1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

De on thi vao 10

80 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề De On Thi Vao 10
Tác giả Nguyễn Dữ
Trường học Trường Trung Học Cơ Sở
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Tài liệu ôn tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 161,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả đã diễn tả một cách cụ thể và gợi cảm những ấn tượng, cảm giác của người lái xe trên chiếc xe không kính. Điệp từ “ nhìn ” có tác dụng khẳng định tư thế , thái độ của ngời lín[r]

Trang 1

ÔN TẬP NGỮ VĂN 9:

I- Phần Văn :

1/ Phần truyện ký:

- Chuyện người con gâi Nam Xương :

Cađu1: Giôùi thieôu sô löôïc veă Nguyeên Döõ vaø taùc phaơm Truyeăn kì mán lúc.

TL: -Veă taùc giạ:

+Nguyeên Döõ soâng ôû theâ kư XVI,giai ñoán cheâ ñoô phong kieân ñang töø ñưnh cao cụa söï phaùt trieơn cuoâi theâ kư XV,baĩt

ñaău rôi vaøo tình tráng loán ly suy yeâu

+Nguyeên Döõ laø moôt daôt só tieđu bieơu,chư laøm quan moôt naím roăi caùo quan veă ôû aơn giöõ caùch soâng thanh cao ñeân trón ñôøi.Duøvaôy,qua taùc phaơm,ođng vaên toû ra quan tađm ñeân xaõ hoôi vaø con ngöôøi

-Veă taùc phaơm:

+Truyeăn kyø mán lúc goăm hai möôi truyeôn vieât baỉng chöõ HAÙN,theo loâi vaín bieăn ngaêu coù xen laên moôt soâ baøi thô.

+Nhađn vaôt chính trong caùc truyeôn laø phú nöõ coù phaơm chaât toât ñép,khao khaùt hánh phuùc löùa ñođi nhöng gaịp nhieău baâthánh,nhöõng trí thöùc phong kieân soẫng ngoaøi voøng cöông toạ cụa leê giaùo

+Keât thuùc moêi taùc phaơm coù lôøi bình,baøn luaôn veă yù nghóa cađu chuyeôn (hieôn nay chöa xaùc ñònh ñöôïc lôøi bình cụa taùc giạhay cụa ngöôøi ñôøi sau theđm vaøo)

+Truyeăn kì mán lúc ñöôïc Vuõ Khađm Lađn ñôøi haôu Leđ khen laø”Thieđn coơ kì buùt”,”Chuyeôn ngöôøi con gaùi Nam xöông” laø

moôt trong hai möôi truyeôn tređn

Cađu 2:Trình baøy nhöõng hieơu bieđt cụa em veă giaù trò ngheô thuaôt cụa nhöõng ñoán ñođâi thoái vaø nhöõng lôøi töï bách trong “Chuyeôn ngöôøi con gaùi Nam Xöông” cụa Nguyeên Döõ?

TL:Giaù trò ngheô thuaôt cụa höõng ñoán ñoâi thoái vaø nhöõng lôøi töï bách trong “Chuyeôn ngöôøi con gaùi Nam Xöông” cụa

Nguyeên Döõ

Chuyeôn coù nhieău lôøi thoái vaø töï bách cụa nhađn vaôt,ñöôïc saĩp xeâp raât ñuùng choê laøm cho cađu chuyeôn

trôû neđn sinh ñoông hôn,goùp phaăn khođng nhoû vaøo vieôc khaĩc hoá quaù trình tađm lí vaø tính caùch nhađn vaôt(lôøi cụa baø méTröông Sinh laø cụa moôt ngöôøi nana haôu vaø töøng trại;lôøi cụa Vuõ Nöông bao giôø cuõng chađn thaôt,dòu daøng,meăm moûng coùtình, coù lyù,ngay cạ trong luùc töùc giaôn nhaât,laø lôøi cụa moôt ngöôøi phú nöõ hieăn thúc,neẫt na,trong traĩng,khođng coù gì khuaâttaât;lôøi cụa beù Ñạn hoăn nhieđn thaôt thaø)

Cađu 3:Toùm taĩt “Chuyeôn ngöôøi con gaùi Nam Xöông”.

TL:Xöa coù chaøng Tröông vöøa cöôùi vôï xong ñaõ ñaău quađn ñi lính deơ lái ngöôøi mé giaø vaø ngöôøi vôï trẹ laø Vuõ Thò Thieât, coøn

gói laø Vuõ Nöông,búng mang dá chöûa.Mé Töông Sinh oâm cheât Vuõ Nöông lo ma chay chu taât.Giaịc tan,Tröông Sinh trôû veănhaø,nghe lôøi con trai beøn nghi vôï mình khođng chung thuyû.Vuõ Nöông bò oan,thanh minh khođng ñöôïc,beøn gieo mình xuoângsođng Hoaøng Giang töï vaên.Sau khi vôï traăm mình töï saùt,moôt ñeđm Tröông Sinh cuøng con trai ngoăi beđn ñeøn,ñöùa con chưchieâc boùng tređn töôøng vaø noùi ñoù chính laø ngöôøi hay tôùi vôùi me ïñeđm ñeđm.Luùc ñoù Tröông Sinh môùi hieơu vôï mình bò oan.Phan Lang laø ngöôøi cuøng laøng vôùi Vuõ Nöông,do cöùu thaăn ruøa Linh Phi,vôï vua Nam Hại,neđn khi cháy nán,cheât ñuoâi ôûbieơn ñöôïc Linh Phi cöùu soâng ñeơ trạ ôn.Phan Lang gaịp Vuõ Nöông trong ñoông cụa Linh Phi.Hai ngöôøi nhaôn ra nhau.PhanLang trôû veă traăn gian,Vuõ Nöông gôûi chieẫc hoa vaøng cuøng lôøi nhaĩn vôùi Tröông Sinh.Tröông Sinh nghe Phan Langkeơ,thöông nhôù vôï vođ cuøng beøn laôp ñaøn giại oan tređn bôø Hoaøng Giang.Vuõ Nöông trôû veă”Ngoăi tređn kieôu hoa,ñöùng giöõadoøng…luùc aơn,luùc hieôn”

Cađu 4:Phađn tích taân bi kòch vaø vẹ ñép ngöôøi phú nöõ qua vaín bạn “Chuyeôn ngöôøi con gaùi Nam Xöông”

* Tích h ợ p (ti ế ng Vi ệ t)

1.Coù maây caùch daên lôøi noùi hay yù nghó cụa moôt ngöôøi,moôt nhađn vaôt?(2:daên tröïc tieâp,daên giaùn tieâp)

2.Theâ naøo laø daên tröïc tieâp?(Nhaĩc lái nguyeđn vaín lôøi noùi hay yù nghó cụa ngöôøi hoaịc nhađn vaôt vaø ñaịt lôøi noùi hay yù nghó ñoùvaøo trong daâu ngoaịc keùp)

3.Theâ naøo laø caùch daên giaùn tieâp?(Thuaôt lái lôøi noùi hay yù nghó cụa ngöôøi hoaịc nhađn vaôt vaø thay ñoơi caùc daâu cađu)

4.Lôøi trao ñoơi cụa nhađn vaôt trong taùc phaơm vaín hóc (nhaât laø vaín xuođi) thöôøng ñöôïc daên baỉng caùch naøo?(tröïc tieâp)

5.Daâu hieôu ñeơ nhaôn ra lôøi noùi cụa nhađn vaôt ñöôïc daên ra trong taùc phaơm vaín xuođi?(Thöôøng ñöôïc vieât taùch ra nhö kieơuvieât ñoán vaín;coù theđm daâu gách ngang ôû ñaău lôøi noùi.)

*Phđn tích tấn bi kịch vă vẻ đẹp người phụ nữ qua văn bản “Chuyện người con gâi Nam Xương” của Nguyễn Dữ.

Gợi ý băi lăm:

I Mở băi:

-Giới thiệu “Chuyện người con gâi

Nam Xương” –Nguyễn Dữ

-Nội dung của truyện

-Số phận của Vũ Nương lă một bi kịch thương tđm, Nguyễn Dữ đê dănh sự đồng cảm sđu

Trang 2

II-+Vũ Nương vừa có nhan sắc vừa

đảm đang, hiếu thảo

2-Phân tích bi kịch (nỗi oan của

Vũ Nương):

-Nỗi oan

-Ý nghĩa cái chết của Vũ Nương

(giá trị hiện thực, giá trị tố cáo)

+Vũ Nương vừa có nhan sắc vừa có đức hạnh: “tính tình thùy mị nết na, lại thêm có tư

dung tốt đẹp”.Nhờ vậy nên Trương Sinh, con nhà hào phú “mến vì dung hạnh” đã xin với

mẹ đem trăm lạng vàng cưới về

+Trong đạo vợ chồng, Vũ Nương là người vợ hết mực thương chồng và thủy chung

Biết chồng có tính “đa nghi” nàng đã“ giữ gìn khuôn phép” không để xảy ra cảnh vợ chồng phải “thất hòa” Sống giữa thời loạn lạc, Trương Sinh phải tòng quân đi chinh chiến

ở biên ải xa xôi Buổi tiễn chồng ra trận, Vũ Nương đã rót chén rượu đầy chúc chồng

“được hai chữ bình yên”; nàng chẳng mong được đeo ấn phong hầu mặc áo gấm trở về quê

cũ Ước mong của nàng thật bình dị, vì nàng coi trọng hạnh phúc gia đình hơn mọi công danh phù phiếm ở đời Những năm tháng xa cách, Vũ Nương thương nhớ chồng khôn kể

xiết : “ mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được” Tâm trạng nhớ thương đau buồn ấy của Vũ Nương cũng là tâm

trạng chung của những người chinh phụ trong mọi thời loạn lạc xưa nay:

Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời Trời thăm thẳm xa vời không thấu Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong

(Ching phụ ngâm) Thể hiện tâm trạng ấy, Nguyễn dữ vừa cảm thông với nỗi đau khổcủa Vũ Nương, vừa ca ngợi tấm lòng thủy chung thương nhớ đợi chờ chồng của nàng

+Vũ Nương là người phụ nữ đảm đang, hiếu thảo Chồng ra trận mới được một tuần thì

nàng sinh ra một đứa con trai đặt tên là Đản Mẹ chồng già yếu, ốm đau, nàng “hết sức thuốc thang”, “ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn” Vừa phụng dưỡng mẹ già, vừa chăm sóc nuôi dạy con thơ Lúc mẹ chồg qua đời, nàng đã “hết lời thương xót”, việc ma chay tế lễ được lo liệu, tổ chức rất chu đáo “như đối với cha mẹ đẻ mình” Qua đó, ta thấy trong Vũ

Nương cùng xuất hiện ba con người tốt đẹp: nàng dâu hiếu thảo, người vợ đảm đang

chung thủy, người mẹ hiền đôn hậu.Đó là hình ảnh người phụ nữ lí tưởng trong xã hội

phong kiến ngày xưa

-Cũng như bao nhiêu người phụ nữ ngày xưa, cuộc đời của Vũ Nương là những trang buồnđầy nước mắt.Sau ba năm đợi chờ, Trương Sinh đã bình yên trở về.Đay cũng là lúc đất bằng nổi sóng, bi kịch lại đến với nàng Trương Sinh trở về, con thơ vừa học nói Tưởng

rằng hạnh phúc sẽ mỉm cười với đôi vợ chồng trẻ Nhưng rồi chuyện “cái bóng” từ miệng đứa con thơ đã làm cho Trương Sinh ngờ vực, “đinh ninh là vợ hư, mối nghi ngờ ngày càng sâu,không có gì gỡ ra được” Vốn tính hay ghen lại gia trưởng , vũ phu, ít học hành

Trương Sinh đã đối xử với vợ hết sức tàn nhẫn Giấu biẹt lời con nói, Trương Sinh đã mắng nhiếc nàng và đánh đuổi đi Vợ phân trần, không tin; hàng xóm khuyên can cũng chẳng ăn thua gì cả! Chính chồng và con – những người thân yêu nhất của Vũ Nương đã

xô đấy nàng đến bên bờ vực thẳm Thời chién tranh loạn lạc, nàng đã trải qua những năm tháng cô đơn, giờ đay đứng trước nỗi oan, nàng chỉ biết nuốt nước mắt vào lòng Vũ Nương chỉ có một con đường để bảo toàn danh tiết : nhảy xuống sông Hoàng Giang tự tử Lời nguyền của nàng với trời và thần sông đã làm cho người đời xót xa đối với người con

gái “bạc mệnh duyên phận hẩm hiu” Vũ Nương không phải làm “làm mồi cho cá tôm”,

“làm cơm cho diều quạ”, không bị người đời phỉ nhổ mà nang đã được các nàng tiên trong

cung nứơc thương tình vì nàng vô tội, rẽ một đường nước cho nàng thoát chết Và cũng

chẳng bao lâu sau đó, Trương Sinh biết vợ mình chết oan chỉ vì chuyện “chiếc bóng” Nàng tuy được hầu hạ Linh Phi, nhưng hạnh phúc của nàng ở trần thế bị tan vỡ “trâm gãy bình rơi”,quyền làm mẹ , làm vợ của nàng vĩnh viễn không còn nữa Đó là nỗi đau đớn

nhất của ngườ phụ nữ

Nguyễn Dữ dã ghi lại câu chuỵện cảm động thươg tâm này với tất cả tấm lòng nhân đạo Cái chét đau thương của Vũ Nương có giá trị tố cáo hiện thực sâu sắc Nó lên án chiến tranh phong kiến đã làm cho đôi lứa phải li biệt, người vợ trẻ sống vất vả ,côđơn; lên án lễ giáo phong kiến khắt khe với tệ gia trưởng độc đoán, gây nên bi kịch gia đình, làm tan vỡ

hạnh phúc Vì lẽ đó mà “Chuyện người con gái Nam Xương” có giá trị nhân bản sâu sắc III- “Tryền kì mạn lục” là kiệt tác của nền văn học cổ Việt Nam, xứng đáng là “thiên cổ kì bút” Người đọc mãi mãi thương cảm Vũ Nương, thương cảm những người phụ nữ tài hoa bạc mênh “Chuyện người con gái Nam Xương” tố cáo hiện thực xã hội phong kiến Việt

Nam thế kỉ 16, nêu bật thân phận và hạnh phúc người phụ nữ trong bi kịch gia đình Gần

500 năm sau, “Chuyện người con gái Nam Xương” mà nỗi xót thương đối với số phận bi

thảm của người vợ, người mẹ như vẫn còn mãi trong ta

Trang 3

-CHUYỆN CŨ TRONG PHỦ CHÚA TRỊNH

(Trích Vũ trung tùy bút)

-Tùy bút nhằm ghi chép về những con người, những sự việc cụ thể, có thực qua đó tác giả bộc lộ những cảm xúc, suy nghĩ , nhận thức, đánh giá của mình về con người, về cuộc sống,…Sự ghi chép ở đây tùy theo cảm hứng chủ quan, có thể tản mạn, không cần gò bó theo hệ thống, tuy nhiên kết cấu vẫn tuân theo một tư tưởng chu ûđạo ( ở bài này là thái độ phê phán đối với thói ăn chơi xa xỉ và tệ nhũng nhiễu dân của bọn vua chúa và quan lại hầu cận) Tùy bút cổ

ở bài này có chất trữ tình kín đáo (đoạn dự báo về tình hình xã hội, đoạn than thở về hoàn cảnh của bản thân)

-HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ – Trích Hồi thứ mười bốn

Câu hỏi:

Cảm nhận về hình ảnh người anh hùng Nguyễn Huệ qua chiến công thàn tốc đại phá quân Thanh trong hồi 14 của

“Hoàng Lê nhất thống chí” ?

Trả lời:

+Đoạn trích hồi 14 trong “Hoàng Lê nhất thống chí” không chỉ ghi chép lại sự kiện lịch sử diễn biến gấp gáp qua từng mốc thời gian mà còn chú ý miêu tả hành động, lời nói của nhân vật, sự đối lập giữa hai đạo quân, đặc biệt là hình ảnh người anh hùng Quang Trung có tính cách quả cảm, mạnh mẽ có trí tuệ sáng suốt nhạy bén, có tài dụng binh như thần, người tổ chức và linh hồn của chiến công vĩ đại

+Khi nghe quân Thanh chiếm Thăng Long, Nguyễn Huệ định xuất quân ngay, nhưng lại dừng lại để lên ngôi hoàng đế Nguyễn Huệ đã biết nghe tướng sĩ dù đang cơn giận Ý kiến về việc lên ngôi, ân xá để lấy lòng người đã thuyết phục Nguyễn Huệ vì đó là ý kiến sáng suốt Nguyễn Huệ Đã thể hiện tính chất dan chủ của một vị tướng

+Nguyễn Huệ là người hành động là người có hành động quyết đoán : nghe giặc chiếm Thăng Long, Bắc Bình Vương

giận lắm, định thân chinh cầm quân đi ngay Trong vòng một tháng Bắc Bình Vương đã làm được bao nhiêu việc lớn: tế cáo trời đất, lên ngôi hoàng đế, đốc suất đại binh ra Bắc, gặp gỡ người cống sĩ ở huyện La Sơn, tuyển mộ quân lính và

mở duyệt binh lớn ở Nghệ An, phủ dụ tướng sĩ, định kế hoạch hành quân, đánh giặc và kế hoạch đối phó với nhà Thanh sau chiến thắng

+Nguyễn Huệ có trí sáng suốt, sâu xa, nhạy bén: Sáng suốt trong việc phân tích tình hình thời cuộc; đưa ra lời phủ dụ quân lính được xem như là bài hịch ngắn, gọn có tác động kích thích lòng yêu nước; xét đoán và dùng người tài trí qua việc xử trí các tướng sĩ ở Tam Điệp; hiểu sở trường, sở đoản của tướng sĩ, khen chê đúng người, đúng việc

+Trong chiến đấu , Nguyễn Huệ đã thể hiện ý chí quyết thắng và tầm nhìn xa rộng( tầm nhìn chiến lược): Mới khởi

binh, đã dám chắc phương lược tiến đánh đã có tính sẵn, tính cả kế hoạch ngoại giao sau khi chiến thắng đối với một nước lớn gấp mười nước mình.

+Xuất quân thần tốc :Ngày 25/12 ( tháng chạp) xuất quân từ Phú Xuân, ngày 29/12 (tháng chạp) đến Nghệ An vượt 350

km núi đèo, ngày 30/12 (tháng chạp) tuyển quân, duyệt binh ở Nghệ An và ra Tam Điệp (150km), đêm 30/12(tháng chạp) tiến ra Thăng Long đến ngày 5/1 (tháng giêng) ăn tết ở Thăng Long vượt kế hoạch 2 ngày Hành quân xa bằng chân (đi bộ), bằng cáng, võng liên tục như vậy nhưng quân lính vẫn chỉnh tề

+Hình Quang Trung trong chiến trận thật lẫm liệt: Quang Trung thân chinh cầm quân thể hiện một tổng chỉ huy thật sự

qua việc họach địnhphương lược tiến đánh, tự mình thống lĩnh một mũi quân, cưỡi voi đi đốc thúc, xông pha tên đạn, lãnh đạo đánh các trận thật đẹp,thắng áp đảo quân thù, tạo thế bất ngờ trong chiến đấu, công phá đồn Ngọc Hồi một

cách sáng tạo Hình ảnh của vua nổi bật trong trận Ngọc Hồi: khói tỏa mù trời, cách gang tấc không thấy gì, nhà vua cưỡi voi đi đốc thúc Hình ảnh Quang Trung ngổi trên bành voi, chiến bào đỏ đã sạm đen vì khói súng, dẫn đầu đoàn

tượng binh vào Thăng Long quả thật lẫm liệt oai hùng hiếm có trong lịch sử

+Hồi mười bốn là bức tranh sinh động về người anh hùng Nguyễn Huệ, vị vua văn võ song toàn chỉ huy tài tình cuộchành binh thần tốc tiêu diệt bọn xâm lược Mãn Thanh, làm thất bại âm mưu xâm lược của chúng

Trang 4

TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU

Đê: Hãy viế một bài văn thuyết minh ngắn giới thiệu về nhà thơ Nguyễn Du và giá trị tác phẩm “truyện Kiều”.

I- Mở bài:

-Giới thiệu khái quát về Nguyễn

Du (thiên tài văn học-“thi sĩ của

các thi sĩ”

-Giới thiệu truyện Kiều (tác

phẩm lớn của Nguyễn Du, đỉnh

cao của nghệ thuật thi ca tiếng

Việt).

II-Thân bài :

a/ Thuyết minh về cuộc đời và

sự nghiệp văn học của Nguyễn

Du:

-Thân thế: sinh mất, bút hiệu,

quê quán, gia đình

-Thời đại: đầy biến động

-Về cảnh đời :+Năng khiếu văn

học bâm sinh

+Trải qua mười

năm gió bụi => có vốn sống

I- Nguyễn Du được coi là một thiên tài văn học, một tác gia văn học

tài hoa và lỗi lạc nhất của văn học Việt Nam “thi sĩ của các nhà thi

sĩ” Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) là tác phẩm lớn nhất của ông, là đỉnh cao chói lọi nhất của nghệ thuật thơ ca tiếng Việt.

II-a/ Cuộc đời và sự nghiệp văn học của Nguyễn Du:

-Nguyễn Du (1765-1820) tên chữ là Tố Như,hiệu là Thanh Hiên;quê

ở làng Tiên Điền , huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; sinh trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống văn học Quê hương ông vẫn lưu truyền câu ca:

Bao giờ ngàn Hống hết cây Sông Lam hết nước , họ này hết quan.

Cuộc đời của Nguyễn Du gắn bó với những biến cố lịch sử của giai đoạn cuối thế kỷ XVIII đầu hế kỷ XĨ Đây là giai đoạn lịch sử đầy biến động với hai đặc điểm nổi bật : chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng , bão táp phong trào nông dân khởi nghĩa nổi lên khắp nơi, đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn.

Trong hoàn cảnh ấy, Nguyễn Du sống phiêu bạt nhiều năm trên đất

Bắc (1786-1796) “Ông trải qua mười năm gió bụi”, có lúc ốm đau

không có thuốc, mái tóc sớm bạc Năm 1802, Gia Long triệu Nguyễn

Du ra làm quan Ông được làm chánh sứ sang Trung Quốc 1914) Năm 1820, ông được cử làm chánh sứ lần thứ hai, nhưng chưa kịp đi ,ông đã mất.

Năng khiếu văn học bẩm sinh, vốn sống vô cùng phong phú, kết hợp với trái tim yêu thương vĩ đại đã tạo nên thiên tài Nguyễn Du

Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Du vô cùng rạng rỡ, để lại nhiều thơ chữ Hán và chữ Nôm:

Về chữ Hán có 3 tập thơ : Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục, Thanh Hiên thi tập.

Về chữ Nôm có Truyện Kiều, Văn chiêu hồn

b/ Truyện Kiều:

Nguyễn Du đã lấy cốt truyện từ “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh

Tâm Tài Nhân (Trung Quốc) mà sáng tạo ra truyện Kiều bằng thơ lục bát dài 3254 câu, đậm đà màu sắc dân tộc.

Giá trị nội dung và nghệ thuật:

Về nội dung: Truyện Kiều có hai giá trị lớn là giá trị hiện

thực và giá trị nhân đạo:

Giá trị hiện thực : Truyện Kiều là bức tranh hiện thực về một xã

hội bất công , tàn bạo.

Giá trị nhân đạo: Truyện Kiều là tiếng nói thương cảm trước số

phận bi kịch của con người, tiếng nói lên án, tố cáo những thế lực xấu

xa, tiếng nói khẳng định, đề cao tài năng, nhân phẩm và những khát vọng chân chính của con người như khát vọng về quyền sống, khát vọng tự do, công lý, khát vọng tình yêu, hạnh phúc.

Về nghệ thuật :

Truyện Kiều là kết tinh hành tựu nghệ thuật văn học dân tộc trên các phương diện ngôn ngữ, thể loại Với truyện Kiều, ngôn ngữ văn học

Trang 5

Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc, niềm tự hào của nhân dân ta, đất nước ta:

III-Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày

(Kính gửi cụ Nguyễn Du - Tố Hữu) Truyện Kiều là tập đại thành của ngơn ngữ văn học dân tộc.

Đoạn: CHỊ EM THÚY KIỀU (Trích truyện Kiều)

1 Qua đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” em có nhận xét gì về nghệ thuật tả người của Nguyễn Du ?

-Đoạn thơ miêu tả nhân vật theo bút pháp nghệ thuật ước lệ quen thuộc trong văn học cổ Nghĩa là sử dụng

những qui ước trong biểu hiện nghệ thuật như dùng hình tượng thiên nhiên đẹp: trăng , hoa , ngọc, tuyết,….để nói về vẻ

đẹp con người Để gợi lên vẻ đẹp duyên dáng, thanh cao, trong trắng của người thiếu nữ :

Mai cốt cách , tuyết tinh thần

Vẻ đẹp trang trọng, đoan trang của Thúy Vân được so sánh với hình tượng thiên nhiên, với những thứ cao đẹp trên đời: trăng, hoa, mây, tuyết, ngọc:

Vân xem trang trọng khác vời Khuơn trăng dầy dặn nét ngài nở nang Hoa cười ngọc thốt doan trang Mây thua nước tĩc tuyết nhường màu da

Gợi tả vẻ đẹp của Thúy Kiều, tác giả vẫn dùng những hình tượng ước lệ:

Làn thu thủy, nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm , liễu hờn kém xanh Hình ảnh ước lệ “làn thu thủy” – làn nước mùa thu gợn sóng gợi lên thật sống động vẻ đẹp của đôi mắt trong sáng, lonh lanh, linh hoạt,…Còn hình ảnh ước lệ “nét xuân sơn” – nét núi mùa xuân lại gợi lên đôi mày thanh tú trên giương mặt trẻ

trung

Cái tài của Nguyễn Du là tuy sử dụng bút pháp ước lệ nhưng chân dung hai chị em Thúy Vân, Thúy Kiều hiện lên

thật sinh động, đa dạng , “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”.

Khi miêu tả chân dung nhân vật là chân dung mang tính cách số phận Vẻ đẹp của Thúy Vân tạo sự hòa hợp,

êm đềm với xung quanh, “mây thua”, “tuyết nhường” nên nàng sẽ có cuộc đời bình lặng, suôn sẻ Còn vẻ đẹp của Thúy Kiều làm cho tạo hóa phải ghen ghét, các vẻ đẹp khác phải đố kị – “hoa ghen”, “liễu hờn” – nên số phận nang phải éo

le đau khổ

-Sự tinh tế của tác giả là khi miêu tả nhân vật Thúy Kiều, tác giả miêu tả chân dung Thúy Vân trước để làmnền nổi bật lên chân dung Thúy Kiều Có thể coi đây là thủ pháp nghệ thuạt đòn bẩy Nguyễn Du chỉ dành bốn câu đểgợi tả Vân, trong khi đó dành tới mười hai câu thơ để cực tả vẻ đẹp của Kiều Vẻ đẹp của Vân chủ yếu là ngoại hình,còn vẻ đẹp của Kiều là nhan sắc , tài năng , tâm hồn

Thúy Vân, Thúy Kiều là những nhân vật chính diện nên khi miêu tả tác giả chủ yếu tác giả dùng bút pháp ước lệ Vì

vẻ đẹp của hai chị em Kiều là vẻ đẹp lí tưởng nên Nguyễn Du đã dùng những khuôn mẫu, ước lệ để diễn tả vẻ đẹp vượt

ra ngoài, vượt lên trên khuôn mẫu của tuyệt sắc giai nhân

2-Em có nhận xét gì về cách sử dụng từ ngữ của Nguyễn Du trong việc miêu tả ngoại hình hai chị em Thuý Kiều ,cách miêu tả ấùy đã dự báo số phận của hai nhân vật như thế nào?

-“Chị em Thuý Kiều” là đoạn thơ miêu tả nhân vật vô cùng đặc sắc trong thơ trung đại, một trong những nét đặc sắc ấùylà việc sử dụng từ ngữ

+Miêu tả ngoại hình hai chị em Thuý Kiều , Nguyễn bút pháp ước lệ – truyền thống của văn học cổ điển, dùng hìnhtượng thiên nhiên đẹp : trăng, hoa, ngọc, tuyết, để nói về vẻ đẹp con người

+Cách sử dụng ngôn ngữ để miêu tả hai nhân vật có điểm khác Với Thuý Vân thì dùng “thua”, “nhường”:

Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da Còn Thuý Kiều thì dùng “ghen”, “hờn”:

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh

*Vẻ đẹp của Vân là vẻ đẹp đoan trang, phúc hậu, một vẻ đẹp mà thiên nhiên (mây,tuyết) cũng phải chịu thua, nhường!

Nhưng chỉ đến mức ấy thôi, nghĩa là ở trong vòng trời đất , vẫn trong qui luật tự nhiên Vẻ đẹp của Vân tạo sự hoà hợp,

êm đềm với xung quanh Vẻ đẹp này báo hiệu tính cách ,số phận cuộc đời sau này của Thuý Vân là một cuộc đời êm ả, bình lặng.

Trang 6

*Vẻ đẹp của Thuý Kiều là vẻ đẹp sắc sảo mặn mà, khác nhiều với vẻ đẹp trang trọng hiền hoà của Vân Một vẻ đẹp

đếùn độ “hoa ghen”, “liễu hờn” Điều đó chứng tỏ nhan sắc Thuý Kiều đã vượt ra ngoài khuôn khổ, ngoài tưởng tượng

,ngoài qui luật tự nhiên Thiên nhiên ,tạo hoá có sự ganh ghét , đố kị , báo hiệu một sự trả thù sau này của trời đất (thiên

nhiên)đối với số phậncủa Kiều Hai từ ghen hờn đã báo trước cuộc đời Kiều chắc sẽ trải qua nhiều tai ương , bất hạnh.

Trong miêu tả, Nguyễn Du đã dự cảm về thân phận mỗi người trong tương lai : Thuý Vân thì êm đềm phẳng lặêng, còn tương lai Thuý Kiều đầy sóng gió bất trắc.

3-Cảm nhận vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều trong đoạn “Vân xem trang trọng khác vời não nhân” ?

CẢNH NGÀY XUÂN (Đoạn thơ tả cảnh thiên nhiên)

1- Phân tích bức tranh cảnh thiên nhiên ở bốn câu thơ đầu trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân”?

“Cảnh ngày xuân” (Trích truyện Kiều - Nguyễn Du) là bức tranh thiên nhiên mùa xuân cùng với cảnh lễ hội xuân nhộn nhịp, tươi vui Trong dĩ, bốn câu đầu gợi tả khung cảnh mùa xuân :

Ngày xuân con én đưa thoi, Thiều quang chín chục đã ngồi sáu mươi.

Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bơng hoa.

Hai câu đầu:

Ngày xuân con én đưa thoi, Thiều quang chín chục đã ngồi sáu mươi gợi tả mùa xuân theo cách riêng Trước hết hình ảnh “con én đưa thoi”là hình ảnh ẩn dụ nhân hĩa vừa

gợi thời gian vừa gợi khơng gian, Hình ảnh chim én bay liêng trong bầu trời xuân ất nhanh như chiếc thoi chạy đi chạy lại trên khung dệt khơng những nêu lên nét đặc trưng của mùa xuân (mùa xuân chim

én về) mà cịn gợi thời gian trơi đi rất nhanh (như thoi đưa), ngày xuân , ngày vui trơi rất nhanh Cảm

giác nuối tiêc thời gian thống hiện ở câu thơ “Thiều quang chín chục đã ngồi sáu mươi” khi tác giả tả

ánh sáng đẹp của mùa xuân đã trải qua hơn sáu mươi ngày, đã hết tháng hai sang tháng ba Những số từ

“chín chục, ngồi sáu mươi” cùng với từ “đã” nĩi lên điều ấy Trong tháng cuối cùngcủa mùa xuân chim

én vẫn rộn ràng bay liệng giữa bầu trời trong sáng.

Hai câu thơ tiếp theo khơng hồn tồn là sáng tạo của Nguyễn Du Ơng đã tiếp thu và đổi mới từ hai câu thơ cổ Trung Quốc :

Phương thảo thiên liên bích

Lê chi sổ điểm hoa

( cỏ non liền với trời xanh, tên cành lê cĩ mấy bơng hoa)

So với hai câu thơ xưa, rõ ràng hai câu thơ của Nguyễn Du trở thành một bức họa tuyệt đẹp về mùa xuân:

Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bơng hoa.

Gam màu làm nền cho bưcs tranh xuân là thảm cỏ xanh non trải rộng tới chân trời Trên cái nền xanh dịu mát đĩ điểm xuyết một vài bơng hoa lê trắng Câu thơ cổ Trung Quốc chỉ nĩi cành lê điểm vài bơng

hoa mà khơng nĩi tới màu sắc của hoa lê Nguyễn Du chỉ thêm một chữ “trắng” cho hoa lê mà bức tranh xuân đã khác Trong câu thơ của Nguyễn Du , chữ trắng đã thành điểm nhấn, làm nổi bậc thần sắc

của hoa lê, của bức tranh Màu xanh của cỏ non và sắc trắng của hoa lê làm cho màu sắc cĩ sự hài hịa

tới mức tuyệt diệu Tất cả đều gợi lên vẻ đẹp riêng của mùa xuân: “cỏ non” mới mẻ, tinh khiết, giàu sức sống; “xanh tận chân trời” khống đạt trong trẻo; “trắng điểm một vài bơng hoa” thanh khiết Chữ

“điểm” làm cho cảnh vật trở nên sinh động, cĩ hồn chứ khơng tĩnh tại.

Màu trắng –xanh hài hịa gợi cảm giác mênh mơng mà khơng quạnh vắng, trong sáng mà tẻ trung, nhẹ nhàng mà thanh khiết Đúng là một bức họa tuyệt tác về cảnh ngày xuân trong sáng.

2- Hãy phân tích sáu câu cuối trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân”?

Sáu câu cuối trong đoạn thơ “Cảnh ngày xuân” ghi lại cảnh chị em Thúy Kiều đi chơi xuân đang dần bước trở về nhà Mặt trời đã “tà tà” gác núi Ngày hội ngày vui đã trơi qua nhanh:

Tà tà bĩng ngã về tây Chị em thơ thẩn dan tay ra về Bước dần theo ngọn tiểu khê Lần xem phong cảnh cĩ bề thanh thanh Nhịp thơ chậm rải.Nhịp sống như ngừng trơi Tâm tình thì “thơ thẩn”, cử chỉ thì “dan tay”, nhịp chân thì

“bước dần” Một cái nhìn man mác, bâng khuâng: “lần xem” đối với cảnh vật Tất cả đều nhỏ bé: khe

Trang 7

suối chỉ là “ngọn tiểu khê”, “dịp cầu nho nhỏ”; phong cảnh “thanh thanh”; dịng nước “nao nao” Cả

một khơng gian êm đềm , vắng lặng.Tâm tình chị em Kiều như dịu lại trong bĩng tà dương Như đang

đợi chờ một cái gì sẽ đến, sẽ nhìn thấy? Cặp mắt cứ “lần xem” gần xa:

Bước dần theo ngọn tiểu khê Lần xem phong cảnh cĩ bề thanh thanh Nao nao dịng nước uốn quanh Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang Tác giả đã sử dụng liên tiếp một loạt từ láy: “tà tà”, “thơ thẩn”, “thanh thanh”, “nao nao”,

việc dùng từ của thi nhân vừa chính xác vừa tinh tế , vừa cĩ tác dụng gợi nhiều cảm xúc cho người đọc Các từ láy vừa gợi tả được hình ảnh sự vật, vừa thể hiện tâm trạng con người.

Cảnh vẫn mang cái thanh , cái dịu của mùa xuân : nắng nhạt, khe nước nhỏ, một dịp cầu nhỏ bắc ngang Mọi chuyển động đều nhẹ nhàng : mặt trời từ từ ngã bĩng về tây, bước chân người thơ thẩn, dịng nước

uốn quanh; tất cả nhạt dần , lặng dần Cảnh ở đây được cảm nhận qua tâm trạng Những từ láy “tà tà”,

“thanh thanh”, “nao nao” khơng chỉ biểu đạt sắc thái cảnh vật mà cịn bộc lộ tâm trạng con người hai chữ “nao nao”(nao nao dịng nước uốn quanh) đã nhuốm màu tâm trạng lên cảnh vật Nỗi niềm man

mác bâng khuâng thấm sâu , lan tỏa trong tâm hồn giai nhân đa tình , đa cảm Cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến về một ngày vui xuân đang cịn mà sự linh cảm một điều xảy ra đã xuất hiện Dịng nước

“nao nao” uốn quanh như báo trước ngay lúc này thơi Kiều sẽ gặp nấm mộ Đạm Tiên :

Sè sè nắm đất bên đường Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh

Sẽ gặp chàng thư sinh “phong tư tài mạo tĩt vời” – Kim Trọng.

Cảnh vật và thời gian được miêu tả bằng bút pháp ước lệ tượng tưng nhưng rất sống động, gần

gũi, thân quen đối với bất cứ người Việt Nam nào Khơng cịn xa lạ vì “ngọn tiểu khê” ấy, “dịp cầu nho nhỏ” ấy là màu sắc đồng quê, là cảnh quê hương đất nước mình Tính dân tộc là một nét đẹp đậm đà

trong thơ Nguyễn Du, nhất là những vần thơ tả cảnh.

Đoạn trích: KIỀU Ở LẦU NGƯNG BÍCH (Tryện Kiều – Nguyễn Du)

Đặc điểm nghệ thuật: +Nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật qua ngôn ngữ độc thoại

+Tả cảnh ngụ tình

*Ngôn ngữ nhân vật: có hai hình thức tồn tại

-ngôn ngữ độc thoại :thường là lời nói thầm bên trong, nhân vật tự nói với chínhmình

-ngôn ngữ đối thoại là lời nhân vật được bộc lộ ra bên ngoài, đối thoại với nhânvật khác

*Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình: là mượn cảnh vật để gửi gắm(ngụ) tâm trạng Cảnh ở đây không đơn thuần là bứctranh thiên nhiên mà còn là bức tranh tâm trạng Cảnh ở đây là phương tiện miêu tả còn tâm trạng là mục đích miêutả

(so sánh với đoạn “Cảnh ngày xuân” – đơn thuần tả cảnh; còn “Kiều ở lầu Ngưng Bích” –tả cảnh ngụ tình)

Câu hỏi:

1- Nghệ thuật tả cảnh và nghệ thuật tả cảnh ngụ tình giống và khác nhau như thế nào?

2- Phân tích những điểm thành công trong nghệ thuật miêu tả thiên nhiên của Nguyễn Du ở đoạn trích “Cảnh ngàyxuân” và tả cảnh ngụ tình trong tám câu cuối đoạn “Kiều ở lầu Ngưng Bích”?

Trả lời:

1- Nghệ thuật tả cảnh và nghệ thuật tả cảnh ngụ tình:

+Giống nhau: ở tả cảnh

+Khác nhau :ở ngụ tình

-Nghệ thuật tả cảnh đơn thuần thì đối tượng, mục đích miêu tả là thiên nhiên, tác giả tực tiếp miêu tả cảnh vật.-Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình là mượn cảnh vật để gửi gắm (ngụ) tâm trạng Cảnh khi ấy không đơn thuần là bứctranh thiên nhiên mà còn là bức tranh tâm trạng Cảnh là phương tiện miêu tả còn tâm trạng là mục đích miêu tả

Đoạn “Cảnh ngày xuân” là tả cảnh còn đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là tả cảnh ngụ tình.

2- Phân tích:

a/ Đoạn “ Cảnh ngày xuân”

-Giới thệu đoạn thơ: “Cảnh ngày xuân” là đoạn thơ trích trong phần đầu của “truyện Kiều” – Nguyễn Du có những

điểm thành công trong nghệ thuật miêu tả thiên nhiên của Nguyễn Du

-Phân tích:

+Đoạn thơ có kết cấu theo trình tự thời gian, rất phù hợp với cuộc du xuân của chị em Thúy Kiều:

*Bốn câu đầu gợi tả khung cảnh ngày xuân

Trang 8

*Tám câu tiếp theo gợi tả khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh.

*Sáu câu cuối là cảnh chị em Kiều du xuân trở về

Kết cấu theo thời gian này cũng phù hợp với diễn biến tâm trạng con người trong cuộc du xuân.

+Tác giả sử dụng rất thành công bút pháp nghệ thuật kết hợp giữa tả và gợi:

Ngày xuân con én đưa thoi Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi

Vừa miêu tả thời gian vừa gợi không gian mùa xuân.Ngày xuân thấm thoắt trôi mau, tiết trời đã bước sang tháng ba.Trong tháng cuối cùng của mùa xuân, những cánh chim én vẫn rộn ràng bay liệng giữa bầu trời trong sáng như thoi đưa

+Để gợi không khí lễ hội thật rộn ràng , một loạt từ hai âm tiết(cả từ ghép và từ láy) là tính từ, danh từ, động từ xuất

hiện :gần xa, nô nức, yến anh, chị em,tài tử, giai nhân, sắm sửa, dập dìu,…Cách nói ẩn dụ “nô nức yến anh” gợi lên hình

ảnh những nam thanh nữ tú, những tài tử giai nhân, từng đoàn người nhộn nhịp đi chơi xuân như chim én, chim oanh bayríu rít

+Chỉ bằng vài nét gợi tả mà khung cảnh chiều xuân hiện lên thật rõ nét :nắng nhạt, khe nước nhỏ, một nhịp cầu nhỏ

bắc ngang Mọi chuyển động đều nhẹ nhàng: mặt trời từ từ ngã bóng về tây, bước chân người thơ thẩn, dòng nước uốn

quanh Tất cả đều nhạt dần, lặng dần Những từ láy:”tà tà”, “thanh thanh”, “nao nao” không chỉ biểu đạt sắc thái cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng con người Hai chữ “nao nao”(nao nao dòng nước uốn quanh) đã nhuốm màu tâm trạng lên

cảnh vật

-Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên của Nguyễn Du : kết hợp bút pháp tả và gợi, sử dụng từ ngữ giàu chất gợi hình để miêutả cảnh ngày xuân với những đặc điểm riêng Tác giả miêu tả cảnh mà nói lên được tâm trạng nhân vật

b/ Tám câu cuối trong đoạn “Kiều ở lầu Ngưng Bích”.

-Cảnh trong truyện Kiều vừa là bức tranh thiên nhiên vừa là bức tranh tâm trạng.Đoạn:

“Buồn trông cửa bể chiều hôm

……… tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

Là một trong những đoạn thơ tiêu biểu nhất cho nghệ thuật tả cảnh ngụ tình , mêu tả kết hợp hài hòa giữa ngoại cảnh vàtâm cảnh

-Bao trùm tâm trạng kiều khi ở lâu Ngưng Bích là một nỗi buồn: buồn nhớ người yêu, buồn nhớ cha mẹ và buồncho chính mình Để diễn tả một tâm trạng ôm trọn ba nỗi buồn với những sắc thái không giống nhau, Nguyễn Du đã

chọn cách biểu hiện “tình trong cảnh”.Mỗi biểu hiện của cảnh vật là một tâm trạng buồn:

+Khi nhớ cha mẹ , quê hương và cũng thấm thía nỗi cô đơn trống vắng của mình,thì:

Buồn trông cửa bể chiều hôm Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

+Khi nhớ người yêu, xót xa cho duyên phận thì:

Buồn trông ngọn nước mới sa Hoa trôi man mác biết là về đâu?

+Khi buồn cho cảnh ngộ của mình:

Buồn trông nội cỏ rầu rầu Chân mây mặt đất một màu xanh xanh

+Lúc Kiều trong tâm trạng lo âu, dự cảm về tương lai hiểm nguy đón đợi phía trước thì hiện ra cảnh tượng hãihùng:

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh Aàm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi

Cảnh lầu Ngưng Bích được nhìn qua con mắt và tâm trạng của Kiều: cảnh từ xa đến gần,màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động, nỗi buồn Kiều từ man mác, mông lung đến lo âu, kinh sợ

“Gió cuốn” , sóng “ầm ầm”kêu quanh ghế ngồi” là cảnh hãi hùng nhất, báo hiệu số phận của Kiều sau đó:mắc lừa Sở Khanh để rồi dấn thân vào đời “thanh lâu”.

-Điệp ngữ “buồn trông” mở đầu câu thơ sáu chữ,tạo âm hưởng trầm buồn Là điệp khúc của cái nhìn với cảnh,

cũng là điệp khúc của tâm trạng, một tâm trạng nặng nề và kéo dài

Có thể nói dưới ngọn bút của Nguyễn Du, hình tượng thiên nhiên cùng một lúc đảm nhận hai chức năng: thể hiện ngoại cảnh và thể hiện tâm cảnh Ở chức năng thứ hai, hình tượng thiên nhiên là phương tiện nghệ thuật đặc sắc đểNguyễn Du miêu tả nội tâm và khắc họa tính cách nhân vật

3- Câu hỏi tích hợp: Phân biệt nghĩa các từ: man mác, tan tác và giải thích cụm từ “hoa trôi man mác” là trôi

thế nào? Tại sao nói từ man mác là từ tả tâm trạng Kiều chứ không phải là hình dáng hoa?

(man mác:(cảnh vật, màu sắc )chiếm cả một khoảng không bao la, như trải ra trong không gian vắng lặng, gợi tâm trạngcô đơn – có tâm trạng lâng lâng, đượm buồn – tan tác : rời rã , tả tơi mỗi nơi một mảnh – hoa trôi man mác : trôi trong

một không gian rộng vắng lặng – man mác từ tả tâm trạng buồn , cô đơn chứ không phải tả hình dáng hoa).

Trang 9

Đoạn Mã Giám Sinh mua Kiều (Trích truyện Kiều – Nguyễn Du)

*Nét nội dung , nghệ thuật cơ bản của đoạn trích:

 Nộâi dung: Tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du trên cả hai phương diện: vừa lên án những thế lực xấu

xa tàn bạo , vừa thương cảm trước sắc đẹp, tài năng nhân phẩm bị chà đạp

 Nghệ thuật: miêu tả nhân vật phản diện bằng nét bút hiện thực, khắc họa tính cách qua diện mạo cử chỉ ( khác với miêu tả nhân vật chính diện bằng bút pháp nghệ thuật ước lệ có phần lí tưởng hóa nhân vật)

Câu hỏi:

1- Phân tích những nét ngoại hình và tính cách để làm nổi bật bản chất xấu xa của Mã Giám Sinh?

Mã Giám Sinh được xem là một viễn khách (khách ở phương xa) đến nhà Kiều với mục đích trang trong đẹp đẽ: vấn danh (hỏi tên tuổi người caon gái sẽ lấy làm vợ) :

Gần miền có một mụ nào Đưa người viễn khách tìm vào vấn danh

-Về lai lịch, tông tích không rõ ràng:ngườiø “viễn khách” mà quê “ cũng gần”; tên Mã Giám Sinh nhưng giám

sinh đâu phải tên, mà chỉ chung chung người họ Mã, học trường Quốc tử giám mà thôi! Không nói tên thật của

mình.Cách giới thiêu như vậy phải chăng là có dụng ý lừa dối mẹ con Thúy Kiều (lấy chồng gần , người có học, dù là làm lẻ cũng an ủi được phần nào).Để chứng tỏ là giám sinh , hắn đến nha øKiều cũng có cả một đám tôi tớ theo sau, nhưng cái cảnh:

Trước thầy sau tớ xôn xao Cho thấy “thầy” và “tớ” đều là lũ người ô hợp ; từ láy “xôn xao” đã tả được bộ dạng hàng tôm, hàng cá của y.

-Ngoại hình: Miêu tả ngoại hình Mã Giám Sinh, tác giả tác giả kết hợp giữa “chụp cận cảnh” và “quay lướt”

Nguyễn Du chụp cận cản làm rõ bộ mặt và trang phục của Mã:

Quá niên trạc ngoại tứ tuần Mày râu nhẵn nhụi , áo quần bảnh bao

Hắn đã ngoài bốn mươi tuổi tuổi đứng đắn , tuổi làm cha , làm ông mà đi hỏi vợ là hơi lạ ( nhưng ở đây là vợ bé, vợ lẽ

-thiếp hay nàng hầu) Cái điều khiến ta nghi ngờ chính là cái “mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao” của hắn Có cái gì đó làm dáng, làm đỏm quá đáng , kệch cỡm, khoe khoang lộ liễu không hợp với lứa tuổi Ngoài ra, “mày râu nhẵn nhụi”, phải chăng Nguyễn Du muốn nói hắn là đàn ông mà không râu là kẻ “vô nghì” ( kẻ bất nhân , bất nghĩa :đàn ông không râu vô nghì) Từ “nhẵn nhụi” gợi cảm giác về một sự trơ trẽn , phẳng lì Aùo quần “bảnh bao” là áo quần trưng

diện cũng thiếu tự nhiên Phủ một lớp hào nhoáng lên vẻ bên ngoài của nhân vật, tác giả đã chế giễu, mỉa mai tên buôn người họ Mã Sự đả kích ấy càng sâu cay hơn khi một người “trạc ngoại tứ tuần” lại tỉa tót công phu, lại tô vẽ cho mình

ra dáng trẻ

-Nguyễn Du đã rất nhanh tay ghi lại (quay lướt) cái hành động:

Ghế trên ngồi tót sỗ sàng

“Ghế trên” là ghế ở vị trí quan trọng, dành cho bậc cao niên , bậc huynh trưởng , bậc đáng kính Thế mà, Mã vừa vào nhà đả nhảy “tót” lên ngồi , hắn đã quên rằng mình là kẻ đi hỏi vợ, bản chất con buôn của hắn đã bộc lộ, hắn cho rằng mình là kẻ bề trên , kẻ có tiền , muốn làm gì chẳng đươc “Tót” là hành động rất nhanh nhẹn Khác với “tót vời” là

tuyệt vời Ngồi tót là một hành động hết sức bất nhã của Mã Giám Sinh Mã vô tình hay cố ý? Đó là bản chất thói quen hay do sơ suất? Theo dõi Mã từ đầu, biết nguồn gốc của Mã, chúng ta dễ đoán rằng đây là hành động theo thói quen

của y, thói quen của kẻ hạ lưu, vô học, cậy mình có tiền chẳng coi ai ra gì Hành động “ngồi tót” là quá bất ngờ, quá nhanh,”ống kính” không nhanh, không nhạy thì làm sao có thể ghi lại được.

-Nhàthơ cũng đã rất nhanh ghi lại cách nói năng cộc lốc của Mã ( cũng có thể là của mụ mối):

Hỏi tên, rằng: “Mã Giám Sinh”, Hỏi quê, rằng: “Huyện Lâm Thanh cũng gần”.

Câu trả lời nhát gừng, không có chủ ngữ, không thèm thưa gửi chỉ có thể là lời của kẻ vô học hoặc hợm

của , cậy tiền, của kẻ sợ nói nhiều lộ cái bịp bợm giả dối

Với cách giới thiệu lai lịch , tông tích cũng như qua việc miêu tả ngoại hình , cử chỉ , ngôn ngữ của Mã Giám Sinh, nhà thơ đã lột trần bộ mặt hợm hĩnh, khoe của, bất lịch sự của một tên “buôn người” bịp bợm ,gian ngoa

- Về bản chất , Mã Giám Sinh là điển hình của bản chất con buôn lưu manh với đặc tính giả dối, bất nhân và vì tiền Bản chất bất nhân , vì tiền của Mã Giám Sinh bộc lộ qua cảnh mua bán Thúy Kiều

+Mã bất nhân trong tâm lí lạnh lùng vô cảm, xem Kiều như đồ vật:

Mối càng vén tóc bắt tay

……….

Đắn đo cân sắt cân tài Eùp cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ Nếu là lễ “vấn danh” thì làm gì có chuyện “vén tóc bắt tay” “đắn đo cân ép thử ” Cảnh trên là cảnh của kẻ đi mua hàng “người” cân nhắc để tính lời lãi Dưới con mắt của Mã Giám Sinh, Kiều tài sắc lúc này chỉ là một món hàng không

Trang 10

hơn không kém, đẻ hắn kiếm chác.Mã đã gật gù tán thưởng món lời:”Mặn nồng một vvẻ một ưa”, chẳng khác gì cư chỉ đê tiện “lẩm nhẩm gật đầu” của Sở Khanh sau này Khi đã ưa, đã vừa ý món hàng, Mã mới tùy cơ dặt dìu, lựa lời nói

khách sáo văn hoa Y trở về giọng điệu của chàng trai đi hỏi vợ:

Rằng:”Mua ngọc đến Lam Kiềup Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường

Vì sao Mã lại nói như vậy? Hẳn vì Mã đã khoe y là gíam sinh mà! Người có học phải nói văn hoa khác người thường chứ! Tuy nhiên, cách nói hoàn toàn mâu thuẫn với chuỗi hành động trên của Mã Rồi ngay tiếp sau, khi nghe mụ mối phát giá, y bắt đầu mặêc cả, cò kè thêm bớt chi li hồi lâu

Bản chất vì tiền của tên họ Mã thẻ hiện trong hành động mặc cả keo kiệt, đê tiện:

Cò kè bớt một thêm hai Nếu trước đó, khi giành “ghế trên”, Mã vộ vàng “ngồi tót” thì lúc mua Kiều, hắn lại hết sức chậm rãi, tính toán chi li, hết “đắn đo”, hết “thử tài” lại “cò kè”, “thêm”,”bớt” Từ láy “cò kè” đã lột tả chân dung và bản chất con buôn keo kiệt,

dìm giá, đầy mánh lới của Mã Y mặc cả mãi , lâu lắm mới ngã giá chỉ còn non một nửa theo giá phát ban đầu của mụ

mối Mã xứng là tay mua hàng sành sỏi Cuối cùng, Mã nói vài câu hẹn ước các nghi lễ tiếp theo: nạp thái, vu qui…

nhưng thực chất là định ngày đưa người đi (lấy hàng)

Với bút pháp kết hợp giữa kể và tả, bằng một số nét phác họa về mối quan hệ mờ ám, vẻ ngoài chải chuốt, nói năng vô lễ, cử chỉ vô học,hành động vô lương, Nguyễn Du đã khắc họa sắc nét hình tượng Mã Giám Sinh, kẻ buôn ngươiø từ ngoại hình, đến tính cách, Mã giám Sinh đã trở thành một điển hình bất hủ cho sự đê tiện, tàn ác

2- Cảm nhận của em về hình ảnh Thúy Kiều qua đoạn trích “ Mã Giám Sinh mua Kiều”? (xem SBT trang 44-45)

3- Tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du thể hiện qua đoạn trích “ Mã Giám Sinh mua Kiều”?

-Tác giả tỏ thái độ khnh bỉ và căm phẫn sâu sắc bọn buôn người, đồng thời tố cáo thế lực đồng tiền chà đạp lên con người:

+Qua cách miêu tả Mã Giám Sinh với cái nhìn mỉa mai châm biếm, lên án :bộ mặêt nhẵn nhụi, quần áo bảnh bao không hợp với tuoiå tứ tuần Hành động “ghế trên ngồi tót”, gật gù tán thưởng món hàng “ mặn nồng một vẻ một ưa”.

+Tố cáo thế lực đồng tiền đã biến con người tài sắc trở thành món hàng , để bọn buôn người mua bán , kiếm chác Thái

độ ấy còn thể hiện qua lời nhận xét: “Tiền lưng đã sẵn việc gì chẳng xong” Lời nhận xét có vẻ khách quan nhưng chứa

đựng trong đó cả sự chua xót, căm phẫn Đồng tiền biến nhan sắc thành món hàng tủi nhục , biến kẻ tán tận lương tâm thành kẻ mãn nguyện tự đắc Thế lực đồng tiền với thế lực lưu manh, thế lực quan laiï đã hùa vào nhau tàn phá gia đình Kiều, tàn phá cuộc đời Kiều

-Nguyễn Du còn thể hiện niềm thương cảm sâu sắc trước thực trạng con người bị hạthấp, bị chà đạp Nhà thơ như hóa thân vào nhân vật để noiù lên nỗi đau đớn, tủi hổ của Thúy Kiều

Đề: Nhận xét nghệ thuật tả người của Nguyễn Du qua hai đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” và “Mã Giám Sinh mua Kiều”

Trang 11

1- Truện Lục Vân Tiên được kết cấu như thế nào? Nhân vật được miêu tả những yếu tố nào? Nhận xét về ngôn ngữ trong đoạn “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga”?

TL:-Truyện Lục Vân Tiên được kết cấu theo kiểu thông thường của các loại truyện đời xưa Đó là kiểu kết cấu truyền thống của loại truyện phương Đông, nghĩa là theo chương hồi, xoay theo diễn biến cuộc đời các nhân vật chính Truyện viết ra nhằm mục đích trực tiếp truyền dạy đạo lí làm người

-Nhân vật được miêu tả chủ yếu qua hành động , cử chỉ, lời nói Do mục đích sáng tác ban đầu là để đọc truyền miệng, kể thơ , vì thế tác giả ít chú ý khắc họa chân dung ngoại hình, cũng ít đi sâu vào diễn biến nội tâm, giống như truyện cổ dân gian Hai nhân vật chính trong đoạn trích được giới thiệu bằng vài nét ước lệ còn chủ yếu được đặt trong những mối quan hệ xă hội, trong những tình huống xung đột của đời sống, rồi bằng hành động, cử chỉ, lời nói của mình tự bộc lộ tính cách

-Ngôn ngữ của tác giả mộc mạc, bình dị gần với lời nói thông thường, mang màu sắc điạ phương Nam Bộ Nó có phầnthiếu trau chuốt, uyển chuyển nhưng phù hợp với ngôn ngữ kể, rất tự nhiên, dễ đi vào quần chúng Ngôn ngữ đa dạng, phù hợp với diễn biến trình tự tính cách nhân vật

2- Phân tích hình ảnh Lục Vân Tiên trong đoạn trích “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga”

*Nội dung phân tích cần làm nổi rõ các ý sau:

+Hình ảnh Lục Vân Tiên được khắc họa qua mô típ ở truyện nôm truyền thống: một chàng trai tài giỏi, cứu một cô gái thoát khỏi hiểm nghèo, từ ân nghĩa đến tình yêu

+Lục Vân Tiên là một nhân vật lí tưởng của tác phẩm Đây là một chàng trai vừa rời trường học bước vào đời, lòng đày hăm hở muốn lập công danh, mong thi thố tài năng cứu người giúp đời Tnhf huống đánh cướp là thử thách đầu tiên, là

cơ hội hành động cho chàng

+Hành động đánh cướp, trước hết bộc lộ tính cách anh hùng , tài năng và tấm lòng vị nghĩa của Vân Tiên Vẻ đẹp của Lục Vân Tiên là vẻ đẹp riêng của người dũng tướng Hành động của Vân Tiên chứng tỏ cái đức của con người “vị nghĩavong thân, cái tài của bậc anh hùng và sức mạnh bênh vực kẻ yếu chiến thắng nhiều thế lực bạo tàn.”

+Thái độ cư xử với Kiều Nguyệt Nga sau khi đánh cướp lại bộc lộ tư cách con người chính trực, hào hiệp , trọng nhgiã khinh tài, cũng rất từ tâm, nhân hậu

* Phân tích cụ thể:

A- Mở bài: Giới thiệu đoạn trích , giới thiệu nhân vật và nêu khái quát dặc điểm nhân vật:

“Truyện Lục Vân Tiên” là tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Đình Chiểu sáng tác vào giai đoạn trước khi thực dân Pháp xâm lược nước ta Trong đó, Nguyễn Đình Chiểu trong đã xây dựng Lục Vân Tiên là một nhân vật lí tưởng, nhân vật đẹp nhất Lục Vân Tiên tài ba, dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài

B- Thân bài: (làn lượt phân tích 4 ý trên)

-Hình ảnh Lục Vân Tiên được khắc họa qua mô típ ở truyện nôm truyền thống: một chàng trai tài giỏi, cứu một cô gái thoát khỏi hiểm nghèo, từ ân nghĩa đến tình yêu

-Lục Vân Tiên là một nhân vật lí tưởng của tác phẩm Đây là một chàng trai vừa rời trường học bước vào đời, lòng đày hăm hở muốn lập công danh, mong thi thố tài năng cứu người giúp đời Tnhf huống đánh cướp là thử thách đầu tiên, là

cơ hội hành động cho chàng

-Sau khi từ biệt thầy học, trên đường đi thi thì gặp đám cướp làm cho dân chúng tán loạn “Đều đem nhau chạy vào rừng, lên non” Hỏi rõ nguyên nhân, Vân Tiên khảng khái xin nhận việc diệt cướp:

Tôi xin ra sức anh hào, Cứu người cho khỏi lao đao buổi này

Mặc cho mọi người khuyên can, Vân Tiên vẫn cứ xông ra tìm vũ khí:

Vân Tiên ghé lại bên đường Bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô

Chàng chỉ có một mình, vũ khí chỉ là chiếc gậy thô sơ, trong khi bọn cướp đông người, gươm giáo đầy đủ, thanh

thế lẫy lừng “Người đều sợ nó có tài khôn đương”.Điều đó càng chứng tỏ tinh thần dũng cảm của chàng.

Cách đánh của Lục Vân Tiên cong khai , đàng hoàng, quang minh chính đại như các anh hùng hảo hán: gọi tên, trách mắng:

Kêu rằng : Bớ đảng hung đồ, Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân”

Đánh bọn cướp là vì chúng hại dân, đó một hành độâng hoàn toàn vì nghĩa

Hình ảnh Lục Vân Tiên trong trận đánh được miêu tả thật thật đẹp:

Vân Tiên tả đột hữu xông Khác nào Triệu Tử mở vòng Đương Dang Vân Tiên tả xung hữu đột như mãnh tướng Triệu Tử Long trong truyện Tam quốc diễn nghĩa, phút chốc làm cho lâu la

bốn phía vỡ tan, tướng cướp Phong Lai cũng toi mạng bỡi một gậy của Vân Tiên.Trận đánh kết thúc nhanh chóng, bất ngờ như trong truyện cổ tích Đó không phải là trận đánh của vũ lực mà là trận đánh của chính nghĩa chống gian tà Và

Trang 12

chính nghĩa dù vũ khí thô sơ , dù một than một mình nhưng nhất định thắng lợi Đó là niềm tin và ước vọng của nhân dân.

+Hành động đánh cướp, trước hết bộc lộ tính cách anh hùng , tài năng và tấm lòng vị nghĩa của Vân Tiên Vẻ đẹp của

Lục Vân Tiên là vẻ đẹp riêng của người dũng tướng Hành động của Vân Tiên chứng tỏ cái đức của con người “vị nghĩa vong thân, cái tài của bậc anh hùng và sức mạnh bênh vực kẻ yếu chiến thắng nhiều thế lực bạo tàn.”

-Thái độ cư xử với Kiều Nguyệt Nga sau khi đánh cướp lại bộc lộ tư cách con người chính trực, hào hiệp , trọng nghiã khinh tài, cũng rất từ tâm, nhân hậu.

+Thấy hai cô gái còn chưa hết hãi hùng, Vân Tiên “động lòng” tìm cách an ủi họ “Ta đã trừ dòng lâu la” và ân cần hỏi

han

+Khi nghe họ nói muốn được lạy tạ ơn , Vân Tiên vội gạt ngay:

Khoan khoan ngồi đó chớ ra Nàng là phận gái ta là phận trai

Ơû đây có phần câu nệ lễõ giáo (nam nữ thụ thụ bất thân), nhưng chủ yếu là do đức khiêm nhường của Vân Tiên:

Làm ơn há dễ trông người trả ơn

Chàng không muốn nhận cái lạy tạ trả ơn của hai cô gái

+ Vân Tiên từ chối lời mời về thăm nhà để cha nàng đền đáp công ơn, chàng cho rằng làm ơn không cần trả ơn Dường như đối với Lục Vân Tiên, làm việc nghĩa là bổn phận, một lẽ tự nhiên, con người trọng nghĩa khinh tài ấy không coi đó là công trạng Đó là cách cư xử mang tinh thần nghĩa hiệp của các bậc anh hùng hảo hán:

Nhớ câu kiến nghĩa bất vi Làm người thế ấy cũng phi anh hùng.

C – Kết bài:

Qua nghệ thuật đặc trưng khắc họa tính cách nhân vật bằng ngôn ngữ kể mang tính dân gian, ta cảm nhận phẩmchất nghiã hiệp của Lục Vân Tiên Với những nét tính cách đó , hình ảnh Lục Vân Tiên là một hình ảnh đẹp, hình ảnh lítưởng mà Nguyễn Đình Chiểu gởi gắm niềm tin và ước vọng của mình

Đoạn trích: LỤC VÂN TIÊN GẶP NẠN Câu hỏi:

Chứng minh hai nhân vật Trịnh Hâm và ông Ngư (trong đoạn trích “ Lục Vân Tiên gặp nạn” là hai nhân vật đối lập như nước với lửa?

Trả lời:

+Trên đời cái thiện và cái ác có nhiều khi đi liền nối tiếp nhau như là một sự sắp xếp vô tình hay hữu ý của hóacông để thử thách và kiểm nghiệm lòng người , tình người Tình huống “Lục Vân Tiên gặp nạn” trên sông và được cứu là một trong những tình huống để nói lên quan niệm về cái thiện cái ác ,về nhân dân lao động Trong đó hai nhân vật Trịnh Hâm và ông ngư là hai nhân vật đối lập như nước với lửa

+Oâng Ngư là đại diện cho cái thiện , còn Trịnh Hâm đại diện cho cái ác Tính chất thiện ác trong hai nhân vạt này được thẻ hiện qua những hành động cụ thể và được đẩy lên đến mức tột cùng

-Nếu như Trịnh Hâm quyết tìm cách hãm hại Vân Tiên: Trong lúc thầy trò Lục Vân Tiên lâm vào tình cảnh khổ sở, đáng thương: tiền hết, mù lòa, một thầy một tớ bơ vơ nơi xa lạ, công danh Vân Tiên lở dở… vậy mà với tư cách người bạn, Trịnh Hâm không những không hề giúp đỡ lại còn tìm cách hãm hại một cách dã man Y sắp xếp cả một kế hoạch tỉ mỉ và chu đáo: dùng mưu mẹo ti tiện lừa tiểu đồng vào rừng, trói lại bỏ mặc , rồi đưa Vân Tiên lên thuyền với lời hứa đưa bạn về đến tận quê nhà Nhưng

Đêùn đêm khuya lặng lễ như tờ

Trịnh Hâm khi ấy ra tay Vân Tiên bị gã xô ngay xuống vời.

Sau đó y hô hoán mọi người dậy và giả vờ kêu cứu, giả bộ thương xót để phi tang tội ác:

Trịnh Hâm giả tiếng kêu trời, Cho người thức dậy lấy lời phôi pha.

Hành động của y thật độc ác, bất nhân bất nghĩa bỡi vì nạn nhân của y hoàn toàn bất ngờ, không cách chống đỡ, vì nạn nhân chính là bạn của y,từng nhờ y giúp đỡ và y đã nhận lời

-Thì ông Ngư lại tìm mọi cách để cứu Vân Tiên Thấy người bị nạn thì liền “vớt ngay lên bờ” và đem về nhà

chạy chữa để cứu sống Vân Tiên:

Hối con vầy lửa một giờ, Oâng hơ bụng dạ, mụ hơ mặt mày.

Câu thơ thật mộc mạc chân chất, giàu màu sắc Nam Bộ Hiển hiện trước mắt người đọc cảnh vội vã, lo lắng cấp cứu người bị nạn của vợ chồng,con cái ông chài Mỗi người một việc, ông chài giục giã vợ con nhanh tay, nhanh chân làm

cho Vân Tiên tỉnh lại: Hối con vầy lửa, ông hơ, mụ hơ không gì cụ thể và sinh động hơn

Đó là tình người tự nhiên, hồn hậu, vô tư nhất, cảm động nhất Đối lập hoàn toàn vơiù những mưu toan thấp hèn, độc ác của Trịnh Hâm.

Trang 13

-Trịnh Hâm hãm hại Vân Tiên chẳng có lí do gì chính đáng, Chỉ vì Vân Tiên giỏi giang hơn hắn, chỉ vì trong cuộc thi thơ phú hắn kém tài Đó chính là xuất phát từ tính đố kị, ghen ghét tài năng, không muốn người khác hơn mình:

Kiệm, Hâm là đứa so đo Thấy Tiên dường ấy âu lo trong lòng.

Khoa này Tiên ắt đầu công Hâm dầu có đậu cũng không xong rồi.

Thế nhưng nay Vân Tiên đã mù, đã bỏ thi còn hắn thì đã đỗ cử nhân Vân Tiên hoàn toàn vô hại đối với bước đường công danh của hắn Vậy tại sao hắn vẫn tìm cấch giết hại? Chỉ có thể nói đó là loại người độc ác từ trong bản chất, từ trong máu thịt, loại tiểu nhân đắc chí Mối oán thù nhân một câu chuyện văn chương trong tâm địa đứa tiểu nhânđã dẫn đến những chuyện độc ác không ngờ mà người bình thường thật khó hình dung tưởng tượng

* Chỉ với tám dòng thơ mà Nguyễn Đình Chiểu đã dựng lại một hành động tội ác, một âm mưu đê hèn của một loại người trong xã hội Tàn nhẫn và xảo quyệt xuất phát từ tính đố kị nhỏ nhen, lại cũng có chút ít trình độ văn hóa đã khiến Trịnh Hâm trở thành nhân vật khá tiêu biểu cho cái ác trong truyện Lục Vân Tiên

-Đối lập với tính ích kỉ ,nhỏ nhen đến thành độc ác của Trịnh Hâm là tấm lòng bao dung nhân ái, hào hiệp của ông Ngư: không những cứu sống Vân Tiên mà ông còn sẵn lòng cưu mang chàng:

Ngư rằng : người ở cùng ta, Hôm mai hẩm hút với già cho vui.

Từ “hẩm hút” thật Nam Bộ, thật an cần vừa nói lên cuộc sống nghèo khổ vừa bộc lộ tấm lòng nghĩa khí của người dân

lao động sẵn sàng cưu mang,giúp đỡ người bất hạnh ,cơ nhỡ Ông cũng không hề tính toán đến cái ơn cứu mạng mà VânTiên chẳng thể báo đáp:

Dốc lòng nhân nghĩa, há chờ trả ơn

-Trịnh Hâm chỉ lo đến công danh cá nhân còn ông Ngư lại mơ ước một cuộc sống tự do ngoài vòng danh lợi Một cuộc sống hoàn toàn xa lạ với những toan tính nhỏ nhen, ích kỉ, mưu danh , trục lợi, sẵn sàng chà đạp lên cả đạo đức, nhân nghĩa,…

+Trịnh Hâm và ông Ngư là hai nhân vật đối lập nhau như lửa với nước tong “Truyện Lục Vân Tiên” Trịnh Hâm với lòng ghen ghét, đố kị đã biến hắn thành một kẻ độc ác, bất nhân, bất nghĩa Còn ông Ngư hiện lên giữa đời, sống trong sạch, thanh thản, khinh ghét sự đen bạc, tráo trở, sự bạo ngược hung tàn, và bao giờ cũng có mặt đúng lúc để cứu giúp người hoạn nạn với tấm lòng trọng nghĩa “ Xin tròn nhân ngãi còn hơn bạc vàng”

Cái Thiện được biểu hiện qua việc làm nhân đức và nhân cách cao cả của Ông Ngư như thế nào qua đoạn trích

“Lục Vân Tiên gặp nạn” (Trích truyện Lục Vân Tiên)?

-Trong Đoạn trích “Lục Vân Tiên gặp nạn” (Trích truyện Lục Vân Tiên)cái thiện được biểu hiện qua việc làm nhân

đức và nhân cách cao cả của Ông Ngư:

-Đối lập với hành động độc ác, bất nhân, bất nghĩa quyết tâm hãm hại Lục Vân Tiên , thì Ông Ngư hết lòng cứu người

gặp nạn Khi thấy ngươi bị nạn :

Vừa may trời đã sáng ngày, Ông chài xem thấy vớt ngay lên bờ.

Hối con vầy lửa một giờ Ông hơ bụng dạ, mụ hơ mặt mày.

Không chỉ mình ông mà cả nhà như nhốn nháo, hối hả lo chạy chữa cứu sống Vân Tiên bằng mọi cách.Đó là một sự đối lập hoàn toàn với những mưu toan thấp hèn nhằm làm hại người của Trịng Hâm

-Đối lập với tính ích kỉ ,nhỏ nhen đến thành độc ác của Trịnh Hâm là tấm lòng bao dung nhân ái, hào hiệp của ông Ngư;: không những cứu sống Vân Tiên mà ông còn sẵn lòng cưu mang chàng:

Ngư rằng : người ở cùng ta, Hôm mai hẩm hút với già cho vui.

Từ “hẩm hút” thật Nam Bộ, thật an cần vừa nói lên cuộc sống nghèo khổ vừa bộc lộ tấm lòng nghĩa khí của người dân

lao động sẵn sàng cưu mang,giúp đỡ người bất hạnh ,cơ nhỡ Ông cũng không hề tính toán đến cái ơn cứu mạng mà VânTiên chẳng thể báo đáp:

Dốc lòng nhân nghĩa, há chờ trả ơn

-Cái thiện còn được biểu hiện qua cuộc sống đẹp của ông Ngư Lời nói của ông Ngư về cuộc sống của mình là khát vọngvề một cuộc sống đẹp, về một lối sống đáng mơ ước đối với con người Đólà một cuộc sống trong sạch, ngoài vòng danhlợi ô trọc:

Nước trong rửa ruột sạch trơn Một câu danh lợi chi sờn lòng đây

Một cuộc sống tự do phóng khoáng giữa đất trời cao rộng, hoà nhập, bầu bạn với thiên nhiên, thảnh thơi giữa sông nước,gió trăng, và vì thế cũng đầy ắp niềm vui, bỡi con người lao động tự do, tự làm chủ mình, có thể ứng phó với mọi tình thế:

Trang 14

Rày doi mai vịnh vui vầy, Ngày kia hứng gió đêm nầy chơi trăng.

Một mình thong thả làm ăn, Khoẻ quơ chài lưới, mệt quăng câu dầm.

Nghêu ngao nay chích mai đầm, Một bầu trời đất vui thầm ai hay.

Kinh luân đã sẵn trong tay, Thung dung dưới thế vui say trong trời.

Thuyền nan một chiếc ở đời, Tắm mưa chải gió trong vời Hàn Giang

Một cuộc sống hoàn toàn xa lạ với những toan tính nhỏ nhen, ích kỉ, mưu danh , trục lợi, sẵn sàng chà đạp lên cả đạo đức, nhân nghĩa,…

+Trịnh Hâm và ông Ngư là hai nhân vật đối lập nhau như lửa với nước tong “Truyện Lục Vân Tiên” Trịnh Hâm với lòng ghen ghét, đố kị đã biến hắn thành một kẻ độc ác, bất nhân, bất nghĩa Còn ông Ngư hiện lên giữa đời, sống trong sạch, thanh thản, khinh ghét sự đen bạc, tráo trở, sự bạo ngược hung tàn, và bao giờ cũng có mặt đúng lúc để cứu giúp người hoạn nạn với tấm lòng trọng nghĩa “ Xin tròn nhân ngãi còn hơn bạc vàng”

Đề :

1/ Đọc kỹ hai câu thơ:

Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng

(Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ - Nguyễn Khoa Điềm)

Từ “mặt trời” trong câu thơ thứ hai được sử dụng theo biện pháp tu từ từ vựng nào? Cĩ thể coi đây là hiện tượng một nghĩa gốc của từ phát triển thành nhiều nghiã được khơng ? Vì sao?

2/Tìm khởi ngữ trong Đoạn văn sau:

- Vâng ! Ơng giáo dạy phải ! Đối với chúng mình như thế là sướng

( Lão Hạc – Nam Cao)

Qua đĩ, cho biết đặc điểm và cơng dụng của khởi ngữ trong câu?

3/ :

Ngơn ngữ và giọng điệu của bài “Bài thơ về tiểu đội xe khơng kính” của Phạm Tiến Duật cĩ đặc điểm gì nổi bật ? Ngơn

ngữ và giọng điệu ấy đã cĩ tác dụng như thế nào trong việc khắc họa hình ảnh những chiến sĩ lái xe trên tuyến đường TrườngSơn?

GỢI Ý LÀM BÀI

Câu 1:

 Từ “mặt trời” trong câu thơ:

Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng

Được sử dụng theop biện pháp tu từ ẩn dụ,

 Khơng thể coi đây là hiện tượng một nghĩa gốc của từ phát triển thành nhiều nghĩa

Vì: Nhà thơ gọi em bé (đứa con của người mẹ Tà-ơi ) là “mặt trời” dựa theo mối quan hệ tương đồng giữa hai đối

tượng được cảm nhận theo chủ quan của nhà thơ Sự chuyển nghĩa của mặt trời trong câu thơ chỉ cĩ tính chất lâm thời, nĩ khơng làm cho từ cĩ thêm nghĩa mới và khơng thể đưa vào để giải thích trong từ điển

1a/ Khởi ngữ:

-Khởi ngữ trong đoạn văn: (Đối với) Chúng mình

 Vị trí: thường đứng trước chủ ngữ

 Tác dụng : nêu lên đề tài của câu

Dấu hiệu : cĩ thể thêm quan hệ từ về, đối với vào trước khởi ngữ.

Câu 2 :

Một trong những nét đặc sắc của “Bài thơ về tiểu đội xe khơng kính” của Phạm Tiến Duật là giọng điệu và ngơn ngữ:

Trang 15

 Ngôn ngữ : ngôn ngữ của bài thơ gần với lời nói thường , mang tính khẩu ngữ , sinh động và khỏe khoắn :

Không có kính không phải vì xe không có kính.

+Giọng thơ tự nhiên gần với lời nói , có những câu như văn xuôi tưởng như khó chấp nhận trong thơ:

Không có kính không phải vì xe không có kính

Không có kính, ử thì có bụi

Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy

+Giọng thơ trẻ trung, có vẻ tinh nghịch pha chút ngang tàng :

Ung dung buồng lái ta ngồi’

Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa

Nhưng chính giọng điệu , ngôn ngữ ấy lại là nét độc đáo của bài thơ, tạo nên một giọng điệu ngang tàng, thể hiện cái hiên ngang , bất chấp khó khăn , nguy hiểm của anh lính lái xe Trường Sơn

Một số gợi ý khi phân tích “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm tiến Duật:

I-Giới thiệu bài thơ: +Nói đến nhà thơ Phạm Tiến Duật là người ta nhắc đến chùm thơ đặc sắc sủa ông viết về những người

lái xe Trường Sơn, những cô thanh niên xung phong hồi chiến tranh chống Mĩ (những năm 60- 70 thế kỉ trước –Trường Sơn đông, Trường Sơn tây, Lửa đèn, Gửi em, cô thanh niên xung phong, Nhớ ) Trong đó , “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”

có một vẻ đẹp riêng

+Bài thơ đã sáng tạo một hình ảnh độc đáo: những chiếc xe không kính, qua đó làm nổi bật hình ảnh

những người lính lái xe ở tuyến Trường Sơn hiên ngang , dũng cảm, trẻ trung, sôi nổi

(Thể thơ: tự do, câu dài, nhịp linh hoạt như câu văn xuôi, ít vần, 4 câu một khổ, khác với kiểu thơ tự do của bài đồng chí : câungắn , các khổ thơ không đều nhau.)

II-Các nội dung phân tích:

+Nhan đề của bài thơ và hình ảnh những chiếc xe không kính (Nhận xét về nhan đề bài thơ? Hình ảnh những chiếc xe không kính gợi cảm nhận suy nghĩ gì ?)

 Bài thơ có một nhan đề khá dài “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, tưởng như có chỗ thừa, nhưng chính nhan đề ấy lại thu hút người đọc ở cái vẻ lạ, độc đáo của nó Nhan đề bài thơ đã làm nổi bật hình ảnh toàn bài : những chiếc xe không kính Hình ảnh này là một phát hiện thú vị của tác giả, thể hiện sự gắn bó và am hiểu hiện thực đời sống chiến tranh trên

tuyến đường Trường Sơn Nhưng vì sao tác giả còn thêm vào nhan đề hai chữ bài thơ? Hai chữ ấy cho ta thấy rõ hơn

cách nhìn cách khai thác hiện thực của tác giả: không phải chỉ viết về những chiếc xe không kính hay là cái khốc liệt của chiến tranh , mà điều chủ yếu là Phạm Tiến Duật muốn nói về chất thơ của hiện thực ấy, chất thơ của tuổi trẻ hiên ngang,dũng cảm, trẻ trung, vượt lên thiếu thốn, gian khổ , hiểm nguy của chiến tranh

 Hình ảnh những chiếc xe trần trụi, xây xước , móp méo, không kính, không đèn mà vẫn băng băng trên đường ra tiền tuyến, chở quân , chở súng đạn , lương thực hướng về miền Nam là hình ảnh thực và thường gặp trong những năm tháng chống Mĩ gian lao và hào hùng Hình ảnh ấy, lần đầu tiên và cũng là duy nhất cho đến nay khơi dậy cảm hứng thơ của Phạm Tiến Duật

+Hình ảnh những chiến sĩ lái xe Trường Sơn – chủ nhân những chiếc xe không kính:

-( giọng điệu hai câu thơ đầu > tính cách người lái xe) : Hai câu thơ đầu có gịong điệu ngang tàng, lí sự với cấu trúc không có không phải vì không có :

Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật , bom rung kính vỡ đi rồi

Thật ra có thể nói một cách đơn giản : Xe không có kính vì bom giật , bom rung Nhưng nhà thơ lại chọn cách nói như là muốn tranh cãi với ai Giọng này phù hợp với tính cách ngang tàng dũng cảm , đầy nghị lực, tích tếu nhộn của những lái xe

Trang 16

Trường Sơn Cách giải thích này cũng gợi lên cái ác liệt của chiến tranh , người lính luôn cận kề với hiểm nguy , với cái chếtnhưng coi đó như chuyện bình thường.

- ( Tư thế , cảm giác và tâm trạng của người lính lái xe ? Tác dụng của điệp từ “nhìn”) :những người lính lái xe điều khiển những chiếc xe không kính kì lạ trong tư thế ung dung, hiên ngang , bình tĩnh, tự tin :

Ung dung buồng lái ta ngồi, Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa như ùa vào buồng lái

Tác giả đã diễn tả một cách cụ thể và gợi cảm những ấn tượng, cảm giác của người lái xe trên chiếc xe không kính Với tư

thế “nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng” Điệp từ “nhìn” có tác dụng khẳng định tư thế , thái độ của ngời lính Qua khung cửa

xe không còn kính chắn gió, người lính lái xe tiếp xúc trực tiếp với thế giới bên ngoài “nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng-Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim” Câu thơ diễn tả được cảm giác về tốc độ trên chiếc xe đang lao nhanh không có kính

chắn gió nên mới thấy đắng mắt, cay mắt, khi gió thổi thốc vào mặt Qua khung cửa đã không có kính, không chỉ mặt đất mà

cả bầu trời với sao trời, cánh chim cũng như ùa vào buồng lái Nhà thơ diễn tả chính xác các cảm giác mạnh và đột ngột của người ngồi trong buồng lái, khiến người đọc có thể hình dung được rõ ràng những ấn tượng, cảm giác ấy như chính mình

đang ở trên chiếc xe không kính “ Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim” còn có ý nghĩa tượng trưng , đó là con đường

ra mặt trận , con đường giải phóng miền Nam

-Hai khổ thơ tiếp theo làm sáng lên vẻ đẹp phẩm chất của người lính lái xe( phân tích các hình ảnh: bụi ,mưa có ý nghĩa gì? tinh thần thái độ của người lính qua ngôn ngữ, hình ảnh: ừ thì chưa cần, cười ha ha ):

+Sau “gió vào xoa mắt đắng” là “bụi”:

+“Tiểu đội xe không kính” đã xông pha trong cảnh “bom giật bom rung” , đã nếm trải gió bụi, vô cùng gian khổ ,các anh

còn hành quân trong mưa:

Không có kính ừ thì ướt áo Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời

Mưa rừng dữ dội, vả lại xe không kính, gian khổ không thể nào kể xiết Chấp nhận phơi phới , lạc quan:

Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.

Nhiệt tình của người lính cách mạng không còn trừu tượng nữa, được tính bằng những cung đường “lái trăm cây số nữa” Cung đường ấy trong bom đạn, mưa tuôn phải trả giá bằng mồ hôi , xương máu! Câu thơ bảy chữ mà có đến sáu thanh bằng diễn tả cái phơi phới, thênh thang đầy ngị lực, bất chấp mọi gian khổ : “Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi!”

-Hai khổ 5 và 6 ghi lại hình ảnh tiểu đội xe không kính và cuộc trú quân giữa rừng(phân tích tình đồng đội, đồng chí, điệp ngữ “lại đi”, hình ảnh “trời xanh thêm”):

+Sau những tháng ngày chiến dịch chở vũ khí, lương thực chi viện cho tiền phương, vượt qua hàng nghìn hàng vạn cây

số trong mưa bom bão đạn , tiểu đội xe không kính “đã về đây ” Một cái bắt tay thắm tình bè bạn, tình đồng chí:

Những chiếc xe từ trong bom rơi cửa kính vỡ rồi

Cũng cái năm tay, cái bắt tay của người lính, nhưng mỗi thời một khác Anh Vệ Quốc quan trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp :

Miệng cười buốt giá Thương nhau tay nắm lấy bàn tay

( Đồng chí – Chính Hữu)

Anh giải phóng quân trên đường chiến dịch, gặp bạn bè đồng đội “bắt tay qua cửa kính vỡ rồi” Tình thương yêu đồng chí đồng đội là bản chất, là sức mạnh của người lính không hề thay đổi Từ cái “nắm lấy bàn tay” đến cái “bắt tay qua cửa kính

vỡ rồi” là một quá trình trưởng thành và hiện đại của quân đội ta trong chiến tranh giải phóng dân tộc và đất nước.

+Cuộc trú quân dã chiến của tiểu đội xe không kính ngắn ngủi mà thắm tình đồng chí , đồng đội :

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời trời xanh thêm Sinh hoạt của người lính lái xe, cái ăn cái ngủ bình thường của con người được tóm lược vào trong hai hình ảnh “Bếp Hoàng Cầm” và “Võng mắc chông chênh” Cái gì cũng tạm bợ, cơ động, gian khổ, nhưng cách nhìn, cách nghĩ của chién sĩ

về chúng thật tươi tắn cảm động: là gia đình đấy Có bữa cơm hội ngộ Tình đồng đội cũng là tình anh em gia đình ruột thịt

Trang 17

Sau một bữa cơm thân mật, mộtvài câu chuyện thân tình lúc nằm võng, những người lính trẻ lại lên đườn Tiền phương vẫy gọi :

Lại đi, lại đi trời xanh thêm

Điệp ngữ “lại đi” diễn tả nhịp bước hành quân, những cung đường, những chặng đường tiến quân lên phía trước của tiểu đội xe khơng kính Hình ảnh “trời xanh thêm” là một nét vẽ tài hoa mang ý nghĩa tượng trưng sâu sắc: lạc quan, yêu đời, chứa chan hy vọng Là hy vọng , là chiến cơng đang đĩn chờ Đây là một đoạn thơ hể hiện sinh hoạt vật chất và tinh thần người lính thời đánh Mỹ, rát độc đáo mà ta ít gặp trong thơ thời ấy

-Khổ cuối bài thơ nĩi lên suy nghĩ của tác giả về tiểu đội xe khơng kính:

Khơng cĩ cĩ một trái tim Hậu quả của “bom giật,bom rung” , cái ác liệt của cuộc chiến tranh được mở rộng, nối dài ra Rồi những “chiếc xe khơng kính” của người lính Trường Sơn cĩ thể bị tước mất đi nhiều thứ khác nữa Tuy nhiên, trong khổ thơ, cĩ một sự tương phản

giữa cái “cĩ” với những điều “khơng cĩ” Cái cĩ ấy là : cĩ một trái tim, trái tim của người lính lái xe, trái tim yêu nước, yêu đời , tría tim dũng cảm Cái “cĩ” ấy đương đầu, thách thức và chiếnthắng tất cả những điều “khơng cĩ” kia

Câu thơ cuối cùng đọng lại như một lời tâm huyết, cũng như một lời nhằm giải thích cho tất cả những điều kì lạ, đệp dễ nĩitrong suốt 27 câu thơ trên nĩ:

Chỉ cần trong xe cĩ một tái tim

Bài thơ được khép lại mà âm hưởng của nĩ vẫn vang xa chính là nhờ câu thơ ấy Chỉ cần cĩ một trái tim! Đĩ là trái tim củangười lính lái xe, trái tim nồng nàn yêu Tổ quốc, trái tim tha thiết vì miền Nam thân yêu, trái tim dũng cảm Trái tim ấy cĩ sức mạnh vơ biên, mạnh hơn mọi nguy nan, mạnh hơn mọi thứ bom đạn, mạnh hơn cái chết

Kết: “Bài thơ về tiểu đội xe khơng kính” là một trong những bài thơ hay, một trong những kỷ niệm đẹp từ cuộc chiến đấu anh dũng bảo vệ Tổ quốc trải dài suốt mấy chục năm chống Mỹ của dân tộc ta Sau hơn bốn mươi năm ra đời, bài thơ vẫn cĩ một sức truyền cảm mạnh mẽ đối với người đọc, bỡi những hình ảnh chân thật, sinh động và độc đáo, bằng nhịp thơ nhanh vui, đặc biệt với những cảm hứng tràn trề niềm yêu đời và tình yêu đất nước

Đề :

Câu 1: Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi:

Áo anh rách vai Quần tơi cĩ vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân khơng giày Thương nhau tay năm lấy bàn tay Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo

(Đồng chí – Chính Hữu)

Trong các từ : vai , miệng , chân , tay , đầu ở đoạn thơ, từ nào được dùng theo nghĩa gốc, từ nào được dùng

theo nghĩa chuyển ? Nghĩa chuyển nào được dùng theo phương thức ẩn dụ , nghĩa chuyển nào được dùng theo phương thức hốn dụ?

Câu 2:Viết một văn bản nghị luận ( khơng quá một trang giấy thi) trình bày suy nghĩ về đức hy sinh

Câu 3 :Cảm nhận của em về hình ảnh người lính trong hai bài thơ “ Đồng chí” (Chính Hưu) , “Bài thơ về tiểu đội

xe khơng kính” (Phạm Tiến Duật)

Gợi ý làm bài

Câu 1:

Các từ được dùng theo nghĩa gốc : Miệng , chân , tay.

 Các từ được dùng theo nghĩa chuyển:

Theo phương thức hốn dụ : vai

Theo phương thức ẩn dụ : đầu

Câu 2:

*Có thể diễn đạt theo nhiều cách,song cần đảm bảo được một số ý chính sau:

Trang 18

 Giải thích sơ lược, nêu biểu hiện của đức hi sinh: là những suy nghĩ, hành động vì người khác, vì cộngđồng Người có đức hi sinh không chỉ có tấm lòng nhân ái mà còn là người biết đặt quyền lợi của người khác, của cộng đồng lên trên quyền lợi của bản thân mình…

 Khẳng định: đức hi sinh là tình cảm cao đẹp, là phẩm chất cao đẹp của con người Người có đức hi sinh luôn được mọi người yêu mến, trân trọng…

 Liên hệ thực tế để thấy:

+Có nhiều tấm gương giàu đức hi sinh, quên mình vì người khác, vì sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước Bác Hồ chính là biểu tượng cao đẹp nhất của con người hi sinh quên mình vì nhân dân, vì dân tộc

+Tuy nhiên trong cuộc sống cũng còn một số người có lối sống ích kỷ, chỉ nghĩ đến quyền lợi của cá nhân mình…

 Đức hi sinh từ lâu đã trở thành tình cảm có tính chất truyền thống đạo lý của con người , dân tộc Việt Nam….Mỗi người cần ý thức được điều này để góp phần làm cho cuộc sống có ý nghĩa hơn, tốt đẹp hơn

Trang 19

Câu 1: Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi :

Chúng kể cho tôi nghe cuộc sống buồn tẻ của chúng, và những chuyện đó làm tôi buồn lắm ; chúng kể cho tôi nghe về những con chim tôi bẫy được đang sống ra sao và nhiều chuyện trẻ con khác, nhưng tôi nhớ lại thì chưa bao giờ chúng nói một lời nào về bố và dì ghẻ Thường thì chúng chỉ đề nghị tôi kể chuyện cổ tích; tôi

kể lại những chuyện bà tôi đã kể, và nếu quên chỗ nào, tôi bảo chúng đợi, rồi chạy về nhà hỏi lại bà tôi Thấy thế

bà tôi rất hài lòng

Tôi cũng kể cho chúng nghe nhiều về bà tôi; một hôm thằng lớn thở dài nói :

- Có lẽ tất cả các bà đều rất tốt, bà tớ ngày trước cũng rất tốt

Nó thường nói một cách buồn bã: ngày trước, trước kia, đã có thời dường như nó đã sống trên trái đất

này một trăm năm, chứ không phải mười một năm

(M Go-rơ-ki, Thời thơ ấu)

a/ Trong số những từ ngã hoặc câu in đậm, đâu là lời dẫn trực tiếp, đâu là lời dẫn gián tiếp , đâu không phải là lờidẫn

b/Vận dụng những phương châm hội thoại đã học , giải thích vì sao nhân vật “thằng lớn” phải dùng từ có lẽ trong

lời nhận xét của mình

Câu 2: Trong tiếng Việt , xưng hô thường tuân theo phương châm “xưng khiêm, hô tôn” Em hiểu phương châm

đó như thế nào? Cho ví dụ minh họa

Câu 3:Cảm nhận của em về hình ảnh người lính trong hai bài thơ “ Đồng chí” (Chính Hưu) , “Bài thơ về tiểu đội

xe không kính” (Phạm Tiến Duật)

Gợi ý làm bài:

Câu1: a/ - Lời dẫn trực tiếp :

-Có lẽ tất cả các bà đều rất tốt, bà tớ ngày trước cũng rất tốt

Vì nhắc lại nguyên văn lời nói của nhân vật; và đây là lời thoại nên trước nó có dấu gạch ngang (thay vì đặt tongdấu ngoặc kép)

- Lời dẫn gián tiếp :

ngày trước, trước kia, đã có thời

Thuật lại lời nhân vật , không để trong dấu ngoặc kép

- Không phải lời dẫn :

cuộc sống buồn tẻ của chúng , về những con chim tôi bẫy được đang sống ra sao và nhiều chuyện trẻ con khác,chuyện cổ tích

Vì trước phần không phải là lời dẫn không có và không thể thêm các quan hệ từ rằng hoặc là.

b/ Trong lời nhận xét của mình, nhân vật “thằng lớn” phải dùng từ có lẽ vì điều nó nói chưa chắc đã đúng và chưa

có bằng chứng xác thực ( Khi giao tiếp, đừng nói những điều mà mình không tin là đúng hoặc không có bằngchứng xác thực – phương châmvề chất)

Câu 2/ “xưng khiêm hô tôn”:

Khi xưng hô, người nói tự xưng mình một cách khiêm tốn là “xưng khiêm” và gọi người đối thoại một cách tônkính gọi là “hô tôn”

Ví dụ : -Vua tự xưng là “quả nhân” (người kém cỏi), để thể hiện sự khiêm tốn và gọi các nhà sư là “cao tăng” đểthể hiện sự tôn kính

- Các nhà nho tự xưng là “hàn sĩ” , “kẻ hậu sinh” và gọi người khác là “tiên sinh”

-Bạn bè xưa tự xưng là “tiểu đệ” và gọi người khác là “đại ca”

- Một người xưng là”chúng tôi” và gọi người khác là “quí ông, quí bà ”

Trang 20

Câu

3-I-Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ hào hùng của dân tộc, hình ảnh người lính hiện lên trongthơ văn luôn mang nhiều vẻ đẹp Trong số những bài thơ nói về họ thì “Đồng chí” (Chính Hữu) và “Bài thơ vềtiểu đội xe không kính” (Phạm Tiến Duật) là hai bài thơ đặc sắc viết về người lính

dị, không nhấn mạnh đến cái phi thường của hình tượng người lính như một số bài thơ khác Nhà thơ không “mĩ

lệ hóa” những thiếu thốn gian khổ của họ Người lính hiện lên với vẻ đẹp bình dị mà cao cả Cụ thể ở đây là anh

bộ đội hồi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp

-Đó là những anh bộ đội xuất thân từ nông dân:

Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

Họ sẵn sàng bỏ lại những gì quí giá thân thiết của cuộc sống nơi làng quê để ra đi vì nghĩa lớn:

Ruộng nương anh gởi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ giá lung lay hai chữ “mặc kệ” đã nói lên cái mạnh mẽ dứt khoát có dáng dấp “trượng phu” Nhưng người lính ấy vẫn gắn bó

nặng lòng với làng quê thân yêu Họ không hề vô tình, nếu không đã chẳng thể cảm nhận tình nhớ thương của quêhương:

Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.

-Những người lính cách mạng trải qua những gian lao thiếu thốn tột cùng: những cơn sốt rét rừng, trang phụcphong phanh giữa mùa đông giá:

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sôt run người vầng trán ướt mồ hôi

Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá

Chân không giày.

Nhưng gian lao thiếu thốn càng làm nổi bật vẻ đẹp của anh bộ đội, sáng lên nụ cười của người lính “ miệng cười buốt giá”.

- Đẹp nhất ở họ là tình đồng chí đồng đội sâu sắc.Những điều đã làm cho những người xa lạ trở nên gắn bóthân thiết với nhau , trở thành đồng chí của nhau , đó là cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ độc lập

tự do của Tổ quốc Nó đã gắn bó các anh “ súng bên súng, đầu sát bên đầu” Thiếu thốn càng làm cho các anh thương yêu nhau hơn “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ” Bệnh tật làm cho họ càng cảm thông , thương yêu

nhau hơn:

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sôt run người vầng trán ướt mồ hôi Tình đồng chí ấy được biểu hiện cụ thể trong đoàn kết chiến đấu “Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới” Trong thương yêu đùm bọc “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” Thương yêu mộc mạc, không ồn ào nhưng thấm thía.

Bàn tay giao cảm thay cho lời nói Bàn tay nói lời im lặng của sự đoàn kết, gắn bó, cảm thông và cả sự hứa hẹnlập công Bàn tay nói được những gì khó nói thành lời

Bài thơ phác họa hình ảnh những anh bộ đội từ làng quê nghèo khắp miền đất nước đi đánh giặc Yếu tốquyết định mọi chiến thắng của các anh là một tình cảm mới nảy sinh và tôi luyện, thử thách ngay trong cuộckháng chiến – tình “Đồng chí”

2/”Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật được viết vào năm 1969 Đây là thời kỳ chống Mỹ

diễn ra vô cùng ác liệt Máy bay Mỹ trút hàng ngàn tấn bom xuống con đường chiến lược Trường Sơn Nhữngđoàn xe vận tải quân sự nối đuôi nhau đi về phía trước trên tuyến đường này Bài thơ đã ghi lại những nét ngangtàng, dũng cảm và lạc quan của người của người chiến sĩ lái xe trong binh đoàn vận tải quân sự , qua đó, ca ngợichủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đánh Mỹ Đó là những người lính luôn với tư thế hiên ngang, tinhthần dũng cảm, coi thường gian khổ hiểm nguy, tâm hồn sôi nổi trẻ trung, tình đồng đội , đồng chí cao đẹp, ý chíchiến đấu vì giải phóng miền Nam , thống nhất đất nước Đó là hình ảnh thế hệ trẻ trong chiến tranh chống Mỹ

Đó là những con người ý thức về thế hệ về trách nhiệm đối với Tổ quốc, với nhân dân

-Qua hình ảnh “chiếc xe không kính” , tác giả làm nổi rõ người chiến sĩ lái xe ở Trường Sơn Thiếu đi

những phương tiện vật chất tối thiểu lại là hoàn cảnh để người lính lái xe bộc lộ những phẩm chất cao đẹp, sức

Trang 21

mạnh tinh thần lớn lao của họ Đặc biệt là lòng dũng cảm, tinh thần bất chấp khó khăn gian khổ Họ là nhữngngười chiến sĩ can trường, dày dạn kinh nghiệm trong khói lửa với một tư thế sẵn sàng chiến đấu với một tư thếrất đẹp:

Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng

Họ sẵn sàng chấp nhận khó khăn gian khổ, coi đó là việc đương nhiên:

Không có kính, ừ thì có bụi

Không có kính, ừ thì ướt áo.

Họ luôn hồn nhiên, lạc quan , yêu đời:

Chẳng cần rửa phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha

Chưa cần thay lái trăm cây số nữa Mưa ngừng , gió lùa khô mau thôi.

-Tình đồng đội, đồng chí cũng được thể hiện:

Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi

Cũng là cái nắm tay , cái bắt tay của người lính, nhưng mỗi thời một khác Anh Vệ quốc quân trong những nămkháng chiến chống Pháp:

Miệng cười buốt giá Thương nhau tay nắm lấy bàn tay (Đồng chí – Chính Hữu) Anh Giải phóng quân trong kháng chiến chống Mỹ, trên đường chiến dịch, gặp bạn bè đồng đội “bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”.Tình yêu đồng chí , đồng đội là bản chất, là sức mạnh của người lính không hề thay đổi Từ cái “ nắm lấy bàn tay” đến cái “bắt tay qua cửa kính vỡ rồi” là một quá trình trưởng thành và hiện đại của quân đội ta trong

chiến tranh giải phóng dân tộc

-Quyết tâm chiến đấu và chí khí anh hùng của người lính không có bom đạn nào của quân thù có thể làm laychuyển được:

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe có một trái tim Người lính trong bài “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” là những chiến binh sống và chiến đấu trong tư thế

hiên ngang quả cảm, bất chấp mọi khó khăn nguy hiểm, sôi nổi, lạc quan yêu đời,sẵn sàng chiến đấu , săn sàng hysinh vì sự nghiệp giải phóng miền Nam

3/(Khái quát những điểm giống, khác nhau):

-Người lính trong hai bài thơ có những điểm chung: đó là những người lính Cách mạng , những anh bộ đội Cụ

Hồ Họ có đầy đủ những phẩm chất của người chiến sĩ cách mạng- yêu Tổ quốc thiết tha, sẵn sàng hy sinh tuổixuân cho Tổ quốc; dũng cảm vượt lên mọi khó khăn, gian khổ, hiểm nguy để hoàn thành nhiệm vụ Đăc biệt , họ

có chung tình đồng chí , đồng đội keo sơn gắn bó tạo nên sức mạnh chiến đấu

-Nét khác nhau: +Bài “Đồng chí” toát lên sự mộc mạc, sự ấm áp của tình đồng đội của những người nông dânmặc áo lính cùng hoàn cảnh nghèo khó, họ luôn sát cánh bên nhau trong những lúc gian khổ nhất, lúc ốm đaubệnh tật họ đều có nhau

+ Bài “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” là những người lính trẻ sôi nổi, ung dung , lạc quanyêu đời, mặc dù chiến tranh ác liệt, phương tiện không đảm bảo

+Bài “Đồng chí” thì sâu lắng trầm tư

+ Bài “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” sôi nổi , lạc quan pha chút ngang tàng (qua ngônngữ , giọng điệu)

+Bài “Đồng chí” là những người nông dân vừa được giải phóng, họ ra đi để bảo vệ độc lậpvừa giành được

+ Bài “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” người lính thời chống Mỹ ý thức giác ngộ cáchmạng của họ sâu sắc hơn, lý tưởng của họ rõ ràng hơn (vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, vì lý tưởng xã hội chủnghĩa)

KL: Dù ở đâu, trong thời điểm nào ta vẫn cảm thấy sự anh dũng đáng khâm phục của người lính, họ bất chấp khókhăn gian khổ , hy sinh của chiến tranh vệ quốc Chính Hữu và Phạm Tiến Duật đã hóa thân vào các chiến sĩ ViệtNam để khắc họa thật sinh động hình ảnh của họ, để lại cho đời những chân dung thật đẹp

Trang 22

Câu hỏi:

1- Khởi ngữ và dấu hiệu nhận biết ? Kể tên và nêu dấu hiệu nhận biết các thành phần biệt lập của câu ?

-Tìm khởi ngữ và các thành phần biệt lập trong những câu sau :

a-Còn tấm giương bằng thủy tinh tráng bạc , nó vẫn là người bạn trung thực, chân thành, thẳng thắn, không hề nói dối, cũng không bao giờ biết nịnh hót hay độc ác

(Băng Sơn)

b-Có lẽ tiếng Việt của chúng ta đẹp vì tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp, bỡi vì đời sống, cuộc đấu tranh của nhân dân

ta từ trước tới nay là cao quý, là vĩ đại, nghĩa là rất đẹp

(Hoàng Văn Huyền)

e-Có người khẻ nói:

-Bẩm, dễ có khi đê vỡ!

Ngài cau mặt, gắt rằng:

- Mặc kệ!

(Phạm Duy Tốn)

g-Ơi chiếc xe vận tải

Ta cầm lái đi đây

Nặng biết bao ân ngãi

Quý hơn bao vàng đầy

(Tố Hữu)

Câu 2 / Khổ thơ đầu và cuối bài “Đoàn thuyền đánh cá” (Huy Cận) có nhiều chi tiết hình ảnh giống nhau Hãy phân tích sự tương đồng và khác biệt của những hình ảnh, chi tiết ấy và nêu ý nghĩa của phép điệp ngữ ở hai khổ thơ này

Câu3/ (TLV) :Bài “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận có nhiều nét đặc sắc về nghệ thuật,phân tích bài thơ ( Có thẻ đề

mở : Phân tích một bài thơ hiện đại Việt Nam đã học (hoặc đọc thêm) mà theo em đó là một bài thơ có nhiều nét đặc sắc nghệthuật)

GỢI Ý BÀI LÀM

Câu1:

1a/ Khởi ngữ:

-Vị trí: thường đứng trước chủ ngữ

-Tác dụng : nêu lên đề tài của câu

-Dấu hiệu : có thể thêm quan hệ từ về, đối với vào trước khởi ngữ.

(trong câu 2a : “(Còn) tấm giương bằng thủy tinh tráng bạc” là khởi ngữ)

b/(1) Thành phàn tình thái :Là thành phần thể hiện cách nhìn của người nói, viết đối với sự việc được nói đến trong câu.

(trong câu 2b: “ có lẽ” , câu 2c : “ Ngẫm ra” , câu 2e : “ có khi” là thành phần tình thái)

(2) Thành phần cảm thán : Là thành phần được dùng để bộc lộ tâm lí của người nói, viết (vui, buồn, mừng, giận) (Vd: Chao ôi, bắt gặp một người như anh ta là một cơ hội hạn hữu cho sáng tác, nhưng hoàn thành sáng tác còn là một chặng

đường dài.)

(3) Thành phần gọi –đáp : Là thành phần được dùng để tạo lập hoặc duy trì quan hệ giao tiếp.

(trong câu e : “bẩm”, câu g : “Ơi” là thành phần gọi đáp.

(4) Thành phần phụ chú : Là thành phần được dùng để bổ sung một số chi tiết cho nội dung chính của câu.

( trong câu d: “dừa xiêm thấp lè tè, quả tròn, nước ngọt, dừa nếp lơ lửng giữa trời, quả vàng xanh mơn mởn, dừa lửa lá

đỏ, vỏ hồng ” là thành phần phụ chú).

* Dấu hiệu để nhận biết các thành phần biệt lập là : chúng không trực tiếp tham gia vào sự việc được nói trong câu.

Câu 2: Bài “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận gồm 7 khổ thơ , mỗi khổ thơ được xem như một công đoạn của quá trình ra

khơi đánh bắt, trở về của Đoàn thuyền đánh cá Trong đó, khổ đầu và khổ cuối của bài thơ có nhiều chi tiết hình ảnh giống nhau

Hai hình ảnh chính trong cả hai khổ thơ là “ mặt trời” và “đoàn thuyền” Ở khổ đầu là “mặt trời xuống biển” (lặn) và “đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi” ; còn ở khổ cuối là “mặt trời đội biển nhô màu mới” (mọc) và “đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời” trở về Có một câu thơ gần như lặp lại nguyên vẹn ( chỉ khác chữ “cùng” – “với”) ở cả hai khổ thơ nhưng khác nhau là

nằm ở cuối khổ đầu và nằm ở đầu khổ cuối:

Câu hát căng buồm cùng gió khơi ( khổ đầu) Câu hát căng buồm với gió khơi ( khổ cuối)

Việc lặp lại những hình ảnh, chi tiết này tạo sự tương ứng của thơ đầu và khổ thơ cuối bài, thể hiện trọn vẹn hành trình ra khơi đánh cá rồi trở về của đoàn thuyền nhịp cùng với sự vận hành của thời gian ,không gian từ hoàng hôn đến bình minh

Còn câu thơ: “Câu hát gió khơi” được lặp lại để thể hiện niềm vui tinh thần phấn chấn của những người lao động trên đoàn

thuyền đánh cá lúc ra đi thì khi trở về cũng với tinh thần ấy và tạo cho khổ thơ cuối như điệp khúc của bài hát

Điều ấy đã góp phần tạo cho bài thơ như một khúc hát ca ngợi sự giàu đẹp của biển , ca ngợi lao động và người lao động làm chủ

3 / TLV: Phân tích nét đặc sắc nghệ thuật bài “Đoàn thuyền đánh cá”:

I – MB :

Giới thiệu bàithơ đoàn thuyền I-Bài “Đoàn thuyền đánh cá “ của Huy Cận được viết năm 1958 tại Hòn Gai trong một chuyến nhà thơ đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Lúc đó cả miền Bắc nước ta tràn ngập

Trang 23

+ Việc đánh cá trong đêm : hoàng

hôn – đêm – bình minh

+Bài thơ kể lại : cảnh ra khơi –

đánh cá ngoài khơi - trở về đất

liền

b/Phân tích bút pháp lãng mạn thể

hiện ở hai khổ thơ đầu ( cảnh

đoàn thuyền ra khơi):

+Vũ trụ nghỉ ngơi , con người làm

việc ( ý nghĩa của hình ảnh đối

lập)

+Tiếng hát căng buồm ( bút pháp

lãng mạn) => niềm vui lao động

+Nội dung lời hát khi ra khơi

c/ Phân tích bút pháp lãng mạn

thể hiện ở bốn khổ giữa (cảnh

đánh cá ngoài khơi , trong đêm):

+ Con người hào nhập với trời

cao biển rộng (lướt giữa mây cao

với biển bằng)

niềm vui mới, hăng hái phán khởi lao vào mặt trận lao động xây dựng chủ nghĩa xã hội.-Bài thơ miêu tả một đêm đánh cá của một đoàn thuyền trên biển Để ca ngợi không khí lao động mới , con người lao động mới , con người làm chủ công việc , làm chủ thiên nhiên , làm chủ biển cả bao la, nhà thơ Huy Cận đã sử dụng hàng loạt thủ pháp nghệ thuật rất độc đáo, tinh tế làm cho bài thơ có màu sắc riêng

II –a/ Bao trùm lên tất cả là một trí tưởng tượng phong phú và một bút pháp lãng mạng bay bổng Chính bút pháp này, cái trí tưởng tượng này đã tạo nên nét đặc sắc nghệ thuật trong kết cấu của bài thơ

Bài thơ mở đầu bằng khung cảnh :

Mặt trời xuống biển như hòn lửa

b/(phân tích 2 khổ đầu):

Đoàn thuyền ra đi lúc hoàng hôn , mặt trời vừa lặn, đêm tối bắt đầu:

Mặt trời xuốn biển như hòn lửa Sóng đã cài then , đêm sạp cửa

Bằng mắt quan sát tỉ mỉ và tâm hồn thơ, tác giả đã tả cảnh chiều tà trên mặt biển thật đẹp, thật nên thơ Thời gian bắt đầu công việc đánh cá được nhà thơ giới thiệu thật rõ ràng, đó là buổi hoàng hôn, khi ông mặt trời đã chuyển sang màu đỏ như hòn lửa và dần dần chìm xuống lòng đại dương , nhường lại không gian cho đêm đen Trong hai câu thơ, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa So sánh “mặt trời” buổi chièu tà trên mặt biẻn với “hòn lửa” khổng lồ ấm nóng, thật kỳ vĩ Nhân hóa “sóng “

“cài then” và “đêm sập cửa” , sóng như những cái then cài cửa màn đêm và màn đêm là cánh cửa khổng lồ,ta thấy rõ thời gian đang trôi, từ cảnh chạng vạng lúc hoàng hôn, mànđêm đã bắt đầu buông xuống Kết thúc một ngày Đất trời, vũ trụ như chuyển sang trạng thái nghỉ ngơi thì ngược lại, ngư dân bắt tay vào công việc của mình:

Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi

Con người và đất trời như đối lập nhau về hành động khiến ta càng thấy được khí thế

và nhiệt tình lao động của con người Lao động đánh cá trên biển trong đêm là một công việc nặng nhọc và đầy nguy hiểm, thế mà ta tháy đoàn thuyền ra đi trong tiếng hát Tiếng hát tràn ngập không gian bao la, tiếng hát vang lên trong tâm tư người đánh cá, trong niềm say mê sự giàu đẹp của biển cả quê hương:

Tiếng hát căng buồm cùng gió khơi.

Gió căng buồm chứ đâu phải câu hát ? Hình ảnh “câu hát căng buồm” chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng, nó làm cho câu thơ đẹp lên, ý thơ phong phú them để ca ngợi niềm vui và nhiệt tình lao động của con người Ở bài thơ, ta bắt gặp rất nhiều chi tiết tràn đầy những tưởng tượng đẹp, làm cho ý thơ thêm đa nghĩa Đó chính là bút pháp lãng mạn, dùng những yếu tố tưởng tượng để bổ sung, để nhân lên ý nghĩa đẹp đẽ của hiện thực được miêu tả

Lời hát ngợi ca sự giàu có cùng với vẻ đẹp lung linh, diệu kỳ của biển trong trong đêm và mong ước chân chính của ngư dân Bút pháp lãng mạn của nhà thơ vẽ nên khung cảnh vừa thực vừa ảo:

Hát rằng cá bạc biển Đông lặng

Cá thu biển Đông như đoàn thoi Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi!

Giộng điệu thơ ngọt ngào, ngân dài và vang xa: “Cá bạc” , “đoàn thoi”,”dệt biển”,

“luồng sáng”, “dệt lưới” là những hình ảnh so sánh ẩn dụ sáng tạo đem đến cho người đọc bao liên tưởng thú vị về vẻ đẹp thơ ca viết vè lao động

c/ Phân tích 4khổ giữa: Trong những khổ thơ miêu tả cảnh đánh cá ngoài khơi, ta cũng bắt gặp những hình ảnh tương tự: lồng vào yếu tố tả thực là những biến thể khác nhau của trí tưởng tượng

-Bằng cách đó, nhiều khi nhà thơ đã tạo nên những hình ảnh kỳ ảo thật bất ngờ, có khi tưởng là phi lý mà lại hết sức hợp lý :

Thuyền ta lái giáo với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng Hình ảnh lãng mạn ở chỗ tưởng tượng ra rằng: “gió” làm “lái”, “trăng” làm “buồm”

phóng như bay trên mặt biển Thuyền và người hòa nhập vào thiên nhiên, lâng lâng

Trang 24

+Cảnh đánh cá đầy chất thơ

( trọng tâm phân tích):

-Cảnh lao động khẩn trương

- cảnh biển trong đêm

+tiếng hát trong đêm trên biển

-Sự vận động của đoàn thuyền

hòa nhịp với hành trình của mặt

- Khái quát chủ đề : Sự giàu đẹp

của biển cả quê hương; vẻ đẹp

của lao động và người lao động

-Nhưng đây không phải là một cuộc du ngoạn bằng thuyền Đến ngư trường , ngư

dân khẩn trương lao vào công việc “ dò bụng biển”, rồi “dàn đan thế trận” Cuộc đánh

cá thực sự là một cuộc chiến đáu đẻ giành lấy từ thiên nhiên những của cải, tài nguyên, bằng tất cả sức lực, trí tuệ của con người :

Ra đậu dặm xa dò bụng biển Dàn đan thế trận lưới vây giăng

- Cứ như thế, bút pháp lãng mạn và trí tưởng tượng của nhà thơ như dẫn ta đi lạc vào một cõi huỳen ảo của biển trời:

Đêm thở , sao lùa nước Hạ Long

Đêm như một con vật khổng lồ ở đại dương : nó thở Nhịp thở của đem chính là nhịp sóng dâng lên hạ xuống Nhưng nhà thơ đã tưởng tượng và cắt nghĩa một cách đầy bất ngờ: sao lùa nước Hạ Long làm nên nhịp thở của đêm ! Hình ảnh lạ đem lại cho sao trời long lanh đáy nước cái độc đáo của sự sáng tạo nghệ thuật , gợi vẻ đẹp hùng vĩ của biển khơi

-Bài hát vang lên căng buồm đưa huyền ra khơi, bài hát lại vang lên trong lao động khẩn trương và say mê:

Ta hát bài ca gọi cá vào

Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao

Lần thứ hai tiếng hát vang lên trên biển Tiếng gõ thuyền đuổi cá hòa cùng sóng biển Vầng trăng soi xuống mặt biển, muôn ngàn ánh sáng tan ra theo làn sóng vỗ vào mạn thuyền Nhưng tác giả lại tưởng tượng trăng cao gõ thuyền gọi cá vào lưới Hiện thực

đã được bút pháp lãng mạn chắp cánh làm cho đẹp thêm công việc đánh cá trên biển cả

- Ban đêm trời tối, nhưng đêm ngoài biển khơi này tràn ngập ánh sáng Ánh sáng của trăng, ánh sáng của sao đã đành, ở nước lấp lánh cũng có ánh sáng Nhưng lại còn có

ánh sáng của cá với nhiều sắc màu lạ: cá “dệt biển muôn luồng sáng” , “ cá song lấp lánh đuốc đen hồng” , rồi những đuôi cá “quẫy trăng vàng chóe” , rồi “vẩy bạc, đuôi vàng” Tất cả màu sắc ấy là của cá, do cá ( ca ngợi sự giàu đẹp của biển) Ta như

được ngắm một bức tranh sơn mài cẩn xa cừ loang loáng, lấp lánh sắc màu Trí tưởng tượng của nhà thơ, bút pháp lãng mạn của nhà thơ thật bay bổng

d/ Khổ cuối:Khổ thơ cuối cùng miêu tả cảnh trở về của đoàn thuyền đánh cá:

Câu hát căng buồm với gió khơi Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời Mặt trời đội biển nhô màu mới Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi

Vẫn là tiếng hát khỏe khoắn của người ngư dân dạn dày sóng nươc đang vươn lên làm chủ cuộc đời Tiếng hát hòa trong gió, thổi căng cánh buồm đưa đoàn thuyền ra khơi

đêm trước, nay lại cùng đoàn thuyền đầy ắp cá hân hoan về bến Hình ảnh “Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời” rất hiện thực mà cũng rất hào hùng Nó phản ánh một thói

quen lâu đời của ngư dân là đưa cá về bến trước khi mặt trời lên, đồng thời cũng hàm ý nói lên khí thế đi lên mạnh mẽ của họ trong công cuộc dựng xay đất nước sau giải phóng

Hòa cùng niềm vui to lớn của mọi người, nhà thơ chắp cánh cho trí tưởng tượng của

mình bay bổng Đoàn thuyền lao vun vút trên mặt biển, “Mặt trời đội biển nhô màu mới”, một màu hồng rạng rỡ, tinh khôi, và ánh mặt trời phản chiếu trong muôn ngàn mắt

cá trên thuyền, khiến nhà thơ liên tưởng tới hàng ngàn mặt trời nhỏ đang tỏa sáng niềm vui Đến đây, bức tranh biển cả ngập tràn sắc màu tươi sáng và ăm ắp chất sống trong từng dáng hình, đường nét của cảnh,của người Khổ thơ thể hiện một khung cảnh lao động đầy khí thế của con người, khung cảnh của cuộc sống mới trong ánh sáng mới rực rỡ

e/ Bài thơ còn có những nét dặc sắc gì nữa về nghệ thuật ? Ta còn có thể kể nhiều nét đặc sắc nữa như : thể thơ (mỗi khổ thơ gồm có bốn câu thơ như thơ tứ tuyệt, nghiêm trang, đỉnh đạc với cách gieo vần biến hóa), nhịp điệu và nhạc điệu lúc thì sôi nổi, lúc thìngân nga, lâng lâng nhưng cái bao trùm lên tất cả, chi phối tất cả vẫn là bút pháp lãng mạn của một trí tưởng tượng dồi dào trong việc dựng nên những hình ảnh thơ lạ, độc đáo nhưng đày sức gợi cảm Có thể nói, riêng về mặt nghệ thuật, bài thơ là một thành công nổi bật của thơ ca hiện đại Việt Nam

III- KL: Bài thơ “ Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận cho ta thấy được sự giàu đẹp của

biển cả quê hương và vẻ đẹp của lao động và người lao động làm chủ quê hương đất nước Bài thơ nói với ta về lòng yêu đời, yêu cuộc sống, yêu con người Với bút pháp

Trang 25

(Giang Nam – Quê hương)

2- Trình bày những nét nghệ thuật trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa pa” của Nguyễn Thành Long.

3- Nêu mạch cảm xúc, cảm hứng chủ đạo và phân tích 3 câu đầu của bài thơ “ Bếp lửa” của Bằng Việt

4 – TLV :Phân tích bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt để cho thấy tình yêu quê hương đất nước chan hòa với bao kỷ niệm tuổi thơ vô cùng thiết tha về người bà kính yêu, người bà đôn hậu và tần tảo sớm khuya sáng bừng lên như một ngọn lửa thần

kỳ và thiêng liêng

Gợi ý làm bàiCâu1:(phải xác định cho được thành phần biệt lập trong đoạn thơ là thành phần gì? nêu cho được tác dụng của thành phần

đó : thành phần biệt lập trong đoạn thơ trên là những từ ngữ ở trong ngoặc đơn – thành phần phụ chú- tác dụng:để bổ sung một số chi tiết cho nội dung chính của câu)

- Thành phần biệt lập trong đoạn thơ:

Cô bé nhà bên (có ai ngờ) Cũng vào du kích Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi)

(Giang Nam – Quê hương)

là thành phần phụ chú : “có ai ngờ” , “thương thương quá đi thôi” nhằm nêu thái độ ( cử chỉ , hành động) kèm theo lời nói của ngườ nói chứ không trình bày việc cô gái làm (vào du kích) hoặc miêu tả đôi mắt cô gái (mắt đen tròn)

-Thành phần phụ chú ở đây trình bày thái độ của người đang nói : ngạc nhiên trước việc cô gái tham gia du khích, xúc động trước nụ cười hồn nhiên và đôi mắt đen tròn của cô gái

Câu 2: (Khi phân tích nghệ thật của truyện cần chú ý các điểm : cốt truyện , tình huống truyên,nhân vật, lời văn )

Nghệ thuật củaTruyện ngắn “Lặng lẽ Sa pa ( Nguyễn Thành Long):

-Truyện nàycó cốt truyện hết sức đơn giản, không có xung đột, cũng không có nút thắt hay cao trào như các truyện ngắn khác

- Một trong những nét mối chốt của nghệ thuật truyện ngắn này là xây dựng tình huống truyện: tình huống cơ bả của truyện

“Lặng lẽ Sa pa” chính là cuộc gặp gỡ của người thanh niên làm việc một mình ở trạm khí tượng với bác lái xe và hai hành

khách trên chuyến xe ấy - ông họa sĩ và cô kỹ sư lên thăm chốc lát nơi ở và nơi làm việc của anh thanh niên Tình huống gặp

gỡ này là cơ hội thuận tiện để tác giả khắc họa “bức chân dung” nhân vật chính một cách tự nhiên và tập trung, qua sự quan sát củ các nhân vật khác và qua chính lời lẽ, hành động của anh Đồng thời, qua “bức chân dung”(cả cuộc sống và những suy

nghĩ) của người thanh niên, qua cảm nhận của các nhân vật khác (chủ yếu là ông họa sĩ) vè anh và những người như anh , tác

giả đã làm nổi bật chủ đề tác phẩm:Trong cái lặng lẽ, vắng vẻ trên núi Sa pa, nơi mà nghe tên người ta chỉ nghĩ đến sự

nghỉ ngơi, vẫn có bao nhiêu người đang ngày đêm làm việc miệt mài, say mê cho đất nước.

-Các nhân vật đều là những người vô danh Đó là những con người bình thường, âm thầm và lặng lẽ ngày đêm “làm việc và

lo nghĩ cho đất nước, cho cuộc sống” Nhân vật chính được giới thiệu sau, qua lời kể của nhân vật phụ với những nét gây ấn tượng, gợi hứng thú của mọi người

-Lời văn của truyện trau chuốt,giàu chất thơ Truyện vừa có chất thơ, chất họa Chất thơ bàng bạc toát lên từ các chi tiết, từ khung cảnh thiên nhiên Sa pa đẹp như những bức tranh và chất thơ ấy còn có ở chính tâm hồn các nhân vật với những cảm xúc suy nghĩ trong sáng, đẹp đẽ Chất thơ của truyện đi liền với chất họa Truyện cũng có thể xem là những bức tranh đẹp, những bức tranh về cảnh thiên nhiên Sa pa, về cuộc gặp gỡ giữa ba nhân vật, bức chân dung ký họa về nhân vật chính – anh thanh niên

/Câu 3:a-Bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt mở ra với hình ảnh bếp lửa, từ đó gợi về những kỷ niệm tuổi ấu thơ sống với bà, làm hiện lên hình ảnh bà chăm sóc, lo toan vất vả với tình thương yêu vô bờ dành cho cháu Đứa cháu nay trưởng thành, từ nơi xa suy ngẫm, thấu hiểu về bà Cuối cùng người cháu gởi niềm thương nỗi nhớ về với bà Vậy mạch cảm xúc của bài thơ

là đi từ quá khứ đến hiện tại, từ kỷ niệm đến suy ngẫm theo dòng hồi tưởng

Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là tình cảm bà cháu, là nỗi nhớ, lòng kính yêu và biết ơn vô hạn của người cháu với bà mình cũng là với gia đình và quê hương đất nước

b-Hình ảnh đầu tiên hiện lên trong trí nhớ của tác giả là hình ảnh bếp lửa ở một làng quê Việt Nam từ thời thơ ấu:

Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

“Chờn vờn” là từ láy tượng hình vừa giúp ta hình dung làn sương sớm đang bay nhè nhẹ quanh bếp lửa vừa gợi cái mờ nhòa của hình ảnh ký ức theo thời gian Từ “ấp iu” là một sáng tạo mới mẻ của nhà thơ Đó không phải là từ láy, từ ghép đơn thuần mà là sự kết hợp và biến thể của hai từ “ấp ủ” và “nâng niu” “Ấp iu” gợi đến bàn tay kiên nhẫn, khéo léo và tấm lòng

chi chút của người nhóm bếp, lại đúng với công việc nhóm lửa cụ thể

-Từ hình ảnh bếp lửa liên tưởng tự nhiên đến người nhóm lửa, nhóm bếp - đến nỗi nhớ, tình thương với bà của đứa cháu đang

ở xa:

Cháu thương bà biết mấy nắng mưa “Biết mấy nắng mưa” là một cách nói ẩn dụ gợi ra phần nào cuộc đời vất vả lo toan của bà.

Trang 26

Hướng dẫn : Phân tích bài “Bếp lửa”:

I- Giới thiệu bài thơ “Bếp lửa”

( bài thơ viết về tình cảm bà cháu)

- Trở lại đề ( nêu lại phần gợi ý ở đề

bài)

II- TB:

1/Mạch cảm xúc và cảm hứng chủ

đạo của bài thơ

2/ Phân tích bài thơ (theo mạch

cảm xúc - bố cục bài thơ)

a/ 3 câu đầu : khơi nguồn dòng hồi

tưởng cảm xúc:

-Hình ảnh bếp lửa được hình dung

trong trí nhớ của tác giả (phân tích từ

láy “chờn vờn”“ấp iu”)

-Từ hình ảnh bếp lửa liên tưởng tới

ngời nhóm lửa-người bà (phân tích

hình ảnh ẩn dụ “(biết mấy) nắng

mưa”)

b/Khổ thơ thứ 2 (năm câu tiếp

theo): Kỷ niệm tuổi thơ, kỷ niệm

buồn khó quên “Lên bốn tuổi sống

mũi còn cay”:

- Nhớ lại quá khứ : nhớ những năm

tháng chiến tranh chống Pháp gian

khổ (đói mòn đói mỏi, khô rạc

ngựa gầy)

-Hình ảnh chi tiết ám ảnh mãi đến

bây giờ: mùi khói bếp (đến bây giờ

sống mũi còn cay)

c/ Khổ 3:(11 câu: “Tám năm

ròng trên những cánh đồng xa”):

-Chi tiết tiếp theo hiện lên trong hồi

ức của cháu : tiếng chim tu hú kêu

trong ngày hè, là âm thanh của đồng

quê

-Tiếng chim tu hú vang vọng giúp

tác giả lại nhớ về bà

I- Viết về người bà trong gia đình, với tình thương và đức hy sinh cao cả, bài thơ

“Bếp lửa” của Bằng Việt là một trong những bài thơ lắng sâu trong tâm hồn tuổi thơmỗi chúng ta

-Bài thơ đã cho thấy tình yêu quê hương đất nước chan hòa với bao kỷ niệm tuổi thơ

vô cùng thiết tha về người bà kính yêu, người bà đôn hậu và tần tảo sớm khuya sángbừng lên như một ngọn lửa thần kỳ và thiêng liêng

1/-Bài thơ mở ra với hình ảnh bếp lửa, từ đó gợi về những kỷ niệm tuổi ấu thơ sốngvới bà, làm hiện lên hình ảnh bà chăm sóc, lo toan vất vả với tình thương yêu vô bờdành cho cháu Đứa cháu nay trưởng thành, từ nơi xa suy ngẫm, thấu hiểu về bà Cuốicùng người cháu gởi niềm thương nỗi nhớ về với bà Vậy mạch cảm xúc của bài thơ

II-là đi từ quá khứ đến hiện tại, từ kỷ niệm đến suy ngẫm theo dòng hồi tưởng

-Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là tình cảm bà cháu, là nỗi nhớ, lòng kính yêu và biết

ơn vô hạn của người cháu với bà mình cũng là với gia đình và quê hương đất nước.2/

a-Hình ảnh đầu tiên hiện lên trong trí nhớ của tác giả là hình ảnh bếp lửa ở một làngquê Việt Nam từ thời thơ ấu:

Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

“Chờn vờn” là từ láy tượng hình vừa giúp ta hình dung làn sương sớm đang bay nhè nhẹ quanh bếp lửa vừa gợi cái mờ nhòa của hình ảnh ký ức theo thời gian Từ “ấp iu”

là một sáng tạo mới mẻ của nhà thơ Đó không phải là từ láy, từ ghép đơn thuần mà

là sự kết hợp và biến thể của hai từ “ấp ủ” và “nâng niu” “Ấp iu” gợi đến bàn tay

kiên nhẫn, khéo léo và tấm lòng chi chút của người nhóm bếp, lại đúng với công việcnhóm lửa cụ thể

-Từ hình ảnh bếp lửa liên tưởng tự nhiên đến người nhóm lửa, nhóm bếp - đến nỗinhớ, tình thương với bà của đứa cháu đang ở xa:

Cháu thương bà biết mấy nắng mưa “Biết mấy nắng mưa” là một cách nói ẩn dụ gợi ra phần nào cuộc đời vất vả lo toan

của bà

b-Khổ thứ hai nói về từ thời ấu thơ rất xa hiện về, đó là kỷ niệm buồn khó quên:

Lên bốn tuổi , cháu đã quen mùi khói Năm ấy ,là năm đói mòn, đói mỏi

Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu Nghĩ lại đến bây giờ sống mũi còn cay!

Hình ảnh những năm tháng chiến tranh chống Pháp gian khổ được hiện về qua thành

ngữ “đói mòn, đói mỏi”- cái đói kéo dài làm mệt mỏi , kiệt sức (cuối năm 1944 đầu

năm 1945, nạn đói kinh khủng đã xảy ra, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói).Hìnhảnh con ngựa gầy rạc thì chắc người bố đánh xe cũng gầy khô

- Nhưng ấn tượng sâu đậm nhất vẫn là mùi khói bếp: khói hun nhèm mắt cháu, khói

nhiều cay khét Đó là kỷ niệm về “mùi khói”, về “khói hun”, một cảnh đời nghèo

khổ gắn liền với bếp lửa gia đình trước cách mạng Vần thơ là tiếng lòng thời thơ ấu

gian khổ, rất chân thật cảm động “Nghĩ lại đến giờ” (đó là 1963, 19 năm đã trôi qua), mà đứa cháu vẫn cảm thấy “sống mũi còn cay!” Kỷ niệm buồn , vết thương

Chim tu hú kêu những ngày hè, tiếng tu hú kêu trên những cánh đồng xa cứ khắckhoải kêu mãi, kêu hoài, trong hiện thực đã tha thiết, trong nỗi nhớ lại càng trở nên dadiết hơn Tiếng chim tu hú là âm thanh đồng quê thật tha thiết Tiếng chim tu hú trởthành một mảnh tâm hồn tuổi thơ Tiếng chim tu hú, những chuyện kể của bà về Huếthân yêu đã trở thành kỷ niệm :

Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!

-Tám năm ấy, đất nước có chiến tranh “Mẹ cùng cha bận công tác không về”, cháu ở

cùng bà, cháu lớn lên trong tình thương và sự chắm sóc nuôi dưỡng của bà:

Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe

Trang 27

d/Đoạn tiếp theo:(10 câu :Năm

giặc đốt làng niềm tin dai dẳng) :

Những phẩm chất cao quý của bà:

-Vững long tin trước mọi tai họa thử

thách ( “Vẫn vững lòng được bình

an”).

-Bếp lửa thành ngọn lửa bất diệt,

ngọn lửa của tình thương

==> ý chí , bản lĩnh sống của bà, của

người phụ nữ Việt Nam

đ/Đoạn thơ: “Lận đận đời bà thiêng

liêng - bếp lửa”(8 câu): những suy

ngẫm về người bà kính yêu, về bếp

lửa trong mỗi gia đình Việt Nam:

- Điệp từ “nhóm”

-Lời khẳng định ca ngợi: “Ôi kỳ diệu

và thiêng liêng - bếp lửa”

Bà dạy cháu làm , bà chăm cháu học

Hai câu thơ 16 chữ mà chữ bà, chữ cháu đã chiếm đúng một nửa Ngôn từ đã hội tụ

tất cả tình thương của bà dành cho cháu, gợi tả tình bà cháu quấn quýt yêu thương,

một tình thương ấp ủ, chở che Hay nhất, hàm súc nhất là từ ngữ “cháu ở cùng bà”,

“bà bảo”, “bà dạy”, “bà chăm” đã diễn tả một cáh sâu sắc tấm lòng đôn hậu, tình

thương bao la , sự chăm chút của bà đối với cháu nhỏ Trong nhiều gia đình ViệtNam, do nhiều cảnh ngộ khác nhau, mà vai trò của người bà đã thay thế vai trò củangười mẹ hiền

-Năm tháng đã trôi qua thế mà bà vẫn “khó nhọc”, vất vả “nhóm bếp lửa” Nghĩ vềngọn lửa hồng của bếp lửa, nghĩ về tiếng chim tu hú gọi bầy, đứa cháu gọi nhắn thiếttha chim tu hú “kêu chi hoài” Câu thơ cảm thán và câu hỏi tu từ diễn tả nỗi thươngnhớ bà bồi hồi tha thiết Nhà thơ đắm chìm trong suy tưởng để trò chuyện với conchim quê hương, trách nó không đến ở với bà để bà đỡ nhớ cháu, đỡ cô đơn tuổi già.Câu thơ thật tự nhiên, cảm động, chân thành:

Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc

Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?

Năm chữ “nghĩ thương bà khó nhọc” nói lên lòng biết ơn bà của đứa cháu đã và mang

nặng trong trái tim mình tình thương của bà dành cho cháu

d- Miên man theo dòng cảm xúc hồi tưởng, hình ảnh bà càng hiện lên rõ nét, cụ thểvới những phẩm chất cao quý: Bình tĩnh, vững lòng, đinh ninh vượt qua mọi thửthách khốc liệt của chiến tranh,làm trọn nhiệm vụ hậu phương để người đi xa côngtác được yên lòng Bà là chỗ dựa tinh thần vững chắc Sống trong những năm chiến

tranh, khi “giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi” được sự “đỡ đần” của bà con hàng xóm,hai bà cháu mới dựng lại được túp lều tranh, thế nhưng bà vẫn “vững lòng” trước

mọi tai họa thử thách:

Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:

“Bố ở chiến khu, bố còn việc bố Mày có viết thư chớ kể này kể nọ

Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”

Lời dặn trực tiếp của bà khi cháu viết thư cho bố không chỉ giúp ta hình dung giọngnói, tiếng nói, tình cảm và suy nghĩ của bà mà còn làm sáng lên phẩm chất của người

bà, người mẹ Việt Nam yêu nước, đầy lòng hy sinh, kiên trì nhóm lửa, giữ lửa

-Từ “bếp lửa”, đứa cháu nghĩ về “ngọn lửa”.Một hình tượng rất tráng lệ “Bếp lửa bà nhen” sớm sớm chiều chiều đã sáng bừng lên thành ngọn lửa bất diệt, ngọn lửa của tình thương “luôn ủ sẵn”, ngọn lửa của niềm tin vô cùng “dai dẳng” bền bỉ và bất diệt Cùng với hình tượng “ngọn lửa”, các từ ngữ chỉ thời gian:”rồi sớm rồi chiều”, các động từ: “nhen”, “ủ sẵn” , “chứa” (chứa niềm tin dai dẳng) đã khẳng định ý chí,

bản lĩnh sống của bà, cũng là của người phụ nữ Việt Nam giữa thời loạn lạc:

Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng Điệp ngữ “một ngọn lửa” và kết cấu song hành đã làm cho giọng thơ vang lên mạnh

mẽ, đầy xúc động tự hào

đ/Tám câu thơ tiếp theo là những suy ngẫm sâu sắc của nhà thơ , của đứa cháu vềngười bà yêu kính , về bếp lửa trong mỗi gia đình Việt nam chúng ta Cuộc đời bà

nhiều “lận đận”, trải qua nhiều “nắng mưa” vất vả Bà cần mẫn lo toan, chịu thương

chịu khó, thức khuya dậy sớm vì bát cơm, manh áo của con cháu trong gia đình Vầnthơ chứa đựng bao nghĩa nặng tình sâu Cháu vô cùng cảm phục và biết ơn bà:

Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ

Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm

Bà không chỉ là người giữ bếp giữ lửa mà còn là người nhóm bếp, nhóm lửa:

Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ Điệp từ “nhóm” trong 4 câu thơ có điểm chung là cùng gắn với hành động nhóm

bếp nhóm lửa của bà nhưng lại khác nhau ở những ý nghĩa cụ thể: khi thì nhóm bếplửa ấp iu, nông đượm để sưởi ấm cho bà cháu qua cái lạnh của sương sớm; đến câutiếp theo thì đã vừa nhóm bếp luộc khoai, luộc sắn cho cháu ăn đỡ đói lòng mà nhưcòn đem đến cho đứa cháu nhỏ cái ngọt bùi của sắn khoai, của tình thương vô hạn của

bà Đến câu tiếp theo thì lòng bà còn mở rộng hơn cùng với nồi xôi gạo mới là tìnhcảm xóm làng đoàn kết, gắn bó, chia ngọt sẻ bùi và đến câu thứ tư thì hoàn toàn mangnghĩa trừu tượng: nhóm dậy tâm tình tuổi nhỏ Tâm hồn và khát vọng tuổi thơ đã

sáng bừng lên từ ngọn lửa do bà”nhóm” suốt mất chục năm trời.

Trang 28

e/ Bốn câu cuối:Tình thương

nhớ,lòng kính yêu và biết ơn của đứa

cháu nay đã đi xa

III KB :

-Ý nghĩa của bài thơ

-Nét đặc sắc vè nghệ thuật

Chính từ đó mà, theo mạch suy ngẫm, nhà thơ đi lên khái quát rất tự nhiên và hợp

lý: “Ôi kỳ diệu và thiêng liêng - bếp lửa” Đúng vậy, vì bếp lửa thật giản dị , bình

thường và phổ biến trong mọi gia đình Việt Nam, nhưng bếp lửa cũng thật cao quý,

kỳ diệu và thiêng liêng vì nó luôn gắn liền với bà - người giữ lửa, nhóm lửa, truyềnlửa, người tạo nên tuổi thơ của cháu Bếp lửa trở thành một mảnh tâm hồn, một phầnkhông thể thiếu trong đời sống tinh thần của cháu

e/ Bốn câu kết thể hiện một cách đằm thắm tình thương nhớ, lòng kính yêu và biết ơncủa đứa cháu bé bỏng nay đã đi xa:

Giờ cháu đã đi xa Có ngọn khói trăm tàu

Có lửa trăm nhà , niềm vui trăm ngả Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở -Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?

Cuộc đời mới thật vui, thật đẹp,đã “có ngọn khói trăm tàu” đã “có ngọn lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả”, nhưng cháu vẫn không nguôi nhớ bà, nhớ bếp lửa gia đình

thương yêu Không gian và thời gian xa cách, và dù cuộc đời có đổi thay, nhưng tìnhthương nhớ bà vẫn thiết tha mãnh liệt Trở về thời hiện tại , nhà thơ lại muốn hỏi bà,nhắc bà việc nhóm bếp để nói cái ý không bao giờ quên quá khứ, không bao giờ quênđược hình ảnh bà với bếp lửa của một thời thơ ấu nghèo khổ,gian nan mà ấm ápnghĩa tình

Như vậy, hình ảnh trung tâm (bếp lửa) mở đầu, khơi nguồn mạch cảm xúc của bàithơ, của dòng hồi tưởng đã được khép lại bằng chính hình ảnh ấy

III “Bếp lửa” là một bài thơ hay và độc đáo Bài thơ không chỉ nói về bà, về tình bà

cháu mà còn có ý nghĩa triết lý thầm kín; Những gì là thân thiết nhất của tuổi thơ mỗingười đều có lúc tỏa sáng, nâng đỡ con người suốt cả cuộc đời Tình yêu thương vàlòng biết ơn bà chính là một biểu hiện của tình yêu thương , gắn bó với gia đình, quêhương và đó cũng là khởi đầu của tình người, tình yêu nước

- Lời thơ đẹp, chất thơ trong trẻo, trẻ trung Hình tượng thơ : “bếp lửa” “khói hun”,

“ngọn lửa”, “tiếng chim tu hú” bổ sung kết hợp thật tự nhiên giữa kể và tả bằng

dòng hồi tưởng và suy ngẫm rất thơ và đầy ấn tượng

Trang 29

Câu hỏi:

1 -Tìm khởi ngữ và các thành phần biệt lập trong những câu sau và từ đó cho biết thế nào là khởi ngữ và dấu hiệu nhận biết ?

Kể tên và nêu dấu hiệu nhận biết các thành phần biệt lập của câu ?

a-Còn tấm giương bằng thủy tinh tráng bạc , nó vẫn là người bạn trung thực, chân thành, thẳng thắn, không hề nói dối, cũngkhông bao giờ biết nịnh hót hay độc ác

(Băng Sơn)

b-Có lẽ tiếng Việt của chúng ta đẹp vì tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp, bỡi vì đời sống, cuộc đấu tranh của nhân dân

ta từ trước tới nay là cao quý, là vĩ đại, nghĩa là rất đẹp

(Hoàng Văn Huyền)

e-Có người khẻ nói:

-Bẩm, dễ có khi đê vỡ!

Ngài cau mặt, gắt rằng:

- Mặc kệ!

(Phạm Duy Tốn)

g-Ơi chiếc xe vận tải

Ta cầm lái đi đây

Nặng biết bao ân ngãi

Quý hơn bao vàng đầy

Câu3/ (TLV) :Bài “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận có nhiều nét đặc sắc về nghệ thuật,phân tích bài thơ ( Có thẻ đề

mở : Phân tích một bài thơ hiện đại Việt Nam đã học (hoặc đọc thêm) mà theo em đó là một bài thơ có nhiều nét đặc sắc nghệthuật)

GỢI Ý BÀI LÀM

Câu1:

1- Khởi ngữ và các thành phần biệt lập:

- Câu a : “(Còn) tấm giương bằng thủy tinh tráng bạc” là khởi ngữ

- Câu b: “ có lẽ” , câu c : “ Ngẫm ra” , câu e : “ có khi” là thành phần tình thái

- Câu d: “dừa xiêm thấp lè tè, quả tròn, nước ngọt, dừa nếp lơ lửng giữa trời, quả vàng xanh mơn mởn, dừa lửa lá đỏ, vỏ

hồng ” là thành phần phụ chú.

- Câu e : “bẩm”, câu g : “Ơi” là thành phần gọi đáp.

-Câu h : “Chao ôi” là thành phần cảm thán.

Vậy :

* Khởi ngữ :

-Vị trí: thường đứng trước chủ ngữ

-Tác dụng : nêu lên đề tài của câu

-Dấu hiệu : có thể thêm quan hệ từ về, đối với vào trước khởi ngữ.

* Các thành phần biệt lập:

(1) Thành phàn tình thái :Là thành phần thể hiện cách nhìn của người nói, viết đối với sự việc được nói đến trong câu (2) Thành phần cảm thán : Là thành phần được dùng để bộc lộ tâm lí của người nói, viết (vui, buồn, mừng, giận) (3) Thành phần gọi –đáp : Là thành phần được dùng để tạo lập hoặc duy trì quan hệ giao tiếp.

(4) Thành phần phụ chú : Là thành phần được dùng để bổ sung một số chi tiết cho nội dung chính của câu.

* Dấu hiệu để nhận biết các thành phần biệt lập là : chúng không trực tiếp tham gia vào sự việc được nói trong câu.

2 –Văn : Bài : ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ

Câu1: Bài “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận gồm 7 khổ thơ , mỗi khổ thơ được xem như một công đoạn của quá trình ra

khơi đánh bắt, trở về của Đoàn thuyền đánh cá Trong đó, khổ đầu và khổ cuối của bài thơ có nhiều chi tiết hình ảnh giốngnhau

Hai hình ảnh chính trong cả hai khổ thơ là “ mặt trời” và “đoàn thuyền” Ở khổ đầu là “mặt trời xuống biển” (lặn) và “đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi” ; còn ở khổ cuối là “mặt trời đội biển nhô màu mới” (mọc) và “đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời” trở về Có một câu thơ gần như lặp lại nguyên vẹn ( chỉ khác chữ “cùng” – “với”) ở cả hai khổ thơ nhưng khác nhau là

nằm ở cuối khổ đầu và nằm ở đầu khổ cuối:

Câu hát căng buồm cùng gió khơi ( khổ đầu)

Câu hát căng buồm với gió khơi ( khổ cuối)

Việc lặp lại những hình ảnh, chi tiết này tạo sự tương ứng của thơ đầu và khổ thơ cuối bài, thể hiện trọn vẹn hành trình rakhơi đánh cá rồi trở về của đoàn thuyền nhịp cùng với sự vận hành của thời gian ,không gian từ hoàng hôn đến bình minh

Trang 30

Còn câu thơ: “Câu hát gió khơi” được lặp lại để thể hiện niềm vui tinh thần phấn chấn của những người lao động trên đoàn

thuyền đánh cá lúc ra đi thì khi trở về cũng với tinh thần ấy và tạo cho khổ thơ cuối như điệp khúc của bài hát

Điều ấy đã góp phần tạo cho bài thơ như một khúc hát ca ngợi sự giàu đẹp của biển , ca ngợi lao động và người lao độnglàm chủ

2 / TLV: Phân tích nét đặc sắc nghệ thuật bài “Đoàn thuyền đánh cá”:

+ Việc đánh cá trong đêm : hoàng

hôn – đêm – bình minh

+Bài thơ kể lại : cảnh ra khơi –

đánh cá ngoài khơi - trở về đất

liền

b/Phân tích bút pháp lãng mạn thể

hiện ở hai khổ thơ đầu ( cảnh

đoàn thuyền ra khơi):

+Vũ trụ nghỉ ngơi , con người làm

việc ( ý nghĩa của hình ảnh đối

lập)

+Tiếng hát căng buồm ( bút pháp

lãng mạn) => niềm vui lao động

+Nội dung lời hát khi ra khơi

c/ Phân tích bút pháp lãng mạn

I-Bài “Đoàn thuyền đánh cá “ của Huy Cận được viết năm 1958 tại Hòn Gai trong một

chuyến nhà thơ đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Lúc đó cả miền Bắc nước ta tràn ngậpniềm vui mới, hăng hái phán khởi lao vào mặt trận lao động xây dựng chủ nghĩa xã hội.-Bài thơ miêu tả một đêm đánh cá của một đoàn thuyền trên biển Để ca ngợi khôngkhí lao động mới , con người lao động mới , con người làm chủ công việc , làm chủthiên nhiên , làm chủ biển cả bao la, nhà thơ Huy Cận đã sử dụng hàng loạt thủ phápnghệ thuật rất độc đáo, tinh tế làm cho bài thơ có màu sắc riêng

II –

a/ Bao trùm lên tất cả là một trí tưởng tượng phong phú và một bút pháp lãng

mạng bay bổng Chính bút pháp này, cái trí tưởng tượng này đã tạo nên nét đặc sắc nghệ thuật trong kết cấu của bài thơ.

Bài thơ mở đầu bằng khung cảnh :

Mặt trời xuống biển như hòn lửa

b/(phân tích 2 khổ đầu):

Đoàn thuyền ra đi lúc hoàng hôn , mặt trời vừa lặn, đêm tối bắt đầu:

Mặt trời xuốn biển như hòn lửa Sóng đã cài then , đêm sạp cửa

Bằng mắt quan sát tỉ mỉ và tâm hồn thơ, tác giả đã tả cảnh chiều tà trên mặt biển thậtđẹp, thật nên thơ Thời gian bắt đầu công việc đánh cá được nhà thơ giới thiệu thật rõràng, đó là buổi hoàng hôn, khi ông mặt trời đã chuyển sang màu đỏ như hòn lửa và dầndần chìm xuống lòng đại dương , nhường lại không gian cho đêm đen Trong hai câuthơ, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa So sánh “mặt trời” buổichiều tà trên mặt biển với “hòn lửa” khổng lồ ấm nóng, thật kỳ vĩ Nhân hóa “sóng “

“cài then” và “đêm sập cửa” , sóng như những cái then cài cửa màn đêm và màn đêm làcánh cửa khổng lồ,ta thấy rõ thời gian đang trôi, từ cảnh chạng vạng lúc hoàng hôn, mànđêm đã bắt đầu buông xuống Kết thúc một ngày Đất trời, vũ trụ như chuyển sang trạngthái nghỉ ngơi thì ngược lại, ngư dân bắt tay vào công việc của mình:

Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi

Con người và đất trời như đối lập nhau về hành động khiến ta càng thấy được khí thế

và nhiệt tình lao động của con người Lao động đánh cá trên biển trong đêm là một côngviệc nặng nhọc và đầy nguy hiểm, thế mà ta tháy đoàn thuyền ra đi trong tiếng hát.Tiếng hát tràn ngập không gian bao la, tiếng hát vang lên trong tâm tư người đánh cá,trong niềm say mê sự giàu đẹp của biển cả quê hương:

Tiếng hát căng buồm cùng gió khơi.

Gió căng buồm chứ đâu phải câu hát ? Hình ảnh “câu hát căng buồm” chỉ là sảnphẩm của trí tưởng tượng, nó làm cho câu thơ đẹp lên, ý thơ phong phú thêm để ca ngợiniềm vui và nhiệt tình lao động của con người Ở bài thơ, ta bắt gặp rất nhiều chi tiếttràn đầy những tưởng tượng đẹp, làm cho ý thơ thêm đa nghĩa Đó chính là bút pháplãng mạn, dùng những yếu tố tưởng tượng để bổ sung, để nhân lên ý nghĩa đẹp đẽ củahiện thực được miêu tả

Lời hát ngợi ca sự giàu có cùng với vẻ đẹp lung linh, diệu kỳ của biển trong trongđêm và mong ước chân chính của ngư dân Bút pháp lãng mạn của nhà thơ vẽ nênkhung cảnh vừa thực vừa ảo:

Hát rằng cá bạc biển Đông lặng

Cá thu biển Đông như đoàn thoi Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi!

Giộng điệu thơ ngọt ngào, ngân dài và vang xa: “Cá bạc” , “đoàn thoi”,”dệt biển”,

“luồng sáng”, “dệt lưới” là những hình ảnh so sánh ẩn dụ sáng tạo đem đến cho ngườiđọc bao liên tưởng thú vị về vẻ đẹp thơ ca viết vè lao động

c/ Phân tích 4 khổ giữa: Trong những khổ thơ miêu tả cảnh đánh cá ngoài khơi, ta cũng

Trang 31

thể hiện ở bốn khổ giữa (cảnh

đánh cá ngoài khơi , trong đêm):

+ Con người hào nhập với trời

cao biển rộng (lướt giữa mây cao

với biển bằng)

+Cảnh đánh cá đầy chất thơ

( trọng tâm phân tích):

-Cảnh lao động khẩn trương

- cảnh biển trong đêm

+tiếng hát trong đêm trên biển

-Sự vận động của đoàn thuyền

hòa nhịp với hành trình của mặt

phóng như bay trên mặt biển Thuyền và người hòa nhập vào thiên nhiên, lâng lângtrong cái thơ mộng của gió, trăng , trời , biển Hình ảnh con người hiện lên là hình ảnhcon người lớn ngang tầm vũ trụ và chan hòa với hình ảnh trời nước bao la tuyệt đẹp.Trên cái không gian bát ngát với mây cao , biển băng, con thuyền lướt đi phơi phới tạocho ta một ấn tượng đẹp, một cảm xúc dâng trào, gợi cho ta niềm tự hào về vẻ đẹp củanhững con người lao động làm chủ Công việc đánh cá do đó bỗng nhên trở nên rất thơmộng Ta như được cùng tác giả hòa nhập vào tâm trạng sảng khoái, lâng lâng củanhững con người làm chủ vùng biển của đất nước

-Nhưng đây không phải là một cuộc du ngoạn bằng thuyền Đến ngư trường , ngư

dân khẩn trương lao vào công việc “ dò bụng biển”, rồi “dàn đan thế trận” Cuộc đánh

cá thực sự là một cuộc chiến đấu đẻ giành lấy từ thiên nhiên những của cải, tài nguyên,bằng tất cả sức lực, trí tuệ của con người :

Ra đậu dặm xa dò bụng biển Dàn đan thế trận lưới vây giăng

- Cứ như thế, bút pháp lãng mạn và trí tưởng tượng của nhà thơ như dẫn ta đi lạcvào một cõi huyền ảo của biển trời:

Đêm thở , sao lùa nước Hạ Long

Đêm như một con vật khổng lồ ở đại dương : nó thở Nhịp thở của đêm chính lànhịp sóng dâng lên hạ xuống Nhưng nhà thơ đã tưởng tượng và cắt nghĩa một cách đầybất ngờ: sao lùa nước Hạ Long làm nên nhịp thở của đêm ! Hình ảnh lạ đem lại cho saotrời long lanh đáy nước cái độc đáo của sự sáng tạo nghệ thuật , gợi vẻ đẹp hùng vĩ củabiển khơi

-Bài hát vang lên căng buồm đưa thuyền ra khơi, bài hát lại vang lên trong lao độngkhẩn trương và say mê:

Ta hát bài ca gọi cá vào

Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao

Lần thứ hai tiếng hát vang lên trên biển Tiếng gõ thuyền đuổi cá hòa cùng sóng biển.Vầng trăng soi xuống mặt biển, muôn ngàn ánh sáng tan ra theo làn sóng vỗ vào mạnthuyền Nhưng tác giả lại tưởng tượng trăng cao gõ thuyền gọi cá vào lưới Hiện thực

đã được bút pháp lãng mạn chắp cánh làm cho đẹp thêm công việc đánh cá trên biển cả

- Ban đêm trời tối, nhưng đêm ngoài biển khơi này tràn ngập ánh sáng Ánh sáng củatrăng, ánh sáng của sao đã đành, ở nước lấp lánh cũng có ánh sáng Nhưng lại còn có

ánh sáng của cá với nhiều sắc màu lạ: cá “dệt biển muôn luồng sáng” , “ cá song lấp lánh đuốc đen hồng” , rồi những đuôi cá “quẫy trăng vàng chóe” , rồi “vẩy bạc, đuôi vàng” Tất cả màu sắc ấy là của cá, do cá ( ca ngợi sự giàu đẹp của biển) Ta như

được ngắm một bức tranh sơn mài cẩn xa cừ loang loáng, lấp lánh sắc màu Trí tưởngtượng của nhà thơ, bút pháp lãng mạn của nhà thơ thật bay bổng

d/ Khổ cuối:Khổ thơ cuối cùng miêu tả cảnh trở về của đoàn thuyền đánh cá:

Câu hát căng buồm với gió khơi Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời Mặt trời đội biển nhô màu mới Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi

Vẫn là tiếng hát khỏe khoắn của người ngư dân dạn dày sóng nươc đang vươn lên làmchủ cuộc đời Tiếng hát hòa trong gió, thổi căng cánh buồm đưa đoàn thuyền ra khơi

đêm trước, nay lại cùng đoàn thuyền đầy ắp cá hân hoan về bến Hình ảnh “Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời” rất hiện thực mà cũng rất hào hùng Nó phản ánh một thói

quen lâu đời của ngư dân là đưa cá về bến trước khi mặt trời lên, đồng thời cũng hàm ýnói lên khí thế đi lên mạnh mẽ của họ trong công cuộc dựng xây đất nước sau giảiphóng

Hòa cùng niềm vui to lớn của mọi người, nhà thơ chắp cánh cho trí tưởng tượng của

mình bay bổng Đoàn thuyền lao vun vút trên mặt biển, “Mặt trời đội biển nhô màu mới”, một màu hồng rạng rỡ, tinh khôi, và ánh mặt trời phản chiếu trong muôn ngàn mắt

cá trên thuyền, khiến nhà thơ liên tưởng tới hàng ngàn mặt trời nhỏ đang tỏa sáng niềmvui Đến đây, bức tranh biển cả ngập tràn sắc màu tươi sáng và ăm ắp chất sống trongtừng dáng hình, đường nét của cảnh,của người Khổ thơ thể hiện một khung cảnh laođộng đầy khí thế của con người, khung cảnh của cuộc sống mới trong ánh sáng mới rựcrỡ

e/ Bài thơ còn có những nét đặc sắc gì nữa về nghệ thuật ? Ta còn có thể kể nhiều nétđặc sắc nữa như : thể thơ (mỗi khổ thơ gồm có bốn câu thơ như thơ tứ tuyệt, nghiêm

Trang 32

III- KB:

- Khái quát chủ đề : Sự giàu đẹp

của biển cả quê hương; vẻ đẹp

của lao động và người lao động

làm chủ

-Nét đặc sắc nghệ thuật: Chính

bút pháp lãng mạn làm cho bài

thơ có được một vị trí xứng đáng

trong thơ hiện đại Việt Nam

trang, đỉnh đạc với cách gieo vần biến hóa), nhịp điệu và nhạc điệu lúc thì sôi nổi, lúc thìngân nga, lâng lâng nhưng cái bao trùm lên tất cả, chi phối tất cả vẫn là bút pháp lãngmạn của một trí tưởng tượng dồi dào trong việc dựng nên những hình ảnh thơ lạ, độcđáo nhưng đày sức gợi cảm Có thể nói, riêng về mặt nghệ thuật, bài thơ là một thànhcông nổi bật của thơ ca hiện đại Việt Nam

III- KL: Bài thơ “ Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận cho ta thấy được sự giàu đẹp của

biển cả quê hương và vẻ đẹp của lao động và người lao động làm chủ quê hương đấtnước Bài thơ nói với ta về lòng yêu đời, yêu cuộc sống, yêu con người Với bút pháplãng mạn kì lạ, bài thơ chiếm một vị trí xứng đáng trong nền thơ ca hiện đại của chúngta

Đề có thể phân tích cả bài thơ, hoặc một số khổ thơ:

Chú ý nội dung các khổ thơ :

Khổ1và khổ 2: Nói về cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá: cảnh tráng lệ của hoàng hôn, hình ảnh đoàn thuyền ra khơi, câu hát làm nổi bật âm hồn người dân chài.

Bốn khổ tiếp theo : (Khổ 3,4,5,6,7) Về cảnh đánh cá một đêm trên vịnh Hạ Long : cảnh biển giàu đẹp, con người hiện lên trong dáng vẻ khỏe mạnh, trẻ trung yêu đời và đó là con người làm chủ.(Khổ 3 chủ yếu làm rõ hình ảnh đoàn thuyền hòa nhập với thiên nhiên , ngư dân khẩn trương lao vào công việc; khổ

4 : Cái giàu đẹp của biển do cá tạo nên, cái hùng vĩ của vịnh Hạ Long; Khổ 4 : tiếng hát gọi cá, sự ân tình của bển; Khổ 6: Cảnh kéo lưới, ngư dân hiện lên khỏe đep, khẩn trương trong công việc, thành quả lao động, vể đẹp lao động).

Khổ cuối: Cảnh đoàn thuyền trở về

Trang 33

Câu hỏi:

Câu 1 : Cho các câu thơ:

a/Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng (Nguyễn Khoa Điềm)

b/ Ngày xuân em hãy còn dài

Xót lời máu mủ thay lời nước non

(Nguyễn Du)

Hai từ “mặt trời” và “xuân” từ nào là từ chuyển nghĩa lâm thời, từ nào chuyển nghĩa theo cách phát

triển từ vựng? Chuyển nghĩa theo phương thức nào? (nêu trong từng trường hợp)

Câu 2 : Tình huống nào trong truyện “Làng” của Kim Lân đã làm bộc lộ sâu sắc tình yêu làng quê, tinh thần yêu nước ở nhân vật ông Hai ?

Câu3 : Bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy có dáng dấp như một câu chuyện nhỏ đơn giản, dựa vào bài thơ để tóm tắt câu chuyện.

Tập làm văn:

Hãy phân tích, làm rõ ý nghĩa và giá trị nghệ thuật của bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy

Gợi ý làm bài Câu 1:

-“Mặt trời” chuyển nghĩa lâm thời , đó là biện pháp tu từ ẩn dụ - so sánh ngầm đứa bé với mặt trời là muốn đối với mẹ đứa con thành thiêng liêng cao quý nhất, thành lẽ sống, nguồn sống của mẹ(như mặt trời đối với cây bắp) Hơn nữa là mặt trời nằm trên lưng, vô cùng gần gũi như một phần cơ thể của mẹ, cùng mẹ sống và làm mọi việc.

- “Xuân” : Đây là chuyển nghĩa theo cách phát triển từ vựng Chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ

“xuân”có nghĩa là trẻ , tuổi trẻ.

Câu 2:

Tình huống truyện “Làng”:

Thành công nghệ thuật nổi bật của truyện ngắn “Làng” là đã xây dựng được một tình huống truyện

làm bộc lộ sâu sắc tình yêu làng quê và tinh thần yêu nước ở người nông dân Ông Hai trong truyện là

người rất yêu cái làng Chợ Dầu của mình và luôn tự hào về nó Phải đi tản cư xa làng, lúc nào cũng nhớ làng, nói chuyện với ai cũng khoe làng mình Thế mà chính ông lại phải nghe cái tin từ

những người vừa tản cư lên, rằng làng mình đã lập tề theo giặc Tình huống bất ngờ ấy đã khiến ông đau xót, tủi hổ, day dứt trong sự xung đột giữa tình yêu làng quê và tinh thần yêu nước, mà tình cảm nào cũng tha thiết mạnh mẽ Đặt nhân vật vào tình huống ấy, tác giả đã làm bộc lộ sâu sắc hai tình cảm nói trên ở nhân vật và cho thấy lòng yêu nước, tinh thần kháng chiến đã chi phối và thống nhất mọi tình cảm khác trong con người Việt Nam thời kháng chiến.

Câu 3 :

Tóm tắt câu chuyện qua bài thơ “Ánh trăng”:

Từ thời thơ ấu đến thời đi bộ đội chiến đấu, tác giả luôn sống gần gũi thân thiết với vầng trăng như người bạn thân tri kỷ không bao giờ quên được người bạn im lặng dễ mến ấy Thế mà khi chuyển về sống ở thành phố hiện đại với ánh đèn điện cửa gương sáng lóa thì tự nhiên lại dửng dưng với vầng trăng Nhưng rồi một đêm, bỗng nhiên mất điện, trong căn phòng cao ốc tối om, tác giả vội mở cửa sổ thì thấy đột ngột, vành vạnh vầng trăng tròn Tác giả ngửa mặt nhìn trăng, nhớ đến những năm tháng đã qua Trăng im phăng phắc khiến nhà thơ giật mình Qua câu chuyện tình cờ nhỏ nhoi đó, chủ thể trữ tình muốn gợi nhắc bản thân và người đọc thái độ đối với quá khứ.

Trang 34

Đề :

Câu1:

Phân tích sự liên kết về nội dung, về hình thức giữa các câu trong đoạn văn sau:

(1)Cái mạnh của con người Việt Nam không chỉ chúng ta nhận biết mà cả thế giới đều thừa nhận là

sự thông minh, nhạy bén với cái mới.(2) Bản chất trời phú ấy rất có ích trong xã hội ngày mai mà sự sáng tạo là một yêu cầu hàng đầu (3) Nhưng bên cạnh cái mạnh đó cũng còn tồn tại không ít cái yếu (4)

Ấy là những lỗ hổng về kiến thức cơ bản do thiên hướng chạy theo những môn học “ thời thượng”, nhất

là khả năng thực hành và sáng tạo bị hạn chế do lối học chay, học vẹt nặng nề (5) Không nhanh chóng lấp những lỗ hổng này thì thật khó bề phát huy trí thông minh vốn có và không thể thích ứng với nên kinh tế mới chứa đựng đầy tri thức cơ bản và biến đổi không ngừng.

(Vũ Khoan, Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới) Câu 2:

Hình ảnh bao trùm và xuyên suốt toàn bài thơ “Con cò” của Chế Lan Viên là hình ảnh con cò Hình ảnh

ấy vừa thống nhất lại vừa có sự biến đổi Em hãy nêu sự biến đổi trong ý nghĩa của hình ảnh con cò qua

ba đoạn của bài thơ?

Câu 3 :

Viết một đoạn văn trình bày cách hiểu và cảm nghĩ của em về những câu thơ sau:

Dù ở gần con,

Dù ở xa con, Lên rừng xuống bể,

Cò sẽ tìm con.

Cò mãi yêu con Con dù lớn vẫn là con của mẹ,

Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con.

( Con cò – Chế Lan Viên )

4/Tập làm văn:

Cảm nhận về bài thơ “Con cò” của Chế Lan Viên

Gợi ý làm bài

Câu 1:

Phép liên kết các câu trong đoạn văn:

a/ Liên kết nội dung:

-Chủ đề chung của đoạn văn là khằng định năng lực trí tuệ của con người Việt Nam – quan trọng hơn – là những hạn chế cần khắc phục Đó là sự thiếu hụt về kiến thức, khả năng thực hành và sáng tạo yếu do cách học thiếu thông minh gây ra Nội dung các câu văn đều tập trung vào chủ đề đó Vậy các câu trong đoạn văn có sự liên kết chủ đề.

-Trình tự sắp xếp hợp lý của các ý trong các câu sau:

+Mặt mạnh của trí tuệ Việt Nam

+Những điểm hạn chế.

+Cần khắc phục hạn chế để đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế mới.

Vậy các câu trong đoạn văn có sự liên kết lô-gíc.

b/Liên kết hình thức:

-Các câu được liên kết với nhau bằng những phép liên kết:

+Bản chất trời phú ấy nối câu (2) với câu (1) – phép đồng nghĩa.

+Nhưng nối câu (3) với câu (2) – phép nối.

+Ấy là nối câu(4) với câu (3) – phép nối.

+Lỗ hổng ở câu (40 và câu (5) – phép lặp từ ngữ.

+thông minh ở câu (5) và ở câu (1) – phép lặp từ ngữ.

Vậy các câu trong đoạn văn đã có sự liên kết về nội dung và hình thức.

Câu 2: Hình ảnh bao trùm xuyên suốt bài thơ “Con cò” – Chế Lan Viên:

Mạch vận động của cảm xúc và tư tưởng trong một bài thơ trữ tình thường gắn với sự vận động, biến đổi

của hình tượng trung tâm của bài thơ Ở bài thơ “ Con cò” hình tượng trung tâm là hình ảnh con cò

Hình tượng ấy vừa thống nhất lại vừa biến đổi trong ý nghĩa của hình ảnh con cò:

Trang 35

-Ở đoạn I,con cò hiện qua những câu hát ru để đến với tuổi ấu thơ một cách vô thức qua âm điệu của lời

ru, mặc dù đứa bé chưa hề biết con cò, nó chỉ cần được vỗ về trong âm điệu ngọt ngào, dịu dàng của lời

ru, đón nhận bằng trực giác tình yêu và sự che chở của mẹ.

-Trong đoạn II, hình ảnh con cò gắn bó với mỗi con người trong suốt cuộc đời, từ tuổi ấu thơ rồi tuổi tới trường và cả khi trưởng thành Con cò trong lời ru đã đi vào tâm thức của mỗi con người, hay cũng là chính những lời ru của mẹ đã theo suốt cuộc đời mỗi người Hình ảnh con cò đã mang ý nghĩa biểu tượng về lòng mẹ, về sự chở che, bao dung, dìu dắt, nâng đỡ dịu dàng , bền bỉ của mẹ hiền.

-Đến đoạn III hình ảnh con cò được nhấn mạnh ở ý nghĩa biểu tượng cho tấm lòng người mẹ luôn theo sát, yêu thương và nâng đỡ cho mỗi con người, dù ở nơi đâu và trong suốt cả cuộc đời.

Câu 3:

Bài thơ “Con cò” của Chế Lan Viên , hình ảnh con cò – cánh cò trắng làm nền xuyên suốt bài thơ, nối

liền các đoạn thơ Hình ảnh con cò trong đoạn thơ thứ 3 nghiêng về biểu tượng cho tấm lòng người mẹ, lúc nào cũng bên con cho đến suốt cuộc đời:

Dù ở gần con,

Dù ở xa con, Lên rừng xuống bể,

Con dù lớn vẫn là con của mẹ,

Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con.

Đối với người mẹ , con dù đã trưởng thành thì vẫn còn nhỏ bé vẫn được mẹ chở che, nâng đỡ , lòng

mẹ vẫn theo con suốt cuộc đời Từ thấu hiểu tấm lòng người mẹ , bài thơ đã khái quát lên một qui luậtvề tình mẹ con bền vững, rộng lớn và sâu sắc.

Từ xúc cảm mở ra những suy tưởng, khái quát thành triết lý, đó là cách thường gặp trong thơ Chế Lan Viên.

Phân tích bài thơ : CON CÒ (Chế Lan Viên)

I- Mở bài : ( Giới thiệu bài thơ, nêu khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật)

Gợi ý:

-Dẫn dắt bằng cách nêu những

bài thơ có lời ru của người mẹ:

-Nêu khái quát giá trị nội dung

và nghệ thuật:

-Viết về con cò trong lời ru của mẹ , nhà thơ Nguyễn Duy có đoạn:

Cái cò sung chát đào chua

Câu ca mẹ hát gió đưa về trời

Ta đi trọn kiếp con người Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru

Nguyễn Khoa Điềm có bài “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” (được Trần Hoàn phổ nhạc thành bài ca “Lời ru trên nương”; còn Chế Lan Viên có “Con cò” bay bổng bay cao với đôi cánh cò trong lời

ru thấm hơi xuân của mẹ hiền đưa võng ru con những trưa hè nắng lửa.

Bài thơ được viết năm 1962, in trong tập “Hoa ngày thường-chim báo bão” (1967).

-Bài “Con cò” mang âm điệu đồng dao, nhịp thơ và giọng thơ thấm

vào hồn ca dao dân ca một cách đằm thắm, nhẹ nhàng.51 câu thơ tự

do, câu ngắn nhất 2 chữ,câu dài nhất 8 chữ, đan xen, kết chuỗi thành

lời ru ngân nga, ngọt ngào, biểu hiện tình thương và ước mơ của

ngườ mẹ đối với con thơ!

II- Thân bài:

1- (nêu kết cấu, mạch cảm xúc,

hình tượng )

1- Mạch vận động của cảm xúc và tư tưởng trong một bài thơ trữ tình thường gắn với sự vận động, biến đổi của hình tượng trung tâm của bài

thơ Ở bài thơ “ Con cò” hình tượng trung tâm là hình ảnh con cò

Hình tượng ấy vừa thống nhất lại vừa biến đổi trong ý nghĩa của hình ảnh con cò:

-Ở đoạn I,con cò hiện qua những câu hát ru để đến với tuổi ấu thơ một cách vô thức qua âm điệu của lời ru, mặc dù đứa bé chưa hề biết con

Trang 36

2-Phân tích:

a/Hình ảnh con cò qua những

lời ru của mẹ thời thơ ấu:

ý nghĩa 4 câu thơ đầu; giải

thích cách viết “trong lời

mẹ hát, có cánh cò đang bay”.

-Nhận xét cách vận dụng sáng

tạo những câu ca dao của tác

giả?

-Các câu ca dao “ Con cò bay

la Đồng Đăng” gợi lên điều

gì?

- “Con cò mà đi ăn đêm” gợi

lên hình ảnh nào? (liên hệ một

số câu ca dao khác)

-Các hình ảnh trên đến với bé

thơ như thế nào?

cò, nó chỉ cần được vỗ về trong âm điệu ngọt ngào, dịu dàng của lời

ru, đón nhận bằng trực giác tình yêu và sự che chở của mẹ.

-Trong đoạn II, hình ảnh con cò gắn bó với mỗi con người trong suốt cuộc đời, từ tuổi ấu thơ rồi tuổi tới trường và cả khi trưởng thành Con

cò trong lời ru đã đi vào tâm thức của mỗi con người, hay cũng là chính những lời ru của mẹ đã theo suốt cuộc đời mỗi người Hình ảnh con cò đã mang ý nghĩa biểu tượng về lòng mẹ, về sự chở che, bao dung, dìu dắt, nâng đỡ dịu dàng , bền bỉ của mẹ hiền.

-Đến đoạn III hình ảnh con cò được nhấn mạnh ở ý nghĩa biểu tượng cho tấm lòng người mẹ luôn theo sát, yêu thương và nâng đỡ cho mỗi con người, dù ở nơi đâu và trong suốt cả cuộc đời.

a/Đoạn 1:

2 Lời vào bài giới thiệu hình ảnh con cò một cách tự nhiên, hợp lý qua những lời ru của mẹ thuở còn nằm nôi:

(chép 4 câu thơ)

Tác giả muốn thể hiện ý lời ru con gắn với cánh cò bay Lời ru ấy cứ dần thấm vào tâm hồn của con, tự nhiên âu yếm, như là bắt đầu từ vô thức, bản năng như dòng suối ngọt ngào, như dòng sữa ngọt ngào, con chưa hiểu và chưa cần hiểu nhưng tuổi thơ của con không thể thiếu lời

ru với những cánh cò ấy.

-Cách vận dụng của nhà thơ rất sáng tạo, ở chỗ, ông không trích nguyên văn mà chỉ trích một phần, một vài từ ngữ rồi đưa vào trng mạch thơ, mạch cảm xúc của mình, trong lời ru của mẹ.

-Các câu:

“Con cò bay la Đồng đăng”

Gợi tả không gian và khung cảnh quen thuộc của cuộc sống êm đềm bình lặng thời xưa từ làng quê đến thành thị Hình ảnh con cò gợi lên hình ảnh nhịp nhàng, thong thả như nhịp ca dao của cuộc sống và sinh hoạt thời phong kiến Việt Nam.

-Còn hình ảnh con cò:

“ Con cò xa tổ đi ăn đêm

lại tượng trưng hình ảnh con người – người mẹ nhọc nhằn vất vả, lam

lũ kiếm ăn nuôi con cái giống như con cò trong thơ Tú Xương:

Lặn lội thân cò khi quảng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông

(Thương vợ)

và trong các câu ca dao khác:

Cái cò lặn lội bờ sông Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non.

Cái cò đi đón cơn mưa Tối tăm mù mịt, ai đưa cò về ?

-Qua những lời ru của mẹ, hình ảnh con cò đã đến với tâm hồn tuổi ấu thơ một cách vô thức.Tuy chưa hiểu và cũng chưa cần hiểu, chưa thể hiểu nội dung của câu ca dao, lời hát ru, nhưng những điệu hồn dân tộc

cứ thấm dần, thấm dần vào tâm hồn của bé, nuôi dưỡng tâm hồn của

bé bằng âm điệu dịu dàng, ngân nga của tình mẹ bao la Mẹ thương con cò trong ca dao lận đận; mẹ dành cho con bao chăm chút yêu thương Nhìn con thơ:

“Con còn bế trên tay Con chưa biết con cò”

mà lòng mẹ dạt dào tình thương Mẹ thương con cò trong ca dao lận đận; mẹ dành cho con bao chăm chút yêu thương.Con được sống yên vui hạnh phúc trong lòng mẹ:

Trang 37

b/Hình nhr con cò trong đoạn

thơ thứ 2:

-Hình ảnh con cò trong đoạn

thơ này được phát triển như thế

nào trong mối quan hệ với em

bé, với tình mẹ?

-Cánh cò trong lời ru đã đi vào

tiềm thức của tuổi ấu thơ với

một động thái thé nào?

-Cánh cò từ trong lời ru đã đi vào

tiềm thức của con khi con tới trường

như thế nào?

-Cánh cò từ trong tiềm thức sẽ đi theo

con đến tuổi trưởng thành ra sao?

Ngủ yên! Ngủ yên! Ngủ yên!

Cành có mềm, mẹ đã sẵn tay nâng!

Trong lời ru của mẹ thấm hơi xuân!

Con chưa biết con cò, con vạc.

Con chưa biết những cành mềm mẹ hát Sữa mẹ nhiều, con ngủ chẳng phân vân.

Điệp ngữ “ngủ yên”, “con chưa biết” và “con cò” láy đi láy lại nhiều

lần làm cho giọng thơ trở nên đầm ấm, ngọt ngào, thiết tha dìu dịu chan chứa hạnh phúc yêu thương.Đoạn thơ tạm khép bằng đẹp ngữ

thanh bình của cuộc sống bình yên : Ngủ yên! Ngủ yên!

b/Trong đoạn 2, cánh cò từ trong lời ru đã đi vào tiềm hức tuổi thơ, tạo nen sự gần gũi thân thiết và sẽ theo cùng con người đến suốt cuộc đời

Ở đây hình ảnh con cò trong ca dao đã tiếp tục sự sống của nó trong tâm thức con ngườ Hình ảnh con cò được xây dựng bằng liên tưởng , tưởng tượng phong phú của nhà thơ, như được bay ra từ những câu ca dao để sống trong tâm hồn con người theo cùng và nâng đỡ con ngư

ời trong mỗi chặng đường.Như thế, hình ảnh con cò đã gợi ý nghiũa biểu tượng về lòng mẹ, về sự dìu dắt, nâng đỡ dịu dàng và bền bỉ của ngườ mẹ.

- Cánh cò đã trở thành bạn đồng hành của con người trên suốt đường đời từ tuổi ấu thơ trong nôi:

Cò đứng ở quanh nôi;

Rồi cò vào trong tổ, Con ngủ yên thì có cũng ngủ, Cánh của cò,hai đứa đắp chung đôi.

Cò đùm bọc tuổi thơ như người mẹ bên con Con đắp chăn hay con đắp cánh cò?

- Khi con tới trường:

Mai khôn lớn, con theo cò đi học Cánh trắng cò bay theo gót đôi chân

Cánh cò bay theo chân con tung tăng đến lớp Cò dìu dắt con vào thế giới tri thức như mẹ sẽ nuôi dạy con

- Và mai sau lớn lên con sẽ làm thi sĩ Cuộc đời con nhiều sáng tạo, mãi miết chuyên cần “bay hoài không nghỉ” Hình ảnh cánh cò trắng bay thể hiện ước mơ đẹp của mẹ hiền về cuộc đời tương lai của con Cò đưa con vào thế giới nghệ thuật như lòng mẹ mong ước Con sẽ nối chí cha Một câu hỏi, khẽ thốt lên trong lòng mẹ hiền:

Lớn lên, lớn lên, lớn lên

Con làm gì?

Con làm thi sĩ!

Cánh cò trắng lại bay hoài không nghỉ,

Trước hiên nhà

Và trong hơi mát câu văn

c/ Đến đoạn 3thì hình ảnh con cò được nhấn mạnh ở ý nghĩa biểu tượng cho tấmlòng người mẹ, lúc nào cũng ở bên con đến suốt cuộc đời:

Dù ở gần con,

Dù ở xa con, Lên rừng xuống bể,

Con dù lớn vẫn là con của mẹ,

Trang 38

-Từ thấu hiểu lòng mẹ, nhà thơ đã

khái quát lên một qui luật tình cảm

KL:Khái quát giá trị bài thơ

Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con.

Đối với người mẹ , con dù đã trưởng thành thì vẫn còn nhỏ bé vẫn được mẹ chở che, nâng đỡ , lòng mẹ vẫn theo con suốt cuộc đời Từ thấu hiểu tấm lòng người

mẹ , bài thơ đã khái quát lên một qui luậtvề tình mẹ con bền vững, rộng lớn và sâu sắc

Từ xúc cảm mở ra những suy tưởng, khái quát thành triết lý, đó là cách thường gặp trong thơ Chế Lan Viên

-Từ xúc cảm về tình mẹ con, bài thơ đã mở ra các suy tưởng:

Một con cò thôi Con cò mẹ hát Cũng là cuộc đời

Vỗ cánh qua nôi

Đó là suy tưởng về một lời ru về con cò, cũng là lời ru về cuộc đời con người trong

sự đùm bọc của mẹ, trong sự vuốt ve, âu yếm của lời ru Cuộc đời đó lớn lên, trưởng thành từ chiếc nôi và lời ru

*Bài thơ có những câu thơ ngắn, dài bất thường, nhịp thơ biến đổi sinh động có âm hưởng lời ru, sử dụng nhều điệp ngữ tạo nên nhịp ru, giọng thơ vừa là lời ru vừa là suy ngẫm: có thể nói đây là một bài thơ tự do giúp tác giả thể hiện tìnhcảm một cách linh hoạt Hình ảnh con cò xuất hện cùng với nhịp ru là một sáng tạo độc đáo làm cho bài thơ mang tính dân gian, hình ảnh gợi nhiều liên tưởng

III.Kết luận:

Bài thơ “Con cò” là một bài thơ đề tài nhỏ nhưng mang ý nghĩa sâu sắc: ca ngợi tình mẫu tử bao la và những ước mơ về con thơ của mẹ hiền, nói lên tình thương cuộc đời,rất nhân hậu và nhân tình

Trang 39

1-Viễn Phương đã khai triển tứ thơ như thế nào trong bài “ Viếng lăng Bác”?

2- Xác định các phép liên kết câu trong những đoạn văn sau:

a/ -Ba không giống cái hình ba chụp với má -Sao không giống, đi lâu, ba con già hơn trước thôi.

-Cũng không phải già, mặt ba con không có cái thẹo trên mặt như vậy.

À ra thì vậy, bây giờ bà mới biết.

(Nguyễn Quang Sáng) b/ Không một hôm nào bà Hai ở quán về mụ không sấn đến vạch thúng ra xem:

-Ái chà! Nhà này có mớ cá ngon gớm, chiều tớ phải xin một bát mấy được.

Thế là chiều đến mụ sai con bưng bát đến xin

(Kim Lân)

c/ Họa sĩ nào đến Sa Pa ! Ở đấy tha hồ vẽ Tôi đi đường này ba mươi hai năm Trước Cách mạng tháng Tám, tôi chở lên chởp

về mãi nhiều họa sĩ như bác Họa sĩ Tô Ngọc Vân này, họa sĩ Hoàng Kiệt này

(Nguyễn Thành Long)

3- Phân tích bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải.

Gợi ý bài làm:

Câu1: -Tứ thơ trong bài “ Viếng lăng Bác” của Viễn Phương được triển khai theo trình tự nào?, Tư thế của chủ thể trữ tình?

-Thời gian , không gian, hình tượng , cảm xúc trong từng khỏ thơ ( thêo bố cục) -Nhận xét chung

Câu 2: Nêu được các phép liên kết và dấu hiệu cụ thể:

a/-Phép lặp -Phép thế

b/ -Phép nối c/ -Phép lặp: -Phép thế

Câu 3 : Hướng dẫn phân tích bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải.

Gợi ý:

I – Mở bài: - Có thể dựa vào chú thích  giới thiệu ngắn gọn về Thanh Hải và hoàn cảnh sáng tác bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” (1980); hoặc

từ thi đề mùa xuân để giới thiệu bài thơ, hướng vào mùa xuân nho nhỏ với “Mùa xuân chín” (Hàn Mặc Tử), “Mùa xuân xanh” (Nguyễn Bính), “Mùa xuân mới” (Tố Hữu)

- Nêu khái quát giá trị nội dung, nghệ thuật bài thơ:

*Nếu phân tích một số đoạn , ta cần nêu nội dung và chép những đoạn thơ cần phân tích (Ví dụ phân tích khổ1,4,5: -Cảm xúc của nhà thơ trước vẻ đẹp của mùa xuân thiên nhiên và tâm niệm của nhà thơ được thể hiện trong các khổ thơ: (chép các khổ thơ).

II – Thân bài:

1- Mạch cảm xúc của bài thơ? (cảm xúc trước mùa xuân của thiên nhiên, đất nước và khát vọng đẹp đẽ muốn làm một mùa xuân nho nhỏ

dâng hién cho cuộc đời.).

2- Phân tích:

a/ Khổ 1:- (4câu đầu)Tác giả đã phác họa hình ảnh thiên nhiên mùa xuân như thế nào?

+Cấu tạo ngữ pháp của 2 câu thơ đầu có gì đặc biệt ? (đảo vị ngữ)

+Ý nghĩa biểu hiện của từ mọc và hòa sắc xanh – tím biếc trong việc miêu tả mùa xuân?

-Vậy qua đôi nét phác họa cảnh vật em thấy nhà thơ đã cảm nhận được gì ở mùa xuân của trời đất (đẹp (hoa tím trrên dòng sông xanh),một sức sống (hoa mọc), một nièm vui rạo rực(chim chiền chiện hót vang trời).

-Nhà thơ đã cảm xúc như thế nào trước cảnh vật mùa xuân? Giải nghĩa hai câu thơ “Từng giọt long lanh tôi hứng” để tìm hiểu xúc cảm

ấy? ( chuyển đổi cảm giác : say sưa , ngây ngất )

b/ Khổ 2-3: Cảm xúc về mùa xuân đất nước: (chuyển ý giới thiệu khổ thơ)

-Phân tích ý nghĩa 2 hình ảnh “người cầm súng”, “người ra đồng”

-Nghĩa của tư “lộc”?

-Không khí đất nước vào xuân? (hối hả, xôn xao)

c/Khổ3:Những suy tư của nhà thơ về đất nước và nhân dân:

+Khái quát về lịch sử của đất nước (bốn ngàn năm vất vả và gian lao)

+Phân tích hình ảnh so sánh “đất nước như vì sao” khẳng định sự trường tồn và phát triển của đất nước , đầy tự hào.

d/ khổ 4:-Nhận xét sự chuyển đổi cách xưng hô “tôi” > “ta”

-Nhà thơ chọn nhiều hình ảnh để thể hiện lẽ sống tâm niệm của đời mình là phục vụ đất nước, cống hiến cho đất nước Đó là những hình

ảnh nào? (tiếng chim , cành hoa , nốt trầm )

+Cách chọn hình ảnh như thế hay ở chỗ nào? (tự nhiên, hợp lí, lấy cái đẹp của thiên nhiên để thể hiện cái đẹp của lòng người).

+Điệp ngữ “ ta làm, ta nhập” có tác dụng gì? ( thiết tha , ngân lên như lời ca )

đ/ Khổ5:-Làm mùa xuân nghĩa là gì? (sống đẹp, giữ cho tâm hồn tràn đầy sức sống)“Mùa xuân nho nhỏ “ có ý nghĩa gì? ( khiêm tốn ) >

ý nghĩ của nhan đề , chủ đề bài thơ?

-Nhận xét cách sử dụng ngôn từ? (nho nhỏ, lặng lẽ)

-Khái quát giá trị 2 khổ thơ? (giọng thơ nhỏ nhẹ, có sức khái quát lớn)

/ Khổ cuối:

-Giọng thơ ở đoạn cuối? (vui – chậm ,ngẫm nghĩ, lắng nghe) – Giải thích.

-Nhắc đến những câu dân ca “Nam ai, Nam bình,nhịp phách tiền ” là có dụng ý gì? ( Hiểu, yêu tha thiết quê hương đất nước)

III- Kết luận: -Nhận xét về sự sáng tạo của Thanh Hải trong hình ảnh “Mùa xuân nho nhỏ”

-Khái quát lại chủ đề

+Khổ 2:Mặt trời lên,cảnh đoàn người kết tràng hoa ngày ngày vào lăng viếng Bác.

+Khổ 3:Cảm xúc khi viếng Bác trong lăng

Trang 40

+Khổ 4: Ra ngoài lăng, niềm mong ước thiết tha khi sắp phải trở về quê hương miền Nam,muốn tấm lòng mình vẫn được mãi mãi ở lại bên lăng Bác.

Tứ thơ triển khai hợp lý mạch lạc tạo nên một bố cục khá đơn giản, tự nhiên , tạo nên một trong những nét đặc sắc của bài thơ.

I – Mở bài: - Có thể dựa vào chú thích  giới

thiệu ngắn gọn về Thanh Hải và hoàn cảnh

sáng tác bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” (1980);

hoặc từ thi đề mùa xuân để giới thiệu bài thơ,

hướng vào mùa xuân nho nhỏ với “mùa xuân

chín” (Hàn Mặc Tử), “Mùa xuân xanh”

(Nguyễn Bính), “Mùa xuân mới” (Tố Hữu)

- Nêu khái quát giá trị nội dung,

nghệ thuật bài thơ:

*Nếu phân tích một số đoạn , ta cần nêu nội

dung và chép những đoạn thơ cần phân tích

(Ví dụ phân tích khổ1,4,5: _Cảm xúc của nhà

thơ trước vẻ đẹp của mùa xuân thiên nhiên và

tâm niệm của nhà thơ được thẻ hiện trong các

khổ thơ: (chép các khổ thơ).

II – Thân bài:

1- Mạch cảm xúc của bài thơ? ((cảm xúc trước

mùa xuân của thiên nhiên, đất nước và khát

vọng đẹp đẽ muốn làm một mùa xuân nho nhỏ

dâng hién cho cuộc đời.).

2- Phân tích:

a/ Khổ 1:

- (4câu đầu)Tác giả đã phác họa hình ảnh thiên

nhiên mùa xuân như thé nào?

+Cấu tạo ngữ pháp của 2 câu thơ đầu có gì đặc

biệt ? (đảo vị ngữ)

+Ý nghĩa biểu hiện của từ mọc và hòa sắc xanh

– tím biếc trong việc miêu tả mùa xuân?

-Vậy qua đôi nét phác họa cảnh vật em thấy

nhà thơ đã cảm nhận được gì ở mùa xuân của

trời đất (đẹp (hoa tím trrên dòng sông

xanh),một sức sống (hoa mọc), một nièm vui

rạo rực((chim chiền chiện hót vang trời).

-Nhà thơ đã cảm xúc như thế nào trước cảnh

vật mùa xuân? Giải nghĩa hai câu thơ “Từng

giọt long lanh tôi hứng” để tìm hiểu xúc cảm

ấy? ( chuyển đổi cảm giác : say sưa , ngây

riêng mình, một mùa xuân nhỏ góp vào mùa xuân lớn; bài thơ kết thúc bằng sự trở về với những cảm xúc thiết tha, tự hào về quê hương ,đất nước qua điệu dân ca xứ Huế.

1- Phân tích:

a/ Khổ1:Mùa xuân thiên nhiên:

-Khổ thơ đầu tả cảnh thiên nhiên mùa xuâm với một dòng sông xanh, một bbông hoa tím biếc,một tiếng chim chiền chiện:

Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc Ơi! Cọn chim chiền chiện Hót chi mà vang trời.

+Trước hết là cấu tạo ngữ pháp đảo vị ngữ trong hai câu đầu.Trật tự ngữ pháp bình thương sẽ là:

Một bông hoa tím biếc/mọc giữa dòng sông xanh

C V Động từ mọc làm vị ngữ đặt trước bộ phận chủ ngữ, đặt ở đầu khổ thơ, đầu bài thơ là một dụng ý nghệ thuật của tác giả Nó không chỉ tạo cho người đọc ấn tượng đột ngột, bất ngờ, mới lạ mà còn làm cho hình ảnh, sự vật trở nên sống động như đang diễn ra trước mắt Tưởng như bông hoa tím biếc kia đang từ từ, lồ lộ mọc lên, xòe nở trên mặt nước xanh sông xuân đầy sức sống.Hoa tím biếcmọc, nở trên dòng sông xanh Dó là vẻ đẹp dịu nhẹ, thanh mát say người của thiên nhiên ban tặng con người với một không gian rộng thoáng Trong không gian ấy, tiếng chim chiền chiện hót ríu ran trong bầu trời xuân làm cho cảnh trở nên vui tươi, rộn ràng, ấm áp và náo nức:

Ôi tiếng hót mê say con chim chiền chiện Trên đồng lúa chiêm xuân, chao mình bay liệng.

Đoạn thơ không chỉ lột tả được vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn diễn tả được sự say đắm, ngỡ ngàng và thái độ đón nhận trân trọng nâng niu của tác giả.

b/ K2-3:

K2: -Từ mùa xuân của thiên nhiên, đất trời , nhà thơ chuyển sang cảm nhận về mùa xuân

Ngày đăng: 23/05/2021, 17:26

w