Chính vì vậy, một số bài thơ của ông như Ch Ch Châ â ân n n qu qu quêêêê, Ng Ng Ngườ ườ ườiiii h hà à àng ng ng x x xó ó óm m m, T T Tươ ươ ương ng ng ttttư ư ư, G G Gá á áiiii xu xu xuâ
Trang 1TR TRƯỜ ƯỜ ƯỜNG NG NG ĐẠ ĐẠ ĐẠIIII H H HỌ Ọ ỌC C C C C CẦ Ầ ẦN N N TH TH THƠ Ơ KHOA
KHOA KHOA KHOA KHOA H H HỌ Ọ ỌC C C X X XÃ Ã Ã H H HỘ Ộ ỘIIII & & & NH NH NHÂ Â ÂN N N V V VĂ Ă ĂN N
B
BỘ Ộ Ộ M M MÔ Ô ÔN N N NG NG NGỮ Ữ Ữ V V VĂ Ă ĂN N
NG NGÔ Ô Ô TH TH THỊỊỊỊ LAN LAN LAN NG NG NGỌ Ọ ỌC C MSSV: MSSV: 6106335 6106335
TH THẾ Ế Ế GI GI GIỚ Ớ ỚIIII NGH NGH NGHỆ Ệ Ệ THU THU THUẬ Ậ ẬT T TRONG TRONG TH TH THƠ Ơ Ơ NGUY NGUY NGUYỄ Ễ ỄN N N B B BÍÍÍÍNH NH
TR TRƯỚ ƯỚ ƯỚC C C N N NĂ Ă ĂM M M 1945 1945
C Cá á án n n b b bộ ộ ộ h h hướ ướ ướng ng ng d d dẫ ẫ ẫn n::::Ths Ths GV GV GV NGUY NGUY NGUYỄ Ễ ỄN N N TH TH THỊỊỊỊ KI KI KIỀ Ề ỀU U U OANH OANH
Lu Luậ ậ ận n n v v vă ă ăn n n ttttố ố ốtttt nghi nghi nghiệệệệp p p đạ đạ đạiiii h h họ ọ ọcccc
Ng Ngà à ành nh nh Ng Ng Ngữ ữ ữ V V Vă ă ăn n
Cần Thơ, năm 2013
Trang 2ĐỀ ĐỀ C C CƯƠ ƯƠ ƯƠNG NG NG T T TỔ Ổ ỔNG NG NG QU QU QUÁ Á ÁT T
CHƯƠ ƯƠ ƯƠNG NG NG 1: 1: 1: M M MỘ Ộ ỘT T T S S SỐ Ố Ố V V VẤ Ấ ẤN N N ĐỀ ĐỀ ĐỀ CHUNG CHUNG
1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945
1.2 Tình hình văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945
1.3 Tác giả Nguyễn Bính
1.3.1 Cuộc đời
1.3.2 Sự nghiệp sáng tác
1.4 Vấn đề thế giới nghệ thuật trong tác phẩm văn học
1.4.1 Khái niệm thế giới nghệ thuật
1.4.2 Khái quát về thế giới nghệ thuật trong thơ Nguyễn Bính
CH
CHƯƠ ƯƠ ƯƠNG NG NG 2: 2: 2: NH NH NHỮ Ữ ỮNG NG NG N N NÉ É ÉT T T N N NỔ Ổ ỔIIII B B BẬ Ậ ẬT T T C C CỦ Ủ ỦA A A TH TH THẾ Ế Ế GI GI GIỚ Ớ ỚIIII NGH NGH NGHỆ Ệ Ệ THU THU THUẬ Ậ ẬT T TRONG
TRONG TH TH THƠ Ơ Ơ NGUY NGUY NGUYỄ Ễ ỄN N N B B BÍÍÍÍNH NH
2.1 Làng quê Việt Nam trong thơ Nguyễn Bính
2.1.1 Khung cảnh nông thôn trong thơ Nguyễn Bính
2.1.2 Con người thôn quê
2.2 Vấn đề tình yêu trong thơ Nguyễn Bính
TRONG TH TH THƠ Ơ Ơ NGUY NGUY NGUYỄ Ễ ỄN N N B B BÍÍÍÍNH NH
3.1 Sử dụng thể thơ quen thuộc của dân tộc
3.2 Hình ảnh thơ mang đậm chất dân gian
3.3 Giọng điệu tâm tình, sâu lắng
Trang 4PH PHẦ Ầ ẦN N N M M MỞ Ở Ở ĐẦ ĐẦ ĐẦU U
1 1 L L Líííí do do do ch ch chọ ọ ọn n n đề đề đề ttttà à àiiii
Phong trào Thơ mới hình thành và phát triển ở giai đoạn đầu của quá trình hiệnđại hóa văn học dân tộc Các nhà, văn nhà thơ của giai đoạn này đã thổi một luồng giómới vào nền văn học Việt Nam Thơ mới thực sự có sức hút mãnh liệt đối với ngườiđọc bởi Thơ mới ra đời đã đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu thẩm mĩ của người đọc.Đến lúc này, thơ không còn là tiếng nói của cái ta chung chung mà nó đã thực sự làtiếng nói của cái tôi cá nhân
Lực lượng sáng tác của phong trào Thơ mới rất phong phú và đa dạng với sự xuấthiện của nhiều cây bút tên tuổi Mỗi nhà thơ đều có phong cách nghệ thuật khác nhau.Xuân Diệu thì có một khát vọng mãnh liệt, rạo rực, khát khao nồng cháy, Hàn Mặc Tửthì quay cuồng, vật vã trong thế giới đau thương, Chế Lan Viên thì trầm mình trongthế giới siêu thực, huyền bí Trong đó, Nguyễn Bính hiện lên với một phong cách giảnđơn, bình dị của một tâm hồn nghệ sĩ đậm chất “chân quê”
Với đề tài “Th Th Thếếếế gi gi giớ ớ ớiiii ngh ngh nghệệệệ thu thu thuậ ậ ậtttt trong trong trong th th thơ ơ ơ Nguy Nguy Nguyễễễễn n n B B Bíííính nh nh tr tr trướ ướ ướcccc n n nă ă ăm m m 1945 1945 1945” chúng
tôi mong muốn có thể chỉ ra được nét độc đáo trong phong cách nghệ thuật củaNguyễn Bính Bên cạnh đó, chúng tôi muốn chứng minh cho người đọc biết vì saongười ta hay gọi Nguyễn Bính với cái tên thân mật là thi sĩ của hồn quê Việt Nam Bởithơ ông luôn gợi lên những hình ảnh về làng quê Việt Nam thân thuộc, mộc mạc Vàchính những hình ảnh đó đã gợi cho người đọc một chút bâng khuâng bồi hồi mỗi khiđọc thơ Nguyễn Bính Một hồn thơ mang đậm dấu ấn về con người Việt Nam, làngcảnh Việt Nam, những phong tục tập quán truyền thống tốt đẹp của ông cha ta từ xưađến nay Và đó cũng là lí do vì sao mà mỗi lần đọc thơ Nguyễn Bính người đọc khôngcảm thấy nhàm chán mà trái lại còn rất thích thú, ngâm nga Bởi thơ Nguyễn Bínhngoài việc ghi nhận lại những gì tốt đẹp nhất của quê hương Việt Nam, nó còn mangmột thông điệp rất có ý nghĩa đó là: Nếu là người Việt Nam thì hãy luôn luôn nhớ về
quê hương của mình như lời bài thơ Qu Qu Quêêêê H H Hươ ươ ương ng ng của Đỗ Trung Quân:
“Quê hương mỗi người chỉ một Như là chỉ một mẹ thôi
Trang 5Sẽ không lớn nổi thành người”
Không những thế, nó còn giúp người đọc nhận thức rằng cần phải cố gắng giữgìn những truyền thống tốt đẹp của cha ông ta đã gầy dựng từ hàng ngàn năm qua
Cả cuộc đời của nhà thơ đã khép lại nhưng vẫn còn đó những vần thơ ngọt ngào
tựa như một khúc ca dao Chính vì vậy, một số bài thơ của ông như Ch Ch Châ â ân n n qu qu quêêêê, Ng Ng Ngườ ườ ườiiii
h hà à àng ng ng x x xó ó óm m m, T T Tươ ươ ương ng ng ttttư ư ư, G G Gá á áiiii xu xu xuâ â ân n n đã được các nhạc sĩ yêu mến và tạo cho những vần
thơ thêm sức sống bằng cách biến chúng thành những lời ca ngọt ngào, du dương.Với những lí do trên, chúng tôi hi vọng rằng đề tài nghiên cứu này sẽ góp mộtphần nhỏ giúp cho người đọc hiểu sâu hơn nữa về những giá trị của thơ Nguyễn Bính
và một lần nữa khẳng định tài năng làm thơ của thi sĩ
2 2 L L Lịịịịch ch ch ssssử ử ử nghi nghi nghiêêêên n n ccccứ ứ ứu u u v v vấ ấ ấn n n đề đề
Hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu cũng như những bài phân tích, phêbình của các nhà nghiên cứu về cái hay, cái đẹp có trong thơ của Nguyễn Bính Họkhai thác rất nhiều khía cạnh của thơ ông Thông qua những công trình nghiên cứu đócho chúng ta thấy được phong cách nghệ thuật của Nguyễn Bính
Hoài Thanh trong quyểnThi nhân Việt Nam đã viết: “Cái đẹp kín đáo của những vần thơ Nguyễn Bính tuy cảm được một số đông công chúng mộc mạc, khó lọt vào mắt các nhà thông thái thời nay Tình cờ có đọc thơ Nguyễn Bính họ sẽ bảo: “Thơ thế này thì có gì? Họ có ngờ đâu đã bỏ rơi một điều mà người ta không thể hiểu được bằng lí trí, một điều quý vô ngần: hồn xưa đất nước” [16; tr.314] Như vậy, có thể thấy
Nguyễn Bính đã giữ được cái “hồn xưa” của dân tộc, cái vốn quý của dân tộc ViệtNam Hoài Thanh đã thấy được sự xuất hiện đột ngột mang phong cách mới lạ củaNguyễn Bính so với những nhà thơ khác trước đó
Trong quyểnTác phẩm và dư luận do Tôn Thảo Miên biên soạn, Tô Hoài đã viết
“Khi nào anh cũng là người của các xứ đồng, của cái diều bay, của dây hoa lý, của mưa thưa, mưa bụi giữa mọi công ăn việc làm vất vả sương nắng Bởi đấy là cốt lõi cuộc đời và tâm hồn thơ Nguyễn Bính Quê hương là tất cả, mà cũng là nơi đậm dấu vết đời mình” [13; r.113] Qua đó, ta có thể thấy sự khác biệt trong phong cách sáng
tác của Nguyễn Bính với các nhà thơ khác Nguyễn Bính không sao chép nguyên mẫunhững cảnh vật của đời sống thực nhưng thiên nhiên trong thơ của ông vẫn hiện lênmột cách sinh động Tuy nhiên, bài viết vẫn chưa đề cập đến vấn đề con người thôn
Trang 6quê trong thơ ông Mảng đề tài này ít nhiều cũng đã mang đến sự thành công cho thơNguyễn Bính.
Đề tài viết về quê hương đất nước không còn xa lạ gì với các nhà thơ Mỗi ngườilại có cách thể hiện tình cảm riêng của mình đối với quê hương Đặc biệt hồn quêtrong thơ Nguyễn Bính được Tô Hoài nhận xét: “Nguyễn Bính chỉ thật riêng một góc trời ở những bài thơ đầu với một mảng thơ đất quê Khi tâm hồn và sự chân thực đi cùng thơ Nguyễn Bính đạt tới toàn bích” [13; tr.206] Ta thấy những bài thơ viết về
quê hương đất nước của Nguyễn Bính thật sự đã chạm được đến tâm hồn người đọc.Cái hồn quê trong tim mỗi người được khơi lại trong những vần thơ của Nguyễn Bính.Bên cạnh Tô Hoài thì nhà thơ Vũ Quần Phương cũng có nhận xét về đề tài quêhương trong thơ Nguyễn Bính Ông viết: “Người ta khó tìm thấy đời sống hiện thực trong thơ Nguyễn Bính dù rằng có thể gặp cảnh hiện thực, tâm lí hiện thực Anh là một nhà thơ lãng mạn, cái nhìn lãng mạn tài hoa của anh giữ lại vẻ đẹp cố hữu không biết của thời nào nhưng rất là của Việt Nam mình” [13; tr.115] Cũng tương tự như thế, Lê
Đình Kỵ nhận xét “Cái chính không phải ở phong vị nông thôn hay thành thị, không phải thiên về thị hiếu thôn dân hay thành thị dân, mà ở cái hồn dân tộc mà thơ Nguyễn Bính đã cảm nhận sâu sắc và gởi gắm và thơ mình” [11; tr.173] Nguyễn Bính dường
như bị thu hút bởi cuộc sống bình dị của làng quê Việt Nam Tình yêu quê hương luônluôn cháy rực trong lòng nhà thơ Ta có thể thấy rõ ẩn đằng sau những câu chữ giản dịmộc mạc trong thơ là hình ảnh về một Việt Nam thân thuộc gần gũi đối với chúng ta.Ngoài mảng đề tài viết về quê hương và con người Việt Nam thì Nguyễn Bínhcũng rất thành công khi viết về đề tài tình yêu đôi lứa Trúc Đường nhận xét: “Bính như người khát nước mùa hè Yêu nhiều thất bại không ít, có lúc thất tình nhưng chỉ trong thơ thôi Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính không bình yên, ổn định mà luôn
ở trạng thái bất an Và chính cái bất an đó làm cho câu thơ xao xuyến không ngừng, rất thích hợp với tâm trạng của người đang yêu” [13; tr.129] Qua đó, ta thấy nội dung
mảng thơ tình của Nguyễn Bính là vô cùng phong phú, đa dạng Nguyễn Bính đã chú ýđến việc miêu tả tâm trạng của những người đang yêu có hạnh phúc nhưng có khi cũng
có không ít đau đớn xót xa
Trong bài viết Nguyễn Bính thơ của truyền thống, của thế hệ, Lê Đình Kỵ đã
nhận xét: “Thơ Nguyễn Bính không chỉ giống ca dao ở cái vỏ bên ngoài, mà đã tiếp thu được phần hồn của nó, được thể hiện vào những câu ca dao hay nhất mà một tác
Trang 7giả thời nay có thể viết ra được Phải thật gần gũi, yêu mến con người, sinh hoạt, cảnh vật nông thôn mới có những ghi nhận, những rung động đó” [7; tr.220] Nhà thơ đã
khéo léo sáng tác thơ theo lối văn chương truyền thống của dân tộc, đó là viết theo thể
ca dao Với thể thơ này, Nguyễn Bính đã thật sự trở thành một cây bút tiêu biểu củalàng quê Việt Nam
Ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính mang đậm chất dân gian Có thể thấy, Nguyễn Bínhluôn có ý thức giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân gian của dân tộc bằngcách đưa vào trong thơ ông những “mã ngôn ngữ” của đời sống hằng ngày, gần với lời
ăn tiếng nói của quần chúng nhân dân lao động “Có lẽ Nguyễn Bính là người đem nhiều nhất những mã ngôn ngữ của đời sống dân dã vào thơ Việt Nam hiện đại Những giậu mồng tơi, giăng sáng, vườn chè, trống chèo, hoa xoan, hao bưởi, hoa cam, cánh buồm nâu, vườn dâu, vườn cam, tất cả đã vào trong thơ Nguyễn Bính một cách trữ tình duyên dáng Chắc chắn thế kỉ này chưa có nhà thơ nào dám dùng những mã hiện thực như ao bèo, con lợn, giếng thơi… để mà diễn tả nỗi buồn, nỗi mất mát của tình yêu trong tâm hồn con người Việt Nam hiện đại.” [7; tr.193] Đấy là lời nhận xét
của Đoàn Hương khi nói về ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Bính Qua đó, ta thấy nhữngvần thơ giản dị của ông cứ tồn tại và sống đời sống riêng của nó, chỗ đứng riêng của
nó Thơ của ông phản ánh được hầu hết những khía cạnh của đời sống Bài viết này rất
có ích cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu Vì nó cho chúng tôi biết được thơNguyễn Bính có tầm bao quát những gì gần gũi nhất với con người Việt Nam
Bên cạnh Đoàn Hương thì Hà Minh Đức cũng đưa ra những nhận định của mìnhkhi nói về ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính, ông viết “Nguyễn Bính thích một ngôn ngữ nhiều màu sắc trong thơ Nếu Hàn Mặc Tử nói nhiều đến hương vị trong đời, trong thơ thì Nguyễn Bính lại chuộng màu sắc Đã nói mộng là mộng vàng, rượu là rượu hồng, mắt biếc, môi son” [11; tr.110] Ngôn ngữ đa sắc là đặc điểm riêng biệt mà ta
chỉ tìm thấy trong thơ Nguyễn Bính Ngôn ngữ ấy góp phần khắc họa nên một thế giớinghệ thuật đặc trưng riêng cho nhà thơ Nguyễn Bính
Giọng điệu trong văn chương là một đặc điểm quan trọng giúp ta có thể phân biệtphong cách của mỗi nhà văn nhà thơ Hà Minh Đức viết: “Trong thơ Nguyễn Bính có một dòng viết về làng quê giàu tính chất dân gian và một dòng trữ tình nhiều tâm trạng trăn trở mà có màu sắc hiện đại” [13; tr.253] Trong quyển Nguyễn Bính nhà thơ chân quê, tác giả viết: “Trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ người ta thấy
Trang 8xuất hiện cùng một lúc, một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư… quê mùa như Nguyễn Bính” [11; tr.221] Tương tự như thế, Nguyễn Đăng Điệp
cho rằng: “Giọng điệu quê mùa đã giúp Nguyễn Bính thể hiện chiều sâu của hồn quê … Đi đến tận cùng tình yêu hồn quê, chạm vào kí ức văn hóa dân tộc, Nguyễn Bính đã tạo nên một giọng quê mùa độc đáo” [13; tr.139] Giọng thơ quê mùa của
Nguyễn Bính cũng chính là một trong những yếu tố tạo nên phong cách riêng choNguyễn Bính Điều này giúp chúng tôi có thể hiểu sâu hơn về phong cách thơ của ông,
là cơ sở lí luận quan trọng để phân biệt thơ ông với thơ của các nhà thơ khác Từ đó cócách nhìn khách quan hơn khi phân tích thơ của ông Chúng tôi có thể dựa vào đó để
có thể khai thác triệt để hơn những nghệ thuật sáng tạo trong thơ Nguyễn Bính
Sáng tác thơ theo thể thơ lục bát được rất nhiều nhà thơ của phong trào Thơ mới ưachuộng Có thể nói, Nguyễn Bính là cái tên tiêu biểu nhất cho việc sáng tác thơ theothể lục bát Trong quyển Nguyễn Bính nhà thơ chân quê (Nhà xuất bản Văn hóa thông
tin, 2000), Đoàn Thị Đặng Hương viết: “Cái giọng thơ riêng của ông rõ ràng không thể trộn lẫn vào các nhà thơ khác: cái chất, cái hồn quê Việt Nam nguyên vẹn đậm đà như trong các bài ca dao dân gian Và điều này cũng thể hiện rõ khi ông chọn thể thơ cho mình Có thể nói Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ bậc nhất của thời kì này về thơ lục bát Những bài thơ lục bát của ông thường có một thi pháp riêng hết sức độc đáo” [11; tr.36] Thơ lục bát từ xưa đến nay luôn giữ được vị trí độc tôn trong
nền văn học dân gian nói riêng và thi đàn văn học Việt Nam nói chung Nhà thơNguyễn Bính luôn có ý thức giữ gìn nét văn hóa truyền thống ấy của dân tộc Có thểnói, trong phong trào Thơ mới Nguyễn Bính là bậc thầy trong việc sử dụng thể thơ lụcbát để sáng tác thơ ca
Nguyễn Quốc Túy đã viết: “Không gian nghệ thuật của Thơ mới dân gian Nguyễn Bính là một thứ không gian cổ tích, của huyền thoại Thời gian nghệ thuật là một thứ trộn lẫn giữa xưa và nay…Chính cái không gian nghệ thuật cổ tích, huyền thoại và trộn lẫn xưa và nay, thực và hư đã đưa lại cho Thơ mới dân gian Nguyễn Bính một vẻ đẹp tươi riêng vừa duyên, óng ả, lại vừa mượt mà, mộng mơ” [13; tr.290].
Thơ Nguyễn Bính không chỉ hay ở nội dung mà hình thức nghệ thuật cũng làm ngườiđọc phải thán phục hơn về tài năng của ông Chính không gian, thời gian ấy giúp Thơmới dân gian Nguyễn Bính có được vị trí nhất định trên thi đàn văn học Việt Nam thời
Trang 9kì hiện đại Đây cũng là cơ sở quan trọng giúp chúng tôi nghiên cứu sâu hơn khi thựchiện đề tài này.
Thơ Nguyễn Bính thực sự như có “ma lực” làm lay động tâm hồn những ai là “tínđồ” của thơ ông Viết về cảnh vật, con người Việt Nam hay vấn đề tình yêu đôi lứa,Nguyễn Bính luôn chú ý đến việc làm sao cho thơ ông vừa gợi được hình ảnh quenthuộc của quê hương đất nước vừa giữ được những truyền thống tốt đẹp của dân tộc.Nhờ đó mà những vần thơ của ông đã chạm đến tận đáy lòng, tâm hồn của biết baođộc giả Như vậy, những công trình nghiên cứu trên phần nào đã khám phá đượcnhững nét đặc trưng, tiêu biểu trong thơ Nguyễn Bính trên nhiều phương diện khácnhau Đó là những gợi ý, những nguồn tư liệu đáng quý, có ích trong quá trình nghiêncứu của chúng tôi
3 3 M M Mụ ụ ụcccc đí đí đích ch ch nghi nghi nghiêêêên n n ccccứ ứ ứu u
Thế giới nghệ thuật đầy sáng tạo và nhiều màu sắc trong thơ Nguyễn Bính là vấn
đề sẽ được chúng tôi tập trung nghiên cứu nhằm mục đích:
Thứ nhất, để thấy được tài năng sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ Nguyễn Bính.Thứ hai, chúng ta sẽ có cái nhìn khái quát về phong cách sáng tác của NguyễnBính Đồng thời, giúp chúng ta có thể dễ dàng nhận ra sự khác biệt trong phong cáchsáng tác của ông với các nhà thơ khác
Thứ ba, việc khám phá đặc điểm thơ Nguyễn Bính giúp chúng ta có cách nhìntoàn diện hơn, sâu sắc hơn về con người cũng như sự nghiệp văn chương của nhà thơNguyễn Bính
Thứ tư, giúp chúng tôi rèn luyện kĩ năng nghiên cứu khoa học Đây là bước đầuquan trọng để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu những vấn đề có quy mô lớn hơn
4 4 Ph Ph Phạ ạ ạm m m vi vi vi nghi nghi nghiêêêên n n ccccứ ứ ứu u
Khi nghiên cứu đề tài Th Th Thếếếế gi gi giớ ớ ớiiii ngh ngh nghệệệệ thu thu thuậ ậ ậtttt trong trong trong th th thơ ơ ơ Nguy Nguy Nguyễễễễn n n B B Bíííính nh nh tr tr trướ ướ ướcccc n n nă ă ăm m
1945 1945, chúng tôi có tham khảo tài liệu của các nhà nghiên cứu khi nghiên cứu về thơ
Nguyễn Bính Có rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về thơ Nguyễn Bính ởcác phương diện nội dung, nghệ thuật hay phong cách sáng tác của ông, nhưng ở đây,chúng tôi chủ yếu tập trung nghiên cứu sâu về thế giới nghệ thuật trong thơ ông để
Trang 10thấy được cái hay cái đẹp của thơ Nguyễn Bính Bên cạnh đó, chúng tôi có so sánh đốichiếu với thơ của các nhà thơ khác để có cách nhìn khách quan hơn trong nghiên cứu.
5 5 Ph Ph Phươ ươ ương ng ng ph ph phá á áp p p nghi nghi nghiêêêên n n ccccứ ứ ứu u
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:
Phương pháp tiểu sử: Đây là phương pháp cần thiết trong việc nghiên cứu, tìmhiểu những tác động của những sự kiện trong cuộc đời có ảnh hưởng đến cảm hứngsáng tác của Nguyễn Bính
Phương pháp hệ thống: Đây là phương pháp được vận dụng trong quá trình tìmhiểu một cách toàn diện các tác phẩm thơ của Nguyễn Bính, đặc biệt là thế giới nghệthuật trong thơ ông
Phương pháp so sánh: Đây là phương pháp này được vận dụng trong quá trìnhchúng tôi xem xét, so sánh Nguyễn Bính với các nhà thơ khác để thấy được vị trí và sựđóng góp của nhà thơ Nguyễn Bính
Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi còn kết hợp vận dụng nhữngthao tác: phân tích, giải thích, chứng minh, bình luận để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu
Trang 11PH PHẦ Ầ ẦN N N N N NỘ Ộ ỘIIII DUNG DUNG
CH CHƯƠ ƯƠ ƯƠNG NG NG 1 1
M MỘ Ộ ỘT T T S S SỐ Ố Ố V V VẤ Ấ ẤN N N ĐỀ ĐỀ ĐỀ CHUNG CHUNG
1.1 1.1 B B Bố ố ốiiii ccccả ả ảnh nh nh llllịịịịch ch ch ssssử ử ử x x xã ã ã h h hộ ộ ộiiii Vi Vi Việệệệtttt Nam Nam Nam giai giai giai đ đ đo o oạ ạ ạn n n 1930 1930 1930 – – – 1945 1945
Xã hội Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945, có sự phân hóa mạnh mẽ và sâu sắc Khi
đó, thực dân Pháp đã tiến hành xâm lược nước ta, thực hiện lần lượt hai lần công cuộckhai thác thuộc địa (1897 – 1918), từ đó đã chuyển Việt Nam từ nước phong kiến sangnước thuộc địa nửa phong kiến, khiến đời sống nhân dân ta rơi vào tình cảnh khốncùng
Trong công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 – 1914), Việt Nam bịchia cắt thành 3 kì: Bắc kì, Trung kì và Nam kì với ba chế độ cai trị khác nhau Trong
đó, Bắc kì và Trung kì là hai xứ bảo hộ vẫn còn giữ lại chính quyền phong kiến vềhình thức, còn Nam kì là thuộc địa hoàn toàn của Pháp do chúng nắm quyền Để giúpviệc cho bộ máy hành chính cai trị của Pháp, thực dân Pháp vẫn giữ lại hệ thống chínhquyền phong kiến: dưới làng xã có các xã trưởng, hương trưởng và hội đồng kì hào dobọn tay sai đứng đầu Mục đích chính của Pháp chính là muốn chia cắt nước ta, chia rẽ
sự đoàn kết đấu tranh của nhân dân ta và để dễ dàng thống trị nước Việt Nam
Tiếp sau đó chính quyền thực dân thực hiện ngay công cuộc khai thác thuộc địalần thứ hai (1914 – 1918), trên lĩnh vực kinh tế, thực dân Pháp tiến hành chính sách
“cải lương hương chính” nhằm bành trướng thế lực chính trị và từng bước thâu tómtoàn bộ bộ máy chính quyền của làng xã bằng cách kiểm soát nhân sự, tài chính của bộmáy làng xã Việt Nam Như ta đã biết, dù Pháp là nước thắng trận trong chiến tranhthế giới lần thứ nhất (1914 – 1918) nhưng vẫn phải hứng chịu hậu quả nặng nề dochiến tranh gây ra
Với tình hình như thế buộc chính quyền Pháp phải nhanh chóng tìm ra biện phápcần thiết để hàn gắn vết thương chiến tranh Việt Nam là mục tiêu mà chúng hướngđến để giúp chúng giải quyết vấn đề trên Cụ thể trong nông nghiệp, ngoài những cánhđồng trồng lúa đã xuất hiện thêm những đồn điền cao su, chè, cà phê, hạt tiêu… theochủ trương của Pháp thì các chủ đồn điền phải đẩy mạnh việc khai thác nhiều phươngthức canh tác mới, tăng cường bóc lột sức lao động của nông dân, tá điền để nhanh
Trang 12chóng khôi phục lại kinh tế Còn ở lĩnh vực thương nghiệp, thương nghiệp Việt Nam
đã xuất hiện bóng dáng của nhiều khu chợ lớn như chợ Bến Thành (Sài Gòn), chợĐông Ba (Huế), chợ Đồng Xuân (Hà Nội) Cả lĩnh vực ngoại thương thực dân Phápcũng chen chân vào, chúng dựng hàng rào thuế quan để bảo hộ hàng hóa của chúng,hạn chế đến mức tối đa hàng hóa của nước ngoài nhập và Đông Dương, tạo điều kiệntốt nhất cho hàng của Pháp tràn vào thị trường Việt Nam Trước chiến tranh, hàng hóaPháp ở đông Dương chỉ chiếm 37% nhưng cuối những năm 1920 con số đã lên tới63% Như vậy, dưới tác động mạnh mẽ của hai lần khai thác thuộc địa, nền kinh tếViệt Nam tiếp tục chuyển biến sâu sắc, cơ cấu kinh tế thuộc địa mang màu sắc hiện đạidịch chuyển dần theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực
Đặc biệt, trong giai đoạn 1930 – 1945 thành thị bắt đầu xuất hiện kéo theo sự rađời của các tầng lớp mới như tầng lớp thanh niên, tri thức tư sản, tiểu tư sản và tầnglớp thị dân Căn cứ vào sự biến đổi sâu sắc của lịch sử xã hội Việt Nam lúc bấy giờ ta
có thể chia lịch sử giai đoạn 1930 – 1945 thành ba giai đoạn lịch sử nhỏ để có cái nhìntổng quan hơn, sâu sắc hơn
Giai đoạn 1930 - 1935, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời (ngày 3 - 2 - 1930) mangđến niềm vui lớn cho cách mạng Việt Nam, lúc này ngọn cờ lãnh đạo được trao lại chogiai cấp công nhân, chấm dứt sự khủng hoảng về vai trò lãnh đạo của các giai cấptrong xã hội
Ngay sau đó, cao trào Cách mạng 1930 - 1931 với đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh,một lần nữa khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và phát huy sứcmạnh to lớn của khối liên minh công – nông Hàng loạt những cuộc đấu tranh, biểutình diễn ra rầm rộ khắp cả nước Nổi bật nhất là cuộc biểu tình của 20000 nông dânhuyện Thanh Chương đòi giảm thuế, thả tù chính trị, đoàn người biểu tình tiến vàohuyện đường, phá nhà giam, giải phóng tù nhân làm cho cả bọn hào lí, địa chủ phải bỏchạy Thắng lợi trên đã góp phần khích lệ tinh thần cho các cuộc đấu tranh ở nhữngnơi khác trong cả nước
Tuy cao trào Cách mạng 1930 – 1931 chỉ tồn tại được một khoảng thời gian ngắnnhưng lại có ý nghĩa vô cùng to lớn Đó là phong tào cách mạng triệt để do Đảng ta tổchức và lãnh đạo, là phong trào cách mạng triệt để diễn ra trên qui mô rộng lớn, và đặcbiệt là nhận được sự ủng hộ của đông đảo quần chúng nhân dân tham gia với nhiều
Trang 13hình thức đấu tranh phong phú và quyết liệt Tuy thất bại nhưng cũng đã khẳng địnhđược đường lối đúng đắn của Đảng, sự đoàn kết khối liên minh công – nông.
Tiếp đó cuộc khủng hoảng kinh tế (1929 - 1933) của thế giới cũng ảnh hưởng đếnViệt Nam, nhất là ở lĩnh vực kinh tế Trong nông nghiệp, lúa gạo trên thị trường thếgiới bị mất giá làm cho lúa gạo Việt Nam không xuất khẩu được, nhân dân buộc phải
bỏ hoang ruộng đất Trong sản xuất công nghiệp, sản xuất công nghiệp của Việt Nam
bị đình trệ do thiếu vốn đầu tư bởi thực dân Pháp đã rút vốn đầu tư ở Đông Dương vàdùng ngân sách Đông Dương để hỗ trợ cho thực dân Pháp Vì vậy, công nhân thấtnghiệp ngày càng nhiều, số người có việc làm thì tiền lương bị giảm đi từ 30 – 50%,thêm vào đó thực dân Pháp còn tăng sưu thuế lên gấp 2, 3 lần, chính cuộc khủnghoảng kinh tế thế giới đã làm cho cuộc sống của các tầng lớp trong xã hội Việt Namlâm vào cảnh khốn khổ đến tột cùng
Giai đoạn 1936 - 1939, đánh dấu bước ngoặt lớn cho cách mạng Việt Nam bằngviệc Đảng cộng sản Việt Nam được hoạt động công khai tạo điều kiện cho cả sách báocủa Đảng được tự do công khai phát hành rộng rãi: Tiền phong, Dân chúng, Lao động, Tin tức… nhằm tuyên truyền, vận động quần chúng đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ
Cụ thể từ tháng 6 - 1936 đến 9 - 1939 đã có tới 43 tờ báo của Đảng được phát hành.Lúc này, trên thế giới chủ nghĩa phát xít bắt đầu manh nha xuất hiện và tạm thờithắng thế ở một số nước như Tây Ban Nha, Đức, Italia, Nhật Bản, điều này cho thấy
có nguy cơ xảy ra chiến tranh trên toàn thế giới Vì vậy, Đại hội VII của Quốc tế Cộngsản (tháng 7 - 1935) xác định nhiệm vụ trước mắt là chống phát xít và nguy cơ chiếntranh lan rộng, bảo vệ hòa bình, thành lập mặt trận nhân dân rộng rãi
Ở nước ta, dư âm của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1933) vẫn còntồn tại, trong khi đó thực dân Pháp lại tiến hành chiến dịch khủng bố để đàn áp phongtrào Cách mạng 1930 – 1931 của quân và dân Việt Nam Với tình hình đó, Hội nghịban thường vụ trung ương Đảng họp tại Thượng Hải (Trung Quốc) và tháng 7 – 1936
đã đề ra nhiệm vụ là đấu tranh chống phát xít, chống chiến tranh, đòi tự do, hòa bìnhcho dân tộc Hội nghị cũng thông qua việc thành lập Mặt trận thống nhất nhân dânphản đế Đông Dương nhưng sau đó đã đổi tên thành Mặt trận Dân chủ Đông Dươngvào tháng 3 - 1938 Cao trào mặt trận Dân chủ Đông Dương diễn ra khá sôi nổi, rầm rộ
và rộng khắp từ thành thị đến nông thôn với khẩu hiệu “tự do, cơm áo, hòa bình”
Trang 14Ngay cả trên lĩnh vực văn hóa thực dân Pháp cũng quyết tâm can thiệp, chúngthực hiện chính sách ngu dân ở nước ta Chúng mở nhà tù nhiều hơn trường học Thậmchí chúng bắt học sinh từ 18 tuổi trở lên đang học ở các trường tư thục phải đóng thuếthân nhằm mục đích để học sinh nghèo không thể đến trường được Kết quả là hơn90% người dân bị mù chữ Bên cạnh đó, thực dân Pháp còn đưa ra những chủ trương,chính sách có tính chất cải lương tư sản vào các phong trào văn hóa, tổ chức nhiềuhoạt động tôn giáo, cuộc thi sắc đẹp, gây chợ phiên, mở tiệm nhảy, nhà săm, tiệm hút.Chúng không mong muốn gì hơn là đẩy thanh niên Việt Nam vào con đường trụy lạc,
ăn chơi, sa đọa, không còn tinh thần để chiến đấu
Năm 1931, thực dân Pháp đã xây dựng hơn 1000 nhà săm và nhà thổ Và qua
phóng sự Thanh Thanh Thanh ni ni niêêêên n n tr tr trụ ụ ụyyyy llllạ ạ ạcccc của Nguyễn Đình Lạp, cho ta biết chỉ tính riêng ở Hà
Nội đã có đến 6000 gái đĩ, 100 nhà săm, 300 tiệm hút, 7 sòng bạc lớn…đó là nhữngcon số “biết nói” cho thấy thực dân Pháp rắp tâm xâm lược, đàn áp nhân dân Việt Nam.Giai đoạn 1940 – 1945, sự kiện Mặt trận Việt Minh ra đời (5 - 1941) là tín hiệuđáng mừng cho cách mạng Việt Nam nói chung và cho cuộc cách mạng tháng Tám nóiriêng Việt Minh ra đời đã xây dựng được lực lượng vũ trang khá hùng hậu tạo nên sứcmạnh tổng hợp và sẵn sàng chiến đấu đuổi thù chung khi thời cơ đến Ngoài ra, Mặttrận Việt Minh còn có vai trò to lớn trong việc triệu tập và tiến hành thành công Quốcdân đại hội, huy động toàn dân tham gia Tổng khởi nghĩa Có thể nói không có mặttrận Việt Minh thì sẽ không có cách mạng tháng Tám
Đúng lúc này, trên thế giới lại nổ ra cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 –1945) Đối với Việt Nam, đặc biệt trong và sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đã diễn
ra rất nhiều cao trào nổi dậy giành độc lập nhưng tất cả đều bị thất bại Vẫn chưa kịpxây dựng lại lực lượng từ sau những thất bại trên thì một lần nữa cách mạng Việt Namlại phải đối mặt với những khó khăn khác đó là việc phát xít Nhật xâm lược nước tangày 22 - 9 - 1940, chúng xâm lược nước ta nhằm mục đích xây dựng căn cứ quân sự
để đánh quân Đồng minh ở Đông Nam Á Tại thời điểm đó, Việt Nam vẫn còn là mộtnước nghèo và lạc hậu so với nhiều quốc gia khác trong khu vực nhưng lại phải chịuảnh hưởng trực tiếp từ cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai dẫn đến tình trạng ViệtNam bị cuốn vào nền kinh tế thời chiến Nhật Bản bắt đầu bành trướng thế lực ở ĐôngNam Á Hơn nữa, ngày 9 - 3 - 1945 Nhật vào Đông Dương hất cẳng Pháp ra khỏi Việt
Trang 15Nam Thực sự chính lúc này đời sống nhân dân ta vô cùng khốn khổ và hậu quả là nạnđói lớn diễn ra rộng khắp cả nước và có đến 2 triệu người dân chết vì đói.
Trên cơ sở phân tích tình hình thế giới và cách mạng Đông Dương Ban Thường
vụ mở rộng của Trung ương Đảng đã triệu tập khẩn cấp họp tại Đình Bảng (Bắc Ninh)dưới sự chủ tọa của Tổng bí thư Trường Chinh, hội nghị ra quyết định phát động caotrào kháng Nhật cứu nước, lãnh đạo toàn dân gấp rút chuẩn bị sẵn sàng khởi nghĩa vũtrang giành chính quyền Hội nghị cũng đề ra nhiệm vụ cụ thể, các hình thức đấu tranhlàm tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám thành công
1.2 1.2 T T Tìììình nh nh h h hìììình nh nh v v vă ă ăn n n h h họ ọ ọcccc Vi Vi Việệệệtttt Nam Nam Nam giai giai giai đ đ đo o oạ ạ ạn n n 1930 1930 1930 1945 1945
Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 là một bước ngoặt đánh dấu sự chuyểnhướng mạnh mẽ từ thi pháp trung đại sang thi pháp hiện đại trong sáng tác văn chương.Trên con đường hiện đại hóa, chỉ trong vòng mười lăm năm ngắn ngủi, văn chươnghiện đại Việt Nam đã tạo nên một sự phát triển nhanh chóng, nhảy vọt
Xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX, ngoài tầng lớp nhà nho còn có nhiều giai cấp,tầng lớp mới được hình thành từ sau cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất và lần thứhai của thực dân Pháp như: giai cấp tư sản, giai cấp vô sản, tầng lớp tiểu tư sản trí thức
Do xã hội xuất hiện thêm nhiều tầng lớp khác nhau nên đòi hỏi phải có những tácphẩm thi ca phù hợp với nhu cầu thị hiếu thẩm mĩ của họ Do đó, đổi mới thơ ca làmột nhu cầu cấp bách lúc bấy giờ
Sự xuất hiện của Thơ mới thực sự là một cuộc cách mạng về thơ Bởi sau hàngngàn năm chỉ biết đến thơ ca trung đại thì bây giờ văn học Việt Nam lại có thêm mộtmón ăn tinh thần nữa mang tên Thơ mới, đáp ứng thị hiếu thẩm mĩ của hầu hết các giaicấp, tầng lớp xã hội thời bấy giờ Thơ mới là tiếng nói của tầng lớp tiểu tư sản, tiếnglòng của thế hệ thanh niên trí thức Lúc này, thơ không còn là tiếng nói của cái tachung chung Tiếng nói ấy đã vượt khỏi rào cản của những quy tắc, quy phạm trongthơ ca trung đại
Dựa trên cơ sở ý thức hệ và hình thức lưu hành, văn chương được phân hóa thành
2 bộ phận: văn chương hợp pháp và văn chương bất hợp pháp Hai bộ phận ấy lại phânhóa thành 3 lưu phái Bao gồm lưu phái văn chương lãng mạn, lưu phái văn chươnghiện thực phê phán, lưu phái văn chương cách mạng vô sản Có thể chia tiến trình vănhọc giai đoạn (1930 - 1945) thành 3 giai đoạn:
Trang 16Giai đoạn 1930 - 1935, đây là giai đoạn đỉnh cao của lưu phái văn chương lãngmạn Lưu phái văn chương lãng mạn ra đời và phát triển sôi nổi, chiếm được ưu thếtrên văn đàn với hai sự kiện nổi bật Thứ nhất, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn ra đời,nhanh chóng gây được tiếng vang lớn trong đời sống tinh thần của tầng lớp thanh niên
tư sản, tiểu tư sản đang hoang mang cực độ trong thời kì thoái trào cách mạng Nộidung tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đề cập đến vấn đề giương cao ngọn cờ chống lễ giáophong kiến, hủ tục lạc hậu và trên hết là đề cao chủ nghĩa cá nhân Những tác phẩm
tiêu biểu cho giai đoạn này đó là Đ Đ Đo o oạ ạ ạn n n tuy tuy tuyệệệệtttt (Nhất Linh), B B Bướ ướ ướm m m tr tr trắ ắ ắng ng ng (Nhất Linh),
N Nử ử ửa a a ch ch chừ ừ ừng ng ng xu xu xuâ â ân n n (Khái Hưng), H H Hồ ồ ồn n n b b bướ ướ ướm m m m m mơ ơ ơ ti ti tiêêêên n n (Khái Hưng) Thứ hai, phong trào
Thơ mới xuất hiện với niềm kháo khát mãnh liệt muốn nhanh chóng thoát khỏi nhữngnguyên tắc, luật lệ của thơ cũ, giải phóng cái “tôi” bản thể của con người cá nhân Đi
đầu cho phong trào này có thể kể đến tiếng thơ của Thế Lữ với tác phẩm M M Mấ ấ ấyyyy vvvvầ ầ ần n
ng ngâ â âyyyy th th thơ ơ ơ, Lưu Trọng Lư với N N Nắ ắ ắng ng ng m m mớ ớ ớiiii.
Lưu phái văn chương hiện thực phê phán ở giai đoạn này mới được hình thành,vẫn chưa có điều kiện phát triển Một phần cũng là do các tầng lớp tư sản, tiểu tư sảnvẫn còn bị thu hút mạnh bởi tiểu thuyết Tự lực văn đoàn và Thơ mới Các nhà văn hiệnthực phê phán thời kì này chỉ sáng tác trong giới hạn phạm vi đề tài về cuộc sống cơcực, nghèo khổ của nông dân, đề tài về dân thành thị bị phá sản, bần cùng hóa…Những vấn đề xã hội quan trọng như chính trị, kinh tế, văn hóa vẫn chưa được đề cậpđến Tính chất phê phán còn yếu Có thể kể đến Nguyễn Công Hoan với tập truyện
ngắn trào phúng K K Kéééép p p T T Tư ư ư B B Bềềềền n n, Vũ Trọng Phụng với vở kịch Kh Kh Khô ô ông ng ng m m mộ ộ ộtttt ti ti tiếếếếng ng ng vang vang vang,
phóng sự C C Cạ ạ ạm m m b b bẫ ẫ ẫyyyy ng ng ngườ ườ ườiiii và K K Kỹỹỹỹ ngh ngh nghệệệệ llllấ ấ ấyyyy T T Tâ â âyyyy, Tam Lang với tập phóng sự T T Tô ô ôiiii k k kééééo o o xe xe
và tập truyện ngắn M M Mộ ộ ộtttt đê đê đêm m m tr tr trướ ướ ướcccc.
Lưu phái văn chương cách mạng vô sản mới được hình thành, mở đầu cho vănhọc của lưu phái này là những sáng tác thơ văn của phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh.Thơ văn Xô viết Nghệ Tĩnh phần lớn là những bài thơ ca có tính chất chính luận nhằm
cổ vũ tinh thần chiến đấu cho các chiến sĩ cách mạng, vạch trần bản chất xấu xa củabọn đế quốc phong kiến, phản ánh đời sống khổ cực của nhân dân ta Vì hoàn cảnhsáng tác hết sức khó khăn, chiến sĩ đóng vai trò vừa là chiến sĩ vừa là nhà văn màkhông phải là nhà văn chuyên nghiệp nên thơ văn Xô viết Nghệ Tĩnh khó tránh khỏi
có sự non yếu về hình thức nghệ thuật Điều quan trọng hơn cả những tác phẩm thơ
Trang 17mang tinh thần quyết tâm chiến đấu đuổi thù chung Cho đến khi Cao trào Cách mạng
1930 – 1931 bị thất bại, hàng loạt chiến sĩ bị giết chết hoặc bị đày ải trong các nhà tù
Vì thế thơ ca cách mạng trong tù có điều kiện phát triển mạnh, nói lên tiếng nói trungquân ái quốc, tinh thần lạc quan chiến thắng
Giai đoạn 1936 - 1939, đây là giai đoạn đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của lưuphái văn chương hiện thực phê phán Ở giai đoạn ngắn này, lưu phái văn chương lãngmạn không còn chiếm ưu thế trên văn đàn văn học nhưng vẫn phát triển mạnh Điều
đó được thể hiện ở hai nét chính, thứ nhất, nội dung tiểu thuyết, truyện ngắn của nhóm
Tự lực văn đoàn tiếp tục lên án chống lễ giáo phong kiến, hủ tục lạc hậu, mặt khác chủ
đề cải cách xã hội có phần ảo tưởng cũng được Tự lực văn đoàn khai thác và đưa vàovăn chương Cụ thể, họ đưa ra một số tiểu thuyết luận đề nhằm vạch ra một lối đi mớicho người trí thức giàu có đó là quay trở về mảnh đất quê, thành lập đồn điền theo lối
“văn minh” để có thể hưởng được thú vui cuộc sống thanh bình, mặt khác thực thinhững chính sách giảm thuế, mở chợ, trường học cho nông nhân nghèo Những tác
phẩm tiêu biểu như tiểu thuyết Con Con Con đườ đườ đường ng ng ssssá á áng ng ng của Hoàng Đạo, tiểu thuyết Gia Gia Gia đì đì đình nh
của Khái Hưng, tiểu thuyết L L Lầ ầ ầm m m than than than của Lan Khai, tiểu thuyết Con Con Con tr tr trâ â âu, u, u, Sau Sau Sau llllũ ũ ũyyyy tre tre
của Trần Tiêu Nét chính thứ hai, phong trào Thơ mới phát triển đến đỉnh cao rồi rơivào bế tắc Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu nhất cho Thơ mới giai đoạn này Tình yêutrong thơ ông đã chạm đến tận đáy sâu trong tâm hồn của cái “tôi” tiểu tư sản, tuy yêuđời, sôi nổi nhưng lại cô độc, bế tắc Đối với phong trào Thơ mới, Xuân Diệu như cáibản lề đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ nhất nhưng đồng thời ông cũng là người mởđầu cho thời kì khủng hoảng của Thơ mới Ngoài Xuân Diệu thì còn có cái buồn thêlương của Huy Cận, thơ “điên” mạng đậm chất tượng trưng, siêu thực của Hàn MặcTử
Ở giai đoạn này, lưu phái văn chương hiện thực phê phán phát triển đến đỉnh cao
vì không khí chính trị xã hội đã thoáng hơn, chế độ kiểm duyệt của thực dân Phápkhông còn gắt gao như trước, đồng thời còn có tiếng nói của Đảng Nội dung văn họcgiai đoạn này là vạch trần mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị Nhữngcái xấu xa, bề đen của xã hội được vạch trần một cách chân thật Đồng thời thể hiệnkhá thành công các nhân vật thuộc tầng lớp nhân dân lao động Nhiều tác phẩm đã đưahình tượng người nông dân với tư cách là nhân vật chính vào trong tác phẩm: tiểu
Trang 18thuyết T T Tắ ắ ắtttt đè đè đèn n n (Ngô Tất Tố), tiểu thuyết B B Bỉỉỉỉ vvvvỏ ỏ ỏ (Nguyên Hồng), tiểu thuyết L L Lầ ầ ầm m m than than
(Lan Khai)…Họ là những con người có phẩm chất cao quý, là người mẹ, người vợ
dũng cảm, kiên cường, tiêu biểu như nhân vật chị Dậu trong T T Tắ ắ ắtttt đè đè đèn n n của Ngô Tất Tố,
nhân vật người mẹ Trung Quốc trong Ng Ng Ngườ ườ ườiiii đà đà đàn n n b b bà à à T T Tà à àu u u của Nguyên Hồng Đó là
những nét mới cho văn học thời kì này Bên cạnh đó có thể kể đến những tác phẩm
khác như tiểu thuyết Gi Gi Giô ô ông ng ng ttttố ố ố,,,, S S Số ố ố đỏ đỏ đỏ của Vũ Trọng Phụng, phóng sự C C Cơ ơ ơm m m th th thầ ầ ầyyyy ccccơ ơ ơm m ccccô ô ô và L L Lụ ụ ụcccc x x xìììì của Ngô Tất Tố, thiên tự truyện Nh Nh Nhữ ữ ững ng ng ng ng ngà à àyyyy th th thơ ơ ơ ấ ấ ấu u u của Nguyên Hồng,
kịch bản Kim Kim Kim ti ti tiềềềền n n và Ô Ô Ông ng ng k k kíííí ccccó ó óp p p của Vi Huyền Đắc.
Còn lưu phái văn chương cách mạng vô sản thì phát triển hơn so với thời kì đầu.Hàng loạt nhà thơ cách mạng trẻ tuổi, xuất thân từ tầng lớp thanh niên trí thức tiến bộthể hiện sự giác ngộ lí tưởng cách mạng Phong trào “thơ bình dân” phát triển mạnh
mẽ trên các báo chí cách mạng Tố Hữu xuất hiện đánh dấu bước tiến mới cho thơ cacách mạng nói riêng và thơ ca dân tộc nói chung Có thể nói ở giai đoạn này cả thơ,văn tự sự, và văn chính luận đều đổi mới theo hướng hiện đại hóa Tác phẩm tiêu biểu
như phóng sự Ng Ng Ngụ ụ ụcccc KomTum KomTum KomTum của Lê Văn Hiến, văn lí luận phê phán của Hải Triều.
Giai đoạn 1940 - 1945, đây là giai đoạn rơi vào khủng hoảng đến đỉnh điểm đốivới lưu phái văn chương lãng mạn Đây là thời kì xuống dốc của Tự lực văn đoàn với
một số tác phẩm như B B Bướ ướ ướm m m tr tr trắ ắ ắng ng ng (Nhất Linh), Thanh Thanh Thanh Đứ Đứ Đứcccc (Khái Hưng), sau đó, Nhất
Linh chuyển sang hoạt động chính trị cho Nhật, ngay cả Khái Hưng và Nguyễn TườngLong, Nguyễn Tường Bách cũng viết báo để tuyên truyền cho chính phủ bù nhìn củaTrần Trọng Kim mà đứng đằng sau là quân Nhật và còn cho đăng báo truyện dài
Xi Xiềềềềng ng ng x x xíííích ch ch để ca ngợi bọn phản cách mạng Sau cách mạng tháng Tám năm 1945,
Khái Hưng chuyển sang hoạt động trong tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng, sáng táchàng loạt truyện và kịch ngắn, tiểu luận với nội dung xuyên tạc những người làm cộngsản, chống lại cách mạng trên tuần báoChính nghĩa, báo hằng ngày Việt Nam Lúc này
Thơ mới thật sự rơi vào tình trạng hỗn loạn Thơ điên, thơ say, thơ loạn ngày càngphát triển mạnh, trong bối cảnh đó mỗi nhà thơ lại tìm cho mình một con đường thoát
li cuộc sống Tiêu biểu như con đường thoát li trốn vào trụy lạc, thế giới siêu hình của
Vũ Hoàng Chương, khuynh hướng đi vào siêu thoát thần bí của Chế Lan Viên, cáiđiên loạn của Hàn Mặc Tử…
Trang 19Đối với lưu phái văn chương hiện thực phê phán: không còn phát triển như giaiđoạn 1936 - 1939 Nguyên nhân là do một số nhà văn tên tuổi thuộc thế hệ nhà vănhiện thực giai đoạn trước đó, người thì qua đời (Vũ Trọng Phụng), người thì bế tắc
không sáng tác nữa (Ngô Tất Tố), người thì tha hóa (tiểu thuyết Thanh Thanh Thanh Đạ Đạ Đạm m m của
Nguyễn Công Hoan) Nhưng bù lại cho những mất mác đó chính là sự ra đời của thế
hệ nhà văn hiện thực mới như Nam Cao, Tô Hoài, Nguyễn Đình Lạp, Mạnh Phú Tư,Bùi Hiển… do bút lực còn non trẻ nên những sáng tác của họ chỉ thu hẹp trong đề tàilấy từ đời sống tiểu tư sản quẩn quanh bế tắc, những phong tục nông thôn, cuộc sống
dân nghèo…Một số tác phẩm tiêu biểu có thể kể đến như Ch Ch Chíííí Ph Ph Phèèèèo o o (Nam Cao), tiểu
thuyết S S Số ố ống ng ng m m mò ò òn n n (Nam Cao), D D Dếếếế M M Mèèèèn n n phi phi phiêêêêu u u llllư ư ưu u u k k kíííí,,,, Qu Qu Quêêêê ng ng ngườ ườ ườiiii (Tô Hoài), Nh Nh Nhạ ạ ạtttt ttttìììình, nh,
S Số ố ống ng ng nh nh nhờ ờ ờ (Mạnh Phú Tư), Ngo Ngo Ngoạ ạ ạiiii ô ô ô,,,, Ng Ng Ngõ õ õ h h hẻẻẻẻm m m (Nguyễn Đình Lạp), tập truyện ngắn
N Nằ ằ ằm m m vvvvạ ạ ạ (Bùi Hiển) đó là những tín hiệu đáng mừng cho lưu phái văn chương hiện
thực phê phán
Ở giai đoạn này, lưu phái văn chương cách mạng vô sản mặc dù rút vào hoạtđộng bí mật nhưng vẫn phát triển mạnh Thơ ca trong tù hòa với thơ ca mặt trận vănminh trên tinh thần cứu nước, tinh thần lạc quan, hi vọng một tương lai tươi sáng rực
rỡ cho dân tộc ta Lúc này, bên cạnh sự phát triển nhanh chóng của thơ cách mạng Tố
Hữu thì bên kia biên giới tập thơ Nh Nh Nhậ ậ ậtttt k k kíííí trong trong trong ttttù ù ù của chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra đời,
đóng góp to lớn cho thơ ca cách mạng Việt Nam Ngoài ra còn có những tác phẩm củacác tác giả khác như Sóng Hồng, Hồng Quang, Trần Minh Đức, Hồng Chương, vănchính luận của Trường Chinh
Phong trào Thơ mới ra đời và phát triển là một sự kiện nổi bật của thơ ca ViệtNam giai đoạn 1930 - 1945 trên con đường hiện đại hóa Chỉ trong vòng mười lămnăm ngắn ngủi phong trào Thơ Mới đã tạo nên một đội ngũ sáng tác khá hùng hậu,mỗi nhà thơ với phong cách nghệ thuật riêng mang đến cho thơ ca Việt Nam nhiều tácphẩm có giá trị cả về số lượng lẫn chất lượng Từ khi ra đời cho đến nay, phong tràoThơ mới đã trải qua những bước thăng trầm do sự thay đổi thị hiếu thẩm mĩ của nhữngtầng lớp khác nhau trong xã hội Tuy trải qua nhiều khó khăn nhưng sự kiện phongtrào Thơ mới ra đời tạo cho thơ Việt Nam một diện mạo mới, bước ngoặt quan trọng
mở ra kỉ nguyên mới và nâng tầm thơ ca Việt Nam lên ngang tầm với nền thi ca hiệnđại thế giới
Trang 201.3 1.3 T T Tá á ácccc gi gi giả ả ả Nguy Nguy Nguyễễễễn n n B B Bíííính nh
1.3.1 1.3.1 Cu Cu Cuộ ộ ộcccc đờ đờ đờiiii
Nguyễn Bính tên thật là Nguyễn Trọng Bính, sinh năm 1918 tại xóm Trạm, thônThiện Vịnh, xã Đồng Nội, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định trong một gia đình nhà nhonghèo
Nguyễn Bính biết chữ Nho vì ông được cha dạy từ nhỏ Ông trở về quê ngoại ởthôn Vân sinh sống do cuộc sống gia đình ông khó khăn Vì từ nhỏ được tiếp xúc vớivăn chương nên chỉ mới mười ba tuổi Nguyễn Bính đã sáng tác được thơ Hơn nữa,chính những lời hát ru của mẹ mà chất dân dã đã thấm sâu vào hồn thơ Nguyễn Bính.Giai đoạn năm 1937 - 1942 là giai đoạn đánh dấu bước ngoặt lớn lao nhất trong
sự nghiệp thơ ca của Nguyễn Bính trước cách mạng tháng Tám Chỉ trong khoảng thờigian ấy Nguyễn Bính đã đi nhiều nơi, ở mỗi nơi để lại trong ông những cảm xúc khácnhau Đây là thời gian ông sáng tác nhiều nhất những bài thơ hay, bộc lộ rõ nhất cảmhứng sáng tác của ông về cảnh vật và con người Việt Nam
Năm 1937, bài thơ C C Cô ô ô h h há á áiiii m m mơ ơ ơ xuất hiện trên thi đàn và được dư luận chú ý Thời
điểm này, bút danh Nguyễn Bính đã có tên trong danh sách nhà thơ Việt Nam Nhữngtác phẩm của ông góp phần làm phong phú thêm kho tàng thơ ca của phong trào Thơmới nói riêng và nền thơ ca của dân tộc nói chung
Sau cách mạng tháng Tám, cảm hứng sáng tác của Nguyễn Bính có phần thay đổi.Những sáng tác của Nguyễn Bính luôn là nguồn động viên tinh thần quý báu cho đôngbào, các chiến sĩ cách mạng Thơ ông phản ánh được những vấn đề thời sự, tình hìnhchính trị của cách mạng nước ta lúc bấy giờ
Nguyễn Bính hoạt động ở Nam Bộ suốt khoảng thời gian kháng chiến chốngPháp Ông hoạt động rất tích cực, tham gia mọi công tác cách mạng Bằng tấm lòngcủa một người con yêu quê hương tha thiết, Nguyễn Bính sáng tác thơ không chỉ để cangợi quê hương đất nước Việt Nam mà ông còn sáng tác thơ để phục vụ cách mạng, cổ
vũ tinh thần chiến đấu cho quân đội, nhân dân
Năm 1946 - 1947, ông được giao phụ trách Hội văn nghệ cứu quốc tỉnh Rạch Giá
Với T T Tậ ậ ập p p th th thơ ơ ơ yyyyêêêêu u u n n nướ ướ ướcccc gồm khoảng 10 bài thơ, là những bài thơ kêu gọi tinh thần
chiến đấu vì tổ quốc của Nguyễn Bính Tập thơ ra đời đánh dấu mốc quan trọng trong
sự nghiệp văn chương của ông với vai trò là một nhà văn - chiến sĩ
Trang 21Năm 1948 - 1951, Nguyễn Bính công tác tại liên khu Miền Tây, và không ngừngsáng tác những tác phẩm phục vụ kháng chiến, phục vụ cách mạng Giai đoạn này, ôngvừa làm nhiệm vụ chính trị vừa sáng tác thơ ca cách mạng.
Năm 1952, ông về U Minh sinh sống và sau đó kết hôn với cô Hồng Châu và sinhđược hai cô con gái Hồng Cầu và Hương Mai
Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, ra đi mang theo nỗi nhớ vợ con, nhớ miền Namthân yêu Nỗi nhớ ấy cứ âm ĩ, không nguôi trong lòng nhà thơ Nguyễn Bính Saukhoảng thời gian tập kết ra Bắc ông trở về công tác tại Hội nhà văn Việt Nam
Vừa đánh bại được quân Pháp ra khỏi nước ta thì ngay sau đó giặc Mỹ lại tấncông vào nước ta Đến lúc này, ông theo cơ quan sơ tán về huyện Lý Nhân, sống tại đó
và tiếp tục sự nghiệp thơ ca của mình
Ngày 20 tháng 01 năm 1966, Nguyễn Bính qua đời để lại sự nghiệp thơ ca đồ sộcho nền văn học Việt Nam Dù ông đã mất nhưng những áng thơ ca của ông thì luônđược thế hệ trẻ gìn giữ, dù ở bất cứ nơi đâu ta vẫn thường nghe những bài thơ của ôngđược người đời ngâm nga, hát xướng
Năm 2000, Nguyễn Bính đã được nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh
về văn học và nghệ thuật
1.3.2 1.3.2 S S Sự ự ự nghi nghi nghiệệệệp p p ssssá á áng ng ng ttttá á ácccc
Thơ Nguyễn Bính tập trung chủ yếu vào thời kỳ trước cách mạng tháng Tám.Trước cách mạng, trong khi các nhà thơ mới chịu ảnh hưởng từ văn thơ phương Tâythì riêng Nguyễn Bính vẫn một lòng trung thành với lối ví von mộc mạc của ca dao,thể thơ lục bát truyền thống của dân tộc Vì thế không lạ gì khi thơ Nguyễn Bính đượccông chúng độc giả đón nhận nồng nhiệt Hình ảnh quen thuộc như con thuyền, bếnnước, giàn trầu, hàng cau, vườn dâu, giậu mồng tơi, cô hàng xóm, cô lái đò, người chị
“lỡ bước sang ngang”… xuất hiện khá nhiều trong thơ Nguyễn Bính.
Thời kì trước cách mạng tháng Tám thơ Nguyễn Bính chủ yếu viết về đề tài cảnhquê, người quê, những số phận tình yêu, tâm trạng tha hương… với nội dung ca ngợithiên nhiên tươi đẹp, đầy màu sắc, con người quê với những phẩm chất tốt đẹp, haynhững sắc thái cung bậc trong tình yêu đôi lứa, tâm trạng khắc khoải của chính nhà thơkhi xa quê Tất cả tạo cho hồn thơ Nguyễn Bính một sức sống bền chặt trong lòng độcgiả yêu thích thơ ông
Trang 22Sau cách mạng tháng Tám, thơ Nguyễn Bính có một bước đột phá khá ngoạnmục bám sát vấn đề thời sự, tình hình chính trị nước ta Nhưng không vì thế mà thơNguyễn Bính lại trở nên khô khan, cứng nhắc vì ông sáng tác với bút pháp quen thuộcvới lối văn chương truyền thống của dân tộc Hơn nữa, đề tài trong thơ của NguyễnBính giai đoạn này được mở rộng trên nhiều lĩnh vực khác nhau như cuộc sống thànhthị, nông thôn, kháng chiến, hay đấu tranh thống nhất nước nhà.
Có thể nói, đa số thơ Nguyễn Bính sau cách mạng tháng Tám chủ yếu là thơ cacách mạng phục vụ kháng chiến với cảm hứng ca ngợi cách mạng, tinh thần hi sinhcho tổ quốc không ngại gian khổ của đồng bào cả nước
Năm 1955, Nguyễn Bính sáng tác liên tiếp 3 tập thơ Đồ Đồ Đồng ng ng Th Th Thá á áp p p M M Mườ ườ ườiiii, Tr Tr Trả ả ả ta ta ta vvvvềềềề,
G Gử ử ửiiii ng ng ngườ ườ ườiiii vvvvợ ợ ợ ở ở ở mi mi miềềềền n n Nam Nam Nam … Đó là những hoài niệm về mảnh đất đã gắn bó với ông,
một thời tuổi trẻ đầy nhiệt huyết
Những sáng tác của Nguyễn Bính ở cả giai đoạn trước và sau cách mạng thángTám đều đạt được thành công rực rỡ, một điều đáng tự hào cho phong tào Thơ mới nóiriêng và cho văn học Việt Nam giai đoạn bước vào thời kì hiện đại hóa nói chung.Một số tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Bính ở cả hai giai đoạn sáng tác trước vàsau năm 1945:
th
Tập thơ L L Lỡ ỡ ỡ b b bướ ướ ướcccc sang sang sang ngang ngang
Tập thơ T T Tâ â âm m m h h hồ ồ ồn n n ttttô ô ôiiii
Ng Ngậ ậ ậm m m mi mi miệệệệng ng ng (Truyện)
Tập thơ M M Mộ ộ ộtttt ngh ngh nghììììn n n ccccử ử ửa a a ssssổ ổ
Tập thơ H H Hươ ươ ương ng ng ccccố ố ố nh nh nhâ â ân n
Tập thơ Ng Ng Ngườ ườ ườiiii con con con g g gá á áiiii ở ở ở llllầ ầ ầu u u hoa hoa
Tập thơ M M Mườ ườ ườiiii hai hai hai b b bếếếến n n n n nướ ướ ướcccc
Tập thơ M M Mâ â âyyyy ttttầ ầ ần n
B Bó ó óng ng ng giai giai giai nh nh nhâ â ân n n ( Kịch thơ)
Kh Khô ô ông ng ng nhan nhan nhan ssssắ ắ ắcccc ( Truyện)
C Cô ô ô g g gá á áiiii Ba Ba Ba T T Tư ư ư (Truyện thơ) Nguy Nguyễễễễn n n Tr Tr Trã ã ãiiii (Kịch thơ)
194019401940194119411942194219421942194219431943
Trang 23Th Thạ ạ ạch ch ch x x xươ ươ ương ng ng b b bồ ồ ồ (Truyện) Kh
Khô ô ông ng ng đấ đấ đấtttt ccccắ ắ ắm m m d d dù ù ùiiii (Truyện)
19441944
Tập thơ Ô Ô Ông ng ng llllã ã ão o o m m mà à àiiii g g gươ ươ ươm m
Tập thơ T T Tậ ậ ập p p th th thơ ơ ơ Y Y Yêêêêu u u n n nướ ướ ướcccc Sang Sang m m má á áu u u (truyện)
Tập thơ Tr Tr Tră ă ăng ng ng kia kia kia đã đã đã đứ đứ đứng ng ngang
G Gử ử ửiiii ng ng ngườ ườ ườiiii vvvvợ ợ ợ ở ở ở mi mi miềềềền n n Nam Nam
Đồ Đồng ng ng Th Th Thá á áp p p M M Mườ ườ ườiiii
Tr Trô ô ông ng ng b b bó ó óng ng ng ccccờ ờ ờ bay bay bay ( Truyện thơ)
Tập thơ N N Nướ ướ ướcccc gi gi giếếếếng ng ng th th thơ ơ ơiiii
Ti Tiếếếếng ng ng tr tr trố ố ống ng ng đê đê đêm m m xu xu xuâ â ân n n (Truyện
thơ)
C Cô ô ô Son Son Son (Chèo)
Đê Đêm m m sao sao sao ssssá á áng ng Ng
Ngườ ườ ườiiii llllá á áiiii đò đò đò ssssô ô ông ng ng V V Vịịịị ( Chèo)
Tập thơ T T Tìììình nh nh ngh ngh nghĩĩĩĩa a a đô đô đôiiii ta ta
19471947194719471953
195319531955
195519551955195719571958
1961196219641968
Trang 241.4 1.4 V V Vấ ấ ấn n n đề đề đề th th thếếếế gi gi giớ ớ ớiiii ngh ngh nghệệệệ thu thu thuậ ậ ậtttt trong trong trong ttttá á ácccc ph ph phẩ ẩ ẩm m m v v vă ă ăn n n h h họ ọ ọcccc
1.4.1 1.4.1 Kh Kh Khá á áiiii ni ni niệệệệm m m th th thếếếế gi gi giớ ớ ớiiii ngh ngh nghệệệệ thu thu thuậ ậ ậtttt
Trong quyển Từ điển văn học do Đỗ Đức Hiểu chủ biên (Nxb Thế giới TP Hồ
Chí Minh), các tác giả đã định nghĩa thế giới nghệ thuật trong văn học như sau: “Thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật (tác phẩm, sáng tác của một tác giả, trào lưu) … Thế giới này là một mô hình có cấu trúc riêng, quy luật riêng, thể hiện ở đặc điểm con người, tâm lí, không gian, thời gian, đồ vật…gắn liền với một quan niệm nhất định về chúng của tác giả.” [9; tr.1660] Như
vậy, mỗi nhà văn, nhà thơ đều có một thế giới nghệ thuật riêng tạo ra phong cách riêng
và đó còn là thước đo tài năng sáng tạo cho họ
Thế giới nghệ thuật thể hiện ở một số phương diện như nhân vật, đề tài, hình ảnh,ngôn ngữ
Đề tài là phạm vi hiện thực tạo nên cơ sở chất liệu đời sống cho tác phẩm, cơ sởxác định chủ đề của tác phẩm Việc xác định đề tài cho phép liên hệ tác phẩm vớimảng hiện thực của đối tượng nhưng không nên đồng nhất đề tài với đối tượng miêu tả
“Đề tài của tác phẩm là một phương diện nội dung tác phẩm là đối tượng đã được nhận thức, kết quả lựa chọn của nhà văn Đó là sự khái quát về phạm vi xã hội, lịch sử của đời sống được phản ánh trong tác phẩm… Con đường nhận thức đề tài tác phẩm
là đi từ nội dung trực tiếp của tác phẩm, xác định những đường nét xã hội lịch sử của
nó Mỗi nhân vật của tác phẩm đều có thể tiêu biểu cho một tầng lớp xã hội, mang tính
cách xã hội, hoạt động trong một lĩnh vực đời sống” [12; tr.260] Trong tác phẩm T T Tắ ắ ắtttt
đè đèn n n của Ngô Tất Tố, ngoài đề tài về số phận bi thảm của người nông dân trước cách
mạng, nạn nhân của chính sách vơ vét tàn bạo của bọn thực dân thuộc địa, còn có các
đề tài khác như bộ máy cai trị chuyên áp bức bóc lột nông dân, phẩm chất người phụ
nữ, tình mẹ con Trong Truy Truy Truyệệệện n n Ki Ki Kiềềềều u u của Nguyễn Du, ngoài đề tài cuộc đời bất hạnh,
gian truân của người phụ nữ, còn có các đề tài: tình yêu đôi lứa, người anh hùng, quanniệm nhân quả… Tất cả tạo nên một hệ thống đề tài liên quan nhau tạo thành hệ thống
đề tài của tác phẩm
Theo khái niệm thế giới nghệ thuật, hình tượng nhân vật trong văn chương nóichung mang một ý nghĩa đặc thù không giống với ý nghĩa của hình tượng, chi tiếttương ứng ngoài đời thực Hình ảnh bến đò, con thuyền, mặt trời… trong văn chương
Trang 25giai đoạn lịch sử văn học có một hình thái ý thức xã hội khác nhau Nhân vật cũng thế,mỗi nhân vật trong tác phẩm của một giai đoạn văn học tượng trưng cho một ý nghĩanhất định và những hình tượng ấy mang ý nghĩa như thế nào, điều này phụ thuộc vàochủ thể sáng tác của tác phẩm Ngày nay, nhiều người cho rằng tại sao cô Tấm trong
truyện cổ tích T T Tấ ấ ấm m m C C Cá á ám m m lại hiền lành đến mức ngây thơ?, bị mẹ con cô Cám lừa gạt
bao nhiêu lần cũng không hay biết, cứ vâng lời làm theo Một số truyện cổ tích khác
cũng có môtíp giống như vậy như truyện Th Th Thạ ạ ạch ch ch Sanh, Sanh, Sanh, C C Câ â âyyyy kh kh khếếếế,,,, Ho Ho Hoà à àng ng ng ttttử ử ử ccccứ ứ ứu u u m m mẹẹẹẹ,,,,
S Sự ự ự ttttíííích ch ch con con con kh kh khỉỉỉỉ… Những nhân vật hiền lành như cô Tấm, anh chàng Thạch Sanh,
hoàng hậu Ngọc Lan, cô Mận…đều bị những kẻ xấu xa lừa gạt, hãm hại Trong xã hộingày nay, những ai tính tình hiền lành, ngây thơ như Tấm chắc có lẽ sẽ bị nhiều ngườicho là ngốc, quá ngây thơ nhưng đối với thế giới trong truyện cổ tích thì nhân vật Tấmhành động và cư xử như vậy thì không có gì là sai cả Nó đúng với quan niệm nhânsinh của dân gian của một truyện cổ tích Người hiền sẽ gặp lành, kẻ ác bị trừng phạt.Bởi thế giới của truyện cổ tích chú ý nhiều đến việc giáo dục đạo đức con người hơn làchú ý đén tính cách hay hành động của nhân vật Kết thúc câu truyện, nhân vật tốtbụng, hiền hậu như cô Tấm, anh chàng Thạch Sanh đều có được hạnh phúc trọn vẹn.Còn những kẻ xấu xa, gian ác như cô Cám, Lí Thông đều bị trừng phạt thích đáng.Như vậy, thế giới truyện cổ tích là thế giới của sự đấu tranh giữa thiện và ác Đó làmột cuộc đấu tranh lâu dài và triệt để để cuối cùng những con người lương thiện sẽđược đền bù bằng sự vinh hoa, cuộc sống hạnh phúc mãi về sau
Còn đối với ngôn từ trong thế giới nghệ thuật, ngôn từ trong tác phẩm văn họcmang tính tạo hình - biểu cảm, tính biểu trưng - đa nghĩa Mỗi ngành nghệ thuật khácnhau sử dụng chất liệu khác nhau Trong điêu khắc, hình ảnh được tạo ra bằng gỗ, đá,kim loại… Trong âm nhạc, hình ảnh được tạo ra bằng âm thanh Trong hội họa, hìnhảnh được tạo ra bằng màu sắc Trong văn học, hình ảnh được tạo ra bằng ngôn từ nghệthuật Chẳng hạn, Nguyễn Du miêu tả vẻ đẹp của Thúy Kiều bằng việc sử dụng thànhcông ngôn từ nghệ thuật mang tính tạo hình - biểu cảm, ông đã giúp cho người đọc cóthể tưởng tượng, cảm nhận được vẻ đẹp của nàng Kiều Nàng đẹp đến nỗi làm cho hoaphải ghen, liễu phải hờn chỉ qua hai dòng thơ lục bát:
“Làn thu thủy nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”
(Truy (Truyệệệện n n Ki Ki Kiềềềều) u)
Trang 26Hai câu thơ trên trong Truy Truy Truyệệệện n n Ki Ki Kiềềềều u u giúp cho chúng ta hình dung và hiểu được
tính tạo hình – biểu cảm của ngôn từ nghệ thuật là như thế nào Để thấy được tính biểutrưng – đa nghĩa của ngôn từ nghệ thuật được thể hiện như thế nào trong văn chương,
chúng tôi đã khảo sát một số từ ngữ trong bài thơ Tr Tr Trà à àng ng ng giang giang giang của Huy Cận:
“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâ Đâu u u tiếng làng xa vãn chợ chiều”
Khi đọc hai câu thơ trên chúng ta có thể hiểu từ “đâu” theo hai nghĩa khác nhau.
Hiểu theo nghĩa khẳng định, từ “đâu” chính là ở đâu đó, hay nghĩa phủ định, từ “đâu”
chính là không hề có
“Bèo dạt về đâu hàng nối hàng Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không ccccầ ầ ầu u u gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”
Từ “cầu” trong hai câu thơ trên cũng có thể hiểu theo hai nghĩa đó là chiếc cầu
dùng để bắc qua sông hay đó là sợi dây liên kết tình người trong tâm hồn của nhân vậttrữ tình
Như vậy, thế giới nghệ thuật của mỗi nhà văn, nhà thơ là khác nhau, nó tạo raphong cách sáng tác riêng cho họ Và họ có thể thỏa sức sáng tạo trong thế giới nghệthuật của mình
1.4.2 1.4.2 Kh Kh Khá á áiiii qu qu quá á átttt v v vềềềề th th thếếếế gi gi giớ ớ ớiiii ngh ngh nghệệệệ thu thu thuậ ậ ậtttt trong trong trong th th thơ ơ ơ Nguy Nguy Nguyễễễễn n n B B Bíííính nh
Cũng giống như những nhà văn, nhà thơ khác, Nguyễn Bính bằng tài năng củamình đã tạo được một thế giới nghệ thuật mang phong cách riêng khi sáng tác thơ ca.Thơ Nguyễn Bính mang đến cái hương vị của một làng quê Việt Nam tươi đẹp, thốngnhất và thân thương, cái hương đồng gió nội, cái không khí quen thuộc trong ca dao.Thiên nhiên trong thơ ông mang vẻ đẹp giản dị, phẩm chất văn hóa truyền thốngcủa dân tộc Khung cảnh làng quê qua cái nhìn của nhà thơ lại càng đẹp, đầy sức sốnghơn Hình ảnh thôn Đoài, thôn Đông, mái nhà gianh, giậu mồng tơi, hàng cau, vườndâu…gợi lên cuộc sống dân dã của nhân dân lao động Những hình ảnh ấy tuy đơn sơnhưng đi vào thơ Nguyễn Bính lại là những hình ảnh rất đắc, rất đáng quý, góp phầngiữ lại cái hồn xưa của dân tộc, cái đang bị cuộc sống thành thị mai một dần Bên cạnh
Trang 27quê… chính là nguồn chất liệu phong phú cho thơ ông Những dòng thơ đậm chất dângian kiểu “chân quê” của Nguyễn Bính như có “ma lực” làm rung động hàng triệu tâmhồn người Việt Nam “Thơ Nguyễn Bính không có cái hào hoa lãng tử của Thế Lữ, cái bay bổng háo hức của Xuân Diệu, cái vẻ kì bí của Chế Lan Viên, cái điên rồ, vật vã của Hàn Mặc Tử Thơ Nguyễn Bính chỉ mang nặng mối tình đằm thắm với xứ quê, người quê và chứa chất muôn vàn tâm sự của một đời nghệ sĩ lang bạt kì hồ đầy khổ đau, đắng cay và thất vọng” [19; tr.3].
Con người thôn quê trong thơ ông với tính cách chất phác, thật thà, hay giúp đỡnhau những khi tối lửa tắt đèn hiện lên chân thực, sinh động Hình ảnh cô gái quê, côlái đò, cô hái dâu…xuất hiện với vẻ đẹp dịu dàng, thùy mị, chịu thương chịu khó điểnhình cho tính cách người phụ nữ Việt Nam Họ vẫn giữ được nét đẹp truyền thống quýbáu của dân tộc ta Hình ảnh người mẹ, người vợ tần tảo vất vả, chịu bao khó nhọc, hisinh vì chồng vì con được ông diễn tả rất xúc động Bao nỗi vất vả, khó nhọc của họkhiến người đọc không khỏi chạnh lòng mỗi khi đọc thơ ông Bên cạnh đó, vấn đề tìnhyêu đôi lứa cũng được Nguyễn Bính khai thác và sáng tác thành thơ Dường như mọicung bậc trong tình yêu như gặp gỡ, tương tư, tỏ tình, yêu nhau, ghen tuông hay lừadối, phụ tình đều được thi nhân chuyển tải thành những câu thơ mang đầy tâm trạngcủa nhân vân vật trữ tình Tâm trạng của “Cô gái quê thắc thỏm mong đợi tình yêu, một chàng trai thất tình chỉ vì nghèo, một anh học trò mơ đỗ trạng, một mối tình đầy thơ mộng nhưng lại lỡ làng” [19; tr.3] được lột tả rất chân thực trong thơ Nguyễn Bính.
Những mối tình quê trong thơ Nguyễn Bính vẫn còn giữ được cái vẻ e ấp, ngại ngùngcủa cái thuở ban đầu yêu nhau và tình yêu ấy luôn cháy bỏng một niềm khao khát vềtình yêu chân thành, trọn vẹn nhưng vẫn còn đâu đó bao mối tình tan vỡ, lỡ làng vìnhiều nguyên nhân khác nhau
Như vậy, thế giới nghệ thuật cho ta cái nhìn khá toàn diện về quan niệm sáng táccủa mỗi nhà văn, nhà thơ Trong thế giới ấy, chủ thể sáng tạo nghệ thuật có thể sángtác ra những tác phẩm mang nét thẩm mĩ và phong cách riêng Thế giới nghệ thuậtgiúp ta hình dung về tư duy nghệ thuật cũng như cá tính sáng tạo của nghệ sĩ
Trang 28CH CHƯƠ ƯƠ ƯƠNG NG NG 2 2
NH NHỮ Ữ ỮNG NG NG N N NÉ É ÉT T T N N NỔ Ổ ỔIIII B B BẬ Ậ ẬT T T C C CỦ Ủ ỦA A A TH TH THẾ Ế Ế GI GI GIỚ Ớ ỚIIII NGH NGH NGHỆ Ệ Ệ THU THU THUẬ Ậ ẬT T
TRONG TRONG TH TH THƠ Ơ Ơ NGUY NGUY NGUYỄ Ễ ỄN N N B B BÍÍÍÍNH NH
2.1 2.1 L L Là à àng ng ng qu qu quêêêê Vi Vi Việệệệtttt Nam Nam Nam trong trong trong th th thơ ơ ơ Nguy Nguy Nguyễễễễn n n B B Bíííính nh
2.1.1 2.1.1 Khung Khung Khung ccccả ả ảnh nh nh n n nô ô ông ng ng th th thô ô ôn n n trong trong trong th th thơ ơ ơ Nguy Nguy Nguyễễễễn n n B B Bíííính nh
Trong cảm hứng sáng tác của các nhà thơ thì hình ảnh quê hương đã trở thànhnguồn cảm hứng nghệ thuật chủ đạo trong các tác phẩm của họ Những nhà thơ tiêu
biểu của phong trào Thơ mới đều có thơ hay viết về làng quê như bài Đâ Đâ Đâyyyy th th thô ô ôn n n V V Vĩĩĩĩ D D Dạ ạ
của Hàn Mặc Tử, Qu Qu Quêêêê h h hươ ươ ương ng ng của Tế Hanh, Tr Tr Trư ư ưa a a h h hèèèè của Anh Thơ và còn nhiều những
bài thơ của các tác giả khác như Bàng Bá Lân, Đoàn Văn Cừ Trong đó, Nguyễn Bínhnổi lên như một cây bút gạo cội, tiêu biểu hơn cả Cảnh vật và con người trong thơ ôngthấm đượm cái hồn quê của dân tộc Quê hương nơi sinh ra và nuôi lớn tâm hồn chúng
ta, dù có ở nơi đâu thì mỗi chúng ta đều nhớ về quê hương, đều dành một tình cảm đặcbiệt nhất cho mảnh đất ấy Hà Minh Đức đã viết: “Thơ Nguyễn Bính ẩn chứa đằng sau những câu chữ giản dị mộc mạc theo một câu hát, một làn điệu ca dao, ẩn chứa đằng sau những hình ảnh thân quen, những tình ý mộc mạc chân quê, cái hồn quê như có tự muôn đời.” [1; tr.115] Những vần thơ của Nguyễn Bính mang nét đẹp bình dị, mộc
mạc của thôn quê Việt Nam Đó còn là niềm mong ước về một cuộc sống thanh bình,
ấm no, hạnh phúc của người nông dân khi cuộc sống cơ cực hiện tại cứ bám riết lấy họ,những con người ấy sống với nhau bằng cái tình cái nghĩa, luôn có ý thức giúp đỡ lẫnnhau những khi khó khăn, thiếu thốn Tất cả những điều đó đi vào trong thơ NguyễnBính một cách thật tự nhiên, gần gũi đúng như bản chất vốn có của nó tạo nên nhữngvần thơ rất chân thực, rất chân quê khiến chúng ta khi đọc thơ ông đều phải thán phụckhen ngợi tài năng của nhà thơ Nguyễn Bính
Thiên nhiên làng quê được thể hiện rất rõ nét trong những bài thơ viết về mùaxuân của Nguyễn Bính Mùa xuân được thi nhân nhắc đến nhiều nhất trong thơ Có lẽmùa xuân là mùa của yêu thương của sức sống mới, ông cho rằng “mùa xuân là cả một mùa xanh” cho nên hình ảnh mùa xuân được tác giả chú ý đến.
Trang 29Bài thơ Chi Chi Chiềềềều u u xu xu xuâ â ân n n của Anh Thơ đã vẽ nên bức tranh quê với cảnh sắc rất đời
thường nhưng lại gợi được không khí xuân qua hàng loạt những hình ảnh của quêhương xóm làng trên bến vắng:
“Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng,
Đò biếng lười nằm mặc nước song trôi, Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng, Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời”
(Chi (Chiềềềều u u xu xu xuâ â ân) n)
Bên cạnh đó, bài thơ M M Mù ù ùa a a xu xu xuâ â ân n n ch ch chíííín n n của thi sĩ Hàn Mặc Tử cũng gợi được
không khí và vẻ đẹp của thiên nhiên khi đất trời vào mùa xuân:
“Trong làn nắng ửng: khói mơ tan, Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng Sột soạt gió trêu tà áo biếc Trên giàn thiên lí Bóng xuân sang”
(M (Mù ù ùa a a xu xu xuâ â ân n n ch ch chíííín) n)
Có thể thấy rằng, đối với Anh Thơ hay Hàn Mặc Tử, dù họ đã cố gắng để trải hồncùng những chuyển biến của thiên nhiên khi đất trời đang độ sang xuân nhưng mùaxuân ấy vẫn buồn man mác được nhìn qua một màn sương của hồn thơ tác giả Nhưngthơ xuân của Nguyễn Bính lại mang một dáng vẻ riêng, ông yêu xuân tha thiết đến nỗiphải thốt lên:
“Xuân sang xao xuyến lòng tôi quá!”
(Sao (Sao ch ch chẳ ẳ ẳng ng ng vvvvềềềề đâ đâ đây) y)
Mùa xuân trong thơ Nguyễn Bính vẫn còn giữ được “cái hồn xưa của đất nước”,gắn với cuộc sống bình dị, dân dã của người dân nơi đồng quê Cảnh sắc thiên nhiênvới những gam màu tươi sáng mang về cái không khí nhộn nhịp cho xóm làng Đấttrời vạn vật như được thay một tấm áo mới xinh tươi và đầy sức sống Ta dễ dàng nhậnthấy cái màu xanh biên biếc của nhành lộc non trên cành, những chồi non của hoa lábắt đầu “chuyển mình” như đang háo hức đón đợi ngày được cùng nhau đua nở, khoesắc tô đẹp thêm cho đời Mùa xuân ở quê làm ta nhớ mãi cái hương thơm ngào ngạt,cái màu trắng tinh khôi của hoa bưởi, hoa cam, hay cái màu vàng hoe của nắng xuân
“Lá nõn nhành non, ai tráng bạc Gió về từng trận, gió bay đi
Trang 30Đầy vườn hoa bưởi hoa cam rụng Ngào ngạt hương bay bướm vẽ vòng”
(Xu (Xuâ â ân n n vvvvềềềề))))
Hình ảnh những cánh đồng mạ non rộng lớn xanh mơn mởn gợi lên sự trù phúcủa đất nước với truyền thống trồng lúa nước Vẻ đẹp của mùa xuân còn được thể hiệnqua hình ảnh giậu tầm xuân nở ra xanh biếc cùng với màu vàng của những cánh bướmbay dập dờn bên giậu tầm xuân trước hiên nhà Có thể thấy, không chỉ có con người
mà ngay cả cỏ cây hoa lá cũng rất náo nức đón xuân sang Nét xuân tươi nguyên củangày nào đầu năm đều được ghi nhận lại trong thơ Nguyễn Bính
“Xanh biếc đầu xuân, nương mạ sớm Giậu tầm xuân nở, bướm vàng hoe”
(Tr (Trở ở ở vvvvềềềề qu qu quêêêê ccccũ ũ ũ))))
Không khí nhộn nhịp, vui tươi vào những ngày đông qua xuân đến cũng đã cómặt trong thơ Nguyễn Bính Đôi khi vì nhiều lí do khác nhau chúng ta phải đón tết xaquê, đón năm mới trên đất khách quê người Chính thơ xuân của Nguyễn Bính đã làmsống dậy bao cảm xúc, niềm khao khát được trở về quê nhà để được tận hưởng khôngkhí xuân, trẩy hội xuân:
“Tháng giêng vừa tết đầu xuân Xanh um lá mạ, trắng ngần hoa cam”
(T (Tỳỳỳỳ b b bà à à truy truy truyệệệện) n)
Hay:
“Xuân này vui tết lại vui quê Lại chuyện làm ăn, chuyện hội hè”
(Tr (Trở ở ở vvvvềềềề qu qu quêêêê ccccũ ũ ũ))))
Đọc những câu thơ trên không khỏi gợi trong lòng chúng ta một nỗi bâng khuâng,
da diết mà nhớ về làng quê thân yêu, nhớ về mùa xuân của quê mình Có lẽ không cómùa xuân nào đẹp như mùa xuân của chính quê hương mình
Hương vị ngày tết, gia đình quây quần bên nhau cùng cầu nguyện, đợi chờ thờikhắc chuyển giao mùa trong đêm ba mươi, chuẩn bị mâm cỗ dâng lên ông bà tổtiên…tất cả những hoạt động ấy thể hiện được nét đẹp văn hóa truyền thống từ ngànxưa của Việt Nam ta Cái “hồn quê” cố hữu luôn luôn hiện hữu trong thơ Nguyễn Bính
Trang 31Hình ảnh người mẹ vất vả lo toan mọi việc, nào là sắm sửa đồ lễ tết, dọn mâm cỗ,sắp xếp lại mọi thứ trong nhà, trang hoàng nhà cửa hay trong đêm giao thừa nhữngngười bà, người mẹ đã phải thức canh suốt đêm bên nồi bánh chưng và cũng khôngquên “lẩm nhẩm” cầu nguyện với trời đất mong sao cuộc sống gia đình trong năm mới
được sung túc, gặp nhiều may mắn:
“Tết đến mẹ tôi vất vả nhiều
Mẹ tôi lo liệu đủ trăm chiều
… Suốt đêm giao thừa mẹ tôi thức Lẩm nhẩm cầu kinh Đức Chúa Ba.”
(T (Tếếếếtttt ccccủ ủ ủa a a m m mẹẹẹẹ ttttô ô ôi) i)
Mưa xuân lất phất lay cành mai trước nhà, những con đường, ngõ thôn tràn ngậpkhông khí xuân Ở đâu đó trong khung cảnh ấy ta lại bắt gặp hình ảnh người cao niênsắm sửa đi lễ chùa, lễ đình, đó là một phần trong đời sống tâm linh của người dân quê.Ngoài ra còn có hình ảnh trai thanh gái tú trong làng đến với những đêm hát chèo, cụgià chăm chỉ ngồi viết đôi liễn để treo trong nhà làm cho ngày tết thêm sắc màu:
“Mưa xuân rắc bụi quanh làng
Bà già sắm sửa hành trang đi chùa Ông già vào núi đề thơ Trai tơ đình đám, gái tơ hội hè”
(T (Tỳỳỳỳ b b bà à à truy truy truyệệệện) n)
Vào những ngày đầu năm mới, người dân “thong thả nghỉ việc đồng”, mọi người
cùng nhau tổ chức những trò chơi dân gian để làm ấm thêm không khí của ngày xuân
và cũng là dịp để người dân nghỉ ngơi thư giãn vui chơi sau một năm vất vả nơi đồngáng Hình ảnh trẻ con “thả thuyền”, người lớn “đánh cờ người” rất thân thuộc xuất
hiện một cách rất tự nhiên trong thơ Nguyễn Bính Những hoạt động của người dânquê như mua sắm đồ tết, dâng hương đi lễ chùa, tổ chức những trò chơi dân gian…diễn ra thật tưng bừng, nhộn nhịp vào ban ngày ở quê:
“Quả lành nặng trĩu từng cây Sen đầy ao cá, cá đầy ao sen Với dăm trẻ nhỏ thả thuyền ra chơi
Ăn gỏi cá, đánh cờ người
Trang 32Thần tiên riêng một góc trời thôn Vân”
(Ai (Ai vvvvềềềề qu qu quêêêê ccccũ ũ ũ))))
Sau bao nhiêu năm đi phiêu bạt khắp giang hồ, Nguyễn Bính trở về và ông lạithấy mùa xuân ở quê vẫn không có nhiều thay đổi:
“Vào đám làng tôi mở trống chèo Bay cờ, lộng gió, đỏ đuôi theo Lớp mà Thị Kính nuôi con mọn Tôi biết người xem chảy lệ nhiều”
(Tr (Trở ở ở vvvvềềềề qu qu quêêêê ccccũ ũ ũ))))
Có lẽ tết năm nào dân làng cũng đều xem vở hát chèo Quan âm Thị Kính ấy làm
cho họ phải “chảy lệ nhiều” Nhưng ẩn đằng sau cảnh sắc mùa xuân ấy chính là nỗi
lòng của tác giả đối với quê hương Ông xa quê bao lâu thì nỗi nhớ quê của ông lạinhiều bấy nhiêu Màu vàng của nắng, màu tím của hoa xoan gợi nỗi nhớ quê da diếtcho thi nhân:
“Hôm ấy tôi đi nắng ửng vàng Bời bời ngõ cũ tím hoa xoan…”
(Tr (Trở ở ở vvvvềềềề qu qu quêêêê ccccũ ũ ũ))))
Năm hết tết đến mọi người tất bật chuẩn bị đón năm mới với hi vọng gặt hái đượcnhiều thành công trong việc đồng áng, hạnh phúc, bình an trong cuộc sống Xuân đếnlàm cho nơi nơi như được thay tấm áo mới, bao nhiêu sắc màu của hoa đua nhau khoesắc Làm cho lòng người như trẻ lại, người người nhà nhà hớn hở dọn dẹp, sắm sửamọi thứ đón xuân:
“Đây cả mùa xuân đã đến rồi Từng nhà mở của đón vui tươi”
(Th (Thơ ơ ơ xu xu xuâ â ân) n)
Nguyễn Bính cũng có khá nhiều bài thơ viết về tình yêu trong ngày hội xuân.Mùa xuân là mùa của hẹn hò yêu đương Một bức tranh quê tuyệt đẹp trong cảnh trờixuân có ánh nắng ban mai ấm áp, cỏ non mơn mởn, có một người con trai đang đứngtrông đợi người yêu đến Từ đằng xa bóng dáng của cô gái quê với chiếc thắt lưngxanh đang tiến lại gần chàng trai Người con gái ấy không được tác giả miêu tả chi tiết
về nhan sắc nhưng vẻ đẹp dịu dàng của cô gái quê duyên dáng với sức trẻ của tuổithanh xuân vẫn hiện lên thật sống động qua hình ảnh “cái thắt lưng xanh” của cô:
Trang 33“Cỏ nằm trên mộ đợi thanh minh Tôi đợi người yêu đến tự tình Khỏi lũy tre làng tôi nhận thấy Bắt đầu là cái thắt lưng xanh”
(M (Mù ù ùa a a xu xu xuâ â ân n n xanh) xanh)
Trong đêm xuân không khí của đêm hát chèo vừa tạo được sự vui tươi, hứng khởicho ngày hội vừa là một cơ hội để trai gái trong làng hẹn hò nhau đi xem hát, đi chơixuân:
“Thôn Đoài vào đêm hát thâu đêm
Em mải tìm anh chả thiết xem”
(M (Mư ư ưa a a xu xu xuâ â ân) n)
Để rồi trong đêm xuân hẹn hò ấy, chàng trai đã không đến Tiếng hát chèo náonức vui bao nhiêu thì lòng cô gái quê ấy càng nặng trĩu nỗi buồn bấy nhiêu:
“Chờ mãi anh sang anh chẳng sang Thế mà hôm nọ hát bên làng
Nam tao bảy tuyết anh hò hẹn
Để cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng”
(M (Mư ư ưa a a xu xu xuâ â ân) n)
Thơ tình ngày xuân của Nguyễn Bính mang hạnh phúc, ngọt ngào, thiết tha củanhững mối tình quê trọn vẹn nhưng vẫn còn đâu đó không ít những dư vị đắng cay vìtình duyên chưa trọn vẹn
Bên cạnh những bài thơ xuân, Nguyễn Bính cũng dành khá nhiều tình cảm đểnói về mùa thu Đối lập với cái màu xanh tươi nguyên của sắc xuân là màu vàng củacây lá vào mùa thu Cảnh thu gợi lên sự lẻ loi, cô đơn với chiếc lá bàng đã chuyểnsang màu vàng và đó chính là dấu hiệu nhận biết thời điểm chuyển mùa đã xuất hiện.Chính sắc thu tiêu điều, hoang sơ ấy dường như làm cho lòng người như có một chút
gì đó bâng khuâng, gợi buồn:
“Thu sang trên những cánh bàng Chỉ còn hai chiếc lá vàng mà thôi”
(C (Câ â âyyyy b b bà à àng ng ng cu cu cuố ố ốiiii thu) thu)
Ngoài ra, trong bài thơ B B Bắ ắ ắtttt g g gặ ặ ặp p p m m mù ù ùa a a thu thu thu tác giả cũng cho ta thấy một bức tranh
thu có phần đìu hiu, đượm buồn:
Trang 34“Xơ xác hồ sen đã nhạt hương Bên sông hoa lựu cũng phai hường Sớm mai lá úa rơi từng trận
Bắt gặp mùa thu khắp nẻo đường”
(B (Bắ ắ ắtttt g g gặ ặ ặp p p m m mù ù ùa a a thu) thu)
Nguyễn Bính rất tinh tế khi dùng biện pháp đảo ngữ để làm tăng giá trị biểu hiệncho tứ thơ Từ láy “xơ xác” được đảo lên đầu câu càng cho ta cảm giác được mùa thu
đã tràn ngập khắp nơi nơi Mới ngày nào hương thơm ngào ngạt của hoa sen cònthoang thoảng đâu đó thì giờ đây chỉ còn là sự rũ rượi, phai tàn Bên kia con sông bônghoa lựu cũng không còn giữ được cái màu hồng tươi nguyên lúc ban đầu nữa Vànhững chiếc “lá úa” lại còn đua nhau lìa cành Khung cảnh thu như hiện ra trước mắt
người đọc qua vần thơ Nguyễn Bính
Cảnh thu vào buổi chiều được thi nhân ghi nhận lại:
“Thăm thẳm trời xanh lộng đáy hồ Mùi hoa thiên lí thoảng chiều thu”
(Chi (Chiềềềều u u thu) thu)
Lúc này cảnh thu lại rất thơ mộng mặt hồ tĩnh lặng, nước hồ trong trẻo có khảnăng chứa cả một bầu trời xanh rộng lớn Thêm vào đó, mùi thơm hoa thiên lí lại hòavào khung cảnh yên lặng vào chiều thu Một buổi chiều thu có phần mộng nhiều hơnphần thực, tuy man mác buồn nhưng lại chứa chan tình cảm của nhân vật trữ tình.Nỗi nhớ quê nhà của"người cung nữ họ Vương" lại càng thêm âm ĩ khi thu sang.
Có lẽ không biết đã mấy mùa thu rồi người cung nữ ấy không được trở về quê nhà Cáibuồn tẻ nhạt của cảnh thu làm cho lòng người cung nữ càng thêm nặng trĩu một nỗinhớ quê da diết Hình ảnh “thu rơi từng cánh” tượng trưng cho khoảng thời gian sống
xa nhà của người cung nữ Thời gian ở đây được tác giả so sánh như cánh hoa cúc Cứmỗi độ thu về người cung nữ ấy luôn trông mong hoa cúc mau tàn, từng cánh từngcánh tàn đi để thời gian cũng dần trôi qua:
“Mùa thu hoa cúc lại tàn Thuyền ai buộc mãi bên làn cây cong!
Người về để lại phòng không Thu rơi từng cánh cho lòng nhớ thương
Trang 35Có người cung nữ họ Vương Lên lầu nhìn dải sông Hương nhớ nhà”
(Thu (Thu rrrrơ ơ ơiiii ttttừ ừ ừng ng ng ccccá á ánh) nh)
Đọc thơ thu của Nguyễn Bính ta thấy cảnh thu, tình thu hiện lên thật rõ nét, từngchi tiết nhỏ nhặt của cảnh vật vào mùa thu đều được tác giả khai thác thành thơ mangphong cách “chân quê” của Nguyễn Bính
Khi nói về làng quê Việt Nam, thơ Nguyễn Bính có nhắc đến hình ảnh vườn quê một nét đặc trưng của nông thôn Việt Nam Vườn quê gắn liền với đời sống nhân dânlao động, mỗi ngày ngoài việc ra đồng thì người nông dân còn dành thời gian chămchút cho khu vườn nhỏ của họ với mong muốn chính khu vườn mà họ chăm sóc sẽ chonhững quả ngon trái ngọt, làm ấm cúng thêm bữa cơm gia đình của họ Nguyễn Bínhđược người hâm mộ ưu ái gọi với cái tên thân mật nhà thơ của "hương đồng gió nội"
-vì hình ảnh vườn quê đã trở thành chất liệu quen thuộc trong những vần thơ viết vềthiên nhiên của ông
Khu vườn với hình ảnh “hoa bưởi hoa cam rụng”, “bướm bay” thật đẹp trong
những ngày đông qua xuân đến Thiên nhiên tươi đẹp, đầy sức sống mang theo cái hồnquê của dân tộc được Nguyễn Bính diễn tả một cách thật chân thực:
“Đầy vườn hoa bưởi hoa cam rụng Ngào ngạt hương bay bướm vẽ vòng”
(Xu (Xuâ â ân n n vvvvềềềề))))
Khu vườn gắn với kỉ niệm của tuổi “cưỡi trâu thổi sáo” ở quê, thật nhiều niềmvui trong cuộc sống như chuyện “nhảy qua tường bẻ trộm cam” chỉ bấy nhiêu đó
thôi nhưng cũng đủ làm ta nhớ mãi về một thời tuổi thơ tinh nghịch, ngây thơ, hồnnhiên Và có lẽ những kỉ niệm ấy lại chợt hiện về mỗi khi ta bắt gặp hình ảnh khuvườn sau nhà của chúng ta
“Một thửa vườn hoang bên cạnh ao Xương rồng cờ bãi lẫn rau sam Vườn này ngày nhỏ anh còn nhớ
Đã nhảy qua tường bẻ trộm cam”
(V (Vườ ườ ườn n n x x xư ư ưa) a)
Có thể nói, vườn là hình ảnh đặc trưng của quê hương làng quê Việt Nam thânthương, quen thuộc Nhìn từ xa, hình ảnh cả vườn hoa nở rộ một màu hồng tươi thắm
Trang 36của hoa đào chen giữa là màu xanh của lá Hai sắc màu ấy hòa quyện vào nhau, lạithấp thoáng đâu đó những cánh bướm bay lượn như đang ca múa trong không gian đẹpthơ mộng của vườn hoa đào:
“Vườn ai thấp thoáng hoa đào nở Chị vẫn môi son, vẫn má hồng?”
(Xu (Xuâ â ân n n tha tha tha h h hươ ươ ương) ng)
Hay hình ảnh vườn cải gắn với cuộc sống lao động của người nông dân Trồngvườn đã trở thành nguồn thu nhập chính cho gia đình nông dân Phổ biến nhất là vườncải, vườn cam Nguyễn Bính lớn lên ở làng quê vì vậy có lẽ thi nhân là người am hiểunhất cuộc sống của người nông dân chân lấm tay bùn:
“Anh trồng cả thảy hai vườn cải Tháng chạp hoa non nở cánh vàng”
(((( H H Hếếếếtttt b b bướ ướ ướm m m vvvvà à àng) ng)
Có đôi khi hình ảnh vườn quê trong thơ Nguyễn Bính còn mang nặng tâm trạngbuồn tủi của con người mà điển hình là tâm trạng, nỗi niềm của người chị đã "lỡ bước sang ngang" Cất bước theo chồng nhưng người chị vẫn nặng trĩu một nỗi lòng về
người em, về vườn dâu Người chị dặn dò em của mình phải chăm sóc tốt cho cả mẹ
và vườn dâu sau nhà Điều mà chị vẫn chưa làm được nay người chị giao trọng trách
đó lại cho người em:
“Em ơi, em ở lại nhà Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương”
(L (Lỡ ỡ ỡ b b bướ ướ ướcccc sang sang sang ngang) ngang)
Hình ảnh cánh bướm bay trong những khu vườn mang vẻ đẹp vừa thực vừa ảotạo nên khung cảnh đẹp mộng mơ Bức tranh quê hữu tình trong thơ Nguyễn Bính như
có thêm hương sắc từ những cánh bướm ấy:
“Qua giậu tầm xuân thấy bướm vàng Bướm vàng vàng quá bướm yêu yêu
Em sang bắt bướm vườn anh mãi Quên cả làng Ngang động trống chèo”
(H (Hếếếếtttt b b bướ ướ ướm m m vvvvà à àng) ng)
Có thể thấy, khung cảnh thiên nhiên thôn quê Việt Nam hiện lên thật chân thật,sinh động trong thơ Nguyễn Bính Hồn quê của người Việt lại được “đánh thức” mỗi
Trang 37cứ như một dòng suối chảy mãi trong lòng bạn đọc “Khi mà tiếng Việt còn, khi mà xã hội đi về phía văn minh nhưng kí ức về làng quê và hồn xưa đất nước vẫn còn sống trong tâm thức người Việt thì khi ấy tiếng thơ Nguyễn Bính còn vang vọng Nói thế cũng có nghĩa là nói đến sự bất tử của thơ ông trong lịch sử thơ ca dân tộc” [13;
tr.207]
2.1.2 2.1.2 Con Con Con ng ng ngườ ườ ườiiii th th thô ô ôn n n qu qu quêêêê
Thơ Nguyễn Bính có sức lắng động, vấn vương ở người đọc vì ông sáng tác thơbằng cả tấm lòng, cả trái tim của mình Những gì xuất phát từ trái tim cũng dễ đi vàotrái tim Đặc biệt những vần thơ viết về con người làng quê chân chất, thật thà, giản dị
từ cách ăn mặc cho đến cách sống Họ sống với nhau bằng tình nghĩa, giúp đỡ nhaunhững lúc khó khăn với khao khát một cuộc sống thanh bình cùng với gia đình Conngười trong thơ Nguyễn Bính tiêu biểu đặc trưng cho con người làng quê Việt Nam.Những phẩm chất tốt đẹp của họ chính là những phẩm chất đậm đà phong tục truyềnthống dân tộc ta từ ngàn xưa, họ luôn giữ được “hồn xưa đất nước” trong từng cách ănnếp ở
Người dân quê sống với nhau vì cái tình cái nghĩa Trong gia đình, các thành viênyêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau Tình thân - tình cảm quý báu, thiêng liêngchính là “xích yêu thương” kéo họ lại gần nhau Nỗi xót xa lại trở đi trở lại trong lòng
họ mỗi khi họ xa nhau Người dân quê khao khát một cuộc sống hạnh phúc, ấm no,thanh bình, và vui tươi Những điều đó được thi nhân diễn tả rất xúc động trong nhữngcâu thơ của ông Niềm vui giản dị khi mùa xuân đến họ cùng nhau đón xuân với tấmlòng rộng mở, hình ảnh ngày tết quê hiện lên một cách sinh động và tinh tế:
“Đây cả mùa xuân đã đến rồi Từng nhà mở cửa đón xuân vui Từng cô em bé so màu áo Đôi má hồng lên nhí nhảnh cười”
(Th (Thơ ơ ơ xu xu xuâ â ân) n)
Con người làng quê hiện lên trước hết qua cách ăn mặc, dáng vẻ diện mạo bênngoài của họ Không lạ gì với hình ảnh “tóc để gáo dừa”, “đeo bùa cần ong” của
những đứa trẻ quê, hình ảnh thân quen mà ta thường bắt gặp ở những miền quê ViệtNam: