ thể, góp phần không nhỏ vào sự phát triển của lịch sử Những yếu tố cần thiết trong việc tạo biểu tượng nhân vật cho HS phổ thông: Hoàn cảnh lịch

sử cụ thể của nhân vật; Nhiệm vụ lịch sử nảy sinh trong bối cảnh đó; Nhân vật lịch sử xuất hiện và hoạt động như thế nào?; Đóng góp của nhân vật lịch sử

Biểu tượng nhân vật lịch sử là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống các

Trang 32

biểu tượng lịch sử nói chung trong chương trình THPT Bởi vì lịch sử không thể tách

rời yếu tố con người, trong đó có những cá nhân làm nên lịch sử Biểu tượng về nhân vật chính diện: là những nhân vật đại diện cho giai cấp cho dân tộc, có nhiều đóng

góp cho lịch sử dân tộc Hoạt động của họ phục vụ cho lợi ích chung của đại đa số nhân dân, đại diện cho nhân dân đấu tranh với kẻ thù, giành lại những quyền cơ bản của quần chúng nhân dân Trong cuộc đấu tranh ấy, họ được sự ủng hộ của đông đảo quần chúng, tiếng nói chính nghĩa của họ có sức mạnh của cả dân tộc Tạo biểu tượng

về nhân vật chính diện có ý nghĩa giáo dục tư tưởng, tình cảm lớn đối với HS

Biểu tượng về nhân vật phản diện: là những nhân vật đại diện cho một bộ

phận có tư tưởng chống lại những điều thiện mang tính chất áp bức, giành phần lợi

về mình, chống lại cuộc đấu tranh chung mà cả dân tộc đang tiến hành, đi ngược lại quyền lợi dân tộc, thậm chí làm tay sai cho giặc

Biểu tượng về thời gian, về những quan hệ xã hội của con người: những biểu

tượng về thời gian, về quan hệ xã hội của con người, hoàn toàn không tách rời nhau

mà có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một hệ thống trọn vẹn về bức tranh lịch sử Mỗi thời gian gắn liền với một sự kiện lịch sử, và chúng không thể lẫn vào nhau do đặc thù dấu ấn chúng để lại Ví dụ: Năm 40: khởi nghĩa Hai Bà Trưng chống quân Nam Hán đô hộ, đã mở đầu cho quá trình chống áp bức của nhân dân

Âu Lạc Năm 542: Khởi nghĩa Lí Bí, dẫn đến sự ra đời nhà nước Vạn Xuân đã khẳng định được sự trưởng thành của ý thức dân tộc Đánh dấu bước phát triển của phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta Khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ biểu tượng năm 905, ông được sự ủng hộ của nhân dân đã đánh chiếm thành Tống Bình xây dựng chính quyền tự chủ Khởi nghĩa thắng lợi, đã đánh dấu sự thắng lợi

về cơ bản cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta, chấm dứt hơn một nghìn năm Bắc thuộc, đặt cơ sở cho nền độc lập lâu dài của dân tộc

1.1.3 Cơ sở xuất phát của vấn đề tạo biểu tượng cho HS

1.1.3.1 Mục tiêu giáo dục và đào tạo

Mục tiêu của môn LS ở trường THPT là cung cấp kiến thức cơ bản, có hệ thống về lịch sử phát triển hợp quy luật của dân tộc và xã hội loài người Trên cơ sở

đó bồi dưỡng lòng yêu nước tự hào dân tộc…Việc tạo biểu tượng trong dạy học LS,

sẽ góp phần làm các em thêm yêu LS, kính trọng những vị tướng, những chính khách, những nhà hoạt động chính trị, lấy đó làm tấm gương, luôn muốn học hỏi

Trang 33

những kinh nghiệm hay của LS , như thế là thực hiện tốt mục tiêu môn học đề ra

Mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông được xây dựng trên cơ sở lí luận và thực tiễn, thể hiện tập trung ở việc quán triệt mục tiêu chung của giáo dục phổ thông, thông qua chức năng, nhiệm vụ, nội dung của môn học và tình hình nhiệm vụ cụ thể của đất nước trong những điều kiện cụ thể

Mục tiêu giáo dục của bộ môn Lịch sử ở trường THPT được thể hiện thông qua các mặt sau:

Về kiến thức: xác định được rõ những kiến thức cơ bản về các sự kiện lịch sử

tiêu biểu, trên cơ sở củng cố, phát triển nội dung kiến thức lịch sử đã học, hợp thành một hệ thống kiến thức từ thời cổ đại đến nay

Về kĩ năng: tiếp tục hoàn thiện các kĩ năng cần thiết cho học tập lịch sử: như

biết thể hiện quan điểm cá nhân khi xem xét các sự kiện, nhân vật lịch sử, làm việc với SGK và các nguồn sử liệu, biết phân tích, so sánh, tổng hợp, đánh giá…biết làm việc với bảng, biểu, sơ đồ, bản đồ, tranh ảnh lịch sử, có năng lực tự học, phát hiện,

đề xuất giải quyết vấn đề, đồng thời có năng lực tư duy và thực hành

Về thái độ: Thông qua dạy học lịch sử, giáo dục cho HS về quan điểm lập

trường, tư tưởng, phẩm chất, đạo đức, nhân cách, tình cảm theo quan điểm của CN Mác-Lênin, tư tưởng HCM, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước Tri thức lịch sử không chỉ có tác dụng giáo dục trí tuệ, mà còn giáo dục cả tư tưởng, thái độ, góp phần tích cực vào việc đào tạo con người VN toàn diện Mối quan hệ của ba mục tiêu trên Mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở nhà trường THPT là: cung cấp kiến thức cơ bản, hệ thống về lịch sử phát triển hợp quy luật của dân tộc

và xã hội loài người, trên cơ sở đó giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc, lí tưởng độc lập dân tộc và CNXH Từ đó rèn luyện các kĩ năng tư duy và thực hành thông qua học tập bộ môn Thực hiện một cách hoàn chỉnh các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và định hướng thái độ Việc học tập lịch sử ở trường THPT góp phần nâng cao

sự hiểu biết mà HS đã tiếp thu ở THCS, đặc biệt là trình độ lý thuyết trong nhận thức lịch sử và năng lực hoàn thành các nhiệm vụ mà GV đề ra một cách thuần thục, đạt yêu cầu mức độ chương trình học

Định hướng phát triển năng lực: Trong quá trình học tập LS Việt Nam lớp 11

HS cần phải đạt được những năng lực sau:

Trang 34

Trong quá trình học tập cần phải hình thành cho HS năng lực giải quyết vấn đề

Theo Polya 1973 thì năng lực giải quyết vấn đề (NLGQVĐ) gồm: tìm hiểu

vấn đề, lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch, rà sát kiểm tra

Của PISA năm 2003 thì NLGQVĐ có: hấp thụ kiến thức và vận dụng kiến

thức, đến năm 2012 thì cải tiến thành: tìm hiểu và khám phá vấn đề, mô tả và hình thành chiến lược, lập kế hoạch và thực hiện giải pháp, giám sát và xem xét

Theo ATC 21S (2013) thì NLGQVĐ:

Về mặt xã hội thì phải: phân tích vấn đề và tham gia, chấp nhận quan điểm,

quản lý xã hội

Về mặt nhận thức phải: quản lý công việc, lập mục tiêu, quản lý nguồn lực,

thu thập và kết nối thông tin, thứ đến là tính hệ thống và việc phát triển các quy tắc

từ nguyên nhân và kết quả của hành động Cuối cùng là: xem xét và giám sát, kiểm nghiệm những giả thuyết khác

1.1.3.2 Đặc trưng của bộ môn LS

Lịch sử ở trường phổ thông cung cấp cho HS những kiến thức cơ sở của khoa học Lịch sử đạt yêu cầu trình độ cho mỗi lớp, mỗi cấp Vì vậy việc dạy học Lịch sử ở trường phổ thông là thực hiện chức năng, nhiệm vụ của sử học thông qua việc dạy học các khóa trình lịch sử để hoàn thành mục tiêu giáo dục bộ môn

Để xác định đúng đắn các biện pháp sư phạm nhằm giúp HS nắm vững kiến thức lịch sử, trước tiên chúng ta phải hiểu rõ những đặc điểm của tri thức lịch sử

NL tự điều khiển bản thân

NL Xã hội và hợp tác

NL ứng dụng kiến thức

Trang 35

Khác với tri thức của nhiều bộ môn khoa học khác, tri thức lịch sử có những đặc điểm rất nổi bật đó là:

*LS mang tính quá khứ: Lịch sử là quá trình phát triển hợp quy luật của xã

hội loài người từ lúc con người và xã hội hình thành đến nay VD: Xã hội loài người trải qua 5 hình thái kinh tế-xã hội: từ Cộng sản nguyên thủy, Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến, TBCN, Cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là CNXH Dù nơi này, nơi khác, có thể quá độ không trải qua một hình thái kinh tế-xã hội nào đó, nhưng

đó là sự phát triển hợp quy luật, không thể đảo ngược của lịch sử Chẳng hạn: phải xuất hiện giai cấp công nhân chống lại chế độ tư bản ăn bám, bóc lột họ, mới xóa bỏ được chế độ Tư bản và tiến lên XHCN được

Tất cả những sự kiện, hiện tượng lịch sử được chúng ta nhắc đến đều là những chuyện đã xảy ra, nó mang tính quá khứ Ví dụ: Chiến thắng Bạch Đằng năm

938, đã đi vào lịch sử dân tộc ta như một mốc son chói lọi về lòng yêu nước, quyết tâm đập tan âm mưu xâm lược của quân Nam Hán Chiến thắng Bạch Đằng, dưới sự lãnh đạo, chỉ huy tài giỏi của Ngô Quyền đã kết thúc vĩnh viễn ách đô hộ phong kiến phương Bắc, mở ra một thời kì mới- thời kì độc lập, tự chủ lâu dài của dân tộc

ta Sự kiện này mang đậm tính quá khứ của TK X Lịch sử mang tính quá khứ cũng

là một yếu tố thể hiện rõ: đó là điều khác biệt giữa hiện tượng lịch sử với hiện tượng

tự nhiên: trong tự nhiên, hiện tượng mưa bão lặp đi lặp lại và được gọi bằng những tên chung, nhưng lịch sử thì không như vậy, nó chỉ xảy ra một lần và không hề lặp lại Bởi vậy, người ta không thể trực tiếp quan sát được lịch sử quá khứ và chỉ nhận thức được chúng một cách gián tiếp thông qua các tài liệu được lưu lại, hoặc giả, dựa vào các hiện tượng lịch sử tương tự của cái mới, của các dân tộc khác để phân tích, suy nghĩ những vấn đề lịch sử chúng ta đang nghiên cứu, dùng các loại tài liệu này để tham khảo chứ không thể thay thế hiện tượng lịch sử khách quan mà chúng

ta đang nghiên cứu

*Lịch sử mang tính không lặp lại:

Tri thức lịch sử nhìn chung mang tính không lặp lại về thời gian và cả không gian Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ xảy ra trong một thời gian và không gian nhất định, trong những thời gian và không gian khác nhau Ví dụ: Thể chế dân chủ chủ nô Aten hình thành vào thời gian khoảng thiên niên kỉ I TCN, tại không gian

Trang 36

của đất nước Hi Lạp Do đất đai phân tán, không có điều kiện tập trung đông dân cư

ở một nơi Cư dân sống bằng nghề thủ công và buôn bán nên không cần tập trung đông đúc Mỗi vùng là giang sơn của một bộ lạc (một nước), gồm thành thị và những vùng đất đai trồng trọt xung quanh Thể chế dân chủ chủ nô ở Aten mang đặc trưng: hơn ba vạn công dân họp thành đại hội công dân, bầu ra hội đồng 500 Thể chế dân chủ chủ nô ở Aten là sự kiện chỉ diễn ra duy nhất một lần ở thời cổ đại của các quốc gia Hi Lạp và Rô Ma, sau này dưới thời phong kiến, sự dân chủ bị chà đạp, mọi quyền lực tập trung vào tay vua và các lãnh chúa từ phân tấn đến tập trung cao độ

Không có một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào xảy ra cùng thời điểm, trong các thời kì khác nhau hoàn toàn giống nhau, dù có điểm giống nhau, lặp lại, mà là

sự kế thừa phát triển- “sự lặp lại trên cơ sở không lặp lại” [51; tr45] Đời sống của

xã hội loài người, cũng như của mỗi dân tộc trong quá trình phát triển lịch sử của mình đã trải qua những sự thay đổi lớn lao Tất cả mọi lĩnh vực từ trình độ sản xuất, chế độ chính trị, quan hệ xã hội, đến ăn, ở, đi lại, tư tưởng triết lí, đạo đức đều đã trải qua những thay đổi, biến hóa không ngừng Chính điều này buộc các nhà giảng dạy lịch sử khi trình bày một sự kiện, hiện tượng nào đó trong lịch sử, phải xem xét tính cụ thể cả về thời gian và không gian làm nảy sinh sự kiện, hiện tượng đó Qua

đó nhận thấy các sự kiện lịch sử cụ thể, riêng biệt song có mối quan hệ với kế thừa

*Lịch sử mang tính cụ thể: Lịch sử là khoa học nghiên cứu tiến trình lịch sử

cụ thể của các nước, các dân tộc khác nhau và quy luật của nó Lịch sử của mỗi nước, mỗi dân tộc đều có diện mạo riêng, do những điều kiện riêng quy định Mặt khác, các quốc gia, các dân tộc khác nhau sống trên những khu vực khác nhau, tuy

bị tác động của những quy luật chung, trải qua quá trình phát triển, trình độ sản xuất không ngừng nâng cao, đời sống văn hóa tinh thần của con người ngày càng phong phú, đa dạng nhưng tiến trình phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc không hoàn toàn giống nhau

Chính đặc điểm này đòi hỏi việc trình bày các sự kiện, hiện tượng lịch sử, càng cụ thể bao nhiêu, càng sinh động bao nhiêu lại càng hấp dẫn bấy nhiêu Song

dù có sự khác biệt, sự phát triển của lịch sử các dân tộc đều tuân thủ những quy luật chung sự phát triển của xã hội loài người

Trang 37

*Lịch sử mang tính thống nhất giữa sử và luận:

Sử học là một ngành của khoa học xã hội Nó xuất hiện rất sớm, từ khi hình thành các quốc gia cổ đại Từ trước đến nay, nhiều quốc gia, nhiều dân tộc trên thế giới đã xuất hiện nhiều sử gia nổi tiếng: như Hê rô đốt, Tuxiđit ở Hi Lạp và Rôma, nhà sử học Tư Mã Thiên, ông tổ của sử học Trung Quốc; ở VN, Lê Văn Hưu là sử gia đặt những nền móng đầu tiên của nền sử học nước nhà Các sử gia đã ghi chép lại nhiều sự kiện và hiện tượng lịch sử mà họ cho rằng có ý nghĩa quan trọng, nhằm

để lại cho hậu thế những trước tác lịch sử quý báu Họ đã tích lũy được những tư liệu lịch sử phong phú và cũng trình bày những quan điểm tư tưởng về sử học và phương pháp giải quyết những vấn đề lịch sử Những ghi chép về quá trình phát triển xã hội loài người từ những góc độ khác nhau, đó đều là những nội dung quan trọng của di sản văn hóa nhân loại Thế nhưng, lí luận lịch sử cũng như quan điểm lịch sử trước khi có chủ nghĩa Mác, về cơ bản đều xuất phát từ lập trường bảo vệ lợi ích của giai cấp bóc lột C.Mác và Ph Ăng ghen là những người đầu tiên vạch ra được quy luật phổ biến của sự phát triển xã hội loài người Các ông đứng trên lập trường của giai cấp vô sản, vận dụng những nguyên lí của chủ nghĩa duy vật biện chứng, giữa sức sản xuất và quan hệ sản xuất, cơ sở kinh tế và kiến trúc thượng tầng, từ đó vạch ra quá trình nói chung của sự phát triển tuần tự các hình thái kinh tế

xã hội, đã chứng minh: lao động sản xuất và đấu tranh giai cấp là động lực chủ yếu

Trang 38

thúc đẩy sự phát triển của xã hội, rằng quần chúng nhân dân là người sáng tạo thực

sự của lịch sử Và như vậy, sử học mới bắt đầu trở thành một khoa học thực sự, chân chính

Mặt khác, do mục tiêu, lí tưởng đấu tranh của giai cấp vô sản cùng với sự phát triển hợp quy luật của lịch sử mà nhân dân lao động, và giai cấp vô sản đã trân trọng sự thật lịch sử, đấu tranh cho quan điểm đường lối của giai cấp vô sản mà đại diện là ĐCS chân chính theo chủ nghĩa Mác Vì vậy việc nghiên cứu và dạy học Lịch sử, đấu tranh chống sự xuyên tạc lịch sử của các giai cấp bóc lột cần dựa vững chắc vào những nguyên lí của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để quan sát, nghiên cứu quá trình phát triển của xã hội loài người thì những nhận định, kết luận rút ra mới đảm bảo tính khoa học, vận dụng có hiệu quả vào cuộc sống Ở đây tính giai cấp của giai cấp vô sản và tính khoa học của lịch sử là hoàn toàn đồng nhất, giữa “sử” và “luận”, có sự thống nhất cao độ Từ đặc điểm này mà trong giảng dạy lịch sử, người GV phải đảm bảo sự thống nhất giữa trình bày sự kiện với giải thích bình luận đều phải xuất phát từ sự kiện lịch sử cụ thể chính xác, đáng tin cậy

và không có sự kiện, hiện tượng nào không được giải thích làm sáng tỏ bản chất của

sự kiện, hiện tượng đó Đó là sự thống nhất giữa tính khoa học và tính Đảng của nghiên cứu và dạy học Lịch sử theo chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng HCM

Vì vậy cần phải tạo biểu tượng để nhằm khôi phục lại LS một cách sinh động sâu sắc Do đó vai trò của tạo biểu tượng trong dạy học lịch sử là rất quan trọng

1.1.3.3 Đặc điểm tâm sinh lý HS THPT

Lứa tuổi học sinh THPT được xác định vào khoảng 16-18 tuổi, đây là giai đoạn đầu của lứa tuổi thanh niên Ở thời điểm này các em hình thành nhiều tính cách của người lớn Hành động của các em ngày càng độc lập và có tinh thần trách nhiệm cao Các em luôn mở rộng mối quan hệ xung quanh, thầy cô và bạn bè Nguyên nhân là do ở lứa tuổi này bị chi phối ở ý chí khát khao làm chủ bản thân, khẳng định vị trí bình đẳng của mình trong xã hội Cùng với sự trưởng thành về mọi mặt, tính dựa dẫm phụ thuộc vào cha mẹ cũng được thay bằng quan hệ tự lập, bình đẳng Tuy nhiên lứa tuổi này vẫn phụ thuộc vào người lớn về nhiều mặt, về kinh tế, hình thành đạo đức, thế giới quan và định hướng ngành nghề

Trang 39

Đối với HS THPT, nội dung và tính chất hoạt động học tập của các em khác rất nhiều so với hoạt động của HS cấp dưới, sự khác nhau không chỉ ở nội dung học tập ngày càng sâu sắc và trừu tượng hơn, mà hoạt động học tập của các em đòi hỏi tính độc lập và năng động cao hơn nhiều Nội dung, chương trình học tập dành cho người học phải có tư duy, lý luận sâu sắc hơn, nhất là khả năng tự tổng kết và đánh giá

Lứa tuổi 16-18 là giai đoạn bắt đầu trưởng thành, trong các em nảy sinh yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng đào tạo, cũng như chất lượng của GV Ở lứa tuổi này các em cũng dần dần ý thức về bước đi của mình trong tương lai, do đó

ý thức học tập của các em ngày càng phát triển Thái độ của các em đối với môn học mang tính lựa chọn nhiều hơn, bắt đầu hình thành tư tưởng hứng thú học tập các môn học gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp Có thể nói ở giai đoạn này đã

có sự phân biệt về trình độ nhận thức giữa các môn học, hay chính xác hơn là hướng

sự tập trung chính vào các môn học theo các khối thi, hoặc các môn học có tính thời đại Các hứng thú này bắt nguồn từ định hướng nghề nghiệp của các em sau này

Một nhược điểm cần lưu ý đó là: một số em rất tích cực học các môn để thi đại học, các em cho rằng chúng quan trọng đối với bản thân mình, đối với nghề nghiệp mình đã chọn Chính điều này khiến các em sao nhãng các môn học khác hoặc chỉ học để đạt yêu cầu Ở thời điểm này vai trò của GV rất quan trọng GV cần phải giúp các em hiểu được ý nghĩa và chức năng của mỗi môn học, đồng thời khuyến khích các em phát triển những mặt mạnh, mặt tích cực của mình trong quá trình học tập Đồng thời giúp các em định ra mục tiêu phương hướng chính xác trong tương lai Đối với tâm lý thanh niên mới lớn, tính chủ định được phát triển mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức Tri giác có mục đích đã đạt tới mức độ cao, quan sát trở nên có mục đích, có hệ thống và toàn diện hơn

Đối với lứa tuổi THPT, sự hình thành thế giới quan được thể hiện ở tính tích

cực của nhận thức, “các em có hứng thú với những vấn đề thuộc quy tắc chung nhất của vũ trụ, những quy luật phổ biến của tự nhiên, xã hội và của tồn tại xã hội loài người” [19, tr76] Từ đây các em cố gắng xây dựng quan điểm riêng của mình

trong các lĩnh vực khoa học, đối các vấn đề xã hội, tư tưởng, chính trị, đạo đức Chính vì vậy khi GV đưa ra những tình huống mâu thuẫn trong bài học, sẽ kích thích HS tăng sự chú ý vào bài học, bởi sự chú ý của các em thời kì này phát triển

Trang 40

hoàn thiện, đặc biệt là năng lực di chuyển và phân phối chú ý, giúp các em vừa nghe giảng, vừa chép bài, vừa tư duy Với những tình huống mâu thuẫn đó, khi các em chú ý thì các em tích cực tư duy để phân tích, giải thích, tranh luận về vấn đề được nêu ra, bởi giai đoạn này là giai đoạn phát triển trí tuệ, giai đoạn tư duy lí luận Các

em thích tranh luận để làm sáng tỏ những quan điểm của mình, có thể tập trung vào các vấn đề mà các em cảm thấy hứng thú, giai đoạn này lí luận trừu tượng tỏ ra hay hơn, thú vị hơn so với hoạt động thực tiễn Khi các em muốn chứng tỏ tư duy lí luận của mình là đúng, hợp lý thì các em buộc phải học tập tích cực hơn và sẽ tìm tòi nghiên cứu tài liệu một cách khoa học để dựa vào đó làm cơ sở tranh luận làm sáng

tỏ quan điểm của mình Như vậy các em sẽ ý thức hơn với việc học tập, tạo cho các

em tính tự giác, độc lập, sáng tạo trong học tập

HS THPT, lứa tuổi này là giai đoạn có khả năng tưởng tượng, có niềm hứng thú, có tâm hồn trong sáng, khả năng tư duy cao phù hợp với quá trình tạo và ghi nhớ sâu biểu tượng

1.1.3.4 Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

Tạo biểu tượng LS là con đường để HS ghi nhớ sâu kiến thức LS mà không học chay, học vẹt, từ đó phát huy vai trò chủ động, khi đã tự ý thức HS biết rèn luyện những phẩm chất, năng lực cá nhân nhằm khắc phục hạn chế về khả năng vận dụng kiến thức, khả năng thực hành, đáp ứng được yêu cầu đổi mới trong giáo dục

Theo dự thảo Đổi mới chương trình SGK sau năm 2015, các môn học có kiến thức liên quan tới nhau sẽ được gộp lại để HS được đi sâu tìm hiểu toàn diện

về một vấn đề trong tự nhiên và cuộc sống, đào tạo các em trở thành con người phát triển toàn diện

Đổi mới PP dạy học yêu cầu GV phải biết tận dụng , phát huy hết năng lực của người học

(Theo OECD, 2002) Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể Theo định nghĩa trên thì mỗi HS ngoài những năng lực tự thân có, cần phải rèn luyện nhiều năng lực khác để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao

(Theo Weinert, 2001) Năng lực là các khả năng và kĩ năng nhận thức vốn có

ở cá nhân hay có thể học được để giải quyết vấn đề đặt ra trong cuộc sống Năng lực

Ngày đăng: 09/06/2016, 15:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Alêcxêep, (1976). Phát triển tư duy học sinh, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tư duy học sinh
Tác giả: Alêcxêep
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1976
2. B.P.E xi pốp, (1996). Những cơ sở lí luận dạy học, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở lí luận dạy học
Tác giả: B.P.E xi pốp
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1996
3. Battit, (1957). Cuộc nổi dậy và việc chiểm đóng kinh thành Huế năm 1985, Pari Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc nổi dậy và việc chiểm đóng kinh thành Huế năm 1985
Tác giả: Battit
Năm: 1957
4. Phan Trọng Báu, (1971).Đinh Công Tráng với khởi nghĩa Ba Đình, Tạp chí nghiên cứu Lịch Sử, số 141. tr24-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đinh Công Tráng với khởi nghĩa Ba Đình
Tác giả: Phan Trọng Báu
Năm: 1971
5. Bộ giáo dục và Đào tạo, (1999). Một số vấn đề về phương pháp dạy học lịch sử, lịch sử VN, lịch sử ĐNA, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về phương pháp dạy học lịch sử, lịch sử VN, lịch sử ĐNA
Tác giả: Bộ giáo dục và Đào tạo
Năm: 1999
6. Nguyễn Quang Bích, (1967). Thơ, Kiều Hỉ dịch, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ
Tác giả: Nguyễn Quang Bích
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1967
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Sách GV lịch sử lớp 11, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách GV lịch sử lớp 11
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
8. Nguyễn Thị Côi, Nguyễn Hữu Chí, (1999). Bài học lịch sử và việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập lịch sử ở trường THPT sách BDTX chu kỳ 1997-2000 cho GV THPT, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài học lịch sử và việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập lịch sử ở trường THPT sách BDTX chu kỳ 1997-2000 cho GV THPT
Tác giả: Nguyễn Thị Côi, Nguyễn Hữu Chí
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1999
9. Nguyễn Thị Côi, (2008). Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2008
11. Nguyễn Ngọc Cơ, (2007). Phong trào dân tộc trong đấu tranh chống Pháp ở VN, 1885-1918, Nxb Đại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào dân tộc trong đấu tranh chống Pháp ở VN, 1885-1918
Tác giả: Nguyễn Ngọc Cơ
Nhà XB: Nxb Đại học Sư Phạm
Năm: 2007
13. Hồ Ngọc Đại, (1983). Tâm lý dạy học, NXB Giáo dục, Hà Nội ĐCSVN, (1997) Văn kiện hội nghị LT2, BCHTƯ khóa VIII. Nxb Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý dạy học", NXB Giáo dục, Hà Nội ĐCSVN, (1997) "Văn kiện hội nghị LT2, BCHTƯ khóa VIII
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1983
14. Phạm Văn Đồng, (1969). Tổ quốc ta, nhân dân ta, sự nghiệp ta và người nghệ sĩ, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ quốc ta, nhân dân ta, sự nghiệp ta và người nghệ sĩ
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1969
15. F. K.Kôrôv.kin, (1998). Phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông , Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Tác giả: F. K.Kôrôv.kin
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
17. Trần Văn Giàu, (2001).Chống xâm lăng, Thái đọ của Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Cáp, Nguyễn Bá Nghi…, Nxb TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chống xâm lăng, Thái đọ của Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Cáp, Nguyễn Bá Nghi
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb TPHCM
Năm: 2001
18. Gosselin, (1904). Vương quốc An Nam, Pari Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vương quốc An Nam
Tác giả: Gosselin
Năm: 1904
19. Phạm Minh Hạc (chủ biên), (1991). Tâm lí học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học
Tác giả: Phạm Minh Hạc (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1991
20. Vũ Quang Hiển- TS. Hoàng Thanh Tú (đồng chủ biên), (2014). Phương pháp dạy học lịch sử ở trường THPT, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học lịch sử ở trường THPT
Tác giả: Vũ Quang Hiển- TS. Hoàng Thanh Tú (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2014
21. Đặng Văn Hồ, (1996). Tạo biểu tượng về hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh qua dạy học lịch sử Việt Nam lớp 12 trường THPT, Luận án Tiến sĩ khoa học Sư phạm tâm lý, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạo biểu tượng về hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh qua dạy học lịch sử Việt Nam lớp 12 trường THPT
Tác giả: Đặng Văn Hồ
Năm: 1996
22. Hội Giáo dục lịch sử Việt Nam, (1996). Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử “lấy HS làm trung tâm”, Đại học Sư phạm - ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử "“lấy HS làm trung tâm”
Tác giả: Hội Giáo dục lịch sử Việt Nam
Năm: 1996
23. Hội Giáo dục Lịch sử Việt Nam, (1997). Thuật ngữ - khái niệm lịch sử phổ thông, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ - khái niệm lịch sử phổ thông
Tác giả: Hội Giáo dục Lịch sử Việt Nam
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  DHLS  và  thực  trạng  của  việc  tổ  chức  tạo  biểu  tượng  về  những  biến  cố  lớn  trong DHLS ở trường phổ thông (xem phụ lục 1.2) - Tạo biểu tượng về những biến cố lớn trong dạy học lịch sử việt nam lớp 11 trung học phổ thông (chương trình chuẩn)
nh DHLS và thực trạng của việc tổ chức tạo biểu tượng về những biến cố lớn trong DHLS ở trường phổ thông (xem phụ lục 1.2) (Trang 48)
Bảng 1.2: Kết quả phiếu điều tra dành cho học sinh - Tạo biểu tượng về những biến cố lớn trong dạy học lịch sử việt nam lớp 11 trung học phổ thông (chương trình chuẩn)
Bảng 1.2 Kết quả phiếu điều tra dành cho học sinh (Trang 55)
Hình ảnh chân thực - Tạo biểu tượng về những biến cố lớn trong dạy học lịch sử việt nam lớp 11 trung học phổ thông (chương trình chuẩn)
nh ảnh chân thực (Trang 56)
Bảng 2.1: Bảng phân phối tần số điểm kiểm tra trước thực nghiệm - Tạo biểu tượng về những biến cố lớn trong dạy học lịch sử việt nam lớp 11 trung học phổ thông (chương trình chuẩn)
Bảng 2.1 Bảng phân phối tần số điểm kiểm tra trước thực nghiệm (Trang 95)
Bảng 2.2: Bảng phân phối tỷ lệ % kiểm tra đầu vào theo mức độ đánh giá - Tạo biểu tượng về những biến cố lớn trong dạy học lịch sử việt nam lớp 11 trung học phổ thông (chương trình chuẩn)
Bảng 2.2 Bảng phân phối tỷ lệ % kiểm tra đầu vào theo mức độ đánh giá (Trang 95)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w