BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮCDƯƠNG THỊ MINH HUỆ MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA VẬT CHẤT TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI CHO HỌC SINH LỚP 10 THPT KHÓA LUẬN TỐT NGH
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
DƯƠNG THỊ MINH HUỆ
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA VẬT CHẤT TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI
CHO HỌC SINH LỚP 10 THPT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Sơn La, năm 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
DƯƠNG THỊ MINH HUỆ
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA VẬT CHẤT TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI
CHO HỌC SINH LỚP 10 THPT
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Lịch sử
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: ThS Chu Mai Hương
Sơn La, năm 2014
Trang 3Qua đây, tôi cũng xin chân thành cảm ơn phòng thư viện trường Đại họcTây Bắc, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện thuận lợi chotôi thực hiện và hoàn thiện khóa luận này.
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Tác giảDương Thị Minh Huệ
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
THPT : Trung học phổ thông
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
2.1 Nguồn tài liệu dịch từ tiếng nước ngoài 3
2.2 Công trình nghiên cứu trong nước 4
3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 5
4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
4.1 Cơ sở phương pháp luận 5
4.2 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Phạm vi nghiên cứu đề tài 5
6 Bố cục của đề tài 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC TẠO BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA VẬT CHẤT TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT 7
1 Cơ sở lí luận chung 7
1.1 Quan niệm 7
1.2 Vai trò, ý nghĩa của việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử ở trường THPT 9
2 Thực tiễn của việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất ở trường THPT 14
2.1 Về phía giáo viên 14
2.2 Về phía học sinh 16
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA VẬT CHẤT TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI CHO HỌC SINH LỚP 10 THPT 18
2.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung của phần lịch sử thế giới lớp 10 THPT 18
2.2 Các loại văn hóa vật chất cần tạo biểu tượng cho học sinh khi dạy phần Lịch sử thế giới lớp 10 THPT 20
2.3 Một số biện pháp tạo biểu tượng văn hóa vật chất khi dạy phần lịch sử thế giới thời nguyên thủy cổ đại và trung đại, lớp 10 THPT 23
KẾT LUẬN 55
Trang 6năm 2011 đã nêu: “Mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(trích dẫn).
Bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông có vai trò quan trọng trong việc hoànthành mục tiêu của nền giáo dục nước nhà, đặc biệt là ưu thế trong việc giáo dụcthế hệ trẻ Với tư cách là một môn khoa học, Lịch sử có vai trò quan trọng trongviệc đào tạo, giáo dục học sinh trở thành một con người toàn diện Môn Lịch sử
có nhiều ưu thế trong giáo dục đạo đức, thẩm mĩ, thế giới quan khoa học chohọc sinh như: giáo dục lòng yêu nước, truyền thống dân tộc, lòng biết ơn Đảng,Bác Hồ…Lịch sử không chỉ giáo dục cho học sinh tình cảm yêu ghét, trong đấutranh giai cấp mà còn bồi dưỡng cho các em năng lực đối xử với mọi người xungquanh, biết yêu quý cái đẹp, yêu lao động, sự căm thù quân cướp nước và chủnghĩa anh hùng cách mạng, khơi dậy ở học sinh sự thông cảm sâu sắc và lòngkính yêu đối với quần chúng nhân dân Bởi vậy Lịch sử chính là “Cô giáo củacuộc sống”, giúp các em có ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, và kế tụcxứng đáng sự nghiệp cách mạng của cha ông trong công cuộc xây dựng và bảo
vệ đất nước
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy chất lượng giáo dục nói chung, chất lượngdạy học Lịch sử nói riêng vẫn chưa đáp ứng được những yêu cầu xây dựng và
Trang 7phát triển đất nước việc đổi mới phương pháp nâng cao chất lượng dạy học Lịch
sử đang là vấn đề cấp thiết đặt ra
Thông qua lí luận dạy học nói chung và lí luận dạy học lịch sử nói riêngthì quá trình dạy học lịch sử trước hết là quá trình tổ chức hoạt động nhận thứclịch sử của học sinh, tuân theo quy luật “từ trực quan sinh động đến tư duy trìutượng, từ tư duy trìu tượng đến thực tiễn Nghĩa là dạy học lịch sử phải dựa trên
cơ sở cung cấp sự kiện, tạo biểu tượng, hình thành khái niệm, rút ra quy luật bàihọc lịch sử phục vụ cho thực tiễn cuộc sống
Do đặc trưng của kiến thức lịch sử và nhận thức lịch sử là không trực tiếpquan sát nên việc học tập lịch sử phải dựa trên cơ sở nắm bắt sự kiện và tạo biểutượng lịch sử Vì vậy trong dạy học lịch sử, việc tạo biểu tượng có vai trò rấtquan trọng Đặc biệt là tạo biểu tượng về văn hóa vật chất, bởi văn hóa vật chất
là bức tranh quá khứ giúp chúng ta hình dung ra quá khứ một cách đầy đủ vàchính xác nhất Tuy nhiên, trong dạy học lịch sử một bộ phận giáo viên chưa gắnliền sự kiện lịch sử với các nền văn hóa vật chất, chưa khắc họa sinh động về cácloại văn hóa vật chất đó Vì vậy thực tế cho thấy hiện tượng học sinh nhầm hoặckhông hiểu thậm chí thường “hiện đại hóa” lịch sử khi học tập lịch sử
Dạy và học bộ môn lịch sử được xem là một nội dung quan trọng trongviệc giáo dục đạo đức, tình cảm cho học sinh trong nhà trường hiện nay Tạobiểu tượng về văn hóa vật chất một cách sinh động có sức thuyết phục đặc biệtđối với học sinh Biểu tượng sinh động gây cho các em hứng thú học tập lịch sử,đồng thời khơi dậy mạnh mẽ những xúc cảm lịch sử đúng đắn, góp phần hìnhthành nên nhân cách học sinh Bên cạnh đó phát huy năng lực nhận thức độc lập
ở các em khi hiểu sâu sắc sự kiện lịch sử
Trong dạy học lịch sử phổ thông hiện nay, phương pháp tạo biểu tượngvăn hóa vật chất đưa vào sử dụng nhiều và có nhiều ưu điểm như: giúp học sinhnắm vững kiến thức một cách sâu sắc, cụ thể và tạo niềm đam mê khi học bộmôn Lịch sử Ngoài ra giáo dục phổ thông gần đây đã chú trọng vào việc đổimới phương pháp theo hướng lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính tích cựccủa học sinh
Trang 8Giảng dạy lịch sử thế giới sách giáo khoa Lịch sử lớp 10 THPT có vị tríquan trọng trong toàn bộ tiến trình lịch sử thế giới, với nội dung phong phú và
đa dạng về các loại văn hóa vật chất để tạo biểu tượng cho học sinh Việc tạobiểu tượng chân thực về các loại văn hóa vật chất sẽ giúp học sinh hình dungđược bức tranh lịch sử sinh động của các dân tộc khác trên thế giới trong đó cóViệt Nam Trên cơ sở đó, hình thành ở các em thái độ khâm phục, trân trọng, giữgìn, phát huy đối với các loại văn hóa vật chất đó Đồng thời có thái độ lên án,căm ghét đối với những hành động phá hoại Tuy nhiên, việc tạo biểu tượng vănhóa vật chất, để phát huy được hiệu quả thì phải đặt trong sự phối hợp hài hòavới hệ thống các phương pháp dạy học lịch sử khác của bộ môn và được tiếnhành với nhiều biện pháp như sử dụng phương pháp miêu tả, phương pháp traođổi đàm thoại, sử dụng các câu truyện lịch sử, để tạo biểu tượng các loại vănhóa vật chất
Đó là những lý do cơ bản để tôi chọn đề tài “Một số biện pháp tạo biểu
tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử thế giới cho học sinh lớp 10 THPT” với mong muốn bước đầu đi sâu nghiên cứu các biện pháp tạo biểu
tượng các loại văn hóa vật chất Hơn nữa giải quyết tốt đề tài này sẽ là cơ sở vận
dụng nó một cách có hiệu quả trong dạy học lịch sử ở trường THPT hiện nay
2.1 Nguồn tài liệu dịch từ tiếng nước ngoài
Trong tác phẩm: “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào”, NXB Giáo dục
học, Hà Nội – 1973, Đai ri – Nhà giáo dục học Liên Xô đã đưa ra quan niệm:việc cảm thụ bằng nghe ở nhiều học sinh phát triển hơn là sự cảm thụ bằng nhìnthấy, theo tiến sĩ N.G Đai ri muốn cho học sinh phân biệt được các thời kỳ lịch
sử, không chỉ theo niên đại mà còn qua bộ mặt đời sống xã hội thì điều đó khôngthể đạt được nếu không mở rộng tối đa các nguồn kiến thức, cần phải nghiên
Trang 9cứu lịch sử qua các tác phẩm hội họa, kiến trúc, điêu khắc, coi các tác phẩm này
là những nguồn kiến thức lịch sử
Ngoài ra trong tác phẩm lí luận dạy học của M.N.Sacdacop “Tư duy học sinh”, NXB GD, HN, 1970 đã đề cập đến việc tạo biểu tượng lịch sử như là một
trong các khâu không thể thiếu của quá trình nhận thức lịch sử
2.2 Công trình nghiên cứu trong nước
Các nhà giáo dục lịch sử Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng,
Nguyễn Thị Côi trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử”, tập 1, 2, NXB
ĐHSP 2002; đã giành hẳn một phần nói về vấn đề “ tạo biểu tượng văn hóa vậtchất trong đó khẳng định tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sửgây hứng thú trong học tập cho học sinh nâng cao hiệu quả cho bài học lịch sử
Trần Tuyết Oanh trong cuốn giáo trình “Giáo dục học tập 1”, NXB
ĐHSP, 2006
Ngoài ra các bài viết trong tạp chí chuyên môn, tạp chí nghiên cứu giáodục, tạp chí thông tin khoa học giáo dục cũng đã đề cập đến vấn đề tạo biểutượng văn hóa vật chất trong việc dạy học lịch sử
Trong cuốn “Một số chuyên đề phương pháp dạy học Lịch sử” do tác giả
Phan Ngọc Liên-Trịnh Đình Tùng-Nguyễn Thị Côi-Trần Vĩnh Tường đồng chủbiên Bài viết của tiến sĩ Đặng Văn Hồ - khoa Lịch sử - ĐHSP-ĐH Huế với nhan
đề “tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử để giáo dục tư tưởng, tình cảm cho học sinh” đã nêu lên những lí luận cơ bản về tạo biểu tượng nhân vật lịch sử, vai trò,
ý nghĩa của việc tạo biểu tượng nhân vật lịch sử, các nguyên tắc và một số biệnpháp cụ thể
Tuy nhiên, các công trình chỉ dừng lại ở mức độ lí luận chung, chưa đi sâunghiên cứu về phương pháp tạo biểu tượng về văn hóa vật chất trong dạy họclịch sử nhất là khi dạy học phần Lịch sử thế giới cho học sinh lớp 10 THPT
Vậy nên, tôi mạnh dạn đề xuất một số biện pháp tạo biểu tượng về vănhóa vật chất trong dạy học Lịch sử thế giới lớp 10 THPT làm khóa luận tốtnghiệp với mong muốn bước đầu đi sâu nghiên cứu và tìm hiểu hệ thống hơn vềcác biện pháp tạo biểu tượng văn hóa vật chất cho học sinh Từ đó, tích lũy thêmkinh nghiệm cho quá trình giảng dạy lịch sử sau này ở trường THPT
Trang 103 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện mục đích trên, đề tài cần giải quyết các nhiệm vụ sau:
Tìm hiểu lí luận chung về phương pháp tạo biểu tượng về văn hóa vật chấttrong dạy học lịch sử lớp 10 ở trường phổ thông
Tìm hiểu chương trình sách giáo khoa Lịch sử lớp 10 phần 1 Lịch sử thế giới Đề xuất một số biện pháp để tạo biểu tượng văn hóa vật chất
4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở phương pháp luận
Khóa luận được nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa
Mac-Lenin, tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về giáo dục nóichung và giáo dục lịch sử nói riêng, lý luận của các nhà nghiên cứu giáo dục,giáo dục lịch sử
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu một số tác phẩm của chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ tịch Hồ ChíMinh, chủ trương của Nhà nước ta về nhận thức giáo dục nói chung và giáo dụclịch sử nói riêng
Nghiên cứu một số công trình của các nhà giáo dục và các tài liệu có liênquan
Nghiên cứu toàn bộ mục tiêu, nội dung của phần 1 Lịch sử thế giới lớp 10(chương trình chuẩn)
Trên cơ sở khóa luận thuộc chuyên ngành “phương pháp dạy học Lịch sử” Bên cạnh những phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung: nghiên cứu
tài liệu, phân tích, tổng hợp, so sánh khái quát hóa đề tài còn sử dụng một sốphương pháp nghiên cứu chủ đạo:
Phương pháp điều tra
Thực nghiệm sư phạm: dự giờ, giáo án thực nghiệm
5 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Do điều kiện thời gian và trình độ có hạn, đề tài chỉ giới hạn ở việc đềxuất một số một số biện pháp tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch
Trang 11sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại, lớp 10 THPT (chương trình chuẩn) khi dạy học những bài nội khóa ở trên lớp.
Trang 12CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC TẠO BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA VẬT CHẤT TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT
1 Cơ sở lí luận chung
1.1 Quan niệm
1.1.1 Quan niệm về biểu tượng lịch sử
Do đặc điểm của nhận thức lịch sử, việc học tập lịch sử không bắt đầu từtrực quan sinh động mà từ việc nắm sự kiện và tạo biểu tượng lịch sử Tuy vậy,việc học tập lịch sử cũng tuân thủ quy luật chung của quá trình nhận thức: quahai giai đoạn nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính Có thể nói tạo biểu tượng
là giai đoạn nhận thức cảm tính của quá trình học tập lịch sử
Biểu tượng là khái niệm được giải thích ở các mức độ và lĩnh vực nhậnthức khác nhau Theo tâm lí học thì biểu tượng là biểu tượng của ký ức Tức lànhững hình ảnh của các sự vật, hiện tượng không phải đang được tri giác mà là
đã được tri giác trước đây Trong quá trình tri giác thế giới khách quan, conngười phản ánh sự vật và hiện tượng xung quanh mình dưới dạng các hình ảnh
và sự phản ánh đó mang tính trực quan Các hình ảnh trực quan đó luôn tác độnglên các cơ quan thụ cảm khác nhau của hệ thần kinh con người và được duy trìmột khoảng thời gian nhất định trong ý thức của họ Với quan niệm trên P A.Ruđích cho rằng biểu tượng là “Những hình ảnh của các sự vật, hiện tượng củathế giới xung quanh được giữ lại trong ý thức và hình thành trên cơ sở các trigiác và các cảm giác xảy ra trước đó” Tuy nhiên, trong thực tế các biểu tượngthường mờ nhạt hơn các tri giác và những dấu hiệu về các sự vật, hiện tượng đãtri giác được có thể không có trong biểu tượng Quá trình tri giác luôn mang tínhtrực quan cụ thể Các hình ảnh của biểu tượng phản ánh những đặc điểm bênngoài của sự vật, hiện tượng Và trong những trường hợp khác nó phản ánh cảnhững đặc điểm bên trong của sự vật Đó là sự nhận thức của hoạt động tư duy.Như vậy, theo tâm lí học biểu tượng là những hình ảnh trực quan nảy sinh trongnão người về những sự vật và hiện tượng đã được tri giác trước đây
Do đặc trưng của sự nhận thức lịch sử, việc học tập lịch sử không bắt đầu
từ trực quan sinh động Vì lịch sử là những cái đã qua, không thể trực tiếp quan
Trang 13sát quá khứ cũng như tái tạo lại nó trong phòng thí nghiệm như toán học, hoáhọc hay vật lí Bởi vậy, việc học lịch sử phải bắt đầu từ việc nắm các sự kiện vàtạo biểu tượng lịch sử Trong học tập lịch sử không có biểu tượng nảy sinh từnhững trực giác đối với các sự kiện, hiện tượng lịch sử Mà việc hình thành nênnhững biểu tượng lịch sử phải dựa trên những sự kiện, hiện tượng đã được conngười nhận thức từ trước để nhằm tái tạo lại một cách chính xác và sinh động.
Ví dụ, khi tạo biểu tượng lịch sử về không gian địa lí là thung lũng ĐiệnBiên Phủ trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 Chúng ta không được trựctiếp quan sát trận địa Điện Biên Phủ tại thời điểm đó được bố trí giữa ta và địchnhư thế nào Muốn tạo được biểu tượng, chúng ta phải sử dụng những hình ảnh,ghi chép của các phóng viên, nhà báo hay nhà kí sự chiến tranh đã từng đượcchứng kiến hay nghe kể Khi đó, biểu tượng lịch sử được hình thành dựa trên cơ
sở của sự tri giác gián tiếp
Với những quan niệm trên, có thể hiểu biểu tượng lịch sử “Là hình ảnh về những sự kiện, nhân vật lịch sử, điều kiện địa lí vv được phản ánh trong óc học sinh với những nét chung nhất, điển hình nhất”.
Cũng như biểu tượng nói chung, biểu tượng lịch sử tái hiện những đặctrưng cơ bản nhất của sự kiện, hiện tượng lịch sử Tuy nhiên, việc tạo biểu tượnglịch sử cho học sinh không chỉ dừng lại ở việc miêu tả bề ngoài mà còn đi sâuvào bản chất sự kiện, nêu đặc trưng, tính chất của sự kiện để tiến tới việc nắmkhái niệm lịch sử Vì vậy, biểu tượng lịch sử rất gần với khái niệm sở đẳng (còngọi là khái niệm đơn giản) Nói cách khác biểu tượng lịch sử là cơ sở để hìnhthành khái niệm
1.1.2 Quan niệm về biểu tượng văn hóa vật chất
Văn hóa là sản phẩm của con người là quan niệm về cuộc sống, tổ chứccuộc sống và toàn bộ cách ứng xử của con người trong cuộc sống đó Văn hóavật chất chính là các điểm hội tụ sáng nhất, là tinh hoa trí tuệ của loài người
Văn hóa là tổng thể các giá trị tinh thần do loài người tạo ra, trong đó giátrị vật chất như: Cổng I-sơ-ta-thành Babilon ở Lưỡng Hà, Kim tự tháp ở Ai Cập,
Trang 14đền Pác-tê-nông ở Hy Lạp, đấu trường Rô-ma, một đoạn Vạn Lí Trường Thành
ở Trung Quốc…đều thuộc giá trị vật chất
Văn hóa vật chất tạo ra phương thức hành động của con người để tồn tạitrong đó đời sống vật chất thường gọi là văn minh Văn hóa vật chất qua mỗithời kì lịch sử luôn biến động theo đà phát triển của khoa học kĩ thuật
Như vậy, biểu tượng về nên văn hóa vật chất Đó là những thành tựu củaloài người trong việc chế ngự thiên nhiên, trong lao động sáng tạo sản xuất racủa cải vật chất cũng như văn hóa tinh thần của xã hội loài người Ví dụ, khi nói
về Kim tự tháp một công trình kiến trúc vô tiền khoáng hậu của lịch sử loàingười thì giáo viên phải tạo cho học sinh những biểu tượng về sự hùng vĩ củacông trình này, về tinh thần sáng tạo và trình độ kiến trúc của các nhà khoa học
cổ đại và sự hi sinh đổ máu của hàng vạn người để xây dựng
1.2 Vai trò, ý nghĩa của việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử ở trường THPT
1.2.1 Vai trò của việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử ở trường THPT
Lênin đã từng nói “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tưduy trừu tượng đến thực tiễn” Qúa trình nhận thức nói chung, nhận thức lịch sửnói riêng đều tuân thủ theo quy luật này: Tức là đi từ cảm tính đến lý tính: từcảm giác, tri giác, biểu tượng, khái niệm đến phán đoán và suy luật Trong đó,biểu tượng lịch sử có quan hệ hữu cơ với tất cả các qúa trình nhận thức trên Nóđóng góp vai trò quan trọng trong qúa trình tri giác Nếu không có biểu tượngxuất hiện bằng việc liên kết với các hình ảnh của tri giác thì các hình ảnh lịch sửnày sẽ nghèo nàn và khô khan Quá trình tri giác trở thành biểu tượng lịch sử là
cơ sở để hình thành khái niệm, từ đó phát triển óc phán đoán suy luận của conngười Học tập lịch sử cũng tuân theo qúa trình nhận thức hiện thực khách quan.Tuy nhiên, do đặc trưng riêng biệt của nhận thức lịch sử, việc học lịch sử phảidựa trên cơ sở nắm bắt sự kiện và tạo biểu tượng lịch sử từ đó tiến tới hình thànhkhái niệm, rút ra quy luật và bài học lịch sử cho học sinh Vì vậy, biểu tượnglịch sử chính là giai đoạn nhận thức cảm tính của qúa trình học tập lịch sử Nếu
Trang 15như không tạo biểu tượng thì hình ảnh lịch sử mà học sinh thu nhận sẽ nghèonàn, hiểu biết lịch sử không sâu sắc, không phát triển tư duy và không có cơ sởhình thành khái niệm.
Sự thống nhất giữa tạo biểu tượng và hình thành khái niệm trong học tậplịch sử là một trong những đặc điểm chung của phát triển tư duy Hai qúa trìnhnày vừa tiến hành một cách độc lập, vừa hòa vào nhau trong một thể thống nhất.Biểu tượng là sự minh họa cụ thể cho khái niệm bằng những hình ảnh sinh động.Nội dung của các hình ảnh lịch sử, của bức tranh quá khứ càng phong phú baonhiêu thì hệ thống khái niệm mà học sinh thu nhận được càng vững chắc bấynhiêu Bởi vậy, biểu tượng rất gần với khái niệm sơ đẳng, không chỉ dừng lại ở
đó việc tạo biểu tượng còn đóng vai trò quan trọng trong việc rút ra quy luật vàbài học lịch sử, có vai trò cũng như ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nângcao chất lượng giáo dục lịch sử Bởi thông qua những biện pháp tạo biểu tượng
nó giúp cho học sinh tiếp cận với lịch sử một cách nhanh nhất, chân thực nhấtcũng như những hình ảnh kiến thức được đọng lại trong óc học sinh lâu nhất
1.2.2 Ý nghĩa
1.2.2.1 Về nhận thức
Biểu tượng văn hóa vật chất có ưu thế trong việc giúp học sinh nắm vững
về những cơ sở văn hóa vật chất, chúng được ra đời ở đâu, trong khoảng thờigian nào, các địa điểm văn hóa vật chất trong mỗi thời kì lịch sử ra sao Từ đóhiểu sâu các vấn đề lịch sử, các thời đại lịch sử Như vậy, tạo biểu tượng về vănhóa vật chất có tác dụng cụ thể hoá một số sự kiện lịch sử, làm sáng tỏ nhữngvấn đề cơ bản của lịch sử
Mặt khác, tạo biểu tượng về văn hóa vật chất còn giúp cho học sinh tránhđược những sai lầm về “hiện đại hóa” lịch sử, những nhận thức thiếu chủ quan,phiến diện và đánh giá, nhận định tình hình thiếu cơ sở khoa học Bởi vì những
tư liệu phong phú về văn hóa vật chất sẽ giúp cho học sinh có sự nhận thứckhách quan và thiếu độ tin tưởng chính xác cao đối với các sự kiện, hiện tượng
Trang 16về tâm hồn và tình cảm, là yếu tố hình thành nên nhân cách của học sinh.
Thông qua các bài học lịch sử, những hành động sáng tạo, trí tuệ của conngười có sức hấp dẫn lôi cuốn cực kỳ đối với học sinh Vì ở độ tuổi các em tìnhcảm dễ bị tác động và có những xúc cảm lịch sử sâu sắc Từ đó, hình thành ở các
em lòng khâm phục, biết ơn, tự hào đối với các dân tộc đã làm lên những giá trị
to lớn về văn hóa vật chất Đồng thời có ý thức tự giác bảo vệ và có trách nhiệmđối với những giá trị văn hóa vật chất đó Ngược lại, các hành động phá hoại sẽhình thành ở các em thái độ căm ghét Biểu tượng về văn hóa vật chất phong phú
sẽ giúp các em nhận thức được cái đẹp, loại trừ cái xấu để chọn lọc học tập
1.2.2.3 Về kĩ năng
Biểu tượng văn hóa vật chất là một trong những biện pháp quan trọng làmcho hoạt động trí tuệ của học sinh không ngừng phát triển Vì thông qua việcgiáo viên sử dụng kết hợp các đồ dùng trực quan, tư liệu lịch sử, học sinh phảihuy động trí óc quan sát, tư duy và tưởng tượng để có được biểu tượng lịch sửđúng đắn nhất
Việc tạo biểu văn hóa vật chất là cơ sở để tiến tới sự nhận thức lý tính củahiện thực lịch sử, là điều kiện để cho học sinh nhận thức lịch sử đúng đắn, tiếntới hình thành khái niệm
1.2.3 Yêu cầu của việc tạo biểu tượng trong dạy học lịch sử
Trang 17Để hình thành khái niệm lịch sử cho học sinh có nhiều con đường khácnhau, mỗi con đường thực hiện đều có cách thức yêu cầu riêng Với biện pháptạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử cũng cần một số yêu cầu
cụ thể
Thứ nhất, phải căn cứ vào nội dung, mục tiêu giáo dục, giáo dưỡng vàphát triển của bài học để lựa chọn cách tạo biểu tượng (tranh ảnh, mô hình, sabàn, ) phù hợp và tiêu biểu cho bài học lịch sử
Ví dụ, khi dạy bài 9 “Vương quốc Campuchia và vương quốc Lào”
phần Lịch sử thế giới lớp 10 giáo viên cần có tranh ảnh về Ăngcovat ở
Campuchia và tháp Thạp Luổng ở Viêng chăn-Lào để tạo biểu tượng văn hóavật chất cho học sinh
Thứ hai, với mỗi loại văn hóa vật chất phải tìm ra biện pháp tạo biểutượng hợp lí nhất
Ví dụ, khi dạy bài 4 “Các quốc gia cổ đại phương Tây Hilap và Rôma”
phần 1 có hình “Xưởng chế biến dầu ôliu ở Nam Italia” với hình này giáo viên
cần có tranh ảnh để tạo biểu tượng cho học sinh, cũng trong bài này phần 2 có
hình 7 “Pê-ri-cret (495-429 TCN)” với hình này giáo viên có thể sử dụng tài liệu
về tiểu sử của nhân vật để tạo biểu tượng
Thứ ba, sử dụng phương pháp tạo biểu tượng phải kết hợp với các biệnpháp, con đường sư phạm và con đường tiêu biểu nhất là trình bày miệng và sửdụng phương tiện kỹ thuật vào dạy học
Ví dụ, khi dạy bài 3 “Các quốc gia cổ đại phương đông” khi dạy đến
phần 5 văn hóa phương Đông có hình 4 “Cổng I-sơ-ta thành Babilon ở Lưỡng Hà” và hình 5 “Kim tự tháp”, khi tạo biểu tượng giáo viên cần sử dụng đồ dùng
trực quan kết hợp với việc trình bày miệng để giúp học sinh có cái nhìn kháiquát hiểu sâu về công trình này
Thứ tư, tạo biểu tượng đảm bảo phát huy tính chủ động, tích cực của họcsinh, sử dụng con đường phát vấn và nêu vấn đề
Trang 18Ví dụ, khi dạy bài 1 “Sự xuất hiện loài người và bầy người nguyên
thủy” có hình 1 “Người tối cổ” khi tạo biểu tượng về hình người tối cổ giáo
viên phải nêu ra các câu hỏi để phát vấn học sinh ví dụ như
Quan sát vào hinh 1 trong sách giáo khoa em hãy cho biết một số đặc điểm của người tối cổ (trán, u mày, hàm răng, cằm).
Sau khi đã nêu được một số đặc điểm của người tối cổ giáo viên có thể
đưa ra câu hỏi: Người tối cổ là gì? Như vậy, sau khi giáo viên đưa ra câu hỏi
học sinh trả lời được, học sinh đã có những kiến thức cơ bản về người tối cổ
Thứ năm, khi tạo biểu tượng giáo viên trình bày miệng kết hợp với sửdụng đồ dùng trực quan Vì vậy, giáo viên phải luyện tập thường xuyên với cácloại đồ dùng trực quan
Khi tạo biểu tượng cho học sinh về Kim tự tháp ở Ai Cập giáo viên sửdụng đồ dùng trực quan kết hợp với việc trình bày miệng, giáo viên phải luyệntập thường xuyên thành thạo với máy tính và máy chiếu, trình bày miệng phảilưu loát dễ hiểu để việc tạo biểu tượng đạt hiệu quả cao
Thứ sáu, đòi hỏi người giáo viên nắm vững chuyên môn Biểu tượng lịch
sử về nền văn hóa vật chất đó là những hình ảnh cụ thể về thành tựu của loàingười trong cuộc chiến chống lại thiên nhiên, trong lao động, sáng tạo, sản xuất
ra của cải vật chất cũng như văn hóa tinh thần của xã hội loài người Để tạo biểutượng giáo viên cần nắm vững chuyên môn, phải đọc nhiều tài liệu và tìm nhiềuhình ảnh liên quan đến biểu tượng cần tạo sau đó chọn những dữ liệu cần thiếtcho việc tạo biểu tượng
Thời gian chuẩn bị cho một sự kiện, hiện tượng lịch sử khá lâu, mất nhiềucông sức, tiền của Như chúng ta đã biết để tạo được một biểu tượng văn hóa vậtchất giáo viên cần có các phương tiện kĩ thuật để phục vụ cho việc tạo biểutượng, phải chuẩn bị hình ảnh phóng to các hình ảnh mà mình cần tạo biểutượng và việc tạo biểu tượng mất rất nhiều thời gian
Trong giờ học tạo biểu tượng sẽ giúp học sinh hứng thú với giờ học, songviệc tạo biểu tượng sẽ làm mất thời gian của giáo viên và có thể làm cho giờ họctrở thành một cuộc trò truyện của học sinh Vì khi tạo biểu tượng, nếu giáo viên
Trang 19tạo biểu tượng không đúng mục đích và nội dung cần sử dụng trong bài học thìđây sẽ trở thành chủ đề để học sinh trò truyện.
Dạy học lịch sử ở nhà trường phổ thông chưa khắc phục được tình trạngnặng nề về nội dung chương trình, nhiều giáo viên vẫn nặng về cung cấp kiếnthức, chưa áp dụng phương pháp mới tích cực, vẫn nặng về lối truyền thụ mộtchiều, đọc chép, thầy dạy thế nào, trò tiếp thu thế ấy Làm các em trở nên thụđộng khi tiếp nhận kiến thức, không phát huy được các năng lực tư duy, sángtạo, khả năng làm việc độc lập khi giải quyết nội dung bài học Hậu quả của nó
là lối học thụ động, thiếu sáng tạo và hàng loạt các hiện tượng tiêu cực trongkiểm tra, đánh giá, thi cử, làm chất lượng dạy học bộ môn suy giảm Chất lượngmôn Lịch sử giảm sút do nhiều nguyên nhân Một số ý kiến cho rằng bộ mônLịch sử vẫn chưa khắc phục được tình trạng nặng nề về nội dung, trong khi đóthời gian dành cho bộ môn theo chương trình lịch sử là quá ít chỉ từ 1 - 2tiết/tuần Thời gian ngắn nên hầu hết các giáo viên chỉ thiên về thuyết trình vàkhông có sự phát huy tích cực của học sinh, kết quả là học sinh học một cách thụđộng, thiếu sáng tạo Điều đặc biệt hơn cả làm cho chất lượng môn Lịch sử giảmsút
Trong những năm qua, việc đổi mới phương pháp dạy học lịch sử đã đượcquan tâm và bước đầu có sự thay đổi, nhưng nhìn chung việc dạy và học theokiểu truyền thống còn phổ biến “thầy đọc - trò ghi” không chú ý đến việc pháthuy tính độc lập, sáng tạo của học sinh Phần lớn giáo viên không có nhữngphương pháp để tạo biểu tượng văn hóa vật chất, họ cho rằng những hình ảnhtrong sách giáo khoa không phải là kênh truyền đạt thông tin cho học sinh
2 Thực tiễn của việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất ở trường THPT
2.1 Về phía giáo viên
Bên cạnh những mặt đã đạt được, trong thực trạng chung của nền giáodục, chất lượng dạy học môn Lịch sử hiện nay tồn tại rất nhiều vấn đề cần khắcphục có thể nói bộ môn chưa đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn xâydựng và phát triển đất nước
Trang 20Thứ nhất, một số giáo viên còn chưa nhận thức được tầm quan trọng của việcđổi mới phương pháp dạy học Do đó, chưa khắc phục được những sai lầm, yếukém trong dạy học vẫn “đường mòn” kinh nghiệm chủ nghĩa truyền thụ kiến thức.
Thứ hai, một số giáo viên nhận thức được điểm mấu chốt của việc đổi mớiphương pháp dạy học là “lấy học sinh làm trung tâm” nhưng những biện pháp pháthuy tính tích cực của học sinh lại mang tính hình thức và máy móc, vấn đề tạo biểutượng trong giờ học chưa được giáo viên quan tâm và sử dụng biện pháp tạo biểutượng vào giờ dạy học Vì vậy nhiều giáo viên biến giờ dạy học môn Lịch sử hìnhthành “hỏi và đáp”, khiến giờ học trở nên căng thẳng và khô khan
Thứ ba, ở các vùng sâu, vùng xa do điều kiện còn khó khăn ở các trườnghọc còn thiếu các thiết bị, phương tiện dạy học phục vụ cho quá trình dạy học, vìvậy giáo viên chưa áp dụng được phương pháp dạy học tích cực để phát huy tính
tư duy, sáng tạo của học sinh Việc tạo biểu tượng cho học sinh trong dạy họcchưa được giáo viên áp dụng vào việc giảng dạy bộ môn Do đó, chất lượng họctập môn Lịch sử còn thấp
Thứ tư, phương pháp dạy học ở trường phổ thông hiện nay và đặc biệt là ởvùng sâu, vùng xa chưa theo kịp chương trình và sách giáo khoa Phần lớn giáoviên phụ thuộc vào sách giáo khoa nhất là phần kênh chữ Giáo viên chưa khaithác được các kênh hình trong sách giáo khoa, để khai thác được các kênh hìnhmột trong những biện pháp để khai thác là giáo viên phải tạo biểu tượng mà việctạo biểu tượng cho học sinh trong quá trình dạy học lại chưa được giáo viên ápdụng vào việc giảng dạy và khai thác kênh hình
Thứ năm, quan niệm cho rằng bộ môn Lịch sử là một môn học phụ vẫncòn tồn tại nhiều Nên đã tác động đến tâm lí cả giáo viên và học sinh yếu tố coithường, đối phó dạy và học Đồng thời, hiện nay nền kinh tế thị trường, thươngmại hóa giáo dục càng tác động to lớn đến chất lượng dạy học Mà tác động tiêucực của nó là việc một số thầy cô chưa trau dồi nghề nghiệp của mình thật tốt
Mặt khác, về chủ quan nhận thức của giáo viên và học sinh về vị trí và tácđộng của bộ môn Lịch sử đều chưa sâu sắc Dẫn đến việc thiếu trau dồi nội dungkiến thức của giáo viên, trong đó có tạo biểu tượng văn hóa vật chất nên truyềnđạt không gây được sự hứng thú học tập của các em Vì vậy, hệ thống các biện
Trang 21pháp tạo biểu tượng văn hóa vật chất để giáo viên vận dụng có hiệu quả vàogiảng dạy là vấn đề quan trọng và hết sức cần thiết, góp phần nâng cao chấtlượng dạy học bộ môn.
2.2 Về phía học sinh
Qua thực tiễn dạy học bộ môn cho thấy không ít học sinh xa rời, coithường bộ môn Lịch sử, coi môn Sử là môn học phụ Do đó, các em đã khôngchú ý đến việc học tập bộ môn vì vậy chất lượng học tập bộ môn giảm sút
Một số học sinh không thích học môn Lịch sử vì cho rằng môn Lịch sử khó nhớ những mốc thời gian, sự kiện…cho rằng môn này phải học nhiều và là môn học thuộc nên một số em đặc biệt là các em nam không có hứng thú với môn Lịch sử.
Tuy có nhiều học sinh có hứng thú học tập môn Lịch sử Xong phần lớncác em tỏ thái độ thờ ơ, hững hờ với môn học hoặc học một cách thụ động, đốiphó chưa có sự chủ động tích cực trong học tập Một số em còn cho rằng mônLịch sử là một môn học khô khan, dập khuôn, không có sự sáng tạo Vì vậy, các
em không đầu tư thời gian vào việc học tập bộ môn
Từ những nguyên nhân trên làm cho chất lượng học tập của bộ môn giảmsút, để khắc phục những khó khăn và hạn chế trên cần đưa ra những biện pháptạo biểu tượng văn hóa vật chất
Việc tạo biểu tưởng văn hóa vật chất trong dạy học ở trường phổ thôngnói chung và trong dạy học lịch sử nói riêng đã đem lại nhiều điểm tích cực
Thứ nhất, giúp học sinh nhớ kĩ, hiểu biết sâu sắc bản chất của sự kiện lịch
sử, là cơ sở để hình thành các khái niệm lịch sử quan trọng giúp học sinh nắmvững các quy luật của sự phát triển xã hội, và khắc phục tình trạng “hiện đạihóa” lịch sử của học sinh
Thứ hai, tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử giúp pháttriển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy, ngôn ngữ và tác phong củangười học sinh Đặc biệt, khi sử dùng đồ dùng trực quan để tạo biểu tượng vănhóa vật chất học sinh dễ dàng nhận xét, phán đoán, hình dung quá khứ lịch sửđược phản ánh, minh họa như thế nào Học sinh suy nghĩ và tìm cách diễn đạtbằng lời nói chính xác, có hình ảnh rõ ràng, cụ thể về bức tranh xã hội đã qua
Trang 22Thứ ba, giúp đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên góp phần chobài dạy đạt được hiệu quả cao, gây hứng thú học tập cho học sinh, lớp học trởnên sôi nổi hơn.
Thứ tư, trong những năm qua, bộ môn Lịch Sử ở trường phổ thông chiếmmột vị trí quan trọng trong chương trình dạy học, góp phần thực hiện mục tiêugiáo dục trong nhà trường Đặc biệt bộ môn còn được sự quan tâm của các cấpĐảng, Nhà nước, các cơ quan thông tin đại chúng: báo, đài, truyền hình, nhưviệc đưa tin, phản ánh kịp thời tình hình chất lượng học tập, chất lượng các kì thilịch sử Đội ngũ giáo viên cũng có nhiều cố gắng, luôn luôn tìm tòi, cập nhậtkiến thức mới, áp dụng hình thức, phương pháp dạy học mới nhằm không ngừngnâng cao hiệu quả dạy học Học sinh có hứng thú với việc học tập bộ môn, nên
đã tiếp thu kiến thức một cách căn bản, đáp ứng yêu cầu cuộc sống
Trang 23CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA VẬT
CHẤT TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI
Phần một, Lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại Là phần
mở đầu cho toàn bộ Lịch sử thế giới, là nền tảng để học được Lịch sử thế giớigiai đoạn sau cũng như là học Lịch sử dân tộc
Học tốt phần Lịch sử thế giới thời nguyên thủy cổ đại và trung đại sẽ trang
bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về nguồn gốc loài người, học sinh nhậnthức được sự ra đời, phát triển, suy vong của các quốc gia cổ đại phương Đông
và phương Tây Đồng thời hiểu những nét chính về Trung Hoa phong kiến, Ấn
Độ và các quốc gia khác Cuối cùng là hiểu được sự hình thành và suy vong củachế độ phong kiến
2.1.2 Mục tiêu
2.1.2.1 Về nhận thức
Giúp cho học sinh có những hiểu biết về sự kiện, hiện tượng một cách có hệthống, cơ bản khái quát về tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại từ nguồngốc cho đến hết thời kì thứ nhất của Lịch sử thời cận đại
Qua phần Lịch sử thế giới giúp cho học sinh nhận thức được nguồn gốccủa loài người, quá trình tiến hóa của loài người Nhận thức được sự ra đời, pháttriển, suy vong của các quốc gia cổ đại phương Đông và các quốc gia cổ đạiphương Tây Các em cũng có thể hiểu được sự ra đời của quá trình đấu tranh của
Trang 24giai cấp tư sản trong lòng xã hội phong kiến nhằm xây dựng chế độ tốt đẹp hơn đó
là chủ nghĩa tư bản, thông qua các cuộc cách mạng tư sản và cuộc cách mạng côngnghiệp Đồng thời cũng làm cho các em hiểu rõ được sự hình thành và phát triểncủa lịch sử loài người, những giá trị về vật chất của các dân tộc trên thế giới
2.1.2.2 Về giáo dục
Giúp cho học sinh có tư tưởng biết quý trọng giá trị văn hóa, có thái độđúng đắn về nguồn gốc loài người chống lại những quan điểm của tôn giáo, biếtquý trọng giá trị vật chất của nhân loại và ý thức bảo vệ giá trị đó Qua đó giáodục học sinh có niềm tin khoa học, càng phát triển không ngừng theo chiềuhướng tiến bộ đi lên của xã hội loài người càng vươn tới đỉnh cao văn minh hòabình và phồn vinh Từ đó, các em có thể hăng say cải tiến để nâng cao hiệu quảviệc học tập của bản thân, giúp học sinh hoàn thiện bản thân để theo kịp thời đạicông nghiệp hóa hiện đại hóa
2.1.2.3 Về kĩ năng
Dạy học Lịch sử Thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại giúp họcsinh rèn luyện và phát triển các kĩ năng của bộ môn như: kĩ năng sử dụng sáchgiáo khoa để tìm tòi nghiên cưú kiến thức ; phát triển óc quan sát gắn liền với kĩnăng sử dụng tranh ảnh, bản đồ, sơ đồ, phim tài liệu; phát triển kĩ năng phân tíchtổng hợp sự kiện, hiện tượng để rút ra bản chất, kĩ năng đánh giá sự kiện nhânvật lịch sử
Trên cơ sở vận dụng phối hợp các phương pháp, biện pháp sư phạm pháttriển ở học sinh óc quan sát, tưởng tượng để có những biểu tượng về văn hóa vậtchất
2.1.3 Nội dung cơ bản của phần lịch sử thế giới lớp 10
Chương trình lịch sử Thế giới lớp 10 giới thiệu những thời kì đầu tiên củalịch sử loài người được cấu thành 2 phần:
Phần một, gồm 3 thời kì lịch sử: Xã hội nguyên thủy cổ đại và trung đại.Phần xã hội nguyên thủy học sinh tìm hiểu nguồn gốc loài người, quá trình tiếnhóa từ vượn thành người, những tổ chức xã hội đầu tiên của loài người: thị tộc,
bộ lạc Về xã hội cổ đại, các em tìm hiểu về những quốc gia cổ đại đầu tiên
Trang 25những đặc điểm về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên thể chế chính trị của các quốcgia cổ đại Đồng thời giúp học sinh hiểu được đóng góp thành tựu về văn minhcủa các quốc gia này đối với nền văn minh nhân loại.
Về thời phong kiến: Học sinh hiểu được những nét chính về Trung Hoaphong kiến và những thành tựu vĩ đại về mặt văn hóa của lịch sử Trung Hoa,ngoài ra còn có lịch sử Ấn Độ và các quốc gia Đông Nam Á khác
Về phần Châu Âu phong kiến: Cung cấp cho học sinh cái nhìn toàn diệnđến quá trình hình thành và đến khi suy vong của chế độ phong kiến, nó gắn liềnvới sự hình thành của chủ nghĩa tư bản trên phạm vi toàn Thế giới
Phần hai, học sinh sẽ tìm hiểu về nguyên nhân bùng nổ, diễn biến, kết quả
và ý nghĩa của các cuộc cách mạng tư sản, quá trình diễn ra cuộc cách mạngcông nghiệp, chủ nghĩa tư bản hình thành trên phạm vi toàn thế giới, gắn với sự
ra đời của chủ nghĩa thực dân đi xâm lược trên quy mô toàn thế giới Điều đó đãdẫn đến sự bùng nổ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Á Phi-Mĩ La Tinh.Đồng thời trong phần này học sinh sẽ tìm hiểu các cuộc đấu tranh của giai cấpcông nhân và sự ra đời của chủ nghĩa cộng sản
2.2 Các loại văn hóa vật chất cần tạo biểu tƣợng cho học sinh khi
dạy phần Lịch sử thế giới lớp 10 THPT
Tên bài Biểu tượng cần tạo Biện pháp cần tạo
Bài 1: Sự xuất hiện Hình 1: Người tối cổ Sử dụng tranh ảnh kết
Hình 2: Tranh khắc Sử dụng tranh ảnh kếttrên tường hầm mộ ở hợp phương pháp, miêuBài 3: Các quốc gia Tebơ (Ai Cập) thế kỉ tả, giảng giải, giải
cổ đại phương Đông
Hình 3: Quách vàngtạc hình vua Ai Cập Sử dụng tranh ảnh kếtTu-tan-kha-môn (1361 hợp phương pháp miêu
Trang 26– 1352 TCN) tả, giảng giải, phát vấn.Hình 4: Cổng I-sơ-ta Sử dụng tranh ảnh kếtthànhBa-bi-lonở hợp phương pháp miêuLưỡng Hà tả có sử dụng phim tưHình 5: Kim tự tháp ở liệu.
Hình7:Pê-ri-clet Sử dụng tranh ảnh kết(495? – 429 TCN) hợp phương pháp miêu
tả
Bài 4: Các quốc gia Hình 9: Khải hoàn Sử dụng tranh ảnh kết
cổ đại phương Tây – môn Trai-an (Bê-nê- hợp phương pháp giảngHiLạp và Rôma ven-tô, Nam I-ta-li-a giải
Hình 10: Đền Pác -tê- Sử dụng tranh ảnh kếtnông (Hi Lạp) hợp phương pháp giảng
giải và đàm thoại
Hình 11: Đấu trường ở Sử dụng tranh ảnh kết
vấn đề và đàm thoại
Hình 12: Tượng người Sử dụng tranh ảnh kếtBài 5: Trung Quốc bằng đấy nung trong hợp phương pháp miêu
khu lăng mộ Tần Thủy tả và giải thích
thời phong kiến
HoàngHình 13: Toàn cảnh Sử dụng tranh ảnh kết
Trang 27Cố cung Bắc Kinh hợp phương pháp miêu
tả và giải thích
Hình 14: Một đoạn Sử dụng tranh ảnh kếtVạn lí trường thành hợp phương pháp miêu
tả và giải thích
Hình 15: Tượng phật Sử dụng tranh ảnh kếtbằng ngọc thạch trong hợp phương pháp giảngcung điện được tạc từ giải
một khối ngọc thạchtrắng và được khảm đáquý
Bài 6: Các quốc gia Hình 17: Lễ đường Sử dụng tranh ảnh kết
trong chùa hang A - hợp phương pháp giảng
Ấn và văn hóa
gian-ta (Ấn Độ) giải
truyền thống Ấn Độ
Hình 18: Cổng lăng A - Sử dụng tranh ảnh kếtBài 7: Sự phát triển cơ-ba ở Xi-can-đra ( hợp phương pháp miêulịch sử về nền văn đầu thế kỉ XVII) tả và giải thích
hóa đa dạng của Ấn Hình 19: Lăng Ta-giơ Sử dụng tranh ảnh kết
Độ Ma-han (ở A-gra, thế hợp phương pháp miêu
Hình 21: Toàn cảnh đô Sử dụng tranh ảnh kếtBài 8: Sự hình thành thị cổ Pa-gan (Mi-an- hợp phương pháp nêu
vương quốc chính ở Hình 22: Toàn cảnh Sử dụng tranh ảnh kếtĐông Nam Á khu đền tháp Bô-rô- hợp phương pháp nêu
bu-đua (In-đô-nê-xi-a) đặc điểm và giải thích
Bài 9: Vương quốc Hình 23: Ăng-co Vát Sử dụng tranh ảnh kếtCam-pu-chia và (Cam-pu-chia) hợp phương pháp nêu
Trang 28kiến ở Tây Âu Hình 26: Hội chợ ở hợp phương pháp nêu
Bài 11: Tây Âu thời Hình 28: Bức họa “La Sử dụng tranh ảnh kết
Giô-công” của Lê-ô-na hợp phương pháp miêuhậu kì trung đại
đơ Vanh-xi tả và giải thích
2.3 Một số biện pháp tạo biểu tƣợng văn hóa vật chất khi dạy phần lịch sử thế giới thời nguyên thủy cổ đại và trung đại, lớp 10 THPT
2.3.1 Sử dụng phương pháp trình bày miệng để tạo biểu tượng văn hóa vật chất
Trong dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng, việc trình bày miệng
có ý nghĩa rất quan trọng Vì lời nói giữ vai trò chủ đạo đối với việc giảng dạycủa giáo viên và học tập của học sinh, việc trình bày miệng không chỉ thực hiệnphương pháp thông - tin tái hiện nhằm khôi phục hình ảnh quá khứ mà còn giúphọc sinh nhận thức sâu sắc sự kiện, trình bày những suy nghĩ, hiểu biết, trongnghiên cứu, tìm tòi
Trình bày miệng có nhiều cách tiến hành, nhiều biện pháp cụ thể học sinhhiểu biết đầy đủ, có hệ thống các sự kiện lịch sử
Trình bày miệng là việc giáo viên dùng lời nói để truyền đạt kiến thức đếnhọc sinh Lời nói sinh động được sử dụng dưới nhiều hình thức khác nhau trongdạy học lịch sử (trình bày tài liệu của thầy và trò, trao đổi, thảo luận, kiểm tramiệng)
Trang 29Lời nói của giáo viên với ngôn ngữ trong sáng, gợi cảm, giàu hình ảnh, sẽdẫn dắt học sinh “trở về” với quá khứ của lịch sử, tạo được biểu tượng rõ ràng
cụ thể về một nhân vật, một biến cố, hiện tượng lịch sử…nó còn giúp học sinhhiểu biết, suy nghĩ, tìm tòi, rút ra kết luận, hình thành khái niệm nhằm tìm hiểubản chất của sự vật, quy luật của quá trình phát triển lịch sử Sử dụng lời nóitrong dạy học là một trong những cách tiết kiệm thời gian nhất để truyền thụkiến thức, những bài học kinh nghiệm của quá khứ
Lời nói có ý nghĩa giáo dục rất lớn, tác động đến tình cảm hình thành tưtưởng học sinh…vì vậy, trong dạy học lịch sử lời nói bao giờ cũng thể hiện tưcách, đạo đức, tư tưởng của giáo viên Không thể nhiệt tình ca ngợi những hànhđộng anh hùng của nhân dân trong chiến đấu nếu người giáo viên không rungcảm trước hành động ấy Không thể giáo dục học sinh căm thù sâu sắc giai cấpthống trị, căm thù quân xâm lược nếu giáo viên không thực sự căm thù chúng.Lời nói nhiệt tâm, trân thành tăng thêm tác dụng giáo dục Lời nói lạnh nhạt,hững hờ làm giảm nhẹ hoặc gây phản tác dụng giáo dục Tóm lại, tác dụng giáodục của lời nói rất lớn, nó khởi động lòng yêu nước chí căm thù, tinh thần laođộng sáng tạo của học sinh
Những chức năng của lời nói trong dạy học lịch sử có quan hệ chặt chẽvới nhau, vì có hình ảnh chính xác về quá khứ mới hiểu đúng sâu sắc lịch sử Do
đó, mới có tác dụng đến tư tưởng, tình cảm, tư duy và hành động Vì vậy, rènluyện cách trình bày miệng là một yêu cầu cao đối với giáo viên truyền thụ kiếnthức, hình thành tư tưởng đạo đức, kĩ năng tư duy và thực hành học sinh
Việc sử dụng tốt lời nói sinh động góp phần quan trọng vào việc giảiquyết các nhiệm vụ của dạy học lịch sử ở trường phổ thông theo mục tiêu, nộidung từng lớp, từng cấp với những cách thực hiện thích hợp
* Những yêu cầu về mặt sư phạm đối với việc trình bày miệng.
Thứ nhất, việc trình bày miệng của giáo viên phải vừa sức tiếp thu của học sinh Đây là yêu cầu sư phạm quan trọng, nguyên tắc vừa sức trong phương
pháp trình bày miệng bảo đảm cho tất cả học sinh đều hiểu bài, kích thích hoạt
Trang 30động trí tuệ của các em, tổ chức hướng dẫn các em tự học, biết cách nắm kiếnthức và rút ra kết luận khái quát.
Điều quan trọng để củng cố nhận thức của học sinh khi trình bày miệngphải nêu rõ tính biện chứng của sự phát triển lịch sử Nói về tính biện chứngtrong nhận thức lịch sử V.I Lênin nói “Đó là việc không quên các mối liên hệlịch sử cơ bản, là khi xem xét một vấn đề phải đứng trên quan điểm: Một hiệntượng nhất định của lịch sử đã nảy sinh như thế nào, hiện tượng ấy đã trải quanhững giai đoạn chủ yếu nào trong sự phát triển của nó và phải đứng trên quanđiểm của sự phát triển ấy, xét sự vật ấy ngày nay đã trở thành cái gì” ( V.I
Lênin toàn tập, tập 29 trang 436, tiếng Nga)
Thứ hai, việc trình bày miệng của học sinh là để giáo viên kiểm tra, củng
cố kiến thức đã học, phát triển tư duy và rèn luyện ngôn ngữ Một khuynh
hướng sai lầm khá phổ biến trong việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiệnnay là một số giáo viên còn coi nhẹ việc trình bày miệng của học sinh Nếu cóchú ý đến việc trình bày của học sinh thì cũng chỉ xem xét nội dung mà các emtrình bày có đúng không, cả lớp có nghe rõ hay không, chứ chưa chú trọng cáchdùng từ ngữ diễn đạt
Tư duy học sinh được thể hiện dưới hình thức ngôn ngữ nói (và viết),được hoàn thiện trong quá trình trao đổi trong trình bày miệng và làm bài Trongkhi trình bày miệng ngôn ngữ được hình thành và hoàn thiện cùng với việc pháttriển tư duy Cho nên “khi phát triển ngôn ngữ rõ ràng, khúc chiết và chính xác ởhọc sinh, giáo viên đồng thời cũng phát triển tư duy chính xác và đúng đắn ở họcsinh Trong quá trình bồi dưỡng tư duy thì ngôn ngữ phát triển và nhờ đó mà ýnghĩ của học sinh cũng được thể hiện trong những hình thức ngôn ngữ khúcchiết” Vì vậy, khi trình bày miệng học sinh phải đạt mấy yêu cầu sau
Học sinh phải nắm vững nội dung kiến thức sẽ trình bày, đồng thời việclĩnh hội kiến thức, học sinh chuẩn bị trình bày những điều đã biết một cách khúcchiết, có nội dung phong phú và chính xác
Ngôn ngữ trình bày phải trong sáng, lập luận phải gãy gọn, thể hiện đượcnội dung mà học sinh trình bày đúng ngữ pháp, dùng từ chính xác bằng ngôn
Trang 31ngữ của mình, tránh việc trình bày có tính chất công thức, dập khuôn, hiện đạihóa về nội dung, vay mượn từ ngữ, lối diễn đạt của người khác không đượcnhuần nhuyễn.
Khi trình bày học sinh phải xây dựng dàn ý, tránh tùy tiện hời hợt thiếulogic trong nội dung trình bày
Trong dạy học có nhiều cách trình bày miệng khác nhau Các nhà nghiêncứu phương pháp dạy học lịch sử đã đưa ra các hình thức cơ bản về cách trìnhbày miệng phù hợp với lí luận dạy học và đặc trưng của bộ môn Đó là tườngthuật, miêu tả, nêu đặc điểm, giải thích
Trong dạy học lịch sử thế giới phần 1 để tạo biểu tượng văn hóa vật chất,giáo viên sử dụng phương pháp trình bày miệng để tạo biểu tượng, trong cáccách trình bày miệng thì sử dụng miêu tả, nêu đặc điểm, giải thích để tạo biểutượng là có hiệu quả nhất
Miêu tả là trình bày cụ thể những đặc trưng của một sự vật, sự kiện lịch sử
để nêu lên những nét đặc trưng, bản chất chủ yếu, cấu tạo bên trong cũng nhưhình thức bên ngoài của chúng Khác với tường thuật thì miêu tả không có chủ
đề mà có đối tượng cụ thể cần trình bày Có thể chia miêu tả làm hai loại: Miêu
tả toàn cảnh và miêu tả có phân tích
Miêu tả toàn cảnh nhằm khắc họa bức tranh toàn vẹn về đối tượng đượctrình bày khi miêu tả, giáo viên lựa chọn những nét tiêu biểu, bản chất nhất đểdựng lại bức tranh quá khứ một cách khá đầy đủ chính xác khách quan
Ví dụ, khi dạy bài 3 “Các quốc gia cổ đại phương Đông” khi dạy phần 3
“Văn hóa phương Đông” có hình 5 “Kim tự tháp” giáo viên có thể miêu tả toàn
cảnh Kim tự tháp Ai Cập - kim tự tháp Kê ốp như sau: “Kim tự tháp cao146,5m, gần bằng tòa nhà 50 tầng hiện đại, mỗi cạnh dài 230m, diện tích rộnghơn 52900m2, xây dựng bằng 2 triệu 300 nghìn tảng đá, mỗi tảng nặng 2,5 tấn.Cửa Kim tự tháp nằm ở phía Bắc, đi dọc theo hành lang hẹp dẫn đến một phònglớn Trong phòng lớn này đặt quan tài có xác ướp của các pharaon Trên tườngphía trong có khắc chữ ghi nhiều kiến thức mà các nhà khảo cổ vẫn chưa tìmhiểu hết được nội dung bí ẩn của các dòng chữ này”
Trang 32Miêu tả như vậy tạo cho học sinh biểu tượng về toàn bộ Kim tự tháp hùng
vĩ, do tài nghệ tuyệt vời của nhân dân xây dựng lên Nó biểu hiện uy quyền tolớn, vô hạn của pharaon, và những thành tựu khoa học còn lưu lại
Miêu tả phân tích không nhằm khôi phục lại bức tranh quá khứ mà tập trungvào một đặc điểm chủ yếu Qua đó, để đi sâu và phân tích cơ cấu bên trong
Ví dụ, khi dạy bài 5 “Trung quốc thời phong kiến” khi dạy mục 1
“Trung quốc thời Tần Hán” có hình 12 “Tượng người bằng đất nung trong khu lăng mộ Tần Thủy Hoàng” giáo viên miêu tả cảnh xây dựng khu lăng mộ Tần
Thủy Hoàng như sau: “Tần Thủy Hoàng mới lên ngôi, đã sai đào núi Ly Sơn,đến khi thôn tính được thiên hạ thì dời 70 vạn người thiên hạ đến xây dựng lăng
mộ, đào ba con suối ở dưới đổ đồng và đưa quách vào Đem những đồ quý báucủa các cung, của các trăm quan xuống cất đầy ở dưới Lại sai thợ làm máy bắntên có ai đào đến gần thì bắn ra, sai lấy thuỷ ngân làm 100 con sông TrườngGiang, Hoàng Hà và biển lớn, các máy móc làm cho nước sông và biển chảy vàonhau Ở trên có đủ thiên văn ở dưới có đủ địa lí, lấy đầu cá nhân ngư (tức conhải báo) để thắp đuốc, trù tính thế nào để không tắt
Sau khi chôn cất song có người nói: Những người thợ làm máy và cất giấuđều biết chỗ cất giấu, thế nào họ cũng tiết lộ việc lớn Cho nên khi cất giấu songNhị Tế sai đóng cửa hầm đi lên huyệt, lại sai đóng cửa ngoài đường hầm Nhữngngười thợ và những người cất giấu của cải không làm sao thoát ra được, rồi saitrồng cây, trồng cỏ lên trên để có vẻ như cái núi
Cách miêu tả phân tích đã tạo nên một trang về cảnh xây dựng lăng mộTần Thủy Hoàng Qua đó, học sinh có biểu tượng chung về lăng mộ Tần ThủyHoàng và những việc làm bạo ngược của Tần Thủy Hoàng đối với người xâylăng mộ cho mình
Ví dụ 2, khi dạy bài 3 “Các quốc gia cổ đại phương Đông” có hình 3
“Quách vàng tạc hình vua Ai Cập Tu-Tan-kha-Môn” giáo viên miêu tả như sau:
“Quách bằng vàng tạc hình vua Tu-Tan-Kha-Môn, vị Pharaon của vương triềuthứ XVII của Ai Cập giữa thế kỉ XIV TCN Chiếc quách bằng vàng này khôngphải là hình hộp chữ nhật, mà làm theo hình dạng thân thể khuôn khổ người
Trang 33Trong hình ta thấy, vua Tu-Tan-Kha-Môn, đội chiếc mũ hình nhân sư, ở giữatrán có trạm hình một con rắn hổ mang bành và một con chim ưng biểu tượng củaThượng và Hạ Ai Cập Phía dưới cằm là bộ râu dài bằng vàng được gắn thủytinh xanh cho giống với vị thần Ô-Đi-Rít (thần cai quản thế giới) Hai tay củapharaon khoanh trước ngực, một tay cầm cái néo của người nông dân ( dùng đểđập tách hạt ngũ cốc ra khỏi vỏ), một tay cầm chiếc gậy cong của người chăncừu Xung quanh cổ của Tu-Tan-Kha-Môn là những chiếc là chắn bằng vàng cácngón tay, chân và khắp thân hình là những đồ trang sức bằng vàng và ngọc quý”.
Với cách miêu tả như vậy, giáo viên đã cho học sinh thấy được Môn cũng như các Pharaon khác của Ai Cập đều muốn chứng tỏ mình là một vịthần Dường như ông ta không thể hiện một chút tình cảm nào trên khuôn mặt, cácnét trên khuôn mặt của ông rất cân đối và hoàn thiện Tất cả những chi tiết gợi lênhình ảnh của một ông vua chuyên chế đầy quyền lực trong thời kì cổ đại
Tu-Tan-Kha-Cả hai loại miêu tả toàn cảnh và miêu tả phân tích đều đòi hỏi giáo viên vàhọc sinh phải dựa vào những sự kiện khoa học chính xác nhằm tạo cho học sinhnhững hình ảnh cụ thể, chân thực và có tác dụng giáo dục tư tưởng, tình cảm đốivới các em Vì vậy, khi sử dụng miêu tả trong dạy học lịch sử giáo viên phảiđảm bảo tính khách quan khoa học, đồng thời phải trình bày rõ ràng, có thái độđúng với đối tượng miêu tả
Nêu đặc điểm đây là một dạng của miêu tả nhằm làm sáng tỏ những bản
chất, những đặc trưng trong mối liên hệ bên trong của các hiện tượng lịch sử.Nêu đặc điểm có thể ngắn gọn hay chi tiết tùy theo tính chất, nội dung sự kiện
và trình độ yêu cầu của việc học tập Nó không những làm cho học sinh ghi nhớ
sự kiện, nhân vật một cách cụ thể, có hình tượng trên cơ sở những tài liệu đượcthông báo mà còn khái quát hóa với những nét đặc trưng nhất của sự kiện, nhânvật Việc nêu đặc điểm hình ảnh tác động đến nhận thức của học sinh Thôngqua nêu đặc điểm giáo viên giúp các em đánh giá sự kiện và thái độ với sự kiệnhay nhân vật lịch sử ấy
Việc sử dụng cách nêu đặc điểm được tiến hành trong những trường hợp sau
Trang 34Thứ nhất, dùng xen vào tường thuật để cụ thể hóa một hiện tượng, mộtnhân vật lịch sử dưới dạng một hình ảnh tượng trưng, nhằm giúp học sinh dễtiếp thu nội dung, bản chất của hiện tượng.
Ví dụ, khi dạy bài 7 “Sự phát triển Lịch sử và nền văn hóa đa dạng của
Ấn Độ” khi dạy phần 3 “Vương triều Môn Gôn” có hình 19 “Lăng
Ta-Giơ-Ma-Han” (ở A gra, thế kỉ XVII ) khi viết về công trình kiến trúc này có thể nêu lên
hình ảnh tượng “Ta-Giơ-Ma-Han là một lăng mộ tình yêu, đồng thời cũng làcông trình kiến trúc tuyệt mĩ, một viên ngọc trân châu của Ấn Độ” Cách miêu tảlăng Ta-Giơ-Ma-Han dưới hình ảnh tượng trưng như vậy đã nói lên được bảnchất của nó, tác động đến tư tưởng tình cảm của người đọc
Cũng như miêu tả cách nêu đặc điểm phải làm nổi bật những nét bản chấtcủa hiện tượng lịch sử, nên nó bao hàm việc đánh giá hiện tượng ấy Vì vậy, nêuđặc điểm trong dạy học lịch sử có ý nghĩa giáo dục, hướng dẫn học sinh có thái
độ rõ rệt đối với hiện tượng lịch sử
Thứ hai, dùng để khái quát tính chất hiện tượng lịch sử dưới dạng một hìnhảnh tượng trưng nhằm giúp học sinh dễ tiếp thu nội dung, bản chất của hiện tượng
Ví dụ, khi dạy bài 7 “ Sự phát triển lịch sử và nền văn hóa đa dạng của
Ấn Độ” khi dạy mục 3 “ Vương triều Môn Gôn” có hình 19 “ Lăng
Ta-Giơ-Ma-Han” ( ở Agra thế kỉ XVII), khi viết về công trình kiến trúc này giáo
viên có thể nêu lên hình ảnh tượng trưng là “Ta-Giơ-Ma-Han là lăng mộ tìnhyêu, đồng thời cũng là một công trình kiến trúc tuyệt mĩ, một viên ngọc trânchâu của Ấn Độ”
Cách miêu tả bằng việc nêu hình ảnh tượng trưng về lăng Ta-Giơ-Ma-Hannhư vậy đã làm nổi bật được bản chất, đặc điểm của lăng mộ, tác động đến tưtưởng tình cảm của người đọc
Ví dụ, khi dạy bài 8 “Sự hình thành và phát triển vương quốc chính ở
Đông Nam Á” khi dạy mục 2 “Sự hình thành và phát triển của các quốc gia
phong kiến Đông Nam Á” khi giảng về sự ra đời và phát triển của vương quốc phong kiến In-đô-nê-xi-a, giáo viên sẽ cho học sinh quan sát hình 22 “Toàn cảnh khu đền tháp Bô-rô-bu-đua (In-đô-nê-xi-a)” khi nói về công trình này giáo
Trang 35viên có thể đưa ra hình ảnh tượng trưng về khu đền như sau: “Khu đền tháp rô-bu-đua (In-đô-nê-xi-a), là “bài ca trong đá” vô cùng kì vĩ và độc đáo của nềnvăn hóa In-đô-nê-xi-a”.
Bô-Như vậy, việc khái quát khu đền dưới một hình ảnh tượng trưng học sinh
đã hiểu được bản chất của khu đền
Tóm lại, nêu đặc điểm có tác dụng lớn trong việc làm cho học sinh hiểumột cách đúng đắn, khái quát bản chất và ý nghĩa của các hiện tượng, quy luậtphức tạp đang học
Giải thích được sử dụng để tìm hiểu sâu hơn bản chất, ý nghĩa của những
hiện tượng phức tạp, nắm vững khái niệm, các quy luật, nhằm làm cho học sinh
có quan điểm khoa học về sự phát triển của xã hội loài người về những mối quan
hệ nhân quả giữa các hiện tượng Cách giải thích phù hợp với trình độ và tư duy
lí luận của học sinh Vì vậy, trong mỗi bài giảng giáo viên cần xác định rõnhững vấn đề nào cần giải thích như sự thay đổi của một chế độ xã hội này bằngmột chế độ xã hội khác, vai trò của quần chúng nhân dân trong một sự kiện lịch
sử cụ thể
Ví dụ, như khi trình bày về sự tan vỡ của chế độ công xã nguyên thủy và
sự ra đời của xã hội có giai cấp, cần giải thích cho học sinh hiểu sự cải tiến công
cụ lao động đã làm tăng năng suất lao động dẫn đến xuất hiện của cải “thừa”, sựbóc lột, sự phân hóa giai cấp và hình thành nhà nước không giải thích nhữngmối liên hệ biện chứng như vậy, học sinh sẽ không thấy tính quy luật của sựthay đổi các hình thái kinh tế xã hội kế tiếp nhau
* Việc giải thích được sử dụng trong các trường hợp sau.
Thứ nhất, khi trình bày một sự kiện quan trọng giáo viên cung cấp chohọc sinh những kiến thức cần thiết rồi dừng lại phân tích sự kiện ấy hoặc hướngdẫn học sinh tự phân tích
Ví dụ, khi dạy bài 2 “Xã hội nguyên thủy” khi dạy mục 1 “Thị tộc và Bộ
lạc” ngoài khái niệm thị tộc và bộ lạc trong sách giáo khoa khi dạy phần này giáo
viên cần giải thích thêm cho học sinh hiểu thêm về khái niệm thị tộc và bộ lạc
Trang 36“Thị tộc” là đơn vị tổ chức xã hội của con người trong trong thời đại công xã
nguyên thủy Sau thời kì bầy người nguyên thủy, số dân cư trên trái đất tăng lênnhanh chóng Mỗi bầy người từ vài ba chục tăng lên hàng trăm, những bầy ngườinày buộc phải chia nhỏ để dễ kiếm thức ăn Mỗi nhóm gồm vài chục gia đình, với
ba thế hệ có cùng huyết tộc với nhau mỗi nhóm như thế gọi là thị tộc, gồm nhữngngười cùng dòng máu Thị tộc là một tổ chức của xã hội của loài người thời công
xã nguyên thủy, trong đó những tập quán quen thuộc tạo ra cuộc sống cộng đồngmọi lĩnh vực sinh hoạt Người ta cùng làm, cùng ăn, cùng vui chung, cùng tổ chức
xã hội…không có sự tư hữu và phân định kẻ giàu người nghèo
“Bộ lạc” là đơn vị tổ chức xã hội thời công xã nguyên thủy, bao gồm
nhiều thị tộc và bào tộc sống cạnh nhau trong một vùng đất đai thuận lợi cho nênviệc tìm kiếm thức ăn, chống lại thú dữ, tránh các tai họa của tự nhiên nhữngngười trong bộ lạc họ có họ hàng với nhau vì cùng chung một nguồn gốc tổ tiên,giúp nhau trong đời sống cùng tổ chức lễ hội, cùng giúp nhau trong hoạn nạn, họ
có tiếng nói chung, có một tài sản chung như rừng, núi, suối…nhưng mỗi thị tộc
có một tên gọi riêng để phân biệt với nhau Trong cùng một bộ lạc giữa cácthành viên trong thị tộc còn có quan hệ kết hôn với nhau, đứng đầu bộ lạc là một
tù trưởng
Ví dụ, khi dạy bài 7 “Sự phát triển lịch sử và nền văn hóa đa dạng của
Ấn Độ” khi dạy mục 3 “Vương triều Môn gôn” sau khi nói về sự thành lập của
vương triều, giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích sự ra đời và ý nghĩa của sựthành lập, từ đó đi đến kết luận: “vương triều Môn-Gôn (1526-1707) là thời kìcuối cùng của chế độ phong kiến Ấn Độ Sau khi kết luận giáo viên cần phêphán những luận điểm sai trái về vương triều như là “thời kì này vương triềuMôn-Gôn khủng hoảng, suy thoái và tan rã”, giáo viên cần giải thích cho họcsinh hiểu “Tuy là thời kì cuối cùng, nhưng không phải chỉ có khủng hoảng suythoái và tan rã mà các vị vua thời kì đầu đã ra sức củng cố vương triều theohướng “Ấn Độ hóa” và xây dựng đất nước Đến thời trị vì của vị vua thứ tư làA-Cơ Ba Ấn Độ đạt được bước phát triển mới”