1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tăng cường thu hút vốn đầu tư vào các KCN, KCX trên địa bàn TP hồ chí minh

89 308 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tăng Cường Thu Hút Vốn Đầu Tư Vào Các KCN, KCX Trên Địa Bàn TP Hồ Chí Minh
Tác giả Nguyễn Đình Dũng
Người hướng dẫn Ths. Lương Hương Giang
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế
Chuyên ngành Kinh Tế Đầu Tư
Thể loại Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 325,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thu hút vốn đầu tư trên địa bàn thành phố Hồ chí minh

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Họ và tên sinh viên: Nguyễn Đình Dũng

Mã sinh viên: CQ514177

Lớp: Kinh tế đầu tư 51G

Em xin cam đoan toàn bộ nội dung và số liệu là do tác giả tự thu thập và tự viết,không sao chép từ bất kì chuyên đề, luận văn nào khác ngoài các tài liệu tham khảonhư đã trích dẫn và được ghi trong danh mục tài liệu tham khảo

Hà Nội ngày 11 tháng 12 năm 2012

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Đình Dũng

Trang 2

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TP HCM

Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỤC LỤC

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1.KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÁC KCN, KCX 3

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 3

1 Những vấn đề lý luận chung về KCN, KCX 3

1.1 Khái niệm và đặc điểm KCN, KCX 3

1.2 Vai trò của các KCN, KCX đối với nền kinh tế 4

1.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển và thu hút vốn đầu tư vào các KCN, KCX 7

2 Giới thiệu chung về các KCN, KCX trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 9

2.1 Khái quát về sự hình thành và phát triển các KCN, KCX trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 9

2.2 Cơ cấu tổ chức quản lý và chức năng nhiệm vụ của Ban quản lý các khu chế xuất và công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh 15

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO CÁC KCN, KCX TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2009 – 2011 18

1 Những lợi thế về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hình thành và phát triển các KCN, KCX 18

1.1 Những lợi thế về điều kiện tự nhiên của TP Hồ Chí Minh 18

1.2 Trình độ phát triển kinh tế xã hội 19

2 Thực trạng thu hút vốn đầu tư vào các KCN, KCX trên địa bàn TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 – 2011 21

2.1 Hoạt động đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng KCN, KCX trên địa bàn TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 – 2011 24

2.2 Tình hình thu hút vốn đầu tư vào phát triển sản xuất kinh doanh trong các KCN, KCX trên địa bàn TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 – 2011 28

3 Đánh giá thực trạng thu hút vốn đầu tư vào các KCN, KCX trên địa bàn TP Hồ Chí Minh 40

Trang 4

CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TẠI CÁC KCN, KCX TRÊN ĐỊA BÀN TP.HỒ CHÍ

MINH 55

1 Định hướng phát triển các KCN, KCX trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 55

1.1 Định hướng và mục tiêu phát triển chung các KCN, KCX Việt Nam đến năm 2020 55

1.2 Quy hoạch và mục tiêu phát triển các KCN, KCX trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 57

2 Mục tiêu thu hút vốn đầu tư vào các KCN, KCX trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 62

3 Một số giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư vào các KCN, KCX trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 64

3.1 Giải pháp về cơ chế chính sách và bộ máy quản lí KCN, KCX 64

3.2 Giải pháp về nâng cao chất lượng quy hoạch các KCN, KCX 66

3.3 Giải pháp về cải thiện và nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng trong và ngoài KCN, KCX 69

3.4 Giải pháp về tăng cường hoạt động xúc tiến đầu tư vào các KCN, KCX 71

3.5 Giải pháp về nâng cao chất lượng nguồn lao động cho các KCN, KCX 74

4 Kiến nghị đối với các cơ quan liên quan 76

4.1 Đối với các Bộ chức năng có liên quan trong quản lý 76

4.2 Đối với Ủy ban nhân dân Thành phố và các Sở liên quan 77

KẾT LUẬN 80

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 5

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Biểu đồ: 2.2 Tỉ trọng thu hút vốn đầu tư vào các KCN, KCX Thành phố Hồ Chí

Minh trong vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 2009 - 2011 23

Biểu đồ: 2.3 Tỉ lệ vốn đầu tư cơ sở hạ tầng trong các KCN, KCX TP Hồ Chí

Minh trong vùng kinh tế Đông Nam Bộgiai đoạn 2009 - 2011 26

Biểu đồ: 2.4 Cơ cấu vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài vào sản

xuất kinh doanh trong các KCN, KCX TP Hồ Chí Minh giaiđoạn 2009 - 2011.30

Biểu đồ: 2.5 Cơ cấu vốn đầu tư (lũy kế) nước ngoài phân theo các KCN, KCX

của TP Hồ Chí Minh giai đoạn2009 - 2011 36

Biểu đồ: 2.6 Cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài vào sản xuất kinh doanh trong các

KCN, KCX TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 – 2011 38

Biểu đồ: 2.7 Cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài trong các KCN, KCX 39

TP Hồ Chí Minh theo hình thức đầu tư giai đoạn 2009 – 2011 39

Trang 6

TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 - 2011 21

Bảng 2.3 Tình hình thu hút vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng các KCN, KCX TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 – 2011 25

Bảng 2.4 Quy mô vốn đầu tư đã được huy động để phát triển cơ sở hạ tầng theo nguồn vốn đầu tư giai đoạn 2009 – 2011 27

Bảng 2.5 Quy mô vốn đầu tư thu hút (lũy kế) vào phát triển sản xuất kinh doanh trong KCN, KCX TP Hồ Chí Minh giai đoạn2009 – 2011 29

Bảng 2.6 Thu hút vốn đầu tư trong nước vào sản xuất kinh doanh trong các KCN, KCX TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 – 2011 31

Bảng 2.7 Thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào sản xuất kinh doanh trong các KCN, KCX TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 – 2011 33

Bảng 2.8 Tình hình thu vốn đầu tư nước ngoài lũy kế vào sản xuất kinh doanh phân theo từng KCN, KCX trên địa bàn TP Hồ Chí Minh giai đoạn2009 - 2011 35

Bảng 2.9 Cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài vào các KCN, KCX TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 – 2011 37

Bảng 2.10 Cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài trong các KCN, KCX 39

TP Hồ Chí Minh theo hình thức đầu tư giai đoạn 2009 – 2011 39

Bảng 2.11 Diện tích đất công nghiệp tăng thêm của các KCN, KCX trên địa bàn TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 – 2011 42

Bảng 2.12 Tỉ số vốn đầu tư trên một đơn vị diện tích đất công nghiệp cho thuê của các KCN, KCX TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 – 2011 43

Bảng 2.13 Tỉ lệ lấp đầy các KCN, KCX đi vào hoạt động trên địa bàn 44

TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 – 2011 44

Bảng 2.14 Đóng góp của các doanh nghiệp KCN, KCX TP Hồ Chí Minh 44

giai đoạn 2009 – 2011 44

Bảng 3.1 Bảng tổng quy hoạch các khu công nghiệp - chế xuất thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2015, và định hướng đến năm 2020 60

Y

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

Khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX) là một mô hình phát triển côngnghiệp mới ở Việt Nam xuất hiện trong những năm đầu của thập kỉ 90( năm 1991,khu chế xuất Tân Thuận, khu chế xuất đầu tiên của Việt Nam được thành lập).Tuythời gian hình thành và phát triển chưa dài nhưng ngay từ khi mới xuất hiện cho đếnnay, các KCN.KCX đã và đang khẳng định được vai trò to lớn của mình trong côngcuộc CNH – HĐH đất nước Trong quá trình phát triển của các KCN, KCX ngoàitác động từ yếu tố định hướng, chính sách của Đảng, Chính phủ, phải cả đến nhữngđóng góp vô cùng to lớn của nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước Có thể khẳngđịnh rằng, đây chính là một bộ phận hết sức quan trọng mà bất cứ một KCN, KCXnào khi xây dựng và phát triển đều phải cần đến

Là hạt nhân quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (TP Hồ ChíMinh, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu), Thành phố Hồ Chí Minh có rất nhiều tiềmnăng to lớn để phát triển một nền công nghiệp theo hướng hiện đại Vị trí địa lí,điều kiện tự nhiên thuận lợi, kinh tế phát triển nhanh chóng là những ưu thế lớn của

TP Hồ Chí Minh trong quá trình xây dựng, phát triển các KCN, KCX và thu hútvốn đầu tư vào các khu vực này Thực hiện tốt mục tiêu, định hướng của Đảng, Nhànước về phát triển khu công nghiệp, lại nhận biết và phát huy tốt lợi thế của mình

TP Hồ Chí Minh đã đạt được rất nhiều thành tựu nổi bật và trở thành một trongnhững địa phương dẫn đầu cả nước về xây dựng và phát triểu các KCN, KCX cũngnhư thu hút vốn đầu tư Việc phát triển mạnh các KCN, KCX trên địa bàn Thànhphố cũng như tăng cường vận động thu hút các nguồn vốn đầu tư vào quá trình pháttriển đã góp phần đáng kể vào nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội củaThành phố như tăng thu ngân sách nhà nước, kinh tế phát triển nhanh và chuyểndịch theo hướng hiện đại, cải thiện trình độ kĩ thuật công nghệ, nâng cao tay nghềcho người lao động, góp phần giải quyết việc làm cho hàng chục vạn lao động trựctiếp và gián tiếp vào làm việc trong các KCN, KCX của Thành phố

Mặc dù đã đạt được rất nhiều thành tựu tích cực, đem lại sự phát triển chokinh tế - xã hội của Thành phố, song quá trình phát triển và thu hút vốn đầu tư vàocác khu công nghiệp, khu chế xuất của Thành phố cũng đã bộc lộ một số tồn tại gâyảnh hưởng tới quá trình thu hút vốn đầu tư như: ô nhiễm môi trường, thiếu quỹ đấtdành cho việc sản xuất, cơ sở hạ tầng trong và ngoài khu công nghiệp còn thiếu

Trang 8

đồng bộ… Do đó, trong những năm tới đòi hỏi Thành phố cần phải có những giảipháp để khắc phục nhanh chóng những tồn tại trên để có thể đẩy nhanh, mạnh hơnnữa quá trình phát triển và thu hút vốn đầu tư vào các KCN, KCX.

Sau một thời gian thực tập và nghiên cứu tại Vụ quản lí các khu kinh tế (Bộ

Kế hoạch – đầu tư), được sự chỉ bảo, giúp đỡ và định hướng của cô giáo Th.SLương Hương Giang cùng với Th.S Vũ Quốc Huy, chuyên viên Vụ quản lí các khu

kinh tế, em đã quyết định chọn đề tài: “Tăng cường thu hút vốn đầu tư vào các KCN, KCX trên địa bàn TP Hồ Chí Minh” làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp

của mình

Kết cấu của đề tài gồm có 3 chương chính là :

Chương 1.Khái quát chung về các KCN, KCX trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

Chương 2 Thực trạng thu hút vốn đầu tư vào các KCN, KCX trên địa bàn

TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 – 2011

Chương 3 Định hướng phát triển và giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu

tư vào các KCN, KCX trên đại bàn TP Hồ Chí Minh

Trong quá trình nghiên cứu do những hạn chế về kiến thức cũng như nhữnghạn chế về mặt tài liệu Do đó, chuyên đề chỉ nêu lên trong giới hạn các dự án đượcphép công khai nên những đánh giá có thể chưa được toàn diện và không tránh khỏinhững thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy, côgiáo để bài viết của em được hoàn thiện

Em xin trân trọng cảm ơn cô giáo Ths Lương Hương Giang đã tận tình hướngđẫn em hoàn thành chuyên đề này

Trang 9

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÁC KCN, KCX

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1 Những vấn đề lý luận chung về KCN, KCX

1.1 Khái niệm và đặc điểm KCN, KCX

Khái niệm về Khu chế xuất , Theo Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày

14/03/2008 của Chính phủ quy định về Khu công nghiệp, Khu chế xuất và khukinh tế thì : “Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu,thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giớiđịa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối vớikhu công nghiệp quy định tại Nghị định này.Trong khu chế xuất bao gồm một hoặcnhiều doanh nghiệp hoạt động, có ranh giới về mặt địa lý xác định, do chính phủquyết định thành lập với những đặc điểm sau:

- Đó là một khu vực lãnh thổ của một nước, được quy hoạch độc lập, thườngđược ngăn cách bằng tường rào kiên cố để hoạt động cách biệt với phần nội địa

- Mục đích hoạt động của khu chế xuất là thu hút các nhà sản xuất côngnghiệp nước ngoài và trong nước hướng vào xuất khẩu thông qua những biện phápđặc biệt như ưu đãi về thuế quan, về các điều kiện mậu dịch và các loại thuế khác

- Hàng hóa, tư liệu sản xuất- nhập khẩu của khu chế xuất được miễn thuếquan

Khái niệm về Khu công nghiệp, Theo Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày

14/03/2008 của Chính phủ quy định về Khu công nghiệp, Khu chế xuất và khukinh tế thì KCN được xác định là: “Khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thựchiện các dịch vụ phục vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định,được thành lập theo các điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này”Khu công nghiệp là một tổ chức không gian lãnh thổ công nghiệp luôn luôn gắn liềnphát triển công nghiệp với xây dựng cơ sở hạ tầng, hình thành các mạng lưới đô thị

và phân bố dân cư hợp lý có những đặc điểm chính sau đây:

- KCN có các chính sách kinh tế đặc thù, ưu đãi, nhằm thu hút vốn đầu tưtrong nước và nước ngoài, tạo môi trường đầu tư thuận lợi, hấp dẫn cho phép các

Trang 10

nhà đầu tư sử dụng những phạm vi đất đai nhất định trong khu công nghiệp đểthành lập các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh tế, dịch vụ với những ưu đãi vềthủ tục xin phép và thuê đất (giảm hoặc miễn thuế ).

- Ở Việt Nam do Nhà nước không có đủ vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầngnên việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN được hiểu là tiến hành kêu gọi vốnđầu tư trong nước và nước ngoài kể cả xây dựng cơ sở hạ tầng

- Sản phẩm của các nhà máy, xí nghiệp trong KCN sản xuất ra dành chủ yếucho thị trường thế giới, đối tượng chủ yếu là phục vụ xuất khẩu Tuy nhiên, đểtăng thu ngoại tệ bằng cách giảm tối đa việc nhập khẩu các máy móc, thiết bị vàhàng hoá tiêu dùng thì các nhà sản xuất trong KCN cũng rất quan tâm đến việc sảnxuất hàng hoá có chất lượng cao với mục đích thay thế cho hàng nhập khẩu

1.2 Vai trò của các KCN, KCX đối với nền kinh tế

Sự phát triển nhanh và mạnh mẽ của các KCN, KCX có vai trò rất quan trọngtrong quá trình thu hút vốn cũng như đẩy mạnh phát triển kinh tế của một quốc gia.Điều này được thể hiện qua các mặt chủ yếu như:

Thứ nhất, tạo ra nền tảng để huy động được lượng vốn đầu tư lớn của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước, phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

Từ mục tiêu ban đầu là tạo môi trường thu hút đầu tư nước ngoài, phát triểncác KCN cũng là một trong những giải pháp để thực hiện chủ trương phát huy nộilực của các thành phần kinh tế trong nước Trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐHhiện nay, KCN với vai trò thu hút và đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư đã thực sự

có đóng góp không nhỏ trong việc huy động nguồn lực vào thực hiện mục tiêu pháttriển kinh tế đất nước

Thứ hai, góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các vùng, các địa phương theo hướng CNH, HĐH, góp phần chuyển dịch cơ cấu và tăng trưởng kinh tế chung của cả nước.

Sự phát triển sản xuất, kinh doanh trong các KCN, KCX là một nhân tố quantrọng trong việc thúc đẩy sản xuất công nghiệp ở một địa phương nói riêng và trongmột quốc gia nói chung, góp phần nâng cao giá trị sản xuất công nghiệp và tăng tỉ

Trang 11

trọng của công nghiệp trong cơ cấu GDP của cũng như thúc đẩy nhanh hơn quátrình tăng trưởng của nền kinh tế đất nước.

Mặt khác, với phần lớn các dự án sản xuất kinh doanh trong các KCN, KCXđều hướng tới xuất khẩu sẽ góp phần nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa trongnước trên thị trường thế giới từ đó nâng cao được vị thế và uy tín của nền kinh tếđất nước

Thứ ba, góp phần cải thiện công nghệ và làm xuất hiện ngành nghề mới góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH.

Cùng với dòng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào các KCN, KCX thì các côngnghệ sản xuất, quản lý hiện đại và mang tính khoa học cao cũng sẽ theo chân cácnhà đầu tư vào quốc gia tiếp nhận qua đó có thể nâng cao trình độ khoa học côngnghệ của quốc gia Các dự án đầu tư nước ngoài vào KCN không những góp phầnnâng cao hàm lượng công nghệ trong sản phẩm của các doanh nghiệp KCN, màqua mối quan hệ hợp tác đầu tư với nước ngoài, vị thế và sức hấp dẫn đầu tư của đấtnước trên trường quốc tế được cải thiện và góp phần đẩy mạnh mối quan hệ hợp tácquốc tế và khu vực

Thứ tư, sự phát triển của các KCN, KCX góp phần quan trọng giải quyết việc làm, giải quyết các vấn đề xã hội.

Các doanh nghiệp trong các KCN, KCX đều có xu hướng sử dụng lao độngphổ thông từ nguồn lao động của nước tiếp nhận đầu tư là chủ yếu, do đó sự pháttriển mạnh mẽ của các KCN, KCX là một nhân tố quan trọng góp phần giải quyếtviệc làm cho lực lượng lao động trong nước

Mặt khác,phát triển KCN cũng đồng nghĩa với hình thành và phát triển mạnh

mẽ thị trường lao động, nhất là thị trường lao động trình độ cao Cạnh tranh và quan

hệ cung - cầu lao động diễn ra ở khu vực này cũng rất gay gắt, tạo động lực để laođộng không ngừng phấn đấu, nâng cao tay nghề

KCN, KCX có mô hình tổ chức và quản lý nói chung, tổ chức và quản lý nhânlực nói riêng, rất tiên tiến, đạt trình độ quốc tế và đa dạng Đây là môi trường rất tốt

để đào tạo, chuyển giao khoa học quản lý cho đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệpcủa đất nước để có thể thay thế dần lao động quản lý người nước ngoài

Trang 12

Thứ năm, góp phần tạo ra một hệ thống kết cấu hạ tầng công nghiệp mới, hiện đại, có giá trị lâu dài đồng thời góp phần hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng trên cả nước

Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng là điều kiện hết sức quan trọng và cấp thiếtcủa nền kinh tế quốc dân Tại các vùng, địa phương có các KCN, KCX đã hoànthành đầu tư cơ bản và đi vào hoạt động, kết cấu hạ tầng được đầu tư đồng bộ vàhoàn thiện thực sự góp phần thay đổi diện mạo của địa phương, tạo điều kiện thuậnlợi cho việc đẩy mạnh thu hút đầu tư vào KCN cũng như thúc đẩy mối liên kết kinh

Các KCN, KCX ra đời đã tạo nên những vùng công nghiệp tập trung, tác độngrất tích cực tới việc phát triển các cơ sở nguyên liệu, thúc đẩy phát triển các loạihình dịch vụ phục vụ công nghiệp, nâng cao giá trị nông sản hàng hoá, nâng caohiệu quả tổng hợp của các ngành sản xuất

Bên cạnh đó, việc phát triển các KCN có tác động rất rõ rệt đến quá trình quyhoạch, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cũng như quá trình chuyển dịch cơ cấulao động của địa phương nơi KCN đóng và các địa phương lân cận

Các KCN cũng có tác động lan toả rất lớn đến công nghiệp địa phương Các

dự án đầu tư trong KCN đều là những dự án đầu tư mới, phần lớn được trang bịmáy móc, thiết bị thế hệ mới, đồng bộ; có dự án có công nghệ hiện đại, mức độ tựđộng hoá cao sản xuất ra sản phẩm có chất lượng tốt và ổn định tạo áp lực cạnhtranh đối với các doanh nghiệp khác sản xuất sản phẩm cùng loại phải áp dụng mọibiện pháp để không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, góp phần giúp côngnghiệp địa phương vừa có thể phục vụ nhu cầu tại chỗ vừa có thể xuất khẩu ra thịtrường bên ngoài

Trang 13

1.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển và thu hút vốn đầu tư vào các KCN, KCX

1.3.1 Điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý

Có thể dễ dàng nhận thấy rằng điều kiện tự nhiên và vị trị địa lý luôn là nhân

tố quan trọng có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành các KCN, KCX, điều kiện

tự nhiên thuận lợi trên một vị trí địa lý hợp lý chính là tiền đề cho sự thành công củamột KCN hay KCX

Các KCN, KCX cần phải được xây dựng ở một vị trí địa lý thuận lợi, phảiđảm bảo cho sự giao lưu hàng hoá giữa KCN, KCX với thị trường trong nước vàquốc tế, giữa KCN, KCX với các vùng còn lại trong cả nước Đây chính là một điềukiện cực kỳ cần thiết đối với sự thành công của bất kỳ KCN, KCX nào, nó đảm bảocho việc vận chuyển hàng hoá, nguyên, nhiên, vật liệu ra vào các KCN, KCX đượcnhanh chóng và thuận tiện nhất nhằm giảm thiểu các chi phí về lưu thông và tăngkhả năng cạnh tranh của hàng hoá do các DN trong KCN sản xuất ra Còn đối vớicác nhà đầu tư thì vấn đề cũng rất được quan tâm đó chính là nguồn nguyên liệu sẵn

có ở địa phương có đủ cung cấp thường xuyên cho các doanh nghiệp sản xuất haykhông, tình hình địa chất của khu vực KCN, KCX phải đảm bảo khả năng để xâydựng các xí nghiệp, các công trình phục vụ cho sản xuất công nghiệp hay không

1.3.2 Cơ chế, chính sách của địa phương về phát triển và thu hút vốn đầu tư vào các KCN, KCX

Nơi có dự kiến xây dựng KCN, KCX cần phải có sự ổn định về các mặt chínhtrị, an ninh và trật tự xã hội để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ quyềnlợi và lợi ích hợp pháp cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư tham gia kinh doanh

và đầu tư, đây là một yếu tố rất quan trọng Kinh nghiệm từ thực tiễn cho thấy, cácnhà đầu tư nước ngoài nhiều khi không coi những ưu đãi về kinh tế là quan trọnghàng đầu, mà cái chính là sự ổn định về chính trị, xã hội của nước tiếp nhận đầu tư

để họ có thể yên tâm đầu tư sản xuất và kinh doanh

Chủ trương chính sách của địa hương hay của đất nước cũng đóng vai trò quantrọng đối với sự thành công hay thất bại của việc phát triển KCN, KCX cũng nhưthu hút nguồn vốn đầu tư.Nếu như có những chính sách để ưu đãi thì các nhà đầu tư

sẽ giảm được chi phí sản xuất và tăng lợi nhuận kinh doanh tạo nên sự hấp dẫn đối

Trang 14

với các nhà đầu tư Chính vì vậy, chính sách đầu tư có một mối quan hệ chặt chẽvới việc thu hút đầu tư vào KCN, KCX Các chính sách ưu đãi đối với nhà đầu tưphổ biến có thể kể đến: miễn giảm thuế công ty, gảm thuế xuất nhập khẩu, thuế lợitức; không hạn chế việc chuyển vốn và lợi nhuận của các nhà đầu tư ra nước ngoài;giảm tiền thuê tài sản cố định, xác định rõ quyền sử dụng đất của các nhà đầu tư

sẽ là những chính sách hấp dẫn các nhà đầu tư

Bên cạnh đó, các chính sách kinh tế vĩ mô của quốc gia cũng ảnh hưởngkhông nhỏ đến sự thành công của KCN, KCX Đó là các chính sách về: đầu tư,thương mại, lao động, ngoại hối, lãi suất, và các chính sách khác

1.3.3 Tổ chức quản lý, điều hành các KCN, KCX.

Công tác quản lý điều hành các KCN, KCX là việc: tổ chức xây dựng và giámsát các hoạt động ở trong KCN, KCX nhằm đảm bảo cho các KCN, KCX vận hànhtheo cơ chế hay các mục tiêu cụ thể Công tác quản lý điều hành này được các nhàquản lý thực hiện từ trung ương đến cơ sở, các ban ngành Chính vì vậy nếu việcquản lý, điều hành này được triển khai đồng bộ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cácKCN, KCX phát triểnvà ngược lại nếu như việc điều hành quản lý thực hiện thiếu

sự đồng bộ thì sẽ gây khó khăn trở ngại cho sự phát triển các KCN, KCX

Sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ,ban, ngành ở trung ương và ủy ban nhân dâncác tỉnh thành, ban quản lý các KCN trong việc nghiên cứu, điều chỉnh quy hoạchphát triển các KCN sẽ tạo khả năng thu hút vốn đầu tư theo một cơ cấu phù hợp vớicác điều kiện sẵn có của địa phương của các địa phương, phù hợp với chiến lướcphát triển được các địa phương đề ra, thuận lợi cho việc phát triển lâu dài các KCN.Mặt khác, viêc phân cấp, giao quyền từ trung ương xuống cho cơ sở sẽ làm tăngtính trách nhiệm và hiệu quả trong quản lý phát triển các KCN

1.3.4 Một số nhân tố khác

Một số nhân tố khác cũng sẽ ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển cácKCN cụ thể đó là:

Trang 15

Sự khủng hoảng, cạnh tranh giữa các KCN khác nhau giữa các địa phương,các vùng khác nhau về thị trường tiêu thụ các sản phẩm đầu ra của các KCN Điềunày sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp tới việc thu hút vốn đầu tư vào các KCN Cạnh tranh

sẽ tạo ra sự chồng chéo trong việc sản xuất các sản phẩm Điều này xảy ra khi màcác KCN ở gần nhau và cùng sản xuất ra những mặt hàng tương tự nhau gây ra cạnhtranh đầu tư, cạnh tranh thị trường gây lãng phí nguyên liệu… Ngược lại, nếu như

có sự phối hợp hài hòa, bổ sung hợp lý cho nhau trong việc quản lý, xây dựng giữacác KCN trong cùng một địa phương, một vùng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cácnhà đầu tư khi lựa chọn các lĩnh vực đầu tư phù hợp

Ngoài ra, một yếu tố nữa cũng có ảnh hưởng quan trọng tới việc phát triển cácKCN đó là vấn đề giải phóng mặt bằng quy hoạch, ngoài việc cần phải gấp rút giảiphóng mặt bằng, cần phải lưu ý đến khả năng đền bù không quá cao để tránh việcđẩy giá đất lên cao làm kém đi tính hấp dẫn đối với nhà đầu tư Giá thuê đất phảiđược cân đối với khung giá đất ở các địa phương lân cận và của khu vực sao chothật sự hợp lý, có sức cạnh tranh cao

2 Giới thiệu chung về các KCN, KCX trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

2.1 Khái quát về sự hình thành và phát triển các KCN, KCX trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

2.1.1 Tổng quan về sự hình thành và phát triển của các KCN, KCX vùng Đông Nam Bộ.

Đông Nam Bộ là khu vực kinh tế phát triển năng động nhất Việt Nam, dẫn đầu

cả nước về kim ngạch xuất khẩu, vốn đầu tư nước ngoài, đóng góp hơn 2/3 thu ngânsách hàng năm và có tỷ lệ đô thị hóa cao; là khu vực có vị trí thuận lợi cho pháttriển kinh tế: phía Bắc và phía Tây Bắc giáp với Campuchia, phía Tây Nam giápvới khu vực đồng bằng sông Cửu Long, phía Đông giáp với Tây Nguyên và khuvực duyên hải Nam Trung Bộ, phía Đông - Đông Nam giáp với biển Đông

Là vùng kinh tế hàng đầu của cả nước, Đông Nam Bộ là khu vực có ngànhcông nghiệp phát mạnh mẽ, theo hướng hiện đại với giá trị sản xuất cao nhất trongcác vùng kinh tế trên cả nước (đạt 555,4 ngàn tỷ đồng, chiếm 44,68% giá trị sảnxuất công nghiệp của cả nước vào năm 2011), với các ngành công nghiệp chủ lựcnhư: Công nghiệp năng lượng, Công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, Công

Trang 16

nghiệp cơ điện tử, Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng: dệt may, da giày, nhựa, cơkim khí tiêu dùng, hóa mỹ phẩm, giấy, văn phòng phẩm , Công nghiệp xây dựng

và vật liệu xây dựng cao cấp

Có được những thành tích như ngày hôm nay là nhờ có sự đóng góp rất lớn củacác KCN, KCX trên địa bàn các tỉnh miền Đông Nam Bộ: TP Hồ Chí Minh, ĐồngNai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây Ninh và Bình Phước Cùng với cả nước,các KCN, KCX của vùng cũng được hình thành và phát triển gắn liền với công cuộcđổi mới, mở cửa nền kinh tế được khởi xướng từ Đại hội Đại biểu toàn quốc ĐảngCộng sản Việt Nam lần thứ VI (năm 1986) Đầu thập kỷ 90 của thế kỷ thứ 20, trongbối cảnh nền kinh tế và đời sống xã hội nước ta bị tác động mạnh mẽ bởi cuộckhủng hoảng kinh tế thế giới, sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩaĐông Âu, Đại hội VII đã kịp thời và sáng suốt đề ra những đường lối, chủ trươngđổi mới mạnh mẽ và toàn diện nền kinh tế, tiến hành CNH, HĐH đất nước, được cụthể hoá bằng Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội 1991-2000 Hàng loạtcác chương trình phát triển kinh tế - xã hội được triển khai để thực hiện Nghị quyếtcủa Đại hội VII, trong đó có chính sách phát triển KCN, KCX với sự ra đời củaKCX Tân Thuận tại Thành phố Hồ Chí Minh (1991) và việc ban hành Quy chếKCX (Nghị định 322/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 18/10/1991) và Quychế KCN (Nghị định 192/CP của Chính phủ ngày 28/12/1994)

Năm 1991, KCX Tân Thuận mô hình khu chế xuất đầu tiên của cả nước cũngnhư của vùng ra đời làm nền tảng hình mẫu cho sự hình thành các khu công nghiệp,khu chế xuất của vùng Phát huy được lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh tế, laođộng… tính đến hết năm 2011, các tỉnh thuộc vùng kinh tế Đông Nam Bộ đã xâydựng và phát triển được 98 KCN, KCX trong đó đã có 73 KCN, KCX đã đi vàohoạt động, với tổng diện tích đất tự nhiên 33919 (ha) và diện tích đất công nghiệp

có thể cho thuê là 22127 (ha) Phát triển KCN, KCX nhằm đáp ứng mục tiêu tạo đàtăng trưởng công nghiệp, tăng nguồn hàng hóa xuất khẩu, tạo thêm việc làm và từngbước phát triển công nghiệp của vùng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa,góp phần vào sự phát triển chung của đất nước Đồng thời, việc hình thành và pháttriển nhanh các KCN, KCX đã thúc đẩy các cơ sở sản xuất, dịch vụ trong vùng cùngphát triển

Trang 17

Các KCN, KCX của vùng được phân bố theo hướng vừa có thể tập trung đẩymạnh phát triển công nghiệp ở các tỉnh có lợi thế và tiềm năng như: Đồng Nai, BìnhDương, TP Hồ Chí Minh; vừa tạo điều kiện để các địa phương có ít lợi thế hơnnhư: Tây Ninh, Bình Phước có động lực để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Bảng 1.1 Số lượng và quy mô diện tích của các KCN, KCX vùng Đông Nam Bộ

đến năm 2011.

Tỉnh (Thành phố)

Số lượng KCN, KCX

Diện tích KCN, KCX (ha)

Diện tích đất công nghiệp

có thể cho thuê (ha)

Diện tích đất bình quân 1 KCN

-Nguồn: Vụ quản lí các khu kinh tế - Bộ Kế hoạch và đầu tư

Các tỉnh (Thành phố) vùng Đông Nam Bộ đã hình thành được một hệ thống cácKCN, KCX phát triển theo hướng hiện đại, bên cạnh các khu công nghiệp nòng cốt

có quy mô lớn nhằm phát huy tối đa khả năng phát triển các ngành công nghiệp làcác khu công nghiệp vừa và nhỏ nhằm thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế xã hội ởcác địa phương còn khó khăn, kinh tế chậm phát triển hơn tạo ra sự cân bằng hơntrong quá trình phát triển của các địa phương trong vùng Hiện nay, trên địa bàn cáctỉnh vùng kinh tế Đông Nam Bộ quy mô các KCN, KCX cũng khá đa dạng và phùhợp với điều kiện phát triển và trình độ năng lực kinh tế của mỗi tỉnh (Thànhphố).Quy mô trung bình của các KCN, KCX vùng Đông Nam Bộ đến hết năm 2011

và khoảng 346ha và có sự khác biệt nhau về quy mô các KCN giữa các địa phươngtrong vùng

Trang 18

Biểu đồ 1.1 Tỉ lệ các KCN, KCX phân theo tỉnh (Thành phố) vùng Đông Nam

Bộ đến năm 2011

Nguồn: Vụ quản lí các khu kinh tế - Bộ Kế hoạch và đầu tư

Trên cơ sở đánh giá tương quan về điều kiện và tiềm năng phát triển côngnghiệp của các tỉnh (Thành phố) trong vùng, các KCN, KCX được xây dựng phân

bố tập trung ở các địa phương có nhiều tiềm năng và lợi thế so sánh như: Đồng Nai,Bình Dương, TP Hồ Chí Minh; chỉ tính riêng 3 địa phương này đã chiếm tớikhoảng 73% số lượng các KCN, KCX của vùng Đông Nam Bộ (72 trên tổng số 98KCX, KCX)

Xét một cách tổng quan, nhìn chung các KCN, KCX vùng Đông Nam Bộ đượchình thành và phát triển khá phù hợp với quy hoạch xây dựng và phát triển KCN cảnước và định hướng phân bố công nghiệp của các địa phương trong vùng Qua đógóp phần đáng kể vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của vùng và của từng địaphương

Đ ng Naiồng NaiBình Dươngng

TP H Chí Minhồng Nai

Bà R a – Vũng Tàuịa – Vũng TàuTây Ninh

Bình Phướcc

Trang 19

2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển các KCN, KCX trên địa bàn Thành phố

Hồ Chí Minh.

Thành phố Hồ Chí Minh với vai trò đầu tàu trong đa giác chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội, thành phố Hồ Chí Minh đã trở thành trung tâm kinh tế, văn hoá - dulịch, giáo dục - khoa học kỹ thuật - y tế lớn của cả nước là địa phương đầu tiên đượcchọn là nơi thí điểm cho việc hình thành và phát triển các KCN, KCX Tính đếnnăm 2011, sau hai mươi năm khởi đầu từ dự án xây dựng KCX Tân Thuận đầu tiêntại thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1991, tiếp theo đó là KCX Linh Trung, rồi lầnlượt hình thành các khu công nghiệp ở các quận, huyện vùng ven thành phố Sau 20năm quy hoạch phát triển, thành phố Hồ Chí Minh đến nay đã có 3 KCX và 12KCN đi vào hoạt động Các KCX - KCN thành phố đã đạt được những kết quả nhấtđịnh, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của thành phố

Bảng 1.2 Danh mục các KCN, KCX trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

8 Lê Minh Xuân Huyện Bình

Trang 20

Tân Bình mở rộng Quận Bình Tân 2009 24,01

Nguồn: Vụ quản lí các khu kinh tế - Bộ Kế hoạch và đầu tư

Trong những năm đầu tiên thực hiện xây dựng thí điểm TP Hồ Chí Minh chỉ

có 2 KCN, KCX nhưng trong những năm sau đó ở giai đoạn 1996 – 1997, trên địabàn Thành phố đã có rất nhiều các KCN, KCX được thành lập với quy mô khá lớn.Sau một thời gian phát triển mạnh mẽ, từ năm 2000 trở lại đây số lượng các KCN,KCX được thành lập mới trên trên địa bàn Thành phố có xu hướng giảm dần nhưngquy mô của các KCN, KCX vẫn rất lớn, điều này là do có sự thay đổi trong quyhoạch phát triển các KCN, KCX của Thành phố với xu hướng mở rộng về các vùngngoại thành nơi quỹ đất vẫn còn nhiều

2.2 Cơ cấu tổ chức quản lý và chức năng nhiệm vụ của Ban quản lý các khu chế xuất và công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh.

Các KCN, KCX trên địa bàn TP Hồ Chí Minh chịu sự quản lí trực tiếp của Banquản lý các khu chế xuất và công nghiệp Thành phố (Hepza) Ban quản lý các khuchế xuất và công nghiệp TP Hồ Chí Minh được thành lập theo Quyết Định số 731/TTg ngày 03/10/1996 của Thủ Tướng Chính Phủ để thực hiện quản lý hành chínhnhà nước hoạt động của các KCX, KCN trên địa bàn TP.HCM theo nguyên tắc

"Một cửa-tại chỗ"

Từ tháng 10/2000, Ban quản lý được chuyển giao trực thuộc Ủy ban nhân dânThành phố theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 100/QĐ-TTg ngày17/08/2000 Ban quản lý chịu sự chỉ đạo và quản lý về Tổ chức, biên chế, chương

Trang 21

trình công tác và kinh phí hoạt động của Ủy ban nhân Thành phố, đồng thời chịu sựchỉ đạo về nghiệp vụ chuyên môn của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chínhphủ quản lý ngành, lĩnh vực Ban Quản lý có tư cách pháp nhân; tài khoản và condấu mang hình quốc huy; kinh phí quản lý hành chính nhà nước, kinh phí hoạt động

sự nghiệp và vốn đầu tư phát triển do ngân sách nhà nước cấp theo kế hoạch hàngnăm

Ban quản lý các khu chế xuất và công nghiệp TP Hồ Chí Minh bao gồm 1trưởng ban và 4 phó trưởng ban cùng với đội ngũ cán bộ nhân viên tại 9 phòng ban(quản lý đầu tư, quản lý xây dựng, quản lý môi trường, quản lý lao động, quản lýxuất nhập khẩu, quản lý doanh nghiệp, Thanh tra, Đại diện và Văn phòng) và đơn vịtrực thuộc

Trang 22

Ban quản lý (Trưởng ban, các phó trưởng ban)

Văn phòng

P Quản lý doanh nghiệp

P Quản lý đầu tư

P Quản lý xuất nhập khẩu

P Quản lý lao động

P Đại diện

Hiệp hội doanh nghiệp các KCNQuỹ hỗ trợ công nhânTrung tâm dịch vụ công nghiệp và thông tinBan thanh tra Trung tâm giới thiệu việc làm

Sơ đồ 1.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức Ban quản lý các khu chế xuất và công nghiệp

TP Hồ Chí Minh.

Nguồn: Ban quản lý các khu chế xuất và công nghiệpTP Hồ Chí Minh

Trang 23

Ban quản lý các khu chế xuất và công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh có các chức năng, nhiệm vụ chính là:

- Xây dựng Điều lệ quản lý khu chế xuất và công nghiệp trình UBND TP phêduyệt

- Tổ chức xây dựng và quản lý thực hiện quy hoạch chi tiết, tiến độ xây dựng,phát triển khu chế xuất và công nghiệp bao gồm : xây dựng qui hoạch phát triểncông trình kết cấu hạ tầng ; qui hoạch bố trí ngành nghề ; tham gia phát triển côngtrình kết cấu hạ tầng ngoài khu chế xuất và công nghiệp có liên quan và khu dân cưphục vụ cho công nhân lao động tại khu chế xuất và công nghiệp

- Đôn đốc, kiểm tra việc xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng trong vàngoài khu chế xuất và công nghiệp liên quan để đảm bảo việc xây dựng và đưa vàohoạt động đồng bộ theo đúng quy hoạch và tiến độ được duyệt

Trang 24

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO CÁC

KCN, KCX TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH

GIAI ĐOẠN 2009 – 2011

1 Những lợi thế về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hình thành và phát triển các KCN, KCX.

1.1 Những lợi thế về điều kiện tự nhiên của TP Hồ Chí Minh

Với rất nhiều điều kiện tự nhiên và tiềm năng đa dạng, TP Hồ Chí Minh cónhững điều kiện rất thuận lợi để thực hiện chính sách mở cửa kinh tế, xây dựng vàphát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất để thu hút vốn đầu tư

Địa hình Thành phố có độ cao trung bình hơn 6m so với mặt nước biển, bề mặtđịa hình cao ở vùng Bắc – Đông và thấp dần xuống ở vùng Nam và Đông Namhướng ra biển Hệ thống song ngòi dày đặc với hệ thống kênh rạch trải dài hơn

29000 ha đất Khí hậu Thành phố rất ôn hòa, chia làm hai mùa ( mùa mưa và mùakhô) rõ rệt, nhiệt độ trung bình khoảng từ 270C – 290C, sự chênh lệch về nhiệt độgiữa các mùa không quá lớn Lượng mưa trung bình khoảng 2000mm với độ ẩmtrung bình khoảng 75% - 80% Thành phố nằm ở vị trí giao lưu thuận lợi với cáctỉnh trong nước và với quốc tế thông qua hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt,đường thủy và đường hàng không khá hiện đại và đồng bộ

Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở vị trí trung tâm của vùng kinh tế Đông Nam

Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh, phía Đông vàĐông Bắc giáp tỉnh Long An và Tiền Giang Tổng diện tích đất tự nhiên của TP HồChí Minh là 2056km2 Vùng đô thị với 140km2 bao gồm 19 quận, vùng nông thônrộng lớn với 1916km2 bao gồm 5 huyện, tất cả đều có tiềm năng phát triển côngnghiệp rất to lớn

Thành phố Hồ Chí Minh có vị trí địa lý kinh tế rất thuận lợi cùng với nhữngthành quả phát triển đã đạt được tạo ra lợi thế so sánh rất lớn so với các tỉnh (Thànhphố) khác trong quá trình xây dựng và phát triển các KCN, KCX TP Hồ Chí Minh

có điều kiện thuận lợi, có tiềm lực về kinh tế lớn, nằm trên các trục giao thông quantrọng của quốc tế và khu vực, có nhiều cửa ngõ ra vào, có nhiều khả năng lợi thế vềthu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước để đạt được nhịp độ tăng trưởng cao

Trang 25

Mặt khác, với lợi thế nằm ở vị trí trung tâm của vùng Đông Nam Bộ, TP HồChí Minh được bao quanh bởi nhiều đô thị xung quanh rất thuận lợi cho giaothương như: Vũng Tàu với lợi thế về cảng biển, Thành phố Biên Hòa (Đồng Nai),Thị xã Thủ Dầu Một (Bình Dương) đều là những địa phương có rất nhiều thuận lợicho phát triển công nghiệp Đây sẽ là một điều kiện rất thuận lợi cho TP Hồ ChíMinh trong quá trình phát triển cũng như tạo mối liên kết giữa các KCN, KCX củaThành phố với các KCN trong vùng.

1.2 Trình độ phát triển kinh tế xã hội

Trình độ phát triển của nền kinh tế là các mức độ phát triển về quản lí vĩ mô, cơ

sở hạ tầng, giao thông, môi trường, chất lượng cung cấp dịch vụ cho các hoạt độngkinh doanh của các nhà đầu tư và mức độ cạnh tranh của thị trường đó Trong đó,

cơ sở hạ tầng với các nhân tố như: sân bay, cảng biển, giao thông, điện lực, viễnthông, chất lượng lao động, dịch vụ công nghệ, hệ thông tài chính – ngân hàng…làmột nhân tố rất quan trọng trong thu hút đầu tư Sự phát triển của cơ sở hạ tầng vàdịch vụ sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi và giảm chi phí phát sinh cho các hoạtđộng đầu tư nhất là các hoạt động đầu tư trong các KCN, KCX

Bảng 2.1 Tình hình phát triển kinh tế TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 – 2011

Nguồn: Sở Kế hoạch – đầu tư TP Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có nền kinh tế phát triển năng độngnhất, luôn dẫn đầu cả nước về tốc độ tăng trưởng kinh tế Kinh tế Thành phố pháttriển với tốc độ tăng trưởng tăng cao đã tạo ra mức đóng góp GDP lớn cho cả nước,

Trang 26

tỷ trọng GDP của Thành phố chiếm khoảng 1/3 GDP của cả nước Bên cạnh đó,GDP tăng nhanh cũng là một điều kiện để Thành phố có thể tập trung vốn đầu tưcho cơ sở hạ tầng trong và ngoài các KCN, KCX của Thành phố.

Thành phố Hồ Chí Minh có một hệ thống giao thông ngày càng phát triển đồng

bộ và hiện đại Với hệ thống cầu cảng, sân bay lớn nhất cả nước; cảng Sài Gòn vớinăng lực hoạt động 10 triệu tấn/năm, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất với hàng chụcđường bay chỉ cách trung tâm Thành phố khoảng 7km đảm nhận khoảng 60 – 70%khối lượng vận chuyển quốc tế về hàng hóa và hành khách mỗi năm Thành phốcũng có một hệ thống kho tang bến bãi rất phát triển đáp ứng nhu cầu vận chuyểnliên vùng đáp ứng được yêu cầu vận chuyển trong thời kì tới

Về thương mại, dịch vụ, Thành phố là trung tâm xuất nhập khẩu lớn nhất cảnước Kim ngạch xuất khẩu của Thành phố ngày càng chiếm tỉ trọng lớn trong tổngkim ngạch xuất khẩu cảu cả nước Cơ sở vật chất ngành thương mại cũng được tăngcường và hiện đại hóa với khoảng 400 chợ bán lẻ, 81 siêu thị, 18 trung tâm thươngmại, 3 chợ đầu mối

Thành phố Hồ Chí Minh cũng là trung tâm tài chính ngân hàng lớn nhất ViệtNam, luôn dẫn đầu cả nước về số lượng ngân hàng và doanh số quan hệ tài chính –tín dụng Doanh thu của hệ thống ngân hàng trên địa bàn Thành phố chiếm khoảng30% doanh thu toàn quốc

Thành phố là nơi thu hút vốn đầu tư mạnh so với cả nước kể từ khi Luật đầu tưđược ban hành Số dự án đầu tư vào Thành phố chiếm khoảng 30% tổng số dự ánđầu tư của cả nước Thành phố luôn chiếm tỉ trọng cao nhất trong tổng thu ngânsách nhà nước

Bên cạnh đó, Thành phố Hồ Chí Minh cũng là một trong những địa phương cólực lượng lao động đông đảo và trình độ cao của đất nước, tập trung một số lượnglớn đội ngũ các nhà khoa học, lao động tay nghề cao cũng như có hệ thống đào tạolao động, nhà nghiên cứu khoa học rất hiện đại

2 Thực trạng thu hút vốn đầu tư vào các KCN, KCX trên địa bàn TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 – 2011.

Trang 27

Trong quá trình thực hiện CNH – HĐH đất nước, đặc biệt là trong thời kì đẩymạnh CNH – HĐH như trong giai đoạn này để thực hiện mục tiêu đưa Việt Nam cơbản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 thì có thể nói rằng các KCN, KCXvới những đặc trưng riêng biệt và có vai trò thu hút cũng như đa dạng hóa cácnguồn vốn đầu tư đã có những đóng góp không nhỏ trong việc huy động và sử dụnghiệu quả các nguồn lực vào thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước nóichung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.

Bảng 2.2 Tình hình thu hút vốn đầu tư vào các KCN, KCX trên địa bàn

TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 - 2011

1 Vốn đầu tư cơ sở hạ tầng

Nguồn: Vụ quản lí các khu kinh tế - Bộ Kế hoạch và đầu tư

Trong giai đoạn 2009 – 2011, tuy phải đối mặt với những điều kiện hết sức khókhăn do chịu ảnh hưởng của cuộc đại suy thoái kinh tế toàn cầu cũng như khủnghoảng nợ công ở Châu Âu và sự bất ổn của nền kinh tế vĩ mô trong nước nhưngcông tác thu hút vốn đầu tư vào các KCN, KCX Thành phố Hồ Chí Minh vẫn đạtđược kết quả rất đáng khích lệ Về thu hút vốn đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầngkhu công nghiệp, trong giai đoạn này 3 KCN mới của Thành phố là Tân Bình mởrộng, An Hạ, Đông Nam đã thu hút được tổng cộng là 2039,96 tỉ VNĐ tiền vốn đầu

tư cho xây dựng hạ tầng trong khu công nghiệp Về thu hút vốn đầu tư vào sản xuấtkinh doanh trong các khu công nghiệp, giai đoạn này 12 KCN và 3 KCX của Thànhphố thu hút được tổng cộng khoảng 2,68 tỉ USD nâng tổng mức vốn đầu tư vào sản

Trang 28

xuất kinh doanh trong các KCN, KCX của Thành phố lũy kế đạt khoảng hơn 7 tỉUSD vào cuối năm 2011.

Biểu đồ 2.1 Tổng vốn đầu tư thu hút vào các KCN, KCX TP Hồ Chí Minh

giai đoạn 2009 – 2011

Nguồn: Vụ quản lý các khu kinh tế - Bộ Kế hoạch và đầu tư

Trong giai đoạn này, các KCN, KCX của Thành phố đã thu hút được tổng sốkhoảng 2,75 tỷ USD vốn đầu tư xây dựng hạ tầng cũng như sản xuất kinh doanhtrong các khu công nghiệp, tốc độ tăng trung bình của vốn đầu tư đăng kí trong giaiđoạn này là khoảng 110,8% Rõ ràng, với rất nhiều những khó khăn thách thức ởtrong giai đoạn này mà kết quả thu hút vốn đầu tư vẫn đạt được như trên là rất đángkhen ngợi Điều này một lần nữa đã chứng tỏ được những lợi thế về phát triển côngnghiệp cũng như cách thức vận hành phát triển các KCN, KCX một cách khá hợp lý

Trang 29

của Thành phố Hồ Chí Minh, là một tấm gương điển hình cho các địa phương kháctrên cả nước tham khảo và học tập kinh nghiệm.

Thành phố Hồ Chí Minh với lợi thế nằm ở vùng trung tâm của vùng kinh tếĐông Nam Bộ cùng với những tiềm năng lớn về xây dựng, phát triển các KCN,KCX trong những năm qua luôn là một trong những địa phương dẫn đầu của cảnước cũng như vùng Đông Nam Bộ về phát triển và thu hút vốn đầu tư trong vàngoài nước vào các KCN, KCX Tính đến hết năm 2011, toàn vùng kinh tế ĐôngNam Bộ thu hút được khoảng 48,392 tỉ USD vốn đầu tư vào các KCN, KCX thì chỉtính riêng Thành phố Hồ Chí Minh đã thu hút được 7,617 tỉ USD

Biểu đồ: 2.2 Tỉ

trọng thu hút vốn đầu tư vào các KCN, KCX Thành phố Hồ Chí Minh trong

vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 2009 - 2011

Nguồn: Vụ quản lý các khu kinh tế - Bộ Kế hoạch và đầu tư

Để làm rõ hơn tình hình thu hút vốn đầu tư vào các KCN, KCX trên địa bànThành phố Hồ Chí Minh, trong khuôn khổ bài viết này sẽ phân tích theo 2 lĩnh vựclà: Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và đầu tư cho sản xuất kinh doanh trong cácKCN, KCX của Thành phố

15.70%

84.30%

TP H Chí Minhồng NaiCác đ a phịa – Vũng Tàu ươngng còn l iại

Trang 30

2.1 Hoạt động đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng KCN, KCX trên địa bàn TP.

Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 – 2011.

2.1.1 Quy mô vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng

Xây dựng hệ thống kết cấu cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh và hiện đại là một điềukiện hết sức quan trọng và cần thiết cho sự phát triển kinh tế Thành phố nói chungcũng như các KCN, KCX nói riêng Để có thể thu hút được một lượng vốn đầu tưtrong nước cũng như nước ngoài lớn vào sản xuất trong các KCN, KCX thì ngoàicác chính sách ưu đãi về tài chính và cơ chế quản lý thuận lợi thì cơ sở hạ tầng kĩthuật trong và ngoài hàng rào khu công nghiệp hoàn chỉnh và đồng bộ là một điềukiện quan trọng không kém Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế của cảnước cũng như là những nơi đầu tiên thực hiện xây dựng và phát triển mô hình cácKCN, KCX tập trung, do đó hệ thống cơ sở hạ tầng kĩ thuật trong các KCN, KCXcủa Thành phố nói chung khá hoàn chỉnh và hiện đại từ đường sá, kho bãi, điệnnước đến các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm,…

Trang 31

Bảng 2.3 Tình hình thu hút vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng các KCN, KCX

TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 – 2011

Đơn vị: Tỷ VNĐ

Chỉ tiêu

Các năm trước 2009

Năm 2009

Năm 2010

Năm 2011

Vốn đầu tư cơ sở hạ tầng đăng kí

Vốn đầu tư cơ sở hạ tầng thực

% vốn đầu tư thực hiện lũy kế so

Tốc độ tăng liên hoàn của vốn đầu

Nguồn: Vụ quản lý các khu kinh tế - Bộ Kế hoạch và đầu tư

Tính trong 3 năm của giai đoạn 2009 – 2011 thì các khu công nghiệp của Thànhphố chỉ thu hút được 2039,96 tỉ đồng vốn đăng kí vào xây dựng cơ sở hạ tầng vớivốn thực hiện đạt 1265,09 tỉ đồng, đạt tỉ lệ vốn đầu tư thực hiện so với vốn đầu tưđăng kí vào xây dựng cơ sở hạ tầng là khoảng 62%, con số này thấp hơn so với giaiđoạn trước khá đáng kể (hơn 12%) Nếu so với giai đoạn từ 2008 trở về trước thìcon số này là khá thấp nhưng nguyên nhân kết quả thu hút không cao ở trên hoàntoàn là do các yếu tố khách quan Thứ nhất, đây là giai đoạn nền kinh tế nói chungcũng như các nhà đầu tư nói riêng gặp khá nhiều khó khăn do sự ảnh hưởng của suythoái kinh tế thế giới và sự bất ổn của nền kinh tế trong nước Thứ hai, các KCN,KCX của Thành phố hầu hết đã hoàn thành xây dựng hạ tầng ở giai đoạn trước.Trong giai đoạn 2009 – 2011, theo quy hoạch Thành phố chỉ tiến hành thành lập vàxây dựng thêm 3 khu công nghiệp mới có quy mô trung bình là : Tân Bình mở rộng

Trang 32

(2009), Đông Nam (2010), An Hạ (2011) nên lượng vốn thu hút cho đầu tư xâydựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp là không lớn Song, nếu xét tỉ lệ vốn đầu tư thuhút vào xây dựng hạ tầng khu công nghiệp của 3 năm trong giai đoạn 2009 – 2011với 17 năm trước đó từ 1991 – 2008 kết quả thu hút vốn cũng là rất đáng khích lệ.Tính đến hết giai đoạn 2009 - 2011, các KCN, KCX trên địa bàn Thành phố đãthu hút được 11928,85 tỉ đồng vốn đăng kí vào đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng vớilượng vốn đầu tư thực hiện đạt 8642,46 tỉ đồng đạt tỉ lệ vốn thực hiện trên vốn đăng

kí vào khoảng 72,5%, đây là tỉ lệ khá cao so với các địa phương khác trên cả nước

Biểu đồ: 2.3 Tỉ lệ vốn đầu tư cơ sở hạ tầng trong các KCN, KCX TP Hồ Chí

Minh trong vùng kinh tế Đông Nam Bộgiai đoạn 2009 - 2011

Nguồn: Vụ quản lí các khu kinh tế - Bộ Kế hoạch và đầu tư

Xét trong phạm vi vùng Đông Nam Bộ cũng như trên cả nước thì Thành phố

Hồ Chí Minh cũng là một trong những địa phương dẫn đầu về thu hút vốn đầu tư

17.80%

82.20%

TP H Chí Minhồng NaiCác đ a phịa – Vũng Tàu ươngng khác

Trang 33

cho xây dựng cơ sở hạ tầng trong các KCN, KCX Điều này giải thích được là vìsao các KCN, KCX trên địa bàn Thành phố lại có được một hệ thống cơ sở hạ tầng

kĩ thuật khá đồng bộ và hiện đại bậc nhất của đất nước

2.1.2 Vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng theo nguồn vốn đầu tư

Bảng 2.4 Quy mô vốn đầu tư đã được huy động để phát triển cơ sở hạ tầng theo

nguồn vốn đầu tư giai đoạn 2009 – 2011

Đơn vị: Tỉ VNĐ

Đầu tư nước ngoài đăng kí lũy

Đầu tư trong nước đăng kí lũy

Nguồn: Vụ quản lí các khu kinh tế - Bộ Kế hoạch và đầu tư

Tính riêng trong giai đoạn 2009 – 2011, Thành phố có 3 doanh nghiệp trongnước làm chủ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trong các khu công nghiệp mới thànhlập là: Công ty CP SX KD XNK Dịch vụ và Đầu tư Tân Bình (TANIMEX), Công

ty CP Đầu tư Sài Gòn VRG, Công ty CP Tư vấn - Đầu tư - Xây dựng - Thương mạiSản xuất Nhựt Thành, lần lượt đầu tư vào cơ sở hạ tầng tại các KCN: Tân Bình mởrộng (2009), Đông Nam (2010), An Hạ (2011)

Tính đến giai đoạn 2009 – 2011, có tất cả 15 doanh nghiệp trong và ngoài nước

đã đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trong các KCN, KCX của Thành phố Trong đódoanh nghiệp nước ngoài chỉ có 2 doanh nghiệp liên doanh của Trung Quốc và ĐàiLoan đã đầu tư xây dựng hạ tầng trong 3 khu chế xuất Tân Thuận, Linh Trung I vàLinh Trung II còn lại đều là các doanh nghiệp trong nước làm chủ đầu tư, tỉ lệ vốnđầu tư nước ngoài trong tổng vốn đầu tư hạ tầng khu công nghiệp chỉ vào khoảng

Trang 34

12,4% thấp hơn rất nhiều so với mặt bằng chung của vùng Đông Nam Bộ Ngượclại, tỉ lệ vốn đầu tư hạ tầng trong các KCN, KCX của các doanh nghiệp và nhà đầu

tư trong nước là rất lớn (87,6%) và được triển khai dưới hai hình thức là công tyTNHH và công ty cổ phần điều này đã chứng tỏ phần nào tiềm lực của các nhà đầu

tư và doanh nghiệp trong nước đang hoạt động trên địa bàn Thành phố

2.2 Tình hình thu hút vốn đầu tư vào phát triển sản xuất kinh doanh trong các KCN, KCX trên địa bàn TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 – 2011

2.2.1 Quy mô vốn đầu tư thu hút cho phát triển sản xuất kinh doanh trong KCN, KCX

Những năm đầu thế kỉ 21, thời kì 2002 – 2007 là những năm phát triển mạnh

mẽ của các KCN, KCX TP Hồ Chí Minh, rất nhiều các KCN, KCX đã hoàn thiện

và đi vào hoạt động Do vậy, những năm này số dự án và vốn đầu tư sản xuất kinhdoanh trong các KCN, KCX của Thành phố tăng lên rất nhanh và đạt được nhữngkết quả rất ấn tượng trong thu hút vốn đầu tư góp phần quan trọng vào phát triểnkinh tế Thành phố.Năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra và nhanhchóng lan ra toàn thế giới đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới nền kinh tế nói chung vàthu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước vào sản xuất kinh doanh trong các khu côngnghiệp nói riêng

Trang 35

Bảng 2.5 Quy mô vốn đầu tư thu hút (lũy kế) vào phát triển sản xuất kinh doanh

trong KCN, KCX TP Hồ Chí Minh giai đoạn2009 – 2011

2009

Năm 2010

Năm 2011

1 Tổng số dự án đầu tư (lũy kế)

Dự án

1.167 1.240 1.299

2 Tổng vốn đăng ký (lũy kế)

Tỉ USD

4,7 5,4741 7,0008

Nguồn: Vụ quản lí các khu kinh tế - Bộ Kế hoạch và đầu tư

Tuy nhiên, bất chấp những khó khăn cùng với những chính sách đúng đắn củaThành phố, trong giai đoạn 2009 – 2011 các KCN, KCX của Thành phố vẫn đạtđược những kết quả đáng ngợi khen trong thu hút vốn đầu tư Trong giai đoạn này,Thành phố có thêm 3 khu công nghiệp đi vào hoạt động khai thác và cho thuê sảnxuất kinh doanh, tỉ lệ lấp đầy trung bình đạt khoảng gần 80%, đây là một tỉ lệ khácao so với các địa phương khác Đến hết thời kì 2009 – 2011 các KCX - KCN có1.299 dự án đầu tư sản xuất kinh doanh với tổng vốn đầu tư đăng ký 7,0008 tỷUSD Trong đó, dự án có vốn đầu tư nước ngoài là 504 dự án, vốn đầu tư đăng ký4,2249 tỷ USD; dự án có vốn đầu tư trong nước là 795 dự án, vốn đầu tư đăng ký2,7759 tỷ USD

Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương đầu tiên trong cả nước thực hiện xâydựng mô hình phát triển sản xuất công nghiệp trong các KCN, KCX tập trung vàluôn là một trong những địa phương dẫn đầu trong cả nước nói chung và vùng ĐôngNam Bộ nói riêng về thu hút vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh trong các KCN,KCX

Xét về cơ cấu nguồn vốn vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh trong các KCN,KCX của Thành phố, có thể thấy trong giai đoạn này các dự án đầu tư trong nướctuy chiếm ưu thế về số lượng dự án đầu tư (chiếm khoảng 61,2%) số dự án nhưng

Trang 36

về quy mô dự án thì lại không bằng (chỉ chiếm khoảng 39,7% tổng vốn đầu tư đăngkí) với các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Biểu đồ2.4 Cơ cấu vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài vào sản xuất kinh doanh trong các KCN, KCX TP Hồ Chí Minh giaiđoạn 2009 - 2011

Nguồn: Vụ quản lí các khu kinh tế - Bộ Kế hoạch và đầu tư

Có thể thấy, cơ cấu vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh trong các KCN, KCXcủa Thành phố Hồ Chí Minh đang có sự mất cân đối, tuy nhiên tỉ lệ vốn đầu tưtrong nước là chấp nhận được và mức chênh lệch giữa đầu tư trong nước và đầu tưnước ngoài là không quá lớn Điều này cho thấy, sự lớn mạnh của các doanh nghiệpsản xuất công nghiệp trong nước đang hoạt động trên địa bàn Thành phố, mặt khácchứng tỏ vai trò khá quan trọng của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối vớihoạt động sản xuất kinh doanh công nghiệp trong các KCN, KCX của Thành phố

V n đ u t trong nốn đầu tư trong nước ầu tư trong nước ư ướcc

V n đ u t nốn đầu tư trong nước ầu tư trong nước ư ướcc ngoài

Trang 37

Trong quá trình phát triển hướng tới CNH – HĐH đất nước, bên cạnh việc tăngcường xúc tiến thu hút vốn đầu tư nước ngoài thì nguồn vốn trong nước cũng đóngmột vai trò rất to lớn và quan trọng không kém bởi nguồn vốn từ bên ngoài mặc dùrất quan trọng đối với nền kinh tế nhưng chỉ có vai trò là “cú huých” để đẩy nềnkinh tế đi lên chứ không phải là nhân tố quyết định, nếu nền kinh tế không có nộilực thì mọi tác động sẽ trở nên vô nghĩa Nhận thức được tầm quan trọng của nguồnvốn trong nước, Thành phố Hồ Chí Minh đã có rất nhiều ưu đãi nhằm khuyến khích

và huy động mọi thành phần kinh tế trong nước tiến hành đầu tư vào sản xuất kinhdoanh trong các KCN, KCX của Thành phố đặc biệt trong giai đoạn 2009 – 2011khi mà các nền kinh tế bên ngoài đang gặp khủng hoảng Tính đến nay các dự ánđầu tư trong nước bao gồm rất nhiều loại hình doanh nghiệp kinh doanh, trong đóhình thức Công ty TNHH chiếm đa số (trên 70% số dự án)

Bảng 2.6 Thu hút vốn đầu tư trong nước vào sản xuất kinh doanh trong các

KCN, KCX TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 – 2011

2009

Năm 2010

Năm 2011

2 Tổng vốn đầu tư đăng kí mới Triệu USD 226,87 530,3 265,63

3 Lũy kế

Tốc độ tăng vốn đầu tư liên

hoàn

%

Nguồn: Vụ quản lý các khu kinh tế - Bộ Kế hoạch và đầu tư

Giai đoạn 2009 – 2011 là thời kì khó khăn của nền kinh tế đất nước cũng nhưcông tác thu hút đầu tư vào và sản xuất kinh doanh trong các KCN, KCX của Thànhphố nói riêng do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tếtoàn cầu Tuy nhiên, với những nỗ lực của mình, các KCN, KCX đã thu hút đượcmột lượng vốn đầu tư trong nước khá đáng kể đặc biệt là năm 2010 với khối lượngvốn thu hút đạt hơn nửa tỷ USD (tăng khoảng 133,1% so với năm 2009) Năm 2011

Trang 38

là năm cực kì khó khăn của các doanh nghiệp và nhà đầu tư trong nước do lãi suấttăng cao, do vậy lượng vốn đầu tư trong nước vào các KCN, KCX của Thành phố

đã giảm khá đáng kể (chỉ bằng khoảng 50,1% so với năm 2010) nhưng vẫn ở mứccao so với 2009 Tính trong giai đoạn này lượng vốn đầu tư trong nước vào cácKCN, KCX tăng trung bình khoảng 41,6% Lũy kế đến hết năm 2011, trong cácKCN, KCX Thành phố đã có 795 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư2,7759 tỉ USD vào sản xuất kinh doanh, một con số khá lớn so với các địa phươngkhác trên cả nước Các dự án thường tập trung ở một số ngành như công nghệ thôngtin (trung tâm dữ liệu), viễn thông, cơ khí, chế biến thực phẩm, dược, điện-điện tử,nhựa, trang sức, may mặc cao cấp, dịch vụ, đồ gỗ, mỹ phẩm, thuỷ sản Có thể nói,khi nền kinh tế đất nước cũng như Thành phố Hồ Chí Minh đang ngày càng pháttriển thì nguồn vốn nội lực trong nước sẽ ngày càng nhiều và có tiềm năng lớn cầnđược kích thích để nâng cao khả năng sản xuất và sử dụng hiệu quả góp phần vàophát triển kinh tế Thành phố cũng như đất nước

2.1.2 Thu hút vốn nước ngoài vào phát triển sản xuất kinh doanh trong các KCN, KCX trên địa bàn TP Hồ Chí Minh.

Từ khi tiến hành công cuộc Đổi mới nhất là khi Luật đầu tư nước ngoài đượcban hành và đi vào cuộc sống cho tới nay, việc thu hút và sử dụng có hiệu quả vốnđầu tư nước ngoài luôn được coi là công cụ, đòn bẩy quan trọng thúc đẩy sự pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung cũng như của các vùng, địa phương nóiriêng, góp phần đẩy nhanh quá trình CNH – HĐH đất nước

Với những điều kiện rất thuận lợi cùng với những chính sách hợp lý, sau 20năm hình thành và phát triển các KCN, KCX trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

đã trở thành đầu mối quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, góp phầnthúc đẩy sản xuất kinh doanh công nghiệp, phát triển thêm các ngành nghề, hìnhthức sản xuất kinh doanh mới, tăng năng lực sản xuất và sản lượng công nghiệp đểxuất khẩu cũng như phục vụ nhu cầu trong nước, tạo thêm nhiều việc làm mới chongười lao động và nâng cao đời sống cho người dân Thành phố

2.1.2.1 Quy mô vốn đầu tư nước ngoài đăng kí vào sản xuất kinh doanh trong cácKCN, KCX Thành phố.

Trang 39

Trong giai đoạn 2009 – 2011, nguồn vốn đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục đượcđánh giá là nguồn vốn đầu tư quan trọng trong quá trình phát triển các KCN, KCXcủa Thành phố và được đặt làm trọng tâm thu hút.

Bảng 2.7.Thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào sản xuất kinh doanh trong các

KCN, KCX TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 – 2011.

Tổng vốn đầu tư đăng kí mới Tỷ USD 0,1183 0,2438 1,2613

Đầu tư nước ngoài (Lũy kế)

Tốc độ tăng vốn đầu tư liên

Nguồn: Vụ quản lý các khu kinh tế - Bộ Kế hoạch và đầu tư

Trong giai đoạn 2009 – 2011, kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn do ảnhhưởng của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 và cuộc khủng hoảng nợ công ởChâu Âu có nhiều diễn biến xấu gây ảnh hưởng tiêu cực cho các nhà đầu tư Do đó,thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào sản xuất kinh doanh đã gặp rất nhiều khó khăn,đặc biệt là trong 2 năm 2009 và 2010 tuy tốc độ tăng vốn vẫn rất cao (hơn 106%)nhưng lượng vốn thu hút được về mặt tuyệt đối là thấp hơn rất nhiều so với nhữngnăm của giai đoạn trước; năm 2009 chỉ thu hút được 118,3 triệu USD và năm 2010

là 243,8 triệu USD Tình hình thu hút đầu tư năm trong hai năm này giảm sút so vớicác năm trước đó nguyên nhân chính là do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế; diệntích đất tại các KCX, KCN đang hoạt động gần như đã lấp đầy; một số KCN đangtiến hành đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ sở hạ tầng (như KCN PhongPhú, KCN Tân Phú Trung, KCN Hiệp Phước mở rộng, KCN Tân Bình mở rộng).Các KCN mới thành lập và mở rộng đang hoàn tất các thủ tục pháp lý để triển khaihoạt động; công tác đền bù giải tỏa còn chậm, diện tích đất đền bù không liềnkhoảnh, do đó chưa đáp ứng nhu cầu dự án đầu tư cần diện tích lớn; cơ sở hạ tầngbên ngoài kết nối đến KCN, đặc biệt là hệ thống giao thông chưa hoàn chỉnh; Thành

Trang 40

phố thiếu nguồn nhân lực kỹ thuật cao Năm 2009, chính sách ưu đãi đối với các dự

án đầu tư mới tại địa bàn KCN thành phố Hồ Chí Minh không còn như trước đây;các dự án thâm dụng lao động, ô nhiễm môi trường và trình độ công nghệ thấpkhông được tiếp nhận Tuy nhiên bước sang năm 2011, khi mà kinh tế thế giới dần

có những dấu hiệu phục hồi, bên cạnh đó là những chính sách ưu đãi mới đượcThành phố triển khai thì lượng vốn đầu tư nước ngoài vào các dự án sản xuất kinhdoanh trong các KCN, KCX Thành phố đã tăng mạnh trở lại cả về tuyệt đối lẫntương đối Trong năm 2011, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng kí là 1,2613 tỷ USD,tốc độ tăng vốn đăng kí là khoảng 417,35% Đặc biệt, Tập đoàn First Solar đã đầu

tư dự án sản xuất pin năng lượng mặt trời với vốn đầu tư 1,004 tỷ USD tại KCNĐông Nam, đã tác động tích cực tới môi trường đầu tư tại các KCX-KCN thànhphố

Tính chung cho giai đoạn 2009 – 2011, thu hút đầu tư nước ngoài vào sản xuấtkinh doanh vẫn đạt được những kết quả đáng khích lệ mặc dù gặp rất nhiều khókhăn, tổng vốn đầu tư nước ngoài thu hút thêm trong giai đoạn này đạt khoảng1,6234 tỷ USD với số dự án mới tăng thêm là 47 dự án Nguyên nhân là do, giaiđoạn này do khủng hoảng và nợ công ở Châu Âu đã có tác động không nhỏ tới cácnhà đầu tư nên chỉ những nhà đầu tư có thực lực lớn mới có thể tiến hành đầu tư ởcác quốc gia bên ngoài Mặt khác, trong giai đoạn này Ban quản lý từ chối tiếp nhậnnhững dự án có trình độ công nghệ thấp và vốn nhỏ, thâm dụng lao động và gây ônhiễm môi trường; tập trung thu hút các dự án có trình độ công nghệ cao, vốn lớn, ítgây ô nhiễm môi trường, thuộc lĩnh vực ngành nghề mũi nhọn như Tuy nhiên, cómột điều rất đáng chú ý là trong giai đoạn này, thu hút vốn đầu tư nước ngoài vàosản xuất kinh doanh trong các KCN, KCX của Thành phố dường như có sự thay đổikhá rõ rệt về chất Quy mô các dự án đầu tư có sự thay đổi khá đáng kể, có nhiều dự

án quy mô lớn hơn và số vốn đầu tư nước ngoài trung bình cho một dự án có xuhướng tăng cao Nếu như ở giai đoạn từ năm 2008 trở về trước, số vốn đầu tư nướcngoài trung bình cho một dự án chỉ khoảng 5,67 triệu USD/dự án thì trong giai đoạn

2009 – 2011 đã được nâng lên tới 34,56 triệu USD/dự án, cao gấp hơn 6 lần so vớigiai đoạn trước Do đó, đến hết giai đoạn 2009 - 2011, quy mô trung bình một dự ánđạt được là 8,38 triệu USD/dự án đầu tư

2.1.2.2 Cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài vào sản xuất kinh doanh theo địa bàn đầu tư

Ngày đăng: 19/11/2013, 18:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Báo cáo: Tổng kết 20 năm xây dựng và phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam Khác
3. Báo cáo: Tổng kết 20 năm xây dựng và phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất TP. Hồ Chí Minh Khác
4. Báo cáo về tình hình hoạt động các KCX - KCN TP. Hồ Chí Minh các năm 2009; 2010; 2011 Khác
5. Báo cáo tổng hợp: Đề án quy hoạch phát triển các KCN tập trung ở Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 Khác
6. Quy hoạch phát triển các KCN, KCX mới vùng Đông Nam Bộ đến năm 2020 Khác
7. Giáo trình Kinh tế Đầu tư - PGS.TS Từ Quang Phương - NXB ĐH Kinh tế Quốc dân Khác
8. Tài liệu về quá trình hình thành và phát triển của các KCN, KCX và Ban quản lí các khu chế xuất và công nghiệp TP. Hồ Chí Minh Khác
10. Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/03/2008 của Chính phủ quy định về Khu công nghiệp, Khu chế xuất và khu kinh tế Khác
11. Nghị định số 69/2009/NĐ-CP của Chính phủ về quy hoạch sử dụng đất, bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Số lượng và quy mô diện tích của các KCN, KCX vùng Đông Nam Bộ  đến năm 2011. - Tăng cường thu hút vốn đầu tư vào các KCN, KCX trên địa bàn TP  hồ chí minh
Bảng 1.1. Số lượng và quy mô diện tích của các KCN, KCX vùng Đông Nam Bộ đến năm 2011 (Trang 15)
Bảng 2.1. Tình hình phát triển kinh tế TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 – 2011 - Tăng cường thu hút vốn đầu tư vào các KCN, KCX trên địa bàn TP  hồ chí minh
Bảng 2.1. Tình hình phát triển kinh tế TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 – 2011 (Trang 23)
Bảng 2.2. Tình hình thu hút vốn đầu tư vào các KCN, KCX trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 -  2011 - Tăng cường thu hút vốn đầu tư vào các KCN, KCX trên địa bàn TP  hồ chí minh
Bảng 2.2. Tình hình thu hút vốn đầu tư vào các KCN, KCX trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 - 2011 (Trang 25)
Bảng 2.3. Tình hình thu hút vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng các KCN, KCX  TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 – 2011 - Tăng cường thu hút vốn đầu tư vào các KCN, KCX trên địa bàn TP  hồ chí minh
Bảng 2.3. Tình hình thu hút vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng các KCN, KCX TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 – 2011 (Trang 28)
Bảng 2.4. Quy mô vốn đầu tư đã được huy động để phát triển cơ sở hạ tầng theo  nguồn vốn đầu tư giai đoạn 2009 – 2011 - Tăng cường thu hút vốn đầu tư vào các KCN, KCX trên địa bàn TP  hồ chí minh
Bảng 2.4. Quy mô vốn đầu tư đã được huy động để phát triển cơ sở hạ tầng theo nguồn vốn đầu tư giai đoạn 2009 – 2011 (Trang 29)
Bảng 2.5. Quy mô vốn đầu tư thu hút (lũy kế) vào phát triển sản xuất kinh doanh  trong KCN, KCX TP - Tăng cường thu hút vốn đầu tư vào các KCN, KCX trên địa bàn TP  hồ chí minh
Bảng 2.5. Quy mô vốn đầu tư thu hút (lũy kế) vào phát triển sản xuất kinh doanh trong KCN, KCX TP (Trang 32)
Bảng 2.7.Thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào sản xuất kinh doanh trong các KCN,  KCX TP - Tăng cường thu hút vốn đầu tư vào các KCN, KCX trên địa bàn TP  hồ chí minh
Bảng 2.7. Thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào sản xuất kinh doanh trong các KCN, KCX TP (Trang 35)
Bảng 2.9. Cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài vào các KCN, KCX TP. Hồ Chí Minh giai  đoạn 2009 – 2011 - Tăng cường thu hút vốn đầu tư vào các KCN, KCX trên địa bàn TP  hồ chí minh
Bảng 2.9. Cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài vào các KCN, KCX TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 – 2011 (Trang 39)
Bảng 2.10. Cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài trong các KCN, KCX TP. Hồ Chí Minh theo hình thức đầu tư giai đoạn 2009 – 2011 - Tăng cường thu hút vốn đầu tư vào các KCN, KCX trên địa bàn TP  hồ chí minh
Bảng 2.10. Cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài trong các KCN, KCX TP. Hồ Chí Minh theo hình thức đầu tư giai đoạn 2009 – 2011 (Trang 41)
Bảng 2.12. Tỉ số vốn đầu tư trên một đơn vị diện tích đất công nghiệp cho thuê  của các KCN, KCX TP - Tăng cường thu hút vốn đầu tư vào các KCN, KCX trên địa bàn TP  hồ chí minh
Bảng 2.12. Tỉ số vốn đầu tư trên một đơn vị diện tích đất công nghiệp cho thuê của các KCN, KCX TP (Trang 44)
Sơ đồ 3.1. Sơ đồ định hướng không gian các KCN, KCX tại TP. Hồ Chí Minh đến  năm 2020 - Tăng cường thu hút vốn đầu tư vào các KCN, KCX trên địa bàn TP  hồ chí minh
Sơ đồ 3.1. Sơ đồ định hướng không gian các KCN, KCX tại TP. Hồ Chí Minh đến năm 2020 (Trang 61)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w