Untitled ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ BÀI TẬP LỚN TRÌNH BÀY ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ CỦA MIỀN BẮC VIỆT NAM THỜI KỲ 1955 1975 ĐÁNH GIÁ VÀ RÚT RA BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO SỰ PHÁT TRIỂN KI[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
- -
BÀI TẬP LỚN
TRÌNH BÀY ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ CỦA MIỀN BẮC VIỆT NAM THỜI KỲ 1955-1975 ĐÁNH GIÁ VÀ
TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM HIỆN NAY
Hà Nội - 2020
Học phần Lịch sử kinh tế
Giảng viên hướng dẫn PGS TS Đinh Văn Thông
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Thanh Thảo
Mã sinh viên 17050086
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU - 1
1 Lý do lựa chọn đề tài - 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu - 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - 1
4 Cấu trúc bài - 2
PHẦN NỘI DUNG - 3
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN - 3
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM - 3
1.1.1 Khái niệm nền kinh tế - 3
1.1.2 Khái niệm lực lượng sản xuất - 3
1.1.3 Khái niệm quan hệ sản xuất - 3
1.1.4 Đo lường nền kinh tế - 3
1.2 NHỮNG NGUYÊN LÝ KINH TẾ CƠ BẢN - 3
1.2.1 Theo kinh tế chính trị - 3
1.2.2 Theo kinh tế phát triển - 4
1.2.3 Theo kinh tế học - 4
1.2.4 Theo kinh tế quốc tế - 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN - 5
2.1 PHƯƠNG DIỆN LỊCH SỬ - 5
2.2 CHUYỂN BIẾN CỦA NỀN KINH TẾ MIỀN BẮC VIỆT NAM THỜI KỲ 1955-1975 - 5
2.2.1 Giai đoạn khôi phục kinh tế (1955-1957) - 6
2.2.2 Giai đoạn cải tạo xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế (1958-1960) - 9
2.2.3 Giai đoạn thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) - 11
2.2.4 Giai đoạn chuyển hướng kinh tế (1965 - 1975) - 12
2.3 ĐÁNH GIÁ NHỮNG CHUYỂN BIẾN CỦA NỀN KINH TẾ MIỀN BẮC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1955 - 1975 - 16
2.3.1 Những biền đổi căn bản - 16
2.3.2 Ha ̣n chế - 16
CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NƯỚC TA HIỆN NAY VÀ KHUYẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP - 17
3.1 BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NƯỚC TA HIỆN NAY - 17
3.2 MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP - 17
KẾT LUẬN - 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 20
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nước ta đứng trước một tình hình mới, cách mạng Việt Nam thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, hoàn thành cuộc cách mạng độc lập dân tộc trong cả nước
Sau khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc (1954), sản xuất công nghiệp từng bước được khôi phục và phát triển Trong 3 năm khôi phục kinh tế (1955-1957) và tiếp theo
là kế hoạch 5 năm 1961-1965 với đường lối công nghiệp hóa, nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp được phục hồi và xây dựng
Từ khi giành được độc lập (1945) cho đến khi đất nước được thống nhất (1975) là
ba thập niên dân tộc Việt Nam phải tiến hành hai cuộc chiến tranh chống xâm lược, mặc dù miền Bắc đã có gần 10 năm (1955 – 1964) phát triển kinh tế trong hòa bình và miền Nam có được 6 năm đạt mức tăng trưởng khá cao; nhưng trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, nền kinh tế cả hai miền từ giữa những năm sáu mươi của thế kỷ trước đến năm 1975 bị giảm sút tốc độ phát triển, diễn ra khủng hoảng kinh tế - xã hội trong một thời gian dài
Đó là lý do đề tài nghiên cứu: “ Đặc điểm kinh tế của miền Bắc Việt Nam thời
kì 1955-1975 N hững nhận xét, đánh giá và bài học kinh nghiệm cho sự phát triển kinh kinh tế nước ta hiện nay” được lựa chọn nghiên cứu và hoàn thiện
Khái quát được những đặc điểm kinh tế của miền Bắc Việt Nam thời kỳ 1955-1975 Qua đó rút ra những nhận xét, đánh giá và bài học kinh nghiệm cho sự phát triển kinh tế nước ta hiện nay
‒ Hệ thống các cơ sở lý luận về nền kinh tế
‒ Xây dựng cơ sở thực tiễn
‒ Phân tích những đặc điểm kinh tế của miền Bắc Việt Nam thời kỳ 1955- 1975
‒ Đưa ra một những nhận xét, rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất một số chủ trương, chính sách để phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay
Nền kinh tế miền Bắc Việt Nam thời kỳ 1955-1975
Trang 43.2 Phạm vi nghiên cứu
‒ Phạm vi không gian: miền Bắc Việt Nam
‒ Phạm vi thời gian: từ năm 1955 đến năm 1975
‒ Phạm vi nội dung: những đặc điểm kinh tế của miền Bắc Việt Nam thời kì
1955-1975
Ngoài phần mở đầu và mục tài liệu tham khảo thì bài nghiên cứu có kết cấu 3 chương:
‒ Chương 1: Cơ sở lý luận
‒ Chương 2: Cơ sở thực tiễn
‒ Chương 3: Bài học kinh nghiệm cho sự phát triển kinh tế nước ta hiện nay và khuyến nghị, giải pháp
Trang 5PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Nền kinh tế là một hệ thống các hoạt động của con người liên quan đến sản xuất,
phân phối, trao đổi, và tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ trong một quốc gia hoặc một khu vực địa lý nhất định Cấu thành một nền kinh tế không thể thiếu các cuộc cách mạng về công nghệ, lịch sử văn minh và tổ chức xã hội, cùng với địa lý và sinh thái, ví dụ cụ thể
là các vùng với các điều kiện về nông nghiệp và cơ hội khai thác tài nguyên thiên nhiên khác nhau, trong số các nhân tố khác Nền kinh tế cũng đề cập đến thước đo tăng trưởng sản phẩm của một đất nước hoặc một khu vực
Lực lượng sản xuất là toàn bộ những năng lực thực tiễn dùng trong sản xuất của
xã hội ở các thời kỳ nhất định Về mặt cấu trúc, lực lượng sản xuất xã hội bao gồm hệ thống những tư liệu sản xuất và sức lao động mà người ta dùng cho sản xuất, trong đó quan trọng nhất là sức lao động
Quan hệ sản xuất là khái niệm chỉ mối quan hệ giữa người với người trong quá
trình sản xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội), là một trong những biểu hiện của quan
hệ xã hội, giữ vai trò xuyên suốt trong quan hệ xã hội vì quan hệ sản xuất là quan hệ đầu tiên, quyết định những quan hệ khác Quan hệ sản xuất gồm 3 mặt: quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất; quan hệ tổ chức lao động sản xuất; quan hệ phân phối sản phẩm lao động
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch
vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ nhất định (thường là quốc gia) trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)
Tốc độ tăng trường GDP: là tỷ lệ phần trăm tăng lên của tổng sản phẩm trong nước (GDP) của kỳ này so vớ i của cùng kỳ năm trước
1.2.1 Theo kinh tế chính trị
‒ Phương thức sản xuất: F= f(P,R) => w
F: Phương thức sản xuất hàng hóa
P: Lực lượng sản xuất, gồm lao động và tư liệu sản xuất
R: Q uan hệ sản xuất (quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý, quan hệ phân phối)
Trang 6C: Tiêu dùng của các hộ gia đình
I: Đầu tư của doanh nghiệp
G: Chi tiêu của chính phủ
NX: Xuất khẩu ròng
1.2.4 Theo kinh tế quốc tế
‒ Cơ sở của kinh tế đối ngoại là sự khác biệt về lợi thế so sánh Lợi thế so sánh là
một nguyên tắc trong kinh tế học phát biểu rằng mỗi quốc gia sẽ được lợi khi nó chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu những hàng hóa mà mình có thể sản xuất với chi phí tương đối thấp (hay tương đối có hiệu quả hơn các nước khác); ngược lại, mỗi quốc gia sẽ được lợi nếu nó nhập khẩu những hàng hóa mà mình có thể sản xuất với chi phí tương đối cao (hay tương đối không hiệu quả bằng các nước khác)
‒ Nguyên tắc lợi thế so sánh cho rằng một nước có thể thu được lợi từ thương mại
bất kể nó tuyệt đối có hiệu quả hơn hay tuyệt đối không hiệu quả bằng các nước
khác trong việc sản xuất mọi hàng hóa Nguyên tắc lợi thế so sánh là khái niệm
trọng yếu trong nghiên cứu thương mại quốc tế
Trang 7CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN
‒ 21/7/1954: Hiệp định Geneve về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương được ký kết, chia Việt Nam thành 2 khu vực quân sự tạm thời tại vĩ tuyến 17 Miền Bắc được thống nhất thực hiện nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ, đấu tranh thống nhất đất nước
‒ 26/10/1955: Việt Nam Cộng hòa tuyên bố thành lập, được Hoa Kỳ và các đồng minh của Hoa Kỳ công nhận Đệ nhất Cộng hòa bắt đầu
‒ 20/12/1960: Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam được thành lập
‒ 1/11/1963: Quân lực Việt Nam Cộng hòa thực hiện đảo chính lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm, anh em Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu bị sát hại Hội đồng Quân nhân Cách mạng do Dương Văn Minh đứng đầu nắm quyền Khủng hoảng chính trị bắt đầu
‒ 5/8/1964: Mỹ thực hiện Chiến dịch Mũi Tên Xuyên, bắt đầu thời kỳ ném bom miền Bắc
‒ 1965-1967: Một loạt các chiến dịch của Quân đội Mỹ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa nhắm vào các căn cứ của lực lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam
‒ 30/1/1968: Cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân mở màn
‒ 31/3/1968: Tổng thống Johnson tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, sẵn sàng đàm phán để chấm dứt chiến tranh
‒ 18-29/12/1971: 12 ngày đêm của Chiến dịch Linebacker II ném bom rải thảm miền Bắc - chiến dịch quân sự cuối cùng của Mỹ tại Việt Nam
‒ 27/1/1972: Hiệp định Paris được ký kết Cuối tháng 3, Quân đội Mỹ rút quân viễn chinh khỏi Việt Nam, nhưng vẫn duy trì các cố vấn quân sự ở miền Nam
‒ Năm 1975, sau hàng loạt các cuộc tiến công mạnh mẽ của Quân giải phóng miền Nam, ngày 30/4: Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện Quân Giải Phóng Miền Nam tiến vào Sài Gòn Chính quyền Quân quản Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tiếp quản Việt Nam Cộng hòa, xóa bỏ ranh giới quân sự vĩ tuyến 17 Chiến tranh kết thúc, thống nhất đất nước
1955-1975
Sau khi hòa bình được lập lại, miền Bắc đã bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản, điểm xuất phát là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, bị tàn phá nặng nề của 15 năm chiến tranh Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đã được sự hỗ trợ về vật chất từ các nước xã hội chủ nghĩa
Trang 8anh em, đặc biệt từ Liên Xô
2.2.1.1 Trong lĩnh vực Nông nghiệp
Cuộc vận động cải cách ruộng đất ở miền Bắc từ sau hòa bình lập lại, đến tháng 6/1955 được tiến hành ở 735 xã, bao gồm 1.608.294 nhân khẩu Tiếp đó tháng 12/1955, cải cách ruộng đất đợt 5 được triển khai ở 1.720 xã, có trên 6 triệu người trong 20 tỉnh và 2 thành phố Tháng 7/1956, cải cách ruộng đất đợt 5 kết thúc ở toàn bộ vùng đồng bằng, trung du và 280 xã miền núi
Cuộc vận động cải cách ruộng đất năm 1956 đã đạt kết quả là: Chia 334.100 ha ruộng cho nông dân; hoàn thành xóa bỏ giai cấp địa chủ, xóa bỏ tàn dư chế độ phong kiến ở miền Bắc; nâng cao quyền làm chủ của nông dân trong nông thôn
Trong quá trình cải cách ruộng đất, Đảng đã phát hiện sai lầm, đến tháng 4/1956
đã có chỉ thị sửa chữa những sai lầm ấy Ngày 18/8/1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho đồng bào nông thôn và cán bộ nói rõ thắng lợi và sai lầm của cải cách ruộng đất Chủ tịch khẳng định cải cách ruộng đất là thắng lợi to lớn, nhưng đã mắc những khuyết điểm, sai lầm và “ Chúng ta cần phát huy những thắng lợi đã thu được, đồng thời chúng ta phải kiên quyết sửa chữa những sai lầm”
Hội nghị lần thứ 10, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (khóa II) đã thảo luận kỹ và kết luận về thắng lợi và sai lầm của cải cách ruộng đất Hội nghị
đã đề ra phương hướng và chủ trương sửa sai 10 điểm
Cuối tháng 10/1956, Hội đồng Chính phủ họp dưới sự chủ toạ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiểm điểm việc thi hành Luật cải cách ruộng đất và công tác chỉnh đốn tổ chức, quyết định những chính sách cụ thể để sửa chữa sai lầm
Đến cuối năm 1957, công tác sửa sai đã đưa lại kết quả tốt Nông thôn miền Bắc dần dần ổn định Nội bộ Đảng đoàn kết nhất trí Lòng tin của quần chúng đối với Đảng
và Chính phủ được khôi phục Sản xuất nông nghiệp được đẩy mạnh Năm 1957 là năm được mùa lớn, khối liên minh công nông được củng cố Chính quyền nhân dân được ổn định Sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường Kết quả sửa chữa sai lầm làm cho cuộc cách mạng ruộng đất hoàn thành thắng lợi
2.2.1.2 Trong lĩnh vực Công nghiệp
Công nghiệp miền Bắc sau ngày hoà bình lập lại có mấy đặc điểm đáng lưu ý:
‒ Trong vùng tự do cũ, hầu hết các nhà máy lớn và quan trọng như Xe lửa Trường Thi, Diêm Bến Thuỷ, Điện Thanh Hoá, Phosphate Hàm Rồng đều đã bị phá huỷ hoàn toàn hoặc tê liệt hoạt động
‒ Trong vùng mới tiếp quản, nhiều nhà máy, hầm mỏ, một số nhà máy bị đình đốn hoặc sản xuất cầm chừng do không có phụ tùng thay thế hoặc thiếu nguyên liệu
Trang 9Tư bản ngoại kiều và phần lớn các nhà tư sản dân tộc đều đã đi Nam Nhìn chung,
cơ sở công nghiệp Pháp để lại hầu như không có gì Cả miền Bắc lúc này chỉ vẻn vẹn có 20 xí nghiệp công nghiệp quốc doanh trung ương và cũng chừng ấy cơ sở công nghiệp quốc doanh địa phương Đội ngũ công nhân viên chức có khoảng hơn một vạn người, trong đó 2/3 là công chức, chỉ có 23 kỹ sư công nghiệp
Người lao động thất nghiệp tràn lan, riêng vùng đô thị ước chừng có 10 vạn người Sản lượng công nghiệp giảm sút nghiêm trọng Đặc biệt, tỷ trọng công nghiệp hiện đại giảm từ 10% năm 1939 xuống còn 1,5% trong tổng sản lượng công - nông nghiệp Trước tình hình đó, Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 9-1954 đã đề ra nhiệm vụ cấp bách là khôi phục sản xuất ngang mức trước chiến tranh, trước hết là sản xuất nông nghiệp sau là sản xuất công nghiệp nhẹ và thủ công nghiệp sản xuất hàng hoá tiêu dùng, đồng thời phát triển một số ngành công nghiệp nặng cần thiết cung cấp tư liệu sản xuất cho sản xuất nông nghiệp
Quá trình khôi phục và phát triển công nghiệp quốc doanh:
Bước vào giai đoạn khôi phục và xây dựng công nghiệp hiện đại, phương châm là phải dựa vào sức mình là chính, phát động phong trào thi đua sản xuất, thực hành tiết kiệm và học tập rộng khắp, khơi dậy nhiệt tình lao động và phát huy sáng kiến của giai cấp công nhân, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của các nước anh em, nhất là Liên Xô và Trung Quốc; mời chuyên gia nước bạn sang hướng dẫn hoặc gửi cán bộ, công nhân đi học tập ở nước ngoài
Trong chính sách đầu tư, vốn đầu tư được tập trung cho công nghiệp quốc doanh Tốc độ tăng vốn đầu tư bình quân hàng năm cho khu vực này trong cả thời kì là 3,6 lần, riêng năm 1957, khối lượng tuyệt đối vốn đầu tư đã tăng gấp 10 lần so với năm 1951
Về xây dựng mới, tính tới đầu năm 1957 đã có 7 xí nghiệp xây dựng hoàn thành, 6
xí nghiệp xây dựng gần xong và 5 xí nghiệp đang trong quá trình xây dựng Có thể kể các xí nghiệp mới được xây dựng vào loại tầm cỡ lúc bấy giờ như các nhà máy Chè Phú Thọ, Thuốc lá Thăng Long, Xay xát gạo Hà Nội, Gỗ dán Cầu Đuống, Diêm Thống Nhất,
Cá hộp Hải Phòng, một số nhà máy điện…
Số lượng các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh tăng từ 41 cái (năm 1954) lên
151 cái (năm 1957); trong đó 2/3 là xí nghiệp công nghiệp trung ương và 1/3 là xí nghiệp công nghiệp địa phương
Theo đà mở rộng và hiện đại hoá các cơ sở công nghiệp, đội ngũ công nhân công nghiệp quốc doanh cũng tăng từ 20.898 người năm 1955 lên 48.582 người năm 1957, tăng xấp xỉ 2,3 lần, trong đó, công nhân công nghiệp trung ương tăng nhanh nhất, từ 19.598 người lên 45.289 người; tỷ lệ kỹ sư là 0,1%, cán bộ trung cấp là 2%, thợ bậc 5
là 7%
Vì thế, chỉ trong vòng 3 năm (1955-1957) giá trị sản lượng công nghiệp quốc
Trang 10doanh tăng gấp 6,4 lần, từ 34,1 triệu đồng lên 219 triệu đồng, giá trị sản lượng toàn ngành công nghiệp - thủ công nghiệp miền Bắc tăng 269%, từ 310 triệu đồng lên 834 triệu đồng Công nghiệp quốc doanh chiếm tỷ trọng ngày càng vượt trội trong giá trị sản lượng khu vực công nghiệp hiện đại (từ 41,7% lên 66,6%), góp phần đưa tỷ lệ công nghiệp hiện đại trong nền kinh tế từ 1,5% lên 9,5% (năm 1939 tỷ lệ này là 10%)
Kết thúc thời kỳ khôi phục, sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của miền Bắc đã đạt ngang và vượt mức năm 1939 là năm cao nhất dưới thời Pháp thuộc; trong đó, sản phẩm nhóm A bằng 72% và sản phẩm nhóm B bằng 112% so với năm
cá thể hoạt động phần lớn là nhờ vào những ngành nghề truyền thống dựa vào nguồn nguyên liệu địa phương và đáp ứng thị trường tại chỗ, cung cấp một khối lượng lớn hàng hoá tiêu dùng thiết yếu cho đời sống nhân dân và một phần công cụ sản xuất thông dụng Đặc biệt, giải quyết việc làm và thu nhập cho đông đảo người lao động Đặt vấn
đề khôi phục và sử dụng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tư nhân, cá thể là một định hướng đúng
Đến năm 1955, miền Bắc có khoảng 150 ngàn cơ sở sản xuất thủ công nghiệp cá thể, tiểu chủ với hơn nửa triệu lao động, sản xuất ra 70% giá trị sản lượng toàn ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Tiểu thủ công nghiệp được phân bố vừa tập trung
ở các thành phố, thị xã, lại vừa rộng khắp các địa phương trong nông thôn miền Bắc Phương thức kinh doanh của họ phù hợp với những điều kiện phân tán của sản xuất và thị trường Những người sản xuất thủ công hoặc đứng độc lập, hoặc liên hệ với nhau trong những phường hội hay trong các làng nghề rất lâu đời như nghề nón Chuông, đúc đồng Ngũ Xã, pháo Bình Đà, tơ lụa Hà Đông, giấy dó Đông Khê, sứ Bát Tràng, rèn Đa Hội, mộc Đồng Kị, sơn mài Đình Bảng…
Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tư nhân, cá thể nhanh chóng được phục hồi Đặc biệt, các ngành nghề phục vụ cho sản xuất và đời sống của quảng đại nhân dân như mộc, rèn, gò, đúc, nông cụ, gốm sứ, thuỷ tinh, vật liệu xây dựng, may mặc, dệt vải, chế biến thực phẩm, thậm chí cả những ngành phục vụ các nhu cầu tỉ mỉ
và đa dạng như làm khăn mặt, áo lót, bít tất, giày vải, vàng mã, đông dược… Cũng nhờ mậu dịch hướng dẫn sản xuất, thu mua và đại lý kinh tiêu nhằm phục vụ cho xuất khẩu
mà các nghề thủ công mỹ nghệ như sơn mài, chạm khảm, thêu ren, đan lát cũng bắt đầu hoạt động trở lại
Nhìn chung, giai đoạn 3 năm khôi phục và phát triển kinh tế đã kết thúc thắng
Trang 11lợi Điều này giúp ổn định mọi mặt đời sống, kinh tế, chính trị và xã hội miền Bắc, tạo tiền đề chuyển sang giai đoạn cải tạo và phát triển Bước đầu hình thành một cơ cấu công nghiệp mới, mang tính chất độc lập, tự chủ và dân chủ nhân dân - nền công nghiệp nhiều thành phần, trong đó công nghiệp quốc doanh và tư nhân, cá thể là những lực lượng quan trọng, cùng hỗ trợ lẫn nhau để phát triển
Hội nghị Trung Ương 14 khóa II tháng 11/1958 đã đề ra kế hoạch 3 năm cải tạo và bước đầu phát triển kinh tế miền Bắc Nội dung chủ yếu: “ Đẩy mạnh cuộc cách mạng
xã hội chủ nghĩa, trọng tâm trước mắt là đẩy mạnh cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa…; đồng thời ra sức phát triển kinh tế quốc doanh
2.2.2.1 Những biến đổi về quan hệ sản xuất thông qua công cuộc cải tạo xã hội chủ
nghĩa
‒ Đây là một nhiệm vụ cơ bản của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa; công cuộc cải tạo nhằm mục đích biến nền kinh tế quốc doanh nhiều thành phần thành nền kinh tế
xã hội chủ nghĩa với 2 hình thức chủ yếu: toàn dân và tập thể
‒ Cải tạo nông nghiệp: chúng ta dùng con đường hợp tác hóa (theo tư tưởng của Lênin về hợp tác hóa nông nghiệp là tiến hành vận động họp bà con, tập thể góp vốn, góp tư liệu sản xuất vào làm ăn tập thể, tiến hành quản lý dân chủ và phân phối theo lao động…) Các hình thức cải tạo: tổ đổi công, vần công → hợp tác xã bậc thấp → hợp tác xã bậc cao Kết quả là chúng ta đã cơ bản cải tạo xong đối với nông nghiệp: miền Bắc có 41.000 hợp tác xã; 85% số hộ tham gia; trong đó 10,6%
số hộ tham gia hợp tác xã bậc cao
‒ Cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh : chúng ta dùng phương pháp hòa bình cải tạo như: sử dụng, hạn chế, chuộc lại; các hình thức được sử dụng là: gia công, đặt hàng, đại lý, công tư hợp doanh… Kết quả là đến cuối năm 1960, 100%
số hộ tư sản đã được cải tạo
‒ Trong lĩnh vực tiểu công nghiệp và thương nghiệp nhỏ: chúng ta cũng dùng con đường hợp tác hóa để cải tạo họ theo chủ nghĩa xã hội Các hình thức như: tổ hợp tác sản xuất, hợp tác xã cung tiêu, hợp tác xã sản xuất, hợp tác xã mua bán… Kết quả là 87,9% số hộ thủ công đi vào con đường làm ăn tập thể; 45,6% số hộ tiểu thương vào hợp tác xã
Tóm lại, cuối năm 1960, công cuộc cải tạo về cơ bản được hoàn thành, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa về cơ bản được xác lập (chủ yếu là sở hữu về tư liệu sản xuất) Giai cấp nông dân tập thể được hình thành, liên minh công nông được củng
cố, chuyên chính vô sản được tăng cường
2.2.2.2 Những biến đổi về lực lượng sản xuất xã hội thông qua việc phát triển sản
xuất