K Ế T C Â U CỦA Đ Ề TÀI Đ ề tài nghiên cứu dài 195 trang, ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, lội dung chính của đề tài thể hiện ở hai chương : Chương 1: Thực trạng huy động và sử
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TE THÀNH PHỐ Hồ CHÍ MINH
ĐỂ TÀI NGHIÊN c ứ u KHOA HỌC CẤP BỘ
HUY ĐỘNG VÀ sử DỤNG VỐN Đáu Tơ
PHỤC vụ Sự NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA
TRÊN ĐỊA BÀN TP Hồ CHÍ NINH
MÃ SỐ: B 2000 - 22 - 53
TS : VŨ THỊ MINH HANG [THU VI "É
Trang 4
1.1 H i ệ n trạng kinh tế xã hội TP H ụ Chí Minh 3
1.2 Thực trạng huy động vốn đầu tư phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hóa trên địa bàn TP.HỒ Chí Minh từ n ă m 1996 đến n ă m 2000 9
1.2.1 Thực trạng huy động vốn đầu tư trong nước 9
1.2.2 Thực trạng huy động vốn đầu tư nước ngoài 35
1.3 Thực trạng phân bổ và sử dụng vốn đầu tư 50
1.3.1 Thực trạng phân bổ và sử dụng vốn theo khu vực kinh t ế 5 1
1.3.2 Thực trạng phân bổ và sử dụng v ố n theo nguồn hình thành 67
1.3.3 Thực trạng phân bổ và sử dụng v ố n theo thành phần kinh t ế 74
đầu tư phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa trên địa bàn TP H ụ Chí
M i n h từ n ă m 1996 đến n ă m 2000 80
1.4.1 Chính sách huy động các nguồn lực tài chính 80
Ì 4.2 H u y động v ố n tín dụng ngân hàng và hoạt động của thị trường tài
chính 83 1.4.3 H u y động v ố n nước ngoài 85
1.4.4 về phân bổ và sử dụng v ố n đầu lư 94
Trang 5C H Ư Ơ N G 2: C Á C GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VON VÀ sử DỤNG VON
ĐẦU Tư PHỤC VỤ Sự NGHIỆP C Ô N G NGHIỆP H Ó A TRÊN ĐỊA B À N
TP HỒ CHÍ MINH TỪ N Ă M 2001 Đ È N N Ă M 2010 9 7
2.1 Chính sách công nghiệp hóa và nhiệm vụ phát triển kinh t ế - x ã hội
TP H ồ Chí Minh từ n ă m 2001 đến n ă m 2010 97
2.1.1 Định hướng chính sách công nghiệp hóa, hiện đại hóa 98
2.1.2 N h i ệ m vụ phát triển các ngành, lĩnh vực kinh t ế - xã h ộ i loi
2.2 C á c giải pháp huy động vản đầu tư phục vụ sự nghiệp công nghiệp
2.2.2 Các giải pháp huy động v ố n đầu tư nước ngoài 144
2.3 C á c giải pháp phân bổ và sử dụng vản đầu tư phục vụ sự nghiệp
công nghiệp hóa trên địa bàn TP H ồ Chí Minh từ n ă m 2001 đ ế n
n ă m 2010 172
2.3.1 Các giải pháp phân bổ và sử dụng vốn theo kim vực kinh t ế 177
2.3.2 Các giải pháp phân bổ và sử dụng vốn theo nguồn hình thành
Trang 6NHỮNG CHỮ VIẾT TÁT TRONG ĐE TÀI
TP.HỒ Chí Minh ,: Thành phố Hồ Chí Minh
H Đ N D : Hội đồng nhân dân
Ư B N D : Uy ban nhân dân
FDI: V ố n đầu tư trực tiếp nước ngoài
BCC: Hình thức hợp đồng hợp tác liên doanh
ODA: Viện trợ phát triển chính phủ
GDP: Tổng sản phẩn quốc nội
KCX: Khu chế xuặt
KCN: Khu công nghiệp
MNC: Công ty đa quốc gia
DNNN: Doanh nghiệp nhà nước
CTCP: Công ty cổ phần
NSNN: Ngân sách nhà nước
N S T Ư : Ngân sách trung ương
N S Đ P : Ngân sách địa phương
T h u ế G T G T : T h u ế giá trị gia tăng
T h u ế T T Đ B : Thuế tiêu thụ đặc biệt
T h u ế T N D N : T h u ế thu nhập doanh nghiệp
T h u ế XNK: T h u ế xuặt khẩu, thuế nhập khẩu
NHNN: Ngân hàng Nhà nước
NHTM: Ngân hàng thương mại
NHTMCP: Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTMQD: Ngân hàng thương mại quốc doanh
BIDV: Ngân hàng đầu tư phát triển Việt Nam
TCTD: T ổ chức tín dụng
Trang 7MỞ Đ Ầ U
1 L Ý DO C H Ọ N Đ Ề TÀI N G H I Ê N cứu
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đát nước là chiến lược tỏ ra rất hứa hẹn để
V i ệ t N a m thực hiện thành công quá trình chuyển đổi kép: từ m ộ t nền kinh t ế
m a n g nờng tính hành chính chuyển hẳn sang một nền kinh t ế thị trường năng động; từ m ộ t xã hội nông nghiệp lạc hậu chuyển sang một xã h ộ i công nghiệp
V ớ i v i ễ n cảnh đó, là m ộ t trung tâm kinh tê lớn nhất của cả nước, TP Hồ Chí
M i n h phải có những đột phá về phát triển kinh t ế - xã hội, v ớ i mục liêu là hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời gian ngắn nhất để trở thành đầu tàu cho sự phát triển kinh t ế của cả nước nói chung và phía nam nói riêng
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi h ỏ i TP H ồ Chí M i n h phải tạo ra m ộ t khôi lượng vốn và một cơ c h ế sử dựng vốn có hiệu quả Thê nhưng, trong điều
k i ệ n tích l ũ y trong nội bộ nền kinh t ế quốc dân và mức thu nhập bình quân đầu người còn thấp, trong b ố i cảnh có sự cạnh tranh gay gắt v ớ i các k h u vực do n ề n
k i n h t ế đang trong quá trình chuyển đổi, nên có thể nói nhu cầu v ố n và vấn đề huy động v ố n cho phát triển kinh t ế của cả nước nói chung và TP H ồ Chí M i n h nói riêng đờt ra như một vấn đề cấp bách
Vì lẽ đó, đề tài: " Huy động và sử dụng vốn đầu tư phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa trên địa bàn TP Hồ Chí Minh" mà chúng tôi lựa chọn nghiên cứu góp phần giải quyết những vấn đề đờt ra nêu trên
2 MỰC ĐÍCH C Ủ A ĐỀ T À I N G H I Ê N cứu
Trang 8Công trình nghiên cứu này nhằm đạt được các mục đích sau đây :
- Thứ nhất, đánh giá đúng đắn tình hình thực tiễn, những ưu điểm và nhược điểm về thực trạng huy động và sử dụng vốn đầu tư phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hóa trên địa bàn TP H ấ Chí Minh trong thời gian từ năm 1996 đến năm
2000
- Thứ hai, đề xuất những giải pháp huy động và sử đụng vốn đầu tư có cơ
sở lý luận khoa học và thực liễn nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa trên địa bàn TP H ấ Chí Minh từ năm 2001 đến năm 2010
3 P H Ạ M VI N G H I Ê N CỨU
Nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài sử dụng các số liệu từ năm 1996 đến năm 2000 và các số liệu dự báo có nguấn gốc tin cậy để phân tích, đánh giá thực trạng cũng như kiến nghị các giải pháp huy động và sử dụng vốn đầu tư phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hóa trên địa bàn TP H ấ Chí Minh
4 P H Ư Ơ N G P H Á P N G H I Ê N c ứ u
Các tác giả chủ yếu dựa vào phương pháp duy vật biện chứng và duy vật [Ịch sử, đấng thời có kết hợp các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, quy nạp, để giải quyết những vấn đề được đặt ra trong đề tài
5 K Ế T C Â U CỦA Đ Ề TÀI
Đ ề tài nghiên cứu dài 195 trang, ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, lội dung chính của đề tài thể hiện ở hai chương :
Chương 1: Thực trạng huy động và sử dụng vốn đầu tư phục vụ sự nghiệp
công nghiệp hóa trên địa bàn TP H ấ Chí Minh từ năm 1996 đến năm 2000
Chương 2: Các giải pháp huy động và sử dụng vốn đầu tư phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hóa trên địa bàn TP H ấ Chí Minh l ừ n ă m 2001 đến n ă m
Trang 9CHƯƠNG Ì THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VÀ s ử DỤNG VÒN Đ A U TƯ
PHỤC VỤ Sự NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA TRÊN ĐỊA
BÀN TP HỒ CHÍ MINH TỪ N Ă M 1996 ĐEN N Ă M 2000
1.1 HIỆN TRẠNG KINH TÊ - XÃ HỘI ÍT Hồ CHÍ MINH
TP H Ồ Chí M i n h nằm trong tọa độ địa lý từ 10°38' đến 11°10' vĩ độ B ắ c và
106045' kinh độ Đông, giữa vùng Nam bộ - một khu vực khá giàu t i ề m năng,
cách thủ đô H à N ộ i 1.738km về phía Đông Nam TP H ồ Chí M i n h có địa giới
hành chính với các tỉnh Long An, Tây Ninh, Bình Dương, Đ ồ n g Nai, B à Rịa-Vũng
Tàu; riêng phía N a m t i ế p giáp biển Đ ồ n g với 15 km bờ biển Trung lâm thành
phầ cách biển 50km đường chim bay Đ ộ cao trung bình so v ớ i mực nước biển là
6m
TP H ồ Chí M i n h có đặc điểm địa hình thấp dần về hướng Nam, Tây N a m
với m ộ t sầ đồi núi thấp, đất đỏ bazan ở phía Bắc và có hệ thầng kênh rạch chằng
chịt với sông Sài G ò n nằm ở phía Đông và sông V à m cỏ nằm ở phía Tây Nam
N h ư một s ầ tỉnh lân cận, thành p h ầ nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới: nóng
ẩm, m ư a nhiều; nhưng với vị trí địa lý khá thuận lợi, thành p h ầ l ạ i không chịu ảnh
hưởng trực tiếp của thiên tai hàng n ă m như lũ lụt và bão, áp thấp nhiệt đới Đ â y
là thuận l ợ i lớn cho sự phát triển kinh tế, xã h ộ i của thành p h ầ do h ộ i được hai
y ế u t ầ :"thiên thời", "địa l ợ i " D i ệ n tích tự nhiên của TP H ồ Chí M i n h là 2.094
km2, v ớ i dân s ầ là 5.307.200 người, trong sầ đó, dân thành thị c h i ế m 83 4 7 % (*)
thầng kê từ cuộc tổng điều tra dân sầ ngày 01/04/1999 Tổng cục Thầng kê (1999)
Trang 10và số người trong độ tuổi lao động chiếm 54,67% M ậ t độ dân s ố trung bình của thành phố là 1.879 người/km2 TP Hồ Chí Minh hiện nay có 22 quận, huyện được
Hồ Chí Minh được biết đến như là một nơi tạo ra 1/5 tổng sản phẩm quốc nội
(GDP), 1/3 sản lượng công nghiệp, 40% đến 50% kim ngạch xuất khẩu của cả
nước Trong việc thu hút vòn FDI, thành phô còn là nơi thức hiện 1/3 sô dư án FDI với số vốn có lúc chiếm tới 41 % vốn FDI vào Việt Nam
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm của thành phố giai đoạn
1996 - 2000 đạt 10,15% Tuy lốc độ này có thấp hơn so với thời kỳ 1991 - 1995 (12,6%) và thấp hơn so với mục tiêu đề ra (15%) nhưng so với cả nước, lốc độ
tăng trưởng của thành phố vẫn cao hơn khoảng 1,5 lần Trong tỷ lệ tăng trưởng GDP 10,2% hàng năm đó, theo tính toán của ƯBND thành phố, có 5,3% là do
việc tăng vốn sản xuất, 1,4% là do lao động và 3,5% là do tiến bộ trong quản lý; tức là yếu tố vốn đóng góp 52%, lao động đóng góp 13,7% và tiến bộ quản lý đóng góp 34,3% trong tỷ lệ lăng trưởng của thành phố So với thời kỳ 1991 -
(2
) Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam theo quy hoạch của chính phủ trong Quyết định số
Trang 111995 ( v ố n đóng góp 3 1 % , lao động đóng góp 9,5% và tiến bộ quản lý đóng góp 59,5%), có thể thấy rằng chủ yếu nền kinh tế thành phố tăng trưởng theo chiều
rộng, yếu tố quản lý, công nghệ chậm được cải thiện
Bảng Ì : Một số chỉ tiêu kinh tế tống hợp của TP Hồ Chí Minh
Ghi chú: (a): theo giá c ố định n ă m 1994
Tuy còn nhiều tranh cãi về nguyên nhân dẫn đến sự sụt giảm tăng trưởng
kinh tế nhưng có một điều không thể phủ nhận: đó là mạc sống của người dân
thành phố (.ăng lên rõ rệt Nếu như năm 1995, GDP bình quân đầu người của thành phố là 937 ƯSD (theo giá cố định năm 1994) thì đến năm 2000, con số này
đã đạt đến 1.365 USD - tạc là tăng 45% Ngoài ra, chính vì quy mô giá trị GDP của thành phố lớn, tỷ lệ tăng trưởng GDP cao nên thành phố là địa phương đóng góp lớn nhất vào tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm của cả nước (khoảng 1/3)
Trang 12Giai đoạn 1996 - 2000, tỷ trọng đóng góp này có sụt giảm, cá biệt vào năm 1998, năm được cho là chịu tác động lớn nhất của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực,
tỷ lệ này chỉ đạt khoảng 16%, nhưng cũng không vì thế mà làm mất đi vai trò trung tâm của thành phố
Cùng với việc đạt được một tỷ lệ tăng trưởng GDP tương đối cao, sự chuyừn
dịch cơ cấu kinh tế của thành phố diễn ra đúng hướng, khu vực công nghiệp và
xây dựng, khu vực dịch vụ luôn chiếm tỷ trọng rái cao trong cơ cấu GDP của
thành phố Tỷ trọng của khu vực nông, lâm, ngư nghiệp ngày càng giảm dần: nếu năm 1996, khu vực này chiếm 2,9% thì đến năm 2000 chi còn 2,2% Tuy nhiên,
cùng với tình trạng sụt giảm tăng trưởng GDP, tốc độ tăng trưởng của từng khu vực cũng không đạt mục tiêu đề ra
Cơ cấu GDP của thành phố theo thành phcần kinh tế cho thấy: khu vực kinh
tế nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất, khoảng 45% đến 50% tổng giá trị GDP
của thành phô" nhưng tỷ trọng này đang giảm dần; ngược lại, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có sự tăng trưởng mạnh : năm 1996 chỉ chiếm 14% nhưng đến năm 2000 lại chiếm đến 18,6% Khu vực kinh tế tư nhân hoạt động chủ yếu
trong các ngành nông nghiệp, xây dựng, khách sạn - nhà hàng, công nghiệp chế
biến, công nghiệp khai thác, thương nghiệp, vận tải, tài chính - tín dụng và kinh
doanh bất động sản với đặc điừm chung là vốn ít, quy mô sản xuất, kinh doanh
nhỏ Điều này dẫn đến chỗ tốc độ tăng trưởng thấp trung bình giai đoạn 1996
2000 chỉ đạt 8,3%/năm so với tốc độ tăng trưởng chung của thành phố là 10,15% nhưng ngược lại, đây là khu vực có sự đóng góp tích cực nhất vào việc giải quyết
-công ăn, việc làm cho người lao động của thành phố Lao động làm việc trong
khu vực này chiếm tới 73,2% tổng số lao động đang có việc làm trên địa bàn
Trang 13V a i trò " m ũ i nhọn" của TP Hồ Chí M i n h còn t h ể hiện ở một số khía cạnh sau:
Thành phố là đầu môi xuất khẩu của cả nước Giá trị xuât khẩu của
thành phố trung bình đạt xấp xỉ 40% kim ngạch xuất khẩu của cả nước Trong
giai đoạn 1996 - 2000, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của thành phố đạt trung bình 17,8%/năm; tụ 3.828 triệu ƯSD năm 1996 lên 6.316 triệu USD năm 2000 SỐ liệu
mới nhất của năm 2000 cho thấy, tỷ lệ xuất khẩu trên GDP của thành phố là
107%, phản ánh đúng vai trò đầu mối xuất khẩu của thành phô"
Trong cơ cấu hàng xuất khẩu, hàng công nghiệp thâm dụng lao động như
hàng dệt may, giày dép dần dần thay thê cho các mặt hàng nông sản thô, nông sản chế biến và hàng thủ công mỹ nghệ; việc xuất khẩu các sản phẩm có hàm
lượng công nghệ cao đang tụng bước phát triển, chủ yếu là tụ các KCX và một số doanh nghiệp lớn Ihuộc thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Thị trường xuất khẩu chính của thành phố vẫn là các nước Đông Á ; nhưng bên cạnh đó, thị trường Mỹ và EƯ đang ngày càng chiếm tỷ trọng lớn Irong tổng kim ngạch xuất
khẩu của địa bàn
Vai trò đầu mối xuất khẩu của thành phố còn thể hiện rõ nét trong mối
tương quan với kim ngạch nhập khẩu Tốc độ tăng trưởng trung bình của kim
ngạch nhập khẩu thành phố giai đoạn 1996 - 2000 chỉ là 5,2%/năm Chính đây là nguyên nhân trực tiếp làm cho thành phô trở thành địa phương có thặng dư cán cân thương mại với giá trị đáng kể Năm 2000, thặng dư thương mại của thành phố là 2.833 triệu USD Trong điều kiện Việt Nam - một quốc giá đang phát
triển - với sự thiếu hụt ngoại tệ và thâm hụt cán cân thương mại thì con số hơn 2
tỷ USD thặng dư này có một ý nghĩa rất lớn
Trang 14TP H Ồ Chí Minh là địa phương đóng góp nhiều nhất cho NSNN Tỷ l ệ
thu ngân sách trên địa bàn so với tổng thu NSNN giai đoạn 1996 - 2000 luôn đạt trên 30%: năm 1996 đạt 31,4%, năm 1997 đạt 31%, năm 1998 tăng vọt lên
37,07% và duy trì ở mức ổn định này cho đến năm 2000 Trong cơ cấu thu NSNN trên địa bàn thành phố, tỷ trọng thu lừ thuế XNK luôn đạt trên 40% (năm 1999 đạt 47,95%; năm 2000 đạt 42,68%) Điều này một lần nữa phồn ánh vai trò đầu
mối xuất khẩu của thành phố so với cồ nước
TP Hồ Chí Minh là trung tâm giao dịch tài chính Hầu hết các ngân
hàng thuộc tất cồ các thành phần kinh tế đều có trụ sở chính hay chi nhánh tại thành phố Nói chung, tuy không nằm ngoài tình trạng yếu kém của hệ thống tài chính cồ nước, nhưng hệ thống NHTM của thành phố được đánh giá là hoạt động sôi nổi nhất Năm ỉ 996, tổng số huy động được qua hệ thống NHTM là 24.000 tỷ đồng, đến năm 2000 đạt 42.000 tỷ đồng Tăng trưởng tiền gửi đạt bình quân
18,7%/năm Tỷ lệ dư nợ cho vay trung và dài hạn năm 1999 đạt 27,1% tổng dư nợ đang luân chuyển Ngoài ra, hệ thống ngân hàng của thành phố còn đồm nhiệm -tuy chỉ ở mức khiêm tốn - việc cung cấp các dịch vụ thanh toán Đóng góp của khu vực tài chính - tín dụng vào GDP của thành phố năm 2000 đạt 2 3%
Trong cơ cấu cho vay của hệ thống NHTM trên địa bàn thành phố, DNNN
vay hơn 60%, doanh nghiệp tư nhân vay chỉ có 14,8%
Tính chất trung tâm giao dịch tài chính của thành phố còn được khẳng định
bằng sự ra đời của TTGDCK TP Hồ Chí Minh trong năm 2000 - sự kiện được coi
là cột mốc đánh dấu một bước phái triển quan trọng của thị trường vốn tại thành
phố
TP Hồ Chí Minh là trung tâm giáo dục, đào tạo và chăm sóc sức khỏe
Trang 15chuyên nghiệp, dạy nghề và mạng lưới bệnh viện đa dạng, phong phú v ớ i trang thiết bị hiện đại so với cả nước, với nhiều hình thức sở hữu và nhiều loại dịch vụ khác nhau, TP Hồ Chí Minh đủ sức đáp ứng nhu cầu của thành phố và các tỉnh
lân cận
Với những nét chính đã phân lích như trên, cộng với một hệ thông cơ sở hạ
tầng được đánh giá là tốt nhểt hiện nay, TP Hồ Chí Minh thực sự là một "đầu
tàu", một "mũi nhọn" phát triển kinh tế của cả nước Đây cũng chính là địa
phương thu hút được nhiều vốn đầu tư - đặc biệt là vốn FDI - vào loại nhểt so
1.2 THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN ĐAU TƯ PHỤC vụ sự NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA TRÊN ĐỊA BÀN TP Hồ CHÍ MINH TỪ NĂM 1996
ĐẾN NĂM 2000
1.2.1 Thực trạng huy động vốn đầu tư trong nưỒc
1.2.1.1 Thực trạng huy động nguồn lực tài chính của NSNN
1.2.1.1.1 Thu NSNN trên địa bàn TP.HỒ Chí Minh
So với các địa phương khác trên cả nước, TP Hồ Chí Minh có thuận lợi là một đầu mối giao lưu kinh tế trong nước và quốc tế, nên nguồn thu NSNN trên địa bàn TP Hồ Chí Minh bao gồm cả thu nội địa và thu từ hoạt động thương mại quốc tế; trong đó, thu từ hoạt dộng thương mại quốc tế do Cục Hải quan thành phố thực hiện, gồm thuế XNK, ihuếTTĐB, thuếGTGT (áp dụng từ năm 1999)
Do yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, từ cuối năm 1990, Nhà nước bắt
đầu tiến hành cải cách bước Ì về thuế với các yêu cầu được đặt ra như : Thuế phải là nguồn thu cơ bản của NSNN; thuế góp phần thực hiện công bằng xã hội
và kích thích các thành phần kinh lê' tăng cường cạnh tranh và đầu tư phát triển;
Trang 16t h u ế m a n g tính pháp luật cao và trở thành công cụ cơ bản trong quấn lý kinh t ế
của Nhà nước Trên cơ sở đó, chỉ trong một thời gian ngắn (J990-1°96), Việt
Nam đã hình thành nên một hệ thống thuế mới tương đối hoàn chỉnh như : Thuế
doanh thu; thuế tiêu thụ đặc biệt; thuế lợi tức; thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; thuế XNK ; thuế nhà, đất; thuế SDĐNN ; thuế sát sinh; thuế chuyạn
quyền sử dụng đất; thuế tài nguyên và các quy định về phí , lệ phí Trong đó,
thuế áp dụng cho hoạt động đầu tư nước ngoài đã được thiết lập riêng biệt với
nhiều ưu đãi và bảo hộ đầu tư đạ đẩy mạnh sự thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Hơn nữa, trong tiến trình cải cách, hệ thống thuế đã nhiều lần được bổ
sung, sửa đổi Thuế doanh thu được thu hẹp về thuế suất tạo dần điều kiện đạ
chuyạn sang áp dụng thuế ỜTGT Thuế tiêu thụ đặc biệt đã liên kết chặt chẽ với thuế XNK đạ hướng dẫn tiêu dùng và bảo hộ sản xuất Thuế XNK được hoàn
thiện về thuế suất cho phù hợp với mở rộng quan hệ giao lưu hàng hóa của Việt
Nam với các nước trên thế giới Cùng với cải cách toàn diện và sâu sắc về chính sách tài khóa, bộ máy quản lý thu của ngành thuế đã được tổ chức lại theo hướng thống nhất từ trung ương đến địa phương
Kết quả cải cách thuế bước Ì đạt được đáng khích lệ, nguồn thu NSNN trên
địa bàn thành phố không ngừng tăng, từ 17% GDP năm 1991 lên 43% GDP năm
1996, chiếm 1/3 tổng số thu ngân sách của cả nước
Đến năm 1997, nhằm sắp xếp lại các sắc thuế theo đúng chức năng, yêu
cầu sử dụng và phù hợp thông lệ quốc tế trong điều kiện Việt Nam từng bước
hòa nhập vào khu vực và thế giới, Nhà nước xúc tiến chương trình cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2 :
Trang 17+ Á p dụng thuế GTGT thay t h ế cho thuế doanh thu với những ưu điểm, như đơn giản hóa thuế suất; không có sự trùng lắp; thúc đẩy hoạt động xuất khẩu và
liên kết với thuế nhập khẩu để hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng trong nước; khuyến khích đầu tư, đổi mới thiết bị; tăng cượng công tác quản lý kinh doanh; tạo ra cơ chế kiểm soát từ xã hội về số thuế nộp cho Nhà nước
+ Ban hành thuế TNDN thay thế thuế lợi tức với các đặc điểm nổi bật là thuế suất giảm, tạo điều kiện tăng cượng sự tích tụ vốn của các doanh nghiệp; thực hiện chế độ ưu đãi đặc biệt, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới công nghệ; tiến dần áp dụng một mức thuế suất thống nhất cho các doanh
nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
+ Bãi bỏ thuế sát sinh ( từ 1/1/99 ) để đơn giản hóa cơ cấu thuế và phát
huy vai trò của thuế GTGT
Tuy vậy, từ năm 1997 đến nay do nền kinh tế giảm phát trầm trọng, lốc độ
tăng trưởng kinh tế của thành phố có chiều hướng chậm lại (năm 1997: 12,09%,
năm 1998 9,03%, năm 1999: 6,16%, năm 2000: 9,21%) nên nguồn thu trên địa
bàn thành phố giảm từ 41% GDP năm 1996 xuống còn 31% GDP năm 2000
Bảng 2: Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn (1991-1999)
Đơn vị tính: Tỷ đồng
N ă m Tổng thu ngân sách Tổng Um Tốc dô Tỷ lệ tim NS Tỷ lệ thu NS
Thu nội Thu từ kinh tế NS trên địa lăng trên địa bàn/ nội địa/
địa đôi ngoại bàn % G Ó P G D P
1991 1.694 580 2.274 62 17 13
1992 3.262 1.176 4.438 95 23 17
1993 4.748 2.646 7.394 66 31 20
1994 7.860 5.119 12.979 65 45 27
Trang 18Nguồn : Niên giám thống kê TP H ồ Chí M i n h 1995, 2000
* Nguồn thu theo cơ cấu từng loại t h u ế
Với lợi thế là một trung kinh tế về công nghiệp, thương mại và dịch vụ, nên nguồn thu NSNN trên địa bàn TP Hồ Chí Minh chủ yếu dựa vào các loại thuế:
- Thuế doanh thu/ thuế GTGT: chiếm bình quân vào khoảng 15% tổng số
thu
- Thuế tiêu thụ đặc biệt: chiếm bình quân vào khoảng 11% tổng số thu
- Thuế lợi tắc/ thuế TNDN : chiếm bình quân vào khoảng 11% tổng số thu
Tổng cộng 3 loại thuê doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế lợi tắc luôn
chiếm khoảng 40-45% tổng số thu trên địa bàn (xem phụ lục bảng 1), vì vậy đã
tạo thế vững chắc trong việc ổn định nguồn thu ngân sách của địa phương Trong những năm qua các loại thuế này không ngừng được hoàn thiện cho phù hợp với tình hình thực tiễn của nền kinh tế Chính sách bổ sung, sửa đổi thuế doanh thu, thuế lợi tắc theo chiều hướng đơn giản, tạo môi trường đầu tư thông thoáng tuy
có làm giảm nguồn thu của ngân sách ở giai đoạn đầu nhưng lại có tác dụng tích cực tạo thêm nguồn thu ở những năm sau Năm 1999 cũng là năm đầu tiên cả
nước triển khai thực hiện 2 luật thuế mới: thuế GTGT, thuế TNDN nhằm khắc
phục những hạn chế của luật thuế doanh thu và thuế lợi tắc Theo đó, cơ chế hành thu cũng có sự thay đổi Những doanh nghiệp mà tổ chắc thực hiện hệ thống
Trang 19k ế toán, hóa đơn chứng từ đáng tin cậy thì áp dụng phương pháp khâu trừ, nêu
không thì áp dụng phương pháp trực tiếp hoặc khoán Nhìn chung trên địa bàn
TP Hồ Chí Minh , số doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu trừ thuế chiếm tỷ
lệ còn khá khiêm lốn, khoảng VA Bước đầu cũng có không ít những vướng mủc
về áp đụng thuê suất, phương pháp tính thuế, nhưng với sự điều chỉnh kịp thời
của nhà nước và đổi mới cơ chế hành thu nên các mặt hạn chế và vướng mủc đã
không làm ảnh hưởng đáng kể đến sự sụt giảm nguồn thu của ngân sách
Cùng với các loại thuế kể trên, thuế XNK chiếm một tỷ lệ khá cao trên địa
bàn (.hành phố, bình quân hơn 33% Điều này phản ảnh phần nào lợi thế khách
quan của thành phố là một (rung tâm về thương mại quốc tế của cả nước Tuy
vậy, nguồn thu này lại giảm mạnh, lừ 35,5% năm 1993 xuống còn 27,9% năm
1999 Nguyên nhân khách quan là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nên thị
trường tiêu thụ xuất khẩu bị thu hẹp; về chủ quan là do năng lực cạnh tranh quốc
tế của các doanh nghiệp trong nước còn quá yếu kém, không đủ sức cạnh tranh
với các nước trong khu vực
* Nguồn thu theo khu vực kinh tê
Bảng 3: Cơ câu thu theo khu vực kinh tế
N g u ồ n : Sở Tài chính - V ậ t giá TP H ồ Chí Minh
- Đ ố i với khu vực kinh t ế Nhà nước:
Trang 20Trong cơ cấu GDP trên địa bàn thành phố, khu vực kinh t ế nha nước chiếm
hơn 45% GDP Vì vậy, khu vực kinh tế này giữ một vai trò rất quan trọng đối với
nguồn thu của ngân sách Thế nhưng, thời gian qua, tỷ trọng thu của khu vực kinh
tế nhà nước có sự biến động mạnh, từ chỗ chiếm tỷ trọng cao 51-81% trong giai
đoạn 1991-1995, đến giai đoạn 1996-2000 giầm mạnh xuống còn 38-48% trong
cơ câu thu Nguyên nhân là do:
+ Quy mô doanh nghiệp nhỏ, manh mún, công nghệ lạc hậu, thiếu vốn
trầm trọng, giá thành sần phẩm cao trong khi chất lượng sần phẩm thấp, tính cạnh tranh kém
+ Hành lang pháp lý cho việc quần lý DNNN chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ
Các chính sách khuyến khích vật chất "chưa đủ liều đủ lượng" để kích các doanh nghiệp nhà nước nâng cao năng suất lao động, hạ thấp giá thành
+ Việc sắp xếp lại các DNNN diễn ra rất chậm chạp và không dứt khoát
Tính đến tháng 7/2000 thành phố chỉ mới thực hiện cổ phần hóa được 59 doanh
nghiệp
+ Trình độ và năng lực kinh doanh của doanh nghiệp địa phương kém,
hiệu quầ kinh tế thấp, so với các doanh nghiệp do trung ương quần lý còn có
khoầng cách khá xa
Bảng 4: Hiệu quả kinh doanh D N N N n ă m 1998
Trang 21- Đ ố i với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDĨ) :
Thu từ khu vực FDI tăng nhanh trong thời gian qua, từ 0,5% năm 1991 tăng
lên 12,2 % năm 2000 trong cơ câu thu ngân sách Kết quả này đạt được là nhờ sự phần trăm gia tăng tương ứng mà khu vực này đóng góp vào cơ cấu GDP của
thành phố, từ 4,9% năm 1992 nâng lên 18,1% năm 1999 Điều này chứng lỗ các chính sách khuyến khích đầu tư của nhà nước, đặc biệt chính sách miễn, giảm
thuế đã phát huy tác dểng tích cực trong việc đẩy nhanh tốc độ phát triển của các doanh nghiệp có vòn đầu lư nước ngoài Tuy vậy, thực tê có điều đáng ghi nhận
là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp vào GDP có xu hướng
lăng cao thế nhưng các doanh nghiệp này lại khai lỗ khá phổ biến
- Đối với khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh:
Đóng góp vào cơ cấu GDP của khu vực này là khá cao, bình quân hơn 35%,
thế nhưng nguồn thu nộp NSNN thì rất thấp Từ năm 1991 cho đến nay, tỷ trọng động viên vào ngân sách từ thành phần kinh tế ngoài quốc doanh chỉ giao động vào khoảng -11%-15% trong tổng số thu Mức thu đó chưa tương xứng với tiềm
năng của khu vực kinh tế này và hiện tượng thất thu còn diễn ra khá phổ biến
Theo đánh giá của Cểc thuế thành phố, nguyên nhân cơ bản là quản lý doanh thu
và thu nhập của các hộ kinh doanh và doanh nghiệp tư nhân chưa thật chặt chẽ Y thức chấp hành chế độ kế toán và chứng từ kế toán của các loại hình kinh tế còn rất tháp Trong khi đó người tiêu dùng khi mua bán hàng hóa thì không có thói quen cần lấy hóa đơn, chứng từ nên tạo ra kẽ hở cho các doanh nghiệp không ghi chép đầy đủ doanh số phát sinh hoặc ghi số đầu vào, đầu ra thấp hơn thực tế
1.2.1.1.2 Thu ngân sách địa phương
Thu ngân sách địa phương về cơ bản bao gồm các khoản thu như :
Trang 22- Các khoản thu được hưởng 100 %
- Các khoản thu được phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa các cấp
ngân sách: giữa NSTƯ và ngân sách cấp tỉnh ; giữa ngân sách cấp tỉnh,
ngân sách cáp huyện và ngân sách cấp xã
Thu bổ sung lừ ngân sách cấp trên (hỗ trợ)
Việc xác định tỷ lệ phần trăm phân chia được xác định như sau:
A - B
Tỷ lệ phần trăm (%)=
c
Trong đó:
+ A : Tổng số chi ngân sách địa phương
+ B: Tổng số thu địa phương được hưởng 100%
+ C: Tổng số thu phân chia giữa trung ương và địa phương
Các chỉ tiêu thu được ổn định từ 3 đến 5 năm và điều này đem lại sự ổn
định và chủc chủn cho chính quyền địa phương Tính chủc chủn này sẽ làm cho các cấp chính quyền địa phương có thể lên kế hoạch cho các hoạt động của mình
và tạo động lực huy động nguồn thu tốt hơn Chính quyền địa phương được hưởng toàn bộ số thu vượt mức đối với các loại thuế được giao Địa phương cũng được
hưởng số thu vượt mức đôi với các loại thuế phân chia Mục đích của việc làm
này là khuyến khích chính quyền địa phưỡntrong việc thu thuế số thu vượt chỉ
tiêu đề ra này có thể dùng để chi ch các lĩnh vực xã hội chứ không dùng cho chi
Trang 23lương, hoặc có t h ể bổ sung vào quỹ d ự trữ tài chính D o đó, chính nhờ có s ố thu ị này m à chính quyền địa phương có thể chủ động hơn trong phân bổ chi tiêu
Trong giai đoạn 1991-1997, nguồn thu của ngân sách thành phố tương đối
ổn định, ở mức 6-7%GDP, nhưng đến giai đoạn 1998-2000 thì có nhiều biến động; nguồn thu phân định có xu hướng giám mạnh, xuống khoầng 4 % GDP Đ ể thấy rõ vấn đề này chúng ta đi vào phân tích cơ cấu nguồn thu của ne;ân sách địa phương
* Xét theo khu vực kinh tế:
Nguồn thu từ khu vực kinh tế nhà nước có xu hướng giầm dần, từ chỗ chiếm
hơn 5 4 % trong tổng số thu n ă m 1991 xuống còn 1 7 % n ă m 2000 Nguyên nhân cơ bần là do có sự sắp x ế p l ạ i các D N N N có quy m ô nhỏ , hiệu quầ hoạt động kinh doanh thấp Trong khi đó nguồn thu từ khu vực ngoài quốc doanh thì ở mức khá
ổn định, khoầng 10-13% tổng số thu C ò n nguồn thu từ khu vực kinh t ế có v ố n đầu tư nước ngoài tuy tăng khá mạnh, nhưng đóng góp vào nguồn thu của địa phương còn ở mức khá khiêm lốn, chỉ vào khoầng 6,88% (năm 2000)
* Xét theo nguồn thu được phân cấp :
Kể từ khi có luật ngân sách, nguồn thu được hưởng 100% để lại cho địa phương tăng lên cầ tương đối và tuyệt đối N ế u như trong giai đoạn 1991-1995, tỷ trọng nguồn thu này chỉ chiếm 5 0 - 6 0 % trong cơ cấu thu ngân sách, thì đến giai đoạn 1997-1998 được nâng lên 65-70% K ế t quầ này là do địa phương đã chú trọng khai thác những nguồn thu mới, đặc biệt là nguồn thu về nhà đất m à địa phương được hưởng 100% Sự tăng lên nguồn thu c ố định đã tạo cho địa phương
có t h ế chủ động trong việc cân đối nhu cầu chi tiêu trên địa bàn D o nguồn thu
ỉ 0 0 % tăng lên nên nguồn thu điều tiết m à trung ương để l ạ i cho thành phô" có x u
/T'.T"*-~T-~
Trang 24hướng g i ả m dần, từ 3 2 % n ă m 1996 xuống còn 2 6 % n ă m 1998 trong tổng s ố thu của NSĐP Một điều đáng lưu ý là trong những năm 1999, 2000 vì nền kinh tế
giảm phát, nhà nước đã có nhiều thay đổi về chính sách giá cả, tiền lương nên hỗ trợ của NSTƯ cho địa phương có sự gia tăng Sự gia lăng này chủ yếu là để thực hiện những chương trình mục liêu chấ không phải là hỗ trợ để cân đối ngân sách
* Xét theo cơ câu nguồn thu:
Nguồn thu thuế, phí và lệ phí chiếm ở mấc ổn định 60-65% tổng số thu của
địa phương Điều này cho thấy, thuế, phí và lệ phí ngày dần trở thành nguồn thu
cơ bản của ngân sách địa phương, phù hợp với xu thế chung của cả nước Trong khi đó, các nguồn thu ngoài thuế lại có xu hướng giảm mạnh, từ 32% năm 1996
xuống còn 22% năm 2000
1.2.1.2 Huy động vốn qua Quỹ đầu tư phát triển đô thị
Phù hợp với đặc điểm của một nền lành tế đang quá trình chuyển đổi và để
tạo đà cho sự phát triển kinh tế - xã hội của TP Hồ Chí Minh theo hướng công
nghiệp hóa, thời gian qua, bên cạnh việc đổi mới chính sách và cơ chế quản lý
NSNN, từ tháng 7/1997 được sự cho phép của Chính phủ và Bộ Tài chính (QĐ số 644/TTg ngày 10/09/96 của Thủ tướng và Thông tư hướng dẫn số 43/TCNH ngày 7/7/1997 của Bộ Tài chính), TP Hồ Chí Minh đã thiết lập Quỹ đầu tư phát triển
đô thị nhằm nâng cao hiệu quả việc tăng cường huy động vòn Theo quy định,
nguồn vốn hoạt động của Quỹ bao gồm:
+ Vốn điều lệ ( do NSNN cấp khi thành lập và bổ sung hàng năm từ các
nguồn vốn có nguồn gốc từ ngân sách, như: tiền bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước,
tiền thu sử dụng vốn của Nhà nước, các khoản thuế được miễn giảm )
+ Vốn huy động:
Trang 25• V a y từ các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước;
• Phát hành trái phiếu theo quy định của Nhà nước ;
• Các nguồn vốn nhận ủy thác đầu tư từ các chủ đầu tư trong và ngoài nước
Trên cơ sở nguồn vốn tập trung được, Quỹ thực hiện đầu tư theo d ự án vào các lĩnh vực, ngành nghề ưu liên trong chiến lược phát triển kinh t ế - xã h ọ i của thành phố, cụ thể :
+ Các dự án phát triển hạ tầng kinh t ế xã họi;
+ Các công trình công nghiệp trọng điểm; các công trình nông nghiệp; + M ọ t số công trình cơ sở hạ tầng mang tính chất phúc l ợ i công cọng không vì mục đích lợi nhuận
Tính đến cuối n ă m 2090, Quỹ đầu tư phát triển đô thị của TP H ồ Chí M i n h
đã đầu tư vào 150 dự án, với tổng số vốn là 1.851 tỷ đồng
Tuy nhiên hơn 3 năm hoạt đọng, Quỹ đẩu tư phát triển đô thị của TP H ồ Chí M i n h cũng đã bọc l ọ nhiều nhược điểm:
+ Nguồn vốn hoạt đọng của Quỹ chủ y ế u là dựa vào nguồn v ố n của
N S N N TP H ồ Chí M i n h Sự khai thác và huy đọng các nguồn v ố n khác hầu như chưa được thực hiện Do đó, quy m ô vốn hoạt đọng của Quỹ hiện còn khá nhỏ
bé Theo quy định của Nhà nước, vốn điều l ệ của Quỹ k h i thành l ậ p là 500 tỷ đồng, nhưng tính đến cuối năm 2000, Quỹ chỉ nhận được hơn 297 tỷ đồng do ngân sách chuyển sang; nếu cọng bổ sung thêm các nguồn v ố n có nguồn gốc từ ngân sách thì vốn điều lệ của Quỹ vào khoảng 356 tỷ đồng
Trang 26+ Chưa xác định rõ m ô hình hoạt động của Quỹ, theo m ô hình doanh nghiệp hay tổ chức tín dụng
+ Chức năng của Quỹ chưa triển khai đầy đủ Hiện tại Quỹ hoạt động
chủ yếu là tiếp nhận nguồn vốn của NSNN và thực hiện đầu tư dưới hình thức
cho vay Còn các chức năng khác như quấn lý vốn ủy thác, dịch vụ lư vân, tham gia thị trường chứng khoán thì hầu như chưa triển khai
1.2.1.3 Huy động các khoấn đóng góp của dân CƯ
Trong điều kiện nguồn thu ngân sách có hạn, việc huy động sự đóng góp
của dân cư vào phát triển cơ sở hạ tầng của địa phương có ý nghĩa kinh tế - xã hội rất thiết thực trong việc giấi quyết những nhu cầu đa dạng của dân cư Tuy
vậy, sự huy động tài chính của dân cơ cồn lũy thuộc vào sự nâng động của
UBND cấp phường và xã Trước năm 1997, ngân sách xã, phường là một đơn vị
dự toán Mọi nguồn kinh phí để tài trợ cho hoạt động: giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội và một số hoạt động khác theo quy định đều do ngân sách quận, huyện cấp
phát Do vậy, chính quyền xã, phường rất thụ động trong việc khai thác các
nguồn thu để đầu tư phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn địa phương Thế nhưng đến năm 1997, theo Luật NSNN , xã phường là một cấp ngân sách, được phân cấp nguồn thu để chủ động cân đối nhu cầu chi tiêu ngân sách Ngoài những nguồn thu được phân cấp , chính quyền xã, phường được nhà nước giao một số
nhiệm vụ tài chính cơ bấn là: chủ động lập kế hoạch và vận động nhân dân đóng góp tài chính để thực hiện xây dựng cơ sỡ hạ tầng, phát triển kinh tế xã hội của thành phố nhằm nâng cao đời sống của nhân dân trên địa bàn Vì lẽ đó mà từ năm 1997 đến nay, số tiền huy động của nhân dân trên địa bàn xã, phường tăng lên đáng kể, cấ về số tuyệt dối lẫn lương dối
Trang 27Bảng 5: số tiền đóng góp của dân
Đ ơ n vị tính: T r i ệ u đồng
N ă m 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000
S ố liền 1.978 7.814 7.563 5.184 5.516 9.763 29.519 39.912 40.815 41.052
Nguồn : Sỏ Tài chính - V ạ i giá TP H ồ Chí M i n h
H i ệ n tại, trên các địa bàn phường, xã của thành phô có các quỹ tài chính như sau:
- Quỹ xây dựng cơ sở hạ tầng: nhằm xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng của địa phương, góp phần ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, phát triển kinh
t ế - xã hậi theo hướng công nghiệp hóa Theo quy định của Ư B N D thành p h ố mức thu dựa trên sự vận đậng đóng góp tự nguyện của dân trên địa bàn của địa phương
- Quỹ lao đậng công ích: đây là nguồn lực huy đậng của dân để xây dựng
cơ sở vật chất hạ tầng trên địa bàn của địa phương Theo quy định của Ư B N D thành phố, nguồn hình thành quỹ này như sau:
+ Đóng góp trực tiếp bằng ngày công h o dậng
+ Trường hợp các đối tượng được huy đậng theo k ế hoạch nhưng không tham gia trực tiếp thì đóng góp bằng tiền với các mức: 50.000 đồng/ n ă m đối với ngoại thành và 70.000 đồng/ n ă m đối với nậi thành
- Q u ỹ phòng chống l ụ t bão: nhằm tạo ra quỹ dự phòng để phòng chống và khắc phục những tổn thất thiệt hại do thiên tai gây ra, mức thu của quỹ này như sau:
+ L a o đậng nông nghiệp: l k g lứa/ người/ năm
+ L a o đậng phi nông nghiệp: 2kg lứa/ người/ năm
Trang 28- Quỹ bảo t r ợ trẻ em: mức thu dựa vào sự vận động đóng góp lự nguyện của dân trên địa bàn địa phương
- Quỹ xóa đói, giảm nghèo: nguồn vốn hình thành chủ yếu là do dân đóng góp tự nguyện và một phần từ tiết kiệm của ngân sách quận, huyện
- Quỹ xã hội, quỹ từ thiện: chủ yếu là do dân đóng góp trên cơ sở tự
nguyện Mờc đích của Quỹ là giúp đỡ những người già yếu, tàn tật, những trẻ em mồi côi không nơi nương tựa trên địa bàn của địa phương
Ngoài ra còn có các quỹ như: Quỹ an ninh quốc phòng; Quỹ đền ơn đáp
nghĩa; Quỹ vì người nghèo
1.2.1.4 Huy động vốn đầu tư của các thành phần kinh tế trong nu'0'c
Trong những năm nền kinh tế chuyển đổi sang kinh tế thị trường, chính sách
kinh tế đổi mới đã bắt đầu phát huy tác dờng khuyến khích các thành phần kinh
tế thực hiện đầu tư phát triển kinh tế Kết quả nổi bật là số lượng các doanh nghiệp tư nhân (không kể các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) tăng nhanh, với nhiều hình thức sở hữu đa dạng nên đã thu hút vốn đầu tư tăng khá cao, bình quân trong giai đoạn 1995-1999 huy động được 23.447 tỷ đồng Tính cho cả giai đoạn (1995-1999), vốn đầu tư tư nhân chiếm vào khoảng 23% tổng số vốn đầu tư trên địa bàn
Bảng 6: ÌHuy động vốn đầu tư của các thành phần kinh tế trong nườc
trên địa bàn TP Hồ Chí M i n h Đơn vị tính: Tỷ đồng
Trang 29Đối với DNNN, trên cơ sở thực hiện chính sách đổi mới cơ chế quản lý tài
chính theo hướng nâng cao và mở rộng quyền tự chủ tài chính, giảm dần sự bao
cấp của NSNN và sau nhiều đợt sắp xếp thì tiềm lực kinh tế của DNNN đã được nâng cao Năm 1993, vốn đầu tư của các DNNN ở mịc 4.813 tỷ đồng, đến năm
1996 tăng lên 6.685 tỷ đồng và năm 2000 là 5.646 tỷ đồng Tính cho cả giai đoạn (1991-1999), vốn đầu tư của các DNNN chiếm tỷ trọng bình quân khoảng 36%
lổng số đầu tư trên địa bàn
1.2.1.5 Thực trạng huy động vốn tín dụng ngân hàng và thị trường tài chính 1.2:1.5.1 Huy động vốn tín dụng ngân hàng
Với vị trí của một trung tâm kinh tế, TP Hồ Chí Minh cũng là một thị trường
tài chính-tiền tệ lớn và năng động Điều này thể hiện qua quy mô và sự đa dạng
trong hoạt động của lĩnh vực ngân hàng như tiền tệ -tín dụng - thanh toán -ngoại
hối , sự sôi nổi trong các hoạt động giao lưu vốn trên thị trường Vì vậy, trong quá trình đổi mới, TP Hồ Chí Minh đã được chọn lựa làm địa điểm để xúc tiến cho những đề án cải cách quan trọng về ngân hàng và thị trường tài chính của
nhà nước như : Thực hiện thí điểm chuyển mô hình ngân hàng từ một cấp sang
Trang 30hai cấp theo nghị định 5 3 / H Đ B T ngày 26/3/1988 của chủ tịch H ộ i đồng B ộ trưởng
để tiến đến triển khai thực hiện pháp lệnh ngân hàng trong cả nước vào
1/10/1990; thành lập trung tâm giao dịch ngoại tệ liên ngân hàng, trung tâm giao dịch chứng khoán Tất cả những sự kiện về tài chính và ngân hàng tại TP Hồ Chí Minh luôn biểu hiện cho mội địa bàn có nhiều tiềm năng về vốn cũng như sự
sôi động, nhạy bén trước những chuyển biến mạnh mẽ của cơ chế thị trưầng hiện nay
Hiện nay, hệ thống ngân hàng tại TP Hồ Chí Minh bao gồm :
+ Chi nhánh ngân hàng nhà nước TP Hồ Chí Minh với chức năng quản lý
nhà nước ;
+ Các tổ chức tín dụng với chức năng kinh doanh tiền tệ, bao gồm :
• 4 ngân hàng thương mại quốc doanh với 38 hội sở và chi nhánh;
• 17 ngân hàng thương mại cổ phần có hội sở tại TP.HỒ Chí Minh,
6 chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần có hội sở ngoài địa
bàn ;
• 4 chi nhánh ngán hàng liên doanh;
• 16 chi nhánh ngân hàng nước ngoài ;
• 4 công ty tài chính cổ phẫn ;
• 4 công ty cho thuê tài chính;
• 9 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở
Riêng lĩnh vực ngoại tệ - vàng bạc hiện trên địa bàn có 18 công ty và gần
1000 doanh nghiệp tư nhân kinh doanh vàng bạc, hơn 200 đơn vị thu đổi ngoại tệ
và 10 đơn vị kiều hối
Trang 31Đ á p ứng cho yêu cầu tăng trưởng kinh t ế trên địa bàn, hoạt động huy động vốn của các N H T M không ngừng lăng lên từ n ă m 1996 đến nay
Bảng 7 : Huy động vốn của hệ thống N I I T M trên địa bàn TP H ồ Chí
Minh
Đ ơ n vị : tỉ đồng
12/1996 12/1997 12/1998 12/1999 12/2000 Tổng vốn huy
Nguồn: Niên giám thống kê
N h ư vậy, nếu tính từ thời điểm cải cách ngân hàng n ă m 1988, v ố n huy động chỉ đạt ở mức 38,2 tỉ đồng thì đến n ă m 2000 v ớ i mức huy động v ố n qua ngân hàng đạt 56.204 tỉ đồng, đã tăng 1471 lần, một con s ố rỒt thuyết phục cho thành quả của hệ thống ngân hàng TP.HỒ Chí Minh Trong quá trình huy động vốn, ưu
t h ế luôn thuộc về các N H T M Q D (chiếm tỉ trọng xỒp xỉ 5 0 % tổng vốn huy động) Điều này đã khẳng định vị trí chủ đạo của các N H T M Q D hiện nay trong cả nước nói chung và tại địa bàn TP H ồ Chí Minh nói riêng
Bảng 8 : Huy động vốn chia theo loại ngân hàng trên địa bàn TP He Chí
Minh
Đ ơ n vị : tỉ đồng
1996 1997 1998 1999 2000 NHTM QD 11.398 13.743 16.569 21.275 28.663 NHÍM CP 7.152 7.906 9.759 10.910 16.635
Trang 32N H T M có vốn đầu
tư nước ngoài
5.595 7.661 6.803 8.189 10.905
Tổng cộng 24.145 29.310 33.131 40.374 56.204
Nguồn : Ngân hàng Nhà nước
V ớ i chủ trương thực hiện chiến lược khách hàng đa dạng nhằm khai thác các
nguồn vốn nhàn rỗi từ các lổ chức kinh tế đến dân CƯ, từ các khách hàng trong nước đến khách hàng nước ngoài để từ đó, tận dụng nhộng dòng chảy của vốn từ tiền gửi ký thác đến tiền gửi tiết kiệm, từ tiền gửi bằng đồng Việt Nam đến huy động bằng ngoại tệ hệ thống tín dụng ngân hàng tại TP Hồ Chí Minh đã ngày càng tỏ rõ năng lực kinh doanh tiền tệ của mình Trong hoạt động huy động vốn, các NHTM đã áp dụng nhiều hình thức huy động với nhộng kỳ hạn linh hoạt, mở rộng mạng lưới hoạt động và khuyến khích ưu đãi với khách hàng như quà tặng,
xổ số trúng thưởng Vì vậy, nguồn vốn huy động không ngừng tăng lên về qui
mô và tỉ trọng
Bảng 9 : Tinh hình huy động vốn của các NHTM tại TP Hồ Chí Minh
theo đôi tượng huy động tiền gửi
Đơn vị : tỉ đồng
1996 1997 1998 1999 2000 Tiền gửi dân CƯ 10.483 11.1 l o 16.159 18.025 26.352
Trang 33Bảng trên cho thấy tình hình huy động vốn tiền gửi từ dân cư chiêm bình
quân 38% tổng nguồn vốn huy động, tiền gửi của các tổ chức kinh tế là 49% và các tổ chức nước ngoài khoảng 12% Tuy nhiên, trong hai năm 1999 và 2000 tiền gửi từ dân cư và tổ chức kinh tế trong nước có chiều hướng gia tăng rõ rệt, mặc
dù lãi suất trong giai đoạn này được điều chỉnh giảm liên lầc để thực hiện chủ
trương kích cầu Điều này cho thấy lãi suất huy động so với tỉ lệ lạm phát đang ở mức thấp trong thời gian qua vẫn có khoảng cách khá xa, khiến nó vẫn đủ sức
hấp dẫn trong việc thu hút nguồn vốn nhàn rỗi
Nguồn : Ngân hàng Nhà nước
Lãi suất luôn là đòn bẩy kích thích quan trọng của các kênh huy động v ố n
của ngân hàng Trong thời gian qua, chính sách lãi suất của NHNN đã có những cải cách tích cực nhằm từng bước tạo thế chủ động hơn cho các NHTM trong hoạt động kinh doanh tiền tệ Cầ thể là từ tháng 8/2000 NHNN đã chính thức chuyển
sang cơ chế điều hành theo lãi suất cơ bản , các NHTM được chủ động quy định các mức lãi suất cho vay cầ thể của mình theo biên độ xoay quanh mức lãi suất
cơ bản, trên cơ sở đó chủ động quy định các mức lãi suất tiền gửi Với xu thế cạnh tranh về nguồn vốn huy động giữa các NHTM trong thời gian qua, có thể
Trang 34thấy lãi suất tiền gửi n ộ i tệ ở V i ệ t Nam so với các nước trong cùng khu vực và thế giới không quá cao, cụ thể như :
Bảng li : Lãi suất tiền gửi nội tệ ở Việt Nam so
với các nước trong cùng khu vực và thê giới
tượng lãi suất tiền gửi ƯSD tăng cao (5,6%-5,8%/năm) và lãi suất tiền gửi nội tệ giảm, có những tháng tương đương với lãi suất tiền gửi ƯSD, trong khi đó, tỉ giá VND/ƯSD liên tục tăng chậm trong năm đã góp phần tạo điều kiện chuyển dịch
từ VND sang USD, làm gia tăng tình trạng đô- la hóa trong nền kinh tế Việt
Nam Tinh trạng này đưa đến hệ quả là tốc độ huy động vốn bằng đồng nội tệ
thấp nhưng huy động vốn ngoại tệ tăng cao Riêng trên địa bàn TP Hồ CHÍ
MINH, hoạt động huy động vốn cũng phản ánh thực trạng chung nêu trên Cụ
thể:
Trang 35Bảng 12 : Tình hình huy động vốn của hệ thống N H T M tại TP H ồ Chí
Minh phân chia theo loại tiền gửi
Đơn vị : Tỉ đồng
1996 1997 1998 1999 2000 Tổng huy động bằng V N D 14.412 16.483 20.708 24.390 31.135
Tổng huy động bằng ngoại tệ 9.733 12.827 12.423 15.984 25.069 Tổng cộng 24.145 29.310 33.131 40.374 56.204
Nguồn : Ngân hàng Nhà nước
Điều này đã đưa đến nghịch lý trong khi chính phủ và các doanh nghiệp
phải vay ngoại tệ nước ngoài thì các NHTM lại thừa vốn ngoại tệ, đua nhau nâng lãi suất huv động để đem gởi ở ngân hàng nước ngoài hưởng thu nhập hờp pháp Đây là một trong những bất cập trong điều hành chính sách tiền tệ mà Nhà nước cần chấn chỉnh trong thời gian tới
1.2.1.5.2 Huy động vốn trên thị trường tài chính
Bên cạnh hình thức huy động vốn truyền thống là tiền gửi ký thác từ các
đơn vị và các cá nhân, hệ thống NHTM tại TP Hồ Chí Minh còn huy vốn thông qua phát hành kỳ phiếu huy động vốn ngắn hạn Ngoài ra, các NHTM còn có thể vay trên thị trường liên ngân hàng qua tái chiết khấu và điều hòa tín dụng giữa các ngân hàng Huy động qua phát hành kỳ phiếu thường phát sinh khi các
NHTM thiếu vốn tạm thời Do đó, trong hai năm 1999 và 2000 với tình trạng dư thừa vốn huy động nên tỉ lệ huy động qua phát hành kỳ phiếu cũng có chiều
hướng giảm đáng kể
- Huy động vốn trên các thị trường của ngành ngân hàng: thị trường liên
ngân hàng, thị trường mở
Trang 36C ó thể nói các thị trường của ngành ngân hàng V i ệ t N a m thời gian qua hoạt động chưa tích cực, điều này ảnh hưởng lớn đến quá trình điều tiết v ố n và đáp ứng nhu cầu v ố n khả dụng của các N H T M Cụ thể:
• Thị trường nội tệ liên ngân hàng ra đời từ n ă m 1993 theo quyết định s ố 136/QĐ-NH T ừ khi thành lửp cho đến nay thị trường này hoạt động
y ế u k é m , tỉ trọng vốn giao dịch tại đây không đáng kể T ừ n ă m 1995 đến nay cùng với tình trạng dư thừa vốn của các N H T M thì doanh s ố sử
dụng v ố n giữa các N H T M cũng giảm thấp, chỉ c h i ế m bình quân 5%
trong tổng nguồn v ố n huy động Đ ặ c biệt trong hai n ă m 1999 và 2000 tỉ
lệ này giảm xuống chỉ còn xấp xỉ 3%, phản ánh ngày càng rõ tình trạng
t h i ế u tích cực của thị trường này B ở i l ẽ , trên thực t ế v ẫ n tồn tại h i ệ n tượng thừa và thiếu vốn của các N H T M và các chi nhánh ngân hàng khác nhau trên cùng địa bàn vẫn có quan hệ tín dụng trực tiếp; không thông qua cơ chê điều hòa vòn trong hệ thông nên vừa k h ổ k i ể m soát, vừa bộc l ộ khả năng điều hòa vốn của N H T Ư trên thị trường liên ngân hàng rất hạn chê
• Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng được triển khai từ tháng 11/1994 theo quyết định số 203/QĐ-NH13 ngày 20/9/1994 (trước đó vào n ă m
1990 chi nhánh N H N N TP H ồ Chí M i n h đen có tổ chức hoạt động của trung tâm giao dịch ngoại tệ ) Sau một thời gian củng cố, thị trường này càng phát huy vai trò kết nối giao dịch ngoại tệ giữa các tổ chức tín dụng biểu hiện qua giá trị giao dịch bình quân tăng nhanh : từ 58 triệu
U S D / tháng n ă m 1997 đến hơn 217 triệu USD/ tháng n ă m 1999 và hơn
Ì tỉ Ư S D tính đến tháng 9/2000 Tuy nhiên, do d ự trữ ngoại h ố i không lớn nên phần nào hạn c h ế vai trò can thiệp của ngân hàng trung ương
Trang 37M ặ t khác, tình trạng mất cân đối lớn khi cung ngoại tệ nhỏ hơn cầu ngoại tệ trên thị trường này xuất phát từ những nguyên nhân phi kinh
tế như tầm lý găm giữ ngoại tệ, tích lũy ngoại tệ trong thời điểm ƯSD tăng giá đã ảnh hưởng không nhỏ đến tính hiệu quả của thị trường
ngoại tệ liên ngân hàng trong điều tiết tiền tệ của NHTƯ
• Tháng li 2000 hoạt đậng của thị trường mở bắt đầu được vận hành theo
quyết định số 85/2000/ QĐ NHNN14 ngày 9/3/2000 Sự có mặt của thị trường mở ngoài mục tiêu tạo công cụ gián tiếp cho NHNN trong điều hành chính sách liền tệ, còn có lác dụng nhất định tới vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng tham gia trên thị trường, góp phần đa dạng kênh huy đậng và luân chuyển vốn thông qua đấu thầu và giao dịch
các chứng từ có giá ngắn hạn Với 15 thành viên tham gia ban đầu bao gồm sự có mặt của tất cả các NHTMQD, mật số NHTMCP, ngân hàng liên doanh, công ty tài chính, quỹ tín dụng nhân dân trung ương Trong thời gian qua, hàng hóa giao dịch của thị trường mở còn đơn điệu, chủ yếu là tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN Tính đến tháng 12/2000 qua
16 phiên giao dịch, khối lượng vốn luân chuyển qua thị trường này là
2300 tỉ đồng, tập trung ở tín phiếu NHNN ( hơn 70%) Với các phiên
giao dịch cách nhau lo ngày mật lần, thị trường mở hoạt đậng có phần
trầm lắng biểu hiện qua sự tham gia không thường xuyên của các thành
viên : phiên đông nhất có 5 thành viên, thấp nhất là Ì thành viên Mặt khác, công tác tuyên truyền hướng dẫn đối với các TCTD về thị trường này còn hạn chế, việc kết nối hệ thống thông tin giữa trung tâm giao
dịch của thị nường mở với các TCTD chưa [hông suốt Vì vậy hoạt
Trang 38động của thị trường mở vẫn chưa thật sự phát huy những vai trò tích cực
để qua đó tạo cơ hội giao lưu vốn giữa các NHTM trong cả nước
- Huy động vốn qua phát hành trái phiếu
Hiện nay trong ngành ngân hàng, qui mô và tỉ trồng lớn phải kể đến hoạt
động của ngân hàng đầu tư phát triển Việt Nam (BIDV) với tỉ trồng vốn huy động qua phát hành trái phiếu chiếm trên 70% tổng nguồn vốn huy động
• Năm 1995: Phát hành trái phiếu với kỳ hạn 3năm, 5 năm và tổng
nguồn vốn huy động 200 tỉ VND và một triệu USD
• Năm 1998 : Phát hành trái phiếu kỳ hạn 2 năm, 5 năm và tổng
nguồn vốn huy động 1000 tỉ VND
• Năm 1999: Phát hành trái phiếu kỳ hạn 2 năm, 5 năm và tổng
nguồn vốn huy động 3.900 tỉ VND
• Năm 2000 : Với sự có mặt của trung tâm giao dịch chứng khoán
TP.HỒ Chí Minh, BIDV đã đăng ký niêm yết trái phiếu với tổng
giá trị niêm yết trên 80 tỉ VND từ 15/11/2000 Tính đến tháng
3/2001 đã có 38.220 trái phiếu được giao dịch với tổng giá trị giao
dịch 3,68 tỉ đồng Điều này sẽ tạo cơ hội nhiều hơn để BIDV huy
động các nguồn vốn trung dài hạn trong thời gian tới
Điều đáng nói là trong các đợt huy động phát hành trái phiếu của BIDV thì chi nhánh của BIDV tại TP Hồ Chí Minh và sở giao dịch li BIDV tại TP Hồ Chí Minh luôn đạt doanh số huy động cao trong cả nước, góp phần tích cực trong huy động vốn cho những dự án tín dụng đầu tư theo chương trình của chính phủ
Bảng 13: Tình hình huy động vốn qua phát hành các chứng từ có giá của
Trang 39Nguồn: Niên giám thống kê
Có thể nói, trọng thời gian qua, ở nước ta nói chung và trên địa bàn TP H ồ
Chí Minh nói riêng, thị trường vốn vẫn chủ yếu phản ảnh hoạt động tín dụng qua
ngân hàng (nếu không kể đến lượng trái phiếu mà chính phủ phát hành trặc tiếp) Điều này biểu hiện khá rõ trong cơ cấu vốn của các doanh nghiệp: nhiều doanh
nghiệp có đến 60% - 70% vốn hoạt động dặa vào tín dụng ngân hàng Mặc đù có
đóng góp quan trọng trong huy động vốn cho đầu tư phát triển trong thời gian
qua, tuy nhiên với nhu cầu von đầu tư ngày càng tăng của nền kinh tế tất yếu sẽ tạo nên áp lặc cho hoạt động của các NHTM Mặt khác, hiện nay hoạt động tín dụng ngân hàng bắt đầu gặp những bế tắc từ đầu ra cũng như tình hình nợ quá hạn khá cao Do đó, sặ ra đời của TTGDCK TP Hồ Chí Minh là một trong những giải pháp tích cặc để giảm bớt gánh nặng huy động vốn cho hệ thống NHTM
trong thời gian tới Tính đến tháng 3/2001, sau 8 tháng đi vào hoạt động, tổng giá trị giao dịch của TTGDCK đạt 255 , 354 tỉ đồng, bao gồm cổ phiếu của 5 công ty
và 2 loại trái phiếu của chính phủ và trái phiếu của BIDB Chỉ số VN - Index đã tăng hơn 2,6 lần
Nhìn chung, với mục đích khuấy động bầu không khí đầu tư, đồng thời thăm
dò hưởng ứng từ phía công chúng, thì hoạt động của TTGDCK trong bước đầu thử nghiệm như vậy là ổn định, tạo cơ sở cho giai đoạn phát triển tiếp theo
Trang 40Diễn biến chỉ số VN-Index
Tuy nhiên, tính đến nay chỉ có một số công ty đang niêm yết xin phép bán
•a cổ phiếu nhằm giảm căng thẳng cung - cầu cổ phiếu, vừa có cơ hội tăng vốn :ự có như:
• HAPACO bắt đầu từ 11-8-2000 xin phép bán ra 106.700 cổ phiếu
trong vòng 3 tháng
• REE từ 11-8-2000 xin phép bán ra 30.000 cổ phiếu trong 3 tháng và
tiếp đến từ 9-2-2001 xin phép bán ra 1.837.000 cổ phiếu nhưng đến
30-3-2001 REE mới bán ra Ì 000 cổ phiếu hòng tổng số trên
• LAFOOCO từ 22/12 liên tục bán ra trung bình 500 cổ phiếu / phiên và
từ 16-3-2001 có kế hoạch bán ra 7270 cổ phiếu trong thời gian tới
Riêng đối với trái phiếu chính phợ do lãi suất chưa hấp dẫn nên tính đến 3/2001 chỉ có 390 trái phiếu chính phợ được giao dịch Trong khi đó, trái phiếu :ợa BIDV tỏ ra ưu thế hơn ngay từ khi tham gia niêm yết với tổng giá trị giao dịch đã lên đến hơn 3 tỉ đồng Mặc dù vậy, thị trường trái phiếu đang có xu