1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số đặc trưng nghệ thuật thơ cổ phong đời đường

76 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Đặc Trưng Nghệ Thuật Thơ Cổ Phong Đời Đường
Người hướng dẫn Cô Giáo Phan Thị Nga
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Khóa Luận
Năm xuất bản 2003
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 573,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nó thực sự là một thể loại đã gắn liền với tên tuổi của các nhà thơ lớn đời Đ-ờng nh- Đỗ Phủ, Bạch C- Dị…Các bài thơ cổ phong cũng chiếm số l-ợng đáng kể trong tổng số thơ Đ-ờng đ-ợc tuy

Trang 1

Lời cảm ơn

Để hoàn thành khoá luận này, ngoài sự nỗ lực, cố gắng của bản thân, tôi còn nhận đ-ợc sự h-ớng dẫn tận tình, chu đáo của cô giáo Phan Thị Nga, sự góp ý chân thành của các thầy cô trong khoa ngữ văn và sự

động viên khích lệ của gia đình và bạn bè

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với cô giáo h-ớng dẫn và xin gửi đến các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp lời cảm ơn chân thành nhất

Vinh, tháng 5 năm 2003

Trang 2

Mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

1.1 X-a nay ng-ời Trung Quốc luôn tự hào: Trung Quốc là đất n-ớc của

thi ca (thi ca nhi chi bang) Quả vậy, chỉ riêng thơ Đ-ờng đã là một minh chứng

đầy sức thuyết phục cho luận điểm trên Thơ Đ-ờng chính là đỉnh cao viên mãn của thơ ca cổ điển Trung Hoa và cũng là một thành tựu kiệt xuất của thi ca nhân loại

Sự ảnh h-ởng của thơ Đ-ờng thật sâu đậm Nó không chỉ bó hẹp trong phạm vi biên giới của đất n-ớc Trung Hoa mà còn có sức ảnh h-ởng đến nhiều quốc gia trên thế giới

Việt Nam vốn là một n-ớc láng giềng gần gũi, lại đã có quá trình tiếp xúc văn hoá lâu đời với Trung Quốc cho nên chịu sự ảnh h-ởng của thơ Đ-ờng là tất yếu Cha ông ta đã học tập từ thơ Đ-ờng cách cấu tạo tứ thơ, thể thơ, nghệ thuật sử dụng ngôn từ…đầy sáng tạo để làm nên vẻ mặt thi ca Việt Nam không kém phần phong phú, hoành tráng

Chính sức hấp dẫn, mức độ ảnh h-ởng lâu bền của thơ Đ-ờng đã đặt ra một nhu cầu cấp thiết từ bao đời nay đối với việc nghiên cứu, th-ởng thức cái hay, cái

đẹp của nó Song hiểu đ-ợc thơ Đ-ờng quả là một việc không dễ và không phải ai cũng làm đ-ợc, nhất là đối với con ng-ời hiện đại bởi thơ Đ-ờng chính là thứ hoa thơm quả ngọt đ-ợc ch-ng cất từ tinh hoa của một nền văn hoá đã thuộc về quá khứ Nh-ng cái khó bao giờ cũng hấp dẫn, luôn có sức dẫn dụ, mời gọi con ng-ời Nghiên cứu thơ Đ-ờng ở góc độ đặc tr-ng thể loại - thể cổ phong - tr-ớc hết chúng tôi muốn bày tỏ sự ham thích đối với thơ Đ-ờng

1.2 Tìm hiểu để chỉ ra một số đặc tr-ng nghệ thuật của thơ cổ phong đời

Đ-ờng là một việc làm cần thiết, rất có ý nghĩa cả về ph-ơng diện lí luận và thực tiễn

Về lí luận: Tr-ớc hết chúng tôi muốn góp phần làm rõ khái niệm “cõ phong“, vấn đề cho đến nay còn có nhiều tranh cãi Quan trọng hơn, việc tìm hiểu

một số đặc tr-ng nghệ thuật thơ cổ phong đời Đ-ờng sẽ góp phần làm giàu vốn lí luận, cung cấp cho chúng tôi một điểm tựa để đi vào thế giới nghệ thuật của thể loại này

Về mặt thực tiễn: So với các thể loại khác của thơ Đ-ờng, phải khẳng định thơ cồ phong không ph°i l¯ “đặc s°n” Nõ chì chiễm một số l-ợng nhỏ, giữ một địa

vị khiêm tốn song không có nghĩa đây là một thể loại kém giá trị Thơ cổ phong

đặc biệt có -u thế trong việc phản ánh hiện thực cuộc sống một cách đầy đủ, chi tiết nh- nó vốn có, có khả năng đáp ứng nhu cầu giãi bày, bộc lộ nội tâm ở nhiều cung bậc phong phú Nó thực sự là một thể loại đã gắn liền với tên tuổi của các nhà thơ lớn đời Đ-ờng nh- Đỗ Phủ, Bạch C- Dị…Các bài thơ cổ phong cũng chiếm số l-ợng đáng kể trong tổng số thơ Đ-ờng đ-ợc tuyển chọn giảng dạy ở bậc phổ thông

Trang 3

cơ sở và phổ thông trung học Tính chung tổng số thơ Đ-ờng đ-ợc tuyển chọn giảng dạy ở hai bậc học này là 17 bài, trong đó cổ phong có 4 bài, chiếm khoảng

23% ( Hành lộ nan, Thạch Hào lại, Mao ốc vị thu phong sở phá ca, Tì bà hành )

Lựa chọn đề tài này, chúng tôi có điều kiện để góp phần nâng cao chất l-ợng dạy

Việc nghiên cứu thơ Đ-ờng đ-ợc bắt đầu từ rất sớm ở Trung Quốc, ngay

từ đời Đ-ờng, công việc này đã đạt đ-ợc nhiều thành tựu với các tên tuổi lớn: Bạch C- Dị, Nguyên Chẩn…Các đời kế tiếp: Tống, Nguyên, Minh…thời nào cũng có những học giả lớn nghiên cứu thơ Đ-ờng ở các quốc gia khác trên thế giới, việc nghiên cứu thơ Đ-ờng cũng rất đ-ợc chú trọng Các học giả chủ yếu nghiên cứu chung về thơ Đ-ờng trên cả hai ph-ơng diện nội dung và nghệ thuật.Thơ cổ phong vốn dĩ là một bộ phận của thơ Đ-ờng, mang đầy đủ các đặc tr-ng thi pháp của nó cho nên qua các thành tựu nghiên cứu chung về thơ Đ-ờng, ng-ời đọc cũng nhận thấy h-ớng tiếp cận thể loại này Đáng chú ý hơn là việc đề cập đến thể loại cổ phong ở một số công trình Đây chính là những tài liệu hữu ích giúp chúng tôi giải quyết đề tài này, song do vốn ngoại ngữ hạn hẹp, chúng tôi mới chỉ tiếp cận đ-ợc một số tài liệu dịch

Trong “Cứu thi lược luận“, nhà nghiên cứu ng-ời Hoa L-ơng Xuân Ph-ơng đã dành một phần bàn về “Nhửng thể lo³i“, trong đó thể cổ phong đ-ợc

nhấn mạnh ở tính chất tự do, đặc biệt quá trình hình thành, phát triển thể loại ở góc

độ ngôn từ [31]

“Kh²i yếu lÛch sừ văn hàc Trung Quọc“ là công trình nghiên cứu của tập

thể 74 học giả Trung Quốc nổi tiếng Trên cơ sở đúc rút những điều mục chính ở

“Đ³i b²ch khoa to¯n thư Trung Quọc“ phần văn học, các học giả đã trình bày

khái quát những nét chung về sự phát triển, đặc tr-ng của văn học Trung Quốc

Công trình này cũng đã đề cập đến “sứ diễn biến, ph²t triển thể thơ trong thơ ca

đổi Đưổng“, quan tâm tới sự phát triển thơ cổ phong về mặt ngôn từ [49]

Nhà nghiên cứu ng-ời Pháp, Prancoicheng trong công trình: “Bũt ph²p thơ

ca Trung Quọc“ sau phần khảo luận khá công phu về các cơ chế sử dụng ngôn ngữ

của thơ Đ-ờng: phép tỉnh l-ợc, đảo trang…đã dành một phần để bàn về thơ cổ phong ở tính chất tự do của nó (Dẫn theo [32])

ở Việt Nam, việc nghiên cứu thơ Đ-ờng diễn ra khá sớm song chỉ thực sự phát triển từ đầu thế kỉ 20 với nhiều h-ớng tìm tòi H-ớng nghiên cứu về thể loại

phải kể đến các công trình “ Việt H²n văn kh°o“ ( Phan Kế Bính ), “Quọc văn cú

Trang 4

thể“ (Bùi Kỉ), “ Việt Nam văn hàc sừ yếu“(D-ơng Quảng Hàm), “Lược kh°o thơ Trung Quọc“ (Doãn Kế Thiện)

Sau cách mạng, h-ớng tìm tòi nghiên cứu thể loại tiếp tục phát triển, trong

đó nổi lên một số công trình: “ Tìm hiểu c²c thể thơ ( tụ cõ phong đến thơ luật)“ của Lạc Nam Phan Văn Nhiễm, “Thơ ca Việt Nam - hình thữc v¯ thể lo³i“ (Bùi

Văn Nguyên – Hà Minh Đức)

Trên cơ sở kế thừa các thành tựu nghiên cứu tr-ớc đó, hai tác giả Bùi Văn Nguyên- Hà Minh Đức đã nghiên cứu khá toàn diện hình thức thơ ca trong văn học Việt Nam cùng các đặc tr-ng thể loại của nó Thơ cổ phong cũng đ-ợc các tác giả

chú ý đề cập trong “Chương 3 - C²c thể thơ mô phíng thơ ca Trung Quọc“[10]

Vấn đề thơ cổ phong, nhìn từ góc độ đặc tr-ng thể loại còn đ-ợc đề cập đến trong các bài giới thiệu ở các tuyển tập thơ Đ-ờng, các bài nghiên cứu đăng trên các báo của những học giả có tên tuổi: Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử, Tr-ơng Chính, L-ơng Duy Thứ… và trong các giáo trình đại học

Nhìn chung, tất cả các công trình nghiên cứu kể trên đều đã có sự chú ý đến thơ cổ phong song vẫn ch-a đi sâu tìm hiểu đặc tr-ng nghệ thuật của thể loại này một cách toàn diện, sâu sắc Các tác giả mới dừng lại ở việc xem xét thơ cổ phong qua một số đặc điểm hình thức dễ nhận biết, đặt trong sự đối sánh với thơ luật, với mục đích làm nổi bật đặc tr-ng thể loại của thơ Đ-ờng luật Đặc tr-ng nghệ thuật của thơ cổ phong đời Đ-ờng vẫn đang là một mảnh đất để chúng tôi có thể chiếm lĩnh, khơi sâu ở một góc nhìn mới - góc nhìn của thi pháp học hiện đại

3 Đối t-ợng, phạm vi nghiên cứu

Đối t-ợng nghiên cứu của chúng tôi ở đây là thơ cổ phong đời Đ-ờng

Phạm vi nghiên cứu đ-ợc giới hạn chủ yếu trong “Thơ Đưổng“ (hai tập) của nhà xuất bản văn học và “Đưổng thi tam b²ch thð“ của Hành Đ-òng thoái sĩ

và Trần Bá Anh Ngoài ra, để dẫn liệu thêm phong phú, chúng tôi cũng dẫn một số bài thơ trong các tuyển thơ khác

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Xác định khái niệm thơ cổ phong

Đây là khái niệm khá phức tạp, còn một số vấn đề ch-a có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu Ng-ời viết luận văn này không có tham vọng xây dựng một khái niệm hoàn chỉnh Trên cơ sở tìm hiểu, tiếp thu có lựa chọn những yếu tố hợp lí trong các khái niệm đã có, chúng tôi đ-a ra cách hiểu riêng của mình về thơ

cổ phong với mong muốn tiếp cận gần hơn bản chất của nó

4.2 Nêu ra một số đặc tr-ng nghệ thuật thơ cổ phong đời Đ-ờng trên các

ph-ơng diện: lựa chọn, xử lí đề tài, ph-ơng thức cấu tứ và sử dụng ngôn ngữ

4.3 Vận dụng lí thuyết đã nêu ra vào tìm hiểu đặc tr-ng nghệ thuật thơ cổ

phong của Đỗ Phủ để thấy đ-ợc đóng góp của nhà thơ ở thể loại này

Trang 5

5 Ph-ơng pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp vận dụng nhiều ph-ơng pháp nghiên cứu: Ph-ơng pháp khảo sát - thống kê, ph-ơng pháp hệ thống, ph-ơng pháp so sánh…đặc biệt là ph-ơng pháp khảo sát - thống kê và ph-ơng pháp so sánh bởi chúng có -u thế trong thao tác khái quát hoá một số đặc tr-ng nghệ thuật thơ cổ phong đời Đ-ờng từ các dẫn liệu cụ thể

Trang 6

1.1 Vài nét về quá trình phát triển của thơ cổ điển Trung Quốc

Trong văn học Trung Quốc, thơ ca là một trong những loại hình nghệ thuật

ra đời sớm nhất và cũng là thể tài đ-ợc phát triển đầy đủ nhất

Thời kì tiên Tần, v-ờn thơ cổ đại mới nhú lên vài mầm non song đã dồi dào

sinh lực Có thể coi “Kinh thi“ là cội nguồn của thơ ca Trung Quốc Đây là tuyển

tập thơ ca dân gian và một số sáng tác của văn nhân khuyết danh, ra đời khoảng

giữa thế kỉ thứ VI tr-ớc công nguyên Phần lớn thơ trong “Kinh thi“ là những câu

thơ bốn chữ với lối trùng ch-ơng điệp cú mang đậm dấu ấn của ca vũ hội hè đã phản ánh đầy đủ, chính xác cuộc sống vật chất và tinh thần của ng-ời dân lao động Trung Quốc thời kì này

Tiễp sau “Kinh thi“, n-ớc Sở phía nam hưng khời thề thơ mỡi, đõ l¯ “Sở từ” “Sở từ” đước ph²t triền dữa trên dân ca nưỡc Sờ nên mang đậm đ¯ m¯u sắc địa ph-ơng Khuất Nguyên với thiên “Li tao“ chính là đại diện bất hủ Ông là nhà thơ

cá nhân đầu tiên với những vần thơ trữ tình nội tâm, sáu chữ một câu với tiếng

“hề“ đếm nhịp, thữc sữ đ²nh dấu bưỡc ph²t triền mỡi cùa thơ Trung Quỗc “Kinh thi” v¯ “Sở từ” chiễm địa vị quan tróng trong văn hóc tiên Tần, l¯ hòn đ² t°ng mờ

đầu cho truyền thống hiện thực và lãng mạn trong lịch sử thơ ca Trung Quốc

Sang thời Tần Hán: Thời Tần, lịch sử quá ngắn ngủi, Tần Thuỷ Hoàng lại

thi hành chính sách “đọt s²ch chôn nho“ nên thành tựu văn học không có gì Nó

chủ yếu kết tinh ở văn học l-ỡng Hán Thi đàn l-ỡng Hán dù lép vế tr-ớc sự phát triển mạnh của thể phú song nhờ sáng kiến thành lập Nhạc phủ của triều đình, cơ quan chuyên s-u tầm dân ca, mà thơ ca dân gian có cơ hội phát triển Qua bàn tay tuyển lựa, phóng tác của văn nhân, thơ ca Nhạc phủ càng trở nên có giá trị, nhiều

tác phẩm trở nên bất tử: “M³ch thượng tang“, “Khõng tước đông nam phi“… Đặc

sắc của lối thơ này là sự cảm thụ hiện thực mãnh liệt, lời lẽ sống động, âm tiết hài hoà, thuật tả tự do… Chính những đặc điểm này- nhất là tinh thần chủ nghĩa hiện

thực - đ± °nh hường rất m³nh đễn s²ng t²c “Nhạc phủ cổ đề” cùa c²c nh¯ thơ sau, cðng như phong tr¯o “Tân Nhạc phủ” đội Đưộng Thông qua sữ ph²t triền cùa dân

ca Nhạc phủ, hình thức thơ năm chữ, bảy chữ đ-ợc hình thành và chiếm địa vị quan trọng trong sáng tác

Thời kì Ngụy - Tấn, Nam - Bắc triều (còn gọi là lục triều) là thời kì có nhiều biến động về chính trị, theo đó văn học cũng có những biến đổi, thăng trầm Nh-ng thi ca thời kì này lại có b-ớc phát triển quan trọng, chuẩn bị cho sự phát triền đễn đình cao đội Đưộng Nẹn văn hóc Kiễn An, cốt trũ l¯ “Tam T¯o” (T¯o Th²o, T¯o Phi, T¯o Thữc) v¯ nhõm “thất tụ” (Khồng Dung, Trần Lâm, Vương X²n,

Từ Cán, Nguyễn Vũ, ứng D-ơng, L-u Trinh) đã kế thừa và phát huy truyền thống thơ Nhạc phủ, đi sâu phản ánh rộng rãi mọi mặt cuộc sống xã hội đ-ơng thời ở thời kì này, thơ ngũ ngôn, thất ngôn đ-ợc trau luyện, hoàn chỉnh Cuối Đông Tấn, tình hình chính trị - xã hội cực rối ren, song thi đàn lại rực sáng lên với tên tuổi

Đào Uyên Minh, “ông tõ cða trưổng ph²i ẩn dật“ Ông đã để lại 120 bài thơ ca

Trang 7

ngợi quê h-ơng đồng nội, kêu gọi mọi ng-ời rũ bỏ vinh hoa phú quý về với đồng

ruộng thiên nhiên, đặc biệt nổi tiếng là “Quy khữ lai tụ“ với vô hạn ảnh h-ởng về

sau

Thời kì Ngụy - Tấn cũng là thời kỳ Nho thuật bị phế truất địa vị độc tôn, nh-ờng chỗ cho sự du nhập và h-ng khởi của các dòng t- t-ởng Phật, Lão Việc dịch Kinh Phật kéo theo sự du nhập của Phạn âm đã tạo điều kiện để phát triển âm

vận hóc Trung Hoa Lý Đăng, đội Ngũy, đ± cõ b¯i “Thanh loại”, trên cơ sờ đõ, Chu

Ngung, nhà âm vận học thời Nam - Bắc triều, đã đề ra việc chia làm bốn thanh:

“bình, th-ợng, khứ, nhập”, Thẩm Ưỡc vận dũng nõ v¯o trong c²ch luật thơ văn, đẹ xưỡng thuyễt “tứ thanh bát bệnh”, hệnh th¯nh “Vĩnh Minh thể” Sữ kiến n¯y đ²nh

dấu b-ớc phát triển mới của thơ cổ Trung Quốc từ cổ thể đến cận thể

Sang đời Đ-ờng, thơ cổ điển Trung Quốc b-ớc lên tột đỉnh vinh quang Đây

là thời kì thơ ca đ-ợc cả nền và đỉnh với 50.000 bài thơ của 2.300 thi nhân

Thời kì sơ Đ-ờng tuy ch-a xuất hiện đông đảo thi nhân nh-ng đã có những tác phẩm có giá trị của V-ơng Bột, Lạc Tân V-ơng, D-ơng Quýnh, L- Chiếu Lân

(Tứ kiệt sơ Đ-ờng)…

Thịnh Đ-ờng là thời kì không chỉ giàu có về số l-ợng mà còn đạt đến sự

viên m±n vẹ chất lướng vỡi “thi tiên” Lý B³ch, “thi th²nh“ Đổ Phù, “thi phật”

V-ơng Duy… Ngoài ra còn có những nhà thơ dù số l-ợng thi phẩm không nhiều, thậm chí chỉ một vài bài song đó thực sự là những viên ngọc quý, lấp lánh muôn

đời nh- tr-ờng hợp Thôi Hiệu với “Ho¯ng H³c lâu“

B-ớc sang thời Trung Đ-ờng, hiện t-ợng nổi bật trên thi đàn là phong trào

“Tân Nhạc phủ” m¯ nhân vật trung tâm là Bạch C- Dị Các tác giả trong phong

trào đã thể hiện sự đồng tình sâu sắc với nhân dân và phản ánh sinh động mâu thuẫn giai cấp gay gắt thời kì này

Vãn Đ-ờng dù không có những đỉnh cao nh- thời thịnh Đ-ờng nh-ng vẫn nhiều nhà thơ tài năng: Lý Th-ơng ẩn, Đỗ Mục, Bì Nhật H-u…

Sang đời Tống, thơ truyền thống tiếp tục phát triển nh-ng do sự thống trị của lý học (Tống Nho) nên thơ thiên về lý trí, quá tỉnh táo, rành rọt, không thể so sánh đ-ợc với vẻ đẹp lung linh huyền ảo của thơ Đ-ờng Tuy nhiên, thời kì này lại

đánh dấu sự phát triển đỉnh cao của thể loại mới - Từ Đây là một biến thể của thơ, thứ thơ t-ơng đối tự do và gắn bó chặt chẽ với âm nhạc, có -u thế trong việc bộc lộ những nỗi niềm trắc ẩn Nhiều tác giả nổi danh với loại này: Tô Đông Pha, Lục Du, Tân Khí Tật…

Cuối thời Tống, từ mất dần khả năng hòa nhạc Ngay khi đó “nh³c Hỏ“

(nhạc khúc của các tộc ng-ời ph-ơng Bắc) lan truyền vào Trung Nguyên, kết hợp

với “lý khũc“ (khúc nhạc dân dã) dân gian phía Bắc phối vào ngôn ngữ thông tục,

hình thành dạng thơ ca mới - Tán khúc Tán khúc có hai loại: tiểu lệnh và sáo khúc Tiểu lệnh là những bài ngắn; nhiều tiểu lệnh hợp thành sáo khúc Điểm nổi bật của tán khúc là mang đậm màu sắc thông tục, thị dân bởi nó thu hút một số l-ợng lớn

Trang 8

tiếng địa ph-ơng và lời nói dân dã trong dân gian Thể loại này sang đời Nguyên

đặc biết ph²t triền v¯ trờ th¯nh “đặc s°n” cùa thội kệ n¯y

ở trên, chúng ta đã điểm qua tiến trình phát triển gần hai m-ơi thế kỷ của

thơ ca cổ điển Trung Quốc, với những cột mốc quan trọng “Đò là Kinh thi - cội

nguồn của thơ ca Đó là Đ-ờng thi - cao điểm huy hoàng Đó là Từ Tống - điểm

ngoặt theo dòng chảy mới và Tán khúc - điểm chung kết” [48, 24] Đây l¯ nhừng

hiểu biết làm nền để chúng tôi có điều kiện đi sâu tìm hiểu thơ cổ phong - một thể

loại của thơ ca cổ điển Trung Quốc

1.2 Khái niệm thơ cổ phong

1.2.1 Những quan niệm

Lịch sử nghiên cứu về thơ Đ-ờng có rất nhiều định nghĩa về thơ cổ phong

Các định nghĩa này toát lên sự thống nhất ch-a cao của các nhà nghiên cứu

Tr-ớc hết về tên gọi của thể thơ này, cho đến nay vẫn tồn tại một số quan

niệm khác nhau nh- sau:

Cho cổ phong là một dạng nằm trong thơ cổ thể Trong “Bũt ph²p thơ ca

Trung Quốc”, nh¯ nghiên cửu ngưội Ph²p Prancoicheng đ± tiễn h¯nh phân định c²c

thể loại thơ ca đời Đ-ờng:

Thơ Đ-ờng

(Dẫn theo [32, 143]) Theo bảng phân loại này, rõ ràng chúng ta thấy Prancoicheng quan niệm

“cõ thể thi“ là khái niệm rộng hơn, bao hàm trong nó khái niệm “cõ phong“

ở Việt Nam, quan niệm này chúng ta cũng bắt gặp ở một số nhà nghiên

cửu Nguyển Sĩ Đ³i trong “Một số đặc tr-ng nghệ thuật thơ tứ tuyệt đời Đ-ờng” -

công trình thoát thai từ luận án phó tiến sĩ của chính tác giả - đã có sự nghiên cứu

khá sâu về thơ tứ tuyệt Trong công trình này, ở “Chương 1 “ vấn đề thơ tứ

tuyệt“, để có sự hình dung chung về diện mạo thơ ca đời Đ-ờng, nhất là nêu bật

đ-ợc quan niệm về nguồn gốc và vị trí của tuyệt cú, trên cơ sở sự phân định của

Francoicheng, Nguyễn Sĩ Đại đã đ-a ra sơ đồ sau:

Thơ ca đời Đ-ờng

Trang 9

[9, 23]

Nh- vậy ở đây, dù thơ cổ phong không phải là đối t-ợng nghiên cứu trực tiếp, nh-ng qua đó, ta vẫn nhận rõ quan niệm của tác giả: coi cổ phong là một bộ phận của thơ cổ thể, bộ phận có tính chất bác học, tồn tại song song với nhạc phủ,

bộ phận còn lại mang tính chất dân gian

Quan niếm n¯y đ± nhận đước sữ “t²n đọng” cùa Nguyển Khắc Phi Trong

bài viết “Thay phần kh°o luận (về thơ tữ tuyệt)“, nhà nghiên cứu đã nói rõ: “Tôi tán đồng với PTS Nguyễn Sĩ Đại khi anh đã cải tiến sơ đồ của Phrăngxoatrình để

đ-a ra sơ đồ…về c²c thể lo³i thơ ca đổi Đưổng“ [33, 108]

Nguyễn Thị Bích Hải trong chuyên luận “Thi ph²p thơ Đưổng“ cũng đã khẳng định: “Thơ cõ thể cò hai d³ng: thơ cõ phong v¯ nh³c phð“ [14, 176]

Nguợc lại, phần lớn các nhà nghiên cứu đều quan niệm “cõ phong“ và

“cõ thể“ thực chất chỉ là một: “Thơ cõ phong cĩn gài l¯ thơ cõ thể (thể xưa) để so s²nh với thơ cận thể“ [22, 453], [16, 376]…

Truy nguyên hai khái niệm này về mặt chữ nghĩa, ta thấy: Trong “cõ phong“ chữ “cõ“ có nghĩa là “đổi xưa - xưa củ“ [2, 112], chữ “phong“ có nghĩa là phong cách, thể cách Vậy, “cõ phong“ là phong cách cổ, “mồt thể c²ch trong phép làm thơ, không hạn định ngũ ngôn hay thất ngôn, và cũng không hạn

đÛnh âm, luật, b´ng, trắc“ [2, 114] Còn trong “cõ thể“ chữ “thể“ có nghĩa là thể loại Nh- vậy, “cõ thể“ là thể x-a

Luật thi (Bát cú)

Tr-ờng luật (Chồng các bài bát cú)

Tuyệt cú

Trang 10

Dù là thể loại cổ x-a hay phong cách cổ thì chúng vẫn gần gũi nhau bởi mỗi thể loại trong quá trình hình thành, phát triển đều xác lập cho mình phong cách

riêng để khu biệt với thể loại khác Do đó, nói “cõ thể“ cũng đồng nghĩa là nói tới phong cách cổ (“cõ phong“) Vì lẽ đó, chúng tôi tán thành với quan niệm xem

“cõ phong“ và “cõ thể“ chỉ là một

Việc xác định thời điểm ra đời của thể loại này cũng tồn tại nhiều ý kiến kh²c nhau Cõ t²c gi° cho thơ “cồ phong” ra đội trưỡc Đưộng như Bợi Văn

Nguyên, Hà Minh Đức: “Thể cõ phong tữc thể thơ phõ biến ngủ ngôn (5 tụ) hay thất ngôn (7 từ) có tr-ớc thơ Đưổng luật“ [26, 270] Ng-ợc lại, tập thể tác giả “Tụ

điển thuật ngử văn hàc“ lại cho: “Thơ cõ phong (…), một thuật ngữ (…) chỉ tất cả những bài thơ cổ đ-ợc sáng tác từ đời Đ-ờng trở về sau mà không theo luật thơ

Đưổng (không kể tụ v¯ khũc)“ [12, 263]

Từ sự tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của thể thơ này, chúng tôi

thấy thơ “cõ phong“ với t- cách là một thể loại độc lập thực sự đã có mặt tr-ớc

đời Đ-ờng Tuy nhiên, tên gọi “cõ phong“ hay “cõ thể“ lại xuất hiện vào đời

Đ-ờng vì đ-ợc đặt trong sự đối sánh với “kim thể“ hay còn gọi là “cận thể“ Do

đó, chúng tôi thiên về ý kiến: “Thơ cõ phong (…) là tên gọi của ng-ời đời sau đối với thể thơ tr-ớc đời Đ-ờng, nh-ng cũng đ-ợc dùng để chỉ luôn thể của các bài thơ trong và sau đời Đ-ờng mà không làm theo niêm luật chặt chẽ nh- thơ luật

Đưổng“ [16, 376]

Nếu nh- về tên gọi và thời điểm ra đời của thơ cổ phong ch-a đ-ợc các nhà nghiên cứu thống nhất cao thì những đặc điểm cơ bản của thể loại này lại đ-ợc họ nêu ra khá nhất trí:

- Số câu chữ trong bài thơ cổ phong đ-ợc xem là không hạn định Có bài

thơ chỉ có 4 câu nh- “Cõ phong (nhÛ thð)“ của Lý Thân nh-ng cũng có bài rất dài nh- “Tự b¯ h¯nh“ của Bạch C- Dị đến 88 câu Trong một câu thông th-ờng là 5

chữ hoặc 7 chữ nh-ng cũng có bài số chữ trong câu không đều nhau, gọi là tạp ngôn

- Về cách gieo vần, có thể gieo toàn vần bằng hoặc toàn vần trắc (độc vận)

nh- “Tây Thi vÛnh“ của V-ơng Duy, hoặc bằng trắc xen kẽ theo kiểu vần liền hay vần cách không nhất định (liên vận) nh- “Xuân giang hoa nguyệt d³“ của Tr-ơng Nhựơc H-, “Th³ch H¯o l³i“ của Đỗ Phủ…

- Về sự sắp xếp thanh âm: Thơ cổ phong không làm theo niêm luật chặt chẽ nh- thơ Đ-ờng luật nh-ng phải thích ứng với quy luật âm thanh của tiếng nói để tạo sự hài hoà, dễ đọc, dễ nghe và dễ ngâm

Các đặc điểm trên, theo chúng tôi, mới chỉ thuộc những đặc điểm cơ bản,

dễ nhận biết về mặt hình thức bề ngoài, ch-a phải là các đặc điểm “hình thữc mang tính nội dung, là ph-ơng thức tồn tại và biểu đạt nội dung” [37, 24] Vệ vậy

ch-a nêu bật đ-ợc các đặc tr-ng nghệ thuật của thể thơ này để có thể nhận biết về

nó sâu sắc và toàn diện hơn trong sự đối sánh với thơ luật

Trang 11

1.2.2 Khái niệm thơ cổ phong

Từ những phân tích trên đây, tóm lại, thơ cổ phong (hay còn gọi là cổ thể để

đối lập với cận thể) vốn là tên gọi của ng-ời đời sau đối với loại thơ tự do ra đời tr-ớc, trong và sau đời Đ-ờng mà không chịu sự quy định nghiêm nhặt nh- thơ

Đ-ờng luật Thơ cổ phong có đặc điểm -u trội là không bị gò bó bởi số câu, chữ, niêm, vận, luật, rất có -u thế trong phản ánh hiện thực cuộc sống, giãi bày nội tâm con ng-ời một cách cụ thể, phong phú

1.3 Thơ cổ phong - quá trình hình thành và phát triển trong lịch sử thơ

ca cổ điển Trung Quốc

Thơ cồ điền Trung Quỗc tính tú “Kinh thi” đễn “tán khúc” đ± tr°i qua mốt

quá trình phát triền lâu d¯i Trên h¯nh trệnh đõ, thơ cồ điền Trung Quỗc đ± “thai nghẽn” v¯ “bung nờ” phong phủ nhiẹu thề lo³i, trong đõ cõ thề cồ phong Đây l¯

thề lo³i đước manh nha tú “Kinh thi”, “Sở từ”, thữc sữ định hệnh v¯o đội H²n, tiễn

sang đời Đ-ờng, đạt đến sự h-ng thịnh

Hình thức thơ cổ phong sớm nhất về ph-ơng diện số chữ là thơ tứ ngôn Nh-ng loại này không bền, đến đời Hán chỉ còn hơi tàn

Hình thức thơ tạp ngôn, phối hợp các câu dài ngắn trong một bài thơ, xuất

hiến ngay ờ thội tiên Tần (trong “Kinh thi” v¯ “Sở từ”) không ngúng ph²t triền qua

các triều đại song cũng không phải là dạng cơ bản của thơ cổ phong

Thơ cổ phong dạng cơ bản nhất và đ-ợc phát triển đầy đủ nhất là hình thức thơ ngũ ngôn, thất ngôn Cho nên, tìm hiểu quá trình hình thành của thơ cổ phong cũng đồng nghĩa với việc tìm hiểu sự hình thành và xác lập địa vị trên văn đàn của thơ ngũ ngôn và thất ngôn

Thơ ngð ngôn manh nha tú “Kinh thi”, “Ly tao” C²c t²c phẩm n¯y th°ng hoặc có những câu thơ năm chữ:

Nhất chi nhất tất phát Nhị chi nhật tất liệt (Tháng một gió thông thốc, Tháng chạp càng heo hút)

(Thất nguyệt)

Ca dao dân ca đời Hán đã thừa tiếp cái d- ba đó của “thi“ và “tao“ ở các bài l-u hành nơi xóm làng Thời Hán Vũ Đế có bài: “H¯ dÙ hiếu đệ vi“ là bài ca

dao sáu câu, năm chữ Đời Hán Thành Đế lại có những bài ca dao năm chữ nh-

“An sỗ cầu từ từ“, “T¯ kinh b³i lương điền“, “Th¯nh trung hiếu cao kết“… Đặc

biệt, dân ca Hán Nhạc phủ còn l-u giữ nhiều tác phẩm thơ năm chữ đạt trình độ

nghệ thuật điêu luyện Tiêu biểu nhất là bài thơ tự sự tr-ờng thiên “Khõng tước

đông nam phi“ (Chim công bay về nam) dài 353 câu, 1765 chữ Thông qua bi kịch

hôn nhân của một cặp vợ chồng, tác phẩm đã tố cáo mạnh mẽ tội ác của lễ giáo phong kiến và thực sự đã cắm một mốc báo hiệu thơ năm chữ đạt đến sự phát triển

Trang 12

thành thục Đây là một khổ thơ dùng chủ yếu thanh trắc để nói lên nỗi vất vả, khó nhọc, sự tức t-ởi của ng-ời tân phụ khi chồng vắng nhà:

Quan kí vi phủ lại, Thủ tiết tình bất di

Kê minh nhập cơ chức, Dạ dạ bất đắc tức

Tam nhật đoạn ngũ sất Tr-ợng nhân cố hiềm trì

Phi vi chức tác trì, Quân gia phụ nan vi…

(Chồng làm phủ lại cũng hay Giữ đ-ờng trinh tiết thiếp nay chẳng dời Nghe gà gáy đã dậy rồi,

Đêm đêm chẳng đ-ợc nghỉ ngơi phiền lòng!

Ba ngày năm tấm dệt xong,

Mẹ chồng bảo chậm còn mong nỗi gì, Nào đâu có chậm mà nghi,

Nhà chàng cay nghiệt nhiều khi khó làm) [50, 144]

Thơ ca văn nhân, có thuyết cho 19 bài cổ thi (“Cõ thi thập cừu thð“) và

những bài Tô Vũ - Lý Lăng tặng đáp chính là thuỷ tổ của thơ ngũ ngôn Thuyết này

từ lâu đã bị bác bỏ bởi những áng thơ này, các nhà nghiên cứu tồn nghi về xuất xứ:

“T²c gi° “Thập cừu thð“ khò x²c đÛnh m¯ câu chuyện Tô - Lý cũng chỉ là chuyện huyền“(Cứu thi) Tính đến đời Hán Thành Đế, trên thi đàn vẫn ch-a có thơ ngũ ngôn Ban Cố trong “H²n thư - nghệ văn chÚ“ viết: “314 bài thơ của 28 nhà tập hợp đổi H²n Th¯nh Đế không cò thơ ngủ ngôn“ (Dẫn theo [49, 107- 108]) L-u Hiệp trong “Văn tâm điêu long“ cũng có ý kiến t-ơng tự: “Thơ cĩn chép về đổi Thành Đế hơn 300 thiên, triều ch-ơng, quốc nhạc đều khá đầy đủ, nh-ng xét về hình thữc, không hề thấy thơ ngủ ngôn“ [15, 38] Phải đến đời Đông Hán, văn nhân mới có xu thế h-ớng dần tới sự phát triển thơ năm chữ “Ngủ y ca“ là bài thơ bốn chữ thêm thán từ Bài “O²n“ của Tr-ơng Hoành “rị r¯ng, mẫu mức, đầy ý vÛ“ [15, 38] Nó chứng tỏ thơ bốn chữ cố gắng thoát khỏi tình trạng cổ x-a, khó

hiểu, v-ơn đạt đến thơ năm chữ Mặc dù các nhà thơ Tr-ơng Hoành, Thái Ung, Tân

Gia, Triệu Nhất với các tác phẩm: “O²n“ và “Đỏng thanh ca“, “Chim xanh“,

“Thơ tặng nhau“, “Thơ bệnh t¯“… đã có công sáng tạo thể thơ năm chữ nh-ng

họ vẫn ch-a đạt đến sự nhuần nhị Phải đợi đến Thái Diễm (con gái nhà thơ Thái Ung) đời Tam Quốc, thơ ngũ ngôn mới đạt tới trình độ phát triển cao với tác phẩm

“Bi phẫn thi“ đặc sắc Song song với Thái Diễm, nền văn học Kiến An cũng góp

phần đắc lực, tạo nên b-ớc nhảy vọt, đ-a thơ bảy chữ vào thời kì toàn thịnh, trở thành hình thức chủ yếu trong sáng tác của thi nhân

Trang 13

Cũng nh- thơ ngũ ngôn, thơ thất ngôn bắt nguồn từ “thi“ và “tao“ Trong

“Kinh thi”, thình tho°ng ta bắt gặp câu thơ bảy chữ:

Nhị chi nhật tạc băng xung xung Tam chi nhật nạp vu lăng âm (Tháng chạp đục băng chan chát Tháng giêng cho vào hầm đất)

(Thất nguyệt)

Đặc biệt, “Ly tao“ của Khuất Nguyên đã thấy xen lẫn những câu thơ ngũ

ngôn, bát ngôn nh-ng nhiều nhất là thất ngôn Qua khảo sát, chúng tôi thấy: câu

thơ thất ngôn trong “Ly tao“ gồm 166 câu trên tổng số 375 câu, chiếm khoảng

44% Thơ thất ngôn còn đ-ợc phát triển qua ca dao dân ca l-u hành trong thôn xóm Trong Hán Nhạc phủ có thể dẫn ra những câu thơ thất ngôn khá hoàn chỉnh:

Thu phong tiêu tiêu thần phong phiêu

Đông ph-ơng tu du cao tri chi

(Hữu sở t-)

Trên văn đàn của thi nhân, thơ thất ngôn t-ơng truyền đ-ợc khởi thuỷ với

bài “B² lương liên cũ“ của Vũ Đế Song thực ra ng-ời ghi danh đầu tiên là Tr-ơng Hoành với bài “Tữ sầu thi“ Bài thơ gồm bốn đoạn, mỗi đoạn bảy câu, câu mở đầu

đoạn đều có cụm “ng± sỗ tư hề“ Các thi nhân của văn học Kiến An bằng tài năng

của mình cũng đã góp phần nâng cao trình độ nghệ thuật của thơ thất ngôn, trong

đó đáng chú ý là Tào Phi với bài “Yên ca h¯nh“:

Thu phong tiêu sắt thiên khí l-ơng Thảo mộc dao lạc lộ vi s-ơng Quần yến

từ quy nhạn Nam t-ờng, Niệm quân khách du tứ đoạn tr-ờng Khiểm khiểm t- quy luyến cố h-ơng, Quân hà yêm l-u kí tha ph-ơng Tiện thiếp trong cung thủ không phòng, Ưu lai t- quân bất cảm vong Bất giác lệ hạ chiêm y th-ờng Viện cầm minh huyền phát thanh th-ơng, Đoản ca vi ngâm bất năng tr-ờng Minh nguyệt hạo hạo chiếu ngã sàng Tinh hán tây l-u dạ vị -ơng Khiên ng-u chức nữ dao t-ơng vọng Nhĩ độc hà cô hạn hà l-ơng [50, 191]

Như vậy tú “Kinh thi”, “Sở từ” đễn cuỗi đội H²n, cợng vỡi sữ ho¯n chình

của thơ ngũ ngôn và thất ngôn thi, thơ cổ phong đã đ-ợc khai sinh Sang đời

Đ-ờng, cùng với các thể loại khác, thơ cổ phong có một môi tr-ờng thuận lợi để phát triển toàn thịnh

Làm nên sự thịnh v-ợng đó có rất nhiều yếu tố Đó là sự kế thừa, phát huy tinh hoa thơ cổ điển giai đoạn tr-ớc, sự ra đời của các ngành nghệ thuật, sự phong phú về mặt t- t-ởng cũng đã tạo điều kiện cho thơ ca phát triển đa dạng…ở đây, chúng tôi chỉ xin nhấn mạnh nguyên nhân xã hội bởi theo chúng tôi, đó chính là nguyên nhân có tính quyết định sự phát triển đỉnh cao của thơ cổ phong đời Đ-ờng

Sau khi xác lập V-ơng triều, các vị vua khai sáng nhà Đ-ờng rút kinh nghiệm từ các triều đại tr-ớc mà nhãn tiền là triều Tuỳ, đã thực hiện các chính sách tiến bộ, có lợi cho dân nh- chế độ quân điền, thuế tô dung điệu… Nhờ đó, kinh tế

Trang 14

nhanh chóng ổn định, phát triển, đ-a Trung Quốc trở thành n-ớc “đững đầu c²c dân tộc văn minh trên thế giới Đế quốc ấy hùng c-ờng nhất, văn minh nhất, thích

sự tiến bộ nhất và đ-ợc cai trị tốt nhất thế giới Ch-a bao giờ nhân loại đ-ợc thấy một n-ớc khai hoá phong tục đẹp đẽ nh- vậy” [53, 124] Chính sữ ph²t triền rữc rở

về mọi mặt: kinh tế, chính trị, văn hóa trong khoảng một trăm ba m-ơi năm đầu triều Đ-ờng đã là sự kích thích có lợi cho sự phát triển văn học Nó đã mở rộng chân trời kiến thức cho văn nghệ sĩ, tạo điều kiện vật chất cho họ yên tâm học tập sáng tạo, đồng thời nuôi d-ỡng nguồn cảm hứng cho họ

Nh-ng triều Đ-ờng cũng không nằm ngoài quy luật “cùng tắc biến, cức tắc ph°n“ Vua Đ-ờng Huyền Tông có công làm nên thời thịnh Đ-ờng nh-ng cũng là

ng-ời đã dẫn dắt nhà Đ-ờng đến suy yếu Loạn An - Sử kéo dài chín năm đã tàn

phá nghiêm trọng mọi mặt của đất n-ớc Trung Quốc: “Theo số thống kê hộ khẩu cða triều đình, dân sọ Trung Quọc sau sứ biến n¯y chỉ cĩn dưới hai mươi triệu“

[7, 134] Chính cuộc chiến tranh này đã cuốn các thi nhân vào vòng xoáy của lịch

sử Bản thân họ nếm trải biết bao gió bụi phong trần, thấu hiểu những nỗi khổ cực của quần chúng nhân dân, từ đó đặt ra cho họ một nhu cầu cấp bách phải phản ánh

đ-ợc đầy đủ cảnh sống cơ cực của quần chúng, giãi bày đ-ợc mọi cung bậc tình cảm hết sức phong phú của bản thân tr-ớc hiện thực cuộc sống Hơn bất kì một thể loại nào khác, thơ cổ phong với tính chất tự do đã đáp ứng đ-ợc đầy đủ và xuất sắc nhất nhu cầu ấy Thơ ca đời Đ-ờng chuyển từ thi phái lãng mạn sang hiện thực, từ

sự phát triển bề rộng đi đến chiều sâu, riêng thơ cổ phong có đ-ợc một mùa hoa trái bội thu

Thơ cổ phong đời Đ-ờng, so với các tác phẩm cùng thể loại tr-ớc và sau,

bên c³nh “sự lặp lại có quy luật các yếu tố của tác phẩm” [22, 340] cðng đ± cõ sữ biến đổi thích ứng với thời đại Bởi “thể lo³i văn hàc xét theo b°n chất cða nò l¯

sự phản ánh các khuynh h-ớng vững bền, vĩnh viễn hơn cả của sự phát triển văn học Thể loại bao giờ cũng giữ gìn các yếu tố cổ x-a, không mai một Cái cổ x-a ấy chỉ đ-ợc giữ lại trong thể loại nhờ sự đổi mới của chính nó hay nh- ng-ời ta nói, nhờ sự hiện đại của nó Thể loại bao giờ cũng thế, bao giờ cũng đồng thời vừa cũ vừa mới Thể loại đ-ợc tái sinh và đổi mới trong từng giai đoạn của sự phát triển văn học và trong từng tác phẩm, cá biệt của thể loại đó” [4, 115] Vệ lẻ đõ, thơ cồ

phong đời Đ-ờng có một số nét riêng biệt mang đậm dấu ấn thời đại

Tr-ớc hết, đó là sự xoá mờ ranh giới giữa thơ cổ phong và thơ ca nhạc phủ

đời Đ-ờng

Thơ ca nhạc phủ đ-ợc khởi nguồn từ đời Hán, sau việc Hán Vũ Đế cho thành lập Nhạc phủ và cử Lý Diên Niên làm hiệp luật đô uý Nó gồm ba bộ phận

chính: những bài ca từ đã có, đem phổ nhạc nh- “Đ³i phong ca” cùa Lưu Bang,

“Cai Hạ ca” cùa H³ng Vð; nhừng b¯i do văn nhân s²ng t²c (còn gói l¯ tân thanh

khúc); những bài ca dao dân ca - bộ phận có giá trị nhất ở các triều đại tr-ớc, thơ nhạc phủ tồn tại song song với thơ cổ phong trong t- cách là một thể loại độc lập

Trang 15

bởi những đặc tr-ng riêng - gắn bó chặt chẽ với âm nhạc, mang đậm tính chất của thơ ca dân gian Sang đội Đưộng, cợng vỡi viếc “c² nhân ho² s²ng t²c”, c²c thi nhân từ chỗ sáng tạo ca từ cho mục đích phổ nhạc dần quên hẳn mục đích này mà chú ý dùng nó làm ph-ơng tiện bày tỏ tình cảm t- t-ởng và phản ánh hiện thực dù vẫn dùng các đề mục cũ Sau này, nó lại tiến thêm một b-ớc, thi nhân tự tạo ra

“Tân Nhạc phủ” không cần nương dữa v¯o đẹ mũc, âm điếu cð nữa nh- tr-ờng hợp

“Binh xa hành”, “Lệ nhân hành” cùa Đổ Phù Nhừng t²c phẩm n¯y tuy vẫn mang

danh nhạc phủ song thực tế không thể nào đem nhập nhạc đ-ợc, thực chất nó là một bộ phận của thơ cổ phong Với lý do đó, ở đây chúng tôi xem nhạc phủ là một

bộ phận của thơ cổ phong đời Đ-ờng để tiện việc khảo sát và khái quát hoá một số

đăc tr-ng nghệ thuật của thể loại

Nếu ở các triều đại tr-ớc, thơ cổ phong chiếm số l-ợng lớn trong toàn bộ thi phẩm thì sang đời Đ-ờng, loại này có số l-ợng không nhiều Khảo sát trong

“Đưổng thi tam b²ch thð“ của Hành Đ-ờng thoái sĩ và Trần Bá Anh cũng nh- trong “Thơ Đưổng” (hai tập) của nhà xuất bản văn học, thơ cổ phong chỉ chiếm

khoảng 20% trên tổng số thơ tuyển Con số này t-ơng đối phù hợp với thống kê của

tác giả chuyên luận “Thi ph²p thơ Đưổng“: “Về phương diện thể thơ(…) thơ kim thể chiếm tỷ lệ cao hơn rất nhiều so với thơ cổ thể Chúng tôi đã thử thống kê, so sánh ở một số tuyển tập, tỷ lệ này xấp xỉ 4/1 (tức thơ kim thể chiếm 80%, cổ thể chiếm20%)“ [14, 191] Dù vậy, thơ cổ phong vẫn là một bộ phận giá trị góp phần

đ-a thơ Đ-ờng lên tuyệt đỉnh vinh quang với những bài thơ tự sự nổi tiếng

Tồn tại và phát triển trong đời Đ-ờng khi thơ luật (gồm bát cú, tứ tuyệt, bài luật) trờ th¯nh “đặc s°n” cùa thội đ³i, thơ cồ phong đ± cõ sự biến đổi theo hai chiều h-ớng:

Một h-ớng đi theo con đ-ờng phản thơ luật, lấy việc tránh nhập luật làm nguyên tắc nên vẫn giữ đ-ợc màu sắc tự do, phóng khoáng tự nhiên, gần với thơ cổ phong Hán - Ngụy, nh- thơ của V-ơng Duy, Mạnh Hạo Nhiên, Lý Bạch, Vi ứng Vật…

H-ớng còn lại các nhà thơ khi sáng tạo thơ cổ phong có ít hoặc nhiều, có ý thức hoặc không có ý thức, đều chịu sự tác động, chi phối của thơ Đ-ờng luật, tạo

nên hiện t-ợng “cõ phong nhập luật“ H-ớng này tiêu biểu nhất là Đỗ Phủ

Chính những đặc điểm cơ bản trên đây đã tạo nên diện mạo độc đáo của thơ

cổ phong đời Đ-ờng trên hành trình tồn tại và phát triển của thể loại

Nh- vậy, trong ch-ơng một, nhiệm vụ trung tâm là xác định một cách hiểu

về thơ cổ phong khả dĩ có thể chấp nhận đ-ợc và có khả năng ứng dụng trong thực tiễn Nh- đã nói, do có nhiều khó khăn nên chúng tôi không mong xây dựng đ-ợc một khái niệm hoàn chỉnh về thơ cổ phong nh-ng trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc yếu tố hợp lí của ng-ời đi tr-ớc, đặt trong lịch sử phát triển của thơ cổ điển Trung Quốc và thể loại cổ phong, chúng tôi đã mạnh dạn đ-a ra cách hiểu về khái niệm này ở đó, việc đồng nhất làm một hai khái niệm cổ phong và cổ thể, nhất là xem

Trang 16

thơ nhạc phủ đời Đ-ờng là một bộ phận của thơ cổ phong sẽ giúp chúng tôi tránh

đ-ợc sự nhập nhằng trong việc phân loại, tạo điều kiện thuận lợi để tìm hiểu một số

đặc tr-ng nghệ thuật thơ cổ phong đời Đ-ờng trong ch-ơng sau

Trang 17

Trong thơ Đ-ờng nhìn chung đề tài rất phong phú: “ Lớn cò thể nòi sứ suy

di cða thế vận, sứ biến thiên cða gĩ nũi, nhí cò thể nòi đến con sâu, c²i cí“ (Cứu thi) Xét riêng từng thể loại của thơ Đ-ờng, dù là thơ luật hay cổ phong, loại nào

cũng rất đa dạng về đề tài

Có sự đa dạng ấy bởi văn học chính là tấm g-ơng phản ánh hiện thực cuộc sống mà cuộc sống xã hội đời Đ-ờng lại vô cùng phong phú, nhiều biến động Có thời kì thịnh v-ợng khoảng một trăm ba m-ơi năm đầu (thời kì Sơ - Thịnh Đ-ờng) Lại có thời kì suy sụp với biến loạn An- Sử, với ách áp bức bóc lột tàn bạo của giai cấp thống trị Hiện thực ấy đã đ-ợc phản ánh vào trong văn học Thơ Đ-ờng, có thể nói, là cuốn sử kí về những biến động xã hội, là tiếng nói bất bình và khát vọng sống mãnh liệt của quần chúng nhân dân

Tuy nhiên trong thơ Đ-ờng, bản thân mỗi thể loại xuất phát từ đặc tr-ng của nó đã lựa chọn cho mình những đề tài thích ứng Vì vậy nảy sinh hiện t-ợng: nhiều đề tài là -u trội ở thể loại này nh-ng sang thể loại khác lại bị đẩy xuống hàng thứ yếu Ta có thể thấy điều này khá rõ ở thơ cổ phong đời Đ-ờng qua sự đối sánh với thơ cận thể

Thỗng kê 138 b¯i cồ phong trong “ Thơ Đưộng” ( hai tập) cùa nh¯ xuất b°n văn học, chúng tôi thấy đề tài đ-ợc phân bố nh- sau:

- Chiến tranh và số phận con ng-ời, số phận đất n-ớc: 51 bài, chiếm 37% (Tòng quân hành( D-ơng Quýnh); Yên ca hành; Bạch tuyết ca tống Vũ phán quan quy kinh; Tẩu mã xuyên hành, phụng tống Phong đại phu xuất s- tây chinh; Tòng quân hành ( V-ơng X-ơng Linh); Tái hạ khúc (V-ơng X-ơng Linh); Binh xa hành; Bần phụ từ; Thuỷ phu dao; Chức phụ từ ( Mạnh Dao); Cổ phong ( nhị thủ); Bộ ng- dao; T-ợng uẩn thán; Vịnh điền gia; Quan san nguyệt; Tái hạ khúc (Lí Bạch); Chiến thành nam; Phụng tặng vi tả thừa tr-ợng thập nhị vận; Tự kinh phó Phụng Tiên huyện vịnh hoài ngũ bách tự; Ai v-ơng tôn; Ai giang đầu; Kh-ơng thôn; Bắc chinh; Bành nha hành; Tẩy binh mã; Chùm Tam lại, Tam biệt; Mao ốc vị thu phong

sở phá ca; Bách -u tập hành; Kí đề giang ngoại thảo đ-ờng; Hí vũ; Đan thanh dẫn tặng Tào t-ớng quân bá; Thảo đ-ờng; Thái tử Tr-ơng xá nhân di chức thành nhục

đoạn; V-ơng lãng châu diên phụng thủ thập nhất cửu tích biệt chi tác; Tráng du; Tàm cốc hành; Khinh, phì; Thái địa hoàng dã; Đỗ Lăng tẩu; Tân Phong chiết tí

Trang 18

ông; Ca vũ; Mại thán ông; Quan nghệ mạch; Mãi hoa; Trọng thú; Phọc trung nhân)

- Tuổi xuân, tình yêu và thân phận ng-ời phụ nữ: 30 bài, chiếm 21,7% (Tây Thi vịnh; Xuân tứ; Điện tiền khúc; Tr-ờng can hành (nhị thủ- Thôi Hiệu); Lệ nhân hành; Tiết phụ ngâm; Vọng phu thạch; Chức phụ từ (Nguyên Chẩn); Tì bà hành; Hữu sở t-; Kí viễn; V-ơng Chiêu Quân; Song yến ly; Tr-ờng t-ơng t- (nhị thủ);

Đảo y thiên; Bạch đầu ngâm; Tr-ờng can hành (nhị thủ – Lí Bạch); Tử dạ ngô ca;

ô dạ đề; Thanh bình điệu (tam thủ); Giai nhân; Phụ tân hành; Th-ợng D-ơng nhân; Văn dạ châm; Tr-ờng hận ca)

- Vấn đề vạn cổ nh- sống - chết, vô cùng - hữu hạn, biến - bất biến… : 2 bài, chiếm 1,4% ( Đăng U Châu đài ca; Văn khốc giả)

- Tình bằng hữu, quê h-ơng: 15 bài, chiếm 10,8% (Nhật hạ nam đình hoài Tân Đại; Tây Sơn tầm Tân Ngạc; Tống biệt; Há Chung Nam sơn, qúa Hộc t- sơn nhân túc trí tửu; Nhân nhật kí Đỗ nhị thập di; Hồ trung đối tửu tác; Mộng Lí Bạch (nhị thủ); Tặng Vệ Bát xử sĩ; Tống Vi Phúng th-ợng Lãng Châu lục sự tham quân; Kim Lăng tửu tứ l-u biệt; Tống hữu nhân nhập Thục; Tống Khổng Sào Phủ tạ bệnh quy du Giang Đông kiêm trình Lí Bạch; Kí Vi Chi; Tự Giang Lăng chi Từ Châu lộ th-ợng kí huynh đệ)

- Thiên nhiên: 3 bài, chiếm 2,1% ( Xuân giang hoa nguyệt dạ; Thục đạo nam; Tùng thanh)

- Cảm khái, kí hứng: 31 bài, chiếm 22,4% (Tỏ chí; Bạch Đế hoài cổ; Kinh Hạ Bì dĩ kiều hoài Tr-ơng Tử Phòng; Bá tửu vấn nguyệt; Đông bình lộ tác; Tuý thì ca; Du tử ngâm; Sơn giá cô; Thôn c- khổ hàn; Tân chế bố cừu; Nguyệt hạ độc ch-ớc; Độc bất kiến; Xuân nhật tuý khởi ngôn chí; Trào Lỗ nho; Đinh đô hộ ca; Hành lộ nan; Mộng du Thiên Mụ ngâm l-u biệt; T-ơng tiến tửu; Tuyên Châu Tạ Diểu lâu tiễn biệt hiệu th- Thúc Vân; Thiên dục phiêu đồ ca; Chu trung dạ vũ; Hung trạch; Lụy tuấn; Hắc long đàm; Vấn hữu; Túc Huỳnh D-ơng; Lập bi; Sinh li biệt; Phóng lữ nhạn; Hữu mộc; Khách trung nguyệt)

- ẩn dật, điền viên và thú nhàn tản: 6 bài, chiếm 4,3% (Giang th-ợng ngâm; Tống D-ơng Sơn nhân quy tung sơn; Khê c-; Mục đồng từ; Thu sơn; Túc V-ơng X-ơng Linh ẩn c-)

Thống kê theo “Đưổng thi tam b²ch thð“ của Hành Đ-ờng thoái sĩ và

Trần Bá Anh, chúng tôi cũng thấy tình hình nh- vậy

Cần phải nói thêm rằng việc sắp xếp các bài thơ vào các đề tài nh- trên chỉ mang tính chất t-ơng đối bởi trên thực tế, trong một tác phẩm có thể có sự đan xen,

hoà trộn nhiều đề tài “Nguyệt h³ đồc chước“ của Lí Bạch không chỉ đơn thuần

giãi bày tâm trạng cô đơn của thi nhân:

Hoa gian nhất hồ tửu,

Độc ch-ớc vô t-ơng thân

(Có r-ợu không có bạn, Một mình chuốc d-ới hoa.)

Trang 19

Chúng ta còn bắt gặp hình ảnh vầng trăng nh- một sinh thể sống động bầu

bạn cùng tác giả Vì thế, từ một góc độ khác, có thể xem “Nguyệt h³ đồc chước“

nh- một bài thơ về đề tài thiên nhiên

“Xuân giang hoa nguyệt d³“ của Tr-ơng Nh-ợc H- cũng là một tr-ờng

hợp t-ơng tự Đây là một bài thơ tả cảnh nổi tiếng đã làm rạng danh tác giả Với ngôn ngữ tự nhiên, thanh nhã, tác giả vừa miêu tả sinh động cảnh đẹp của đêm trăng trên sông xuân, lại vừa diễn tả nỗi lòng triền miên, xa xôi do cảnh đẹp khêu gợi, một nỗi buồn về cuộc đời mỏng manh và thế sự vô th-ờng Do đó cũng có thể xếp bài thơ vào loại cảm khái, kí hứng

Chính sự phối kết nhiều đề tài trong cùng một bài thơ đã tạo nên vẻ đẹp đa diện và sức hấp dẫn kì lạ đối với ng-ời đọc của thơ Đ-ờng

So sánh kết quả thống kê trên với thơ Đ-ờng luật, chúng ta sẽ thấy có sự thay đổi khá căn bản Thống kê về mặt đề tài trong 237 bài thơ Đ-ờng luật theo cuỗn “Thơ Đưộng” (2 tập) cùa nh¯ xuất b°n văn hóc ta cõ:

- Chiến tranh và số phận con ng-ời, số phận đất n-ớc: 19 bài, chiếm 8%

- Tuổi xuân, tình yêu và thân phận ng-ời phụ nữ: 30 bài, chiếm 12,6%

- Vấn đề vạn cổ nh- sống- chết, vô cùng – hữu hạn, biến – bất biến…:31 bài, chiếm 13%

- Tình bằng hữu, quê h-ơng:41 bài, chiếm 17,2%

- Thiên nhiên: 58 bài, chiếm 24,4%

- Cảm khái, kí hứng: 23 bài, chiếm 9,7%

- ẩn dật, điền viên và thú nhàn tản: 9 bài, chiếm 3,7 %

Ngoài ra còn một số bài viết về đề tài du tiên…

Có thể thấy rõ hơn sự thay đổi về mặt đề tài giữa thơ cổ phong và thơ luật qua bảng thống kê sau:

Vấn đề

muôn

Thuở…

Chiến tranh, số phận…

Tình yêu, tuổi xuân

Tình bằng hữu…

nhàn tản,

Cảm khái, kí hứng

Thiên nhiên

Đ-ờng

luật

Qua kết quả khảo sát và so sánh trên, ta có thể rút ra kết luận: Thơ luật

Đ-ờng thiên về loại đề tài có tính chất triết lí nh- về các vấn đề vạn cổ: sống - chết, vô cùng - hữu hạn, biến - bất biến…, đề tài về thiên nhiên Thơ cổ phong lại nghiêng về phản ánh hiện thực (chiến tranh, số phận con ng-ời…) và giãi bày tâm trạng ( cảm khái, kí hứng)

Có thể giải thích lí do tạo nên sự khác biệt đó từ góc độ đặc tr-ng mỗi thể loại

Đề tài

T.loại

Tỉ lệ(%)

Cổ phong

Trang 20

Thơ luật là thể loại thơ đ-ợc tạo dựng từ các mối quan hệ, có tính hàm súc Phần đ-ợc thể hiện trên bề mặt câu chữ nhiều khi chỉ là cái cớ để chuyên chở lớp nghĩa đích thực tuôn chảy bên trong nên đòi hỏi độc giả phải tham gia vào quá

trình sáng tạo để phát hiện cái tiềm ẩn của bài thơ (ý tại ngôn ngoại) Tính chất này làm cho thể loại Đ-ờng luật (cận thể) đặc biệt thích hợp với loại đề tài mang đậm tính chất triết lí Tìm hiểu bài “Mang sơn“ của Thẩm Thuyên Kì chúng ta sẽ thấy

rất rõ:

Bắc Mang sơn hạ liệt phần oanh Vạn cổ thiên thu đối Lạc thành Thành trung nhật tịch ca chung khởi Thử sơn duy văn tùng bách thanh (D-ới núi Bắc Mang la liệt những mồ mả Nghìn vạn năm đối diện với thành Lạc D-ơng Trong thành ngày đêm rộn rã tiếng ca không lúc nào dứt ở núi này chỉ nghe tiếng tùng bách reo) [44, 220]

Núi Bắc Mang thuộc huyện Lạc D-ơng, tỉnh Hà Nam cách kinh đô Lạc D-ơng m-ời một dặm, là nơi chôn cất vua chúa, quan lại, danh nhân từ đời Hán

đến đời Đ-ờng Đặt Bắc Mang trong mối quan hệ với Lạc D-ơng đồng nghĩa với việc tác giả đem hai phạm trù đối lập đặt cạnh nhau: sống - chết Cõi sống ( Lạc

D-ơng) luôn t-ng bừng náo nhiệt “Th¯nh trung nhật tÛch ca chung khỗi“, cõi chết chỉ là tiếng reo vi vu của tùng bách “Thừ sơn duy văn tùng b²ch thanh“ Từ sự đối

lập đó mà bật lên ý nghĩa triết lí về sự sống - chết Sống chỉ là khoảng khắc h- ảo, chết mới là vĩnh viễn yên bình

Đặc tr-ng trên cũng cho phép ta lí giải hiện t-ợng thơ về đề tài thiên nhiên

chiếm tỉ lệ cao trong thơ luật Trong thơ Đ-ờng, thiên nhiên luôn “chiếm mồt đÛa

vÛ danh dứ“( Đặng Thai Mai) ở đâu ta cũng thấy hình ảnh thiên nhiên dù bài thơ viết về đề tài gì Điều này là một tất yếu bởi quan niệm “thiên nhân tương dử“

luôn ngự trị trong đời sống tinh thần của ng-ời Trung Quốc Nh-ng để miêu tả trực tiếp về thiên nhiên, tạo nên những bức tranh phong cảnh trong thơ, cận thể tỏ ra đắc dụng hơn cổ thể Điều này có cội nguồn từ quan niệm hội họa của ng-ời Trung Quốc: không tả cụ thể, tỉ mỉ mà chỉ nắm bắt và thể hiện cái hồn của cảnh qua một vài nét chấm phá Chính hạn chế của thơ luật về dung l-ợng câu chữ đã buộc nó khi tả cảnh không sa vào tỉ mỉ mà chỉ đặc tả chi tiết quan trọng nhất (điều này rất t-ơng hợp với quan niệm hội họa trên kia) Nh-ng cái hay của thơ luật trên bình diện này

là dù miêu tả, trình bày các hình ảnh thiên nhiên theo trình tự thời gian song dung l-ợng ngắn nên cho phép đọc liền một mạch để đ-a tới một hệ quả là ng-ời đọc có

“°o gi²c” c²c chi tiễt cùa c°nh đước đọng hiến Khi đõ, nhừng chi tiễt, hệnh °nh

điển hình nhất của thiên nhiên đ-ợc đặt trong các mối quan hệ và cho ta một bức

tranh ho¯n chình “Tuyệt cú” cùa Đổ Phù “ bốn câu vẽ ra tr-ớc mắt ng-ời đọc bốn cảnh khác nhau, tạo nên mồt bồ “tữ bình“ kh² ho¯n h°o” [30, 222] Câu mốt, t²c giả miêu tả đôi chim oanh đậu trên cành liễu xanh, (L-ỡng cá hoàng li minh thuý

Trang 21

liễu) Câu hai là hình ảnh một đàn cò trắng bay vút trên nền trời xanh (Nhất hàng bạch lộ h-ớng thanh thiên) Câu tiếp theo tả vẻ đẹp hùng vĩ của núi non, không nói

cái cao của núi mà nó vẫn toát lên từ sự miêu tả màu trắng của tuyết ngàn năm (

Song hàm Tây Lĩnh thiên thu tuyết) Cuối cùng là cảnh bến đỗ của những con thuyền Đông Ngô từ muôn dặm đến (Môn bạc Đông Ngô vạn lí thuyền) Nếu tách

riêng, mỗi bức tranh có vẻ đẹp tự thân nh-ng đặt cạnh lại trở thành bức tranh tuyệt diệu với bố cục hợp lí, cân đối cùng thể hiện cảnh thanh bình thịnh trị của đất n-ớc

Mặc dù có -u thế trong miêu tả thiên nhiên, thể hiện các vấn đề mang tính triết lí nh-ng tr-ớc yêu cầu phản ánh đời sống và tâm trạng, thơ luật lùi nh-ờng cho thể loại cổ phong

Với đặc điểm khá tự do về câu, chữ, niêm, vận, luật, thơ cổ phong có khả

năng b²m s²t hiến thữc cuốc sỗng v¯ hiến thữc tâm tr³ng đề “do thân mà may áo”,

tuỳ nội dung hiện thực cần phản ánh mà hinh thức co duỗi linh hoạt t-ơng ứng

Cợng l¯ tà b¯y tâm tr³ng nhưng trong “Cảm ngộ”, tâm tr³ng Trương Cụu

Linh chỉ đơn giản là sự bày tỏ ý chí Nó không có những khúc quanh mà theo một

đ-ờng thẳng nên có thể diễn tả trong dung l-ợng câu chữ vừa phải (m-ời câu ngũ ngôn), qua lối gián tiếp từ sự miêu tả giống Đan Quất- Giang Nam :

Giang Nam hữu Đan Quất Kinh đông do lục lâm Khởi y địa khí noãn

Tự hữu tuế hàn tâm Khả dĩ tiến gia khách Nai hà trở trọng thâm Vận mệnh duy sở ngộ Tuần hoàn bất khả tầm

Đồ ngôn thụ đào lí Thử mộc khởi vô âm [11, 32]

Đến Lí Bạch, trong “ Mồng du Thiên Mú ngâm lưu biệt”, tâm tr³ng cùa

ông là cả một thế giới đầy mâu thuẫn với những biến thái quanh co, phức tạp (Nỗi riêng lớp lớp sóng dồi) không thể l-ờng hết đ-ợc Đó là tâm trạng chán ghét thực

tại, muốn truy cầu cuộc sống tự do, phóng khoáng đ-ợc thể hiện qua giấc mơ Khát vọng ấy không thực hiện đ-ợc, giấc mơ tan biến ném trả thi nhân về với thực tại Lúc này, nỗi uất ức, chán ghét càng gia tăng để đ-a đến một thái độ phủ nhận thực tại quyết liệt Thế giới nội tâm phức tạp và đầy biến động ấy tất phải đ-ợc thể hiện qua một hình thức thơ cổ phong tr-ờng thiên (bốn lăm câu) hết sức tự do, phóng khoáng về chữ, vần, luật…Có lúc cô đúc với câu thơ bốn chữ:

Liệt khuyết tích lịch Khâu lan băng tồi

Động thiên thạch phi Hoằng nhiên trung kha

Trang 22

Cõ lủc l³i “nửt bung” b´ng nhừng câu thơ chín chừ vỡi âm điếu miên man, bất tận:

-Vân chi quân hề phân phân nhi lai há

-An năng tồi mi chiết yêu sự quyền quý…

Ta cũng thấy tình hình t-ơng tự với mảng thơ phản ánh hiện thực đời sống

Rõ ràng không thể đem hiện thực đời sống với ngổn ngang chi tiết, tâm trạng với những biến thái tinh vi, phức tạp dồn nén vào thơ luật Đ-ờng mà tất phải diễn tả nó qua thơ cổ phong

2.1.2 Xử lí đề tài

Việc lựa chọn đề tài là rất quan trọng bởi nó phải t-ơng hợp với đặc tr-ng thề lo³i, tuứ thuốc v¯o “sờ trưộng” cùa ngưội s²ng t³o Thễ nhưng, đõ mỡi l¯ công việc bên ngoài Điều quan trọng hơn là đề tài đó đ-ợc xử lí nh- thế nào? Đây mới

là công việc bên trong, bộc lộ rõ đặc tr-ng thể loại

Thơ cổ phong đời Đ-ờng có các biện pháp chủ yếu sau trong cách xử lí đề tài:

2.1.2.1 L-u giữ những chi tiết cụ thể, sinh động

ở thơ luật Đ-ờng, do hạn chế về số câu, chữ, niêm, vận, luật nên không có chỗ dung chứa các chi tiết cụ thể Để phản ánh hiện thực cuộc sống và giãi bày tâm trạng con ng-ời, thơ luật đẩy cái cụ thể xuống hàng thứ yếu Có chăng một vài chi tiết đ-ợc giữ lại cũng đã trải qua sự sàng lọc nghiệt ngã, mang tính điển hình cao cho loại sự vật đ-ợc phản ánh và cũng tiêu biểu nhất, mang tính bản chất nhất của

đối t-ợng đ-ợc phản ánh

Khác với thơ luật, thơ cổ phong do khá tự do, phóng khoáng trong dụng câu chữ…nên có khả năng l-u giữ các chi tiết cụ thể, sinh động, đậm đà màu sắc của cuộc sống Chính nhờ các chi tiết ấy mà bức tranh cuộc sống và tâm trạng đ-ợc kết dệt nên rất phong phú, xác thực đến tỉ mỉ nh- bản thân nó vốn tồn tại

Cùng tả tài đàn siêu tuyệt và sự tri âm giữa ng-ời đánh đàn - ng-ời th-ởng

đàn nh-ng “Minh tranh“ của Lí Đoan khác “Tì B¯ H¯nh“ của Bạch C- Dị

Trong “Minh tranh”, Lí Đoan viễt:

Minh tranh kim túc trụ

Tế thủ ngọc phòng tiền Dục đắc Chu lang cố Thời thời ngộ phất huyền (Đàn gẩy phím kim túc, Mĩ nhân dạo tr-ớc phòng Muốn Chu lang ngoảnh lại, Cố ý nắn sai cung) [44, 706]

Cả bài thơ tác giả chỉ chọn hai chi tiết: ng-ời gẩy đàn nắn sai dây và Chu lang ngoảnh lại nh-ng đã lột tả đ-ợc hết tài đàn của ng-ời con gái và sự tri âm, nhạc cảm xuất sắc của vị đô đốc Đông Ngô Tuy nhiên, trong khuôn khổ một bài tứ tuyệt, tiếng đàn cũng nh- quá trình diễn tấu không d-ợc miêu tả cụ thể

Trang 23

Ta chỉ có thể tìm đ-ợc sự miêu tả tỉ mỉ quá trình diễn tấu, từ đó bật lên nét tài hoa của ng-ời chơi đàn cũng nh- tấm long tri kỉ của ng-ời nghe - Bạch C- Dị -

trong “Tì bà hành” ở đây, ng-òi gẩy đàn tì bà có đủ thời gian xuất hiện vặn trục d³o đ¯n, củi m¯y rọi mỡi gẩy hễt khủc “ Nghê th-ờng” đễn khủc “Lục yêu”, thậm

chí âm thanh của từng dây một cũng đ-ợc miêu tả cụ thể:

Đại huyền tao tao nh- cấp vũ Tiểu huyền thiết thiết nh- t- ngữ

(Dây to nh-ờng đổ m-a rào

Nỉ non dây nhỏ khác nào chuyện riêng)

Tiếp đó là giãi bày tâm sự của ng-òi ca nữ, sự đồng cảm của tác giả:

Toạ trung khấp hạ thùy tối đa?

Giang Châu t- mã thanh tham thấp!

Lệ ai chan chứa hơn ng-ời Giang Châu T- Mã đ-ợm mùi áo xanh Cùng viễt vẹ nổi nhỡ chọng cùa ngưội phũ nừ, cõ thề so s²nh “Tự quân chi xuất hĩ” (Trương Cụu Linh) v¯ “Tr-ờng can hành” (Lí B³ch) đề rỏ thêm đặc trưng lưu giừ nhừng chi tiễt cũ thề cùa thơ cồ phong Nổi nhỡ trong “Tự quân chi xuất hĩ

” đước gõi gón qua viếc so sánh với ánh sáng hao gầy của vầng trăng Nỗi nhớ ở

trong “Trưổng can h¯nh“ lại đ-ợc miêu tả thật cụ thể Nhớ từ vết giầy in rêu

tr-ớc cửa, một chiếc lá rụng, một đôi b-ớm bay trên thảm cỏ xanh cũng đủ sức

đánh động, lay thức trong lòng cô gái bao kỉ niệm đẹp về những tháng ngày hạnh phúc, tô đậm nỗi đau đang tấy lên trong lòng nàng:

Môn tiền trì hành tích, Nhất nhất sinh lục đài

Đài thâm bất năng tảo, Lạc diệp thu phong tảo

Bát nguyệt hồ điệp hoàng, Song phi tây viên thảo

Cảm thử th-ơng thiếp tâm, Tọa sầu hồng nhan lão

(Vết giày in tr-ớc cửa, Xanh xanh rêu mọc đầy Rêu nhiều không thể quét, Lá rụng gió thu lay Tháng tám b-ơm b-ớm vàng, Bay đôi trên áng cỏ Xúc cảm em

đau lòng, Héo già th-ơng má đỏ.)

Nhấn mạnh đặc điểm -u trội của thơ cổ phong trong việc xử lí đề tài không

có nghĩa là hạ thấp thơ luật ở ph-ơng diện này Mỗi loại có -u thế riêng trong cách tiếp cận, chiếm lĩnh đời sống Thơ cổ phong thiên về tính cụ thể, thơ luật lại đậm tính khái quát giống nh- hai bức tranh của Ngô Đạo Tử và Lí T- Huấn vẽ phong cảnh xứ Thục Khi lánh nạn An Lộc Sơn về đất Thục, cảm vẻ đẹp hùng vĩ của xứ này, vua Đ-ờng Huyền Tông đã sai hai họa sĩ vẽ tranh phong cảnh Một thời gian sau, hai bức tranh hoàn thành và đ-ợc dâng lên Vua Đ-ờng hết sức khen ngợi bởi

Trang 24

chúng đã tái hiện rất đạt cái hồn của sông núi dù hai bức hoàn toàn khác nhau Tranh Lí T- Huấn vẽ tỉ mỉ từng gợn sóng, ngọn cỏ, từng vị trí của gốc cây, tảng đá Ng-ợc lại, tranh Ngô Đạo Tử tái hiện cảnh vật miền Giang Lăng trong ba trăm dặm chỉ qua vài ba nét phác hoạ Thơ cổ phong giống tranh Lí T- Huấn, thơ luật giống tranh Ngô Đạo Từ, dù khác nhau về ph-ơng thức chiếm lĩnh đời sống nh-ng căn bản cả hai đều đã nắm bắt và diễn tả đ-ọc cái hồn của cuộc sống, do đó góp phần tạo nên giá trị bất tử của thơ Đ-ờng

2.1.2.2.Lựa chọn những chi tiết mang tính điển hình cao

ở trên, chúng tôi đã phân tích, chứng minh khả năng l-u giữ các chi tiết cụ thể của thơ cổ phong đời Đ-ờng trên ph-ơng diện xử lí đề tài Nh-ng nếu dừng tại

đó, bức tranh đời sống và tâm trạng trong thơ cổ phong ch-a thực sự đáp ứng đ-ợc

đầy đủ yêu cầu của một tác phẩm văn học Bởi lẽ “ th¯nh phần c²i x²c đÛnh cú thể trong thơ là rất quan trọng nh-ng không mang ý nghĩa đơn độc, tự thân mà luôn

đ-ợc liên kết, gắn bó với lí t-ởng chung, với nội dung khái quát và ý nghĩa xã hội của bài thơ Khuynh h-ớng tái hiện tự nhiên chủ nghĩa, lối khắc họa chạm trổ cần

cù một đối t-ợng cụ thể nào đó đều không thích hợp với tinh thần sáng tạo của thơ Thơ chống lại sự chụp ảnh máy móc, chống lại việc chạy theo cái cụ thể mà không nâng hình tượng lên kh²i qu²t, bay bõng“ [10, 206] Đáp ứng yêu cầu đó, thơ cổ

phong bên cạnh việc l-u giữ các chi tiết cụ thể còn chọn lựa các hình ảnh có tính

điền hệnh cao Chính vệ vậy, “c²i đước ph°n ²nh” trong thơ cồ phong vúa cũ thề x²c thực lại vừa mang tính khái quát điển hình, tạo nên thế mạnh toàn diện so với thơ luật

Trong “Tứ kinh phò Phúng Tiên huyện vÛnh ho¯i ngủ b²ch tứ“, để phản

ánh mâu thuẫn gay gắt tiềm ẩn trong xã hội thịnh Đ-ờng, Đỗ Phủ đã chọn các hình

ảnh rất tiêu biểu:

- Đồng đình sở phân bạch Bản tự hàn nữ xuất

Tiên thát kì phu gia

Tụ liễm cống thành khuyết (Lụa phân phát tr-ớc sân rồng; Đều do tay những ng-ời con gái không áo dệt ra cả; Roi vọt quất lên thân chồng con họ; Nạo khoét lấy để dâng vào cung vua)

-Chu môn tửu nhục xú

Lộ hữu đống tử cốt (Nơi cửa son r-ợu thịt sặc mùi; Ngoài đ-ờng trơ đống x-ơng ng-ời chết rét)

Các hình ảnh này đủ sức nặng lột trần bản chất bức tranh xã hội thời thịnh

Đ-ờng Bên trong vẻ thanh bình, no ấm là biết bao nghịch cảnh: nhà giàu r-ợu thịt

để ôi trong khi dân lành lâm cảnh chết đói Tình cảnh khốn khó của ng-ời dân chính là hệ quả tất yếu của quá trình bòn rút vô hạn định của giai cấp thống trị

Trang 25

Chính m²u thịt, sửc lao đống cùa ngưội dân chuyền ho² th¯nh “rượu thÛt để ôi“

trên bàn tiệc bọn nhà giàu Chính tấm áo, mảnh lụa do tay ng-ời phụ nữ cơ hàn làm nên tuôn chảy vào cung cấm, thành vật phẩm vua ban tặng cho các sủng thần, đẩy

Tịch bất noãn quân sàng,

Viết về cái xác xơ, cạn kiệt sự sống của làng xóm, trong bài “Vô gia biệt“,

Đỗ Phủ đã mô tả tỉ mỉ song nhức nhối, ám ảnh nhất là những hình ảnh cụ thể mà giàu sức khái quát:

Đán đối hồ dữ li Thụ mao nộ ngã đề

Tứ lân hà sở hữu Nhất nhị lão quả thê (Tr-ớc mắt chỉ những cáo cùng cầy, Xù lông nhìn ta gầm gừ giận dữ Bốn bề làng xóm chẳng còn gì, Chỉ một vài bà già goá bụa)

Cáo cầy - những con vật - lẽ ra phải sợ ng-ời thế nh-ng ở đây trình tự lại

đảo ng-ợc: xù lông gầm gừ giận dữ đe dọa con ng-ời Cái điều t-ởng nh- nghịch lí

ấy lại ch-a đựng cái lí bởi sau năm Thiên Bảo, làng xóm tiêu điều, vắng bóng con ngưội nên cầy c²o mặc sửc ho¯nh h¯nh Hệnh °nh “mốt v¯i b¯ gi¯ go²” cðng đầy sức nặng Nó là chi tiết cụ thể về sự hoang tàn của một làng quê nh-ng cũng là bức tranh khái quát về sự hoang tàn của đất n-ớc Trung Hoa sau loạn An – Sử

Nh- vậy về ph-ơng diện xử lí đề tài với hai biện pháp chủ yếu trên, thơ cổ phong đã thừa tiếp điểm dừng của thơ luật, tạo nên thế mạnh toàn diện trong phản

ánh bức tranh tâm trạng và hiện thực cuộc sống

Trang 26

cấp độ kết cấu hình t-ợng của thơ cổ phong ở đây ng-ời viết không có tham vọng

đi sâu các vấn đề của kết cấu mà chỉ giới hạn ở việc xem xét ph-ơng thức cấu tứ

của thơ cổ phong bởi “ tữ thơ chÚnh l¯ h³t nhân kết cấu hình tượng thơ trử tình“

[8, 29] Thơ cổ phong về cơ bản có các ph-ơng thức cấu tứ sau:

2.2.1 “ Xác lập tính đồng nhất của những hiện t-ợng mà giác quan cho

là đối lập“ [24, 143]

Là một bộ phận của thơ cổ điển Trung Quốc, thơ cổ phong chịu sự tác

động, quy định bởi thế giới quan của con ng-ời thời cổ Đó là quan niệm về tính bất biến của vũ trụ, coi mọi biến động diễn ra trong vũ trụ chỉ là một vòng luân chuyển tuần hoàn, tan hợp hợp tan Cùng với nó còn là quan niệm về tính thống

nhất của thế giới, của tam tài - thiên địa nhân- với thuyết “thiên nhân tương dử“ hay “thiên nhân hợp nhất“( trổi v¯ ngưổi quan hệ mật thiết với nhau), đúng nh- câu nói của Trang Tử: “Thiên đÛa dử ng± tÛnh sinh, v³n vật dử ng± vi nhất“ ( Trổi

đất cùng sinh ra với ta, vạn vật với ta chỉ là một) Quan niệm ấy đã chi phối mạnh

mẽ tới các hoạt động của con ng-ời, kể cả lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật

Nh- một hệ quả tất yếu của quan niệm trên, một ph-ơng thức cấu tứ phổ

biễn cùa thơ Đưộng l¯ “xác lập tính đồng nhất của những hiện t-ợng mà giác quan cho l¯ đọi lập nhau“ nh- sống và chết, vô cùng và hữu hạn, hiện tại và quá khứ,

động và tĩnh…

Trong thơ luật, ph-ơng thức cấu tứ này đ-ợc sử dụng với một mức độ đậm

đặc V-ơng Duy trong bài “Điểu minh gi°n” đ± thỗng nhất hai ph³m trợ đỗi lập

đống v¯ tĩnh trong mốt mỗi quan hế biến chửng T²c gi° dợng đống, c²i “giật mình” cùa chim nủi “khi ánh trăng ló lên” đề lốt t° không khí tĩnh mịch đến tuyệt

đối của đêm rừng Nhờ khung cảnh ấy mà ng-ời đọc mới có thể cảm nhận đ-ợc cái

cử động “giật mình“ rất mơ hồ của con chim, mới có một hình dung cụ thể về sự

lan toả trong không gian của tiếng chim vang lên từ khe núi:

Nguyệt xuất kinh sơn điểu Thời minh tại giản trung

Cách cấu tứ từ sự thống nhất hai mặt đối lập động - tĩnh có ảnh h-ởng rất sâu rộng Trần Đăng Khoa ngay từ khi còn rất nhỏ đã viết đ-ợc những câu thơ vào loại tuyệt hay:

Ngoài thềm rơi chiếc lá đa

Trang 27

Tiếng rơi rất mỏng nh- là rơi nghiêng

(Đêm Côn Sơn)

“Xuân oán” cùa Kim Xương Tữ l¯ sữ đỗi lập - đồng nhất giữa mộng và thực Cðng vậy, “Sơn phòng xuân sự” cùa Sầm Tham l³i l¯ sữ đỗi lập qủa khử - “ng-ời đã

đi hết” – vỡi hiến t³i chì còn thấy “quạ bay tới tấp”, “xơ xác vài ba nhà” Nhộ

vậy, nỗi niềm luyến tiếc quá khứ đ-ợc tỏ bày cùng thái độ không chấp nhận thực tại khách quan của tác giả Trên thực tế, cây hôm nay không nở đ-ợc hoa x-a nh-ng ở đây, v-ợt lên sự chi phối của quy luật khách quan, cây của Sầm Tham

“mùa xuân về còn nở những bông hoa x-a” (Xuân lai hoàn phát cựu thời hoa) Từ

đây, ta cõ thêm lí do đề hiều vẹ câu thơ cùa Tam Nguyên Yên Đồ: “Mấy chùm trước dậu hoa năm ngo²i“

Thơ cổ phong bên cạnh việc xác định tính cụ thể đến tỉ mỉ trong phản ánh hiện thực đời sống và tâm trạng còn tìm cách đạt đến sự khái quát, hàm súc cao nên

tất yễu cðng vận dũng thao t²c “xác lập tính đồng nhất của những mặt mà giác quan cho là đối lập” v¯o viếc cấu t³o tử thơ Cõ thề dẫn ra rất nhiẹu ví dũ trong thơ

cổ phong về ph-ơng thức cấu tứ này

Lí B³ch trong “Nguyệt hạ độc ch-ớc” đ± đọng nhất ho² con ngưội vỡi vầng

trăng Đang trong trạng thái cô đơn:

Hoa gian nhất hồ tửu

Độc ch-ớc vô t-ơng thân

bỗng nhiên trích tiên phát hiện ra một ng-ời bạn - vầng trăng Từ đó, vầng trăng bầu bạn, sẻ chia mói “ưu ho³n” cợng thi nhân:

Tỉnh thì đồng giao hoan, Tuý hậu các phân tán

Vĩnh kết vô tình du, T-ơng kì điểu Vân Hán

(Lúc tỉnh cùng nhau vui, Say rồi đều phân tán Gắn bó cuộc vong tình, Hẹn nhau tít Vân Hán.)

Ta bắt gặp hiến tướng tương tữ ờ “Khách trung nguyệt” cùa B³ch L³c

Thiên Trên suốt dọc hành trình dằng dặc từ Giang Nam đến Tr-ờng An, trăng trở

th¯nh ngưội b³n đọng h¯nh thân thiễt, cợng “hành” (đi), “túc” (nghì), “trục” (đuồi

theo), nhờ đó xoá mờ đi cảm giác đơn côi, lủi thủi của con ng-ời trên dặm đ-ờng tr-ờng:

Hiểu tuý tàn nguyệt hành Tịch dữ tân nguyệt túc Thuỳ vị nguyệt vô tình?

Thiên lí viễn t-ơng trục (Có khi ban mai đi d-ới ánh trăng lặn Có khi ban đêm nghỉ giữa lúc mặt trăng vừa ló lên Ai bảo trăng không có tình? Nghìn dặm xa nhau vẫn theo nhau mãi)

Trang 28

Trần Tử Ngang trong “Đăng Châu U đ¯i ca” đ± mờ rống giỡi h³n đễn sữ

đọng nhất con ngưội vỡi nhừng đ³i lướng lỡn cùa vð trũ: “thiên - địa” (không gian),

“tiền - hậu” (thội gian) Thông qua sữ kễt hớp cùa bỗn yễu tỗ n¯y m¯ t²c gi° đ± t³o

dựng nên “phông” không - thời gian mênh mông, lại giãn nở không ngừng đến vô h³n định Trên “phông nẹn” ấy xuất hiến hệnh °nh con ngưội lÍ loi, đơn đốc, trờ thành một sự đối lập gay gắt Có thể nhận rõ điều này hơn qua sự mô hình hoá của

t²c gi° “Thi pháp thơ Đ-ờng”:

[14, 40] Tuy nhiên sự đối lập ở đây là sự đối lập trong sự đồng nhất Chúng ta có cảm giác trong t-ơng quan với vũ trụ, con ng-ời cứ dần đ-ợc lớn lên và khả năng

giao c°m cùa nõ vỡi vð trũ bao quanh l¯ vô giỡi h³n, cõ thề tệm l³i qu² khử “ hậu”, vươn tỡi tương lai “tiền” đề cõ mặt khắp “thiên địa chi du du”, ôm trợm trong lòng mọi yếu tố của vũ trụ Ta hiểu hơn câu nói của Mạnh Tụ: “Vạn vật giai bị - ngã” (Vạn vật đều có đầy đủ ở trong ta) qua sự đồng nhất đó

Phân tích b¯i “Xuân tử” cùa Lí B³ch, nh¯ nghiên cửu Phan Ngóc đ± chì ra

hiến tướng đọng nhất nhiẹu lần trong mốt b¯i thơ: “cái nhìn thống nhất lại những mâu thuẫn cứ xuất hiện lần này đến l-ợt khác, làm ng-ời ta suy nghĩ, và những lần nh- vậy lại tìm ra một mối quan hệ mới” [24, 157] Chủng ta tệm thấy hiến tướng n¯y trong nhiẹu b¯i thơ cồ phong m¯ “Bá tửu vấn nguyệt” cùa thi tiên kh² tiêu biều Lần thứ nhất từ sự đối lập của ng-ời và trăng: “nhân phan minh nguyệt bất kh°

đắc“(Ngưổi không thể với lên mặt trăng), t²c gi° đi đễn sữ đọng nhất: “Nguyệt hành kh-ớc dữ nhân t-ơng tuỳ” (Trăng đi vẫn theo ng-ời) Qua hình t-ợng trăng

đ-ợc đồng nhất với ng-ời mà tiến hành đồng nhất lần thứ hai- quá khứ và hiện tại Quá khứ thuộc về cái đã qua không tìm thấy đ-ợc:

Kim nhân bất kiến cổ thời nguyệt (Ng-ời nay không thấy trăng ngày x-a)

đã đ-ợc đồng nhất, đồng hiện:

Kim nguyệt tằng kinh chiếu cổ nhân

Cổ nhân, kim nhân nh-ợc l-u thuỷ Cộng khan minh nguyệt giai nh- thuở

Độc Thiên

Địa

Trang 29

(Trăng thời nay từng chiếu ng-ời thời x-a Ng-ời x-a ng-ời nay nh- n-ớc chảy, Cùng ngắm trăng sáng đều nh- vậy)

Chính ph-ơng thức cấu tạo tứ thơ trên đã đặt các chi tiết, hình ảnh trong thơ

cổ phong vào các mối quan hệ Từ đó nó cho phép thi nhân tạo nên những khoảng

“đửt nỗi” cùa m³ch thơ ““Đữt“ nghÙa l¯ dụng không miêu t°, chuyển sang c²i mới m¯ không liên hệ với c²i củ “Nọi“ nghÙa l¯ qua c²i ngụng ngắt không nòi

đến ấy, lại thấy mối liên hệ bền chắc bên trong tứ thơ và b-ớc nhảy vọt chuyển hẳn sang cấp đồ mới, cao hơn, sâu hơn về hình tượng, ý tưỗng thơ“ [3] Do đó đọc thơ,

ta n-ơng theo các mối quan hệ để phăn lần ra ý nghĩa không đ-ợc nói đến trong thơ

(ý tại ngôn ngoại)

2.2.2 Cấu tạo tứ thơ theo diễn biến sự kiện, tâm trạng

Thơ cổ phong với đặc tr-ng riêng, có khả năng bám sát và tái hiện chân thực, cụ thể bức tranh xã hội và tâm trạng của con ng-ời Do đó bên cạnh ph-ơng

thức cấu tứ “x²c đÛnh tÚnh đỏng nhất cða nhửng mặt m¯ gi²c quan cho l¯ đọi lập“, thơ cổ phong phải tìm kiếm một ph-ơng thức cấu tứ thực sự phù hợp với, đáp

ứng đ-ợc yêu cầu trên Đó chính là ph-ơng thức cấu tứ theo diễn biến sự kiện, tâm trạng Đây là ph-ơng thức cấu tứ đặc tr-ng nhất của thơ cổ phong

Với những bài thơ cổ phong giàu tính tự sự, tứ thơ đ-ợc triển khai theo trình tữ diển biển lôgic cùa “cỗt truyến” Tất nhiên kh²c vỡi thề lo³i tữ sữ đích thữc, “cỗt truyến” trong thơ cồ phong, dợ cõ vÍ đép nối t³i, song thữc chất chì l¯ c²i cỡ đề nh¯

thơ bốc lố nối tâm nh´m “in dấu trái tim mình v¯o tr²i tim đồc gi° tri âm“(DÙ tâm truyền tâm) Chính vì vậy cốt truyện không bao gồm đầy đủ các chi tiết, biến cố mà

phải qua sự sàng lọc, gạt bỏ yếu tố d-, chỉ giữ lại những gì vừa đủ làm cơ sở cho việc bộc lộ xúc cảm của thi nhân

“Tì b¯ h¯nh” cùa B³ch C- Dị là tác phẩm điển hình cho loại này Đây là

câu chuyện về cuộc đời tài hoa mà bất hạnh của một ca nữ Nàng xuất hiện trong khung cảnh bến vắng sông trôi, thu quạnh, lau buồn ở Tầm D-ơng khi Bạch C- Dị

đ-a tiễn bạn Chính tiếng đàn văng vẳng của nàng khiến cho: “chð khuây kho° l³i, kh²ch dùng d´ng xuôi“, dọn thêm tiệc r-ợu mời nàng gặp mặt, gảy đàn Tiếp đó,

tác phẩm đi vào miêu tả tài đàn của ng-ời ca nữ một cách tỉ mỉ

Sau quá trình diễn tấu là lời thuật kể về cuộc đời bất hạnh của ng-ời ca nữ - kiếp ng-ời hồng nhan, bạc mệnh Nó là sự minh chứng cho tiếng đàn ai oán, não

ruốt cùa n¯ng “Cỗt truyến” hấp dẫn trong “Tì bà hành” chì giừ chửc năng dẫn dắt,

khêu gợi cảm xúc của tác giả Chứng cớ là mạch truyện không d-ợc triển khai liên tũc m¯ bị “ph² ngang” đề nhân vật trừ tệnh hiến diến phô b¯y nối tâm (sữ c°m thông cho ng-ời và th-ơng cảm cảm cho mình) sau đó mới quay lại thừa tiếp sự mô tả cái tài hoa của ng-ời ca nữ …Lối cấu tứ này đã ảnh h-ởng rất mạnh đến Nguyễn

Du trong tác phẩm “Long th¯nh cầm gi° ca“

Tất nhiên không phải ở bài thơ cổ phong giàu tính tự sự nào cũng có lối cấu

tử như “ Tỳ bà hành” Trên thữc tễ cõ nhiẹu b¯i, t²c gi° tú đầu chí cuỗi không hẹ

Trang 30

xuất hiện, chỉ đóng vai trò ng-ời nhận biết tất cả, thuật kể lại sự việc một cách trọn

vẹn theo m³ch trôi ch°y kh²ch quan cùa nõ như “Thạch Hào lại”, hay “Trưổng can h¯nh“ …

“Trưổng can h¯nh“ của Lý Bạch là câu chuyện tình cảm động của đôi vợ

chồng trẻ ven bờ Tr-ờng Can Câu chuyện đ-ợc phơi mở tr-ớc hết bằng hồi ức thời

“đôi lữa“ còn thiếu niên với bao trò chơi đầy tinh nghịch và lãng mạn:

Thiếp phát sơ phú ngạch Chiết hoa môn tiền kịch Lang kị trúc mã lai Nhiễu sàng lộng thanh mai ( Em khi tóc mới xoà ngang trán, Bẻ hoa tr-ớc cửa nhà chơi Anh c-ỡi ngựa bằng tre đến, Quanh gi-ờng nghịch ném quả mơ)

Tiếp đó là hồi ức về cuộc sống vợ chồng với quá trình thay đổi tâm lý diệu

kỳ nơi ng-ời con gái, từ lúc m-ời bốn tuổi mới về nhà chồng đang còn:

Tu nhan vị th-ờng khai

Đê đầu h-ớng ám bích Thiên hoán bất nhất hồi (Mặt thẹn thò không lúc nào t-ơi Cúi đầu ngoảnh vào vách tối Gọi ngàn câu không đáp lại một lời)

Đến sau một năm chung sống cô dần thích ứng với cuộc sống mới, tình yêu

đỗi vỡi chọng ng¯y mốt nọng đướm “nguyện sống chết không lìa nhau” (nguyện

đồng trần dữ hôi) Chính lúc hạnh phúc đ-ơng thăng hoa đến tột đỉnh, đôi lứa lại phải chia lìa Biết bao lo lắng về sự hiểm nguy của chồng trên hành trình v-ợt “Cỏ

Đưổng“, “Diễm Dứ“ đầy sóng cả, đá ngầm Biết bao nhớ th-ơng da diết đang cồn dâng từng từng lớp lớp trong tâm hồn nàng Nhớ từ “dấu chân bước d³o trước cừa khi xưa“ còn in trên rêu (Môn tiền trì hành tích) Nhớ ngày đôi lứa còn kề cận nh-

đàn b-ớm vàng tháng tám dập dìu từng đôi trên thảm cỏ v-ờn tây Nỗi nhớ th-ơng

tàn phá nhan sắc, nàng ngày một hao gầy (Tọa sầu hồng nhan lão) Cuối cùng, bài

thơ đi vào miêu tả khát vọng khẩn thiết chồng sớm trở về:

Tảo vãn há Tam Ba,

Nh- vậy, từ đầu đến cuối bài thơ, chúng ta không hề thấy “trÚch tiên“ xuất

hiện ở đây, nhà thơ chỉ đơn thuần làm cái việc ghi âm, ghi hình sự việc diễn ra trong hiện thực khách quan để tự nó toát lên ý nghĩa Nhưng chính sữ “im lặng”

Trang 31

này đã bao hàm thái độ của nhà thơ Đó là sự cảm thông, chia sẻ với nỗi bất hạnh

và khát vọng hạnh phúc của nhân vật

Một số bài thơ, tác giả trực tiếp giãi bày tâm sự bằng những cung bậc cảm xúc từng từng lớp lớp gối lên nhau nh- những đợt sóng xô, trạng thái cảm xúc này xui gọi cảm giác, cảm xúc khác cận kề với nó Qua đó cho ng-ời đọc nhận thức

đ-ợc bức tranh tâm trạng hoàn chỉnh của thi nhân “Tuyên châu T³ Diểu lâu tiễn biệt hiệu thư Thũc Vân“, “H¯nh lồ nan“ của Lý Bạch, “Tọng Dương thÛ nử“ của

Vi ứng Vật, “Mồng Lý B³ch“ của Đỗ Phủ là những bài nh- vậy Với Lý Bạch trong “Tuyên châu T³ Diểu lâu tiễn biệt hiệu thư Thũc Vân“ là niềm luyến tiếc

quá khứ không thể giữ lại, thời Khai Nguyên thịnh trị mà tác giả ch-a thực hiện

đ-ợc lý t-ởng, là những lo buồn về thân phận trong hiện tại (Loạn ngã tâm giả, kim nhật chi nhật đa phiền -u) Các cung bậc cảm xúc này dẫn dụ, dồn đẩy cái hận, cái

sầu đến tột đỉnh:

Trừu đao đoạn thuỷ, thuỷ cách l-u

Cử bôi tiêu sầu, sầu cách sầu (Rút dao chém n-ớc, n-ớc cứ chảy, Nghiêng chén tiêu sầu, sầu càng sầu) Cuối cùng là kiếm tìm biện pháp giải toả: Minh chiêu tản phát lộng biên châu (Sớm mai xoã tóc c-ỡi thuyền chơi) Qua đó ta thấy thế giới nội tâm phức tạp,

đau khổ của nhà thơ

Đỗ Phủ trong “Mồng Lý B³ch“ cũng phô bày trực tiếp cõi lòng mình

Khởi đầu là nỗi xót xa cho tình cảnh ly biệt của đôi bạn tri âm: Lý - Đỗ Kế đó là nỗi nhớ in dấu cả vào giấc mơ tiếp liền nỗi lo lắng cho Lý Bạch trên hành trình dài dặc với bao khó khăn, nguy hiểm đón đợi Khép lại là lời cầu chúc cho bạn gặp an

lành: “Vô sừ giao long đắc“ (Chũc b²c tho²t được miệng thuỏng luỏng) Những

cung bậc cảm xúc trên đây đ-ợc bộc lộ một cách tự nhiên, trung thực và xúc động nh-ng sự bộc lộ ở đây hoàn toàn không theo kiểu tự nhiên chủ nghĩa, có thế nào nói tuột ra thế ấy, mà nó đi liền với sự chiên nghiệm sâu sắc những gì đang diễn ra trong lòng mình Chỉ riêng việc nhà thơ gọi đúng tên các trạng thái cảm xúc của mình cũng đủ chứng tỏ sự tồn tại song song hai hành động bộc lộ mình và nhận thức ra mình ấy Đ-ơng nhiên, lối trữ phát tâm tình này không nhiều trong thơ cổ

phong cũng nh- thơ ca trung đại bởi đây là “thổi đ³i cða chử ta“ (Hoài Thanh),

“Con ngưổi chưa t²ch khíi tứ nhiên củng như chưa t²ch khíi cồng đỏng với tư cách một cá nhân“ [52, 179] Điều này chỉ hạn hữu ở những cây bút tầm cỡ vĩ đại,

những tính cách vĩ đại luôn tìm cách v-ợt thoát khỏi đám đông mờ mờ nhân ảnh đó

đề khàng định t¯i năng, địa vị cùa mệnh kiều “trÚch tiên“ Lý Bạch

Trong việc phản ánh bức tranh tâm trạng, hình thức phổ biến nhất, diễn ra th-ờng xuyên nhất là bộc lộ tâm trạng gián tiếp Có khi sự bộc lộ tâm trạng hoàn toàn gián tiếp thông qua việc kí gửi vào những hình ảnh mang đặc điểm t-ơng

đồng Tr-ơng Cửu Linh trong “C°m ngồ“ thông qua miêu tả vẻ đẹp cứng cỏi của

Trang 32

giống Đan Quất ở ph-ơng nam (Giang nam hữu Đan Quất) mà ngợi ca, khẳng định

phẩm chất cứng cỏi của ng-ời quân tử:

Kinh đông do lục lâm, Khởi y địa khí noãn

(Trải qua mùa đông vẫn tốt xanh, Há đâu phải nhờ khí trời ấm áp)

Có khi các cung bậc cảm xúc đ-ợc bày tỏ gián tiếp qua cấu trúc: Tr-ớc hết miêu tả bức tranh thiên nhiên hữu tình, sau đó làm rõ hơn bằng phô bày trực tiếp

tâm tr³ng B¯i “Thanh Khê” cùa Vương Duy, t²m câu đầu miêu t° kh² tì mì khung c°nh đép đẻ, tho²t tũc cùa Thanh Khê vỡi “những dãy núi quanh co”, “Tiếng n-ớc huyên náo trong đá lốc nhốc”, “Hàng thông đứng lặng xanh thâm trầm”, “Lồng bồng từng đám rau lăng, rau hạnh, lung linh bóng đám lau, đám sậy…” Bỗn câu

cuối, tác giả giãi bày tình cảm của mình Đó là sự t-ơng hợp, cộng h-ởng giữa lòng ng-ời và khung cảnh:

Ngã tâm tố dĩ nhân, Thanh xuyên đạm nh- thử

Thỉnh l-u bán thạch th-ợng, Thuỷ điếu t-ơng dĩ hĩ

(Lòng ta vốn -a nhàn, Mà Thanh Khê điềm đạm đến thế Ngồi mãi trên bàn

đá, Buông câu hỏi còn gì hơn đ-ợc)

Trật tự này cũng có thể đ-ợc hoán đổi: giãi bày tâm trạng tr-ớc rồi tiếp đó

mỡi miêu t° bửc tranh thiên nhiên l¯m nẹn Liểu Tông Nguyên trong “Khê Cư“ trưỡc hễt phơi b¯y tâm tr³ng “khoan khoái” bời “may đ-ợc đày xuống nơi hoang rợ ph-ơng nam” tho²t khài sữ “trói buộc của đai mũ”:

Cửu vị trâm tổ thúc Hạnh thử nam di trích

Sau đó mới đi miêu tả khung cảnh nơi bị biếm trích làm nền tô đậm cảm

xủc “khoan khoái” ờ trên Trần Đệnh Sụ, vẹ vấn đẹ n¯y, đ± cõ lý gi°i thích đ²ng:

“Thơ cổ điển là sự giao hoà tâm vật, t-ơng sinh, t-ơng thành, hô ứng Bài thơ bắt

đầu từ cảnh, vật, đến tâm cảnh, đến chí thì kết thúc Hoặc ng-ợc lại, bắt đầu từ tình, chí, qua tâm cảnh tới cảnh vật tr-ớc mắt thì kết” [39, 16]

Cũng có khi, hai yếu tố này gắn bó, hoà quyện với nhau: “Tình trong c°nh

ấy, cảnh trong tình n¯y“nh- “Mồng du Thiên Mú ngâm lưu biệt” cùa Lý B³ch

Bài thơ phản ánh tình cảm t- t-ởng phức tạp và trạng thái tâm lý mâu thuẫn của nhà thơ Trong giấc mộng, tác giả du ngoạn núi Thiên Mụ xinh đẹp, hùng vĩ:

Thiên Mụ liên thiên h-ớng thiên hoành, Thế bạt ngũ nhạc, yểm xích thành

Thiên thai nhất vạn bát thiên tr-ợng,

Đối thủ dục đải đông nam khuynh

Trang 33

(Núi Thiên Mụ liền trời chắn ngang trời xanh, Hình thế v-ợt dải Ngũ Nhạc, che lấp ngọn Xích Thành Núi Thiên Thai cao một vạn tám ngàn tr-ợng, Tr-ớc núi này muốn ngã xuống nghiêng về phía đông nam.)

Lên núi Thiên Mụ, Lý Bạch đi vào thế giới thần tiên với bao ảo cảnh, kì

tình: n-ớc dập dềnh, v-ợn kêu lanh lảnh (Lục thuỷ đăng dạng thanh viên đề) Đêm

xuống trên đỉnh Thiên Thai nham tuyền chấn động với gấu đen rống, giao long gầm, mây đen muốn đổ m-a, n-ớc chảy bốc khói, ánh điện chớp lóe, sự sụt lở của núi gò Kế đó, động tiên mở ra với cuộc sống tự do, vui vẻ:

Thanh minh hạo bất đãng bất kiến để Nhật nguyệt chiếu diệu kim ngân đài

Nghê vi y hề phong vi mã, Vân chi quân hề phân phân nhi lai há

Hổ cổ sắt hề loan hồi xa, Tiên chi nhân hề liệt nh- ma

(Vòm xanh thẳm mênh mang không thấy đáy, Mặt trời, mặt trăng chiếu sáng lầu bạc gác vàng Cầu vồng làm áo, gió làm ngựa, Thần mây bay xuống rộn ràng Hổ gấm gảy đàn, chim loan kéo xe, Ng-ời tiên đông nh- kiến cỏ.)

Cuộc sống của cõi tiên ở núi Thiên Mụ là -ớc mơ về một cuộc sống tự do phóng khoáng, chỉ có cái đẹp tồn tại Giấc mộng ấy đối lập gay gắt với thực tại dẫn

đến sự tuôn chảy của mạch cảm xúc, sự phô bày khí tiết cứng cỏi:

An năng tồi mi chiết yêu sự quyền quý,

Sử ngã bất đắc khai tâm nhan

(Há chịu cúi đầu, khom l-ng thờ phụng bọn quyền quý; Khiến ta không sao

mở mặt, mở lòng)

Bài thơ tuy biến hoá thiên hình vạn trạng nh-ng do sự liên hệ ẩn ý bên trong

mà các cung bậc cảm xúc đ-ợc tiếp liền cho ta hình dung rõ nét về bức tranh tâm trạng của tác giả

Nhờ hai ph-ơng thức cấu tứ cơ bản trên, các hình ảnh trong thơ cổ phong đã

đ-ợc xâu chuỗi, nối kết thành hình t-ợng nghệ thuật hoàn chỉnh Đến l-ợt nó, hình

tướng ph°i đước “mã hoá” b´ng hế thỗng ngôn ngừ tương ửng

2.3 Ngôn ngữ

“Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” Ngôn ngừ chính l¯ phương tiến

chuyên chở, biểu đạt mọi t- t-ởng, tình cảm của ng-ời nghệ sĩ Nếu không có ngôn ngữ, cho dù đứng tr-ớc một hiện thực có đủ sức đánh động, lay thức những xúc cảm đa dạng trong tâm hồn, đủ sức róng lên những ý hay, tứ lạ trong t- duy nghệ

sĩ, thì tất cả vẫn trở nên vô hiệu Hơn một phạm vi nào hết, ở ngôn ngữ, quy luật về mối quan hệ giữa nội dung và hình thức đ-ợc thể hiện một cách đầy đủ và tinh tế nhất thông qua những hình thái xâm nhập và chuyển hoá lẫn nhau Xét từ góc độ

thề lo³i, ngôn ngừ cðng cõ sữ thỗng hớp tương ửng, đủng như t²c gi° “Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học” đ± viễt: “Cùng một chủ đề, cùng cảm hứng,

Trang 34

nh-ng khi nó đ-ợc thể hiện bằng những thể loại khác nhau thì lập tức phong cách ngôn ngử giửa chũng không thể đỏng nhất như nhau“ [19, 123] Thơ Đ-ờng cũng

vậy, t-ơng ứng với hai thể loại cơ bản (thơ luật và thơ cổ phong) ngôn ngữ thơ đ-ợc tập hợp theo hai tr-ờng, hai hệ thống với sự khu biệt khá rõ Do đó, nghiên cứu ngôn ngữ thơ cổ phong chính là một h-ớng quan trọng để chúng tôi có thể tiến gần hơn đến đặc tr-ng nghệ thuật của thể loại Do hạn chế về trình độ Hán ngữ mà ng-ời viết ch-a có điều kiện tự tìm tòi, phát hiện mà chủ yếu tổng hợp các kết quả nghiên cứu đã có vào việc tìm hiểu đặc tr-ng nghệ thuật thơ cổ phong trên bình diện ngôn ngữ ở các cấp độ: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp

về ngữ âm, thơ cận thể lấy sự cân đối, hài hoà làm tiêu chí hàng đầu Điều này thể

hiến đặc biết rỏ trong quy định vẹ phỗi thanh qua nguyên tắc: “nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh” Chính sữ quy định chặt chẻ vẹ phỗi thanh ờ c²c chừ hai , bốn, sáu trong câu đã tạo nên “đĩn cân thanh điệu”, t³o vÍ đép cân xửng h¯i

hoà:

Mặc dợ cõ sữ “thông tho²ng” trong “gới ý”: “nhất tam ngũ bất luận”,

nh-ng thực ra xét trên tổng thể bài thơ, số l-ợng thanh bằng, thanh trắc th-ờng b´ng nhau (điẹu n¯y đủng vỡi c° nhừng b¯i thơ “ph² luật”) T²c gi° chuyên luận

“Thi ph²p thơ Đưổng” đ± thỗng kê: t²m“ B¯i thất ngôn b²t cũ cò hai t²m thanh bằng, hai tám thanh trắc; trong bài ngũ ngôn bát cú có hai m-ơi thanh bằng, hai m-ơi thanh trắc Trong bài thất ngôn tuyệt cú có m-ời bốn thanh bằng, m-ời bốn thanh trắc; trong bài ngũ ngôn tuyệt cú có m-ời thanh bằng, m-ời thanh trắc”

[14, 260]

Có sự quy định này là do thơ cận thể th-ờng miêu tả những hình ảnh có vẻ

đẹp hài hoà, cân đối, thể hiện những trạng thái tình cảm tĩnh lặng, u trầm Chính nội dung này đã quy định hình thức t-ơng ứng trên

Thể loại cổ phong lại khác Để diễn tả đ-ợc một cách hiệu quả các cung bậc cảm xúc phong phú, các chi tiết ngổn ngang, bề bộn của hiện thực cuộc sống, nó phải phá vỡ quy luật hài hoà về âm thanh của thơ cận thể, thay vào đó là thanh âm của chính cuộc đời với những biến thái đa dạng Do vậy, trong thơ cổ phong phần nhiều sử dụng thanh trắc, vần trắc hoặc phối kết bằng trắc với nhau

Trang 35

Phân tích sữ phỗi thanh trong b¯i “Vịnh điền gia” cùa Nhiễp Di Trung, ta thấy:

Nhị nguyệt mại tân ti,

T T T B B Ngũ nguyệt thiếu tân cốc

T T T B T

Y đắc nhãn tiền sang,

B T T B B Uyển kh-ớc tâm đầu nhục

T T B B T Ngã nguyện quân v-ơng tâm,

Bài thơ có hai m-ơi ba thanh trắc trong khi chỉ có m-ời bảy thanh bằng đã t³o nên mốt thễ “²p đ°o” Bên c³nh đõ, vần gieo ờ c²c câu hai, bỗn, s²u, t²m to¯n

là vần trắc (cốc, nhục, chúc, ốc) tạo nên âm diệu mạnh mẽ của bài thơ, làm nổi bật nỗi khổ cực của ng-ời dân, nỗi uất nghẹn, đau đớn đến thắt ruột khi phải “b²n sớm tơ“, “b²n non thòc“ Từ đó, nỗi đau khoan xoáy vào trong lòng ng-òi đọc

T-ơng tự nh- vậy, Lí Thân đã dùng m-ời một thanh trắc trong khi chỉ dùng

chín thanh bằng ở bài thơ cổ phong:

Xuân chủng nhất lạp túc,

B T T T T Thu thu vạn khoả tử

B B T T T

Tứ hải vô nhàn điền,

T T B B B Nông dân do ngã tử

B B B T T (Ngày xuân gieo một hạt thóc, Mùa thu gặt d-ợc muôn hạt Khắp nơi không

có ruộng bỏ không, (Thế mà) nông dân vẫn bao ng-ời chết đói.)

Trang 36

Sự phá vỡ “đĩn cân thanh điệu” ờ đây đ± diển t° nổi đau cùa ngưội dân khi

bị đặt trong nghịch c°nh: mốt bên l¯ sữ chăm chì “khắp nơi không bỏ ruộng không”, v¯ vũ mợa bối thu “ngày xuân gieo một hạt thóc “ mùa thu gặt đ-ợc muôn h³t“ vỡi c°nh “bao ng-ời chết đói” Lội tỗ c²o do đõ c¯ng cõ sửc nặng

Mới chỉ xét những bài thơ cổ phong có dung l-ợng t-ơng đ-ơng thơ luật, chúng ta đã nhận rõ sự khác biệt giữa chúng về mặt ngữ âm Đối với những bài thơ

cổ phong có dung l-ợng lớn hơn như “M³i th²n ông“ (B³ch Cư DÛ), “ Chữc phú tụ“ (Nguyên Chẩn), “ Tượng uẩn th²n“ (Bì Nhật Hưu), “Th³ch H¯o l³i“ (Đó Phủ)…sự thay đổi về mặt ngữ âm trong bài thơ càng biến hoá linh hoạt, phong phú,

do đó rất cõ t²c dũng trong chuyền t°i nối dung Ví như trong “Thạch Hào lại”, đề diển t° tư thễ ung dung, bệnh tĩnh cùa b¯ l±o trong h¯nh đống “xuất khan môn“,

Đỗ Phủ đã dùng lối gieo vần bằng (thôn, môn) Nh-ng diễn tả cái nạt nộ của viên lại, lời van xin khổ não của bà lão, nhà thơ chuyển dùng vần trắc (nộ, khổ) Đặc biệt ở cuối bài, việc sử dụng vần trắc với chung âm là phụ âm tắc (tuyệt, yết, biệt)

đã lột tả đ-ợc không khí vắng lặng đến tuyệt đối của đêm khuya, âm thanh cố nén của tiếng khóc mà nó cứ bật lên ấm ức trong lồng ngực của ng-ời chứng kiến cảnh vét lính tàn bạo vừa diễn ra

2.3.2 Từ vựng

Cũng nh- ngữ âm, t-ơng ứng với đặc tr-ng mỗi thể loại mà hệ từ vựng khu biệt thành hai tr-ờng Sự khu biệt này thấm đến từng cấp độ của hệ thống- thực từ (danh, động, tính…) và h- từ Tuy nhiên, rõ nhất vẫn là thể hiện qua việc sử dụng danh từ và động từ của mỗi thể loại

Thơ luật -a dùng danh từ trong phản ánh và biểu hiện Bởi lẽ, trong bản chất của từ loại, danh từ là những từ chỉ khái niệm, do đó có tính khái quát rất cao Nh-ng ngay trong bản thân từ loại này, thơ cận thể rất ít dùng (nếu không muốn nói là loại trừ) các danh từ riêng chỉ sự vật cụ thể Nó th-ờng sử dụng các danh từ

có tính khái quát lớn, những danh từ chung, danh từ chỉ loại Ta có thể nhận biết rõ

đặc điểm này qua sự so sánh việc sử dụng các danh từ trong “Kinh thi“ và thơ cận

thể

“Kinh thi“ đã sử dụng một vốn từ vựng rất phong phú để miêu tả hiện thực (chỉ xét danh từ) Để tả trăng, ngoài “nguyệt“, nó còn sử dụng các danh từ cụ thể: sóc (trăng mồng một), vọng (trăng rằm), lạn (trăng sáng), mông (trăng mờ)… Cũng nh- vậy, để tả núi, ngoài chữ “sơn“ chỉ loại, nó còn sử dụng các chữ: tồi ngôi (núi

đất trên có đá), th- (núi đá trên có đất), cao c-ơng (sống núi), kh-u (gò)… Phản ánh hiện thực nh- tả núi mà có sự phân biệt tồi ngôi (núi đất trên có đá) và th- (núi đá trên có đất) thật “Kinh thi“ đã rất dỗi tỉ mỉ

Trong thơ Đ-ờng, những danh từ mang sắc thái cá thể hoá sự vật đ-ợc thay thế bằng những danh từ không mang sắc thái cá thể Các loại trăng thống nhất

trong chữ “nguyệt“, hàng trăm ngọn núi đều đ-ợc thống nhất bởi chữ “sơn“…

Ng-ợc lại với thơ luật, thơ cổ phong để phản ánh d-ợc hiên thực với đầy đủ góc

Trang 37

cạnh của nó đã phổ dụng từ loại động từ Có sử dụng danh từ nh-ng với tần số ít

hơn và th-ờng thiên về dùng loại danh từ cụ thể nh- kiểu “Kinh thi“

Chúng ta cùng so sánh tần số xuất hiện của từ loại trong hai bài thơ sau để

l¯m rỏ ý trên B¯i “Th°o“ của Bạch C- Dị:

Ly ly nguyên th-ơng thảo, Nhất tuế nhất khô vinh

Dã hoả thiêu bất tận, Xuân phong xuy hựu sinh

Viễn ph-ơng xâm cố đạo, Tình thuý tiếp hoang thành

Hựu tống v-ơng tôn khứ, Thê thê mãn biệt tình

(Rậm rì cỏ trên đồng, Mỗi năm một lần khô rụng rồi lại t-ơi tốt Lửa đồng

đốt chẳng cháy hết, Hễ có gió xuân là lại mọc ngay Mơn mởn tận đằng xa, lấn cả mặt đ-ờng cũ, Màu xanh m-ớt liền với chân thành hoang Lại nhân buổi tiễn đ-a ng-ời bạn quý, Xanh t-ơi rờn rờn, thêm chan chứa mối tình li biệt.)

Bài thơ bốn m-ơi chữ mà chỉ có sáu động từ - chiếm 15% Nh-ng trong

“Vấn hữu” cũng của Bạch C- Dị, tình hình lại khác hẳn:

Chủng lan, bất chủng ngải, Lan sinh, ngải d-ợc sinh

Căn cai t-ơng giao tr-ởng, Hành diệp t-ơng phụ vinh

H-ơng hành giữ sú diệp, Nhật dạ câu tr-ởng đại

Xừ ngải khủng th-ơng lan, Khái lan khủng t- ngải

Lan diệc vị năng khái, Ngải diệc vị năng trừ

Trầm ngâm ý bất quyết, Vấn quân hợp hà nh-?

(Trồng lan, không trồng ngải, Lan mọc, ngải cũng mọc Rễ, mầm vắt lên nhau mà lớn, Rò, lá tựa vào nhau mà tốt t-ơi Rò thơm và lá hôi, Ngày đêm đua nhau cùng dài, lớn Nhổ ngải, sợ chột lan, T-ới lan e tốt ngải Rốt cuộc lan ch-a t-ới đ-ợc, Mà ngải cũng ch-a nhổ đi Ngẫm nghĩ mãi, ch-a quyết định ra sao, Hỏi bạn nên thế nào là phải?)

Bài thơ sáu m-ơi chữ mà có đến hai m-ơi động từ - chiếm trên 33%

Với cách sử dụng từ loại nh- trên, tất yếu đ-a đến sự khác biệt rất lớn của

“c²i đước ph°n ²nh” trong hai thề lo³i n¯y

Trang 38

Khảo sát m-ời bài luật thi (gồm tuyệt cú, bát cú ở cả dạng thất, ngũ ngôn):

“Đông bình lồ t²c“ (Cao Thích), “Dạ biệt vi t- sĩ” (Cao Thích), “Quy Chung Nam sơn” (M³nh H³o Nhiên), “Điểu minh gi°n” (Vương Duy), “Dạ bạc ng-u chử hoài cổ” (Lý B³ch), “Tây cung xuân oán” (Vương Xương Linh), “Giang Hán” (Đổ Phù),

“Thất thập dạ đối nguyệt” (Đổ Phù), “Giang hành, vô đề” (Tiẹn Khời), “Dạ th-ớng thụ hàng thành văn địch” (Lý ích), chúng tôi thấy, cả m-ời bài đều dùng duy nhất chừ “dạ” đề diển t° thội gian l¯m nẹn cho sữ kiến, c°m xủc đước ph°n ²nh trong

thơ Nhưng sang thề lo³i cồ phong, tệnh hệnh l³i kh²c hàn Chì cần qua “Th³ch H¯o l³i” cùa Đổ Phù, ta thấy rất rõ ở đây, thời gian đ-ợc tái hiện với cả quá trình

chuyền dịch cùa nõ: Tú “mồ“ (chiều tọi) đến “d³“ (ban đêm), “d³ cừu“ (đêm khuya), “thiên minh“ (r³ng s²ng), thật rạch ròi, tỷ mỉ, không kém gì cách miêu tả

của Kinh Thi

Cùng viết về đề tài thiên nhiên hay tả chân dung, nh- một hệ quả tất yếu của việc sử dụng từ ngữ nêu trên, trong thơ luật, cảnh và ng-ời hiện lên hết sức -ớc

lệ

Ta h±y xem Lý B³ch t° chân dung ngưội đép trong “Oán tình”:

Mĩ nhân quyển châu liêm Thâm toạ tần nga mi

Đãng kiến lệ nhân thấp Bất tri tâm hận thùy

(Ng-ời đẹp cuốn rèm châu; Lặng ngồi chau mày ngài; Chỉ thấy ngấn lệ -ớt; Chẳng biết lòng giận ai)

“Mỹ nhân” l¯ ngưội con g²i đép, còn vÍ đép cũ thề - không rỏ “Nga mi“ (mày ngài) cũng là một hình ảnh -ớc lệ Ước lệ đến cả cử chỉ, thái độ dịu dàng…

Tất nhiên, bức chân dung cũng có vẻ đẹp của nó Tuy không cụ thể nh-ng các hình

ảnh -ớc lệ cũng đủ sức đánh động trong liên t-ởng ng-ời đọc biết bao hình ảnh phong phú về ng-ời con gái đẹp

Trong “Mại thán ông”, B³ch Cư Dị đ± miêu tả chân dung ông lão bán than hết sức cụ thể:

Mại thán ông, Sạt tân thiêu than Nam Sơn trung

Mãn diệc trần khôn yên hoả sắc, L-ỡng mấn th-ơng th-ơng thập chỉ hắc

(Ông lão bán tha, Đốn củi than ở trong núi nam Mặt đầy tro bụi và khói

ám, Hai mái tóc hoa râm, m-ời ngón tay đen kịt,)

Nh- vậy, chính đặc tr-ng thể loại quy định thao tác sử dụng từ loại thích hợp và đến l-ợt nó, từ loại phát huy tác dụng, làm nổi bật -u thế riêng của thể cổ phong cũng nh- của luật thi

Ngày đăng: 17/07/2021, 11:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] D- Quan Anh, (chủ biên), Lịch sử văn học Trung Quốc, (hai tập), Lê Huy Tiêu… dịch, Nxb Giáo dục, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Trung Quốc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[2] Đào Duy Anh, Từ điển Hán Việt, Nxb Khoa học xã hội, H, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
[3] Phạm Hải Anh, Bút pháp chấm phá trong cấu tứ thơ Đ-ờng, TCVH, số 10/1994, tr 39- 42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bút pháp chấm phá trong cấu tứ thơ Đ-ờng
[4] Bakhtin, Những vấn đề thi pháp Đôxtôiexki, Trần Đình Sử … dịch, Nxb Giáo dục, H, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôxtôiexki
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[5] Cao Hữu Công, Mai Tổ Lân, Nghệ thuật ngôn ngữ thơ Đ-ờng, Trần Đình Sử, Lê Tẩm dịch, Nxb Văn học, H, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật ngôn ngữ thơ Đ-ờng
Nhà XB: Nxb Văn học
[6] Nguyễn Phan Cảnh, Ngôn ngữ thơ, Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, H, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Nhà XB: Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
[7] Tr-ơng Chính, Nguyễn Khắc Phi, Lịch sử văn học Trung Quốc, Nxb Giáo dục, H, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Trung Quốc
Tác giả: Tr-ơng Chính, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1987
[8] Phan Huy Dũng, Kết cấu thơ trữ tình (nhìn từ góc độ loại hình), Luận án tiến sĩ, chuyên nghành lý thuyết và lịch sử văn học, mã số: 5.04.01, H,1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết cấu thơ trữ tình (nhìn từ góc độ loại hình
[9] Nguyễn Sĩ Đại, Một số đặc tr-ng nghệ thuật thơ tứ tuyệt đời Đ-ờng, Nxb văn học, H, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc tr-ng nghệ thuật thơ tứ tuyệt đời Đ-ờng
Nhà XB: Nxb văn học
[10] Hà Minh Đức, Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại , Nxb văn học, H, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Nhà XB: Nxb văn học
[11] Đ-ờng thi tam bách thủ, Hành Đ-ờng thoái sĩ tuyển chọn, Trần Bá Anh bổ chú, Ngô Văn Phú dịch, Nxb Hội nhà văn, H, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đ-ờng thi tam bách thủ
Tác giả: Trần Bá Anh, Ngô Văn Phú
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2000
[12] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, (chủ biên), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia, H, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 1997
[13] D-ơng Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, Nxb Hội nhà văn, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
[14] Nguyễn Thị Bích Hải, Thi pháp thơ Đ-ờng, Nxb Thuận Hoá, Huế, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp thơ Đ-ờng
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hải
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá
Năm: 1995
[15] L-u Hiệp, Văn tâm điêu long, Phan Ngọc dịch, Nxb văn học, H, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn tâm điêu long
Nhà XB: Nxb văn học
[16] Đỗ Đức Hiểu… ,( chủ biên), Từ điển văn học, ( 2 tập), Nxb Khoa học xã hội, H, 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1984
[17] Ch-ơng Bồi Hoàn… , (chủ biên), Văn học sử Trung Quốc, ( 3 tập ), Phạm Công Đạt dịch, Nxb Phụ nữ, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học sử Trung Quốc
Tác giả: Ch-ơng Bồi Hoàn
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2000
[18] N. Konrat, Ph-ơng đông và Ph-ơng tây ( Những vấn đề triết học và triết học lịch sử, văn học đông và tây), Trịnh Bá Đĩnh dịch, Nxb Giáo dục, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ph-ơng đông và Ph-ơng tây ( Những vấn đề triết học và triết học lịch sử, văn học đông và tây)
Tác giả: N. Konrat
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
[19] Nguyễn Lai, Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học, Nxb Giáo dôc, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dôc
[20] Lixêvich, T- t-ởng văn học cổ Trung Quốc, Trần Đình Sử dịch, Nxb Giáo dục, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: t-ởng văn học cổ Trung Quốc
Tác giả: Lixêvich, Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w