1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách biển đảo của chính quyền minh trị (1868 1912)

69 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 3,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kế thừa những thành tựu có được từ trước kết hợp tiếp thu tích cực công nghệ phương Tây, chính quyền mới đã: Tập trung phát triển công nghiệp đóng tàu và đẩy mạnh hoạt động thương nghiệ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ MÔN NHẬT BẢN HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

(CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG EURÉKA 2013)

Đề tài:

Giảng viên hướng dẫn: PGS TS NGUYỄN TIẾN LỰC

Bộ môn Nhật Bản học, Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn – Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh

Sinh viên thực hiện: NGUYỄN VŨ KỲ

TP.Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2013

Trang 2

TÓM TẮT 1

MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH BIỂN ĐẢO THỜI MINH TRỊ 12

1 Điều kiện địa lý tự nhiên 12

2 Chính sách biển đảo củachính quyền Nhật Bản trước thời Minh Trị 13

3 Công cuộc Minh Trị Duy tân 22

CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH BIỂN ĐẢO VÀ QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI CHÍNH SÁCH BIỂN ĐẢO THỜI MINH TRỊ (1868 – 1912) 25

1 Sakamoto Ryoma – người đặt nền móng đầu tiên cho chính sách biển đảo của chính quyền Minh Trị 25

1.1 Tiểu sử Sakamoto Ryoma 25

1.2 Tư tưởng về biển đảo của Sakamoto 26

2 Chính sách biển đảo của chính quyền Minh Trị 33

2.1 Tập trung phát triển công nghiệp đóng tàu kết hợp đầu tư xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng dọc theo đường biển và đẩy mạnh hoạt động thương nghiệp hướng biển từ các hải cảng 33

2.2 Phát triển công nghiệp quân sự 38

2.3 Cải cách quân sự – hướng trọng điểm vào Hải quân 42

2.4 Tích cực hội nhập quốc tế, xác lập vị thế quốc gia trong khu vực và thế giới 50

KẾT LUẬN 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

Trang 3

TÓM TẮT

Do đặc điểm quốc gia là một đảo quốc nên Nhật Bản được thụ hưởng những thuận lợi từ biển mang lại, có điều kiện phát triển kinh tế biển như đánh bẳt thủy hải sản, công nghiệp đóng tàu, vận tải đường biển… và là quốc gia có truyền thống hải quân lâu đời Tuy nhiên, bên cạnh các thuận lợi và tiềm năng có được thì điều kiện tự nhiên cũng chứa đựng những nguy cơ về an ninh quốc

phòng Vì thế chính sách về biển đảo nhằm đảm bảo an ninh đường biển cũng

như bảo vệ an toàn quốc gia luôn được chính quyền Nhật Bản các thời kì đặc biệt coi trọng; khi tiến hành công cuộc Duy tân, chính quyền Minh Trị cũng không nằm ngoài ý thức này Trong bối cảnh thực thi các chính sách cải cách toàn diện trên tất cả lĩnh vực nhằm công nghiệp hóa, cận đại hóa Nhật Bản, chính sách biển đảo cũng được được chính phủ Minh Trị chú trọng và là một mắt xích trong chuỗi các cải cách Kế thừa những thành tựu có được từ trước kết hợp

tiếp thu tích cực công nghệ phương Tây, chính quyền mới đã: Tập trung phát triển công nghiệp đóng tàu và đẩy mạnh hoạt động thương nghiệp hướng biển từ các hải cảng, Phát triển công nghiệp quân sự, Cải cách quân sự – hướng trọng điểm vào Hải quân, Tích cực hội nhập quốc tế, xác lập vị thế quốc gia trong khu vực và thế giới Trong đó, yếu tố công nghệ phương Tây đã được tiếp

thu triệt để, các chính sách được thi đồng bộ, việc thi hành chính sách có sự chung tay góp sức của nhiều thành phần kinh tế lớn và việc thực thi chính sách không nằm ngoài mục đích phát triển kinh tế quốc gia Đặc biệt là chính sách biển đảo của chính phủ Minh Trị không tuân theo một trường phái nào nhất định

Trong khóa luận “Chính sách biển đảo của chính quyền Minh Trị (1868

– 1912)”, chúng tôi đã đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu cơ sở hình thành, các biện

pháp cụ thể và cách thức tiến hành các biện pháp đó trong việc xây dựng chính sách biển đảo của chính quyền Minh Trị; từ đó rút ra những đặc điểm của chính sách biển đảo thời kì này

Trang 4

Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, dưới làn sóng ảnh hưởng của văn minh phương Tây tràn vào với một tốc độ nhanh và mạnh trên một bình diện rộng lớn, cả khu vực Đông Á đang dần thức tỉnh với nhiều sự kiện trọng đại Trong

số đó là Minh Trị Duy tân, đưa Nhật Bản từ một nước phong kiến thành một cường quốc thế giới và là cường quốc duy nhất ngoài Âu – Mĩ Minh Trị Duy tân không chỉ là một sự kiện quan trọng của Nhật Bản và nằm gói gọn trong quốc gia này mà có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển và tiến trình lịch sử của các quốc gia trong khu vực Nối tiếp và học tập theo Minh Trị Duy tân, các quốc gia Đông Á theo nhiều hình thức khác nhau tiến hành đổi mới đất nước, hô hào vận động duy tân; và duy tân, đổi mới, cải cách, canh tân là các cụm từ quen thuộc khi nghiên cứu lịch sử Đông Á giai đoạn này

Từ những năm 1930, cụ Đào Trinh Nhất – một học giả có tiếng tăm thời bấy giờ – đã cổ vũ Việt Nam học tập theo Minh Trị Duy tân, mong muốn Việt Nam tự cường, hùng mạnh Cụ viết trong cuốn “Nước Nhựt Bổn – 30

năm Duy tân”: “Nhựt Bổn Duy tân tự cường thật là một hiện tượng lạ lùng

quái gở ở trong lịch sử thế giới nhơn loại, xưa nay chưa hề thấy có Cái hiện tượng ấy phát ra một cách không ngờ, một cách đáng sợ, người ta ở đâu xa xuôi ngàn muôn dặm, biển cách non ngăn, còn phải tìm tòi xem xét cho biết thay, nữa là mình đây ở gần một bên Càng những dân tộc nào đang yếu muốn mạnh, ngu muốn khôn, dở muốn hay, hèn muốn giỏi, lại càng nên tìm

Trang 5

tòi xem xét cho biết cái hiện tượng tấn hóa xưa nay có một đó.”1 Mối quan tâm của cộng đồng thế giới càng nhiều càng cho thấy sức lan tỏa ảnh hưởng

và vai trò to lớn của sự nghiệp Minh Trị Duy tân đối với thế giới

Minh Trị Duy tân và các vấn đề liên quan của nó luôn là mảng đề tài thú vị vì sau một giai đoạn lịch sử đầy biến cố, Nhật Bản đã vươn lên thành quốc gia “phú quốc cường binh” Mạnh dạn cải cách để trở mình ngoạn mục vượt ra khỏi các yếu tố truyền thống đã làm nên một Nhật Bản đặc biệt so với các nước phương Đông khác Chính điều đó làm cho Nhật Bản luôn luôn có sức hấp dẫn gọi mời các nhà nghiên cứu say mê, dấn thân khám phá

Ở Việt Nam, trong các giáo trình, sách tham khảo ở bậc đại học ít nhiều đều đề cập đến Minh Trị Duy tân Gần đây nhất có cuốn “Minh Trị Duy tân

và Việt Nam – 明治維新とベトナム” của Nguyễn Tiến Lực Có thể nói đây là

công trình nghiên cứu có giá trị, đầy đủ, trọn vẹn nhất về Minh Trị Duy tân đến thời điểm hiện nay tại Việt Nam Tuy nhiên không bao nhiêu là đủ đối với một sự kiện lịch sử, đặc biệt là đối với mảng đề tài vô cùng rộng về Minh Trị Duy tân Sau khi bóc tách, giải thích vấn đề này thì có những khía cạnh liên quan khác dần lộ ra Hoặc có thể cùng một vấn đề nhưng nếu được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau có thể phát hiện nhiều điều mới lạ

Khi nghiên cứu về Minh Trị Duy tân người ta có xu hướng đi sâu phân tích thuật ngữ, tranh luận về bản chất của Minh Trị Duy tân, trình bày quá trình hình thành nhà nước mới, tiến hành các cải cách hoặc đề cao vai trò của các nhân vật đóng góp cho sự nghiệp duy tân và tổng hòa các yếu tố trên cũng là nguyên nhân tạo nên sự “thần kì Nhật Bản” Tuy nhiên một yếu tố trực tiếp dẫn đến thành công của Minh Trị Duy tân cần phải khẳng định là sức mạnh tổng hợp của chuỗi các chính sách và cải cách đúng đắn được thực hiện đồng bộ từ trên xuống, mà chủ thể thực hiện không ai khác chính là bộ máy của chính quyền Minh Trị Bởi thế khi nghiên cứu Minh Trị Duy tân, chúng tôi nghĩ rằng cũng cần đi sâu phân tích và đánh giá từng chính sách cụ thể đó

1Đào Trinh Nhất (1936), Nước Nhựt Bổn 30 năm duy tân, Nxb Đắc Lập, Huế

Trang 6

để có cái nhìn chi tiết hơn, sâu sắc hơn về một giai đoạn lịch sử đầy biến động của Nhật Bản, qua đó góp phần lý giải đầy đủ hơn những yếu tố xây dựng nên một quốc gia Nhật Bản “phú quốc cường binh”

Nhật Bản là quốc gia có truyền thống đi biển, phát triển hàng hải, hải quân lâu đời Do điều kiện địa lý tự nhiên bốn phía giáp biển, mối liên hệ trong nước với bên ngoài đều thông qua con đường biển, điều kiện địa lý đã mang lại cho Nhật Bản nhiều thuận lợi và tiềm năng nhưng cũng đi kèm nhiều nguy cơ về an ninh quốc phòng Chính vì điều đó nên chính sách về biển đảo được chính quyền phong kiến Nhật Bản các thời kì đặc biệt coi trọng Khi tiến hành công cuộc Duy tân, chính quyền Minh Trị cũng ý thức rõ điều này Trong bối cảnh các chính sách cải cách toàn diện trên tất cả lĩnh vực nhằm công nghiệp hóa, cận đại hóa Nhật Bản được thực thi, chính sách biển đảo cũng được được chính phủ Minh Trị chú trọng và nằm trong chuỗi các chính

sách cải cách đó Trong đề tài khóa luận “Chính sách biển đảo của chính quyền Minh Trị (1868 – 1912)”, chúng tôi sẽ cố gắng lí giải phần nào chính

sách này Đây là vấn đề chúng tôi thấy còn bỏ ngỏ chưa được khai phá, cần làm rõ hơn nữa khi nghiên cứu về Minh Trị Duy tân Do quỹ thời gian hạn chế và qui mô của một khóa luận tốt nghiệp, trong khóa luận này tôi tập trung

nghiên cứu, trình bày về chính sách biển đảo – một bộ phận trong chuỗi các

chính sách cải cách mà chính quyền Minh Trị tiến hành Những vấn đề khác chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu trong các năm tiếp theo

2 Lịch sử nghiên cứu

2.1 Các công trình trong nước

Năm 2013, Việt Nam và Nhật Bản sẽ kỉ niệm 40 năm chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, nhưng mối quan hệ giữa hai nước đã có từ nhiều thế

kỉ trước Khi nghiên cứu về Nhật Bản người ta thường chú ý đến các sự kiện lịch sử nổi bật, có ảnh hưởng mạnh mẽ cả trong nước và quốc tế – và Minh Trị Duy tân là một sự kiện như vậy

Trang 7

Theo những tư liệu mà người nghiên cứu tiếp cận được thì có rất nhiều sách, công trình nghiên cứu, bài viết, chuyên khảo của các tác giả trong cũng như ngoài nước viết về phong trào Minh Trị Duy tân của Nhật Bản, trước đây

có các quyển như Nhựt Bổn 30 năm Duy Tân của Đào Trinh Nhất (1936), Nhật Bản Duy Tân dưới thời Minh Trị Thiên hoàng của Nguyễn Khắc Ngữ (1969); gần đây có quyển Minh Trị Duy tân và Việt Nam của Nguyễn Tiến Lực (2010) Cùng với mối quan hệ đối tác chiến lược của 2 nước Việt Nam – Nhật Bản, hợp tác kinh tế, văn hóa, giáo dục của 2 nước cũng được đẩy mạnh,

số lượng học giả, dịch giả biết tiếng Nhật ngày càng nhiều, điều đó đã cho ra đời nhiều quyển sách dịch có chất lượng, giới thiệu về các nhân vật lớn có ảnh hưởng lịch sử Nhật Bản thời Minh Trị Duy tân như quyển Phúc ông tự truyện (giới thiệu nhân vật Fukuzawa Yukichi, Phạm Thu Giang dịch, 2005),

12 người lập ra nước Nhật (Đặng Lương Mô dịch, 2003), và qua cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng của các nhân vật này, chúng ta ít nhiều được tiếp cận các chính sách và hiểu sâu hơn về sự nghiệp Minh Trị Duy tân Tuy nhiên chính sách biển đảo của chính quyền Minh Trị được đề cập rất ít trong các công trình đó

Tác giả Lê Văn Quang đã trình bày một cách khá đầy đủ và chi tiết về tiến trình lịch sử của Nhật Bản trong cuốn “Lịch sử Nhật Bản” (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, 1998) từ khi hình thành chế độ phong kiến Nhật Bản (đầu thế kỉ XVI) đến sau năm 1945 Tác giả đã phân tích và tổng hợp các sự kiện lịch sử, tình hình kinh tế, đặc điểm chính trị, những biến đổi

xã hội Nhật Bản qua các thời kì Tuy nhiên, các chính sách liên quan đến biển đảo của chính quyền Minh Trị không được trình bày cụ thể, trong phần

“Những cải cách duy tân của Minh Trị Thiên Hoàng (từ 1868 đến 1890)”, tác giả có nhắc đến việc chính quyền Minh Trị mở hai thành phố cảng lớn là Osaka và Kobe cho thương nhân nước ngoài buôn bán, xây dựng các xưởng đóng tàu, các xưởng sản xuất đạn dược ; hay việc chính quyền Minh Trị thông qua các biện pháp ngoại giao để giành quyền quản lý đảo Kurin và

Trang 8

Ryukyu từ tay Nga hoàng và Trung Quốc Tuy nhiên, về cơ bản tác giả chỉ mới trình bày chung về các sự kiện lịch sử chứ chưa đi sâu phân tích để làm

rõ ý nghĩa, tác dụng của việc mở rộng thương mại hải cảng và việc xác lập chủ quyền các hòn đảo trên biển đối với sự nghiệp bảo vệ, phát triển đất nước Nhật Bản

Ngược dòng lịch sử một chút vào những năm 1930, học giả Đào Trinh Nhất đã mong muốn đất nước Việt Nam cũng đổi mới, duy tân tự cường như Nhật Bản Trong cuốn “Nước Nhựt Bổn – 30 năm Duy tân”, ông đã nêu lên được những thành tựu đạt được trên nhiều lĩnh vực của sự nghiệp Minh Trị Duy tân Trong phần “Lục quân – Hải quân”, tác giả có trình bày điểm qua về truyền thống của hải quân Nhật Bản, một số cải cách của chính phủ Minh Trị

về hàng hải, hải quân như mở trường hải quân, lập xưởng đóng tàu, học tập công nghệ hàng hải phương Tây Đây là quyển sách có giá trị trong điều kiện nghiên cứu thời bấy giờ, có tác dụng cổ vũ to lớn phong trào duy tân tự cường trong nước và được coi là một trong những thành tựu nền tảng đầu tiên nghiên cứu về Minh Trị Duy tân ở Việt Nam

Trong công trình nghiên cứu của Nguyễn Tiến Lực “Minh Trị Duy tân

và Việt Nam”, tác giả đã nghiên cứu một cách toàn diện phong trào Duy tân ở Nhật Bản, đi sâu phân tích các giai đoạn trong toàn bộ tiến trình cải cách cũng như vai trò cụ thể của các chính sách, các nhân vật và các vấn đề liên quan; trong phần “Cải cách quân đội”, tác giả có đề cập đến việc thành lập 2 bộ Lục quân và Hải quân trên cơ sở tách ra từ Binh bộ, tăng cường sức mạnh vũ trang, sắm sửa thêm vũ khí, thuê chuyên gia nước ngoài hướng dẫn đóng tàu chiến hay phát triển công nghiệp đóng tàu dân sự, hỗ trợ về mặt tài chính cho các công ty vận tải đường biển trong phần các chính sách cải cách công nghiệp, tài chính tiền tệ

Trong khóa luận tốt nghiệp “Sakamoto Ryoma – Người đặt phương châm đầu tiên cho Minh Trị Duy Tân” (Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn

TP Hồ Chí Minh), Đàm Ngọc Thi đã nêu bật lên được cuộc đời và sự nghiệp

Trang 9

của Sakamoto Ryoma – một nhân vật lớn của lịch sử Nhật Bản Những đóng góp to lớn của Ryoma trong việc xây dựng lực lượng hải quân, vận tải đường biển cũng như những đề xuất thể hiện tầm nhìn chiến lược ông đã được chính quyền Minh Trị vận dụng rất nhiều trong quá trình xây dựng nước Nhật Bản mới Tuy nhiên do giới hạn của mình nên đề tài chưa đi vào phân tích cụ thể chính quyền Minh Trị đã kế thừa và vận dụng những tư tưởng tiến bộ của Ryoma như thế nào trong chiến lược xây dựng chính sách biển đảo

2.2 Các công trình nước ngoài

quân và Nhật Bản cận đại – Xem xét lại việc thành lập hải quân thời kì Mạc mạt và giả thuyết về “Cách mạng hải quân”), tác giả 朴 栄濬(パク ・ ヨ ンジュ ン

Park Young June) đã phân tích tình hình thực tế của việc thành lập hải quân cuối thời Edo, tập trung vào khía cạnh tăng cường tàu thuyền, trong đó phân tích các đầu mối để hiểu rõ “cách mạng hải quân” cuối thời Edo và những sự thay đổi để tiến tới thành lập hải quân và quốc gia cận đại

Bài viết 海上輸送力の戦い -日本の通商破壊戦を中心に- (Cuộc xung đột về

năng lực vận chuyển trên biển – tập trung vào sự cạnh tranh phá hủy thương

mại của Nhật Bản) của tác giả 荒 川 憲 (Arakawa Ken) có đề cập đến tư

tưởng quốc phòng cuối thời Edo và tư tưởng quốc phòng của hải quân Minh Trị qua “Quốc phòng luận” và “Quốc phòng sử luận” của Sato Tetsutaro – nhà lý luận quân sự và là Đô đốc hải quân thời Minh Trị

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu và bài viết nêu trên với nhiều mức độ khác nhau đã tiếp cận, trình bày, đánh giá khá đầy đủ về công cuộc Minh Trị Duy tân ở Nhật Bản cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX; qua đó phần nào đã nêu lên được những chính sách cải cách về quân sự, công nghiệp, tài chính có liên quan đến biển đảo của chính quyền Minh Trị giai đoạn 1868 –

1912 Tuy nhiên các chính sách đó chỉ nằm rải rác và chưa đi sâu nghiên cứu

Trang 10

có trọng tâm và có hệ thống về chính sách biển đảo thời kì này Những tài liệu nêu trên sẽ giúp chúng tôi rất đắc lực trong việc chọn lọc tư liệu và sẽ là

“phông nền” rõ nét cho khóa luận bởi lẽ nội dung chính nghiên cứu là chính

sách biển đảo của chính quyền Minh Trị nhưng nằm trong bối cảnh chung của

sự nghiệp Minh Trị Duy tân cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX Kế thừa và phát

triển thành tựu nghiên cứu của những người đi trước, trong khóa luận “Chính

sách biển đảo của chính quyền Minh Trị (1868 – 1912)-”, chúng tôi muốn giải

quyết vấn đề trên

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Nhật Bản và Việt Nam là hai quốc gia có mối quan hệ hữu nghị lâu đời Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, vùng Đông Á có những bước chuyển mình mạnh mẽ, đặc biệt ở Nhật Bản đã diễn ra những sự kiện trọng đại, để lại dấu

ấn đậm nét trong lịch sử Nhật Bản và gây được những tiếng vang, ảnh hưởng

to lớn đối với thế giới Như đã trình bày ở trên, Minh Trị Duy tân là mảng đề tài vô cùng rộng lớn, hấp dẫn và chính sách biển đảo của chính quyền Minh

Trị là vấn đề liên quan chưa được khai phá đầy đủ Đây là một khía cạnh thú

vị luôn thôi thúc chúng tôi quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu

Do đó, mục đích nghiên cứu của khóa luận này là chúng tôi muốn đi sâu khai thác các cải cách và chính sách liên quan đến biển đảo của chính quyền Minh Trị trong quá trình tiến hành công cuộc Minh Trị Duy tân giai đoạn 1868 – 1912 Với mục đích rõ ràng như thế, chúng tôi đặt ra nhiệm vụ cần phải làm là:

 Nêu lên được bối cảnh lịch sử để làm cơ sở hình thành chính sách biển đảo của chính quyền Minh Trị

 Trình bày được nội dung của chính sách biển đảo thời Minh Trị

 Phân tích, trình bày được quá trình triển khai chính sách biển đảo thời Minh Trị qua từng biện pháp cụ thể trong chính sách đó Qua đó rút ra

Trang 11

được những đặc điểm chung trong toàn bộ chính sách biển đảo của chính phủ Minh Trị giai đoạn 1868 – 1912

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu cụ thể của đề tài là chính sách biển đảo của chính quyền Minh Trị trong giai đoạn 1868 đến 1912 Chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu về các biện pháp cụ thể và cách thức tiến hành các biện pháp đó trong việc xây dựng chính sách biển đảo của chính quyền Minh Trị; từ đó rút

ra những đặc điểm của chính sách biển đảo thời kì này

Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu nằm trong một không gian, một giai đoạn lịch sử cụ thể với những sự kiện liên quan đan xen nhau, chi phối trực tiếp đến đối tượng nghiên cứu Chính sách biển đảo của chính quyền Minh Trị nằm trong bối cảnh chung khi tiến hành công cuộc duy tân Minh Trị cuối thế

kỉ XIX đầu thế kỉ XX; hơn thế nữa đó cũng chính là một trong số các chính sách nằm trong chuỗi các cải cách được chính quyền Minh Trị thực thi Bởi thế khi nghiên cứu về chính sách biển đảo không thể không đề cập đến sự nghiệp Minh Trị Duy tân và các yếu tố liên quan; đó là cái nền vững chắc, cần thiết cho việc trình bày chính sách biển đảo và cho cả đề tài

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài chúng tôi sử dụng các phương pháp tổng hợp và phân tích

Bên cạnh đó, vì đề tài nghiên cứu trong một giai đoạn lịch sử nhất định nên phương pháp lịch sử được sử dụng triệt để trong khi nghiên cứu vấn đề này

6 Đóng góp của khóa luận

Đa số các công trình nghiên cứu và tư liệu chúng tôi có được với nhiều mức độ khác nhau đã tiếp cận, trình bày, phần tích và đánh giá công cuộc

Trang 12

Minh Trị Duy tân ở Nhật Bản, trong đó có đề cập các nội dung liên quan đến chính sách biển đảo của chính quyền Minh Trị 1868 – 1912 Tuy nhiên chưa

có công trình nào đi sâu nghiên cứu có hệ thống chính sách này (như đã phân

tích, đánh giá ở phần Lịch sử nghiên cứu) Vì vậy, khóa luận này đi sâu vào

làm rõ chính sách biển đảo của chính phủ Minh Trị (1868 – 1912) – vấn đề

mà chúng tôi nhận thấy còn mới mẻ, chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều

Trong đó, chúng tôi sẽ tổng hợp, phân tích rồi đưa ra những kết luận xoay

quanh chính sách biển đảo của thời Minh Trị

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Ý nghĩa khoa học

Khóa luận là một công trình khoa học nhỏ đã phục dựng bức tranh toàn cảnh, có hệ thống và toàn diện chính sách biển đảo của chính quyền Minh Trị khi tiến hành các cải cách duy tân đất nước giai đoạn 1868 – 1912

Những kết luận được rút ra có thể giúp các học giả, các nhà chuyên môn có thể tiếp tục hoạch định phương hướng, xây dựng chiến lược, chính sách biển đảo trong giai đoạn hiện nay cũng như nghiên cứu về lịch sử Nhật Bản và các khía cạnh khác của lịch sử thế giới giai đoạn này

Ý nghĩa thực tiễn

Những tư liệu mà chúng tôi thu thập được cùng kết quả nghiên cứu dù

là nhỏ bé nhưng sẽ là nguồn tài liệu tham khảo chung phục vụ học tập, công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học về lịch sử cận đại của Nhật Bản nói riêng

và lịch sử thế giới nói chung

Kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp nguồn tài liệu về Minh Trị Duy tân, cụ thể hơn là về chính sách biển đảo của chính quyền Minh Trị giai đoạn 1868 –

1912

Kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp phần tài liệu nhỏ bé để làm cơ sở tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách biển đảo hiện nay

Trang 13

Đề tài nghiên cứu khi hoàn thành trong chừng mực nhất định có thể góp phần khiêm tốn vào việc thắt chặt và tăng cường mối quan hệ hợp tác chiến lược Việt Nam – Nhật Bản cả trong hiện tại và tương lai

8 Bố cục khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung

chính của công trình gồm 2 chương:

Chương 1: Cơ sở hình thành chính sách biển đảo thời Minh Trị

Trong chương này, chúng tôi nêu sơ lược một số đặc điểm địa lý tự nhiên của Nhật Bản, yếu tố này góp phần không nhỏ trong việc chi phối đến chính sách biển đảo của chính quyền phong kiến Nhật Bản các thời kì Tiếp đến chúng tôi trình bày chính sách biển đảo của chính quyền phong kiến Nhật Bản cho đến thời Tokugawa Bakufu và công cuộc Minh Trị Duy tân Những yếu tố này là cơ sở hình thành nên chính sách biển đảo của chính quyền Minh Trị giai đoạn 1868 – 1912 Qua đó làm sáng tỏ sợi dây liên kết toàn bộ chính sách biển đảo từ trước khi Thiên hoàng Minh Trị lên nắm quyền và khi tiến

hành công cuộc Minh Trị Duy tân

Chương 2: Chính sách biển đảo và quá trình triển khai chính sách biển đảo thời Minh Trị (1868 – 1912)

Dựa trên những cứ liệu lịch sử tiếp cận được chúng tôi đi sâu vào trình bày, phân tích cụ thể chính sách biển đảo và quá trình thực thi chính sách biển đảo thời Minh Trị Qua đó rút ra một số đặc điểm của chính sách biển đảo của Nhật Bản thời kì này

Trang 14

Chương 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH BIỂN ĐẢO

THỜI MINH TRỊ

1 Điều kiện địa lý

Nhật Bản là một quốc đảo nằm ở phía Đông lục địa châu Á, phía Tây Bắc lòng chảo Thái Bình Dương; là quần đảo hình cánh cung gồm hơn 1000 hòn đảo lớn nhỏ, mặt cung quay ra biển Hình dáng nước Nhật Bản như hiện nay đã được hình thành từ khoảng 2000 năm trước đây Vị trí địa lý Nhật Bản trải dài từ Bắc xuống Nam khoảng 2500 km, (kéo dài khoảng 25 vĩ độ, từ đảo Okinotori - 20º25'N đến cực bắc của vùng Etorofu 45º33'N gần Hokkaido)

Nhật Bản có đường bờ biển dài với tổng chiều dài khoảng 33.889 km,

bờ biển bị chia cắt theo nhiều địa hình, nhiều chỗ ăn sâu vào đất liền tạo nên nhiều vũng vịnh và có nhiều cửa sông Xung quanh Nhật Bản là một loạt các biển thông nhau Phía Đông và Nam là Thái Bình Dương, phía Tây Bắc là biển Nhật Bản, phía Tây là biển Hoa Đông, phía Đông Bắc là biển Okhotsk Vùng biển nằm giữa Honshu và Shikoku gọi là biển Seto Naikai Vùng biển Nhật Bản có hải lưu Kuroshio chảy lên từ phía Nam và hải lưu Oyashio chảy từ phía Bắc xuống

Do đặc điểm tự nhiên và điều kiện địa lý hình thành đồng bằng tương đối hẹp, đường bờ biển dài, có các dòng biển chảy qua và có nhiều vũng vịnh nên đã tạo thuận lợi cho Nhật Bản phát triển kinh tế biển, đánh bắt thủy hải sản xa bờ và xây dựng các bến cảng, mở rộng giao thông buôn bán với nước ngoài bằng đường biển Ngay từ xa xưa các hoạt động giao thương trên biển

đã có điều kiện phát triển sớm

Do đặc điểm quốc gia là một đảo quốc nên Nhật Bản được thụ hưởng những thuận lợi từ biển mang lại, có điều kiện phát triển kinh tế biển như đánh bẳt thủy hải sản, công nghiệp đóng tàu, vận tải đường biển Nhưng bên cạnh các lợi ích do biển mang lại thì điều kiện tự nhiên cũng chứa đựng

những nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia từ đường biển Vì thế chính sách

quốc phòng, chiến lược đối ngoại nhằm đảm bảo an ninh đường biển cũng

Trang 15

như bảo vệ an toàn quốc gia luôn được chính quyền Nhật Bản các thời kì đặc biệt coi trọng, chính phủ mới thời Minh Trị cũng không nằm ngoài ý thức đó

Và yếu tố điều kiện địa lý là một trong các nhân tố góp phần hình thành nên chính sách biển đảo thời kì này.

2 Chính sách biển đảo của chính quyền Nhật Bản trước thời Minh Trị

Chính sách biển đảo của chính quyền Nhật Bản cho đến trước thời Minh Trị chủ yếu tập trung vào các hoạt động huấn luyện binh sĩ, phát triển sức mạnh thủy quân để giải quyết tranh chấp trên biển, bảo vệ Nhật Bản trước các thế lực bên ngoài Đây cũng là lực lượng được các thế lực phong kiến các thời kì sử dụng triệt để nhằm giải quyết xung đột, tranh giành quyền lực trong các cuộc nội chiến Song song với việc phát triển thủy quân, chính quyền đầu

tư đóng các loại tàu có khả năng kéo dài thời gian hoạt động trên biển nhằm phục vụ giao thương buôn bán và nâng cao năng lực tác chiến trên biển

Từ xa xưa Nhật Bản đã có những xung đột về hải quân với lục địa châu

Á ít nhất là bắt đầu từ thời kỳ Kofun do nguyên nhân từ việc vận chuyển quân giữa Triều Tiên và Nhật Bản Trong thời kì mậu dịch Namban, đã có những hoạt động giao thương trên biển giữa Nhật Bản với các thương nhân Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Hà Lan đến Nhật Chính quyền phong kiến Nhật Bản tiến hành xây dựng hải quân rầm rộ từ thế kỷ thứ 16; trong Thời Chiến quốc, những lãnh chúa phong kiến đua nhau xây dựng những đội thủy quân khổng lồ lên tới vài trăm chiến thuyền Trong khoảng thời gian này, Nhật Bản

đã có thể đóng được những Thiết giáp hạm đầu tiên Năm 1576, Oda Nobunaga – một Daimyo nổi tiếng thời Chiến quốc Nhật Bản, người có công rất lớn trong việc thống nhất Nhật Bản – đã ra lệnh đóng 6 Thiết giáp hạm Atakebune (安宅船 An Trạch Thuyền) Sau thời kì mậu dịch Namban

phương Tây, Nhật Bản đã đóng được những chiến thuyền lớn đầu tiên để đi

Trang 16

lại trên biển Năm 1613, một Daimyo của vùng Sendai đã cho đóng chiếc Datemaru (伊達丸Y Đạt Hoàn, một dạng thuyền chiến), tàu được trang bị

vũ khí và kết hợp với các công nghệ phương Tây sau đó được Mạc phủ ủy nhiệm dùng chủ yếu để giao thương với Đông Nam Á

Hình 1: Thiết giáp hạm Atakebune

có thể đi biển được, ai vi phạm sẽ bị phạt nghiêm khắc bằng biện pháp đánh

đòn hay tử hình Chính sách sakoku của chính quyền Bakufu đã ảnh hưởng

trực tiếp đến nhiều mặt kinh tế, đối ngoại, quốc phòng an ninh của Nhật Bản Việc thông thương hướng ra biển của Nhật Bản với thế giới bên ngoài trong thời gian này gần như bị đình trệ Điều này đã gây ra những phản ứng với một

bộ phận quần chúng nhân dân, bởi lẽ Nhật Bản là quốc gia châu Á tiếp xúc và chịu ảnh hưởng từ văn hóa phương Tây từ rất sớm, nên sau sự kiện chính quyền Tokugawa cấm lưu hành sách phương Tây năm 1720 thì ở Nhật Bản đã xuất hiện phong trào học tiếng Hà Lan nhằm mục đích học tập kĩ thuật phương Tây Người Nhật Bản với phản ứng nhanh nhạy với cái mới đã không ngừng vươn ra bên ngoài, từ tìm hiểu Hà Lan tiến đến tìm hiểu nhiều quốc gia châu Âu khác, và điều đó càng được thôi thúc khi chính quyền Tokugawa ban hành chính sách “tỏa quốc” – sakoku Không những thế, những người có tư

Trang 17

tưởng học theo Hà Lan còn muốn khuếch trương mậu dịch quốc gia, mong muốn biến nước Nhật thành một quốc gia hùng mạnh về kinh tế như các nước

tư bản phương Tây

Tuy “đóng cửa” nhưng chính quyền Bakufu vẫn mở “hé cửa” để nhìn

ra thế giới, ưu tiên giao thương, tiếp xúc với Hà Lan thông qua tô giới Hà Lan tại Dejima, nhờ thế một khối lượng lớn kiến thức liên quan đến kỹ thuật phương Tây trên nhiều lĩnh vực y học, toán học, thiên văn, hàng hải, cơ khí

đã được chuyển giao vào Nhật Kĩ thuật đóng tàu phương Tây được Nhật Bản tiếp tục học hỏi một cách đầy đủ vào những năm 1840 trong cuối thời Edo(幕末 Mạc Mạt – Bakumatsu) và diễn ra mạnh mẽ trong những năm sau đó

Hình 3: Tàu chiến Shohei Maru của Nhật năm 1854 (được chế tạo nhờ học hỏi kỹ thuật đóng tàu của Hà Lan)

Vào cuối thời Edo, chính sách bài xích phương Tây của chính quyền Bakufu có phần được nới lỏng do tình hình thế giới bên ngoài có nhiều biến đổi và trước sức ép của các nước phương Tây đang tìm mọi cách để “mở cửa” Nhật Bản Giai đoạn 1852 – 1854, Đô đốcHải quân Hoa Kỳ Matthew Perry đã thực hiện những cuộc biểu dương lực lượng ngoài khơi vịnh Edo gồm những chiến hạm chạy hơi nước mới nhất của Hải quân Mỹ mà lịch sử

Trang 18

thường gọi là “Hắc thuyền”2; và những phát súng cảnh cáo của Perry tại vịnh Edo thực sự đã làm thức tỉnh người Nhật

Perry cuối cùng cũng khiến cho nước Nhật phải mở cửa thông thương với quốc tế thông qua Hiệp ước Kanagawa năm 18543 Sau đó không lâu, Hiệp ước mang tên “Nhật – Mĩ tu hiếu thông thương điều ước” được kí kết vào ngày 29 tháng 7 năm 1858 Hiệp ước này bề ngoài mang hình thức hợp tác thương mại và hữu nghị giữa Nhật – Mỹ nhưng thực chất chứa đựng nội dung bất bình đẳng, bất lợi cho Nhật Bản

Trước ảnh hưởng ngày càng lớn của phương Tây đã buộc chính quyền Tokugawa nhượng bộ, phải kí kết các điều khoản, hiệp ước với Mỹ, Anh, Nga, Pháp, Hà Lan, và cánh cửa giữa Nhật Bản với thế giới phương Tây cũng theo đó mà ngày càng được mở rộng Có thể nói, sự kiện “Hắc thuyền” là bước ngoặt đặt Nhật Bản trước nhiều mối nguy cơ thách thức hiện hữu rõ rệt

từ phương Tây Tuy vậy người Nhật cũng nhận thấy rõ yếu kém của mình trước sức mạnh phương Tây, coi đây là cơ hội để đổi mới đất nước nên dần tiếp nhận những giá trị từ nền văn minh phương Tây mang lại rồi hướng tới việc tiếp nhận tích cực nền văn minh ấy

Khi lực lượng của Perry đến Nhật Bản, chính quyền Tokugawa đã mở cuộc điều tra khắp đất nước nhằm trưng cầu các ý kiến đưa ra các giải pháp trước sự đe dọa của phương Tây Rất nhiều kiến nghị đã được phản hồi nhưng hầu như không đưa ra được lời giải thỏa đáng và phần lớn đại diện cho hai luồng ý kiến trái ngược nhau Trong số đó nổi lên ý kiến của Katsu Kaishu,

2

Matthew Perry chỉ huy Hải đoàn Đông Ấn (East India Squadron) là những chiến tàu frigate hơi nước với cột và thân tàu được sơn màu đen đến Nhật Bản lần đầu vào năm 1852 với mục đích tìm kiếm một hiệp ước thương mại với Nhật Bản Ngay khi đặt chân tới Nhật Bản, Perry đã ra lệnh cho hạm đội của mình hướng thẳng đến Edo, hướng súng vào thị trấn Uraga đe dọa sử dụng vũ lực và chuyển thư của Tổng thống Mĩ Millard Fillmore gửi cho chính phủ Nhật Bản Tàu của Perry được trang bị hải pháo Paixhans có sức công phá lớn Do sự kiện này mà từ đó về sau thuật ngữ “Hắc Thuyền” (黒船 kurofune) được sử dụng để chỉ mối đe dọa của kĩ thuật công nghệ phương Tây

3

Matthew Perry trở lại Nhật vào tháng 2 năm 1854 với số lượng tàu gấp đôi và 1800 quân, lần này

cơ bản các yêu cầu trong thư của Fillmore đã được đáp ứng và Perry chính thức kí kết Hiệp định Kanagawa với chính quyền Bakufu vào ngày 31 tháng 3 năm 1854.

Trang 19

ông chỉ ra rằng đoàn “Hắc thuyền” của Perry có thể dễ dàng vào được vịnh Edo là bởi vì Nhật Bản không có lực lượng hải quân đủ mạnh để đủ sức ngăn chặn Ông đề xuất chính quyền Mạc phủ Tokugawa nhanh chóng tuyển dụng hải quân, thẳng thắn đề nghị phá bỏ truyền thống tuyển dụng cũ là chỉ chọn những người thuộc dòng dõi quí tộc, có thân phận võ sĩ mà thay vào đó là nên chiêu mộ những người có tài năng, chí khí Bên cạnh đó, Kaishu còn kiến nghị chính quyền Bakufu nên tháo bỏ lệnh cấm đóng tàu lớn, tăng cường cải tiến trang bị vũ khí, chế tạo súng phương Tây, cải cách quân sự theo mô hình phương Tây và thành lập các trung tâm huấn luyện quân sự

Trước sự xâm nhập ồ ạt của làn sóng phương Tây vào Nhật Bản cùng với nhiệt huyết và kiến thức của Kaishu về hàng hải đã dần thuyết phục được những bộ phận phản đối thu nhận kiến thức phương Tây, điều đó đã tác động rất lớn đến các chính sách biển đảo của giới cầm quyền Nhật Bản lúc bấy giờ;

và trong những năm kế tiếp sau khi Perry đến Nhật, hầu như tất cả những ý kiến đề xuất của Kaishu đều được chính quyền Tokugawa chấm nhận Ngay sau khi đồng ý mở cửa giao lưu với nước ngoài, Mạc Phủ Tokugawa thực hiện nhiều chính sách nhằm hiện đại hóa hải quân và lục quân trên cơ sở tiếp thu kĩ thuật hải quân Phương Tây về đóng tàu, phát triển vũ khí

Tháng 1 năm 1855, Katsu Kaishu được chính phủ đương thời tín nhiệm

bổ nhiệm vào chính quyền Cũng trong năm này, chính quyền Bakufu thành lập một trường huấn luyện hải quân ở Nagasaki và dưới sự giúp đỡ của Hà Lan, Mạc Phủ Tokugawa đã có được chiếc tàu chiến chạy hơi nước đầu tiên Kankō Maru (観光丸 Quang Quan Hoàn); chính quyền khi đó đã dùng nó để

huấn luyện ở trường hải quân mới thành lập ở Nagasaki Đến tháng 9 năm này, Kaishu là 1 trong 37 người được Tokugawa tuyển chọn gửi xuống học ở học viện hải quân Nagasaki Chính quyền Bakufu còn thành lập Viện nghiên cứu sách phương Tây ở Edo với chương trình giảng dạy bằng tiếng Hà Lan nhằm tiếp cận, nghiên cứu khoa học kĩ thuật phương Tây (1857)

Trang 20

Năm 1857, hải quân Nhật Bản có được chiếc tàu chiến hơi nước chạy chân vịt đầu tiên Kanrin Maru (咸臨丸 Hàm Lâm Hoàn) Tháng 1 năm 1860,

chính quyền Tokugawa tổ chức cho chiếc Kanrin Maru xuất dương đi ra nước ngoài, đến San Francisco – chuyến đi nước ngoài có tổ chức đầu tiên trong lịch sử cai trị của nhà Tokugawa – để quan sát, học hỏi nền kĩ thuật tiên tiến

về kĩ thuật đóng tàu, hàng hải và xã hội Mĩ Người được chính quyền Tokugawa giao trọng trách thống lĩnh chuyến đi này không ai khác là Katsu Kaishu

Hình 4: Katsu Kaishu (1823 – 1899)

(Hình chụp năm 1860 ở San Francisco)

Sau khi về Nhật Bản, Kaishu tiếp tục được bổ nhiệm các chức vụ quan trọng trong hải quân chính quyền Tokugawa Năm 1862, ông được cử giữ chức phó tổng tư lệnh hải quân Tokugawa và một năm sau đó, năm 1863, ông thành lập trường hải quân Kobe cùng với sự giúp sức của Sakamoto Ryoma Trong quá trình giữ các chức vụ quan trọng trong hải quân Tokugawa Bakufu, Kaishu đã có những định hướng và đóng góp quan trọng cho chính sách biển đảo của chính quyền Tokugawa, ông cùng với đồng sự Sakamoto Ryoma đã lên nhiều kế hoạch lâu dài để nâng cao sức mạnh hải quân Nhật Bản Trong

đó quan trọng nhất là chủ trương “Nhất Đại Cộng Hữu Hải Cục”, xây dựng

Trang 21

hải quân vừa để đối phó với các thế lực ngoại bang vừa để phòng thủ toàn Nhật Bản, tạo nên liên minh trên biển giữa Nhật Bản, Triều Tiên và Trung Quốc cùng chống lại mối đe dọa phương Tây

Hình 5: Trường Huấn luyện Hải quân Kobe (1863)

Đến năm 1863, sau khi mở cửa đất nước không đầy 10 năm, Nhật Bản

đã có thể đóng chiếc tàu chiến hơi nước đầu tiên ở trong nước, đó là chiếc pháo hạm Chiyodagata (千代田形Thiên Đại Điền Hình)

Hình 6: Chiếc tàu chiến chân vịt chạy hơi

nước đầu tiên của Nhật Kanrin Maru

(咸臨丸 Hàm Lâm Hoàn) hoàn thành năm

1857

Hình 7: Pháo hạm Chiyodagata

(千代田形Thiên Đại Điền Hình) – Chiếc tàu chiến hơi nước đầu tiên của Nhật Bản đóng trong nước năm

1863

Năm 1859, Trung tâm huấn luyện hải quân được chuyển từ Nagasaki đến Tsukiji ở Edo Học viên hải quân không chỉ học trong nước mà còn được gửi đi tu nghiệp ở các trường hải quân phương Tây vài năm nhằm nâng cao

Trang 22

năng lực và sau đó thành truyền thống các lãnh đạo hải quân tương lai đi du học ở nước ngoài, trong số đó có Đô đốc Takeaki Enomoto (học ở Hà Lan từ

1862 đến 1867), sau này có các Đô đốc Togo Heihachiro, Yamamoto Isoroku

Bên cạnh gửi người ra nước ngoài học về hải quân chính quyền Tokugawa còn mời chuyên gia quân sự nước ngoài đến Nhật để hiện đại hóa hải quân Năm 1865, kỹ sư hải quân người Pháp Léonce Verny và kĩ sư hải quân Ohaps được thuê để đóng kho vũ khí hải quân hiện đại đầu tiên

ở Yokosuka và Nagasaki, một đoàn sứ thần quân sự Pháp được thành lập để giúp hiện đại hóa quân đội Mạc phủ Tokugawa Cũng liên quan đến chính sách thuê chuyên gia quân sự, trong các năm 1867 – 1868, một phái đoàn hải quân Anh do thuyền trưởng Tracey dẫn đầu được gửi đến Nhật để giúp phát triển hải quân và tổ chức trường hải quân ở Tsukiji Cho đến lúc Mạc phủ Tokugawa sụp đổ năm 1867, Hải quân Nhật Bản của chính quyền Bakufu đã

tổ chức được Hạm đội với 8 tàu chiến kiểu phương Tây ở xung quanh kỳ hạm Kaiyō Maru (開陽丸Khai Dương Hoàn) và là hạm đội lớn nhất khu vực

Đông Á

Tuy nhiên việc kí kết hiệp ước với Mĩ và phương Tây đã chứng tỏ sự bất lực của chính quyền Tokugawa trước sức mạnh phương Tây và gây ra một làn sóng phản đối mạnh mẽ từ trong nước Từ đây phong trào “Tôn Vương Nhương Di” (ủng hộ Thiên hoàng, chống lại ngoại bang) phát triển mạnh mẽ Tuy nhiên mỗi Han có phương thức hoạt động riêng, điều này một mặt vừa làm cho chính quyền Bakufu yếu đi vừa đồng thời làm nội bộ Nhật Bản lộn xộn, đặt Nhật Bản trước nguy cơ xâm lược

Sau sự kiện Shimonoseki (sự kiện các Han ở Tây – Nam, đại diện là Choshu bắn phá tàu thuyền nước ngoài và các lực lượng phương Tây lấy cớ này tấn công các Han Tây – Nam), các Han Tây – Nam đã thay đổi tư tưởng

“nhương di”, thay đổi lập trường chống phương Tây mà thay vào đó là dựa vào phương Tây để hiện đại hóa lực lượng quân đội, đặc biệt là hải quân, tăng

Trang 23

cường sức mạnh tàu thuyền chống lại phương Tây Bên cạnh đó, trước sự ngày càng lớn mạnh của các Han Tây – Nam, chính quyền Tokugawa cũng cảm thấy cần phải dựa vào Pháp để tăng cường sức mạnh quân sự nên đã nhượng bộ Pháp nhiều vấn đề Chính sách thỏa hiệp với thực dân Pháp đã đặt Nhật Bản trước nguy cơ có thể trở thành thuộc địa của Pháp Đến lúc này chính quyền Mạc Phủ Tokugawa đã trở thành vật cản đối với phát triển đất nước Vì thế để cùng một lúc có thể bảo vệ độc lập dân tộc vừa có thể duy tân

tự cường, phát triển đất nước không có con đường nào khác là phải lật đổ chính quyền Tokugawa Các lực lượng trong nước đã nổi lên chính thức chống lại Mạc Phủ, chuyển từ tư tưởng “Tôn vương nhương di” thành “Tôn vương đảo Mạc”, từng bước giành lại quyền lực về tay Thiên hoàng, tạo tiền

đề cho công cuộc Minh Trị Duy tân diễn ra tiếp sau đó

Với đặc điểm quốc gia là một đảo quốc nên Nhật Bản có truyền thống

đi biển và phát triển hàng hải, thủy binh từ lâu đời Chính quyền Nhật Bản các thời kì bằng nhiều hình thức luôn tăng cường các hoạt động huấn luyện thủy binh, phát triển giao thương bằng đường biển Đến thời Tokugawa, do ảnh hưởng của chính sách “tỏa quốc” nên các hoạt động giao thương trên biển hầu như bị đình trệ và chỉ khi các lực lượng phương Tây với trang bị hiện đại xâm nhập vào Nhật Bản thì các hoạt động hướng biển và chính sách biển đảo mới được chú trọng trở lại Tiếp thu ý kiến của các nhân vật thức thời và có kiến thức về hàng hải, hải quân, chính quyền Mạc Phủ Tokugawa

đã tiến hành nhiều biện pháp tăng cường sức mạnh hải quân, học tập công nghệ phương Tây đóng tàu lớn, thành lập trung tâm huấn luyện hải quân…

Đó là những nền tảng cần thiết để chính quyền Minh Trị sau khi lên nắm quyền tiếp tục kế thừa, phát huy nhằm xây dựng và thực thi chính sách biển đảo

Trang 24

3 Công cuộc Minh Trị Duy tân

Ngày 3 tháng 1 năm 1868, chính quyền mới của Thiên Hoàng được thành lập, mở đầu một thời kì mới, một thời kì huy hoàng của lịch sử Nhật Bản – thời kì Minh Trị (1868 – 1912) Sau khi nắm chính quyền, Thiên hoàng Minh Trị tiến hành hàng loạt các cải cách trên một bình diện rộng lớn chính trị, kinh tế, quốc phòng, văn hóa giáo dục… mà lịch sử gọi là cải cách Minh Trị, và thời kì này gọi là thời kì Minh Trị Duy Tân

Hình 8: Thiên Hoàng Minh Trị

Những cải cách của chính phủ Minh Trị đề ra và thực hiện đã thu được nhiều thành tựu Để đào tạo nhân tài cho sự nghiệp duy tân, năm 1871, nhà nước thành lập Bộ Giáo dục để quản lý và phát triển giáo dục trong cả nước

Năm 1872 ban hành Học chế, học tập hệ thống giáo dục của Pháp, lập nhiều

khu Đại học, Trung học và Tiểu học khắp cả nước Nhờ chính sách này cả nước Nhật Bản thời đó tất cả có 8 khu đại học, mỗi khu đại học có 32 khu trung học, mỗi khu trung học có 210 khu tiểu học Không những thể, chính phủ cũng cải cách căn bản nội dung, phương pháp giảng dạy và học tập,

chuyển từ hư học sang thực học và đưa các bộ môn khoa học tự nhiên vào

giáo dục Song song đó là cho phép mời chuyên gia phương Tây đến Nhật để

Trang 25

giảng dạy và quản lý giáo dục Chính phủ thực hiện khuyến học rộng rãi, mở rộng hệ thống trường tư, thành lập các trường đại học đầu tiên ở Nhật Bản theo kiểu đại học phương Tây để đào tạo nhân tài cho đất nước

Xác định kinh tế là yếu tố tối quan trọng để phát triển đất nước nên chính quyền Minh Trị đã thực hiện các biện pháp cải cách kinh tế hết sức triệt

để, trước hết là các chính sách cải cách ruộng đất, thủ tiêu sở hữu ruộng đất có tính chất phong kiến của tầng lớp võ sĩ Năm 1873, chính phủ ra sắc lệnh thừa nhận chủ quyền thực tế về ruộng đất, có quyền mua bán ruộng đất, thống nhất thu thuế trong cả nước, quy định đóng thuế bằng tiền Bên cạnh đó, nhà nước cũng không quên chú trọng phát triển công nghiệp, trong đó chú ý ngành sợi

tơ tằm xuất khẩu, khuyến khích Hoa tộc và Sĩ tộc tham gia vào việc phát triển công nghiệp, tập trung xây dựng ngành đóng tàu và hệ thống giao thông hiện đại, sớm phát triển ngành bưu chính, thông tin Ngoài ra, Nhật Bản cũng chú trọng nhập khẩu máy móc và chuyên gia nước ngoài, khuyến khích đưa thanh niên Nhật Bản ra nước ngoài học tập

Chính phủ Minh Trị xem xét lại các đạo luật cũ có từ thời Tokugawa để hình thành một hệ thống thống nhất chung trong cả nước, thành lập các tòa án

tư pháp theo mô hình các nước tư sản phương Tây

Trên lĩnh vực tài chính – tiền tệ, nhà nước áp dụng các biện pháp tăng thu thuế bằng tiền, phát hành đồng yên chính thức và thiết lập ngân hàng, khuyến khích các tầng lớp cao trong xã hội tham gia vào hoạt động này Sớm hình thành các tập đoàn kinh tế lớn như Mitsubishi và Mitsui… Đối với bên ngoài thì không ngừng đẩy mạnh hoạt động ngoại thương với châu Á và phương Tây

Trong thời kì Minh Trị Duy Tân, chính quyền Minh Trị với chủ trương tiếp thu văn minh phương Tây để hiện đại hóa đất nước, tức là “học hỏi Tây phương, bắt kịp Tây phương, vượt qua Tây phương” nên cổ vũ dân chúng thực hiện phong trào văn minh khai hóa, học tập cách ăn, mặc, ở theo kiểu phương Tây và thực tế là một phong trào Âu hóa đã lan tràn mọi nơi trên đất

Trang 26

nước Nhật Bản Mấu chốt chung của các cải cách là học hỏi kĩ thuật phương Tây kết hợp với truyền thống của Nhật Bản (chủ trương “Wakon Yosai” –

和魂洋才 Hòa Hồn Dương Tài – tức Hồn Nhật Bản với phương thức Tây

Dương) Những năm đầu thời Minh Trị đã có rất nhiều thay đổi to lớn trong đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân Nhật Bản

Minh Trị Duy tân đã tạo thời cơ cho chính phủ Minh Trị thực hiện các cải cách toàn diện ở nhiều lĩnh vực nói chung và chính sách biển đảo nói riêng Trên cơ sở học hỏi nền kĩ thuật phương Tây để tiến hành cận đại hóa Nhật Bản, chính phủ Minh Trị đã xây dựng chính sách về biển đảo và tích cực thực thi chính sách ấy

Chính sách biển đảo là một bộ phận nằm trong chuỗi các cải cách duy tân của chính phủ Minh Trị nên ngày càng được chú trọng xây dựng, đổi mới

để ngày càng hoàn thiện hơn và phù hợp với từng giai đoạn

Bên cạnh đó, chính sách biển đảo được thực hiện đồng bộ cùng các

chính sách ở các lĩnh vực khác nên có điều kiện hỗ trợ qua lại lẫn nhau, khi một chính sách ở một lĩnh vực nào đó được thực thi sẽ càng thúc đẩy chính sách biển đảo phát huy hiệu quả, chính điều đó đã mang đến môi trường thuận lợi để chính sách biển đảo có điều kiện phát huy sức mạnh và đem lại những kết quả khả quan

Trang 27

CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH BIỂN ĐẢO VÀ QUÁ TRÌNH TRIỂN

KHAI CHÍNH SÁCH BIỂN ĐẢO THỜI MINH TRỊ

(1868 – 1912)

1 Sakamoto Ryoma – người khởi xướng cho chính sách biển đảo thời Minh Trị

1.1 Tiểu sử Sakamoto Ryoma

Sakamoto Ryoma (坂本竜馬 Phản Bản Long Mã) sinh ngày 15 tháng 11 năm 1835, mất ngày 15 tháng 11 năm 1867 (khi 32 tuổi) Gia đình ông có truyền thống làm rượu sake, điều kiện kinh tế khá giả và mua được chức danh hương sĩ

Hình 9 : Sakamoto Ryoma

(1835 – 1867)

Năm 12 tuổi, Sakamoto theo học trường tư thục Kusuyama, nửa năm sau ông nghỉ học và từ đó đến trước năm 18 tuổi ông theo học binh pháp của trường phái kiếm thuật Okuri Masanobu Nhờ đó đến khi trưởng thành ông đã rất xuất sắc về kiếm thuật Năm 1853, Sakamoto lên Edo với tư cách một kiếm khách Năm này cũng là năm Perry và hạm đội của mình đến Nhật Bản đòi Nhật “mở cửa” sau một thời gian dài phong tỏa nên chính tại đây Sakamoto đã tiếp thu chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng “Tôn Vương Nhương Di” Tuy nhiên tư tưởng “Nhương di” của ông đã lần đầu tiên bị lung lay sau khi

Trang 28

gặp gỡ nhân vật Kawada Shoryu trong bối cảnh các chí sĩ trong nước chia rẽ thành hai phái “Nhương di” và “Khai quốc” sau sự kiện chính quyền Tokugawa kí với Mĩ hiệp ước “Nhật – Mĩ hòa thân điều ước”

Khi là một Ronin, tư tưởng “Tôn Vương Nhương Di” bằng phương pháp dùng vũ lực của Sakamoto rất mạnh mẽ Ông từng muốn ám sát Katsu Kaishu (khi đó là chỉ huy của quân đội Tokugawa và là nhân vật xông xáo của phái “Khai quốc”) Tuy nhiên Sakamoto đã được Katsu Kaishu thuyết phục, ông trở thành học trò của Kaishu và cùng Kaishu thành lập trường Huấn luyện hải quân Kobe (1863), chính Sakamoto cũng theo học trường này và trở thành thủ lĩnh ở đây Trong vòng một năm rưỡi được huấn luyện ở trường Hải quân Kobe, Sakamoto đã học tập được nhiều kĩ thuật về hàng hải, về chiến thuật hải quân và công nghệ vũ khí phương Tây… Trong thời gian hoạt động ở Nagasaki, ông đã thành lập nên công ti Kameyama Shachu chính là tiền thân của Đội hải viện sau này – mẫu hình tổ chức về kinh tế, quân sự được chính quyền Minh Trị kế thừa và xây dựng các công ti vận tải biển khi tiến hành duy tân

Sakamoto được coi là “Thần tổ của Hải quân Nhật Bản”, tượng của ông được dựng ở thành phố Kochi hướng ra biển, phóng tầm nhìn rộng lớn ra Thái Bình Dương Cuộc đời Sakamoto tuy ngắn ngủi và ông không được chứng kiến những thành quả của công cuộc Duy tân nhưng những hoạt động không ngừng nghỉ và đóng góp của ông cho sự nghiệp duy tân vô cùng to lớn và quan trọng Đặt biệt những tư tưởng của ông về chủ quyền biển đảo, xây dựng lực lượng hải quân hay việc thành lập các công ty vận tải biển dưới hình thức bán quân sự được chính quyền mới đánh giá cao, kế thừa và vận dụng trong các chính sách của mình

1.2 Tư tưởng về biển đảo của Sakamoto

“Thuyền trung bát sách”

Để giúp cho việc giành lại quyền lực của Thiên hoàng một cách hòa bình và làm cơ sở xây dựng một nước Nhật Bản mới, Sakamoto đã vạch ra

Trang 29

những điểm cơ bản trong “Thuyền trung bát sách” (8 sách lược được viết trên thuyền) Bản sách lược này được Sakamoto viết cùng với Goto Shojiro khi đi trên biển từ Edo xuống Nagasaki vào năm 1867 Nội dung của bản sách lược

 Nên mở rộng và phát triển lực lượng hải quân hùng mạnh

 Nên thiết lập lực lượng bảo vệ hoàng gia để bảo vệ thủ đô

 Giá trị hàng hóa và tiền nên theo tỉ giá của nước ngoài.4

“Thuyền trung bát sách” chứa đựng nhiều nội dung mà sau này được xem là nền tảng của “Năm lời thề nguyện” của chính quyền Minh Trị5 Đặc biệt nó cũng chứa nhiều nội dung (như nội dung 4 và 6) về đề xuất ý kiến cho việc xây dựng và thực thi chính sách biển đảo sau này

4

Đàm Ngọc Thi (2008), Sakamoto Ryoma – Người đặt phương châm đầu tiên cho Minh Trị Duy

tân, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh, tr.28 –

29

5

Nội dung của “Năm lời thề nguyện” được Thiên hoàng Minh Trị công bố vào ngày 8 tháng 4 năm

1868 là : Thiết lập quốc hội, lấy ý kiến rộng rãi của nhân dân; Tất cả mọi người phải đồng lòng hoạt động vì lợi ích quốc gia; Tất cả mọi người đều được phép thể hiện nguyện vọng và phát huy tài năng; Bãi bỏ những tập quán xấu, mọi việc đều làm theo đúng pháp luật; Phải thu lượm những kiến thức của thế giới để phát triển đất nước.

Trang 30

Về chính sách biển đảo, điều 4 của bản sách lược đã nói lên được thực trạng Nhật Bản lúc bấy giờ cũng như mong mỏi của Sakamoto Nhật Bản bấy giờ vẫn nằm trong tình thế bị chi phối với quốc tế bởi các hiệp ước bất bình đẳng mà chính quyền Tokugawa đã kí với các cường quốc phương Tây trước kia Do đó muốn thoát khỏi tình trạng này thì phải thực hiện cải cách mở cửa, đấu tranh đòi xóa bỏ các hiệp ước, song song đó là các biện pháp đều tay khác

về ngoại thương, đầu tư cho quân sự, lấy sức mạnh quân sự tạo áp lực nâng cao vị thế của Nhật Bản Chủ trương này đã được các nhà ngoại giao của chính quyền Minh Trị kế thừa và thực hiện Sách lược này cũng thể hiện rõ qua chủ trương và đường lối đối ngoại của chính phủ mới khi tiến hành Duy

tân – một mắt xích của chính sách biển đảo là Tích cực hội nhập quốc tế, xác

lập vị thế quốc gia trong khu vực và thế giới

Điều 6 của bản sách lược cũng được chính quyền Minh Trị xem xét để

làm nền tảng một trong các nội dung của chính sách biển đảo là tiến hành Cải

cách quân sự – hướng trọng điểm vào Hải quân Nhật Bản là một quần đảo

được vây quanh bốn phía là biển Tuy vậy dưới lệnh bế quan tỏa cảng dưới thời Bakufu, thuyền nước ngoài không được đến Nhật, trong nước cấm chế tạo thuyền lớn nên chỉ thấy thuyền nhỏ Sự kiện hạm đội Perry đến Nhật đòi

mở cửa là đòn đánh mạnh vào tâm lý của người Nhật, lúc này biểu trưng cho sức mạnh phương Tây khiến Nhật Bản lo sợ chính là hạm đội tàu chiến hùng mạnh, được trang bị hiện đại Sakamoto cùng với người thầy của mình là Katsu Kaishu đã sớm thức tỉnh và nhận thấy sự tối cần thiết của một hạm đội

đủ mạnh để đương đầu với sức mạnh đội tàu phương Tây Sakamoto đã cụ thể hóa nó bằng việc xây dựng công ty Kameyama Shachu, sau này tổ chức lại thành Kaientai (海援隊 Hải Viện Đội) Khi tiến hành duy tân cận đại hóa đất

nước, chính phủ mới đã chú ý nâng cao sức mạnh quân đội, hướng trọng tâm vào Hải quân; và cải cách quân đội là một trong ba đại cải cách lớn của chính phủ Minh Trị khi đó cùng với cải cách ruộng đất và cải cách giáo dục Chiến thắng liên tiếp của Nhật Bản trước các lực lượng hùng mạnh khác trong các

Trang 31

cuộc viễn chinh sau đó đã chứng tỏ bước đi của chính phủ mới khi kế thừa tư tưởng của Sakamoto về hải quân là đúng đắn

“Thuyền trung bát sách” của Sakamoto chứa đựng những tư tưởng nền móng cho việc hoạch định chính sách biển đảo của chính phủ Minh Trị Bản sách lược này của Sakamoto đã thể hiện tầm nhìn rộng lớn của một nhà kinh

tế và quân sự Nội dung sách lược là cơ sở cho chính phủ mới của Thiên hoàng Minh Trị xây dựng nên chính sách biển đảo khi tiến hành công cuộc Duy tân Cụ thể nhất là dựa trên điều 4 để làm cơ sở vạch ra đường lối đối ngoại, tiến hành mở cửa, tăng cường hợp tác quốc tế, vận động sửa đổi hiệp ước bất bình đẳng, kí kết các hiệp ước kinh tế thương mại…; dựa theo điều 6 của bản sách lược, chính phủ đã xây dựng sách lược Cải cách quân sự, tập trung mở rộng Hải quân theo hướng chính qui, hiện đại

“Thuyền trung bát sách” không những đã phác thảo nên những việc cần phải làm ngay cho chính sách biển đảo mà cho cả công cuộc Duy tân sau này… Những đề xuất và kiến nghị của Sakamoto trong “Thuyền trung bát sách” đề cập đến tất cả các vấn đề khi tiến hành xây dựng một nhà nước mới (chính trị, kinh tế, quốc phòng, ngoại giao…) Nó đã tạo nên những nền tảng

cơ bản nhất cho những cải cách về xã hội, quân đội, kinh tế, tài chính, quốc phòng, đối ngoại của chính quyền Minh Trị Sakamoto kết thúc “Thuyền

trung bát sách” với những lời tâm huyết: “Nếu quan sát tình hình thế giới hiện tại thì không có gì khẩn cấp bằng thuyền trung bát điều này Nếu các điều trên được thi hành thì có thể phục hưng triều đình, mở rộng quốc thể, tiến lên sánh vai cùng các nước Âu Mĩ Tôi mong muốn quốc dân đồng lòng thực hiện duy tân, dựa trên suy nghĩ anh minh mà đưa ra phán quyết đúng đắn”

Đội Hải viện Kaientai

Khi còn là Ronin, Sakamoto vẫn còn mang nặng tư tưởng “Tôn Vương nhương di” Ông quyết định ám sát Katsu Kaishu – một nhân vật quan trọng của phái khai quốc, lúc này đang giữ chức tổng chỉ huy quân đội Bakufu Tuy

Trang 32

nhiên Sakamoto đã được Katsu Kaishu thuyết phục về sự vô ích khi chiến đấu chống sức mạnh phương Tây, về tình thế của nước Nhật hiện tại cũng như sự cần thiết của việc tăng cường binh lực Nhật Bản Tư tưởng của Kaishu là

“Nhất Đại Cộng Hữu Hải Cục” (一大共有の海局), tức là xây dựng được lực

lượng hải quân hùng mạnh để đối phó với thế lực các han chống bakufu và phòng thủ chung cho toàn Nhật Bản chống lại các thế lực bên ngoài Theo đó, Kaishu với tầm nhìn chiến lược về hải quân cũng như lí luận khuếch trương mậu dịch ngoại thương đã thuyết phục được Sakamoto cùng hoạt động xây dựng căn cứ hải quân ở Kobe, ở Tsushima kết hợp với xây căn cứ ở Pusan (Triều Tiên) và Thiên Tân (Trung Quốc), tiến tới thành lập một liên minh quân sự trên biển giữa ba lực lượng Tokugawa, nhà Lý (Triều Tiên) và nhà Thanh (Trung Quốc) để chống lại nguy cơ hải quân Mĩ Từ đó Sakamoto đã hợp sức cùng với Kaishu phối hợp xây dựng trường huấn luyện hải quân ở Kobe Ông cũng theo học trường hải quân của Kaishu Tại đây ông học được những kĩ thuật về hàng hải và quân sự Sau khi trở thành thủ lĩnh ở đây Sakamoto đã chiêu dụ thêm nhiều bạn bè của ông theo học

Sau sự kiện Shimonoseki6, Sakamoto mất đi sự hậu thuẫn của Kaishu, ông đến Satsuma han và tập hợp những người bạn thân từ thời học chung ở trường huấn luyện Kobe, thành lập nên một tổ chức có tên gọi là Kameyama – Shachu (亀山社中) ở Nagasaki Mục tiêu của Kameyama Shachu là dựa vào lực

lượng tàu thuyền của Han Satsuma để thực hiện mậu dịch, buôn bán vũ khí và sản vật Sau này do nhiều biến cố, Sakamoto đã tổ chức lại Kameyama Shachu thành Đội hải viện Kaientai, vừa mang hình thức một công ty mậu dịch hàng hải, vừa là một tổ chức chính trị quân sự Kaientai có những qui tắc hoạt động chặt chẽ thể hiện tính chất trên và đội trưởng nắm toàn quyền chỉ đạo không ai khác hơn là Sakamoto

5 qui tắc cơ bản của Kaientai:

6

Sự kiện Han Choshu bắn thuyền nước ngoài, dẫn đến việc liên quân 4 nước Mĩ, Anh, Pháp, Hà Lan liên minh với nhau công kích Han Choshu

Trang 33

 Những người của Tosa Han hay những người ở Han khác nhưng đã rời Han, người có chí khí học tập nước ngoài thì được vào đội Mục đích của đội là vận tải, khai thác, đầu tư, thương nghiệp và được Han ủng hộ Việc tuyển chọn thành viên không coi trọng xuất thân mà tùy theo chí khí để tuyển chọn

 Chuyện của đội là do đội trưởng quyết định, không thể không tuân theo Nếu làm loạn trật tự do bạo động hay gây phiền phức cho Han thì đội trưởng có quyền ban án tử

 Đội viên trong những lúc bệnh tật phải giúp đỡ lẫn nhau, lúc khó khăn phải hiệp lực với nhau Nỗ lực không gây phiền phức cho bạn bè bằng quyết định cá nhân, không được áp đặt ý kiến lên người khác

 Các thành viên phải nỗ lực học tập ngoại ngữ, luật pháp, hỏa binh, hàng hải, cơ khí…

 Phí vận hành các hoạt động sẽ được phân bổ đều dựa trên lợi nhuận thu được từ mậu dịch, buôn bán Tuy nhiên, trong trường hợp học phí hay phí đầu tư cho các sự nghiệp không đủ thì đội trưởng sẽ lên xin trợ giúp từ đại diện Tosa Han ở Nagasaki.7

Mô hình và cách thức hoạt động của Kaientai vừa mang màu sắc của một công ty hoạt động kinh doanh vận tải biển vừa có những đặc điểm của một tổ chức quân sự, điều đó phần nào thể hiện tư duy kinh tế và tầm nhìn quân sự chiến lược của Sakamoto Mô hình của Kaientai là mẫu hình hoạt động được chính phủ mới khi tiến hành Duy tân áp dụng cho nhiều công ti vận tải biển, bên cạnh đó những qui tắc của Kaientai cũng được kế thừa triệt

để và cụ thể hóa bằng những biện pháp khi thực thi chính sách biển đảo

Khi tiến hành Duy tân, Kaientai do nhiều nguyên nhân đã bị giải tán nhưng mẫu hình này vẫn được các chí sĩ Tosa Han như Goto Shojiro phát triển thành “Tosa thương hội”, Iwasaki Yataro (dưới sự đầu tư của chính

7

Đàm Ngọc Thi (2008), Sakamoto Ryoma – Người đặt phương châm đầu tiên cho Minh Trị Duy

tân, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh, tr.42.

Trang 34

quyền Minh Trị mà hậu thuẫn trực tiếp là Bộ trưởng tài chính Okuma Shigenobu) đã thành lập Công ti vận tải biển Mitsubishi Đây là hiện thân của Kaientai trong thời đại Duy tân, có đóng góp to lớn vào toàn bộ chính sách biển đảo và kinh tế như phát triển đội tàu vận tải, mở rộng mậu dịch quốc tế, xây dựng tuyến đường liên lạc trên biển và khi cần vẫn có thể huy động đội tàu cho quân đội (hải quân) của chính phủ…

Chính phủ mới đã vận dụng các qui tắc khắc khe của Kaientai vào từng biện pháp cụ thể của chính sách biển đảo Chính phủ chú trọng đầu tư phát triển kinh tế biển dựa qui tắc thứ nhất của Đội hải viện, tạo điều kiện phát triển công nghiệp đóng tàu tư nhân, kết hợp đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng dọc theo đường biển, thành lập các đội thương thuyền vươn khơi xa và đẩy mạnh hoạt động thương nghiệp hướng biển từ các hải cảng

Các thành viên đa số xuất thân từ trường huấn luyện hải quân Kobe, khi tiến hành Duy tân đây là những nòng cốt để xây dựng lực lượng hải quân chính qui hiện tại Hải quân mới được chính phủ Minh Trị đào tạo chính qui,

kỉ luật chặt chẽ, không chỉ tinh thông hàng hải mà thực tế đã tiếp thu nắm bắt được những thành tựu kĩ thuật hải quân tiên tiến thế giới về đóng tàu, chế tạo

vũ khí, chiến thuật tác chiến và am hiểu luật pháp quốc tế… Điều này chính là

cụ thể hóa của những nội dung không nằm ngoài qui tắc 2, 3 và 4 của Đội hải viện do Sakamoto thành lập trước đây

Qui tắc 5 của Kaientai có thể coi là cách thức chi phối và quản lý các tập đoàn kinh tế, là chính sách quân sự kết hợp phát triển kinh tế biển giữa nhà nước và các thành phần kinh tế trong thời đại Minh Trị Trước đây, khi Kameyama Shachu được thành lập thì bảo trợ hoạt động là Satsuma Han, khi Sakamoto khôi phục lại Kameyama thành Kaientai thì được Tosa Han chống lưng hoạt động Đây là một hình thức giữa đầu tư cổ phần và chia lợi nhuận Vào thời Minh Trị, giữa nhà nước và các công ti, tập đoàn lớn đều có mối quan hệ khăng khít với nhau, dựa vào nhau cùng có lợi Thực tế là các công ti

Ngày đăng: 07/05/2021, 22:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w