1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề tài suy thoái kinh tế việt nam 2008 (bài tập lớn kinh tế vĩ mô)

10 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Suy Thoái Kinh Tế Việt Nam 2008
Tác giả Ngô Đức Thành
Người hướng dẫn TS. Lê Văn Sơn
Trường học Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế vĩ mô
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 242,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Untitled ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ BÀI TẬP LỚN KINH TẾ VĨ MÔ ĐỀ TÀI SUY THOÁI KINH TẾ VIỆT NAM 2008 Họ và tên sinh viên Ngô Đức Thành Mã sinh viên 20050033 Lớp học phần 202 INE115[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

ĐỀ TÀI:

H ọ và tên sinh viên: Ngô Đức Thành

Mã sinh viên: 20050033

L ớp học phần: 202_INE1151 ** 5

Gi ảng viên: TS Lê Văn Sơn

Trang 2

• BỐI CẢNH

Đầu năm 2008, thế giới chứng kiến hậu quả nặng nề của đại khủng hoảng tài chính toàn cầu Cuộc khủng hoảng đã dẫn tới sự sụt giảm của dòng chảy đầu tư, các hoạt động giao thương trao đổi buôn bán đình trệ Là một nền kinh tế nhỏ, phụ thuộc nhiều vào nguồn đầu tư FDI và xuất khẩu hàng hóa, Việt Nam không tránh khỏi tác động

nặng nề từ cú sốc này Các ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thể hiện rõ rệt vào giao đoạn cuối năm 2008 Xuất khẩu hàng tháng tụt dốc liên tiếp vào những tháng cuối 2008

và đầu 2009 Sản lượng công nghiệp quý IV năm 2008 giảm còn 15.6% so với 17.4% của năm 2007 Nguồn đầu tư nước ngoài FDI sụt giảm đáng kể Tâm lí tiêu dùng bị ảnh hưởng xấu, thị trường chứng khoán liên tục chạm đáy Cuối cùng, tăng trưởng GDP năm 2008 chỉ còn 6.28%, thấp hơn nhiều so với con số trên 8% vào năm trước

Bối cảnh càng thêm tồi tệ vào đầu năm 2009 khi tăng trưởng GDP quý I chỉ còn 3.1%

và chỉ vỏn vẹn 3.9% cho nửa đầu năm 2009

Cho tới nửa đầu năm 2008, nền kinh tế Việt Nam tương đối không bị ảnh hưởng bởi tình hình tài chính bất ổn Thị trường tài chính và kinh tế dần có xu hướng đi xuống vào quý IV 2008 và quý I 2009 Chỉ số tăng trưởng GDP thực của quý I 2009 chỉ ở

mức 3.1%, một sự lao dốc vô cùng nghiêm trọng so với mức bình quân tại quý I năm

2008 đạt mức 7.5% Tăng trưởng sản xuất công nghiệp chỉ đạt 2.9% tại quý I 2009

Kết quả đi xuống của nền kinh tế đã cảnh báo cho sự suy thoái toàn diện trong năm

2009 Các quốc gia phụ thuộc vào xuất khẩu như Việt Nam phải gánh chịu sự sụp đổ trên thị trường thương mại quốc tế Trong quý 4 năm 2008, xuất khẩu của Việt Nam

đã giảm đáng kể do tác động trực tiếp và tức thời của cuộc khủng hoảng tài chính toàn

cầu Chính phủ đã phải điều chỉnh giảm tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, dự kiến xuất

khẩu sẽ không tăng trưởng trong năm 2009 Theo số liệu thống kê chính thức của Tổng

cục Thống kê, trong 10 tháng đầu năm 2009, xuất khẩu của Việt Nam đã giảm 13,8%

so với năm 2008 Năm 2009, có dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chậm lại do hạn

chế về vốn thanh toán và sự thắt chặt của thị trường tín dụng thế giới Trong 8 tháng đầu năm 2009, Việt Nam đã thu hút được khoảng 10,4 tỷ USD vốn đăng ký, thấp hơn nhiều so với năm 2008 Thực tế giải ngân từ các dự án đầu tư trên 6,5 tỷ USD cũng

thấp hơn so với năm 2008

Trong suốt quá trình cải cách kinh tế cho đến nay, Việt Nam ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào FDI để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức cao Dòng vốn FDI

chậm lại trong năm 2009 và những năm tới sẽ gây ra nhiều hệ lụy cho nền kinh tế Việt Nam Khu vực FDI đóng vai trò vô cùng quan trọng trong xuất khẩu của Việt Nam Theo số liệu thống kê chính thức, khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm hơn 50% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong vòng 6 năm Sản lượng sụt giảm chóng mặt Nhiều doanh nghiệp đã phải cắt giảm kế hoạch sản xuất kinh doanh do chi phí sản xuất tăng, đặc biệt là lãi suất từ các khoản vay ngân hàng

Các biện pháp kiềm chế lạm phát năm 2008 của Chính phủ với chính sách tài khóa và

tiền tệ thắt chặt tuy có tác dụng giảm lạm phát đáng kể nhưng bên cạnh đó tác động tiêu cực đến sản lượng của nền kinh tế Năm 2008, các ngân hàng tăng lãi suất nhằm mục đích thắt chặt chính sách tiền tệ và kiềm chế lạm phát đã gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc vay vốn Bên cạnh đó, khó khăn lớn đối với các doanh nghiệp

Trang 3

là thị trường tiêu thụ sản phẩm Chừng nào kinh tế thế giới chưa phục hồi, thị trường tiêu thụ vẫn còn vô vàn khó khăn Trong khi đó, nhu cầu thị trường trong nước còn hạn chế do sức mua chưa tương xứng Chính phủ Việt Nam đã nhanh chóng nhận thấy tác động của cuộc khủng hoảng toàn cầu và phản ứng dứt khoát Chính phủ đã đảo ngược quá trình thắt chặt tiền tệ và chính sách thắt lưng buộc bụng tài khóa được thực hiện vào năm 2008 Về chính sách tiền tệ, chính phủ đã mạnh tay nới chính sách bằng cách

cắt giảm lãi suất cơ bản từ 14%/ năm xuống mức 7%/ năm trong vòng vài tháng Lãi

suất cho vay trần (1,5 lần lãi suất cơ bản) cũng được điều chỉnh giảm tương ứng, từ 21% xuống 10,5% đối với hoạt động sản xuất Lãi suất cho vay tiêu dùng và thẻ tín dụng có thể thỏa thuận, dao động từ 12% đến 15% Về mặt chính sách tài khóa, Việt Nam công bố kích thích tài chính vào tháng 1 năm 2009 Mục tiêu của Chính phủ là phục hồi nền kinh tế bằng cách thúc đẩy tiêu dùng và đầu tư Gói kích cầu ban đầu được công bố là 6 tỷ USD nhằm mục đích giảm thiểu tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế và người dân Việt Nam, đồng thời ngăn

chặn sự suy giảm chung của hoạt động kinh tế Con số này sau đó được điều chỉnh lên mức 8 tỷ USD Chương trình được cấu trúc theo bốn phần chính, với các sáng kiến hỗ trợ bổ sung sẽ được phát triển ở các giai đoạn sau theo yêu cầu

Trang 4

• NGUYÊN NHÂN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA SUY THOÁI

Tháng 9 năm 2008, ngân hàng đầu tư Lehman Brothers của Mỹ tuyên bố phá sản, Merrill Lynch bất ngờ bị Bank of America mua lại, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED)

phải mở rộng chương trình cho vay Các ngân hàng Wall Street phải lập quỹ để tăng thanh khoản, tập đoàn bảo hiểm lớn nhất toàn cầu AIG đứng trước nguy cơ sụp đổ…

Một cuộc khủng hoảng điên rồ toàn cầu bắt đầu từ nước Mỹ đang lan ra khắp thế giới Nhiều khu vực và quốc gia rơi vào tình trạng suy thoái, trong đó có Việt Nam

Dựa vào bối cảnh đã phân tích, nền kinh tế Việt Nam không tránh khỏi cú sốc toàn cầu này

Cuộc đại suy thoái 2008 - 2009 đã ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế Việt Nam Với

việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới - WTO vào năm 2007, một lượng vốn

khổng lồ có thời điểm lên tới 20 tỷ USD từ các nhà đầu tư quốc tế đã đổ vào thị trường

Việt Nam dưới dạng FDI Dòng vốn này đã đẩy giá bất động sản và cổ phiếu lên cao, vượt xa giá trị nội tại của doanh nghiệp khi tỉ số P/E đã đạt con số bình quân lên tới 40 Bên cạnh đó, cung tiền tăng nhanh, dồn dập trong khi cung hàng hóa ít khiến chỉ số lạm phát có lúc lên tới 20% Khi thị trường tài chính toàn cầu sụp đổ, các nhà đầu tư

quốc tế đã ngay lập tức thoái vốn khỏi Việt Nam Sự đảo chiều bất ngờ đã đẩy thị trường bất động sản và chứng khoán Việt Nam vào trạng thái gần như đóng băng Trong giai đoạn này, sự yếu kém trong tăng trưởng và sự bất ổn của nền kinh tế cũng

là một trong những nguyên nhân dẫn đến suy thoái kinh tế Việt Nam năm 2009 Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chủ yếu dựa vào dòng vốn và lao động chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp, trong khi tiến bộ công nghệ đóng góp tương đối nhỏ

Tỷ lệ tiết kiệm hàng năm chỉ đạt ngưỡng 28 - 30% GDP, trong khi tỷ lệ đầu tư vào nền kinh tế đạt hơn 40% GDP Phần chênh lệch còn lại được tài trợ bằng vốn vay nước ngoài hoặc vốn đầu tư nước ngoài Với cơ cấu kinh tế này, Việt Nam sẽ rất dễ bị tổn thương trước các tác động ngoại lực

Một yếu tố đáng chú ý khác là tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đã đạt trên 150% GDP Điều này cho thấy Việt Nam là quốc gia phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu, hay nói cách khác, kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào kinh tế thế giới Vì

vậy, nền kinh tế thế giới xảy ra khủng hoảng đã làm cho nền kinh tế Việt Nam dễ dàng suy thoái

Trang 5

• NHỮNG CHÍNH SÁCH KINH TẾ VĨ MÔ CỦA CHÍNH PHỦ VÀ TÁC

ĐỘNG CỦA CHÚNG TỚI SỰ VỰC DẬY CỦA NỀN KINH TẾ

Với tình hình thế giới lúc bấy giờ, Việt Nam không tránh khỏi cú sốc khủng hoảng tài chính Trước tình trạng lạm phát tăng cao, nền kinh tế suy thoái Vào thời điểm đó, mục tiêu của Chính phủ là sử dụng chính sách tài khóa và tiền tệ thắt chặt để giảm lạm phát trong nước, nhưng điều đó đã tác động tiêu cực đến sản lượng của nền kinh tế trong nước năm 2008

Ban đầu nền kinh tế ở trạng thái cân bằng E0:

r = r0

Y = Y0

❖ Chính phủ tiến hành chính sách tài khóa mở rộng Đường IS dịch chuyển sang phải Nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng mới tại E1:

r = r1

Y = Y1

❖ Chính phủ tiến hành chính sách tiền tệ mở rộng (tăng cung tiền) Đường LM dịch chuyển sang phải

Nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng mới tại E2:

r = r0

Y = Y2

Y2 > Y0 : Tổng sản lượng tăng

Lãi suất thực không đổi = r0

r

Y

r1

r0

E1

E2

E0

IS1

IS2

LM1

LM2

Trang 6

Kết luận: Chính sách tiền tệ mở rộng làm cho đường LM dịch chuyển sang phải, lãi

suất giảm Và chính sách tài khóa mở rộng làm cho đường IS dịch chuyển sang phải, lãi suất tăng Khi kết hợp cả hai chính sách trong ngắn hạn, lãi suất sẽ ổn định và không thay đổi, trong khi sản lượng vẫn tăng

Vì vậy, về chính sách tiền tệ, Chính phủ đã giảm lãi suất cơ bản (từ 14%/năm xuống còn 7%/năm) để giảm trần lãi suất cho vay (từ 21% xuống 10,5% đối với hoạt động

sản xuất) và giảm lãi suất cho vay tín dụng và tiêu dùng (dao động từ 12% đến 15%)

Từ đó đáp ứng nhu cầu mở rộng vốn hoặc tín dụng cho nền kinh tế

Về chính sách tài khóa, chính phủ đưa ra gói kích cầu (ban đầu là 6 tỷ USD, sau đó tăng lên mức 8 tỷ USD) với mục đích là giảm thiểu tác động của khủng hoảng tài chính Đồng thời, ngăn chặn sự suy giảm chung của hoạt động kinh tế Gói này bao gồm một

số thành phần, chẳng hạn như cắt giảm và hoãn thuế; cấp bù lãi suất; chi trợ giúp xã

hội và đầu tư cơ sở hạ tầng

• Cắt Giảm Và Hoãn Thuế:

Bao gồm:

i Cắt giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) cho các doanh nghiệp vừa

và nhỏ (SMEs); các công ty dệt may và sản xuất giày lớn (bị ảnh hưởng đặc

biệt bởi sự sụt giảm xuất khẩu)

ii Miễn toàn bộ thu nhập cá nhân khỏi thuế thu nhập cá nhân (TNCN) trong nửa

đầu năm 2009 và một số loại thuế trong nửa cuối năm

iii Giảm 50% thuế giá trị gia tăng (VAT) đối với một số hàng hóa được lựa chọn

và dịch vụ

iv Hoãn nộp thuế TNDN cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ và một số công ty lớn

được lựa chọn và nộp thuế GTGT đối với một số mặt hàng nhập khẩu nhất định

Chi phí tổng thể của các biện pháp này được ước tính là 28 nghìn tỷ, nhưng ước tính hiện tại của Bộ Tài chính đưa ra chi phí là 4 nghìn tỷ

Ban đầu nền kinh tế ở trạng thái cân bằng E1:

r = r1

Y = Y1

❖ Chính phủ giảm thuế thu nhập Vì vậy lượng tiêu thụ tăng lên Do đó, tổng chi tiêu tăng Dẫn tới:

Đường cong IS * dịch sang phải

↑AE = C↑(Y-T↓) + I + G + NX(e)

Nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng mới tại E2:

r = r0

Y = Y2

Trang 7

r2 > r1: Lãi suất tăng

Y2 > Y1: Tổng sản lượng tăng

Kết luận: Chính phủ giảm thuế dẫn đến lãi suất cao hơn và tổng sản lượng cao hơn

• Trợ Cấp Lãi Suất

Chính phủ đưa ra các biện pháp hỗ trợ lãi suất nhằm cứu trợ các ngành sử dụng nhiều lao động, với mục tiêu bảo vệ việc làm và duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng Các biện pháp này bao gồm hỗ trợ lãi suất 4% đối với vốn lưu động ngắn hạn được ký kết và giải ngân từ tháng 2 năm 2009 đến tháng 12 năm 2009 Mức trợ cấp tương tự cũng được áp dụng cho các khoản vay đầu tư trung và dài hạn được ký kết và giải ngân

từ tháng 4 năm 2009 đến tháng 12 năm 2011 Các ngân hàng thương mại và công ty tài chính đã mở rộng khoảng 13347 nghìn tỷ khoản vay được trợ cấp trong năm 2009 Chi phí của chương trình ước tính là 10,6 nghìn tỷ Năm 2010, mức hỗ trợ lãi suất 2%

tiếp tục được áp dụng cho các khoản vay đầu tư trung và dài hạn được ký kết và giải ngân trong năm 2010, và thời gian hỗ trợ lãi suất được giới hạn là 24 tháng kể từ ngày

giải ngân năm 2010 Do đó, thương các ngân hàng và công ty tài chính đã gia hạn khoảng 66 nghìn tỷ cho các khoản vay được trợ cấp, và chi phí bổ sung của chương trình ước tính là 3,69 nghìn tỷ

Ban đầu nền kinh tế ở trạng thái cân bằng E1:

r = r1

Y = Y1

❖ Chính phủ tăng trợ cấp Vì vậy lượng tiêu thụ tăng lên dẫn tới sự gia tăng của tổng chi tiêu Dẫn tới:

Đường IS dịch sang phải

r

Y

r2

r1

E1

E2

IS1

IS2

LM

Trang 8

↑AE = C↑(Y + Tr-T) + I + G + NX(e)

Nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng mới tại E2:

r = r2

Y = Y2

r2 > r1: Lãi suất tăng

Y2 > Y1: Tổng sản lượng tăng

Kết luận: Chính phủ giảm thuế dẫn đến lãi suất cao hơn và tổng sản lượng cao hơn

• Trợ Cấp Xã Hội

Chương trình hỗ trợ các gia đình nghèo và các nhóm cộng đồng dễ bị rơi vào cảnh nghèo do kinh tế suy thoái Gói hỗ trợ bao gồm trợ cấp tiền lương cho các doanh nghiệp

gặp khó khăn, chương trình giảm nhẹ thiên tai, hỗ trợ tiền mặt một lần cho các gia đình nghèo vào dịp Tết Nguyên đán (hỗ trợ 2,3 triệu hộ gia đình) và hỗ trợ nhà ở cho các gia đình có thu nhập thấp Chính phủ cũng mở rộng các khoản vay từ Quỹ việc làm

Quốc gia cho những người lao động bị sa thải để đào tạo và tự kinh doanh Đặc biệt quan tâm, hỗ trợ 62 huyện nghèo nhất cả nước, nơi có tỷ lệ hộ nghèo ở mức 50% (gần gấp 4 lần mức trung bình của cả nước)

Ban đầu nền kinh tế ở trạng thái cân bằng E1:

r = r1

Y = Y1

❖ Chính phủ trợ cấp tiền lương cho các doanh nghiệp gặp khó khăn, các chương trình

giảm nhẹ thiên tai, chi trả một lần bằng tiền mặt cho các gia đình nghèo vào dịp Tết Nguyên đán và hỗ trợ nhà ở cho các gia đình có thu nhập thấp

r

Y

r2

r1

E1

E2

IS1

IS2

LM

Trang 9

↑AE = C↑ + I + G + NX

Tổng chi tiêu tăng dẫn đến tổng sản lượng tăng, do đó

Đường IS dịch chuyển sang phải

Nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng mới tại E2:

r = r2

Y = Y2

r2 > r1: Lãi suất tăng

Y2 > Y1: Tổng sản lượng tăng

Kết luận: trợ cấp xã hội dẫn đến tổng sản lượng cao hơn và lãi suất thực tế tăng

• Đầu Tư Cơ Sở Hạ Tầng

Phần lớn nhất của chương trình kích thích tài khóa được dành để đầu tư cho cơ sở hạ

tầng (khoảng 81,7 nghìn tỷ, 56% tổng chương trình) Nỗ lực đầu tư cần tiến tới năm

2009 để thực hiện các dự án ưu tiên trong chương trình đầu tư công 2010-2011, trị giá khoảng 35,5 nghìn tỷ Đó là các dự án liên quan đến giao thông, thủy lợi nông thôn, nâng cấp kênh mương, xóa đói giảm nghèo và nhà ở xã hội Các dự án được chọn sử dụng nhiều lao động, giải ngân nhanh, tạo việc làm tối đa Khoảng 80% chi tiêu từ các

dự án 2010-2011 đã được giải ngân vào năm 2009 Ngoài ra, chính phủ đã đẩy mạnh

tiến độ thực hiện các dự án bị trì hoãn trong năm 2008, mang theo khoảng hơn 30 nghìn

tỷ đồng ngân sách năm trước Khoảng 20 nghìn tỷ đầu tư cơ sở hạ tầng (bao gồm cả khoản chuyển từ năm 2008 và khoản chi từ năm 2010-2011) được tài trợ bằng việc phát hành trái phiếu kho bạc Tốc độ tăng GDP quý I/2009 chỉ đạt 3,14% nhưng sang quý II, III và IV, đã tăng dần lên các mức lần lượt là 4,46%, 6,04% và 6,9% Tính chung cả năm 2009, GDP Việt Nam tăng 5,32%, trở thành một trong những nước có tốc độ tăng trưởng GDP cao nhất khu vực

r

Y

r2

r1

E1

E2

IS1

IS2

LM

Trang 10

Ban đầu nền kinh tế ở trạng thái cân bằng E1:

r = r1

Y = Y1

❖ Chính phủ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng dẫn tới tăng chi tiêu chính phủ, do đó đường IS dịch chuyển sang phải

↑AE = C + I + G↑ + NX

Nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng mới tại E2:

r = r2

Y = Y2

r2 > r1: Lãi suất tăng

Y2>Y1: Tổng sản lượng tăng

Kết luận: Chi tiêu của chính phủ tăng dẫn đến lãi suất thực tế tăng và tổng sản lượng

tăng

Các bi ện pháp kịp thời của Chính phủ tuy không thể hoàn toàn đẩy lùi ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng kinh tế toàn cầu nhưng đã góp phần vô cùng l ớn vào cải thiện và vực dậy nền kinh tế Việt Nam Nhờ các chính sách tài chính - ti ền tệ, thuế khóa, trợ cấp, nhà nước đã tạo ra nhiều động lực cho

n ền kinh tế, dần khôi phục lại sự phát triển ổn định và vượt qua giai đoạn khó khăn của suy thoái kinh tế thế giới

Ngày đăng: 25/05/2023, 20:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w