Phan Ngọc Liên chủ biên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi trong sách giáo trình Phương pháp dạy học lịch sử , Tập 1, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2003 phân thành các loại biểu tượng sau:
Trang 1Trường Đại học Vinh Khoa LịCH Sử -
NGÔ THị THìN
Sử DụNG TRANH ảNH KếT HợP VớI MIÊU Tả NHằM TạO BIểU Tượng về văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại
(lịch sử lớp 10 - chương trình chuẩn)
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên Ngành: phương pháp dạy học lịch sử
Trang 2Trường Đại học Vinh Khoa LịCH Sử -
Sử DụNG TRANH ảNH KếT HợP VớI MIÊU Tả NHằM TạO BIểU Tượng về văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại
Trang 3Lời cảm ơn!
Hoàn thành luận văn này, đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo Trần Viết Thụ - Người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài này Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Phương pháp dạy học lịch sử - Khoa Lịch sử, phòng thông tin thư viện – Trường Đại học Vinh và bạn
bè đã hết lòng giúp đỡ nhiệt tình tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này Xin gửi lời chúc sức khỏe và thành đạt tới thầy, cô và các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 5 năm 2011
Sinh viên: Ngô Thị Thìn
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Cấu trúc đề tài 5
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TẠO BIỂU TƯỢNG LỊCH SỬ VỀ VĂN HÓA VẬT CHẤT TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT 6
1.1 Cở sở lý luận 6
1.1.1 Khái niệm biểu tượng, biểu tượng lịch sử 6
1.1.2 Phân loại biểu tượng lịch sử 8
1.1.3 Biểu tượng lịch sử về văn hóa vật chất 11
1.1.4 Ý nghĩa của việc tạo biểu tượng lịch sử về văn hóa vật chất 13
1.2 Cơ sở thực tiễn 19
CHƯƠNG II: CÁC BIỂU TƯỢNG LỊCH SỬ VỀ VĂN HÓA VẠT CHẤT ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG DẠY HỌC KHÓA TRÌNH LỊCH SỬ THẾ GIỚI THỜI NGUYÊN THỦY, CỔ ĐẠI VÀ TRUNG ĐẠI 21
2.1 Cơ sở khoa học để xác định các biểu tượng lịch sử về văn hóa vật chất trong dạy học khóa trình 21
2.1.1 Mục đích, yêu cầu của khóa trình 21
2.1.2 Căn cứ vào trình độ nhận thức,đặc điểm tâm lý học sinh 28
2.1.3 Những nguyên tắc chỉ đạo được xác định các biểu tượng lịch sử về văn hóa vật chất 31
2.2 Các biểu tượng lịch sử về văn hóa vật chất trong dạy học khóa trình lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại 35
Trang 5CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG TRANH ẢNH KẾT HỢP VỚI
MIÊU TẢ TRONG VIỆC TẠO BIỂU TƯỢNG VỀ VĂN HÓA VẬT CHẤT
TRONG DẠY HỌC KHÓA TRÌNH LỊCH SỬ THẾ GIỚI THỜI NGUYÊN
THỦY, CỔ ĐẠI VÀ TRUNG ĐẠI (LỊCH SỬ LỚP 10, BAN CƠ BẢN) 41
3.1 Phương pháp miêu tả và sử dụng tranh ảnh trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông 41
3.1.1 Phương pháp miêu tả 41
3.1.2 Phương pháp sử dụng tranh ảnh lịch sử 47
3.1.3 Phương pháp sử dụng tranh ảnh kết hợp với miêu tả 48
3.2 Sử dụng tranh ảnh kết hợp với miêu tả trong việc tạo biểu tượng lịch sử về văn hóa vật chất trong dạy học khóa trình lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại 50
3.3 Thực nghiệm sư phạm 88
3.3.1 Mục đích thực nghiệm 88
3.3.2 Đối tượng thực nghiệm 88
3.3.3 Nội dung thực nghiệm 88
3.3.4 Phương pháp thực nghiệm 88
3.3.5 Giáo án 89
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Trang 6
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GV : Giáo viên
HS : Học sinh Nxb : Nhà xuất bản SGK : Sách giáo khoa TCN : Trước công nguyên THCS : Trung học cơ sở THPT : Trung học phổ thông
Trang 7MỞ ĐẦU
1.1 Cùng với sự phát triển của đất nước, nền giáo dục đào tạo Việt Nam đang từng bước đổi mới Như chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” Đảng ta cũng đã xác định xem “giáo dục là quốc sách hàng đầu”
Sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta đòi hỏi phải có sự đổi mới trong tất cả các khâu của quá trình dạy học và phương pháp dạy học là một trong những khâu quan trọng hàng đầu cần phải đổi mới Trong những năm gần đây, đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề đang được toàn xã hội quan tâm, chuyển từ phương pháp dạy học lấy thầy làm trung tâm sang phương pháp dạy học theo hướng tích cực lấy học sinh làm trung tâm nhằm góp phần đào tạo hệ học sinh trở thành người lao động có học vấn, có đạo đức đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước
Lịch sử là một môn học trong hệ thống các môn học ở trường phổ thông
Nó có ý nghĩa thực tiễn rất lớn, cũng như các môn học khác nhằm góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục
1.2 Do đặc điểm của sự nhận thức lịch sử, việc học tập lịch sử bắt đầu từ việc nắm sự kiện và tạo biểu tượng lịch sử Vì thế, tạo biểu tượng là giai đoạn nhận thức cảm tính của quá trình học tập lịch sử Nó là cơ sơ để hình thành khái niệm lịch sử Đồng thời, với việc cung cấp kiến thức, việc tạo biểu tượng lịch sử có ý nghĩa giáo dục, phát triển toàn diện học sinh
1.3 Lịch sử là bức tranh toàn diện về quá khứ, thể hiện trên tất cả các mặt Trong đó, lịch sử văn hóa là một bộ phận hữu cơ của lịch sử Nó có quan
hệ khăng khít, gắn bó chặt chẽ với kinh tế, chính trị, xã hội…Văn hóa không chỉ là yếu tố cấu tạo nên lịch sử mà còn làm cho lịch sử phong phú, trở thành một động lực cho sự tồn tại và phát triển xã hội Văn hóa gắn liền với lịch sử,
Trang 8nó là bằng chứng xác nhận về lịch sử đã qua Vì vậy, khi nghiên cứu, học tập lịch sử không thể không tìm hiểu các vấn đề về văn hóa Việc cung cấp những kiến thức về lĩnh vực văn hóa nói chung, những thành tựu về văn hóa vật chất nói riêng giúp học sinh có cái nhìn toàn diện về lịch sử, đồng thời góp phần hình thành thái độ, tư tưởng, tình cảm cho học sinh
1.4 Đồ dùng trực quan nói chung, tranh ảnh lịch sử nói riêng có vị trí đặc biệt quan trọng đối với việc khôi phục, tái tạo quá khứ lịch sử Bởi vì, đồ dùng trực quan là chỗ dựa để hiểu sâu sắc bản chất của sự kiện lịch sử, là phương tiện rất có hiệu lực để hình thành khái niệm lịch sử, quan trọng nhất là làm cho học sinh nắm vững các quy luật của sự phát triển của xã hội Như vậy, nội dung của sự kiện lịch sử được học sinh nhận thức thông qua việc tái tạo nên hình ảnh về quá khứ bằng những hoạt động của các giác quan, thị giác tạo nên hình ảnh trực quan, thính giác đem lại nhiều hình ảnh về quá khứ thông qua lời giảng của giáo viên Điều đó khẳng định rõ ràng, đồ dùng trực quan có ý nghĩa hết sức quan trọng trong các giờ học Nó không chỉ mang lại hiệu quả cao cho các hoạt động dạy học mà nó còn góp phần phát huy năng lực, tư duy,
sự suy nghĩ sáng tạo thông minh của học sinh trong việc tạo biểu tượng lịch
sử, làm cho các giò học trở nên sinh động, hấp dẫn, tạo hứng thú học tập cho học sinh
1.5 Khóa trình “Lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại”
có một vị trí quan trọng trong toàn bộ chương trình lịch sử ở trường phổ thông Nó cung cấp cho học sinh bức tranh khái quát về sự xuất hiện loài người, sự hình thành nhà nước có giai cấp: nhà nước chiếm hữu nô lệ, nhà nước phong kiến trên cơ sở tìm hiểu lịch sử của từng nước cụ thể ở hai khu vực phương Đông và phương Tây Qua đó, học sinh thấy được quy luật phát triển chung của xã hội loài người, tin tưởng vào sự phát triển ấy và có sự liên
hệ với lịch sử dân tộc Dạy học khóa trình “Lịch sử thế giới thời nguyên thủy,
cổ đại và trung đại”đặt nền móng cơ bản đầu tiên, làm cơ sở cho học sinh tiếp nhận các khóa trình lịch sử sau đó
Trang 9Như vậy, việc tạo biểu tượng lịch sử nói chung, biểu tượng lịch sử về văn hóa vật chất nói riêng có ý nghĩa quan trọng – đó vừa là biện pháp, vừa là yêu cầu trong dạy học lịch sử Sử dụng tranh ảnh lịch sử kết hợp với miêu tả là một biện pháp có nhiều ưu thế hơn cả Tuy nhiên, vấn đề này hiện nay vẫn
chưa được quan tâm đúng mức Vì thế, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Sử dụng
tranh ảnh kết hợp với miêu tả nhằm tạo biểu tượng về văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại” (Lịch
sử lớp 10 – chương trình chuẩn) làm luận văn tốt nghiệp Đại học với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Tạo biểu tượng cho học sinh trong dạy học lịch sử là một vấn đề đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến Trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử”, tập 1, Phan Ngọc Liên (chủ biên), Nxb ĐH Sư phạm, 2002 đã nêu lên khái niệm, phương pháp, các biện pháp cụ thể nhằm tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh Một số bài viết trong “Một số chuyên đề về phương pháp dạy học lịch sử” Nxb ĐH Sư phạm Hà Nội cũng có đề cập tới việc tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh
M N Sácđacốp trong “Tư duy học sinh”, tập 1 (Nxb Giáo dục, 1970) đã khẳng định: khái niệm lịch sử được tạo thành trên cơ sở biểu tượng, sự liên hợp những biểu tượng đã có tạo thành hình ảnh
Trong “Di sản thế giới”, tập 1, 2, Bùi Đẹp, Nxb Trẻ và “Nhũng di sản nổi tiếng thế giới, Trần Mạnh Thường (2000), Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội
có đề cập đến một số công trình kiến trúc nổi tiếng trên thế giới, tuy nhiên chủ yếu là phục vụ cho khách tham quan, du lịch Đặng Thái Hoàng trong “Những công trình nổi tiếng nhất thế giới”, Nxb Văn hóa – Thông tin cũng có đi sâu miêu tả một số công trình kiến trúc, nhưng lại chủ yếu dựa trên những câu chuyện truyền thuyết
Cuốn “Lịch sử văn minh thế giới” (do Vũ Dương Ninh chủ biên) lại đi sâu trình bày về các nền văn minh thế giới Trong đó, có đề cập tới các thành
Trang 10tựu văn minh của lịch sử thế giới cổ, trung đại, có miêu tả và minh họa bằng hình ảnh một số công trình kiến trúc, điêu khắc tiêu biểu
Trong đó, đáng kể hơn cả là cuốn sách “Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông trung học” của tác giả Nguyễn Thị Côi, (NXBĐHQG Hà Nội), đã miêu tả một cách khá đầy đủ những hình ảnh được minh họa trong SGK Lịch sử lớp 10, 11, 12 Tuy nhiên, cuốn sách chưa
đề cập một cách đầy đủ những thành tựu về văn hóa vật chất cần tạo biểu tượng cho học sinh
Trên cơ sở tham khảo các công trình nghiên cứu khoa học đi trước, cùng với sự giúp đỡ, hướng dẫn của Thầy giáo Trần Viết Thụ và sự cố gắng tìm tòi của bản thân, tôi đã chọn đề tài này để nghiên cứu
3 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Mục đích:
Nghiên cứu đề tài này nhằm nâng cao hiệu quả tạo biểu tượng về văn hóa vật chất thông qua biện pháp miêu tả kết hợp với tranh ảnh
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Tham khảo các tài liệu lý luận có liên quan đến đề tài: Tâm lý học, Giáo dục học…, các tài liệu thuộc lý luận dạy học bộ môn
+ Tham khảo các tài liệu thông sử liên quan đến giai đoạn lịch sử thế giói thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại, tìm hiểu một số tác phẩm có đi sâu nghiên cứu về các nền văn minh lớn thời cổ, trung đại
+ Sưu tầm tranh ảnh lịch sử về các thành tựu văn hóa vật chất cần tạo biểu tượng cho học sinh khi dạy học khóa trinh Lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại Dựa vào các nguồn tài liệu để xây dựng các đoạn miêu tả phù hợp với tranh ảnh
- Phạm vi nghiên cứu:
Khóa trình lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại (Lịch
sử lớp 10 – chương trình chuẩn)
Trang 114 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu sử dụng tốt phương pháp miêu tả kết hợp với tranh ảnh trong việc tạo biểu tượng lịch sử về văn hóa vật chất thì sẽ kích thích được học sinh học tập, góp phần đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử ở trường phổ thông trung học
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu lý thuyết:
+ Nghiên cứu các tài liệu về giáo dục học môn Lịch sử, Tâm lý học, lý luận dạy học môn Lịch sử
+ Sách giáo khoa Lịch sử lớp 10, các sách báo, bài viết, tài liệu sử học
có liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu thực tiễn:
+ Điều tra thực trạng của việc tạo biểu tượng lịch sử về văn hóa vật chất, việc sử dụng tranh ảnh trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông qua dự giờ, quan sát việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh, thăm dò ý kiến của giáo viên
+ Tổng kết kinh nghiệm, thực nghiệm sư phạm
6 CẤU TRÚC ĐỀ TÀI
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc tạo biểu tượng lịch sử về văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử ở trường THPT
Chương 2: Các biểu tượng về văn hóa vật chất được trong dạy học khóa trình lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại (chương trình chuẩn, lơp 10)
Chương 3: Phương pháp sử dụng tranh ảnh kết hợp với miêu tả trong việc tạo biểu tượng về văn hóa vật chất trong dạy học khóa trình lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại
Trang 12CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TẠO BIỂU TƯỢNG
LỊCH SỬ VỀ VĂN HÓA VẬT CHẤT TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
Ở TRƯỜNG THPT
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Khái niệm biểu tượng, biểu tượng lịch sử
Khái niệm “biểu tượng”
Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người (nhận thức, tình cảm và hành động ) “Về bản chất, nhận thức là quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người trên
cơ sở thực tiễn” [13, 260]
Đó là một quá trình diễn ra rất phức tạp, bao gồm nhiều giai đoạn, trình
độ, vòng khâu khác nhau, song đây là quá trình biện chứng mà như V.I.Lênin
đã tổng kết: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn – đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lí, của sự nhận thức hiện thực khách quan” [13, 266]
Trong đó, “trực quan sinh động” hay còn được gọi là giai đoạn nhận thức
cảm tính, là giai đoạn con người sử dụng các giác quan để nắm bắt các sự vật, hiện tượng Trực quan sinh động bao gồm ba hình thức là cảm giác, tri giác và biểu tượng Trong ba hình thức đó, biểu tượng là hình thức phản ánh cao nhất
và phức tạp nhất của giai đoạn trực quan sinh động
Biểu tượng là hình ảnh có tính đặc trưng và tương đối hoàn chỉnh còn lưu lại trong bộ óc con người về sự vật khi sự vật đó không còn trực tiếp tác động vào các giác quan Biểu tượng được hình thành nhờ sự phối hợp, bổ sung cho nhau của các giác quan nhưng đã có sự tham gia của các yếu tố phân tích, tổng hợp và ít nhiều mang tính chất trừu tượng hóa
M.N.Sácđacốp trong “Tư duy học sinh” viết: “Biểu tượng là hình ảnh về
sự vật hoặc hiện tượng của hiện thực được tri giác, được phản ánh từ trước
Trang 13vào ý thức, luôn luôn được giữ lại trong trí nhớ và xuất hiện qua những dấu hiệu chủ yếu của nó Đồng thời những bộ phân của biểu tượng mà không phải
là bản chất đối với sự vật xác định đặc điểm của sự vật hoặc hiện tượng được nêu ra thì bị chia nhỏ và bị biến đổi đi” [11, 49]
I.F.Kharlamốp có một cách định nghĩa ngắn gọn hơn: “Biểu tượng là dấu
ấn ghi lại trong ý thức của con người về những hiện tượng của các sự vật và hiện tượng đã được tri giác” [6, 20]
Như vậy, một cách khái quát ta có thể hiểu: Biểu tượng là hình ảnh do tri giác mang lại, bộ óc con người có khả năng ghi nhớ, tái hiện những hình ảnh
đã được tri giác trước đây với những nét chung nhất, điển hình nhất
Khái niệm “Biểu tượng lịch sử”
Việc học tập lịch sử cũng tuân thủ quy luật chung của quá trình nhận thức: qua hai giai đoạn nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Song, do đặc điểm của nhận thức lịch sử, việc học tập lịch sử không bắt đầu từ cảm giác và tri giác mà từ việc nắm sự kiện và tạo biểu tượng lịch sử Vì thế, trong dạy học lịch sử, biểu tượng là hình thức đầu tiên và duy nhất trong giai đoạn nhận thức cảm tính
Như vậy có thể thấy, điểm giống nhau cơ bản giữa biểu tượng lịch sử và biểu tượng nói chung là đều thuộc giai đoạn nhận thức cảm tính, đều là hình ảnh về một đối tượng nào đó được lưu lại trong đầu óc con người với những nét chung nhất, điển hình nhất
Tuy nhiên, “biểu tượng” nói chung là hình ảnh về một đối tượng nào đó
do tri giác mang lại, nghĩa là nó phụ thuộc vào giai đoạn trước Con người trực tiếp quan sát, tri giác đối tượng và lưu giữ lại trong đầu hình ảnh về đối tượng đã được tri giác Còn “biểu tượng lịch sử là những hình ảnh về những
sự kiện, nhân vật lịch sử, điều kiện địa lý… được phản ánh trong óc học sinh với những nét chung nhất, điển hình nhất” [20, 189] Nhưng những hình ảnh
đó có được thông qua nguồn tài liệu, chứ con người không chứng kiến trực tiếp về đối tượng Hơn nữa, biểu tượng lịch sử là những hình ảnh gắn liền với
Trang 14các hoạt động của con người nên nó mang tính chất phong phú, đa dạng, muôn màu, muôn vẻ Vì vậy, việc tạo biểu tượng lịch sử khó hơn, mang tính trừu tượng hơn.“Biểu tượng lịch sử là một dạng đặc biệt của nhận thức thế giới khách quan” [21, 44] là “biểu tượng của trí tưởng tượng” [19, 78] Một cách khái quát có thể hiểu: Biểu tượng lịch sử là hình ảnh chân thực về hiện thực quá khứ khách quan được phản ánh trong cơ quan nhận thức của học sinh với những nét khái quát nhất, điển hình nhất Như vậy, nội dung của sự kiện lịch sử được học sinh nhận thức thông qua việc tạo nên hình ảnh về quá khứ bằng những hoạt động của các giác quan: Thị giác tạo nên hình ảnh trực quan, thính giác đem lại những hình ảnh về quá khứ thông qua lời giảng của giáo viên
1.1.2 Phân loại biểu tượng lịch sử
Vấn đề phân loại biểu tượng lịch sử có ý nghĩa về phương pháp luận cũng như phương pháp dạy học Hiện nay, có nhiều cách phân loại về biểu tượng lịch sử
Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi trong sách giáo trình Phương pháp dạy học lịch sử , (Tập 1, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2003) phân thành các loại biểu tượng sau:
+ Biểu tượng về hoàn cảnh địa lý: Là những hình ảnh về địa lý gắn liền với sự kiện lịch sử được phản ánh trong đầu óc học sinh với những nét chung nhất, khái quát nhất, điển hình nhất, nhằm cụ thể hóa, chính xác hóa về địa điểm diễn ra sự kiện Qua đó, cho học sinh thấy được yếu tố không gian có mối quan hệ nhất định với các sự kiện lịch sử
Một sự kiện lịch sử bao giờ cũng diễn ra trong một không gian nhất định Không gian của sự kiện có thể là một khu vực rộng lớn, như chiến trường châu Âu trong Chiến tranh thế giới thứ hai, hoặc diễn ra ở phạm vi hẹp như địa điểm một trận đánh, một cuộc khởi nghĩa
+ Biểu tượng về nền văn hóa vật chất: Đó là những hình ảnh về những thành tựu của loài người trong việc chế ngự thiên nhiên, trong lao động sáng
Trang 15tạo sản xuất ra của cải vật chất, cũng như văn hóa tinh thần của xã hội loài người Ví dụ, khi nói đến Kim tự tháp Ai Cập, không thể không tạo cho học sinh hình ảnh về sự hùng vĩ của công trình vĩ đại này, tinh thần lao động sáng tạo và trình độ kiến trúc điêu luyện của các nhà khoa học thời kì cổ đại cũng như sự hy sinh, đổ máu của hàng chục vạn người để xây dựng nên
+ Biểu tượng về nhân vật chính diện cũng như phản diện, những đại biểu điển hình củ một giai cấp, một tập đoàn xã hội, những nhân vật kiệt xuất + Biểu tượng về thời gian, về những quan hệ xã hội của con người: Là những hình ảnh chung nhất, khái quát nhất về diễn biến của sự kiện lịch sử, về trật tự thời gian của các sự kiện cùng những quan hệ xã hội của con người
Theo Nguyễn Thị Oanh trong Luận văn tốt nghiệp Đại học “Tạo biểu
tượng văn hóa vật chất trong dạy học khóa trình lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX (Lịch sử lớp 10 – Nâng cao), 2009, có đề cập cách
phân loại biểu tượng như sau:
“+ Biểu tượng vê sự kiện lịch sử cụ thể: Là một dạng biểu tượng quan trọng giúp cho người học phân biệt sự kiện này với sự kiện khác Đó là những hình ảnh chung nhất, khái quát nhất về một sự kiện đã diễn ra Qua đó, ta sẽ phân biệt được tên gọi sự kiện, địa điểm diễn ra sự kiện, năm diễn ra sự kiện, nhân vật chủ chốt, tính chất của sự kiện
+ Biểu tượng về nhân vật lịch sử: Là những hình ảnh chung nhất về một nhân vật lịch sử mà học sinh có được Dù không có vai trò quyết định như quần chúng nhân dân nhưng nhân vật lịch sử có vai trò không nhỏ đối với sự phát triển của lịch sử Trong những thời kì lịch sử có thể xuất hiện những nhân vật kiệt xuất, có tác động rất lớn, thúc đẩy sự phát triển hay thụt lùi của lịch sử Khi tạo biểu tượng nhân vật lịch sử phải tạo biểu tượng về hành động của cá nhân trong mối quan hệ chặt chẽ với quần chúng, trong một bối cảnh lịch sử cụ thể, tại một thời điểm, địa điểm cụ thể.Việc tạo biểu tượng nhân vật lịch sử có thể qua mô tả hình dáng bên ngoài, thông qua một câu nói của nhân vật, hay tiểu sử của nhân vật đó Khi tạo biểu tượng về nhân vật cho học sinh, giáo viên phải nêu được:
Trang 16Hoàn cảnh cụ thể của nhân vật
Nhiệm vụ lịch sử nảy sinh trong bối cảnh đó
Nhân vật lịch sử xuất hiện và hoạt động của nhân vật
Đóng góp của nhân vật lịch sử
+ Biểu tượng về các thành tựu kinh tế, văn hóa, chính trị, quân sự: Là những hình ảnh chung nhất, khái quát nhất về các thành tựu kinh tế, văn hóa, chính trị, quân sự được phản ánh trong óc học sinh Các thành tựu này là kết quả của quá trình lao động sáng tạo và công sức đóng góp của quần chúng nhân dân, của một tập thể, một địa phương, rộng lớn hơn là cả một dân tộc và một số cá nhân xuất sắc trong mỗi thời kì lịch sử khác nhau
Vì vậy, khi trình bày về các thành tựu kinh tế, văn hóa, chính trị, quân sự thì giáo viên cần nêu khái quát nội dung về biểu các thành tựu gồm:
Hoàn cảnh ra đời
Những nét tiêu biểu, nội dung của thành tựu
Giá trị của thành tựu
+ Biểu tượng về một thời kì, về cả quá trình lịch sử dân tộc: Đó là những hình ảnh chung nhất, khái quát nhất về một thời kì, về quá trình lịch sử dân tộc được phản ánh trong đầu óc học sinh Nó mang tính tổng hợp về nhân vật,
sự kiện cụ thể, nâng cao trình độ nhận thức, đặc biệt là khả năng khái quát hóa của học sinh phổ thông
Tuy nhiên, trong quá trình học tập lịch sử, việc nắm một hệ thống kiến thức của cả chiều dài lịch sử không phải là điều đơn giản Bởi thế, việc tạo biểu tượng về một thời kì nhằm giúp các em nắm được biểu tượng vững chắc
về nội dung lịch sử cơ bản, giúp các em thấy được sự phát triển từ thấp lên cao và hợp quy luật của lịch sử” [16, 12 – 13]
Sự phân loại biểu tượng lịch sử có ý nghĩa quan trọng, mặc dù có nhiều cách phân loại khác nhau, có nhiều loại biểu tượng lịch sử, nhưng chúng không tách rời nhau mà có mối quan hệ mật thiết với nhau, tạo thành một hệ thống trọn vẹn về một bức tranh lịch sử Dù là cách phân loại nào cung chỉ mang tính chất tương đối mà thôi
Trang 171.1.3 Biểu tượng lịch sử về văn hóa vật chất
Khái niệm “Văn hóa”
Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thuở bình minh của xã hội loài người Trong ý nghĩa rộng nhất “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng” [24, 21] Một cách khái quát có thể hiểu: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và
xã hội của mình” [24, 22]
Tuy nhiên, nội hàm khái niệm “văn hóa” trong lịch sử ở trường phổ thông
có những nét đặc trưng riêng Đó là những sự kiện, hiện tượng lịch sử phản ánh hoạt động sáng tạo văn hóa của con người, chủ yếu là các thành tựu về tư tưởng, triết học, khoa học, văn học nghệ thuật…trong những giai đoạn lịch sử khác nhau Nó giúp học sinh phân biệt với các sự kiện, hiện tượng lịch sử về hoạt động sản xuất kinh tế hay chính trị, quân sự Như vậy, nó gần với khái niệm “văn hóa” của văn hóa học Tuy nhiên, nó không đồng nhất với nhau Những kiến thức về văn hóa mà bộ môn lịch sử giới thiệu cho học sinh tuy không phản ánh đầy đủ các lĩnh vực khác nhau của đời sống văn hóa, nhưng cũng góp phần làm
rõ thêm diện mạo văn hóa của một quốc gia, dân tộc trong một giai đoạn lịch sử nhất định Đồng thời những sự kiện về văn hóa giúp học sinh hiểu lịch sử một cách toàn diện hơn Trong môn lịch sử, một số bài trình bày về các nền văn hóa, văn minh của nhân loại là những nội dung văn hóa Đó không phải là những chuyên đề về văn hóa, cũng không phải là bài về lịch sử văn hóa hay văn minh Việc đưa bài này vào chương trình không ngoài mục đích giúp học sinh nắm một cách khái quát và toàn diện lịch sử dân tộc
Hơn nữa, “văn hóa” trong khóa trình lịch sử ở trường phổ thông là những sự kiện, hiện tượng về văn hóa được trình bày dưới góc độ lịch sử, tức là theo tiến
Trang 18trình phát triển của xã hội loài người và của dân tộc Dưới quan điểm lịch sử, những vấn đề về văn hóa trong sác giáo khoa chủ yếu được trình bày trên hai mặt:
+ “Một là, giới thiệu vấn đề văn hóa trong quá trình phát sinh, phát triển,
trong sự vận động của nó và tác động to lớn của văn hóa đến đời sống xã hội
+ Hai là, giới thiệu những vấn đề văn hóa trong mối quan hệ, tác động
qua lại giữa sự kiện, hiện tượng về văn hóa đối với điều kiện lịch sử sản sinh
ra nó, cũng như với các sự kiện, hiện tượng lịch sử khác” [18, 92]
Trong bài viết “Dạy học các vấn đề văn hóa trong khóa trình lịch sử dân tộc ở trường phổ thông” Phó giáo sư Trần Viết Thụ có đề cập đến các dấu hiệu cơ bản của khái niệm “văn hóa” trong môn lịch sử ở trường phổ thông:
+ Một là, những vấn đề văn hóa trong môn Lịch sử là các sự kiện, hiện
tượng lịch sử phản ánh những thành tựu văn hóa (chủ yếu thuộc lĩnh vực văn hóa tinh thần) như văn chương, nghệ thuật, khoa học, giáo dục của một quốc gia dân tộc hay khu vực, trong một giai đoạn lịch sử nhất định để phân biệt với các vấn đề khác của lịch sử như chính trị, quân sự, kinh tế…
+ Hai là, những vấn đề văn hóa được trình bày dưới quan điểm lịch sử,
dựa trên đặc trưng của khoa học lịch sử nói chung, bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông nói riêng Các sự kiện, hiện tượng về văn hóa được giới thiệu trong quá trình phát sinh, phát triển, trong mối quan hệ tác động qua lại giữa điều kiện lịch sử với văn hóa, giữa văn hóa với các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội…
+ Ba là, những vấn đề văn hóa trong khóa trình lịch sử phổ thông chủ yếu
giúp học sinh hiểu đúng, hiểu toàn diện lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới Dó
đó, nó là một bộ phận cấu thành tri thức lịch sử cho học sinh” [18, 192-193]
Khái niệm biểu tượng về văn hóa vật chất
Biểu tượng về văn hóa vật chất là một bộ phận không thể thiếu của hệ thống các biểu tượng lịch sử nói chung trong chương trình môn Lịch sử ở trường phổ thông Bởi vì lịch sử không thể tách rời yếu tố văn hóa Văn hóa là một bộ phận hữu cơ của lịch sử mỗi dân tộc, mỗi quốc gia; nó có quan hệ khăng khít, gắn bó chặt chẽ với kinh tế, chính trị, xã hội…Văn hóa không chỉ
Trang 19là yếu tố cấu tạo nên lịch sử mà còn làm cho lịch sử phong phú, trở thành một động lực cho sự tồn tại và phát triển của xã hội Văn hóa gắn liền với lịch sử;
nó là bằng chứng xác nhận về lịch sử đã qua: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống loài người, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chư viết, đạo đức, pháp luật, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo đó tức là văn hóa Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [24, 21]
Biểu tượng lịch sử về văn hóa vật chất là những hình ảnh chung nhất, khái quát nhất về các thành tựu văn hóa vật chất được phản ánh trong đầu óc học sinh Đó là hình ảnh về những thành tựu của con người trong việc chế ngự thiên nhiên, trong lao động sáng tạo sản xuất ra của cải vật chất được hình thành, phat triển trong lịch sử và được lưu giữ đến ngày nay
1.1.4 Ý nghĩa của việc tạo biểu tượng lịch sử về văn hóa vật chất
Nhận thức lịch sử là nhận thức cái đã qua, không lặp lại trong thực tại mà được “lặp lại trên cơ sở không lặp lại”.Vì vậy, một điểm dễ nhận thấy trong dạy học lịch sử là không có những thí nghiệm, mô hình diễn tả lại toàn bộ sự kiện lịch sử như nó diễn ra Mặc dù ngày nay khoa học kĩ thuật tiến bộ vượt bậc, người ta có thể diễn tả lại một số sự kiện của quá khứ, nhưng vẫn không thể diễn tả lại đầy đủ biến cố lịch sử, một cuộc cách mạng… của quá khứ Học sinh chỉ có thể bắt đầu từ các sự kiện lịch sự cụ thể để tạo biểu tượng, hình thành khái niệm, nêu quy luật và bài học Sự kiện càng được nhận thức chính xác, phong phú bao nhiêu thì các khái niệm, quy luật và bài học lịch sử được hình thành càng chính xác, phong phú Vì vậy việc tạo biểu tượng lịch sử nói chung, biểu tượng lịch sủ về văn hóa vật chất nói riêng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông
Sự thống nhất giữa tạo biểu tượng và hình thành khái niệm trong học tập lịch sử là một trong những đặc điểm chung của phát triển tư duy Trong học tập lịch sử cũng như ở các môn khác, hai quá trình này vừa tiến hành một cách
Trang 20độc lập, vừa gắn liền nhau trong một thể tự nhiên của quá trình giáo dục
Sacđacốp trong “Tư duy học sinh” khẳng định: “Không có khái niệm nào dù
là trừu tượng đến mấy mà không hướng vào từ – tức chữ viết… Nhờ có từ mà học sinh tự gợi ý ra những biểu tượng cần thiết đối với các em Ngoài ra, nhờ có
từ mà học sinh có thể liên hợp những biểu tượng đã có của mình thành những hình ảnh khác nhau, tạo ra những hình tượng bóng bẩy, ẩn dụ” [11, 43-44]
Những điều nêu trên về vai trò, ý nghĩa của biểu tượng nói chung cũng đúng với biểu tượng lịch sử về văn hóa vật chất Tạo biểu tượng lịch sử là giai đoạn nhận thức cảm tính của học sinh, biểu tượng chính là cơ sở cho hình thành khái niệm, quy luật, bài học lịch sử ở mức đơn giản, phù hợp với nhận thức của học sinh Bởi vì: “Trong quá trình nhận thức, tư duy nhất thiết phải
sử dụng nguồn tài liệu phong phú do nhận thức cảm tính mang lại Dù tư duy
có khái quát đến đâu thì trong nội dung của tư duy vẫn chứa đựng những thành phẩm cảm tính” [18, 331]
Thông qua tạo biểu tượng lịch sử về văn hóa vật chất, học sinh từng bước nhận thức được rằng, bất cứ một thành tựu văn hóa nào cũng gắn liền với một điều kiện kinh tế, xã hội nhất định Những bài học lịch sử đã chứng minh rằng, điều kiện kinh tế – xã hội là nguyên nhân dẫn đến sự phát triển hay suy tàn của văn hóa Ngược lại, sự phát triển của văn hóa tác động trở lại đời sống kinh tế và các mặt khác của xã hội Bởi vậy, nói văn hóa là động lực phát triển của xã hội chính là để nhấn mạnh sự tác động, ảnh hưởng trở lại mạnh mẽ của văn hóa đối với các cơ sở đã sản sinh ra nó Tạo biểu tượng lịch sử nói chung, biểu tượng về văn hóa vật chất nói riêng cho học sinh không chỉ dừng ở việc miêu tả bề ngoài mà còn đi sâu vào bản chất sự kiện, nêu đặc trưng, tính chất của sự kiện Vì vậy biểu tượng rất gần với khái niệm đơn giản Tạo biểu tượng lịch sử về văn hóa vật chất sẽ giúp học sinh tưởng tượng, tái hiện được bối cảnh xuất hiện của các thành tựu văn hóa đó
Ví dụ như khi tạo biểu tượng lịch sử về Kim Tự Tháp ở Ai Cập, giáo viên không chỉ miêu tả bề ngoài, cấu tạo của công trình mà còn cho học sinh thấy được hoàn cảnh xuất hiện, quá trình xây dựng và ý nghĩa của công trình Kim
Trang 21Tự Tháp (Ai Cập) không đơn thuần là một công trình văn hóa vật chất, mà còn chứa đựng trong đó yếu tố tín ngưỡng, đời sống tâm linh của cư dân Ai Cập thời bấy giờ Với xã hội là một cộng đồng sùng tín tôn thờ nhiều đấng thần linh Mặt trời, đất cũng là thần linh hiện thân qua vầng thái dương và trăm loài thú, cỏ cây nuôi sống con người hoặc đe dọa con người Quyền uy tối cao thuộc về các Pharaông, con của thần mặt trời Kim Tự Tháp là sự thể hiện ước vọng lưu lại tiếng tăm lừng lẫy và quyền uy bất diệt của các Pharaông, việc xây dưng Kim Tự Tháp có căn nguyên sâu xa xuất phát từ quan niệm về cái chết của cư dân Ai Cập cổ đại Họ gọi cái chết là “đêm trước của sự sống”, người dân tin vào cõi bất tử của linh hồn, tin vào cuộc sống của linh hồn sau khi chết Vì thế họ rất lưu tâm đến việc bảo tồn xác chết bằng tục ướp xác Khi xác ướp đã cho vào quan tài thì chưa chắc đã bất tử mà còn phải xây dựng mồ mả thật kiên cố Và Kim Tự Tháp ra đời
Tạo biểu tượng về văn hoá vật chất còn giúp học sinh lí giải, hiểu sâu sắc các sự kiện, hiện tượng lịch sử gắn liền với thành tựu đó, từ đó đánh giá được
ý nghĩa của thành tựu Như khi tạo biểu tượng cho học sinh về công cụ sản xuất: đó là sự xuất hiện của công cụ kim khí (lưỡi cày đồng, cuốc đồng, cuốc bằng sắt…), giáo viên không thể không cho học sinh thấy được, chính sự xuất hiện của công cụ kim khí đã dẫn tới sự xuất hiện tư hữu và xã hội có giai cấp
ra đời Đó thực sự là một cuộc cách mạng trong sản xuất Vì lần đầu tiên trên chặng đường dài của lịch sử loài người, con người có thể làm ra một lượng sản phẩm thừa thường xuyên Nó không đơn thuần là sự tiến bộ trong nghệ thuật chế tác công cụ của người nguyên thủy và nó còn kéo theo những biến đổi trong đời sống kinh tế, xã hội
Như vậy, mỗi thành tựu văn hóa vật chất đều chứa đựng trong đó yếu tố tinh thần, đều gắn liền với các sự kiện, hiện tượng lịch sử có liên quan Mặt khác yếu tố văn hóa không bao giờ tách rời các yếu tố như kinh tế, chính trị,
xã hội Vì vậy, tạo biểu tượng lịch sử về văn hóa vật chất sẽ giúp cho học sinh
có cái nhìn sâu sắc, toàn diện về mọi mặt, biết đặt các yếu tố trong mối liên quan với nhau Đặc biệt là phương pháp sử dụng tranh ảnh kết hợp với miêu tả
Trang 22của giáo viên sẽ giúp học sinh nhớ kĩ, hiểu sâu những hình ảnh, những kiến thức lịch sử Hình ảnh được giữ lại đặc biệt vững chắc trong trí nhớ chúng ta
là hình ảnh mà chúng ta thu nhận được bằng hình ảnh trực quan Có sự tham gia của kênh hình (tranh ảnh) qua những biểu tượng lịch sử sẽ giúp cho tần suất quá trình giao lưu, tương tác sư phạm giữa giáo viên và học sinh tăng lên rất nhiều Các em sẽ hào hứng, chủ động tham gia vào bài học qua sự hướng dẫn, khuyến khích có trọng điểm của giáo viên Hiệu quả của chất lượng dạy học tất yếu sẽ tỉ lệ thuận với chiều hướng tích cực ấy
Về mặt tình cảm, đạo đức, biểu tượng lịch sử nói chung, biểu tượng lịch
sử về văn hóa vật chất nói riêng có tác dụng không nhỏ đối với học sinh Bởi
vì khi nhận thức về hiện thực quá khứ, các em không chỉ tri giác (nghe, nhìn, biết…) mà còn có những “rung động”, “rạo rực”, “xao xuyến” Những hiện tượng tâm lý đó thể hiện sự nhập thân vào lịch sử, biểu thị thái độ của học sinh đối với những gì mà các em nhận thức được Khả năng giáo dục tình cảm của lịch sử bắt nguồn từ một sự thật: “Trong khoa học Lịch sử rõ ràng là có những yếu tố nghệ thuật” [18, 326] Khi biểu tượng tham gia vào hoạt động của tư duy thì “ tư duy trở nên sinh động, gợi cảm, say sưa, hồi hộp và khẩn trương Điều này góp phần làm cho việc vạch ra nội dung khái niệm của đối tượng tư duy được đầy đủ, sâu sắc hơn Đồng thời biểu tượng mở rộng làm phong phú thêm ý, làm cho nó có sức mạnh thuyết phục trực tiếp và sự hấp dẫn đầy cảm xúc” [11, 70] Khi đó ảnh hưởng của kiến thức lịch sử, của biểu tượng lịch sử về các thành tựu văn hóa vật chất đã “có hiệu lực” Vì nó tác động không những lên trí tuệ mà vào cả tâm hồn và tình cảm
Qua các bài học lịch sử, những thành tựu lao động sáng tạo của quần chúng nhân dân có sức lôi cuốn hùng hồn, sôi nổi đối với học sinh, gây cho các em cảm xúc lịch sử sâu đậm Khi ngắm nhìn bức tranh về một công trình kiến trúc, các em sẽ không khỏi ngỡ ngàng bởi bàn tay, khối óc thông minh, sáng tạo của người xưa, hình thành ở các em sự kính phục, lòng tự hào đối với quần chúng nhân dân – những người làm nên lịch sử Bởi vì “trẻ thường biểu hiện cảm xúc trong khi tri giác trực tiếp các sự vật, hiện tượng cụ thể, hấp
Trang 23dẫn” Từ đó, khơi dậy tinh thần lao động sáng tạo, ý thức sáng chế, phát minh, lòng kính yêu đối với quần chúng ở học sinh Để các em hiểu rằng, nền văn hóa mà các em được thừa hưởng ngày nay đã được xây đắp trong cuộc đấu tranh gian khổ, lâu dài của bao nhiêu thế hệ trước Vì vậy, các em không chỉ hưởng thụ mà còn phải ra sức bảo vệ, phát huy di sản văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, ra sức thực hiện Nghị quyết của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 (khóa VIII) về việc xây dựng “nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Nó còn hình thành ở các em thái độ biết trân trọng cái chân, thiện, mỹ, biết thưởng thức, chiêm ngưỡng cái đẹp Qua
đó các em cũng hiểu được rằng từ thời nguyên thủy cho đến nay là một chặng đường dài, trong đó con người không ngừng lao động, sáng tạo ra của cải vật chất nuôi sống mình và nuôi sống xã hội Chính lao động đã làm nên con người, cải biến con người, cải biến xã hội Từ thái độ khâm phục đi đến biết
ơn và biến thành hành động ở các em Không gì có thể lay động tâm khảm con người bằng những việc thật, con người thật Đó là bằng chứng sống của lịch
sử dân tộc, lịch sử nhân loại Đó là ưu thế của bộ môn Lịch sử nói chung và việc tạo biểu tượng lịch sử về văn hóa vật chất nói riêng
Cùng với việc góp phần tạo biểu tượng, hình thành khái niệm lịch sử, tạo biểu tượng lịch sử về văn hóa vật chất còn là một trong những phương tiện quan trọng làm cho “hoạt động trí tuệ” của học sinh không ngừng phát triển Bởi vì, trong khi “lĩnh hội những kiến thức khoa học, hoàn thành nhiệm vụ nhận thức thì đồng thời học sinh cũng phát triển năng lực nhận thức của mình” [18, 327] Cũng như tri giác, biểu tượng hoàn thiện và phát triển dần trong quá trình giáo dục ở nhà trường và trong cuộc sống Từ các biểu tượng không đầy đủ, không có phân biệt, không đúng, không rõ ràng và ít liên quan
sẽ tiến đến xây dựng những biểu tượng rành mạch, rõ ràng, có phân biệt, đúng
và có liên quan với nhau Vì vậy, các biểu tượng nói chung, biểu tượng về văn hóa vật chất nói riêng góp phần vào việc phát triển tư duy của học sinh Trong mỗi khóa trình lịch sử không chỉ có một thành tựu văn hóa vật chất mà có nhiều thành tựu, góp phần tạo nên bức tranh toàn vẹn của lịch sử Biểu tượng
Trang 24nói chung,biểu tượng lịc sử về văn hóa vật chất nói riêng là phương tiện kích thích sự phát triển trí tưởng tượng, khả năng quan sát, tư duy và ngôn ngữ, năng lực nhận thức ở học sinh Tri giác sự kiện, hiện tượng qua quan sát, nhìn tranh ảnh, nghe thông qua lời giảng của giáo viên sẽ rèn luyện các giác quan, khả năng tư duy lôgic ở các em Nhìn vào một bức tranh, học sinh thích nhận xét phán đoán, hình dung quá khứ lịch sử được phản ánh, minh họa như thế nào Học sinh suy nghĩ và tìm cách diễn đạt bằng lời nói chính xác, có hình ảnh rõ ràng, cụ thể về bức tranh xã hội đã qua Tạo biểu tượng lịch sử nói chung, biểu tượng lịch sử về văn hóa vật chất nói riêng không phải là lời độc thoại, giảng giải của một mình giáo viên mà cần có sự tương tác giữa thầy và trò, kết hợp dạy và học Từ đó rèn luyện cho các em khả năng diễn đạt, trình bày trước đám đông, đồng thời phát triển ngôn ngữ cho học sinh Vì thế, “hoạt động trí tuệ” của học sinh không ngừng phát triển Các em biết đặt các sự kiện, hiện tượng lịch sử trong mối liên hệ, tác động biện chứng lẫn nhau, biết cách khai thác, làm việc với tranh ảnh, biết cách tư duy lôgic
Tạo biểu tượng lịch sử nói chung, biểu tượng lịch sử về văn hóa vật chất nói riêng còn rèn luyện cho học sinh khả năng phát hiện, phân tích nguyên nhân xuất hiện, quá trình phát sinh, phát triển của những thành tựu văn hóa vật chất Thông qua từng nội dung cụ thể của khóa trình, học sinh nhận thức được rằng, bất cứ một thành tựu văn hóa nào cũng xuất phát từ điều kiện kinh tế, xã hội nhất định Chính những thành tựu văn hóa đó phản ánh cơ sở sản sinh ra
nó Ngược lại, những thành tựu văn hóa đến lượt nó, tác động trở lại đời sống kinh tế, xã hội và thúc đẩy nó phát triển mạnh mẽ hơn Hình thành ở học sinh khả năng xác định điều kiện, hoàn cảnh lịch sử, mối quan hệ tác động qua lại giữa văn hóa với các lĩnh vực hoạt động khác nhau của con người trong xã hội Qua đó, rèn luyện năng lực đánh giá, nhận xét vai trò của văn hóa đối với
sự vận động và phát triển của xã hội, khả năng phân biệt và có thái độ đối với các hiện tượng văn hóa và hiện tượng “phi văn hóa” trong cuộc sống hiện nay Việc tạo biểu tượng lịch sử về văn hóa vật chất không những rèn luyện học sinh khả năng nhận thức mà còn phát triển ở các em năng lực hoạt động
Trang 25thực tiễn Thông qua việc tạo biểu tượng lịch sử về văn hóa vật chất của GV, góp phần rèn luyện khả năng cảm thụ, tham gia thiết kế và xây dựng các đồ dùng trực quan phục vụ cho việc dạy học như đắp sa bàn về một số công trình văn hóa tiêu biểu, phục chế một hiện vật văn hóa nào đó…ở học sinh Đồng thời, rèn luyện ở các em khả năng miêu tả một công trình kiến trúc, giải thích, phân tích được giá trị, ý nghĩa của một thành tựu văn hóa Từ những kiến thức học được, các em ý thức được trách nhiệm của mình, tích cực tham gia các hoạt động công ích xã hội như tuyên truyền và có hành động cụ thể, thiết thực bảo vệ các thành tựu, di tích lịch sử, văn hóa, các giá trị văn hóa của địa phương
Tóm lại, việc tạo biểu tượng lịch sử là điều cần thiết trong dạy học lịch
sử Bởi đó là hình thức duy nhất trong giai đoạn nhận thức cảm tính, là cơ sở
để hình thành khái niệm cho học sinh
1.2 Cơ sở thực tiễn
Tạo biểu tượng lịch sử nói chung, biểu tượng về văn hóa vật chất nói
riêng có ý nghĩa quan trọng trong dạy học lịch sử Tuy nhiên, thực trạng dạy học lịch sử ở trường phổ thông còn nhiều tồn tại xoay quanh vấn đề này Qua quá trình khảo sát thực tiễn ở 3 trường THPT: Trường THPT Nghi Lộc I, Trường THPT Nghi Lộc IV và Trường THPT Nguyễn Thức Tự, tôi rút ra một
số nhận xét như sau:
Một là, qua điều tra, thăm dò ý kiến của GV thì đa số các GV đều nhận
thức được tầm quan trọng của việc tạo biểu tượng lịch sử cho HS Tuy nhiên, các ý kiến lại tập trung ở việc tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử, còn biểu tượng về văn hóa vật chất thì ít
thông báo tên của thành tựu và giới thiệu một cách sơ lược
cho học sinh không được sử dụng thường xuyên, chủ yếu chỉ sử dụng vào giờ thao giảng hay tiết dạy minh họa
Trang 26+ GV cho HS quan sát tranh, trả lời câu hỏi
+ Cho HS quan sát tranh một cách đơn thuần với lời giới thiệu ngắn gọn của GV
Như vậy, chưa có sự kết hợp giữa hoạt động của GV và HS
Năm là, GV chưa khai thác đầy đủ, chính xác thông tin mà tranh ảnh
lịch sử cung cấp Tranh ảnh lịch sử không đơn thuần là minh họa, mà đó là nguồn cung cấp kiến thức quan trọng Nếu GV biết sử dụng một cách hợp lý, biết khai thác thông tin, sử dụng tranh ảnh kết hợp với bài miêu tả của mình
thì HS dễ ghi nhớ, khắc sâu hơn
Bởi nó làm cho các em hứng thú hơn, tránh sự nhàm chán, khô khan của các
sự kiện lịch sử
Từ thực tiễn đó, đặt ra một số yêu cầu:
+ GV cần nhận thức một cách đúng đắn về tầm quan trọng của việc tạo biểu tượng lịch sử nói chung, biểu tượng về văn hóa vật chất nói riêng
+ Để tạo biểu tượng về văn hóa vật chất cho HS một cách có hiệu quả,
GV cần có sự kết hợp của nhiều biện pháp Đặc biệt là biện pháp sử dụng tranh ảnh kết hợp với miêu tả
+ Việc sử dụng tranh ảnh lịch sử không chỉ sử dụng trong thao giảng, hội giảng hay dạy minh họa, mà cần được sử dụng một cách thường xuyên
+ Cần có sự kết hợp giữa hoạt động của thầy và trò Sử dụng tranh ảnh lịch sử phải hợp lý, đúng mức, đúng lúc GV phải xác định được mục đích khi
sử dụng tranh ảnh lịch sử Và điều quan trọng là phải phát huy được tính tích cực, chủ động hoạt động của HS
Trang 27CHƯƠNG II:
CÁC BIỂU TƯỢNG LỊCH SỬ VỀ VĂN HÓA VẬT CHẤT ĐƯỢC
SỬ DỤNG TRONG DẠY HỌC KHÓA TRÌNH LỊCH SỬ THẾ GIỚI
THỜI NGUYÊN THỦY, CỔ ĐẠI VÀ TRUNG ĐẠI
2.1 Cơ sở khoa học để xác định các biểu tượng lịch sử về văn hóa vật chất trong dạy học khóa trình
2.1.1 Mục đích, yêu cầu của khóa trình
2.1.1.1 Vị trí của khóa trình
Trong tiến trình lịch sử thế giới, khóa trình lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại có một vị trí đặc biệt quan trọng Đây là giai đoạn đầu trong buổi bình minh khi con người xuất hiện, tiếp đến là sự ra đời của các quốc gia cổ đại và sự hình thành chế độ phong kiến Đó là một chặng đường lịch sử dài, chứa đựng nhiều nội dung quan trọng Lịch sử chứng kiến
sự thay thế lần lượt các hình thái kinh tế, xã hội: Xã hội nguyên thủy, Xã hội
cổ đại (chế độ chiếm hữu nô lệ), Xã hội phong kiến Đó là sự phát triển hợp quy luật, từ thấp đến cao Qua dạy học khóa trình, giáo viên giúp học sinh thấy được chặng đường đầu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, rút ra được quy luật, bài học kinh nghiệm và tin tưởng vào sự phát triển hợp quy luật của xã hội loài người, trong đó có dân tộc mình
Đây là khóa trình được giảng dạy đầu tiên trong chương trình lịch sử ở trường THPT Nó có liên quan chặt chẽ đến khóa trình lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX cũng như khóa trình lịch sử thế giới cận đại sau này Những kiến thức lịch sử thế giới khóa trình thời nguyên thủy, cổ đại
và trung đại không chỉ là tiền đề, cơ sở đặt nền móng vững chắc cần thiết trong tiến trình lịch sử thế giới tiếp theo mà nó còn có ý nghĩa quan trọng đối với việc dạy học phần lịch sử dân tộc, đặc biệt là khóa trình lịch sử Việt Nam
từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX Bởi lịch sử dân tộc cũng là một bộ phận trong dòng chảy của lịch sử nhân loại Học sinh học lịch sử thế giới trước sẽ có cái
Trang 28nhìn tổng quát về sự phát triển của lịch sử xã hội loài người, từ đó soi rọi vào lịch sử dân tộc
Hơn nữa khóa trình lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại
đã giới thiệu một cách khái quát về lịch sử các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, các quốc gia Đông Nam Á Đây là những quốc gia có liên quan, ảnh hưởng rất lớn trong tiến trình lịch sử dân tộc
Tóm lại, khóa trình lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại
có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình lịch sử thế giới cũng như lịch sử dân tộc Đó là nền móng vững chắc cho tiến trình lịch sử tiếp theo
2.1.1.2 Mục đích, yêu cầu của khóa trình
Khóa trình lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại có vị trí quan trọng Vì vậy, khi giảng dạy giáo viên cần xác định rõ mục đích yêu cầu của khóa trình
Về mặt kiến thức:
Đây là một khóa trình gồm nhiều nội dung quan trọng, được trình bày trong
6 chương Giáo viên cần cung cấp cho học sinh một cách có hệ thống, khái quát tiến trình lịch sử xã hội loài người từ thời nguyên thủy, cổ đại cho đến trung đại, cũng như những nét chính về lịch sử của những quốc gia tiêu biểu
Chương 1: “ Xã hội nguyên thủy” cần trình bày những nội dung chủ yếu
sau đây:
- Những nét chính về quá trình xuất hiện của loài người vào cuộc sống ban đầu của bầy người nguyên thủy Sự tiến bộ trong chế tác công cụ thời đại
đồ đá mới Sự chuyển biến thành người hiện đại và cuộc sống của họ
- Những nét chính về tổ chức xã hội đầu tiên của xã hội loài người Sự xuất hiện công cụ bằng kim loại và ý nghĩa của nó đối với đời sống con người Nguyên nhân xuất hiện tư hữu, sự thay đổi trong xã hội dẫn đến hình thành giai cấp
- Qua đó, cho học sinh thấy được động lực của sự phát triển xã hội là lao động của con người Trong lao động sáng tạo, cơ thể và tư duy của con người
Trang 29ngày càng hoàn thiện và phát triển, chính “lao động đã sáng tạo ra xã hội loài người”
- Hình thành trong học sinh những khái niệm ban đầu như “bầy người nguyên thủy”, “cách mạng đá mới”, “thị tộc”, “bộ lạc”
Chương 2: “Xã hội cổ đại” cần nắm những vấn đề cơ bản sau:
- Những nét chính về điều kiện tự nhiên và sự phát triển kinh tế ở các quốc gia cổ đại phương Đông Sự phân hóa xã hội dẫn tới sự hình thành các quốc gia cổ đại, với sự ra đời của giai cấp thống trị và giai cấp bị trị Tổ chức
bộ máy nhà nước của chế độ chuyên chế cổ đại Những thành tựu tiêu biểu của các quốc gia cổ đại phương Đông
- Điều kiện thiên nhiên và đời sống của cư dân Địa Trung Hải Sự phát triển của nền kinh tế công – thương nghiệp dẫn tới sự ra đời của các “thị quốc” Những biểu hiện của thể chế dân chủ cổ đại Mâu thuẫn giữa chủ nô và
nô lệ ngày càng gay gắt làm bùng nổ các cuộc khởi nghĩa của nô lệ chống lại chủ nô Những thành tựu về văn hóa cổ đại – Hy Lạp và Rô-ma
Chương 3: “Trung Quốc phong kiến” trình bày những kiến thức cơ bản:
- Tên gọi, thế thứ các triều đại Trung Quốc từ Tần, Hán đến Minh, Thanh, nhất là các triều đại có liên quan đến lịch sử Việt Nam Đặc điểm kinh
tế, chính trị, xã hội của các triều đại Tần, Hán, Đường, Nguyên, Minh, Thanh Những thành tựu văn hóa nổi bật của Trung Quốc Điểm khác nhau và những tiến bộ trong tổ chức bộ máy nhà nước, chính sách phát triển kinh tế qua các triều đại phong kiến Trung Quốc
- Hình thành cho học sinh những khái niệm: “địa chủ”, “tá điền”, “nho giáo”, “nhà nước quân chủ chuyên chế”
Chương 4: “Ấn Độ thời phong kiến”, khi học xong chương này học sinh
cần nắm những vấn đề cơ bản sau:
- Khái quát về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, truyền thống văn hóa Ấn
Độ Sự hình thành những quốc gia đầu tiên, với sự thống nhất dưới thời vua A-sô-ca (thế kỷ thứ III tr CN) Những nét chính thời kì vương triều Gúp-ta
Trang 30(319 - 467) Sự phát triển văn hóa truyền thống Ấn Độ và ảnh hưởng của nó đến các nước khác, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á
- Kinh tế, chính trị, xã hội của Ấn Độ ở thời kỳ vương triều hồi giáo Đê-li (1206 - 1526) và Mô-gôn (1526 - 1707) Vị trí của vương triều Đê-li và vương triều Mô-gôn trong lịch sử Ấn Độ
Chương 5: “Đông Nam Á thời phong kiến”, cần cung cấp cho học sinh
những kiến thức cơ bản sau:
- Khái quát về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, dân cư khu vực Đông Nam Á Khái quát về lịch sử và văn hóa của các quốc gia Đông Nam Á qua các thời kỳ:
Từ thế kỷ I đến thế kỷ X: Sự thành lập và phát triển
Từ thế kỷ X đến thế kỷ XVI: Thời kỳ thịnh vượng của chế độ phong kiến
ở Đông Nam Á Các vương quốc phong kiến dân tộc hình thành và phát triển thịnh đạt về kinh tế, xã hội
Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX: Chế độ phong kiến bước vào giai đoạn khủng hoảng
- Văn hóa Đông Nam Á chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Ấn Độ nhưng vẫn mang bản sắc độc đáo riêng
- Khái quát những nét chính về vị trí địa lý, lịch sử của Lào và chia Những thành tựu văn hóa nổi bật của Lào và Cam-pu-chia
Cam-pu-Chương 6: “Tây Âu thời trung đại”, cần đảm bảo những kiến thức cơ bản:
- Sự diệt vong của đế quốc Rô-ma và sự hình thành của chế độ phong kiến Châu Âu Những nét chính về các vương quốc của người Giéc-manh, quá trình phong kiến hóa của vương quốc Phơ-răng Cơ cấu xã hội phong kiến với
2 giai cấp cơ bản: lãnh chúa phong kiến và nông nô; địa vị kinh tế và chính trị của họ
- Sự hình thành, hoạt động và ý nghĩa của thành thị thời trung đại
- Nguyên nhân của những cuộc phát kiến địa lý và hệ quả của nó
- Những chuyển biến trong xã hội phong kiến Tây Âu thời kỳ hậu kỳ trung đại Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến, sự nảy sinh và biểu hiện
Trang 31của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ở Tây Âu Hoàn cảnh, nội dung của phong trào văn hóa Phục Hưng Đặc điểm của cải cách tôn giáo Nguyên nhân, diễn biến, ý nghĩa của chiến tranh nông dân ở Đức
- Nắm được quy luật lịch sử “chế độ phong kiến với sự độc đoán, mê muội sẽ được thay thế bởi chế độ tư bản chủ nghĩa” Dù rằng sự ra đời của chủ nghĩa tư bản “đầy máu và bùn nhơ” khắp mọi lỗ chân lông của nó
- Hiểu được các khái niệm: “phong kiến”, “lãnh địa phong kiến”, “phát kiến địa lý”, bước đầu tìm hiểu về khái niệm “giai cấp tư sản”, “giai cấp vô sản”, “chủ nghĩa tư bản”
Về mặt giáo dục:
Giảng dạy khóa trình lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại không chỉ cung cấp về mặt kiến thức mà còn góp phần giáo dục tình cảm, đạo đức, nhân sinh quan, thế giới quan khoa học cho học sinh
Nội dung khóa trình lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại
ở trường THPT cung cấp cho học sinh những vốn hiểu biết phổ thông, cơ bản, vững chắc về sự phát triển của lịch sử xã hội loài người thời nguyên thủy cổ đại và trung đại; giúp cho các em nhận thức đúng con đường mà loài người đã trải qua, hình thành ở các em quan niệm duy vật về lịch sử, khắc phục những quan điểm phi khoa học, thần bí về nguồn gốc của con người Nội dung chương 1 “xã hội nguyên thủy”, những sự kiện về sự xuất hiện con người, về đời sống của xã hội nguyên thủy làm cho học sinh nhận thức rằng chính nhờ lao động và thành quả lao động mà con người và xã hội loài người được hình thành và phát triển Ở chế độ công xã nguyên thủy với công cụ lao động thô
sơ, với trình độ lao động thấp kém, đời sống của con người rất khổ cực hoàn toàn
lệ thuộc vào tự nhiên Song nhờ sự cải tiến của công cụ lao động mà năng suất lao động tăng, có của thừa dẫn tới sự bóc lột, phân chia xã hội thành giai cấp đối kháng Qua đó, giáo dục tinh thần, thái độ lao động đúng đắn cho học sinh Khóa trình lịch sử thế giới cổ, trung đại cung cấp cho học sinh những hiểu biết thêm về thành tựu lao động của quần chúng nhân dân trong việc xây
Trang 32dựng các công trình kiến trúc, văn hóa đồ sộ để chứng minh rằng: trên tất cả các lĩnh vực của hoạt động xã hội, quần chúng nhân dân đều có vai trò to lớn Việc chế tạo cải tiến công cụ lao động trong xã hội công xã nguyên thủy là sáng tạo của mọi thành viên công xã, việc xây dựng các công trình kiến trúc vĩ đại (như xây dựng Kim Tự Tháp ở Ai Cập, Vạn lý trường thành ở Trung Quốc, nhiều công trình ở Ấn Độ, Hi Lạp, La Mã) Những di sản văn hóa của các dân tộc là kết quả lao động kỳ diệu của quần chúng nhân dân Từ đó hình thành ở các em lòng kính yêu đối với quần chúng nhân dân Qua những sự kiện về văn hóa, không chỉ làm cho học sinh hiểu lịch sử một cách toàn diện, sâu sắc mà còn có tác dụng giáo dục thẩm mỹ Lịch sử không chỉ có những sự kiện đau buồn về chiến tranh, chết chóc mà còn là bức tranh tuyệt đẹp về lao động, sáng tạo Lịch sử đẹp vì nó phản ánh cuộc sống lao động và đấu tranh,
sự chiến thắng của văn minh tiến bộ đối với bạo tàn, phản động
Bên cạnh việc giáo dục thái độ kính yêu đối với quần chúng nhân dân, dạy học khóa trình còn giúp học sinh đánh giá đúng vai trò của các cá nhân trong lịch sử như vua A-sô-ca, vua A-cơ-ba (ở Ấn Độ), Khổng Tử ( ở Trung Quốc); hững cuộc phát kiến địa lý với các tên tuổi như C.Cô-lôm-bô, Va-xcôđơ Ga-ma, Ph.Ma-gien-lan…; những con người “khổng lồ” đã xuất hiện, tỏa ánh hào quang trong phong trào văn hóa Phục hưng như Sếch-Xpia, Đê-các-tơ, Lê-ô-na đơ Vanh-xi Bên cạnh đó, cũng cần làm cho các em nhận thức rằng, một số nhân vật trong giai cấp thống trị tuy có những mặt tiêu cực, thậm chí phản động nhưng vẫn có một vài biểu hiện tích cực, về khách quan cũng
có những đóng góp nhất định cho sự phát triển xã hội Vì vậy cần đánh giá một cách khách quan, công bằng những hoạt động của họ, như trường hợp của Tần Thủy Hoàng (trong lịch sử Trung Quốc)
Ngoài ra, dạy học khóa trình còn có khả năng giáo dục cho học sinh nhiều khía cạnh khác như giáo dục tư tưởng nhân văn trong cuộc sống (lòng nhân đạo,
vị tha), bồi dưỡng óc thẩm mỹ (học sinh biết cảm thụ những cái đẹptrong lao động, biết chiêm ngưỡng và hưởng thụ những thành quả văn hóa, nghệ thuật
Trang 33Nhưng cũng cần thấy rằng, dạy học lịch sử thế giới là để soi vào lịch sử dân tộc, “biết người để hiểu mình” Vì thế, thông qua dạy học khóa trình lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại giáo viên cần có sự liên hệ với lịch sử dân tộc Từ đó, giáo dục cho học sinh về truyền thống dân tộc trong thời kỳ dựng nước và giữ nước, giáo dục lòng biết ơn đối với tổ tiên, những người có công với
tổ quốc Các em nhận thức được, lịch sử dân tộc cũng là một bộ phận của lịch sử nhân loại, có đóng góp nhất định trong dòng chảy chung đó
Về mặt phát triển:
Bên cạnh chức năng giáo dưỡng và giáo dục, bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông còn góp phần vào việc phát triển học sinh Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản Giảng dạy khóa trình lịch sử nguyên thủy, cổ đại và trung đại cũng không nằm ngoài mục tiêu chung đó
Thông qua dạy học khóa trình rèn luyện cho học sinh khai thác, làm việc với tranh ảnh Đặc biệt là hình thành ở các em năng lực tư duy và hành động Việc nhận thức lịch sử không trực tiếp quan sát được hiện thực quá khứ, không thể tiến hành thí nghiệm lịch sử như đối với các môn tự nhiên Tuy nhiên không vì thế mà cho rằng học tập lịch sử không cần tư duy, mà chỉ ghi nhớ thuộc lòng Lịch sử không phải là những sự kiện rời rạc, chắp vá mà đó là
cả một quá trình, giữa các sự kiện lịch sử có mối liên hệ nhân quả, phụ thuộc lẫn nhau Ví dụ, trong những bài học lịch sử đầu tiên của khóa trình lịch sử thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại, giáo viên hướng dẫn học sinh nhận thức mối liên hệ biện chứng giữa các sự kiện Đó là mối quan hệ giữa hoàn cảnh địa lý với sinh hoạt, tổ chức xã hội; mối quan hệ giữa sự phát triển của lao động sản xuất với sự thay đổi chế độ mẫu hệ với chế độ phụ hệ; sự phát triển công cụ lao động, sự phát triển của sản xuất với nguyên nhân xuất hiện của thừa, sự phân hóa xã hội, sự hình thành giai cấp Trên cơ sở đó học sinh hiểu rằng, việc cải tiến không ngừng công cụ lao động làm cho năng suất lao động tăng lên, của cải dư thừa Vì thế, khả năng người bóc lột người xuất hiện, xã hội dần dần phân hóa, các giai cấp bóc lột và bị bóc lột xuất hiện Sự áp bức bóc lột là nguyên nhân dẫn tới cuộc đấu tranh giai cấp
Trang 34Dạy học khóa trình còn giúp hình thành ở học sinh kỹ năng phân tích, so sánh qua các giai đoạn, thời kỳ như: so sánh công cụ sản xuất thời đồ đá cũ với thời đồ đá mới, thời đại kim khí; so sánh các triều đại trong một nước, so sánh giữa các khu vực (các quốc gia cổ đại phương Đông và các quốc gia cổ đại phương Tây) Từ đó, các em hiểu rằng từ khi xã hội phân chia thành những giai cấp đối kháng thì có cuộc đấu tranh giữa giai cấp bị áp bức và giai cấp thống trị diễn ra ngày càng mạnh mẽ Sự thắng lợi của giai cấp bị trị trong cuộc đấu tranh lật đổ, thay thế giai cấp thống trị làm cho một chế độ xã hội khác (tiến bộ hơn) thay thế cho một chế độ xã hội khác (lỗi thời), làm cho sự phát triển của xã hội loài người không ngừng đi lên Đó là quy luật của lịch
sử Sự thay thế chế độ công xã nguyên thủy bởi chế độ chiếm hữu nô lệ, chế
độ chiếm hữu nô lệ bởi chế độ phong kiến và chế độ phong kiến bởi chế độ tư bản chủ nghĩa là tất yếu, hợp quy luật Bởi mọi sự vật, hiện tượng đều diễn ra thông qua sự thống nhất và đấu tranh các mặt đối lập
Thông qua việc cung cấp những kiến thức cơ bản góp phần rèn luyện kỹ năng đánh giá ở học sinh: đánh giá vai trò của quần chúng nhân dân, đánh giá vai trò của cá nhân, đánh giá vị trí, vai trò của của mỗi quốc gia trong tiến trình lịch sử chung của xã hội loài người Từ đó làm cho “hoạt động trí tuệ” của học sinh không ngừng phát triển Thông qua những kiến thức lịch sử được học trong khóa trình lịch sử thế giới nguyên thủy, cổ đại và trung đại, học sinh
sẽ vận dụng một cách thông minh, sáng tạo vào việc tiếp nhận kiến thức mới
và cuộc sống Mà cụ thể ở đây là vận dụng vào việc tiếp thu kiến thức mới trong khóa trình lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX, để thấy được những nét chung, nét đặc thù riêng của lịch sử dân tộc so với lịch sử thế giới Đồng thời có sự liên hệ với khóa trình lịch sử thế giới cận đại Bên cạnh
đó, dạy học khóa trình còn giúp học sinh phát triển ngôn ngữ và khả năng diễn đạt, trình bày ý kiến của mình trước một sự kiện, hiện tượng lịch sử
2.1.2 Căn cứ vào trình độ nhận thức, đặc điểm tâm lý học sinh
Quá trình dạy học về bản chất là quá trình nhận thức của học sinh, đó là việc phản ánh thế giới khách quan vào ý thức học sinh Vì vậy, phải căn cứ vào trình
Trang 35độ nhận thức của học sinh Bên cạnh đó chúng ta cần xem xét yếu tố tâm lý, đặc điểm lứa tuổi của học sinh, cũng như mức độ kiến thức của khóa trình
Lứa tuổi học sinh THPT là lứa tuổi chuyển giao từ trẻ em sang người lớn,
ở lứa tuổi này các em đã mang nhiều đặc điểm của người lớn Vì vậy, đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT rất phức tạp về nhiều mặt như về đặc điểm cơ thể, ứng xử, hoạt động học tập
Lứa tuổi học sinh THPT là thời kỳ đạt được sự trưởng thành về mặt thể lực, nhưng sự phát triển còn kém so với sự phát triển cơ thể của người lớn, tuổi học sinh THPT bắt đầu thời kỳ phát triển tương đối êm ả về mặt sinh lý, nhịp độ tăng trưởng về chiều cao và trọng lượng đã chậm lại; các em gái đạt được sự tăng trưởng của mình trung bình vào khoảng tuổi 16, 17, các em trai khoảng 17, 18 tuổi Trọng lượng của các em trai đã đuổi kịp các em gái và tiếp tục vượt lên sức mạnh cơ bắp tăng lên rất nhanh
Sự phát triển về hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năng của não phát triển Cấu trúc của bán cầu não có những đặc điểm như trong cấu trúc tế bào não của người lớn,
số lượng dây thần kinh liên hợp tăng lên, liên kết các phần khác nhau của võ não lại; điều đó tạo điều kiện cần thiết cho sự phức tạp hóa hoạt động phân tích, tổng hợp… của bán cầu não trong quá trình học tập
Nhìn chung, đây là lứa tuổi có cơ thể phát triển cân đối, khỏe và đẹp, đa
số các em có thể đạt được những khả năng phát triển về cơ thể như người lớn Riêng về hoạt động học tập của học sinh THPT có rất nhiều điểm khác nhau với hoạt động học tập của lứa tuổi thiếu niên Sự khác biệt này không phải nằm ở nội dung học tập ngày một sâu hơn mà ở chố hoạt động học tập của thanh niên học sinh đòi hỏi tính năng động và tính độc lập ở mức độ cao hơn nhiều Ở lứa tuổi thanh niên sự phát triển trí tuệ của các em đã đạt đến các mức rất cao Tính chủ động được phát triển mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức, tri giác có mục đích đã đạt được mức rất cao, quan sát trở nên có mục đích, có hệ thống và toàn diện hóa, quá trình quan sát đã chịu sự điều khiển của hệ thống tín hiệu thứ hai nhiều hơn và không tách khỏi tư duy ngôn ngữ
Trang 36Tuy nhiên, quan sát của học sinh lứa tuổi này cũng khó có hiệu quả nếu thiếu
sự chỉ đạo của GV Giáo viên cần quan tâm để hướng quan sát của các em vào một nhiệm vụ nhất định Đặc biệt ở lứa tuổi thanh niên, sự phát triển tư duy,
tự ý thức là một đặc điểm nổi bật, các em không chỉ có nhu cầu tự đánh giá bản thân mà còn có nhu cầu đánh giá sâu sắc về người khác Vì vậy đối với hoạt động học tập của các em cần có một cơ sở đủ tin cậy để nhu cầu tự đánh giá và nhu cầu đánh giá người khác khach quan, chính xác
Học sinh càng trưởng thành, kinh nghiệm sống càng phong phú, các em càng ý thức được rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời, do vậy thái độ có ý thức của các em đối với học tập ngày càng phát triển Thái độ của thanh niên học sinh đối với các môn học trở nên có lựa chọn hơn Ở các
em đã hình thành những hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp Cuối bậc THPT các em đã xác định được cho mình một hứng thú ổn định đối với môn học nào đó, hứng thú này thường liên quan với việc chọn một nghề nghiệp nhất định của học sinh Hơn nữa, hứng thú học tập, nhận thức của thanh niên học sinh mang tính chất rộng rãi, sâu và bền hơn thiếu niên Lúc này có ý nghĩa nhất định là động cơ thực tiễn, động cơ nhận thức, sau đó là ý nghĩa xã hội của môn học, rồi mới đến động cơ cụ thể khác
Hiện nay, môn Lịch sử trong nhà trường thường bị học sinh coi nhẹ và ít được lựa chọn cho hoạt động hướng nghiệp của mình Vậy một câu hỏi đặt ra
là phải làm sao cho học sinh thấy được vai trò của môn Lịch sử và tạo được hứng thú cho các em đối với môn học này? Để trả lời cho câu hỏi này đòi hỏi
sự nỗ lực rất lớn của thế hệ GV, ngoài đổi mới nội dung dạy học, thì trong quá trình dạy học, GV phải có những phương pháp tác động thích hợp đến hoạt động nhận thức của học sinh
Đó là những đặc điểm chung về hoạt động học tập, sự phát triển trí tuệ của học sinh THPT Tuy nhiên, trong một cấp học, có sự khác nhau về trình
độ nhận thức giữa các lớp, sự khác nhau về kiên thức Dó đó, không chỉ căn
cứ vào lý luận chung đối với lứa tuổi này mà cần phải xuất phát từ thực tiễn là đối tượng học sinh, nội dung của khóa trình
Trang 37Khóa trình lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại là một khóa trình lịch sử tương đối khó đối với việc nhận thức của học sinh Đó là những sự kiện, hiện tượng lịch sử cách xa so với hiện tại Một thực tế cho thấy, những sự kiện, hiện tượng lịch sử niên đại càng gần với hiện tại thì học sinh dễ nhận thức, dễ tiếp thu hơn so với những sự kiện, hiện tượng có niên đại cách xa với hiện tại Để hình dung được bức tranh về quá khứ xa xôi của lịch sử xã hội loài người không phải là dễ, đặc biệt lại là học lớp 10
Học sinh lớp 10 là quá trình chuyển tiếp từ học sinh THCS lên học sinh THPT Các em vừa bước vào môi trường học tập với thầy cô, bạn bè, phương pháp học tập mới không tránh khỏi sự bỡ ngỡ Mặc dầu, ở trung học cơ sở các
em đã được học về khóa trình lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại Song, những kiến thức đó chỉ mang tính khái quát, sơ lược Vì ở THCS, phần lịch sử thế giới chú trọng thời cận đại và hiện đại Hơn nữa, những kiến thức đó các em lại được học ở chương trình lịch sử lớp 6 và lớp 7, trải qua 2 năm học (lớp 8 và lớp 9) với kỳ thi tốt nghiệp cuối cấp thì nó lại càng xa vời trong trí nhớ của các em Vì vậy việc xác định các biểu tượng lịch
sử về văn hóa vật chất không thể không dựa trên đặc điểm tâm lý của lứa tuổi học sinh, phải đảm bảo để tất cả các em đều có khả năng tiếp nhận, nắm được những kiến thức cơ bản của khóa trình
2.1.3 Những nguyên tắc chỉ đạo việc xác định các biểu tượng lịch sử
về văn hóa vật chất
Phải đảm bảo kiến thức cơ bản của khóa trình
Đảm bảo tính cơ bản là một nguyên tắc của việc tạo biểu tượng lịch sử nói chung, tạo biểu tượng lịch sử về văn hóa vật chất nói riêng Trong dạy học lịch sử, chúng ta thường thấy một mâu thuẫn: khối lượng kiến thức cần cung cấp cho học sinh thì nhiều mà thời gian và trình độ tiếp nhận của học sinh thì
có hạn Không giải quyết tốt mâu thuẫn sẽ dẫn tới tình trạng “quá tải” như nặng về sự kiện, ôm đồm vượt quá trình độ nhận thức học sinh và yêu cầu của chương trình Trong một khóa trình lịch sử ở trường THPT đề cập đến nhiều
Trang 38thành tựu văn hóa vật chất khác nhau Nhưng giáo viên cần lựa chọn một số thành tựu cơ bản, tiêu biểu, cần thiết, phù hợp với trình độ học sinh, có tác dụng giáo dưỡng, giáo dục và phát triển toàn diện học sinh
Khi tạo biểu tượng về một thành tựu thì phải làm rõ hoàn cảnh lịch sử gắn liền với thành tựu đó, bởi tính chất của nề văn hóa phụ thuộc vào hàng loạt các điều kiện lịch sử phát triển của đất nước đó, vào khuynh hướng phát triển của nó
Đảm bảo tính vừa sức
Dạy học lịch sử theo chương trình và SGK đã được ban hành và biên soạn phù hợp với yêu cầu và trình độ học sinh mỗi lớp, mỗi cấp Bảo đảm tính vừa sức không chỉ thể hiện tính kỷ luật trong việc thực hiện nghiêm túc, sáng tạo chương trình và SGK mà còn đảm bảo chất lượng, kết quả, mục tiêu giáo dục
Thực tiễn trong dạy học cho thấy, cùng một giáo viên, cùng một phương pháp giảng dạy nhưng kết quả nhận thức của mỗi học sinh lại không giống nhau Có những em học giỏi và học yếu, nhanh trí và chậm hiểu, có em ham hiểu biết và có em lại bàng quan trong học tập Nghĩa là vấn đề không phải ở bản thân các phương pháp giảng dạy Vì lẽ đó trong dạy học cần phải căn cứ vào đặc điểm tâm lý và khả năng nhận thức của học sinh Bảo đảm tính vừa sức làm cho học sinh hứng thú học tập, học tập có kết quả, tạo điều kiện cho học sinh kém vươn lên ngang trình độ chương trình, giúp cho học sinh khá, giỏi vươn lên trong phạm vi trình độ quy định
Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh
Học tập lịch sử là quá trình lao động trí tuệ, nhưng người học tiếp nhận kiến thức cơ bản mà các nhà nghiên cứu đã xác định Vì vậy, việc khám phá tri thức mới đối với người học nhờ có sự hướng dẫn, tổ chức của thầy giáo mà rút ngắn được thời gian tiếp nhận kiến thức khoa học theo chương trình quy đinh Để có biểu tượng về các thành tựu văn hóa vật chất, sự kiện lịch sử, GV phải tác động vào trí óc của học sinh, làm nảy nở nhu cầu nhận thức lịch sử ở
Trang 39các em, tiếp đó GV tổ chức các hoạt động học tập giúp HS có định hướng trong nghiên cứu các nguồn tư liệu, sử dụng đồ dùng trực quan để từng bước xây dựng nội dung biểu tượng, là cơ sở cho việc hình thành các khái niệm lịch
sử
Dó đó, quá trình tạo biểu tượng không phải là quá trình GV độc thoại, đem lại hình ảnh về sự kiện, nhân vật để học sinh ghi nhớ mà cần phải phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh Mối quan hệ giữa GV và HS là mối quan hệ giữa người hướng dẫn sự nhận thức và chủ thể nhận thức Xuất phát
từ nhu cầu nhận thức của học sinh, căn cứ vào đặc điểm nhận thức của họ, dựa vào mục đích, yêu cầu của bài học mà GV vận dụng các phương pháp phù hợp với từng nội dung cụ thể của bài học để đề ra “phương án nhận thức” cho học sinh Trên cơ sở định hướng của GV, học sinh trực tiếp tìm hiểu tài liệu học tập, chủ yếu là bài viết trong SGK và tài liệu tham khảo do GV cung cấp, học sinh sưu tầm N.G.Đairi trong “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?” viết: “Dạy sử cũng như dạy bất cứ cái gì đòi hỏi người thầy phải khêu gợi cái thông minh chứ không phải là bắt buộc cái trí nhớ làm việc, bắt nó ghi chép rồi tả lại” [12, 3] Nhà giáo dục Đức Đixteve đã khẳng định rằng “người giáo viên tồi truyền đạt chân lý, người giáo viên giỏi dạy cách tìm ra chân lý” Điều này có nghĩa rằng, người giáo viên không chỉ giới hạn công việc của mình ở việc đọc cho học sinh chép những kiến thức có sẵn, chỉ bắt các em học thuộc lòng rồi kiểm tra việc các em đã ghi nhớ, mà phải hướng dẫn, gợi mở để học sinh trình bày nhận xét, đánh giá của mình, sau đó giáo viên kết luận Sự phát triển trí tuệ của học sinh diễn ra có kết quả hơn nếu như đặt các em trước
sự cần thiết phải thu nhận tri thức và áp dụng chúng trong thực tiễn
Đảm bảo tính trực quan
“Việc học tập không phải xây dựng trên lời nói, những quan niệm rời rạc mà phải trên cơ sở hình ảnh cụ thể mà trẻ em trực tiếp thu nhận Bản tính của trẻ em đòi hỏi tính trực quan” [17, 432]
Trang 40Vậy “trực quan” là gì? Theo tư duy thông thường, trực quan được hiểu là nhận thức trực tiếp bởi các giác quan Tính trực quan là một thuộc tính của sự vật, hiện tượng, thuộc tính này làm bộc lộ những đặc điểm của sự vật, nhờ đó người ta có thể nhận thức được sự vật một cách dễ dàng Các nhà tâm lý học, tâm lý học sư phạm đã chứng minh rằng: trong sự lĩnh hội tri thức của học sinh, tri thức càng trừu tượng thì nguyên tắc trực quan càng có ý nghĩa Dạy học trực quan là một phương tiện rất tốt để phát triển tư duy trừu tượng của học sinh
Việc dạy học dựa trên nguyên tắc trực quan như nhà giáo dục người Tiệp Khắc I.A.Commenki xem đó là “nguyên tắc vàng của lý luận dạy học” Theo ông, không có gì trong não nếu như trước đó không có gì trong cảm giác Vì vậy, dạy học bắt đầu không thể từ sự giải thích về các sự vật, mà phải từ sự quan sát trực tiếp Ông chỉ ra rằng kiến thức càng dựa vào cảm giác thì nó càng xác thực Từ đó ông rút ra kết luận: Lời nói không bao giờ đi trước sự vật Nhà triết học duy vật người Nga đã nói rất chính xác về giá trị của tính trực quan: “Tính trực quan hiện nay được mọi người nhất trí thừa nhận là người giúp việc rất cần thiết và có hiệu lực mạnh mẽ trong học tập Nó giúp trí nhớ và trí tuệ bằng cách trình bày hình dạng và hình tượng của sự vật Đó là phương tiện hỗ trợ vật chất và cảm tính để thoát khỏi để thoát khỏi sự trừu tượng nguy hại, nặng nề dễ bóp nghẹt tài năng, khô khan và chết cứng mà những người duy tâm rất thích Tầm quan trọng to lớn của trực quan dựa trên chính bản chất của con người, ở con người, những biểu tượng trí tuệ nhất dù sao vẫn không phải cái gì khác mà chính là kết quả hoạt động của các cơ quan não, là những cơ quan vốn có kinh nghiệm và đặc tính nhất định”.(Các phương tiện trực quan trong dạy học - trang 17)
Vì vậy, trực quan là yêu cầu quan trọng, cần thiết đối với dạy học lịch sử nói chung, việc tạo biểu tượng lịch sử về văn hóa vật chất nói riêng, xuất phát
từ quy luật của nhận thức mà V I Lênin đã đề ra “từ trực quan sinh động đến
tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng trở về thực tiễn” Nguyên tắc này