Định hình và áp dụng chiến lược kinh doanh mang lại rất nhiều lợi ích cho doanh nghiệp, tầm quan trọng của nó được thể hiện ở những mặt sau: Chiến lược kinh doanh giúp doanh nghiệp định
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS Nguyễn Thị Kim Ngân
HÀ NỘI – 2015
Trang 3Tôi xin cam đoan rằng bản luận văn với tên đề tài: “Xây dựng chiến lược kinh doanh Công ty Cổ phần Cơ khí và Xây dựng Công trình” là công trình nghiên
cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực,
có nguồn gốc rõ ràng và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình Nghiên cứu khoa học nào trước đó
Doãn Mạnh Hùng
Trang 4Trị Kinh Doanh và Khoa Sau Đại học trường Đại học Mỏ - Địa chất đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu, giúp tôi tiếp cận tư duy khoa học, phục vụ cho công tác và cuộc sống
Xin chân thành cám ơn Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Ngân đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này Trong quá trình nghiên cứu, thực hiện luận văn, dưới sự hướng dẫn rất bài bản và khoa học của cô, tôi đã học hỏi được những kiến thức và phương pháp nghiên cứu khoa học và bổ ích
Vô cùng cám ơn gia đình, bạn bè, ban lãnh đạo, nhân viên Công ty Cổ phần
Cơ khí và Xây dựng Công trình cùng các chuyên gia đang công tác trong ngành xây dựng hạ tầng kỹ thuật giao thông đã hỗ trợ tôi trong việc thu thập số liệu, phát phiếu thăm dò ý kiến, phỏng vấn chuyên gia tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt nghiên cứu của mình
Xin chân thành cám ơn
Tác giả
Trang 5Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH VÀ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 5
1.1 Tổng quan lý luận về chiến lược kinh doanh và xây dựng chiến lược kinh doanh trong các doanh nghiệp 5
1.1.1 Khái niệm về chiến lược kinh doanh 5
1.1.2 Phân loại chiến lược kinh doanh 8
1.1.3 Vai trò của chiến lược kinh doanh đối với các doanh nghiệp 10
1.1.4 Nội dung của chiến lược kinh doanh 12
1.1.5 Quy trình xây dựng chiến lược kinh doanh 17
1.2 Tổng quan thực tiễn xây dựng chiến lược kinh doanh trong các doanh nghiệp 33
1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 40
Kết luận chương 1 41
Chương 2 PHÂN TÍCH CÁC CĂN CỨ ĐỂ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CHO CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ KHÍ VÀ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 42 2.1 Giới thiệu về Công ty Cổ phần Cơ khí và Xây dựng công trình 42
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Công Ty Cổ phần Cơ khí và Xây dựng Công trình 42
2.1.2 Cơ cấu tổ chức 44
2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh 44
Trang 62.2.2 Phân tích môi trường ngành kinh doanh: 50
2.2.3 Phân tích môi trường bên trong 56
Kết luận chương 2 71
Chương 3 XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CHO CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ KHÍ VÀ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAI ĐOẠN 2015 – 2020 TẦM NHÌN ĐẾN 2025 73
3.1 Dự báo nhu cầu 73
3.2 Sứ mạng và mục tiêu 74
3.2.1 Sứ mạng 74
3.2.2 Mục tiêu chiến lược 74
3.3 Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty Cổ phần Cơ khí và Xây dựng Công trình giai đoạn 2015 – 2020 tầm nhìn đến 2025 76
3.4 Các giải pháp thực hiện chiến lược 86
3.4.1 Giải pháp công nghệ 86
3.4.2 Tổ chức hoạt động thu thập thông tin thị trường 87
3.4.3 Đa dạng hóa sản phẩm 88
3.4.4 Duy trì năng lực cốt lõi của công ty 89
3.4.5 Hoàn thiện quy định nội bộ, đổi mới kinh doanh 93
3.4.6 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 94
3.5 Các kiến nghị 97
3.5.1 Về phía ngành 97
3.5.2 Về phía công ty 98
Kết luận chương 3 98
KẾT LUẬN 99 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7AS : (Attractivescore) - Điểm hấp dẫn
GDP : (Gross Domestic Products) - Tổng sản phẩm quốc nội
GTVT : Giao thông vận tải
MACHICON : Công ty Cổ phần Cơ khí và Xây dựng Công trình
Ma trận EFE : (External factors environment matrix) - Ma trận đánh giá
các yếu tố bên ngoài
Ma trận IFE : (Internal factors environment matrix) - Ma trận đánh giá các
yếu tố bên trong
Ma trận QSPM : (Quantitative strategic planning matrix) - Ma trận hoạch
định chiến lược định lượng
Ma trận SWOT : (Strength Weakness Opportunities Threaten) - Ma trận đánh
giá các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và đe dọa
SBU : (Strategic Business Units) - Đơn vị kinh doanh chiến lược
TAS : (Total attractive score) - Tổng điểm hấp dẫn
Trang 8Bảng 1.1 Mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp 13
Bảng 1.2: Mẫu ma trận EFE 28
Bảng 1.3: Mẫu ma trận hình ảnh cạnh tranh 29
Bảng 1.4: Mẫu ma trận SWOT 30
Bảng 1.5: Mẫu ma trận QSPM 33
Bảng 2.1: Kết quả kinh doanh của Công ty Cổ phần Cơ khí và Xây dựng Công trình 44
Bảng 2.2: Tốc độ tăng trưởng GDP Việt Nam giai đoạn 2005-2014 45
Bảng 2.3: Ma trận hình ảnh cạnh tranh 52
Bảng 2.4: Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài 55
Bảng 2.5: Bảng thống kê nhân lực lao động qua các năm của công ty Cổ phần Cơ khí và Xây dựng Công trình 56
Bảng 2.6: Các hình thức nâng cao trình độ lao động của Công ty 57
Bảng 2.7: Thu nhập bình quân của người lao động qua các năm 58
Bảng 2.8: Chỉ tiêu kế hoạch sản lượng qua các năm của Công ty 60
Bảng 2.9: Một số chỉ số tài chính qua các năm của Công ty 62
Bảng 2.10: Bảng tóm tắt chuỗi giá trị của Công ty 66
Bảng 2.11: Bảng đánh giá tác động của các nguồn lực đến chuỗi giá trị 67
Bảng 2.12: Bảng đánh giá các nguồn lực cốt lõi của công ty 70
Bảng 2.13: Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong 71
Bảng 3.1: Sơ đồ phân tích ma trận SWOT Công ty Cổ phần Cơ khí và Xây dựng Công trình 77
Bảng 3.2: Ma trận QSPM nhóm S/O 79
Bảng 3.3: Ma trận QSPM nhóm S/T 81
Bảng 3.4: Ma trận QSPM nhóm W/O 83
Bảng 3.5: Ma trận QSPM nhóm W/T 85
Trang 9Hình 1.1: Ba cấp chiến lược trong doanh nghiệp 8 Hình 1.2: Sơ đồ mối quan hệ giữa 5 yếu tố cạnh tranh 23
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chiến lược kinh doanh đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp Chiến lược kinh doanh đúng đắn sẽ tạo một hướng
đi tốt cho doanh nghiệp, chiến lược kinh doanh có thể coi như kim chỉ nam dẫn đường cho doanh nghiệp đi đúng hướng
Trong thực tế, có rất nhiều doanh nhân nhờ có chiến lược kinh doanh đúng đắn
mà đạt được nhiều thành công, vượt qua đối thủ cạnh tranh và tạo vị thế cho mình trên thương trường Định hình và áp dụng chiến lược kinh doanh mang lại rất nhiều lợi ích cho doanh nghiệp, tầm quan trọng của nó được thể hiện ở những mặt sau:
Chiến lược kinh doanh giúp doanh nghiệp định hướng cho hoạt động của mình trong tương lai thông qua việc phân tích và dự báo môi trường kinh doanh
Chiến lược kinh doanh giúp doanh nghiệp nắm bắt được các cơ hội cũng như các nguy cơ đối với sự phát triển nguồn lực của doanh nghiệp
Chiến lược tạo ra một quỹ đạo hoạt động cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp liên kết được các cá nhân với các lợi ích khác cùng hướng tới một mục đích chung, cùng phát triển doanh nghiệp
Chiến lược kinh doanh là công cụ cạnh tranh có hiệu quả của doanh nghiệp Trong cơ chế mới, sự cạnh tranh của các doanh nghiệp ngày càng gay gắt, đã
có nhiều doanh nghiệp không chịu được sức ép của thương trường nên không đứng vững được, nhưng cũng có nhiều doanh nghiệp với đường lối kinh doanh đúng đắn
đã vượt qua được những khó khăn đó, nắm bắt kịp thời cơ hội, thích hợp với điều kiện mới nên đã tồn tại và phát triển bền vững
Sau hơn 04 năm công tác tại Công ty Cổ phần Cơ khí và Xây dựng Công trình, một doanh nghiệp được đánh giá vào loại hàng đầu của Tổng Công ty Công nghiệp Ô tô Việt Nam, tác giả hiểu rõ được đằng sau danh hiệu “hàng đầu” ấy là những bất cập, là những lúng túng trong công tác quản trị điều hành mà cụ thể là lúng túng và bất cập trong tìm đường hướng hiệu quả để đạt được mục tiêu, chưa xác định được một chiến lược kinh doanh cụ thể rõ ràng của công ty, như một nhà
Trang 11buôn đi tìm lợi nhuận tức thời không mang tính bền vững Chính vì vậy, đề tài sẽ tập trung giải quyết phân tích những bất cập, cái được, cái mất, và làm rõ rằng doanh nghiệp cần phải có một chiến lược kinh doanh hiệu quả nếu muốn tồn tại lâu dài Trên cơ sở đó, tác giả tập trung nghiên cứu xây dựng một chiến lược kinh doanh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, góp phần vào sự phát triển mạnh mẽ cho chính đơn vị mà mình đang làm việc Đó chính là ý nghĩa của đề tài mà tác giả lựa chọn
Đến với đề tài này, tác giả tập trung làm rõ các vấn đề mang tính lý luận lẫn thực tiễn nhằm nổi bật vai trò của chiến lược kinh doanh đối với doanh nghiệp đặt trong lĩnh vực hoạt động cụ thể là kinh doanh trong ngành xây dựng bao gồm xây dựng công trình và cơ sở hạ tầng Trên cơ sở những vấn đề lý luận đúc kết được, tác giả vận dụng nhằm xây dựng chiến lược kinh doanh thực chất, hiệu quả, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm triển khai thành công chiến lược kinh doanh đã đặt ra
Xuất phát từ những lý do đó, tác giả đã chọn đề tài “Xây dựng chiến lược kinh doanh Công ty Cổ phần Cơ khí và Xây dựng Công trình” làm đề tài cho luận
văn thạc sĩ
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là xây dựng được chiến lược kinh doanh của công ty Cổ phần Cơ khí và Xây dựng Công trình nhằm đạt mục đích hiệu quả kinh doanh tối đa, và đề xuất các giải pháp thực hiện chiến lược kinh doanh cho phù hợp với thực tiễn sản xuất và thị trường
3 Đối tượng và phạm vị nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là chiến lược kinh doanh của công ty Cổ phần Cơ khí
và Xây dựng Công trình và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xây dựng chiến lược của công ty
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu, đánh giá các số liệu của Công ty Cổ phần
Cơ khí và Xây dựng Công trình trong 05 năm trở lại đây, từ năm 2010 đến năm 2014
Trang 12- Về không gian: đề tài chỉ tập trung phân tích đánh giá thực trạng hoạt động
sản xuất kinh doanh và xây dựng chiến lược kinh doanh cho Công ty Cổ phần
Cơ khí và Xây dựng Công trình giai đoạn 2015 – 2020 và tầm nhìn đến 2025
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan các vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng chiến lược kinh doanh tại các doanh nghiệp
- Phân tích các căn cứ để xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty Cổ phần Cơ khí và Xây dựng Công trình từ năm 2010 đến nay
- Xây dựng chiến lược kinh doanh Công ty Cổ phần Cơ khí và Xây dựng Công trình
5 Phương pháp nghiên cứu
Để tổng quan các vấn đề lý luận và thực tiễn về chiến lược kinh doanh, tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp tài liệu
Để phân tích thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần
Cơ khí và Xây dựng Công trình từ năm 2010 đến nay, tác giả sử dụng Phương pháp ứng dụng lý thuyết thống kê; dự báo; phân tích tổng hợp (kết hợp định tính, định lượng); thống kê, so sánh Ngoài ra, tác giả còn lấy ý kiến của các chuyên gia là các cán bộ đang công tác trong lĩnh vực xây dựng công trình và xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông tại các đơn vị trên địa bàn Hà Nội
Để xây dựng chiến lược kinh doanh cho Công ty Cổ phần Cơ khí và Xây dựng Công trình, tác giả sử dụng phương pháp ma trận SWOT
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa khoa học: Hệ thống các vấn đề lý luận về xây dựng chiến lược của
các doanh nghiệp, kết hợp với những đánh giá tổng thể và phân tích toàn diện về tình hình hoạt động cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp, tạo căn cứ khoa học cho việc xây dựng chiến lược kinh doanh cho Công ty
Cổ phần Cơ khí và Xây dựng Công trình
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả thực tế của luận văn nhận diện được thực trạng
cũng như các hạn chế của Công ty Cổ phần Cơ khí và Xây dựng Công trình, đồng
Trang 13thời xây dựng chiến lược kinh doanh áp dụng cho công ty nhằm giúp công ty có hướng đi đúng phù hợp với khả năng, quạn trọng nhất là đạt được hiệu quả kinh doanh tối ưu, do đó có thể áp dụng trực tiếp cho công ty đồng thời là tài liệu tham khảo hữu ích cho các doanh nghiệp khác
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và 3 chương được kết cấu trong 99 trang, 23 bảng biểu và 02 hình vẽ
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về Chiến lược Kinh doanh và Xây dựng Chiến
lược Kinh doanh trong các doanh nghiệp
Chương 2: Phân tích các căn cứ để xây dựng chiến lược kinh doanh cho Công ty
Cổ phần Cơ khí và Xây dựng Công trình
Chương 3: Xây dựng Chiến lược Kinh doanh cho Công ty Cổ phần Cơ khí và
Xây dựng Công trình giai đoạn 2015 – 2020 tầm nhìn đến 2025
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH
VÀ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan lý luận về chiến lược kinh doanh và xây dựng chiến lược kinh doanh trong các doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm về chiến lược kinh doanh
Thuật ngữ chiến lược có nguồn gốc từ rất lâu, trước đây thuật ngữ này được
sử dụng trong quân sự Ngày nay, thuật ngữ này đã lan toả và du nhập vào hầu hết các lĩnh vực kinh tế, chính trị và văn hoá xã hội Sự giao thoa về ngôn ngữ giữa thuật ngữ chiến lược với các khái niệm và phạm trù của các lĩnh vực này đã tạo ra những cái mới trong ngôn ngữ khoa học của các lĩnh vự đó, chúng ta có thể gặp ở mọi nơi các khái niệm: "Chiến lược kinh tế xã hội", "Chiến lược ngoại giao",
"Chiến lược dân số", "Chiến lược khoa học công nghệ"…Đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế chúng ta có thể gặp rất nhiều khái niệm cũng được hình thành từ sự kết hợp trên Ở phạm vi vĩ mô có thể gặp các khái niệm "Chiến lược phát triển ngành",
"Chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu", ở phạm vi vi mô thuật ngữ chiến lược cũng có sự kết hợp với các khái niệm, phạm trù quản lý doanh nghiệp hình thành các thuật ngữ "chiến lược marketing", " Chiến lược kinh doanh" [3]
Sự xuất hiện các thuật ngữ nói trên không chỉ đơn thuần là vay mượn khái niệm mà bắt nguồn từ sự cần thiết phản ánh thực tiễn khách quan của quản lý doanh nghiệp trong cơ chế thị trường Với các cách tiếp cận khác nhau về chiến lược mà các quan niệm về chiến lược được đưa ra cũng khác nhau, cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm chung, thống nhất về phạm trù này Có thể nêu có một số quan niệm như sau:
- M Porter cho rằng "Chiến lược là nghệ thuật tạo lập các lợi thế cạnh tranh" [11]
- Alain Threatart trong cuốn "Chiến lược của Công ty" cho rằng: "Chiến lược là nghệ thuật mà doanh nghiệp dùng để chống cạnh tranh và giành thắng lợi" [9]
Trang 15- K.Ohamac cho rằng: "Mục đích của chiến lược kinh doanh là mang lại những điều kiện thuận lợi nhất cho một phía, đánh giá chính xác thời điểm tấn công hay rút lui, xác định đúng đắn ranh giới của sự thoả hiệp" [9]
- "Chiến lược là nhằm phác họạ những quỹ đạo tiến triển đủ vững chắc và lâu dài, xung quanh quỹ đạo đó có thể sắp đặt những quyết định và những hành động chính xác của doanh nghiệp" Đó là quan niệm của Alain Charles Martinet, tác giả cuốn sách "Chiến lược", người đã được nhận giải thưởng của Havard L'exphandsion năm 1983 [9]
- Nhóm tác giả Garry D.Smith, Danny R., arnokd, Bopby D.Bizrell trong cuốn
"Chiến lược và sách lược kinh doanh" cho rằng "Chiến lược được định ra như là
kế hoạch tổng quát dẫn dắt hoặc hướng của Công ty đi đến mục tiêu mong muốn Kế hoạch tác nghiệp này tạo cơ sở cho các chính sách và các thủ pháp tác nghiệp" [10]
Nhìn chung các quan niệm trên về thuật ngữ chiến lược đều bao hàm và phản ánh các vấn đề sau:
+ Mục tiêu của chiến lược
+ Trong thời gian dài hạn (3, 5, 10 năm)
+ Quá trình ra quyết định chiến lược
+ Nhân tố môi trường cạnh tranh
+ Lợi thế và yếu điểm của doanh nghiệp nói chung và theo từng hoạt động nói riêng
Như vậy, ta thấy chiến lược của doanh nghiệp là một "Sản phẩm" kết hợp được những gì môi trường có? Những gì doanh nghiệp có thể? Và những gì doanh nghiệp mong muốn?
Trong đời sống của doanh nghiệp, chiến lược là: "Một nghệ thuật thiết kế, tổ chức các phương tiện nhằm đạt tới các mục tiêu dài hạn và có mối quan hệ với một môi trường biến đổi cạnh tranh" [4]
Theo định nghĩa trên thì điểm đầu tiên của chiến lược kinh doanh có liên quan tới các mục tiêu của công ty Đó chính là điều mà các nhà quản trị thực sự
Trang 16quan tâm Có điều những chiến lược kinh doanh khác nhau sẽ xác định những mục tiêu khác nhau tuỳ thuộc vào đặc điểm, thời kỳ kinh doanh của từng công ty Tuy nhiên, ngoài việc xác định xây dựng và quyết định chiến lược kinh doanh đòi hỏi mỗi chiến lược cần đưa ra những hành động hướng mục tiêu cụ thể
Điểm thứ hai là chiến lược kinh doanh không phải là những hành động riêng
lẻ, đơn giản Điều đó sẽ không dẫn tới một kết quả to lớn nào cho công ty Chiến lược kinh doanh phải là tập hợp các hành động và quyết định hành động liên quan chặt chẽ với nhau, nó cho phép liên kết và phối hợp các nguồn lực tập trung giải quyết một vấn đề cụ thể của công ty nhằm đạt được mục tiêu đề ra Hiệu quả hành động sẽ cao hơn, kết quả hoạt động sẽ to lớn hơn nếu như chỉ hoạt động đơn lẻ thông thường Điều mà có thể gắn kết các nguồn lực cùng phối hợp hành động không đâu khác chính là mục tiêu của công ty
Điểm thứ ba là chiến lược kinh doanh cần phải đánh giá đúng được điểm mạnh, điểm yếu của mình kết hợp với những thời cơ và thách thức từ môi trường Điều đó sẽ giúp cho các nhà quản trị của công ty tìm được những ưu thế cạnh tranh
và khai thác được những cơ hội nhằm đưa công ty chiếm được vị thế chắc chắn trên thị trường trước những đối thủ cạnh tranh
Điểm cuối cùng là chiến lược kinh doanh phải tính đến lợi ích lâu dài và được xây dựng theo từng giai đoạn mà tại đó chiến lược đòi hỏi sự nỗ lực của các nguồn lực là khác nhau tuỳ thuộc vào yêu cầu của mục tiêu đề ra ở từng thời kỳ Do vậy các nhà quản trị phải xây dựng thật chi tiết từng nhiệm vụ của chiến lược ở từng giai đoạn cụ thể Đặc biệt cần quan tâm tới các biến số dễ thay đổi của môi trường kinh doanh Bởi nó là nhân tố ảnh hưởng rất lớn tới mục tiêu của chiến lược ở từng giai đoạn
Tóm lại thuật ngữ “Chiến lược kinh doanh” chính là phác thảo hình ảnh tương lai của công ty “Chiến lược kinh doanh” có 3 ý nghĩa chính là:
Xác định tầm nhìn, sứ mạng, các mục tiêu dài hạn và cơ bản của công ty Tập hợp đưa ra các chương trình hành động tổng quát cho từng thời kỳ
Lựa chọn các phương án hành động, triển khai việc phân bổ các nguồn lực để
Trang 17Chiến lược kinh doanh chủ yếu liên quan tới việc làm thế nào một doanh nghiệp hay một hoạt động kinh doanh có thể cạnh tranh thành công trên một thị trường (đoạn thị trường) cụ thể Nó liên quan đến các quyết định chiến lược về việc lựa chọn sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, giành lợi thế cạnh tranh so với các
đối thủ, khai thác và tạo ra được các cơ hội mới …
1.1.2 Phân loại chiến lược kinh doanh
Phân loại chiến lược kinh doanh là một công việc quan trọng mà tại đó các nhà quản trị cần lựa chọn những chiến lược phù hợp với mục tiêu đề ra cũng như phù hợp với nhiệm vụ, chức năng của từng bộ phận trong công ty hay toàn công ty
Xét theo quy mô và chức năng lao động sản xuất kinh doanh của công ty mà nhà quản trị có thể lựa chọn ba chiến lược cơ bản sau:
Hình 1.1: Ba cấp chiến lược trong doanh nghiệp
Trang 18Chiến lược cấp doanh nghiệp (gọi tắt là chiến lược doanh nghiệp) do hội
đồng quản trị của doanh nghiệp hoạch định Chiến lược doanh nghiệp liên quan đến mục tiêu tổng thể và quy mô của doanh nghiệp để đáp ứng những kỳ vọng của các
cổ đông Chiến lược doanh nghiệp là một lời công bố về mục tiêu dài hạn, các định hướng phát triển của tổ chức Thông thường, chiến lược doanh nghiệp trả lời câu hỏi then chốt: “Doanh nghiệp đã đang và sẽ hoạt động trong ngành kinh doanh hoặc những ngành kinh doanh nào?”
Chiến lược cấp kinh doanh (gọi tắt là chiến lược kinh doanh) liên quan nhiều
hơn tới việc làm thế nào một doanh nghiệp hay một hoạt động kinh doanh có thể cạnh tranh thành công trên một thị trường (đoạn thị trường) cụ thể Nó liên quan đến các quyết định chiến lược về việc lựa chọn sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, giành lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ, khai thác và tạo ra được các cơ hội mới v.v… Chiến lược kinh doanh phải chỉ ra được cách thức công ty cạnh tranh trong các ngành kinh doanh khác nhau, xác định vị trí cạnh tranh cho các đơn vị kinh doanh chiến lược (SBU) và làm thế nào để phân bổ các nguồn lực hiệu quả Đồng thời chiến lược kinh doanh phối hợp các lĩnh vực kinh doanh, các hoạt động kinh doanh của công ty thành một tổ hợp thống nhất (Portfolio Business) và có liên kết chặt chẽ
Chiến lược cấp chức năng liên quan tới việc từng bộ phận chức năng (sản
xuất, marketing, tài chính, hệ thống thông tin, …) trong doanh nghiệp sẽ được tổ chức như thế nào để thực hiện được phương hướng chiến lược ở cấp độ doanh nghiệp và từng bộ phận trong doanh nghiệp Một chiến lược chức năng là một lời công bố chi tiết về các mục tiêu và phương thức hành động ngắn hạn được các lĩnh vực chức năng sử dụng nhằm đạt được các mục tiêu ngắn hạn của các SBU và mục tiêu dài hạn của tổ chức Bởi vậy, chiến lược chức năng tập trung vào các vấn đề về nguồn lực, quá trình xử lý và con người
Theo quan điểm này, chiến lược sản phẩm của doanh nghiệp là một chiến lược chức năng trong chiến lược của doanh nghiệp Mục tiêu chiến lược sản phẩm
bị chi phối bởi mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp
Trang 19Căn cứ vào hướng tiếp cận chiến lược thì chiến lược kinh doanh được nhà quản trị chia làm bốn loại như sau:
Chiến lược tập trung vào những nhân tố then chốt:
Tư tưởng chỉ đạo của việc hoạch định chiến lược ở đây là không dàn trải các nguồn lực, trái lại cần tập trung cho những hoạt động có ý nghĩa quyết định đối với sản xuất kinh doanh của công ty
Chiến lược sáng tạo tấn công:
Trong loại chiến lược này, việc xây dựng được tiếp cận theo cách cơ bản là luôn luôn nhìn thẳng vào những vấn đề vẫn được coi là phổ biến, khó làm khác được để đặt câu hỏi: “tại sao?”, nhằm xét lại những điều tưởng như đã kết luận Từ việc đặt liên tiếp các câu hỏi và nghi ngờ sự bất biến của vấn đề, có thể có được những khám phá mới làm cơ sở cho chiến lược kinh doanh của công ty
Chiến lược dựa trên ưu thế tương đối:
Tư tưởng chỉ đạo hoạch định chiến lược ở đây bắt đầu từ sự phân tích, so sánh sản phẩm hay dịch vụ của công ty mình so với các đối thủ cạnh tranh Thông qua sự phân tích đó, tìm ra điểm mạnh của mình làm chỗ dựa cho chiến lược kinh doanh
Chiến lược khai thác các mức độ tự do:
Cách xây dựng chiến lược ở đây không nhằm vào nhân tố then chốt mà nhằm vào khai thác khả năng có thể có của các nhân tố bao quanh nhân tố then chốt
1.1.3 Vai trò của chiến lược kinh doanh đối với các doanh nghiệp
Trong thời kỳ bao cấp, khái niệm chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp ít được sử dụng bởi vì các doanh nghiệp không có trách nhiệm xây dựng chiến lược kinh doanh Nguyên nhân chủ yếu là trong thời kỳ này các doanh nghiệp hoạt động sản xuất theo chỉ tiêu pháp lệnh mà cấp trên đưa xuống Chiến lược kinh doanh trong thời kỳ này chỉ là một mắt xích kế hoạch hoá cho rằng nhà nước có trách nhiệm hàng đầu trong việc hoạch định chiến lược phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân trong tất cả các lĩnh vực: xã hội, sản xuất Chính phủ quản lý và vận hành toàn bộ quá trình phát triển của đất nước
Qua thực tế, trong thời kỳ bao cấp đã làm hạn chế sự phát huy tính ưu việt
Trang 20của chiến lược kinh doanh Do đó, đã chưa thấy được tầm quan trọng và sự cần thiết phải xây dựng chiến lược kinh doanh Nghị quyết Đại hội VI, với các nội dung đổi mới sâu sắc trong đường lối chính trị, đường lối kinh tế với quan điểm xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, phát triển kinh tế nhiều thành phần chuyển sang hạch toán kinh doanh theo định hướng xã hội chủ nghĩa Các doanh nghiệp đã giành được quyền tự chủ trong kinh doanh, tự phải tìm ra con đường đi riêng cho phù hợp
để có thể tồn tại và phát triển trong cơ chế mới Do đó, chiến lược kinh doanh là không thể thiếu được trong giai đoạn hiện nay
Hiện nay, khi chuyển sang kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, đa số các doanh nghiệp phải đối mặt với những điều kiện kinh doanh ngày càng khó khăn, phức tạp mang tính biến động và rủi ro cao, song việc làm cho doanh nghiệp thích nghi với sự thay đổi môi trường là hết sức cần thiết, quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp
Sự cần thiết khách quan phải xây dựng chiến lược kinh doanh đối với các doanh nghiệp được thể hiện trên một số mặt sau:
Chiến lược kinh doanh giúp các doanh nghiệp thấy rõ mục đích và hướng đi của mình
Điều kiện môi trường mà các doanh nghiệp gặp phải luôn biến đổi nhanh Những biến đổi nhanh thường tạo ra những cơ hội và nguy cơ bất ngờ Việc xây dựng các chiến lược kinh doanh giúp các doanh nghiệp tận dụng tối đa các cơ hội và hạn chế ở mức thấp nhất các nguy cơ, từ đó tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Chiến lược kinh doanh sẽ giúp cho doanh nghiệp gắn liền các quyết định đề
ra với điều kiện môi trường liên quan, hay nói cách khác là giúp các doanh nghiệp
đề ra các quyết định chủ động
Xây dựng chiến lược sẽ giúp cho các doanh nghiệp tạo ra chiến lược kinh doanh tốt hơn thông qua việc sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống, tạo cơ sở tăng sự liên kết của các nhân viên với các quản trị viên trong việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp
Chiến lược kinh doanh giúp cho các doanh nghiệp sử dụng nguồn lực một
Trang 21cách hợp lý nhất
Với toàn bộ những lý do trên có thể khẳng định việc xây dựng chiến lược kinh doanh tốt là vô cùng quan trọng đối với các doanh nghiệp trong nước cũng như trên thế giới, có thể coi "Chiến lược kinh doanh như là cái bánh lái của con tàu, đưa con tàu vượt trùng dương đến bờ thắng lợi" [3]
1.1.4 Nội dung của chiến lược kinh doanh
Theo khái niệm về chiến lược kinh doanh đã được trình bày ở trên, nội dung
cơ bản của một chiến lược kinh doanh bao gồm:
a Mục tiêu chiến lược
Mục tiêu được hiểu khái quát nhất là cái đích cần phải đạt tới Mỗi doanh nghiệp cũng như từng bộ phận của nó đều có mục tiêu của mình Mục tiêu của mỗi doanh nghiệp có thể được xác định cho toàn bộ quá trình tồn tại và phát triển và cũng có thể chỉ gắn với từng giai đoạn phát triển nhất định Hệ thống mục tiêu chiến lược là các tiêu thức, kết quả và cái đích mà doanh nghiệp mong muốn đạt tới trong một khoảng thời gian nhất định Mục tiêu chỉ đạo hành động, cung cấp những khuôn khổ để doanh nghiệp hướng nỗ lực vào đó, và nó có thể được sử dụng như một tiêu chuẩn đánh giá để đo lường mức độ thành công của công việc kinh doanh của doanh nghiệp
Các yêu cầu về mục tiêu chiến lược
- Tính nhất quán:
Tính nhất quán đòi hỏi các mục tiêu phải thống nhất, phù hợp nhau, việc hoàn thành mục tiêu này không cản trở việc thực hiện các mục tiêu khác Đây là yêu cầu đầu tiên, đóng vai trò quan trọng để đảm bảo rằng hệ thống mục tiêu phải được thực hiện và phải hướng vào hoàn thành các mục tiêu tổng quát của từng thời kỳ chiến lược
Trang 22Bảng 1.1 Mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp
- Tăng trưởng doanh thu / doanh số bán
- Tăng trưởng lợi nhuận
- Tăng trưởng cổ tức
- Tăng trưởng giá cổ phiếu
- Tăng trưởng giá trị gia tăng thị trường
(market value-added - MVA)
- Tăng trưởng thị phần
- Chất lượng sản phẩm cao hơn đối thủ
- Chi phí thấp hơn đối thủ
- Mức độ hài lòng của khách hàng cao hơn
- Dẫn đầu về công nghệ và đổi mới sản phẩm
Hệ thống mục tiêu phải thống nhất, khi hệ thống mục tiêu không thống nhất
sẽ dẫn đến nhiều tác hại như không thực hiện được mọi mục tiêu đã xác định, gây ra nhiều mâu thuẫn trong nội bộ doanh nghiệp
Để đảm bảo tính nhất quán khi xác định hệ thống mục tiêu chiến lược cần phải chú ý lựa chọn giữa các cặp mục tiêu mâu thuẫn Trong đó phải đặc biệt chú ý đến các cặp như mục tiêu lợi nhuận và các mục tiêu phi lợi nhuận; mục tiêu tăng trưởng và mục tiêu ổn định; mục tiêu tăng trưởng lâu dài và mục tiêu lợi nhuận biên; mục tiêu phát triển thị trường và mục tiêu nỗ lực bán hàng trực tiếp; mục tiêu phát triển thị trường mới và mục tiêu tiếp tục thâm nhập thị trường sẵn có…
Khi xây dựng mục tiêu chiến lược cần phải xem xét mối quan hệ giữa mục tiêu dài hạn và mục tiêu ngắn hạn đảm bảo tính liên kết và phải xác định rõ mục tiêu
ưu tiên trong từng thời kỳ
- Tính cụ thể:
Yêu cầu về tính cụ thể của hệ thống mục tiêu không đề cập đến tính dài ngắn của thời gian mà nó đòi hỏi là khi xác định mục tiêu chiến lược cần phải chỉ rõ: mục tiêu liên quan tới vấn đề gì? Giới hạn thời gian thực hiện; kết quả cuối cùng cụ thể cần đạt được
Hệ thống mục tiêu càng cụ thể bao nhiêu càng tạo cơ sở để cụ thể hóa ở các cấp thấp hơn, các thời kỳ ngắn hạn hơn Mặt khác mục tiêu không cụ thể thường có
Trang 23tác dụng rất thấp trong quá trình tổ chức thực hiện
- Tính khả thi:
Mục tiêu chiến lược là các tiêu thức, các kết quả mà doanh nghiệp mong muốn đạt được trong một thời kỳ chiến lược xác định Do đó các kết quả này đòi hỏi phải có sự cố gắng của những người chịu trách nhiệm thực hiện và đảm bảo có thể thực hiện được Có như vậy mục tiêu mới có khả năng khuyến khích sự nỗ lực vươn lên của mọi bộ phận, cá nhân trong doanh nghiệp và cũng không quá cao đến mức làm nản lòng người thực hiện Muốn kiểm tra tính khả thi của hệ thống mục tiêu phải đánh giá các mục tiêu trong mối quan hệ với kết quả phân tích dự báo môi trường kinh doanh
- Tính linh hoạt:
Môi trường kinh doanh thường xuyên thay đổi nên đòi hỏi hệ thống mục tiêu phải linh hoạt để có thể điều chỉnh khi môi trường kinh doanh thay đổi Tính linh hoạt là điều kiện đảm bảo để biến các mục tiêu chiến lược thành hiện thực Mặt khác, môi trường kinh doanh thường xuyên biến động nên tính linh hoạt còn đòi hỏi khi hình thành hệ thống mục tiêu phải tính đến biến động quá giới hạn nào đó mới cần đền hoạt động điều chỉnh
b Các quyết định và giải pháp chiến lược
Các quyết định và giải pháp chiến lược của doanh nghiệp liên quan đến các lĩnh vực sau:
- Chiến lược phát triển toàn diện doanh nghiệp: Là những định hướng lớn về chức năng, nhiệm vụ, những chính sách, giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện những mục tiêu chiến lược của toàn doanh nghiệp
- Chiến lược phát triển các bộ phận kinh doanh: Bao gồm phương pháp, thủ đoạn, mục tiêu cụ thể của các thành viên, bộ phận sản xuất kinh doanh trực thuộc của doanh nghiệp cạnh tranh trên khu vực thị trường sản phẩm được giao
- Các chiến lược chức năng: Là phương thức hành động của các bộ phận chức năng thuộc bộ máy quản lý doanh nghiệp để thực hiện và hỗ trợ chiến lược của toàn doanh nghiệp trong phạm vi nhiệm vụ được giao
Trang 24Để thực hiện mục tiêu chiến lược, doanh nghiệp phải xây dựng các chiến lược chức năng Các chiến lược này liên quan đến các khía cạnh khác nhau của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhưng chúng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau thúc đẩy doanh nghiệp đạt được mục tiêu chiến lược chung đã xác định Các chiến lược chức năng của doanh nghiệp bao gồm:
- Chiến lược thị trường: Bao gồm những thủ pháp, những định hướng bảo đảm các yếu tố đầu vào, tổ chức marketing, phân phối và tiêu thụ sản phẩm
- Chiến lược sản phẩm: Bao gồm các quyết định liên quan đến loại sản phẩm, chủng loại sản phẩm nhằm đáp ứng tốt nhất thị hiếu của khách hàng trên thị trường
- Chiến lược công nghệ kỹ thuật: Bao gồm các định hướng nghiên cứu phát triển hoặc đầu tư hoặc đổi mới phần cứng, phần mềm công nghệ sản xuất sản phẩm
- Chiến lược tài chính: Bao gồm định hướng về quy mô, nguồn hình thành vốn đầu tư và sử dụng hiệu quả các chương trình dự án kinh doanh
- Chiến lược nguồn nhân lực: Bao gồm các phương thức nhằm phát huy tính năng động tích cực của con người với tư cách là chủ thể của quá trình sản xuất, tạo nên sự thống nhất về ý chí, hành động của tập thể người lao động trong doanh nghiệp
c Các quyết định phân bổ nguồn lực trên cơ sở lựa chọn kế hoạch hành động phù hợp
Trên cơ sở mục tiêu chiến lược và các chiến lược chức năng, doanh nghiệp xác định các giai đoạn phát triển cùng với cách thức phân bổ nguồn lực trong mỗi giai đoạn nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh và đảm bảo các mục tiêu chiến lược được thực hiện
d Dự báo rủi ro và các biện pháp phòng ngừa rủi ro
Một trong những nội dung cơ bản của chiến lược kinh doanh là phải dự báo được những rủi ro có thể xảy ra và các biện pháp phòng ngừa rủi ro Đây cũng là một trong những nội dung đảm bảo ý nghĩa của chiến lược kinh doanh Các loại rủi
ro có thể xảy ra trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm:
Trang 25- Các rủi ro từ môi trường kinh tế
Một nền kinh tế khỏe là một nền kinh tế có sức đề kháng cao, có khả năng giải quyết khủng hoảng một cách tốt nhất theo hướng minh bạch, chi phí thấp, tính bền vững cao Một môi trường kinh tế, nơi thường xuyên có khủng hoảng, lạm phát triền miên, giá cả thất thường, cung cầu bất ổn, tỷ giá thay đổi chóng mặt, hàng hóa dịch vụ khan hiếm (thật và giả), độc quyền không kiểm soát được, cạnh tranh công bằng chỉ nằm trên giấy… cùng với việc thiếu năng lực kỹ trị hoặc sự công tâm của công quyền đều được coi là những rủi ro lớn cho các doanh nghiệp Ngoài ra, xét từ một góc độ khác, các thách thức đến từ một nền kinh tế có sức cạnh tranh cao, sự thay đổi mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật của công nghệ thông tin cũng sẽ là những rủi ro cho những doanh nghiệp thiếu khả năng thích ứng với đổi mới
- Các rủi ro có nguyên nhân từ môi trường pháp lý
Đây cũng là hiểm họa của kinh doanh lành mạnh Một hệ thống văn bản pháp luật được ban hành với sự tham gia có hiệu quả của cộng đồng doanh nghiệp, theo các tiêu chí bền vững, thống nhất, thân thiện, công bằng, dễ áp dụng; một hệ thống hành pháp hoạt động theo phương châm hỗ trợ, thúc đẩy và phục vụ kinh doanh; một hệ thống tư pháp đáng tin cậy, tôn trọng công lý, bảo đảm pháp luật thực thi hiệu quả cùng với một xã hội thượng tôn đạo đức, pháp luật sẽ là một môi trường
lý tưởng để khuyến khích đầu tư và phát triển doanh nghiệp Ngược lại, nơi pháp luật bất nhất, mâu thuẫn, chồng chéo, thay đổi đột ngột, mờ ám, thực thi pháp luật thiếu minh bạch, công khai, hiệu quả, việc áp dụng pháp luật thiếu công bằng, khách quan, các quyền sở hữu tài sản, quyền bảo vệ hợp đồng hoặc luôn bị xâm hại hoặc chi phí quá cao… đều là nguồn gốc rủi ro, gây thiệt hại nặng nề cho doanh nghiệp
- Các rủi ro đến từ các đối tác của doanh nghiệp
Họ có thể là các nhà đầu tư, góp vốn liên doanh, liên kết, là bạn hàng của doanh nghiệp Họ đến từ đâu? Họ có đáng tin cậy về đạo đức, kỹ năng, kinh nghiệm, tài chính, pháp luật, quản trị doanh nghiệp không? Thiết lập quan hệ với
họ, dù chỉ một lần, phải hiểu và tin nhau đã rồi mới nói đến việc thương thuyết, ký kết, thực hiện hợp đồng trong đó, mỗi công đoạn đều rình rập những rủi ro mà
Trang 26doanh nghiệp cần phải tính đến như: mâu thuẫn trong các điều khoản, chọn luật, thanh toán và thuế, chuyển quyền sở hữu và rủi ro, các biện pháp khắc phục và xử
lý vi phạm, giới hạn trách nhiệm, chấm dứt hợp đồng trước thời hạn và giải quyết tranh chấp hợp đồng…
- Các rủi ro đến ngay từ chính trong nội bộ doanh nghiệp
Các rủi ro đến ngay từ chính trong nội bộ doanh nghiệp như thái độ của doanh nghiệp đối với rủi ro, sai lầm trong chiến lược kinh doanh, quản lý doanh nghiệp, sự yếu kém của cán bộ quản lý và nhân viên, thiếu đạo đức và văn hóa kinh doanh, thiếu động cơ làm việc, thiếu đoàn kết nội bộ … Tôn Tử nói: “biết mình biết người, trăm trận trăm thắng” Ba rủi ro có thể đến: thứ nhất là chỉ biết mình mà không biết người, thứ hai là chỉ biết người mà không biết mình và cuối cùng, không biết cả mình lẫn người Để “biết mình”, điều quan trọng nhất là thường xuyên tự kiểm tra và kiểm tra đối chứng hệ thống quản trị doanh nghiệp của mình có hiệu quả không, có minh bạch không Quản trị doanh nghiệp là toàn bộ các điều lệ, quy tắc, quy chế, thông lệ quản lý và điều hành doanh nghiệp Quản trị doanh nghiệp tốt
sẽ giúp các chiến lược, quyết định của doanh nghiệp được ban hành sáng suốt nhất, thực thi hiệu quả nhất, loại trừ được rủi ro tốt nhất Quản trị doanh nghiệp tốt bảo đảm phát huy hết nguồn lực (nhân lực/ vật lực) trong doanh nghiệp đồng thời sớm phát hiện được “bệnh” của chính mình
Nhận dạng phân loại rủi ro của doanh nghiệp như trên đây cũng chỉ là tương đối Thực tế có sự ảnh hưởng dây chuyền giữa các nguyên nhân gây rủi ro Và như lời người xưa nói “Có chí làm quan, có gan làm giàu” Gan ở đây không phải là liều lĩnh, liều mạng mà là gan biết “sống chung” với rủi ro, biết chấp nhận, biết phòng
tránh và hạn chế tác hại của nó có hiệu quả
1.1.5 Quy trình xây dựng chiến lược kinh doanh
Quy trình xây dựng chiến lược kinh doanh là một quá trình thiết lập tầm nhìn, sứ mạng kinh doanh; thực hiện điều tra nghiên cứu để xác định các cơ hội/thách thức, điểm mạnh/ yếu của doanh nghiệp; xây dựng các mục tiêu dài hạn
và lựa chọn các chiến lược để thay thế mà những vấn đề cụ thể trong đó được giải
Trang 27quyết theo một cách thức hợp lý
Xây dựng chiến lược hợp lý sẽ cố gắng giành được lợi thế cạnh tranh bằng cách nắm bắt thế chủ động xây dựng chiến lược tốt cũng đề cập tới cả những tình huống sẽ thay đổi theo thời gian như thế nào Chiến lược kinh doanh cũng giống như chiến thuật quân sự Đó là vấn đề chỉ huy của người lãnh đạo, dự đoán phản ứng của đối thủ và mức độ thành công Mục đích của các nhà chiến lược giỏi là luôn đi trước đối thủ cạnh tranh một bước Họ vạch trước các bước đi và có các phương án cho những tác động có thể xảy ra
1.1.5.1 Xác định sứ mạng của tổ chức
Xây dựng bản tuyên bố về sứ mạng của công ty là một trong những nội dung đầu tiên hết sức quan trọng trong quản trị chiến lược Nó tạo cơ sở khoa học cho quá trình phân tích và lựa chọn chiến lược công ty Việc xác định bản tuyên bố về
sứ mạng cho công ty được đặt ra không chỉ đối với các công ty mới khởi đầu thành lập mà còn đặt ra đối với các công ty đã có quá trình phát triển lâu dài trong ngành kinh doanh
Sứ mạng của công ty là một khái niệm dùng để chỉ mục đích của công ty, lý
do và ý nghĩa của sự ra đời và tồn tại của nó Sứ mạng của công ty chính là bản tuyên ngôn của công ty đối với xã hội, nó chứng minh tính hữu ích của công ty đối với xã hội Phạm vi của bản tuyên bố về sứ mạng thường liên quan đến sản phẩm, thị trường, khách hàng, công nghệ và những triết lý của công ty theo đuổi Như vậy
có thể nói chính bản tuyên bố về sứ mạng cho thấy ý nghĩa tồn tại của một tổ chức, những cái mà họ muốn trở thành, những khách hàng mà họ muốn phục vụ, những phương thức mà họ hoạt động
Việc xác định một bản tuyên bố về sứ mạng đúng đắn đóng vai trò rất quan trọng cho sự thành công của tổ chức Trước hết, nó tạo cơ sở quan trọng cho việc lựa chọn đúng đắn các mục tiêu và các chiến lược của công ty, mặt khác nó có tác dụng tạo lập và củng cố hình ảnh của công ty trước công chúng xã hội, cũng như tạo
ra sự hấp dẫn đối với các đối tượng hữu quan (khách hàng, cổ đông, những nhà cung cấp, ngân hàng, các nhà chức trách ) Thực tế cho thấy rằng các tổ chức thận
Trang 28trọng trong việc phát triển một bản tuyên bố về sứ mạng đúng đắn thường có khả năng thành công cao hơn các tổ chức xem nhẹ vấn đề này
Bản tuyên bố về sứ mạng của công ty cần phải đạt được các yêu cầu sau:
- Đảm bảo sự đồng tâm và nhất trí về mục đích trong nội bộ của công ty
- Tạo cơ sở để huy động các nguồn lực của công ty
- Cung cấp một cơ sở hoặc tiêu chuẩn để phân phối các nguồn lực của công ty
- Hình thành khung cảnh và bầu không khí kinh doanh thuận lợi
- Là một trung tâm điểm để mọi người đồng tình với mục đích và phương hướng của công ty
- Tạo điều kiện để chuyển hoá mục đích của tổ chức thành mục tiêu thích hợp
- Tạo điều kiện để chuyển hoá mục tiêu thành các chiến lược và biện pháp hoạt động cụ thể
- Ngoài ra bản tuyên bố về sứ mạng còn phải nhằm vào các khía cạnh sau:
- Phân biệt tổ chức với các tổ chức khác
- Là khuôn khổ để đánh giá các hoạt động hiện thời cũng như trong tương lai 1.1.5.2 Xác định mục tiêu chiến lược
Xác định mục tiêu chiến lược là giai đoạn đầu tiên và cũng là nền tảng cho việc xây dựng chiến lược Mục tiêu đặt ra nhằm tạo điều kiện tiền đề, là hướng phấn đấu cho doanh nghiệp thực hiện và đạt được kết quả theo mong muốn Do đó để chiến lược cụ thể và mang tính thực tiễn cao thì mục tiêu đặt ra phải phù hợp thực tiễn, phù hợp với từng điều kiện cụ thể của doanh nghiệp
1.1.5.3 Phân tích môi trường kinh doanh
Phân tích môi trường kinh doanh giúp doanh nghiệp xác định các mục tiêu chiến lược hay nhận biết được các cơ hội kinh doanh, lựa chọn cơ hội kinh doanh hấp dẫn
Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm môi trường bên ngoài và môi trường bên trong doanh nghiệp
1.1.5.3.1 Phân tích môi trường bên ngoài doanh nghiệp
Môi trường bên ngoài của doanh nghiệp bao gồm: Môi trường vĩ mô và môi
Trang 29trường vi mô
a Môi trường vĩ mô:
Môi trường vĩ mô ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Mức độ và tính chất tác động khác nhau, do đó doanh nghiệp khó kiểm soát được môi trường này Môi trường vĩ mô gồm các yếu tố:
- Yếu tố kinh tế
Bao gồm các hoạt động, các chỉ tiêu kinh tế của mỗi quốc gia trong từng thời
kỳ, chúng có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Các yếu tố kinh tế bao gồm:
+ Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế làm phát sinh các nhu cầu mới cho sự phát triển của các ngành kinh tế
+ Lạm phát làm giảm tính ổn định của nền kinh tế, nếu lạm phát tăng thì việc lập kế hoạch đầu tư trở nên mạo hiểm vì trong môi trường lạm phát khó có thể dự kiến một cách chính xác giá trị thực của dự án dài hạn
+ Tỷ giá hối đoái xác định giá trị đồng tiền của các quốc giá khác nhau, sự thay đổi tỷ giá hối đoái ảnh hưởng tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế
+ Mức lãi suất có thể tác động nhu cầu chi tiêu của khách hàng
Các yếu tố này là sự ổn định của thể chế chính trị, sự thay đổi hiến pháp, các chính sách của nhà nước có ảnh hưởng tới ngành mà tổ chức theo đuổi Nhân tố này
có thể tạo ra những cơ hội hoặc nguy cơ cho các doanh nghiệp Bao gồm:
- Những quy định của nhà nước: Ngành nghề khuyến khích hoặc hạn chế
- Sự ổn định về chính trị
- Các quy định về quản lý đầu tư xây dựng
Trang 30- Các quy định về quảng cáo đối với các doanh nghiệp
- Quy định về các loại thuế, phí, lệ phí
- Quy chế tuyển dụng và sa thải nhân công
- Quy định về an toàn và bảo vệ môi trường
- Quy định trong lĩnh vực ngoại thương, đầu tư trong và ngoài nước
- Các chế độ ưu đãi đặc biệt… sẽ có những tác động quan trọng tới môi trường sản xuất và kinh doanh của tổ chức
Nhìn chung, các doanh nghiệp hoạt động được là vì điều kiện xã hội cho phép Chừng nào xã hội không còn chấp nhận các điều kiện và bối cảnh thực tế nhất định thì xã hội sẽ rút lại sự cho phép đó bằng cách đòi hỏi chính phủ can thiệp bằng chế độ chính sách hoặc thông qua hệ thống pháp luật
- Yếu tố văn hóa xã hội
Bao gồm các tập tục, truyền thống, phong cách sống của người dân, quan điểm tiêu dùng, thói quen mua sắm đều có tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, các yếu tố trên có thể đem lại cơ hội cho doanh nghiệp này nhưng đồng thời cũng là nguy cơ cho doanh nghiệp khác, vì vậy doanh nghiệp cần quan tâm nghiên cứu kỹ các yếu tố về văn hóa xã hội, dân cư khi xây dựng chiến lược phát triển kinh doanh …
- Yếu tố tự nhiên
Nguồn tài nguyên thiên nhiên đang bị cạn kiệt dần và trở nên khan hiếm, vấn
đề ô nhiễm môi trường, cắt giảm khí thải đang ngày được xã hội quan tâm Do vậy doanh nghiệp cần phải cân nhắc, xem xét khi hoạch định và lựa chọn chiến lược kinh doanh cho phù hợp
- Yếu tố dân số
Các yếu tố về dân số mà nhà quản trị cần quan tâm khi nghiên cứu như quy
mô dân số và tỷ lệ tăng dân số hàng năm, cơ cấu dân số theo giới tính, độ tuổi, quy
mô gia đình, thu nhập bình quân người hay hộ gia đình, vấn đề di chuyển lao động, trình độ dân trí Nó ảnh hưởng trực tiếp đến lực lượng lao động tác động đến chiến lược của doanh nghiệp
Trang 31- Yếu tố công nghệ
Sự phát triển như vũ bão của công nghệ trong những thập niên gần đây đã tạo
ra nhiều cơ hội cũng như không ít nguy cơ cho tất cả các doanh nghiệp, sự phát triển công nghệ mới làm cho các công nghệ cũ trở nên lạc hậu Sự phát triển của công nghệ và kỹ thuật tiên tiến làm rút ngắn vòng đời sản phẩm nên đòi hỏi phải thích ứng nhanh chóng Doanh nghiệp phải đầu tư đổi mới công nghệ và ứng dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh để tăng cường khả năng cạnh tranh cho sản phẩm
Các doanh nghiệp đã đứng vững thường gặp nhiều khó khăn trong việc đối phó thành công trước các giải pháp công nghệ mới được đưa vào áp dụng trong ngành kinh doanh của họ, nhất là trong giai đoạn bão hòa trong “chu kỳ sống” của sản phẩm Cũng tương tự như vậy, các doanh nghiệp lớn đã hoạt động lâu năm thường có khuynh hướng áp dụng các giải pháp công nghệ mới so với các doanh nghiệp đang ở giai đoạn phát triển ban đầu
b Môi trường vi mô:
Môi trường vi mô hay cụ thể hơn là môi trường ngành, là môi trường rất năng động, gắn liền và tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, việc phân tích môi trường vi mô giúp doanh nghiệp tìm ra lợi thế của mình so với đối thủ cạnh tranh, phát hiện ra các cơ hội và các thách thức để có chiến lược cho phù hợp Thông thường các doanh nghiệp áp dụng mô hình năm tác lực của Michael Porter để phân tích môi trường vi mô doanh nghiệp (hay còn gọi là phân tích cấu trúc ngành kinh doanh) Mô tả hiện trạng của cuộc cạnh tranh trong một ngành phụ thuộc vào năm yếu tố Mối quan hệ giữa năm yếu tố này được thể hiện dưới sơ đồ sau:
Trang 32(Nguồn: Michael E Porter)
Hình 1.2: Sơ đồ mối quan hệ giữa 5 yếu tố cạnh tranh Môi trường cạnh tranh tác động trực diện đến tổ chức, quy định tính chất và mức độ cạnh tranh trong một ngành kinh doanh Có 5 yếu tố cơ bản là: Đối thủ cạnh tranh, khách hàng, nhà cung cấp, các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, các sản phẩm thay thế [11]
Các đối thủ thường dùng các chiến thuật thôn tính lẫn nhau như: Cạnh tranh
về giá, quảng cáo, giới thiệu sản phẩm, hoặc chương trình hậu mãi sau bán hàng hay tăng cường chất lượng dịch vụ Để tồn tại được trên thương trường, doanh nghiệp phải nhận định được tất cả đối thủ cạnh tranh và xác định cho được khả năng, ưu thế, khuyết điểm, mối đe dọa và mục tiêu chiến lược của họ
Đối thủ tiềm ẩn
Sản phẩm thay thế
Cạnh tranh nội bộ ngành
(giữa các doanh nghiệp hiện đang có mặt)
Đe dọa từ đối thủ tiềm ẩn Quyền lực đàm phán
đối với nhà cung cấp
Quyền lực đàm phán đối với khách hàng
Đe dọa từ các sản phẩm thay thế
Trang 33Các nội dung chủ yếu cần phân tích về đối thủ cạnh tranh: Mục đích tương lai, chiến lược hiện tại, điểm mạnh và điểm yếu của đối thủ
- Khách hàng
Khách hàng là lý do tồn tại của tổ chức Lượng khách hàng càng tăng thì mức độ rủi ro của tổ chức càng giảm Khách hàng là một bộ phận không thể tách rời trong môi trường cạnh tranh Sự tín nhiệm của khách hàng có thể là tài sản có giá trị nhất của doanh nghiệp Sự tín nhiệm đó đạt được do doanh nghiệp đã thoả mãn tốt hơn nhu cầu và thị hiếu của khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh
Một vấn đề mấu chốt ở đây là khả năng ép giá của khách hàng hoặc đòi hỏi chất lượng cao hơn và nhiều dịch vụ hơn Khách hàng có thể ép giá khi họ ở trong những tình huống sau:
- Khi khách hàng mua với số lượng lớn, họ lợi dụng sức mua để đòi bớt giá
- Khi công ty trong cương vị là khách hàng cần mua tư liệu sản xuất do nhiều nguồn cung cấp nhỏ khác nhau Khách hàng loại này thường ít về số lượng nhưng lớn về tầm vóc
- Khi khách hàng có nhiều khả năng chọn lựa khác nhau đối với sản phẩm thay thế đa dạng
- Khi khách hàng có lợi thế trong chiến lược hội nhập dọc ngược chiều nghĩa
là có thể lo liệu tự cung ứng vật tư cho mình với phí tổn thấp hơn là phải mua ngoài
- Khách hàng quen, sản phẩm không được phân hoá, trong các hợp đồng tiêu thụ sản phẩm không có điều kiện ràng buộc, khách hàng có quá đủ thông tin
Tuy nhiên, ở đây doanh nghiệp không phải ở thế thụ động mà cần phải tác động đến khách hàng, giữ mối quan hệ tốt với họ thông qua giá cả, chất lượng, giao nhận, dịch vụ sau bán của sản phẩm hoặc dịch vụ Từ đó, coi khách hàng như là người cộng tác với doanh nghiệp, cung cấp thông tin cần thiết cho doanh nghiệp
- Nhà cung cấp
Để đảm bảo cho quá trình sản xuất được diễn ra ổn định, liên tục doanh nghiệp cần phải có quan hệ với các nhà cung cấp các yếu tố đầu vào như vật tư, thiết bị, lao động và tài chính Doanh nghiệp nên có quan hệ lâu dài, ổn định với các
Trang 34nhà cung cấp Tuy nhiên, vì mục tiêu lợi nhuận mà các nhà cung cấp luôn tìm cách gây sức ép cho doanh nghiệp trong những trường hợp sau: Nhà cung cấp độc quyền, nhà cung cấp vật tư cung cấp một số lượng lớn hoặc cung cấp một chủng loại đặc biệt không thể thay thế được, ta chỉ là khách hàng thứ yếu của họ, trong hợp đồng cung cấp không có điều khoản ràng buộc, họ có khả năng để khép kín sản xuất Cho nên việc nghiên cứu để hiểu biết các nhà cung cấp các nguồn lực cho doanh nghiệp là không thể bỏ qua trong quá trình nghiên cứu môi trường
- Các đối thủ tiềm ẩn
Nghiên cứu về các tổ chức sẽ gia nhập thị trường, hay rút lui khỏi thị trường
để nắm rõ cơ hội hoặc những nguy cơ mà sự xuất hiện hoặc rút lui đó mang lại
Chúng ta không thể coi thường các đối thủ tiềm ẩn, bởi vì họ sẽ có ưu thế hơn như họ có công nghệ mới, có khả năng tài chính Do vậy, khi họ xâm nhập vào ngành họ sẽ trở thành đối thủ cạnh tranh vô cùng nguy hiểm Chính vì vậy mà doanh nghiệp cần phải có biện pháp để phản ứng, các biện pháp thường được sử dụng là: mưu kế, liên kết với tất cả các đối thủ cạnh tranh để bảo vệ thị trường, tự tạo ra hàng rào cản trở xâm nhập
- Các sản phẩm thay thế
Sản phẩm mới thay thế làm hạn chế tiềm năng lợi nhuận của tổ chức Nếu không chú ý đến những sản phẩm thay thế tiềm ẩn, tổ chức có thể bị tụt lại với các thị trường nhỏ bé Muốn đạt được thành công, các tổ chức cần dành nguồn lực để phát triển và áp dụng công nghệ mới vào chiến lược của mình
Tuy nhiên đối với ngành xây dựng hạ tầng kỹ thuật giao thông thì sản phẩm thay thế gần như không có, khả năng xảy ra rất thấp nên luận văn sẽ không phân tích yếu tố này
1.1.5.3.2 Phân tích môi trường bên trong doanh nghiệp
Bất kỳ doanh nghiệp nào đều có những điểm mạnh và những điểm yếu trong các lĩnh vực kinh doanh của mình Phân tích đánh giá môi trường bên trong của doanh nghiệp là việc xem xét đánh giá các điểm mạnh và điểm yếu trong các mối quan hệ giữa các bộ phận chức năng của doanh nghiệp, bao gồm: nguồn nhân lực,
Trang 35sản xuất, tài chính, makerting, nghiên cứu và phát triển, thông tin…
- Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực bao gồm các nhà quản trị các cấp và người thừa hành trong doanh nghiệp Phân tích nguồn nhân lực nhằm giúp cho doanh nghiệp đánh giá kịp thời các điểm mạnh và điểm yếu của các thành viên trong tổ chức, trong từng bộ phận chức năng so với yêu cầu công việc để từ đó có kế hoạch đãi ngộ, sắp xếp, đào tạo và sử dụng hợp lý các nguồn lực, giúp doanh nghiệp đảm bảo sự thành công của các chiến lược đề ra
- Sản xuất, thi công
Sản xuất, thi công là hoạt động chính của doanh nghiệp, gắn liền với việc tạo
ra sản phẩm và dịch vụ với các yếu tố chủ yếu như: khả năng sản xuất thi công, chất lượng dịch vụ, chi phí thấp làm hài lòng khách hàng Phân tích hoạt động sản xuất, thi công giúp các doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh so với đối thủ
- Tài chính
Liên quan đến việc sử dụng các nguồn lực vật chất trong doanh nghiệp ở từng thời kỳ, phân tích đánh giá hoạt động tài chính giúp doanh nghiệp kiểm soát được hoạt động tài chính tại doanh nghiệp Các yếu tố tài chính như: Khả năng huy động vốn, nguồn vốn, tỷ lệ vốn vay và vốn chủ sở hữu, từ đó phục vụ cho các quyết định sản xuất kinh doanh Đồng thời giúp doanh nghiệp nắm rõ được các chi phí nhằm tạo ra điểm mạnh cho doanh nghiệp
- Marketing
Hoạt động Marketing trong doanh nghiệp bao gồm: Nghiên cứu thị trường để nhận dạng các cơ hội kinh doanh, hoạch định các chiến lược về phân phối sản phẩm, về giá cho phù hợp với thị trường mà doanh nghiệp đang hướng đến, đồng thời là yếu tố chính tạo điều kiện cho cung và cầu trên thị trường gặp nhau, là yếu tố không thể thiếu trong hoạt động đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Kỹ thuật và công nghệ
Chất lượng của các hoạt động nghiên cứu kỹ thuật và công nghệ của công ty
có thể giúp cho công ty giữ vị trí đi đầu trong ngành hoặc ngược lại bị tụt hậu trong
Trang 36lĩnh vực như phát triển sản phẩm mới, sản lượng sản phẩm, kiểm soát giá thành và công nghệ sản xuất Giúp doanh nghiệp ứng dụng có hiệu quả các công nghệ tiên tiến, tạo ra lợi thế cạnh tranh về phát triển sản xuất nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến quá trình sản xuất, giảm bớt chi phí
- Thu thập thông tin
Phân tích hệ thống thông tin giúp đánh giá thông tin của doanh nghiệp hiện
có đầy đủ không, thông tin thu thập được có chính xác và kịp thời giữa các bộ phận hay không, giúp doanh nghiệp có được những thông tin với độ chính xác cao, đầy
đủ làm cơ sở xây dựng chiến lược đúng đắn
- Chuỗi giá trị
Để hiểu rõ hơn về các hoạt động của doanh nghiệp nhắm phát triển lợi thế cạnh tranh và tạo ra giá trị gia tăng Một công cụ hữu ích để phân cách doanh nghiệp trong một chuỗi các hoạt động tạo ra giá trị gia tăng được gọi là chuỗi giá trị Chuỗi giá trị là tập hợp các hoạt động của doanh nghiệp mà mọi hoạt động góp phần gia tăng giá trị để chuyển các nguồn lực thành sản phẩm/ dịch vụ đến khách hàng
- Năng lực cốt lõi
Phân tích, đánh giá các yếu tố môi trường bên trong để từ đó xác định năng lực cốt lõi của doanh nghiệp Năng lực cốt lõi là nền tảng cho mọi chiến lược mới hoặc chiến lược được điều chỉnh Năng lực cốt lõi nhằm chỉ sự thành thạo chuyên môn hay các kỹ năng của công ty trong các lĩnh vực chính trực tiếp đem lại hiệu suất cao
Năng lực cốt lõi phải đạt các tiêu chí: Có giá trị, hiếm, chi phí đắt để bắt chước, không có khả năng thay thế
1.1.5.4 Xây dựng và lựa chọn chiến lược
1.1.5.4.1 Các công cụ để xây dựng chiến lược
Để xây dựng các chiến lược kinh doanh, doanh nghiệp phải phân tích kỹ tác động của yếu tố bên trong và môi trường bên ngoài của doanh nghiệp mình, nhận dạng được các mặt mạnh, mặt yếu, các cơ hội và nguy cơ mà doanh nghiệp đang phải đối mặt, qua đó giúp doanh nghiệp hình thành các phương án chiến lược kinh
Trang 37doanh một cách cụ thể và hiệu quả, phát huy những điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu để xây dựng những chiến lược tốt nhất
Các công cụ để xây dựng chiến lược bao gồm các ma trận sau:
- Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE):
Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài EFE cho phép đánh giá các tác động của môi trường bên ngoài đến công ty Ma trận EFE được thực hiện theo 5 bước:
- Bước 1: Liệt kê các yếu tố bên ngoài chủ yếu ảnh hưởng đến doanh nghiệp
- Bước 2: Phân loại tầm quan trọng từ 0 (không quan trọng) đến 1 (rất quan trọng), tổng số các mức phân loại được ấn định cho các yếu tố này phải bằng 1
- Bước 3: Phân loại các yếu tố cho điểm từ 1 (ảnh hưởng ít nhất) đến 4 (ảnh hưởng nhiều nhất)
- Bước 4: Nhân các mức quan trọng của mỗi yếu tố với điểm phân loại tương ứng nhằm xác định tổng số điểm quan trọng cho tổ chức
- Bước 5: Cộng số điểm quan trọng của các yếu tố để xác định tổng số điểm quan trọng của ma trận cho doanh nghiệp
Tổng số điểm của ma trận cao nhất là 4 điểm, thấp nhất là 1 điểm Nếu tổng số điểm > 2,5 cho thấy doanh nghiệp phản ứng tốt với môi trường bên ngoài, nếu tổng
số điểm là < 2,5 cho thấy doanh nghiệp phản ứng yếu với môi trường bên ngoài
Bảng 1.2: Mẫu ma trận EFE Các yếu tố bên ngoài Mức độ quan trọng Phân loại Số điểm quan trọng
- Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong (IFE)
Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong IFE cho phép đánh giá các mặt mạnh, mặt yếu quan trọng của các bộ phận chức năng của công ty, cách triển khai cũng tương tự như ma trận EFE
- Ma trận hình ảnh cạnh tranh
Ma trận hình ảnh cạnh tranh so sánh giữa doanh nghiệp với các đối thủ cạnh tranh chủ yếu dựa trên các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh
Trang 38nghiệp trong ngành, qua đó giúp nhà quản trị chiến lược nhận diện những điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp cùng những điểm mạnh, điểm yếu của các đối thủ cạnh tranh, xác định lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp và các điểm yếu mà doanh nghiệp cần khắc phục Để xây dựng ma trận hình ảnh cạnh tranh cần thực hiện 5 bước sau:
Bước 1: Lập danh mục các yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến khả năng cạnh
tranh của các doanh nghiệp trong ngành
Bước 2: Phân loại tầm quan trọng từ 0,0 (không quan trọng) đến 1,0 (rất quan
trọng) Sự phân loại này cho thấy tầm quan trọng tương ứng của mỗi yếu
tố tùy thuộc vào mức độ ảnh hưởng của yếu tố đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành, tổng số các mức tầm quan trọng được
ấn định cho các yếu tố này phải bằng 1
Bước 3: Phân loại các yếu tố cho điểm từ 1 (yếu nhất) đến 4 (tốt nhất), trọng số
của mỗi yếu tố tùy thuộc vào khả năng của doanh nghiệp đối với yếu tố Bước 4: Nhân các mức quan trọng của mỗi yếu tố với điểm phân loại tương ứng
nhằm xác định tổng số điểm quan trọng cho tổ chức
Bước 5: Cộng số điểm quan trọng của tất cả các yếu tố để xác định số điểm của
ma trận
So sánh tổng số điểm của doanh nghiệp với các đối thủ cạnh tranh chủ yếu trong ngành để đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Bảng 1.3: Mẫu ma trận hình ảnh cạnh tranh Yếu
Hạng
Điểm quan trọng
Hạng
Điểm quan trọng
Trang 39- Ma Trận SWOT
Ma trận này kết hợp các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ đã được đánh giá từ ma trận EFE và ma trận IFE từ đó hình thành chiến lược theo các bước sau:
- Từ ma trận IFE liệt kê các điểm mạnh và yếu vào ô S và W
- Từ ma trận EFE liệt kê các cơ hội và nguy cơ vào ô O và T
- Lập các chiến lược kết hợp S/O, S/T, W/O, W/ T
Bảng 1.4: Mẫu ma trận SWOT
Những cơ hội (O) Liệt kê những cơ hội
Những nguy cơ (T ) Liệt kê những nguy cơ
Các chiến lược S/T Vượt qua những bất trắc bằng tận dụng những điểm mạnh Những điểm yếu (W)
Liệt kê những điểm yếu
Các chiến lược W/0 Hạn chế các mặt yếu
để tận dụng các cơ hội
Các chiến lược W/ T Tối thiểu hoá những điểm yếu để tránh khỏi các mối đe dọa
S: Strengths = Những mặt mạnh W: Weaknesses = Các mặt yếu
O: Opportunities = Các cơ hội T: Threats = Các nguy cơ
Ma trận SWOT sẽ giúp cho nhà quản trị lựa chọn các chiến lược tốt nhất phù hợp nhất cho doanh nghiệp
Kỹ thuật phân tích SWOT là một công cụ giúp ích cho các nhà quản trị trong việc tổng hợp kết quả nghiên cứu môi trường và đề ra chiến lược một cách khoa học Điều quan trọng là các nhà quản trị phải xác định được đâu là các cơ hội, nguy
cơ, điểm mạnh, điểm yếu chủ yếu mà tổ chức cần quan tâm
Cùng một sự kiện nhưng sự tác động ảnh hưởng của nó đến từng doanh nghiệp thì rất có thể khác nhau
Có những biến cố mặc dù xác suất xảy ra nhỏ, nhưng ảnh hưởng của nó thì
Trang 40rất lớn, trong trường hợp đó vấn đề dự phòng cần được quan tâm trong hoạch định chiến lược
Cơ hội và nguy cơ là hai khái niệm khác nhau song chúng có mối liên hệ hữu
cơ với nhau Cơ hội của doanh nghiệp này nếu không được khai thác sẽ trở thành nguy cơ nếu đối thủ cạnh tranh khai thác chúng
Cũng tương tự như việc phân tích môi trường bên ngoài, quá trình đánh giá
và phân tích môi trường bên trong của doanh nghiệp phải rút ra được những nhân tố cốt lõi ảnh hưởng tới vị thế cạnh tranh của công ty
Sự kết hợp các yếu tố quan trọng bên trong và bên ngoài là nhiệm vụ khó khăn nhất của việc phát triển một ma trận SWOT Sau khi đã xác định các yếu tố cơ bản, các nhà quản trị cần áp dụng một quy trình phân tích:
Mục đích của của việc lập ra ma trận SWOT là đề ra các chiến lược khả thi
có thể lựa chọn, chứ không phải chọn lựa hay quyết định chiến lược nào là tốt nhất
Do đó, không phải tất cả các chiến lược được phát triển trong ma trận SWOT đều được chọn lựa để thực hiện
+ Các chiến lược S/O: Sử dụng những điểm mạnh bên trong của Công ty để tận dụng những cơ hội bên ngoài Tất cả các nhà quản trị đều mong muốn tổ chức của họ ở vào vị trí mà những điểm mạnh bên trong có thể được sử dụng để lợi dụng những xu hướng và biến cố của môi trường bên ngoài
+ Các chiến lược W/O: Tối thiểu hóa những điểm yếu bên trong để tận dụng những cơ hội bên ngoài Đôi khi những cơ hội lớn bên ngoài đang tồn tại, nhưng Công ty có những điểm yếu bên trong ngăn cản nó khai thác những cơ hội này + Các chiến lược S/T: Sử dụng những điểm mạnh bên trong của Công ty để vượt qua những mối đe doạ từ bên ngoài
+ Các chiến lược W/T: Là những chiến lược phòng thủ nhằm làm tối thiểu hóa những điểm yếu bên trong và tránh khỏi những mối đe doạ của môi trường bên ngoài Trong thực tế một công ty như vậy thường đấu tranh để được tồn tại, liên kết, hạn chế chi tiêu, tuyên bố phá sản hay chịu vỡ nợ
Nhìn chung, các công ty yếu thường phải chọn chiến lược nào có thể tăng