1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng thiết kế sản phẩm nội thất

257 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 257
Dung lượng 9,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, các nhà thiết kế và nhà sản xuất khi thiết kế và sản xuất sản phẩm nội thất luôn đặt yêu cầu công năng sử dụng, yêu cầu kết cấu và tạo dáng của sản phẩm dùng trong nội thất lên h

Trang 1

THIÕT KÕ S¶N PHÈM NéI THÊT

TS NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG

TS LÝ TUẤN TRƯỜNG

Trang 2

TS NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG

TS LÝ TUẤN TRƯỜNG

BÀI GIẢNG THIẾT KẾ SẢN PHẨM NỘI THẤT

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Cùng với sự phát triển nhanh chóng và nhu cầu đổi mới sản phẩm trong thiết kế và sử dụng sản phẩm nội thất, việc thiết kế sản phẩm nội thất phù hợp với yêu cầu sử dụng của con người là công việc vô cùng quan trọng Sản phẩm nội thất ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của con người và chất lượng của thiết kế nội thất Vì vậy, các nhà thiết kế và nhà sản xuất khi thiết kế và sản xuất sản phẩm nội thất luôn đặt yêu cầu công năng sử dụng, yêu cầu kết cấu và tạo dáng của sản phẩm dùng trong nội thất lên hàng đầu

Bài giảng Thiết kế sản phẩm nội thất được biên soạn theo chương trình môn học của ngành Thiết kế nội thất được Hội đồng Khoa học Trường Đại học Lâm nghiệp phê duyệt

Toàn bộ nội dung sách phong phú, hình vẽ đa dạng đầy đủ, có hình vẽ thực tiễn minh họa sản phẩm Đây là bài giảng dành cho sinh viên ngành Thiết kế nội thất, cũng có thể làm tài liệu tham khảo cho những người ở cương vị thi công, thiết kế, sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực thiết kế nội thất Bên cạnh đó, bài giảng cũng có thể là tài liệu tham khảo cho học sinh, sinh viên, giáo viên, giảng viên các trường trung học, đại học khác thuộc lĩnh vực này

Bài giảng này gồm 5 chương:

Chương 1: Khái quát về thiết kế sản phẩm nội thất;

Chương 2: Nguyên vật liệu sản xuất sản phẩm nội thất;

Chương 3: Thiết kế công năng và tạo dáng sản phẩm nội thất;

Chương 4: Thiết kế kết cấu sản phẩm nội thất;

Chương 5: Phương pháp và trình tự thiết kế sản phẩm nội thất

Trên cơ sở nghiên cứu trong nhiều năm, cùng với những tài liệu tham khảo trong và ngoài nước, chúng tôi đã cố gắng tổng hợp những nội dung cơ bản nhất, đáp ứng mục tiêu chương trình đào tạo, cập nhật những kiến thức mới nhất

Do thời gian biên soạn ngắn, hơn nữa tốc độ phát triển của khoa học rất nhanh và liên tục đổi mới, nội dung liên quan đến thiết kế sản phẩm nội thất rất rộng, vì vậy bài giảng này không tránh khỏi những phần chưa thỏa đáng Chúng tôi rất mong được các bạn đọc đóng góp ý kiến Các ý kiến xin gửi về: Viện Kiến trúc cảnh quan và Nội thất - Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội

Trang 6

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀTHIẾT KẾ SẢN PHẨM NỘI THẤT

1.1 Khái niệm về sản phẩm nội thất và thiết kế sản phẩm nội thất

1.1.1 Khái niệm về sản phẩm nội thất

Sản phẩm nội thất là đồ dùng trong nhà Sản phẩm nội thất có nguồn gốc là

đồ gia dụng, tên tiếng Anh là Furniture, nó xuất phát từ tiếng Pháp là fourniture

(thiết bị), tiếng Latin là Mobilis (di động), tiếng Đức là Möbel, tiếng Ý là Mobile,

tiếng Tây Ban Nha là Mueble

* Nghĩa rộng: Sản phẩm nội thất là đồ dùng trong nội thất không thể thiếu giúp con người đảm bảo các sinh hoạt hàng ngày, mở rộng hoạt động xã hội và thực tiễn sản xuất

* Nghĩa hẹp: Sản phẩm nội thất là đồ dùng và thiết bị dùng để cất đựng, nằm, ngồi, ngủ, nâng đỡ trong sinh hoạt, làm việc và hoạt động xã hội của con người

1.1.2 Khái niệm về thiết kế sản phẩm nội thất

Thiết kế sản phẩm nội thất là sự thể hiện toàn bộ quá trình từ ý tưởng đến quyết định kết cấu và biểu diễn bằng bản vẽ nhằm đáp ứng yêu cầu sử dụng dự kiến hay đã định theo nguyên tắc của sáng tạo nghệ thuật, khoa học và kỹ thuật

1.2 Những đặc tính cơ bản của sản phẩm nội thất

1.2.1 Tính phổ biến

Sản phẩm nội thất và công năng đặc biệt của nó xuyên suốt mọi lĩnh vực của cuộc sống và có quan hệ mật thiết với các phương thức sinh hoạt như: ăn, ở, mặc, đi lại hoặc làm việc, học tập, sinh hoạt, giao tiếp, vui chơi, nghỉ ngơi của con người Cùng với tiến bộ của phát triển xã hội, khoa học kỹ thuật và sự thay đổi phương thức sinh hoạt của con người, sản phẩm nội thất cũng nằm trong sự thay đổi đó Tùy theo đặc tính công năng khác nhau, ngôn ngữ văn hóa khác nhau, nhu cầu tâm lý và sinh lý của người sử dụng mà thể hiện tính sử dụng phổ biến cũng khác nhau Ví dụ: sản phẩm nội thất dùng trong khách sạn, dùng trong thương nghiệp, phòng làm việc, gia đình

1.2.2 Tính công năng hai mặt

Sản phẩm nội thất không chỉ là sản phẩm vật chất có tính công năng đơn giản, mà rộng hơn còn là một sản phẩm nghệ thuật công khai phổ cập, nó vừa

Trang 7

thỏa mãn các đặc tính sử dụng trực tiếp, vừa để cho con người thưởng thức, làm cho con người có tinh thần liên tưởng phong phú và khoái cảm thẩm mỹ trong quá trình tiếp xúc và sử dụng Sản phẩm nội thất vừa có liên quan với các nhiều lĩnh vực kỹ thuật như khoa học vật liệu, công nghệ, thiết bị, điện khí, công nghiệp hóa học (đây là những yếu tố mang tính vật chất); lại có quan hệ mật thiết với lý luận về nghệ thuật tạo hình và khoa học xã hội như xã hội học, mỹ học, tâm lý học, hành vi học (đây là những yếu tố mang tính tinh thần) Vì thế nói, sản phẩm nội thất vừa có tính vật chất, vừa có tính tinh thần, đây chính là đặc điểm hai mặt công năng của sản phẩm nội thất

1.2.3 Tính tổng hợp văn hóa

Văn hóa là một từ vựng có nghĩa hẹp và nghĩa rộng Nghĩa hẹp là chỉ hình thái ý thức xã hội cùng với chế độ và cơ cấu tương ứng của xã hội nhân loại; nghĩa rộng là chỉ sự tổng hòa các của cải vật chất và tinh thần của nhân loại Văn hóa luôn là tiêu điểm của giới thiết kế, đây chính là mối liên kết không thể tách rời giữa văn hóa và thiết kế Thiết kế là đưa ý trí tinh thần của con người thể hiện trong tạo vật, đồng thời thông qua tạo vật thiết kế thể hiện phương thức sinh hoạt vật chất của con người, mà phương thức sinh hoạt chính là vật truyền tải văn hóa Các cấp độ tinh thần của văn hóa, cấp độ hành vi, các chế độ, cấp độ vật chất đều thể hiện trong các phương thức sinh hoạt của con người, tức là thể hiện trong các cấp độ đời sống của con người Vì vậy, có thể nói thiết kế vừa sáng tạo đổi mới phương thức sinh hoạt vật chất, vừa sáng tạo ra văn hóa mới Sản phẩm nội thất là một hình thái văn hóa và vật truyền tải thông tin phong phú Loại hình, số lượng, công năng, hình dáng, phong cách và trình độ chế tạo của nó, cùng với tình hình chiếm hữu của sản phẩm nội thất trong xã hội phản ánh được phương thức sinh hoạt của xã hội, mức độ văn minh vật chất và đặc trưng văn hóa lịch sử của xã hội trong mỗi thời kỳ lịch sử nhất định của một quốc gia và khu vực Vì thế, sản phẩm nội thất có tính văn hóa và tính xã hội phong phú và sâu sắc

Có thể nói sản phẩm nội thất là tiêu chí của trình độ phát triển năng lực sản xuất xã hội trong mỗi thời kỳ lịch sử của mỗi quốc gia hoặc khu vực Cùng với

sự phát triển của xã hội, hình thái văn hóa cũng không ngừng phát triển Vì thế, văn hóa của sản phẩm nội thất trong quá trình phát triển cũng ít nhiều phản ảnh

Trang 8

được đặc trưng khu vực, đặc trưng dân tộc và đặc trưng thời đại

Văn hóa sản phẩm nội thất là sự tổng hợp của văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa nghệ thuật

Sản phẩm nội thất là văn hóa vật chất, phản ánh sự tiến bộ và phát triển của nhân loại từ thời đại nông nghiệp, thời đại công nghiệp đến thời đại thông tin thông qua chủng loại và số lượng của sản phẩm nội thất Vật liệu sản xuất sản phẩm nội thất là hệ thống đánh dấu khả năng lợi dụng của nhân loại đối với tự nhiên và cải tạo tự nhiên; khoa học kết cấu và công nghệ kỹ thuật của sản phẩm nội thất phản ánh sự tiến bộ của kỹ thuật công nghiệp và trạng thái phát triển của khoa học; lịch sử phát triển sản phẩm nội thất là một bộ phận tổ thành quan trọng trong sự phát triển văn minh vật chất của nhân loại

Sản phẩm nội thất là văn hóa nghệ thuật, tạo nên không gian nội thất mang tính nghệ thuật riêng biệt thông qua tạo hình, màu sắc và phong cách nghệ thuật của nó Sản phẩm nội thất là một sản phẩm nghệ thuật có tính thực dụng, tức là vừa có tính khoa học kỹ thuật, vừa có tính văn hóa nghệ thuật

Sản phẩm nội thất là văn hóa tinh thuần, có công năng giáo dục, công năng thẩm mỹ, công năng đối thoại, công năng giải trí Hình thức công năng đặc biệt

và hình tượng nghệ thuật của sản phẩm nội thất thể hiện ra trong không gian sinh hoạt của con người, khêu gợi lên hứng thú thẩm mỹ của con người, bồi dưỡng tâm lý thẩm mỹ và nâng cao năng lực thẩm mỹ của con người Đồng thời sản phẩm cũng dựa vào hình thức nghệ thuật trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua

ẩn dụ hoặc tư tưởng văn mạch phản ánh ý thức tôn giáo và xã hội của thời đại, công năng tượng trưng hiện thực và công năng đối thoại

1.3 Phân loại sản phẩm nội thất

Do sự đa dạng hóa về vật liệu, kết cấu, môi trường sử dụng và công năng

sử dụng của sản phẩm nội thất dẫn đến sự đa dạng về kiểu dáng của sản phẩm

Vì vậy, dùng một phương pháp để phân loại sản phẩm nội thất là rất khó Ở đây chỉ có thể phân đưa ra các phương pháp phân loại sản phẩm nội thất ở các góc

độ khác nhau để thuận tiện cho việc hình thành một khái niệm hoàn chỉnh về hệ thống sản phẩm nội thất

1.3.1 Phân loại theo công năng sử dụng

Hình thức phân loại này dựa vào mối quan hệ giữa con người với sản phẩm

Trang 9

và giữa sản phẩm với sản phẩm Đây là phương pháp phân loại khoa học dựa trên nguyên lý ergonomics Theo công năng cơ bản gồm 3 loại sau:

 Loại nâng đỡ: Là sản phẩm nội thất dùng để nâng đỡ trực tiếp cơ thể người khi ngồi, nằm, như ghế tựa, ghế đôn, ghế xa lông, giường, sập , loại sản phẩm này cũng có thêm công năng cất đựng hoặc để đặt đồ trang trí như: bàn ăn, bàn họp, bàn làm việc Đây là sản phẩm nội thất có quan hệ trực tiếp với cơ thể người

 Loại cất đựng: Là sản phẩm nội thất dùng để cất đựng hoặc để bày biện

đồ vật như: tủ áo, tủ bếp, tủ rượu, hòm, giá sách, giá hoa, bàn hoa, kệ ti vi, giá đựng sách báo Đây là sản phẩm nội thất có quan hệ gián tiếp với cơ thể người

1.3.2 Phân loại theo hình thức cơ bản

 Sản phẩm nội thất loại ngồi: Là các loại sản phẩm nội thất dùng để nâng

đỡ cơ thể người khi ngồi, ngồi tựa như: ghế tay vịn, ghế lưng tựa, ghế gấp, ghế xoay, ghế dài, ghế vuông, ghế tròn, ghế xa lông

 Sản phẩm nội thất loại bàn: Là các sản phẩm nội thất dùng để nâng đỡ

cơ thể người khi làm việc, học tập, họp, viết như bàn, bàn dài, bàn học sinh, bàn họp, bàn trà

 Sản phẩm nội thất loại tủ: Là các sản phẩm nội thất dùng để cất đựng, trưng bày như: tủ áo, tủ đầu giường, tủ trưng bày, tủ sách, tủ bếp, tủ ti vi, tủ lưu trữ

 Sản phẩm nội thất loại nằm: Là các sản phẩm nội thất dùng để nâng đỡ

cơ thể người khi nằm, nghỉ ngơi thư giãn như: giường, giường đôi, giường tầng, giường trẻ em, giường treo, sập

 Sản phẩm nội thất khác: Là các sản phẩm nội thất có hình thức khác với các sản phẩm nội thất trên, có quan hệ gián tiếp với cơ thể người như: giá hoa, giá treo áo mũ, bình phong, giá đựng sách báo

1.3.3 Phân loại theo môi trường sử dụng

Dựa vào môi trường sử dụng tức là dựa vào loại hình sinh hoạt xã hội và môi trường sinh hoạt, làm việc điển hình để phân loại sản phẩm Chủ yếu gồm các loại hình sản phẩm sau:

 Sản phẩm nội thất dân dụng: Là những sản phẩm trong gia đình, chủ yếu gồm sản phẩm nội thất phòng ngủ, phòng khách, phòng ăn, phòng bếp, phòng sách, phòng vệ sinh, phòng trẻ em, phòng tiền sảnh

 Sản phẩm nội thất công sở: Là những sản phẩm dùng trong phòng làm

Trang 10

việc, phòng hội nghị, phòng máy tính như: bàn làm việc, ghế làm việc, bàn hội nghị, ghế hội nghị, tủ hồ sơ, sản phẩm nội thất tự động hóa văn phòng (office automation furniture), sản phẩm nội thất văn phòng gia đình (small office & home office furniture)

 Sản phẩm nội thất dùng trong công trình công cộng: Là sản phẩm dùng trong các công trình công cộng như: khách sạn, trường học, bệnh viện, nhà hát, thương nghiệp, rạp chiếu phim

 Sản phẩm nội thất dùng trong giao thông: Là những sản phẩm dùng trên máy bay, tàu thuyền, bến xe, tàu hỏa, bến tàu, sân bay

 Sản phẩm dùng ngoài trời: Là những sản phẩm ở công viên, bể bơi, hoa viên, sân vườn, quảng trường, đường bóng mát, đường đi bộ

1.3.4 Phân loại theo đặc trưng kết cấu

Phương thức liên kết giữa các bộ phận với bộ phận, chi tiết với chi tiết của sản phẩm nội thất có rất nhiều Dựa vào phương thức liên kết khác nhau có thể

tổ thành sản phẩm có đặc trưng kết cấu khác nhau

 Phân theo phương thức liên kết

- Sản phẩm nội thất dạng cố định: Là sản phẩm nội thất được tổ thành theo các hình thức như: sử dụng liên kết mộng (có keo hoặc không có keo), linh kiện liên kết, liên kết keo và liên kết đinh để liên kết các bộ phận hoặc chi tiết với nhau Đặc điểm của nó là kết cấu chắc chắn, ổn định, không thể tháo lắp lại

- Sản phẩm nội thất dạng tháo lắp: Là sản phẩm nội thất được tổ thành theo hình thức sử dụng mộng tròn hay chốt mộng giữa các bộ phận (không dùng keo) hoặc sử dụng linh kiện liên kết bằng kim loại để liên kết các bộ phận hoặc chi tiết với nhau Sản phẩm loại này có thể tháo rời và lắp ráp nhiều lần, có thể thu nhỏ thể tích để thuận tiện cho vận chuyển và tiết kiệm không gian lưu kho Hình thức tháo lắp của loại sản phẩm này gồm sản phẩm dạng tháo lắp tổ hợp và tháo lắp bộ phận Sản phẩm nội thất dạng tháo lắp gồm sản phẩm nội thất dạng tháo lắp KD (knock-down furniture), dạng đợi tháo lắp RTA (ready-to-assemble furniture), dạng dễ tháo lắp ETA (easy-to-assemble furniture), dạng tự tháo lắp DIY (do-it-yourself furniture), dạng tấm thiết kế theo hệ thống “32mm” Loại sản phẩm này thường được đóng gói bằng hộp giấy và có kèm theo hướng dẫn

sử dụng khi bán hàng

Trang 11

- Sản phẩm nội thất dạng gấp: Là những sản phẩm nội thất sử dụng liên kết gập hoặc lật xoay, gồm sản phẩm nội thất dạng gấp một phần và gấp toàn bộ

- Sản phẩm dạng giá đỡ: Là những sản phẩm mà các bộ phận hoặc chi tiết liên kết với nhau tạo thành giá đỡ

 Phân loại theo loại hình kết cấu

- Sản phẩm nội thất dạng khung: Là sản phẩm nội thất sử dụng gỗ tự nhiên (gỗ tròn hoặc gỗ hộp) liên kết với nhau bằng mộng tạo thành khung chịu lực chính (có kiểu tháo rời và không tháo rời), xung quanh dùng các tấm gỗ liên kết vào khung chính

- Sản phẩm nội thất dạng tấm: Là sản phẩm nội thất chủ yếu sử dụng ván nhân tạo làm nguyên liệu chính, dùng linh kiện liên kết chuyên dụng để liên kết các bộ phận với nhau Dựa vào hình thức liên kết khác nhau của các bộ phận có thể phân sản phẩm dạng tấm thành dạng tháo lắp và dạng không thể tháo lắp

- Sản phẩm dạng khối rỗng: Là những sản phẩm mà toàn bộ sản phẩm hoặc các chi tiết sử dụng vật liệu nhựa, kính, kim loại ép khuôn một lần hoặc dán ghép các tấm ván đơn với nhau tạo thành Các sản phẩm này có tạo hình đơn giản và tinh xảo, dễ di chuyển, công nghệ đơn giản, tiết kiệm nguyên vật liệu, hiệu quả sản xuất cao Các sản phẩm đúng khuôn rỗng từ vật liệu nhựa còn có nhiều màu sắc khác nhau, thích hợp dùng với các môi trường nội ngoại thất khác nhau, đặc biệt là môi trường ngoại thất

- Sản phẩm dạng bơm hơi: Là những sản phẩm sử dụng vật liệu màng mỏng nhựa chế tạo thành dạng túi, sau khi bơm hơi sẽ tạo thành sản phẩm Có thể sử dụng màng nhựa mỏng có nhiều màu sắc khác nhau hoặc trong suốt để tạo thành Sản phẩm này có tính đàn hồi, tuy nhiên khi bị rách thì không thể dùng lại được, vì vậy tuổi thọ của sản phẩm ngắn

 Phân loại theo cấu thành kết cấu

- Sản phẩm nội thất dạng tổ hợp bộ phận (còn được gọi là sản phẩm dạng

bộ phận thông dụng): Là những sản phẩm nội thất do các bộ phận thông dụng có quy cách thống nhất và kết cấu lắp ráp nhất định tạo thành Đặc điểm của sản phẩm này là có thể sử dụng các bộ phận quy cách khá ít lắp ráp thành các sản phẩm có hình thức và cách sử dụng khác nhau Ngoài ra, còn có thể quản lý và

tổ chức sản xuất đơn giản hóa, có thể thực hiện sản xuất tự động hóa và chuyên

Trang 12

nghiệp hóa nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất

- Sản phẩm nội thất dạng tổ hợp đơn thể: Là đem sản phẩm phân thành nhiều đơn thể, trong đó bất kỳ một đơn thể nào cũng vừa có thể sử dụng độc lập, vừa có thể ghép lại với nhau theo chiều dài, chiều rộng và chiều sâu để tạo thành một sản phẩm mới Đặc điểm của sản phẩm này là do các đơn thể có thể tích nhỏ, nên thuận tiện khi lắp ráp và vận chuyển Ngoài ra, người sử dụng cũng có thể dựa vào điều kiện nhà ở, điều kiện kinh tế và yêu cầu thẩm mỹ của mình để lựa chọn các đơn thể và ghép thành các hình dạng khác nhau Tuy nhiên, sản phẩm này có nhược điểm là lặp lại các tấm theo chiều cao và chiều rộng, dẫn đến giá thành cao

1.3.5 Phân loại theo hình thức bố trí

Hình thức cố định của sản phẩm là hình thức lắp đặt trong quá trình sử dụng sản phẩm Dựa vào khả năng di chuyển và cố định của sản phẩm có thể phân thành 3 loại sau:

 Dạng di động: Là sản phẩm nội thất đặt trên mặt sàn nhà có thể di chuyển hoặc thay đổi vị trí Loại sản phẩm này gồm loại gắn bánh xe hoặc không gắn bánh xe

 Dạng cố định: Là sản phẩm nội thất không thể di chuyển được, nó được gắn chặt hoặc đóng chặt vào mặt tường hoặc mặt sàn kiến trúc bằng đinh vít, như tủ tường Sản phẩm này sau khi lắp ráp khó tháo dỡ hoặc thay đổi

 Dạng treo: Là sản phẩm nội thất được treo hoặc đóng lên trên tường hoặc dưới trần nội thất bằng linh kiện liên kết Loại sản phẩm này phân thành kiểu cố định và kiểu di động

1.3.6 Phân loại theo chủng loại vật liệu

 Sản phẩm nội thất chất gỗ: chủ yếu do vật liệu gỗ tự nhiên hoặc ván nhân tạo (gỗ công nghiệp) chế tạo thành như: ván dăm, ván sợi, ván ghép thanh

Ví dụ: sản phẩm nội thất dạng khung, sản phẩm nội thất dạng tấm, sản phẩm nội thất gỗ uốn cong, sản phẩm nội thất ép thành hình, sản phẩm nội thất chạm khắc

 Sản phẩm nội thất tre, nứa, song, mây: Chủ yếu dùng vật liệu tre, nứa hoặc song, mây để chế tạo Sản phẩm phần lớn gồm: ghế, đôn, xa lông, bàn trà

và một số sản phẩm tủ

 Sản phẩm nội thất kim loại: Chủ yếu dùng ống kim loại (ống tròn hoặc ống vuông bằng sắt, hợp kim nhôm, thép không rỉ), thanh kim loại và tấm kim

Trang 13

loại làm khung của sản phẩm, kết hợp với kính và ván nhân tạo (gỗ công nghiệp)

để tạo thành sản phẩm

 Sản phẩm nội thất mộc mềm: Chủ yếu sử dụng các vật liệu chất mềm như bọt nhựa, vải, đay, da, lò xo, dây thép, xốp chế tạo thành Sản phẩm chủ yếu gồm đệm giường, ghế xa lông

 Sản phẩm nội thất nhựa: Là sản phẩm nội thất mà toàn bộ sản phẩm hoặc một số bộ phận chủ yếu của sản phẩm làm bằng nhựa Bao gồm sản phẩm nhựa chất cứng được hình thành bằng cách ép đùn và ép khuôn; sản phẩm nhựa bóng gương (kính hữu cơ), sản phẩm vỏ nhựa sợi thủy tinh, sản phẩm khung mềm chế tạo bằng bọt nhựa

 Sản phẩm nội thất kính: Là sản phẩm nội thất sử dụng kính làm bộ phận chính, khung đỡ bằng kim loại hoặc sản phẩm được làm toàn bộ bằng kính ép định hình

 Sản phẩm nội thất đá: Là sản phẩm nội thất mà toàn bộ sản phẩm hoặc một số bộ phận chủ yếu của sản phẩm làm bằng đá hoa cương, đá cẩm thạch hoặc đá nhân tạo

 Sản phẩm nội thất vật liệu khác: Như sản phẩm nội thất giấy carton ép khối , sản phẩm nội thất gốm sứ

1.4 Những yêu cầu chung của sản phẩm nội thất

Thiết kế sản phẩm nội thất là thiết kế theo nhu cầu sử dụng của con người,

vì con người mà tồn tại và phục vụ cho con người Vì thế, sản phẩm nội thất phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau:

1.4.1 Yêu cầu về công năng

Mỗi sản phẩm đều có những công năng sử dụng nhất định được thiết lập theo ý đồ của người thiết kế, công năng đó có thể chỉ là dùng để trang trí Yêu cầu đầu tiên đối với với một sản phẩm nội thất là phải thoả mãn chức năng đó Công năng của sản phẩm nội thất hiện đại có nội hàm rất phong phú, bao gồm công năng vật lý (tức là tính năng, kết cấu, độ tinh xảo và tính tin cậy của sản phẩm); công năng sinh lý (tức là tính thuận tiện, tính an toàn, tính thích hợp với con người của sản phẩm sử dụng); công năng tâm lý (tức là tạo hình, màu sắc, vân thớ và trang sức của sản phẩm); công năng xã hội (tức là sự tượng trưng hay thể hiện giá trị cá nhân, hứng thú, sở thích hoặc địa vị xã hội của sản phẩm)

Trang 14

Khi xem xét, phân tích sản phẩm nội thất, ta cần phải quan tâm đầy đủ đến các chức năng của mỗi một sản phẩm vì nó không chỉ có một chức năng cố định

mà còn có thể có những chức năng phụ khác do phát sinh khi sử dụng

Ví dụ: Sản phẩm ghế, trước tiên phải đáp ứng được chức năng chính là ngồi Ngoài ra, nó còn có thể được ngồi ở nhiều tư thế khác nhau, hay có thể được làm vật kê để đứng lên làm việc gì đó Nếu khi thiết kế, điều này không được quan tâm đúng mức thì chắc chắn thiết kế sẽ không đạt yêu cầu mong muốn

1.4.2 Yêu cầu về thẩm mỹ

Trong lĩnh vực thiết kế, sản phẩm nội thất không chỉ cần đáp ứng yêu cầu

về công năng sử dụng mà cần phải đáp ứng yêu cầu về thẩm mỹ Nếu không có yêu cầu về thẩm mỹ, công việc thiết kế sản phẩm nội thất sẽ trở thành vô nghĩa Thẩm mỹ của mỗi sản phẩm có thể nói là phần hồn của sản phẩm

Người sử dụng cảm nhận vẻ đẹp của sản phẩm nội thất thông qua vẻ đẹp bề ngoài của nó Trong thực tế, đa số các sản phẩm nội thất đều đáp ứng đủ các yêu cầu của người sử dụng Do đó, tính thẩm mỹ của sản phẩm không phải là thẩm

mỹ chủ quan của người thiết kế, mà nó phải có tính thẩm mỹ tính phổ biến Một sản phẩm đẹp là sản phẩm không cần trang trí nhưng vẫn có tính mới lạ, gọn gàng và đáp ứng được những công năng cơ bản

Một chiếc ghế ngồi với công năng thông thường thì không nói lên điều gì, nhưng khi nó được thiết kế tạo dáng theo một ý đồ thẩm mỹ, nó lại tạo ra cảm giác thoải mái hơn cho người ngồi cũng như những người xung quanh khác khi nhìn vào nó

Vì vậy, thẩm mỹ là một phần của chất lượng sản phẩm, nó kết tinh nên giá trị cho sản phẩm

1.4.3 Yêu cầu về kinh tế

Ngoài nhu cầu về sản phẩm đơn lẻ, thì các sản phẩm hiện đại đều là những sản phẩm cung cấp cho người sử dụng với số lượng lớn Không chỉ riêng đối với sản phẩm nội thất, một trong những yêu cầu khá quan trọng đối với một sản phẩm nói chung là yêu cầu về kinh tế Tác động của kinh tế là bành trướng, rộng khắp và sản phẩm nội thất không thể là ngoại lệ Yêu cầu đối với mỗi sản phẩm

có thể hướng theo mục tiêu là đáp ứng chức năng tốt nhất, đẹp nhất nhưng phải

Trang 15

có giá thành thấp nhất Để làm được điều đó, trong mỗi sản phẩm cần có kế hoạch sử dụng nguyên vật liệu hợp lý, thuận tiện cho gia công chế tạo, giá thành sản phẩm thấp Việc tạo ra các sản phẩm tốt, có cấu tạo và kết cấu chắc chắn, bền lâu có ý nghĩa kinh tế rất lớn đối với người sử dụng cũng như đối với xã hội

Vì thế, khi thiết kế người thiết kế phải xuất phát từ lợi ích của người tiêu dùng, dưới tiền đề là đảm bảo chất lượng, lựa chọn chính xác nguyên liệu, kết cấu đơn giản nhằm giảm sức lao động cần thiết; thời gian sử dụng lâu dài; việc vận chuyển, thu hồi và sửa chữa thuận tiện; giảm chi phí sản xuất của nhà máy sản xuất và chi phí sử dụng của người tiêu dùng đến mức thấp nhất nhằmtạo ra những sản phẩm đẹp và giá thành rẻ Có như vậy, mới có thể đem lại lợi ích thiết thực cho người tiêu dùng vàtạo hiệu quả cho các doanh nghiệp

1.5 Nguyên tắc thiết kế sản phẩm nội thất

Một sản phẩm nội thất thiết kế tốt phải có một số đặc điểm sau: thỏa mãn yêu cầu kết cấu công năng của đồ gia dụng, đảm bảo sử dụng an toàn; cấu hình đẹp, phù hợp với yêu cầu thẩm mỹ của người sử dụng mà những sản phẩm cùng loại không có

Để có một sản phẩm nội thất được thiết kế tốt, cần phải thực hiện thiết kế theo một số nguyên tắc nhất định, bởi điều đó có ý nghĩa quyết định tới chất lượng của sản phẩm

Khi thiết kế sản phẩm nội thất cần phải dựa trên một số nguyên tắc cơ bản sau:

1.5.1 Thực dụng

Thực dụng là nguyên tắc đầu tiên trong thiết kế sản phẩm nội thất Thiết kế sản phẩm nội thất đầu tiên phải đáp ứng công dụng trực tiếp của nó, thích hợp với yêu cầu của người sử dụng

Trong mọi công đoạn thiết kế, người thiết kế phải lấy công năng của sản phẩm làm định hướng xuyên suốt Khi tạo dáng sản phẩm, ngoài mục tiêu là có mẫu mã đẹp còn luôn phải chú ý tới khả năng đáp ứng của sản phẩm trong sử dụng

Nguyên tắc đảm bảo công năng được chú ý nhiều nhất trong quá trình tính toán nguyên vật liệu và các giải pháp liên kết, kết cấu sản phẩm

1.5.2 Đẹp

Đẹp là nhu cầu tinh thần của con người, hiệu quả nghệ thuật của sản phẩm nội thất thông qua cảm quan của con người tạo ra phản ứng sinh lý, từ đó ảnh

Trang 16

hưởng mãnh liệt đến tâm lý của con người Vẻ đẹp của sản phẩm xếp sau nguyên tắc thực dụng, nhưng không vì thế mà coi nhẹ nó Đẹp phải xuất phát từ các thuộc tính tự nhiên như công năng, vật liệu và văn hóa Ngoài ra nó còn phải phù hợp với trào lưu sử dụng Vì vậy, thiết kế sản phẩm nội thất vừa phải có nội hàm văn hóa, vừa phải nắm bắt được tư tưởng thiết kế và trào lưu sử dụng hay đặc trưng thời đại

1.5.3 Kinh tế

Tính kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh trên thị trường của sản phẩm nội thất Một sản phẩm nội thất tốt không nhất định phải đắt tiền, nhưng nguyên tắc thiết kế cũng không thể theo đuổi giá rẻ một cách mù quáng,

mà phải tương xứng với giá trị công năng của sản phẩm Điều này yêu cầu người thiết kế phải nắm vững phương pháp phân tích giá trị nhằm vừa tránh lãng phí công năng vừa kinh tế nhất mà vẫn đáp ứng được mục tiêu công năng cần thiết

1.5.4 Dễ chế tạo

Nguyên tắc chế tạo là yêu cầu quan trọng trong quá trình sản xuất Lấy tiền

đề là đảm bảo chất lượng, nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm giá thành, linh kiện liên kết của sản phẩm nội thất phải đáp ứng được nhu cầu gia công cơ giới hoặc sản xuất tự động hóa

Vật liệu sử dụng và công nghệ gia công phải thỏa mãn các yêu cầu sau:  nguyên vật liệu đa dạng (gồm nguyên liệu chính và vật liệu trang trí);  linh kiện lắp ráp dễ dàng (có thể tháo rời hoặc gấp xếp);  sản phẩm tiêu chuẩn hóa (sản phẩm được quy cách hóa, hệ thống hóa và linh kiện thông dụng hóa);  dễ gia công (có thể thực hiện cơ giới hóa và tự động hóa, giảm bớt tiêu hao sức lao động, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu suất lao động sản xuất)

Sản phẩm nội thất có kết cấu cố định cần phải xem xét đến khả năng có thể

cơ giới hóa, tự động hóa lắp ráp Sản phẩm nội thất dạng tháo rời cần phải xem xét đến việc sử dụng công cụ đơn giản nhất cũng có thể lắp ráp nhanh mà vẫn đảm bảo yêu cầu chất lượng của sản phẩm

Nguyên tắc công nghệ còn thể hiện ở việc sử dụng linh kiện tiêu chuẩn khi thiết kế, nhằm rút ngắn quá trình chế tạo, sản xuất đơn giản, giảm bớt chi phí sản xuất và tiết kiệm năng lượng

Trang 17

1.5.5 An toàn

Nguyên tắc an toàn là yêu cầu cơ bản của sản phẩm Tức là yêu cầu sản phẩm vừa có cường độ chịu lực và tính ổn định vừa đủ, vừa thân thiện với môi trường sử dụng Nghĩa là vừa thỏa mãn các yêu cầu của người sử dụng, vừa có lợi cho sự an toàn và sức khỏe của người sử dụng Hay nói cách khác là dựa vào yêu cầu của “sản phẩm xanh” để thiết kế và chế tạo thành “sản phẩm nội thất xanh” Muốn sản phẩm có tính an toàn khi sử dụng phải có hiểu biết nhất định

về tính năng cơ học của vật liệu, đặc tính động, phương hướng và độ lớn chịu lực của sản phẩm, mục đích là để nắm được chính xác kích thước mặt cắt của linh kiện liên kết, đồng thời tính toán và đánh giá một cách khoa học khi thiết kế các khớp nối và thiết kế kết cấu của sản phẩm

Trừ chỉ tiêu tính năng cơ học của sản phẩm nội thất phù hợp với tiêu chuẩn quy định, thỏa mãn công năng sử dụng và công năng tinh thần thì thiết kế sản phẩm nội thất phải có khả năng lợi dụng nguyên liệu tốt nhất, giảm ô nhiễm môi trường và thỏa mãn yêu cầu của người sử dụng Đồng thời nguyên liệu phụ trợ như dạng tấm, vật liệu sơn, keo dán là những vật phát tán hữu cơ về lâu dài sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của con người Vì vậy, khi thiết kế và chế tạo sản phẩm cần phải đặc biệt chú ý

Ngoài tính an toàn về lực học và kết cấu, sự an toàn về hình dáng cũng rất quan trọng, như bề mặt sản phẩm có góc nhọn có thể gây tổn thương cho con người khi sử dụng

1.5.6 Khoa học

Sản phẩm nội thất hiện đại không còn là sản phẩm sinh hoạt đơn giản nữa Ngày nay, để nâng cao hiệu quả công việc và nghỉ ngơi thì nó còn sử dụng vô cùng tiện lợi và thoải mái Vì thế, thiết kế sản phẩm nội thất phải xoay quanh các mục tiêu trên, đi sâu vào nghiên cứu và ứng dụng các nguyên lý cơ bản tương quan với tâm sinh lý môi trường học, mỹ học kỹ thuật, ergonomics, thiết

kế công nghiệp Căn cứ vào quy luật phát triển khoa học kỹ thuật và ứng dụng vật liệu, thiết bị, công nghệ, phương pháp gia công tiên tiến hiện đại, tính đến nguyên tắc lợi dụng kế thừa vật liệu, làm cho sản phẩm nội thất từ sản phẩm thủ công nghiệp trở thành sản phẩm có tính khoa học cao và hiệu quả trong sử dụng

Trang 18

1.5.7 Hệ thống

Nguyên tắc hệ thống thể hiện ở 3 phương diện:  Tính đồng bộ, tức là sản phẩm và môi trường nội thất cùng với các sản phẩm nội thất hay đồ trưng bày khác có tính bổ sung và hài hòa khi sử dụng đồng bộ, kết hợp chặt chẽ với công năng sử dụng và hiệu quả tổng thể của môi trương nội thất;  tính tổng hợp, tức

là thiết kế sản phẩm nội thất phải thuộc về thiết kế công nghiệp, công việc thiết

kế không chỉ là vẽ bản vẽ kết cấu sản phẩm và bản vẽ phối cảnh, mà phải tiến hành thiết kế toàn hệ thống từ công năng sản phẩm, tạo hình, kết cấu, vật liệu, công nghệ đến lắp ráp đóng gói;  tiêu chuẩn hóa, tức là sản phẩm vừa đáp ứng được nhu cầu sản xuất công nghiệp hiện đại vừa thỏa mãn nhu cầu đa dạng sản phẩm của thị trường tiêu thụ

1.5.8 Sáng tạo

Sáng tạo là thường xuyên đổi mới hình thức, vật liệu, kết cấu và khả năng

mở rộng công năng của sản phẩm

1.5.9 Bền

Sản phẩm nội thất thiết kế bền là vừa bảo vệ môi trường, giảm bớt tiêu hao tài nguyên, vừa tốt cho sức khỏe của người sử dụng Thiết kế phải tuân thủ nguyên tắc 3R, tức là Reduce (giảm bớt), Reuse (tái sử dụng), Recycle (tái chế)

Vì vậy, người thiết kế phải coi xã hội và hệ thống môi trường là trách nhiệm của bản thân, hướng thiết kế theo hướng thiết kế xanh, có lợi cho môi trường, giảm tiêu hao tài nguyên và không ảnh hưởng đến sức khỏe người sử dụng

Trang 19

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Từ Bách Minh (2000) Thiết kế đồ gia dụng, Nhà xuất bản Công nghiệp

nhẹ Trung Quốc

2 Hồ Cảnh Sơ và Đới Hướng Đông (1999) Khái niệm thiết kế đồ gia

dụng, Nhà xuất bản Lâm nghiệp Trung Quốc

3 Hồ Cảnh Sơ (1992) Thiết kế đồ gia dụng hiện đại, Nhà xuất bản Lâm

nghiệp Trung Quốc

4 Ngô Trí Tuệ (2005) Thiết kế đồ gia dụng và nội thất, Nhà xuất bản Lâm

nghiệp Trung Quốc

Câu hỏi hướng dẫn ôn tập , định hướng thảo luận và bài tập thực hành

Câu 1: Khái niệm về sản phẩm nội thất và thiết kế sản phẩm nội thất?

Câu 2: Đặc tính cơ bản của sản phẩm nội thất?

Câu 3: Phân loại sản phẩm nội thất?

Câu 4: Phân tích yêu cầu chung của sản phẩm nội thất?

Câu 5: Những nguyên tắc thiết kế sản phẩm nội thất?

Trang 20

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TRÌNH TỰ CÁC BƯỚC THIẾT KẾ

SẢN PHẨM NỘI THẤT

2.1 Các tình huống thiết kế sản phẩm nội thất

2.1.1 Thiết kế theo đơn đặt hàng

Thông thường thiết kế theo đơn đặt hàng chỉ bao gồm thiết kế kết cấu và thiết kế công nghệ sản xuất Dựa vào tình hình thực tế của xí nghiệp, dưới tiền

đề không ảnh hưởng đến các yêu cầu về công năng sử dụng, hiệu quả ngoại quan và các yêu cầu khác, từ đó phân tích phương án tạo dáng hoặc phân tích bản vẽ đặt hàng của sản phẩm để thiết kế Mục đích là cung cấp các tư liệu kỹ thuật và bản vẽ thi công nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất của sản phẩm

Thiết kế cải tiến là trên cơ sở nguyên lý phương án và kết cấu công năng không thay đổi, tiến hành thiết kế cải tiến về kích thước, cách bố trí và lắp ráp kết cấu, thay đổi tính năng, nâng cao chất lượng hoặc tăng chủng loại, quy cách

và màu sắc của sản phẩm

Thiết kế thay thế là loại hình thiết kế trên cơ sở có sẵn, sử dụng một số vật liệu mới, kết cấu mới, chi tiết mới, kỹ thuật và công nghệ mới để thiết kế nhằm đáp ứng những yêu cầu mới Đây là một loại hình thiết kế sáng tạo có tính lũy tiến

Thiết kế mới là loại hình thiết kế có sự đột phá lớn về nguyên lý, kỹ thuật, kết cấu, công nghệ, vật liệu và khác hoàn toàn so với các sản phẩm hiện có, là thiết kế mới không có sản phẩm mẫu Thiết kế này cũng được gọi là thiết kế mang tính sáng tạo, tính độc đáo áp dụng những phát minh mới của khoa học kỹ thuật

Trang 21

2.2 Phương pháp thiết kế sản phẩm nội thất

Phương pháp thiết kế là các phương pháp sử dụng trong quá trình thiết kế, dựa vào trình tự nhất định để tiến hành các bước thiết kế Nó là một quá trình thiết kế khoa học và hệ thống, đồng thời cung cấp phương pháp tư duy cho nhà thiết kế trong quá trình nâng cao phát triển đổi mới của sản phẩm Cùng với quá trình phát triển lâu dài của lịch sử thiết kế của nhân loại, ở mỗi thời kỳ khác nhau thì phương pháp thiết kế cũng không ngừng thay đổi và có yêu cầu khác nhau đối với thiết kế sản phẩm Nhìn từ lịch sử phát triển của thiết kế, sự phát triển của phương pháp thiết kế có thể phân thành 5 giai đoạn:

2.2.1 Thiết kế theo trực giác

Thiết kế theo trực giác là một hoạt động có tính thực nghiệm, tính mơ hồ và tính cá thể, là một phương pháp thiết kế tự phát có tính chu kỳ dài, tính nắm bắt nhỏ và có tính ngẫu nhiên

2.2.2 Thiết kế kinh nghiệm

Là giai đoạn thiết kế chủ yếu tham khảo ngoại hình và số liệu kinh nghiệm của sản phẩm trong sổ tay, mô hình và sản phẩm hiện có Thông thường chỉ có thể dùng để thiết kế đổi mới cục bộ đối với sản phẩm hiện có, không thể phá vỡ quy tắc thông thường để thiết kế sáng tạo

2.2.3 Thiết kế mở rộng nghiên cứu

Là giai đoạn mà trong thiết kế sử dụng các phương tiện như: nghiên cứu phân tích, chế tạo mô hình, chế tạo hàng mẫu, thử nghiệm cục bộ, thử nghiệm phỏng theo

2.2.4 Thiết kế trên máy tính

Là giai đoạn mà trong thiết kế sử dụng kỹ thuật thiết kế có sự trợ giúp của máy tính, thể hiện được thiết kế, thử nghiệm và sản xuất của sản phẩm Dựa vào việc mô phỏng tự động để kịp thời phản hồi những vấn đề còn tồn tại trong thiết

kế, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả thiết kế

2.2.5 Thiết kế theo phương pháp hiện đại

Là giai đoạn mà trong thiết kế sử dụng các phương pháp luận khoa học như: hệ thống học, điều khiển học, thông tin học, trí tuệ học, mơ hồ học để hướng dẫn các quy tắc, nguyên tắc và phương pháp của thiết kế, nâng cao tính

ổn định, tính phức tạp, tính chính xác và tính nhanh gọn của thiết kế

Trang 22

2.3 Trình tự các bước thiết kế sản phẩm nội thất

Thiết kế sản phẩm nội thất được phân thành nhiều giai đoạn có trình tự nhất định Trình tự thiết kế tức là có phương pháp thiết kế khoa học và có mục đích thực hiện thứ tự của kế hoạch thiết kế Sản phẩm nội thất là sản phẩm công nghiệp được sản xuất hàng loạt, trình tự thiết kế của sản phẩm chủ yếu gồm: giai đoạn hoạch thiết kế, giai đoạn ý tưởng thiết kế, giai đoạn thiết kế sơ bộ, giai đoạn đánh giá, giai đoạn hoàn thiện thiết kế, giai đoạn sau thiết kế Việc phân chia các giai đoạn thiết kế này không phải là tuyệt đối mà đôi khi có sự thay đổi thứ tự, đan xen nhau, lặp lại theo chu kỳ, không ngừng thử nghiệm và cải thiện dần dần mới có thể hoàn thành toàn bộ quá trình thiết kế

2.3.1 Hoạch định thiết kế

Giai đoạn hoạch định thiết kế chủ yếu là phải hiểu được yêu cầu về tạo dáng, mục đích sử dụng, công năng và môi trường sử dụng của đối tượng thiết kế; điều tra các sản phẩm cùng loại hoặc gần giống với công năng, kết cấu, ngoại hình, giá cả và tình hình bán hàng của sản phẩm; thu thập các dữ liệu có liên quan đến đối tượng thiết kế; nắm vững đặc trưng cơ bản của tạo dáng và kết cấu sản phẩm; phân tích xu thế phát triển của thị trường, điều tra tâm lý tiêu dùng và yêu cầu của người sử dụng đối với sản phẩm, điều kiện và động lực mua bán Nội dung công việc của giai đoạn này chủ yếu là điều tra thị trường, phân tích tổng hợp số liệu, dự đoán phân tích nhu cầu và đưa ra quyết sách đối với sản phẩm

2.3.1.1 Điều tra thị trường

Điều tra thị trường trước khi thiết kế sản phẩm là sự đảm bảo các thông tin tin cậy nhất, trực tiếp nhất và cơ bản nhất Phân tích chính xác các thông tin của thị trường mà chủ yếu là tình hình tiêu thụ của thị trường và mức độ chấp nhận của người tiêu dùng sẽ mang lại thiết kế thành công

Điều tra thị trường chủ yếu thông qua các website, tạp chí, điều tra bằng phiếu điều tra, triển lãm, điều tra hiện trường sản xuất, thực nghiệm dùng và bán sản phẩm mẫu Điều tra thị trường bao gồm những nội dung chủ yếu sau:

a) Nghiên cứu điều tra người tiêu dùng

Các sản phẩm giống nhau nhưng sẽ có những phản ánh khác nhau của người tiêu dùng, dẫn đến việc phân chia nhóm người tiêu dùng khác nhau Để

Trang 23

các sản phẩm mới có chỗ đứng trên thị trường phải tiến hành điều tra tình trạng của người tiêu dùng trong thị trường mục tiêu Việc điều tra chủ yếu là điều tra tính cách, tuổi, dân tộc, phong tục tập quán, trình độ văn hóa, sở thích, tình trạng kinh tế, mức độ nhu cầu của người tiêu dùng, yêu cầu và ý kiến của người tiêu dùng đối với tạo dáng, màu sắc, trang trí, đóng gói, vận chuyển và yêu cầu về bảo dưỡng của sản phẩm

b) Nghiên cứu điều tra sự tiến bộ của kỹ thuật

Nghiên cứu điều tra sự tiến bộ của kỹ thuật chủ yếu là điều tra hiện trạng và các vấn đề còn tồn tại có liên quan đến sản phẩm; điều tra hiện trạng kỹ thuật, chủng loại sản phẩm của xí nghiệp sản xuất những sản phẩm cùng loại, dữ liệu kỹ thuật công nghệ và vật liệu của sản phẩm có liên quan trong và ngoài nước

c) Nghiên cứu điều tra môi trường thị trường

Nghiên cứu điều tra môi trường thị trường chủ yếu là điều tra môi trường kinh tế xã hội, môi trường địa lý tự nhiên, môi trường văn hóa xã hội môi trường chính trị xã hội Môi trường kinh tế xã hội chủ yếu gồm giá trị tổng sản lượng quốc dân và tình trạng thu nhập quốc dân, quy mô đầu tư xây dựng hạ tầng trong thời gian gần đây, tình trạng xây dựng nhà ở trong thành phố, số lượng nhân khẩu, sự phân bố, giá cả thị trường, kết cấu tiêu dùng, tình hình kinh doanh và thương mại Môi trường địa lý tự nhiên chủ yếu gồm: vị trí địa lý của thị trường mục tiêu, điều kiện khí hậu tự nhiên, tình hình vận chuyển giao thông Môi trường văn hóa xã hội chủ yếu gồm: trình độ giáo dục văn hóa, trình độ khoa học kỹ thuật, cơ cấu nghề nghiệp, tín ngưỡng tôn giáo, phong tục xã hội, quan niệm thẩm mỹ chung Môi trường chính trị xã hội chủ yếu bao gồm: chính sách kinh tế, quy định luật pháp có liên quan

d) Nghiên cứu điều tra thị trường

Nghiên cứu điều tra thị trường chủ yếu điều tra nghiên cứu về hàng hóa, giá

cả, lưu thông, tình hình cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh Nội dung điều tra hàng hóa bao gồm tình hình thị trường hàng hóa, tình hình ứng dụng vật liệu mới, công nghệ mới và kỹ thuật mới, xu hướng phát triển sản phẩm, vòng đời của sản phẩm Nội dung điều tra giá cả bao gồm chi phí sản xuất, chi phí bán hàng, giá cả thị trường, chênh lệch giá và so sánh giá cả của hàng hóa Nội dung điều tra lưu thông hàng hóa bao gồm chuỗi lưu thông, con đường lưu thông,

Trang 24

lượng tích trữ hàng hóa xã hội, vận chuyển hàng hóa, chi phí kho bãi, năng lực kinh doanh, sự phân bố các đại lý phân phối và cửa hàng bán lẻ Nội dung điều tra tình hình cạnh tranh thị trường bao gồm: đối thủ cạnh tranh, cách thức cạnh tranh, tính năng, chất lượng, ứng dụng và giá cả của sản phẩm cạnh tranh, thời gian giao hàng và hình thức phục vụ

e) Nghiên cứu điều tra sản phẩm có liên quan

Nghiên cứu điều tra sản phẩm có liên quan chủ yếu bao gồm: thu thập hình ảnh, dữ liệu bản vẽ của các sản phẩm cùng chủng loại; thu thập dữ liệu về kỹ thuật công nghệ, thiết bị có liên quan đến sản xuất sản phẩm; thu thập dữ liệu và văn bản có liên quan đến nguyên vật liệu chủ yếu, vật liệu phụ trợ và phụ kiện liên kết sản xuất sản phẩm nội thất; thu thập dữ liệu về kích thước cơ thể người, các tiêu chuẩn có liên quan đến sản phẩm, các sự liệu về luật và chính sách có liên quan

2.3.1.2 Phân tích tổng hợp số liệu

Sau khi hoàn thành công việc điều tra thị trường sản phẩm nội thất, phải tiến hành phân loại lưu trữ, hoàn thiện hệ thống và phân tích định tính và định lượng phong cách, tiêu chuẩn, quy cách, hình ảnh và số liệu, quy định và chính sách của sản phẩm điều tra được Sau đó lập biểu đồ phân tích và viết báo cáo nghiên cứu hoàn chỉnh, đồng thời đưa ra các kết luận khoa học để thuận tiện trong hướng dẫn thiết kế phát triển sản phẩm mới Làm căn cứ thiết kế hoặc tài liệu tham khảo cho nhà sản xuất, nhà thiết kế phát triển sản phẩm mới

2.3.1.3 Dự đoán phân tích nhu cầu

Dự đoán thị trường của sản phẩm thường phân thành dự đoán nhu cầu ngắn hạn và dự đoán nhu cầu trong tương lai

a) Dự đoán nhu cầu ngắn hạn

Dự đoán nhu cầu ngắn hạn thường sử dụng phương pháp tăng thêm hoặc phân giảm Phương pháp tăng thêm là dự đoán trước lượng cầu của các thị trường khác nhau, sau đó bổ sung thêm để đạt được tổng lượng cầu ngắn hạn Phương pháp phân giảm là dự đoán trước tổng lượng cầu của toàn bộ thị trường, sau đó lại phân bổ đến các thị trường mà nó chiếm lĩnh

b) Dự đoán nhu cầu trong tương lai

Dự đoán nhu cầu trong tương lai thường sử dụng phương pháp chuỗi thời

Trang 25

gian và phương pháp phân tích hồi quy Phương pháp chuỗi thời gian là căn cứ vào lượng tiêu thụ của các năm trước đó được sắp xếp theo thứ tự năm hoặc tháng, căn cứ vào trình tự cấu tạo, quy luật thặng dư và xu thế tăng trưởng doanh

số bán hàng của các năm trước để dự đoán nhu cầu trong tương lai Phương pháp phân tích thu hồi là thông qua phân tích hồi quy để tìm ra mối quan hệ trực tiếp giữa lượng cầu của thị trường và các nhân tố có liên quan Cả 2 phương pháp này đều có thể ứng dụng cùng một lúc

2.3.1.4 Quyết định sản phẩm

Trên cơ sở các công việc đã hoàn thiện ở trên, căn cứ vào điều kiện và yêu cầu sử dụng của sản phẩm nội thất, căn cứ vào việc điều tra và phân tích thị trường, sự đánh giá và dự đoán yêu cầu sản phẩm để đưa ra quyết định cuối cùng, xác định chủng loại phát triển sản phẩm, phân cấp sản phẩm, đối tượng bán hàng, phương hướng thị trường Lựa chọn phương án cuối cùng để thuận tiện cho việc thiết kế sản phẩm ở bước tiếp theo

2.3.2 Thiết kế ý tưởng

Thiết kế ý tưởng chính là vận dụng kỹ thuật sáng tạo để phát triển thiết kế,

là quá trình lặp đi lặp lại giữa ý tưởng - đánh giá - ý tưởng cho đến khi đạt được kết quả thỏa đáng Giai đoạn này phải căn cứ vào yêu cầu thiết kế để phân tích công năng, vật liệu và kết cấu của đối tượng thiết kế, phân tích và chỉ rõ yếu tố thiết kế (yếu tố con người, yếu tố kỹ thuật, yếu tốt môi trường), sau đó vận dụng

kỹ thuật sáng tạo để phát triển ý tưởng hoặc ý tưởng thiết kế Đối với thiết kế sản phẩm thì giai đoạn ý tưởng của thiết kế tạo dáng cũng bắt đầu từ đây

2.3.2.1 Xây dựng ý tưởng thiết kế

Ý tưởng thiết kế có thể phát triển theo một phương pháp nhất định Có 2 phương pháp xây dựng ý tưởng thiết kế là phương pháp diễn giải và phương pháp quy nạp Phương pháp diễn giải là phương pháp xây dựng ý tưởng từ bình thường đến đặc biệt, từ nguyên lý đến ứng dụng Phương pháp quy nạp là phương pháp xây dựng ý tưởng từ đặc biệt đến bình thường, từ thực tế đến nguyên lý Cả 2 phương pháp này đều là phương pháp thiết kế mang tính lý luận Khi xây dựng ý tưởng thiết kế nên sử dụng phương pháp thiết kế có tính sáng tạo, tức là ý tưởng thiết kế không chịu bất kỳ ràng buộc nào của quy luật thiết kế thông thường nhằm đạt được nguồn cảm hướng và sự sáng tạo

Trang 26

Khả năng cơ bản của ý tưởng sáng tạo bao gồm: khả năng hấp thụ, khả năng lưu giữ, khả năng thúc đẩy và khả năng sáng tạo Khả năng hấp thụ là khả năng chú ý và quan sát, tức là quan sát xã hội, nhìn thâu suốt cuộc sống, chú ý đến sự phát triển của xã hội và khả năng thay đổi lối sống Khả năng lưu giữ là khả năng liên tưởng và khả năng nhớ, yêu cầu người thiết kế phải lưu giữ các sự vật có liên quan trong trí nhớ của mình, đồng thời có thể tưởng tượng theo nhiều hướng khác nhau Khả năng thúc đẩy là khả năng phân tích và phán đoán Khả năng sáng tạo là khả năng thiết kế có tính sáng tạo và dự đoán những thay đổi trong tương lai

2.3.2.2 Biểu đạt ý tưởng thiết kế

Kết quả của giai đoạn xây dựng ý tưởng thiết kế chủ yếu là các bản vẽ phác thảo Thông thường, khi xây dựng ý tưởng thiết kế không phân chia theo thời gian và không gian mà nó xuất phát ngẫu hứng nhưng trên cơ sở của nhiệm vụ thiết kế Vì vậy, khi có ý tưởng thì kết quả của nó phải được ghi lại hay biểu đạt lại ngay lập tức bằng bản vẽ phác thảo Đây là phương pháp thể hiện ý tưởng hiệu quả nhất, cũng là ngôn ngữ thiết kế kết nối ý tưởng sáng tạo giữa các nhà thiết kế tạo dáng với nhau Vì vậy, ở giai đoạn này nhà thiết kế phải nắm bắt hình ảnh mơ hồ về ngoại hình sản phẩm trong quá trình tư duy và phác thảo thật nhanh, đồng thời trong quá trình thiết kế không ngừng lặp lại để ngoại hình sản phẩm được cụ thể và rõ ràng hơn

Bản vẽ phác thảo được phân thành bản vẽ phác thảo tổng thể, bản vẽ phác thảo chi tiết, bản vẽ phác thảo kết cấu Bản vẽ phác thảo tổng thể là bản vẽ hình dạng bên ngoài chưa rõ ràng Bản vẽ phác thảo chi tiết là bản vẽ gồm hình dạng bên ngoài nhưng có màu sắc hoặc các chi tiết được cụ thể hơn rõ ràng hơn Bản

vẽ phác thảo kết cấu là ý tưởng kết cấu bên trong của sản phẩm

Bản vẽ phác thảo thông thường là bản vẽ lập thể (bản vẽ trục đo hoặc bản

vẽ phối cảnh) hoặc bản vẽ mặt đứng, có khi còn phải vẽ ra kết cấu của một số chi tiết để thể hiện ý đồ của người thiết kế Bản vẽ phác thảo thuận tiện, dễ sửa đổi, không bị hạn chế bởi các tiêu chuẩn của bản vẽ kỹ thuật, đồng thời không phải dùng kích thước chính xác để vẽ, nhưng phải có kích thước tổng thể, tỷ lệ

và phân chia bề mặt Bản vẽ phác thảo thông thường phải có số lượng tương đối

để dễ lựa chọn và so sánh Thiết kế một sản phẩm nội thất thường có vài thậm

Trang 27

chí hơn 10 bản vẽ phác thảo trở lên

Để tìm ra phương án thiết kế mang tính đột phá nhà thiết kế phải dám thử nhiều phương án khác nhau, đồng thời sử dụng bản vẽ phác thảo để thể hiện ý

đồ thiết kế và nguyên lý cơ bản của sản phẩm Việc kết hợp ý tưởng và bản vẽ phác thảo trong quá trình thiết kế phải khai thác triệt để phần tạo dáng nghệ thuật của sản phẩm, mặt khác phải xem xét kỹ mối quan hệ giữa công năng và

mỹ quan, giữa vật liệu và kết cấu, giữa công nghệ và thiết bị, giữa chất lượng và kinh tế, giữa con người và sản phẩm, giữa sản phẩm và môi trường sử dụng

2.3.3 Thiết kế sơ bộ

Thiết kế sơ bộ hay còn gọi là thiết kế phương án, phải xuất phát từ nguyên

lý khoa học tự nhiên và hiệu ứng kỹ thuật, tiến hành đánh giá bản vẽ phác thảo

và các phương án được chọn ở giai đoạn ý tưởng thiết kế, sau đó sàng lọc và tìm

ra phương án tạo dáng dễ thực hiện được mục tiêu dự định nhất Giai đoạn này phải giải quyết được các vấn đề về tạo dáng bên ngoài, kích thước cơ bản, công nghệ bề mặt, vật liệu và phối màu cho sản phẩm Đây là bước kết hợp các tham

số nhân trắc học mang tính quyết định toàn diện đến công năng, nghệ thuật, công nghệ và tính kinh tế của sản phẩm

2.3.3.1 Biểu đạt thiết kế sơ bộ

Biểu đạt phương án thiết kế hay thiết kế sơ bộ được thực hiện qua bản vẽ thiết kế (bản vẽ phương án), bản vẽ tạo hình hay bản vẽ phối cảnh, mô hình hay sản phẩm mẫu Thiết kế sơ bộ là đưa ra bản vẽ phương án và bản vẽ phối cảnh

đã có màu của sản phẩm trên cơ sở sàng lọc bản vẽ phác thảo Kết quả của giai đoạn này là bản vẽ phối cảnh thể hiện được hình dạng, màu sắc và chất cảm của sản phẩm, có kích thước Thiết kế sơ bộ nên đưa ra nhiều phương án khác nhau

để đánh giá và lựa chọn phương án tốt nhất

Trang 28

Hình 2.1 Bản vẽ thiết kế

b) Bản vẽ phối cảnh

Bản vẽ phối cảnh là bản vẽ sử dụng các kỹ thuật khác nhau để thể hiện, như hình phối cảnh của sản phẩm trong không gian hoặc môi trường Bản vẽ phối cảnh thường sử dụng bột nước, màu nước, bút màu, in ấn để thể hiện Bản vẽ này còn bao gồm bản vẽ bóc tách, tức là bản vẽ thể hiện kết cấu bên trong của sản phẩm sau khi đã bóc tách chi tiết

c) Mô hình

Thiết kế sơ bộ cũng có thể chế tạo mô hình mô phỏng, tức là không chỉ dựa vào tỷ lệ mà còn sử dụng vật liệu trang sức bề mặt đã chỉ định sẵn để trang sức, màu sắc và vân thớ phải phản ánh hoàn toàn được hiệu quả trang sức của sản phẩm Quá trình chế tạo mô hình là quá trình thử nghiệm ý tưởng, hoàn thiện tạo dáng và thiết kế kết cấu, là phương pháp quan trọng để thể hiện ý đồ thiết kế

d) Sản phẩm mẫu

Để đảm bảo tính chính xác trong thiết kế, tránh tổn thất lớn trong sản xuất, thông thường phải chế tạo 1 sản phẩm (1 bộ sản phẩm) mẫu trước Dựa vào hình dáng, kết cấu và tỷ lệ của phương án thiết kế để chế tạo sản phẩm mẫu nhằm thể hiện một cách trực quan quan hệ không gian của tạo hình sản phẩm và sản phẩm Thông qua sản phẩm mẫu có thể phân tích tính hợp lý trong sản xuất, công năng,

Trang 29

đối với phương án thiết kế Sản phẩm mẫu có thể được gia công dựa vào bản vẽ phương án hoặc hình vẽ phối cảnh mà không cần dựa vào bản vẽ thi công, sau đó dựa vào phân tích và sản phẩm mẫu sau khi đã sửa đổi để vẽ bản vẽ thi công sản xuất Đối với những sản phẩm phức tạp phải vẽ sơ bộ bản vẽ thi công trước, sau

đó chế thử sản phẩm mẫu, cuối cùng dựa vào phân tích và sản phẩm mẫu sau khi sửa đổi để đưa ra bản vẽ thi công sản xuất chính thức

2.3.3.2 Đánh giá phương án thiết kế

Đánh giá thiết kế là dựa vào cách thức và phương pháp nhất định để phân tích, so sánh và đánh giá các nhân tố đánh giá ở tất cả các phương án thiết kế sơ

bộ Các yếu tố đánh giá thông thường gồm: tính công năng, tính công nghệ, tính kinh tế, tính thẩm mỹ, tính nhu cầu thị trường, tính duy trì sử dụng, tính năng chất lượng, tính bảo vệ môi trường, tính hiệu quả

Đánh giá thiết kế thường thông qua các hình thức khác nhau như: điều tra, phiếu câu hỏi, họp bàn, dựa vào các phương pháp đánh giá và yếu tố đánh giá khác nhau để đánh giá các phương án khác nhau nhằm đạt được phương án thiết

kế lý tưởng nhất Các phương pháp chủ yếu gồm:

a) Phương pháp đánh giá đơn giản

* Phương pháp xếp hàng: Khi đánh giá thiết kế không cần xem xét đến chi tiết của phương án mà chỉ cần đánh giá tổng hợp, đem so sánh nhiều phương án thiết kế với nhau, đánh giá theo mức độ sắp xếp ưu tiên, phương án được điểm cao nhất là phương án tốt nhất Phương pháp này dễ làm, thích hợp dùng với số lượng phương án ít, các vấn đề thiết kế được đánh giá đơn giản

* Phương pháp nhận xét: Để đánh giá nhiều mục tiêu, suy xét đến khả năng tồn tại sự đan xen giữa các hạng mục đánh giá khác nhau của phương án thiết

kế, khi đánh giá thiết kế phải đánh giá nhiều mục tiêu của các phương án có căn

cứ rõ ràng, đồng thời sử dụng ký hiệu quy định (hoặc giá trị) để thể hiện phương pháp đánh giá thiết kế của kết quả đánh giá Phương pháp này thường sử dụng

để đánh giá các vấn đề thiết kế phức tạp

b) Phương pháp đánh giá tổng hợp

Để tiến hành đánh giá phương án thiết kế phải xây dựng tiêu chuẩn đánh giá định lượng, phân chia thành các mục tiêu đánh giá, sau đó dựa vào phương pháp thống kê toán học để thu được điểm số của các mục tiêu đánh giá ở các phương án

Trang 30

thiết kế, từ đó đưa quyết sách thiết kế Yếu tố của đánh giá tổng hợp gồm:

* Yếu tố người tiêu dùng: Tính công năng: mức độ thỏa mãn sử dụng; tính an toàn: mức độ tin cậy an toàn; tính thẩm mỹ: mức độ thỏa mãn tâm lý; tính thao tác: mức độ thoải mái thuận tiện; tính môi trường: mức độ hòa hợp với môi trường

* Yếu tố nhà sản xuất: Dựa vào yếu tố ngoại quan, tính năng, chất lượng, đóng gói, nhãn hiệu của sản phẩm để đánh giá độ khó kỹ thuật; chi phí sản xuất, khả năng khống chế chi phí sản xuất; tính khả thi của công nghệ sản xuất và tình hình cung cấp nguyên liệu; tình hình dự báo thị trường, năng lực cạnh tranh thị trường, phân tích giá cả, phân tích tuổi thọ của sản phẩm, tình trạng thực hiện các biện pháp phục vụ sau bán hàng, rủi ro có thể xảy ra khi phát triển sản phẩm, đối sách rủi ro và khả năng chống chịu rủi ro; mức độ phù hợp của sản phẩm với các tiêu chuẩn của quốc tế, của quốc gia, của ngành nghề; bản quyền của sản phẩm

c) Phương pháp đánh giá mơ hồ

Trong đánh giá thiết kế tồn tại rất nhiều chỉ tiêu đánh giá không thể định lượng một cách chính xác, như tạo dáng ngoại quan của sản phẩm, chỉ tiêu mang tính chủ quan, cảm tính của con người Vì thế, rất khó đánh giá bằng phương pháp phân tích định lượng thông thường Phương pháp đánh giá mơ hồ là đưa ra phương pháp phân tích và khái niệm của toán học mơ hồ trong đánh giá thiết kế, ứng dụng ma trận mơ hồ để định lượng hóa thông tin, nâng cao độ chính xác và tính áp dụng

2.3.4 Thiết kế thi công

Giai đoạn thiết kế thi công là quá trình tiêu chuẩn hóa và cụ thể hóa của thiết kế phương án, là giai đoạn hoàn thiện toàn bộ các bản vẽ và hồ sơ thiết kế Sau khi xác định bản vẽ phối cảnh, mô hình và chế tạo sản phẩm mẫu, toàn bộ tiến trình thiết kế sẽ chuyển sang giai đoạn thiết kế thi công sản xuất Kết quả của giai đoạn này là các bản vẽ thi công sản xuất và hồ sơ thiết kế

2.3.4.1 Bản vẽ thi công sản xuất

Bản vẽ thi công sản xuất là hồ sơ quan trọng của thiết kế, cũng là căn cứ quan trọng và hồ sơ kỹ thuật công trình cơ bản của sản phẩm để đưa vào sản xuất hàng loạt Vẽ bản vẽ thi công là trình tự công việc cuối cùng trong thiết kế sản phẩm mới Vì vậy, phải làm đúng theo tiêu chuẩn bản vẽ của quốc gia quy định, đồng thời căn cứ vào điều kiện kỹ thuật và yêu cầu sản xuất để đưa ra các

Trang 31

bản vẽ thi công chi tiết dùng để chỉ đạo sản xuất Bản vẽ thi công thường bao gồm: bản vẽ lắp ráp kết cấu, bản vẽ bộ phận, bản vẽ chi tiết, bản vẽ tháo dỡ, bản

vẽ phóng to chi tiết Ngoài ra phải có bản thuyết minh của sản phẩm gồm: vật liệu trang sức bề mặt, công nghệ gia công, chất liệu và màu sắc

a) Bản vẽ lắp ráp kết cấu

Bản vẽ lắp ráp kết cấu hay còn gọi là bản vẽ lắp ráp tổng thể, là bản vẽ lắp ráp kết cấu sản phẩm giữa các chi tiết với nhau theo cách thức tổ hợp nhất định (hình 2.2) Bản vẽ này không chỉ có thể dùng để hướng dẫn lắp các chi tiết, bộ phận đã gia công xong với nhau để tạo thành sản phẩm hoàn chỉnh, mà còn dùng

để hướng dẫn gia công các chi tiết và bộ phận Đôi khi bản vẽ lắp ráp kết cấu còn có thể dùng để thay thế bản vẽ chi tiết hoặc bản vẽ bộ phận, toàn bộ quá trình sản xuất về cơ bản chỉ cần dùng bản vẽ lắp ráp kết cấu Vì vậy, bản vẽ này không chỉ yêu cầu phải thể hiện được kết cấu trong và ngoài của sản phẩm, mối quan hệ lắp ráp, mà còn phải thể hiện rõ ràng hình dạng của chi tiết bộ phận, kích thước cũng phải ghi tỉ mỉ rõ ràng Ngoài ra, còn phải ghi rõ điều kiện kỹ thuật có liên quan đến gia công hoặc thuyết minh (như biểu thuyết minh chi tiết, yêu cầu kỹ thuật công nghệ ) trên bản vẽ lắp ráp kết cấu

Hình 2.2 Bản vẽ lắp ráp kết cấu

b) Bản vẽ bộ phận:

Là bản vẽ lắp ráp chế tạo của các bộ phận trong sản phẩm như: ngăn kéo,

Trang 32

cánh cửa, mặt bàn, hồi tủ, lưng tủ Là bản vẽ công nghệ nằm giữa bản vẽ chi tiết và bản vẽ lắp ráp tổng thể (hình 2.3) Bản vẽ này thể hiện kích thước và hình dạng của các chi tiết trong bộ phận và mối quan hệ lắp ráp giữa các chi tiết đó Đồng thời, ghi rõ kích thước chính của chi tiết và kích thước lắp ráp của bộ phận, khi cần thiết còn phải ghi rõ yêu cầu kỹ thuật công nghệ hoặc có thể làm dùng bản vẽ bộ phận thay cho bản vẽ chi tiết để làm căn cứ gia công bộ phận và chi tiết của sản phẩm

Hình 2.3 Bản vẽ bộ phận (khung mặt bàn)

c) Bản vẽ chi tiết

Bản vẽ chi tiết là bản vẽ công nghệ của các chi tiết trong sản phẩm cần phải gia công chi tiết, nó là căn cứ kỹ thuật để người công nhân chế tạo chi tiết (hình 2.4)

Trang 33

Hình 2.4 Bản vẽ chi tiết (chân bàn)

d) Bản vẽ phóng to chi tiết

Trong sản phẩm nội thất có một số chi tiết tạo hình đặc thù không theo quy tắc nào (như đường cong), kết cấu hình dáng của nó phức tạp, yêu cầu gia công lại rất cao Vì vậy, phải dựa vào kích thước thật của nó để vẽ bản vẽ, bản vẽ này gọi là bản vẽ phóng to chi tiết (hình 2.5), đồng thời để thuận tiện khi gia công chi tiết cần phải chế tạo tấm mẫu hoặc khuôn mẫu

Hình 2.5 Bản vẽ phóng to chi tiết

e) Bản vẽ tháo dỡ

Đối với sản phẩm nội thất dạng tháo rời, để thuận tiện trong quá trình vận

Trang 34

chuyển, mua bán và sử dụng, thông thường đều phải có thêm bản vẽ dạng tháo rời Bản vẽ này không yêu cầu kích thước nghiêm ngặt mà chủ yếu là thể hiện được mối quan hệ lắp ráp giữa các chi tiết và vị trí lắp ráp, thể hiện trực quan được toàn bộ quá trình lắp ráp sản phẩm

2.3.4.2 Hồ sơ kỹ thuật thiết kế

Hồ sơ kỹ thuật thiết kế chủ yếu bao gồm những nội dung sau:

a) Biểu thuyết minh chi tiết

Biểu thuyết minh chi tiết là tài liệu có tính hướng dẫn sản xuất, nó tập hợp quy cách, nguyên liệu sử dụng và số lượng của toàn bộ chi tiết, dựa vào thứ tự của chi tiết để điền biểu vào sau khi đã hoàn thành tất cả các bản vẽ Đối với những chi tiết, phụ kiện gia công ngoài, linh kiện kim loại và phối kiện đi kèm cũng phải viết vào biểu để tiện quản lý Mẫu biểu của các xí nghiệp khác nhau, nhưng về cơ bản là thống nhất Biểu thuyết minh chi tiết có lúc đặt trên bản vẽ lắp ráp kết cấu, có lúc đặt cùng với bản vẽ tháo dỡ Thông thường biểu thuyết minh chi tiết có dạng như bảng 2.1, bảng 2.2

Bảng 2.1 Biểu thuyết minh của chi tiết

Tên sản phẩm: Mã sản phẩm: Quy cách: Đơn vị:

Vật liệu

Đơn vị (chiếc, bộ)

Số lượng

Quy cách thô (dài, rộng, cao)

Quy cách tinh (dài, rộng, cao)

Ghi chú

Bảng 2.2 Biểu thuyết minh linh kiện kim loại và phụ kiện

Tên sản phẩm: Mã sản phẩm: Quy cách: Đơn vị:

TT Tên bộ

phận

Tên phụ kiện

Vật liệu

Đơn vị (chiếc, bộ)

Số lượng

Quy cách phối liệu (mã tiêu chuẩn)

Nhà sản xuất

Ghi chú

b) Biểu thuyết minh tính toán nguyên vật liệu

Dựa vào số lượng, quy cách, phân cấp của chi tiết, linh kiện liên kết và phụ

Trang 35

kiện ở biểu thuyết minh tiến hành tính toán và phân tích nguyên vật liệu, keo

dán, sơn phủ, vật liệu dán mặt, vật liệu dán cạnh, kính, gương, linh kiện liên kết

đối với vật liệu gỗ và vật liệu ván nhân tạo, như ở bảng 2.3

Bảng 2.3 Biểu thuyết minh nguyên vật liệu

Tên sản phẩm: Mã sản phẩm: Quy cách: Đơn vị:

loại)

Cấp vật liệu

Quy cách (dài, rộng, dày)

Đơn vị (chiếc, bộ)

chú Thể

tích (m 3 )

Thể tích (thanh)

Để tiết kiệm vật liệu, giảm giá thành, phải vẽ sơ đồ gia công vật liệu đối

với những phối liệu của bộ phận dạng tấm để thuận tiện cho công nhân sử dụng

trong quá trình gia công vật liệu và quy cách các thanh chi tiết Vì vậy, việc tính

toán và sử dụng nguyên liệu chính và nguyên liệu phụ trợ hợp lý sẽ nâng cao lợi

ích thực tế, giảm tiêu hao trong quá trình sản xuất

c) Yêu cầu kỹ thuật công nghệ và thuyết minh gia công

Tất cả các sản phẩm đều phải tiến hành phân tích công nghệ sản xuất và quá

trình sản xuất, tức là phải có bản vẽ quá trình công nghệ và lưu trình công nghệ

của sản phẩm Trong bản thuyết minh này quy định tài liệu thiết kế của sản phẩm

và chi tiết bộ phận, con đường công nghệ hoặc lưu trình công nghệ sản xuất sản

phẩm và chi tiết bộ phận, chủng loại công cụ và thiết bị gia công, phương pháp

kiểm định và yêu cầu kỹ thuật đối với sản phẩm và chi tiết bộ phận, quy cách và

định lượng tiêu hao nguyên liệu Đây chính là căn cứ cơ bản để tính toán chi phí

trong các khâu chuẩn bị sản xuất, tổ chức sản xuất, cũng là tài liệu kỹ thuật chính

để hướng dẫn công nhân vận hành và sản xuất Những tài liệu này nên kết hợp với

những kinh nghiệm sản xuất đã có và tình hình trang thiết bị công nghệ sản xuất

hiện có để quy định, đồng thời phải phù hợp với tính tiên tiến của kỹ thuật, tính

hợp lý về kinh tế và nguyên tắc có thể thực hiện được trong sản xuất, để các tài

liệu kỹ thuật công nghệ phù hợp với thực tế sản xuất hơn

Trang 36

d) Thuyết minh lắp ráp sản phẩm và đóng gói chi tiết bộ phận

Sản phẩm nội thất dạng tháo dời (dạng tấm hoặc dạng khung) thường sử dụng hộp giấy để đóng gói bộ phận và lắp ráp tại hiện trường Thiết kế đóng gói phải tính đến số lượng đóng gói theo bộ sản phẩm, vật liệu đóng gói bên trong

và bên ngoài, hộp đóng gói và quy cách hộp đóng gói Bên trong mỗi hộp đóng gói đều có bản đồ hướng dẫn tháo lắp sản phẩm và sách hướng dẫn sử dụng, công cụ lắp ráp dạng nhỏ và phụ kiện lắp ráp

e) Sách thuyết minh thiết kế sản phẩm

Thiết kế sáng tạo sản phẩm nội thất mới là một thiết kế mang tính hệ thống, sau khi kết thúc công việc thiết kế sáng tạo sản phẩm mới sẽ phải tổng kết lý tính đối với công việc thiết kế để ghi lại toàn bộ quá trình và hệ thống thiết kế, giới thiệu và quảng bá thành quả thiết kế để chuẩn bị cho giai đoạn sản xuất sản phẩm tiếp theo Vì vậy, cần phải viết sách thuyết minh thiết kế sản phẩm hoặc sách báo cáo thiết kế đổi mới sản phẩm

Sách thuyết minh thiết kế nên có kết cấu danh mục tổng quát cụ thể, nói rõ trọng tâm của từng khâu trong toàn bộ quá trình thiết kế, nội dụng cụ thể, hình ảnh minh họa rõ ràng, có bìa và đóng thành dạng sách

Sách thuyết minh thiết kế ít nhất phải có các nội dung sau: tên sản phẩm,

mã sản phẩm, quy cách, đặc điểm công năng của sản phẩm và đối tượng sử dụng; đặc điểm thiết kế ngoại quan của sản phẩm; quy định vật liệu sử dụng đối với sản phẩm; nội dung, hình dáng và yêu cầu trang trí bề mặt trong ngoài của sản phẩm; hình thức kết cấu của sản phẩm; yêu cầu đóng gói sản phẩm

Nội dung viết sách ghi lại quá trình thiết kế đổi mới sản phẩm phải bắt đầu

từ hạng mục thiết kế, điều tra và phân tích thị trường, định vị và kế hoạch thiết

kế, ý tưởng phác thảo ban đầu, nghiên cứu tình tiết thiết kế chi tiết, bản vẽ phối cảnh, mô hình (hoặc sản phẩm mẫu), bản vẽ thi công sản xuất, cuối cùng thể hiện toàn bộ quá trình hoàn thiết kế sản phẩm mới

2.3.5 Giai đoạn sau thiết kế

Ở góc độ phân công trong nội bộ xí nghiệp thì sau khi hoàn thành bản vẽ thi công sản xuất và các tài liệu kỹ thuật thiết kế là đã hoàn thành thiết kế Nhưng ở tất cả các góc độ của xí nghiệp hướng tới mục tiêu của lợi ích thiết kế, việc thiết kế mới sản phẩm của xí nghiệp thường gồm các công việc sau:

Trang 37

a) Chuẩn bị sản xuất

Công việc chuẩn bị sản xuất bao gồm các nội dung chính sau: Đặt hàng và thực hiện đơn vị gia công ngoài xưởng và xưởng cung phân nguyên vật liệu; Tăng hoặc điều chỉnh thiết bị; công cụ và thiết bị gia công chuyên dụng; vị trí kiểm tra chất lượng; chuẩn bị nguyên liệu và thiết bị chuyên nghiệp

b) Kế hoạch kinh doanh

Sau khi hoàn thành thiết kế một sản phẩm mới để có thể nhanh chóng đưa sản phẩm ra thị trường, được xã hội thừa nhận, chiếm lĩnh được thị trường và

mở rộng kinh doanh thì phải thực hiện hoàn thành bản kế hoạch kinh doanh sản phẩm Bản kế hoạch kinh doanh sản phẩm hoàn chỉnh bao gồm: Xác định khu vực thị trường mục tiêu, kế hoạch bán hàng, định giá sản phẩm, phân phối lợi nhuận cho các đại lý bán hàng; thiết kế kế hoạch đóng gói và quảng cáo sản phẩm, thiết kế hệ thống trưng bày cửa hàng và trưng bày sản phẩm; phục vụ, bồi dưỡng và đào tạo bán hàng sản phẩm

c) Bán thử, sản xuất thử

Sau khi hoàn thành các công việc chuẩn bị sản xuất và lập kế hoạch kinh doanh có thể dựa vào bản vẽ để sản xuất thử sản phẩm với số lượng nhỏ, sản phẩm sau khi sản xuất có thể đưa đi triển lãm và đưa đến các cửa hàng kinh doanh Dựa vào kế hoạch kinh doanh để định giá cả và hình thức bán hàng hợp

lý tiến hành tuyên truyền, quảng cáo như tham gia các hội trợ triển lãm sản phẩm, tự mở hội trợ triển lãm đặt hàng và bán hàng, từ đó nhanh chóng đưa sản phẩm vào thị trường

d) Phản hồi thông tin

Sau khi đưa sản phẩm vào thị trường, phải kịp thời lấy ý kiến của người tiêu dùng và các cửa hàng kinh doanh đối với sản phẩm, đặc biệt là ý kiến của người tiêu dùng mang tính tập đoàn, phải chủ động đi tìm hiểu tình hình để lấy các thông tin về sản phẩm, sau đó phản ánh lại cho bộ phận thiết kế để kịp thời thiết kế sửa đổi sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và thích hợp với nhu cầu của thị trường, từ đó đảm bảo cho sản phẩm mới có thể tạo ra giá trị kinh tế và lợi ích xã hội cao hơn

Trang 38

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Lôi Đạt (1995) Thiết kế đồ gia dụng, Nhà xuất bản Học viện Mỹ thuật

Trung Quốc

2 Từ Bách Minh (2000) Thiết kế đồ gia dụng, Nhà xuất bản Công nghiệp

nhẹ Trung Quốc

3 Lương Khởi Phàm (2000) Thiết kế đồ gia dụng, Nhà xuất bản Công

nghiệp nhẹ Trung Quốc

4 Giản Thiệu Toàn (2000) Phương pháp thiết kế công nghiệp, Nhà xuất

bản Đại học Công nghệ kỹ thuật Bắc Kinh

5 Ngô Trí Tuệ (2005) Thiết kế đồ gia dụng và nội thất, Nhà xuất bản Lâm

nghiệp Trung Quốc

Câu hỏi hướng dẫn ôn tập, định hướng thảo luận và bài tập thực hành

Câu 1: Phân tích các tình huống thiết kế sản phẩm nội thất?

Câu 2: Trình bày và phân tích các phương pháp thiết kế sản phẩm nội thất? Câu 3: Trình bày trình tự các bước thiết kế sản phẩm nội thất?

Câu 4: Phân tích giai đoạn thiết kế ý tưởng trong trình tự thiết kế sản phẩm nội thất?

Câu 5: Phân tích giai đoạn thiết kế sơ bộ trong trình tự thiết kế sản phẩm nội thất?

Câu 6: Phân tích giai đoạn thiết kế thi công trong trình tự thiết kế sản phẩm nội thất?

Câu 7: Phân tích giai đoạn sau thiết kế trong trình tự thiết kế sản phẩm nội thất? Câu 8: Trình bày các bản vẽ và thứ tự bản vẽ trong thiết kế sản phẩm nội thất?

Trang 39

Chương 3 NGUYÊN VẬT LIỆU SẢN XUẤT SẢN PHẨM NỘI THẤT

3.1 Vật liệu sản xuất sản phẩm nội thất

3.1.1 Vật liệu gỗ

Gỗ tự nhiên là nguyên liệu lý tưởng và là nguyên liệu cơ bản trong sản xuất sản phẩm nội thất gỗ Hiện nay gỗ tự nhiên ngày một khan hiếm, sự mất cân bằng giữa cung và cầu của nguyên liệu này đã bội hoá giá trị sử dụng của mặt hàng gỗ tự nhiên

Tuy nhiên giá trị của nó chỉ thực sự phát huy khi nó được sử dụng đúng chỗ

và hợp lý Khi thiết kế sản phẩm nội thất sử dụng gỗ tự nhiên cần chú ý tới một

số đặc trưng cơ bản sau:

3.1.1.1 Đặc tính cơ học của gỗ

Tuỳ theo mục đích sử dụng và chức năng của từng chi tiết mà ta lựa chọn loại gỗ có các đặc tính cơ học cho phù hợp Nếu chọn gỗ có tính chất cơ học không phù hợp có thể gây ra những nhược điểm lớn đối với sản phẩm và có thể dẫn đến sự mất an toàn chức năng của sản phẩm Các tính chất cơ học cần được quan tâm là: sức chịu nén ép, sức chịu trượt, sức chịu uốn, modul đàn hồi, độ cứng, sức chịu tách, khả năng bám đinh

 Sức chịu nén ép của gỗ (có thể là nén dọc hoặc ngang thớ): Cần được lưu ý khi chọn giải pháp cho liên kết mộng bởi sức chịu nén ép kém sẽ làm cho mộng dễ bị chèn dập, liên kết yếu, có thể bị phá huỷ khi sử dụng

 Sức chịu trượt: Chủ yếu phải quan tâm khi thiết kế sản phẩm có chi tiết cong, hướng chịu lực dễ gây hiện tượng trượt dọc thớ

 Sức chịu uốn: Là tính chất cần được quan tâm nhiều nhất trong thiết kế sản phẩm mộc Trong kết cấu sản phẩm mộc ta thường xuyên bắt gặp các chi tiết chịu uốn như các kệ đỡ ngang Nếu ứng suất uốn xuất hiện trong chi tiết vượt quá giới hạn cho phép của gỗ thì chi tiết sẽ bị phá huỷ

 Modul đàn hồi: Ảnh hưởng trực tiếp tới độ võng của chi tiết gỗ Trong thiết kế cần tính toán lựa chọn loại gỗ có modul đàn hồi phù hợp, đảm bảo tính thẩm mỹ của sản phẩm

 Độ cứng của gỗ: Gỗ cần được lựa chọn để đảm bảo có khả năng chống

Trang 40

chịu va đập và cọ sát của sản phẩm với các vật xung quanh khi sử dụng cũng như trong quá trình sản xuất, đồng thời nó cũng phải phù hợp với điều kiện gia công

 Sức chịu tách của gỗ: Là tính chất cần được tìm hiểu kỹ trước khi gia công, bởi nó ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng của các mối liên kết mộng và liên kết bằng đinh

3.1.1.2 Đặc tính chống chịu sâu mọt của gỗ

Khả năng chống chịu sâu mọt của gỗ là một trong những tác nhân quyết định đến chất lượng sản phẩm Ngày nay, tuy có nhiều phương pháp bảo quản

gỗ tương đối hữu hiệu, song những loại gỗ có sức chống chịu đối với mối mọt vẫn được ưa chuộng, vì một số phương pháp bảo quản gỗ đặc biệt là bảo quản bằng hoá chất vẫn ít nhiều ảnh hưởng tới tâm lý người sử dụng

Do đó, khi thiết kế sản phẩm mộc khi sử dụng gỗ có khả năng bị sâu mọt xâm hại, người thiết kế phải tính đến các phương án xử lý bảo quản phù hợp

Trong từng điều kiện thiết kế và mục đích sử dụng cụ thể, người thiết kế có thể lựa chọn loại gỗ có chất lượng màu sắc và vân thớ phù hợp

Ngày đăng: 23/05/2021, 10:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w